1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

danh gia ket qua dieu tri nang gia tuy bang stent

6 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 224,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐIỀU TRỊ NANG GIẢ TỤY BẰNG ĐẶT STENT XUYÊN THÀNH DẠ DÀY QUA NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY Phạm Hữu Tùng * - Trần Đình Trí*-Võ Xuân Quang*- Hồ Đăng Quý Dũng*- Bùi Hữu Hoàng** TÓM TẮT M

Trang 1

ĐIỀU TRỊ NANG GIẢ TỤY BẰNG ĐẶT STENT XUYÊN THÀNH

DẠ DÀY QUA NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Phạm Hữu Tùng * - Trần Đình Trí*-Võ Xuân Quang*- Hồ Đăng Quý Dũng*- Bùi Hữu Hoàng**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nội soi (NS) dẫn lưu (DL) nang giả tụy (NGT) xuyên thành dạ dày là một kỹ thuật điều trị mới

ít xâm lấn Chúng tôi hồi cứu để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của DL NGT tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Đối tượng - phương pháp: Tất cả bệnh nhân (BN) được chọn để NS DL NGT xuyên thành vào dạ dày tại

Bệnh viện Chợ Rẫy từ 8/2003- 8/2008 Các BN được theo dõi để rút stent sau 1 tháng

Kết quả: Chúng tôi DL NGT xuyên thành vào dạ dày cho 45 BN gồm 31 nam và 14 nữ, tuổi trung bình: 39

(15-83) tuổi Thủ thuật đặt stent thành công là 42 BN (93,3%) Có 5 trường hợp thất bại: 2 BN không đặt được stent, 1 trường hợp tụt stent vào lòng nang, 1 trường hợp tạo áp xe phải chuyển mổ, 1 trường hợp nang xẹp không hoàn toàn Một trường hợp di lệch stent vào ống tiêu hóa đã được đặt stent thành công ở lần 2 Tỷ lệ điều trị thành công nói chung là 40 trường hợp (89%)

Kết luận: NS DL NGT xuyên thành dạ dày là kỹ thuật an toàn và hiệu quả Với chi phí điều trị hợp lý,

chúng tôi hy vọng trong tương lai kỹ thuật này sẽ được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam

ABSTRACT

ENDOSCOPIC TRANSMURAL DRAINAGE OF PANCREATIC PSEUDOCYSTS

IN CHO RAY HOSPITAL

Pham Huu Tung, Tran Dinh Tri, Vo Xuan Quang, Ho Dang Quy Dung, Bui Huu Hoang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 13 - Supplement of No 1 - 2009: 33 – 37

Background and study aims: Endoscopic drainage of pancreatic pseudocyts is a new less invasive

treatment We retrospectively reviewed the efficacy and the safety of endoscopic transmural drainage of pancreatic pseudocysts in Cho Ray Hospital

Patients and Methods: All selective patients with pancreatic pseudocyst who underwent endoscopic

drainage in Cho Ray hospital from 08-2003 to 08-2008 were included in the study Patients were followed during one month after drainage for removing the stents

Results: Of 45 patients included 31 men and 14 women with median age of 39 (15-83) years The technical

success rate was 93.3% Cystogastrostomy failed in 2 patients Procedure-related complications consist of 2 patients: one case of abscess and one case in which the stent migrated into the cyst, required surgery The cyst completely failed to resolve in 1 patient One stent migrated into the digestive tube required a second endoscopic drainage Overall, endoscopic drainage was successful in 40 patients (89%)

Conclusions: Endoscopic drainage is an effective and safe measure in the treatment of pancreatic

pseudocysts As it has quite adequate cost, this technique should be widely used in Vietnam

MỞ ĐẦU

NGT là một biến chứng muộn của viêm tụy

cấp, viêm tụy mạn và chấn thương tụy, thể hiện

bằng sự tụ dịch bất thường ở vùng quanh tụy,

với một vách được tạo bởi mô xơ do viêm mạn

Các NGT có kích thước <6cm có thể tự khỏi nhờ điều trị bảo tồn với tỷ lệ khoảng 20%-70% Đối với các nang tồn tại trên 6 tuần, kích thước > 6cm, có triệu chứng hoặc có biến chứng được chỉ định can thiệp điều trị Trước đây, phẫu thuật

* BV Chợ Rẫy ** Bộ môn Nội – Đại học Y Dược TP.HCM

Trang 2

bóc tách nang hay mở thông nang-ruột là

phương pháp chủ yếu để điều trị Hiện nay, DL

NGT bằng stent đặt xuyên thành dạ dày và tá

tràng qua NS được xem như một thủ thuật hiệu

quả và an toàn hơn trong nhóm BN chọn lọc NS

DL NGT lần đầu tiên được Rogers và cộng sự

(cs.) báo cáo vào năm 1975(6) Sau đó, kỹ thuật

được hoàn chỉnh thêm trong những năm 80

Hiện nay, nó được áp dụng rộng rãi trên thế

giới Ở Việt Nam, phương pháp này chỉ mới

được áp dụng ở một số trung tâm Do vậy,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá về đặc

điểm, hiệu quả và các tai biến-biến chứng của

phương pháp DL NGT xuyên thành dạ dày qua

NS tại Bệnh viện Chợ Rẫy

ĐỐI TƯỢNG & PHƯƠNG PHÁP

Đối tượng

BN bị NGT có chỉ định DL qua NS tại Bệnh

viện Chợ Rẫy từ 8/2003-8/2008

Tiêu chuẩn chọn bệnh

NGT tồn tại > 4 tuần, có triệu chứng; CT scan

và/hoặc siêu âm xác định khoảng cách từ lòng

dạ dày đến nang <1cm; dịch nang đồng nhất

không có mô hoại tử; NS có dấu chèn ép vào dạ

dày

Tiêu chuẩn loại trừ

Nang không phải NGT, khoảng cách từ lòng

dạ dày đến nang >1cm, không có hình ảnh nang

đè vào dạ dày, tá tràng qua NS, có rối loạn đông

máu, BN không hợp tác

Phương pháp

Nghiên cứu hồi cứu, Ghi nhận tỷ lệ thành

công của thủ thuật, tỷ lệ tai biến-biến chứng

Đánh giá hiệu quả làm xẹp nang sau 1 tháng

Dụng cụ

Stent nhựa 7F-10F # 3-4cm, dao kim (needle

knife), dây dẫn (guidewire) , ống đẩy stent, máy

soi dạ dày hay tá tràng

Quy trình

Kỹ thuật

1) tạo lỗ mở thông dạ dày vào nang,

2) luồn một dây dẫn vào nang, 3) đưa 1 stent vào trên dây dẫn, 4) dùng ống đẩy đưa stent vào trong, 5) stent đã vào đúng vị trí,

6) rút dây dẫn và ống đẩy

Theo dõi và đánh giá

Theo dõi bằng khám lâm sàng, siêu âm và

CT Stent được lưu tại chỗ trong 4 tuần, sau đó rút

KẾT QUẢ Đặc điểm BN nghiên cứu

Có 45 BN gồm 31 nam và 14 nữ Tuổi trung bình: 39 tuổi (15-83) Hầu hết BN đều có đau bụng: đau bụng kèm nôn ói (2 BN: 4,44%), đau bụng và sờ thấy u thượng vị (20 BN: 44,44%), đau bụng kèm nôn ói và sờ thấy u (10 BN: 22,22%) Vị trí nang chủ yếu ở thân tụy (15 BN: 37,5%), đầu và thân tụy (2 BN: 5%), đầu tụy (4 BN: 10%), đuôi tụy (4 BN: 10%) Kích thước nang trung bình: 11,7cm (5,5-23cm) Nguyên nhân NGT: chấn thương bụng (23 BN: 51,11%), viêm tụy cấp(8 BN: 17,78%), sau mổ (5 BN:11,11%), do rượu (2 BN: 4,44%), do viêm tụy mạn (1 BN: 2,22%), không rõ nguyên nhân (6 BN: 13,33%)

Kết quả

Đặt stent thành công: 42/45 ca (93,3%) - trung bình 1,1 stent/ 1 BN (1-2 stent) Thời gian lưu stent trung bình: 4 tuần Thời gian nằm viện trung bình:7,75 ngày (1-23 ngày), thời gian nằm viện sau thủ thuật trung bình: 2,5 ngày (1-6 ngày) Tỷ lệ biến chứng: 3/45 ca (6,6%) : tiêu chảy xảy ra ở tất cả BN và tự ổn định; nhiễm trùng tạo áp xe: 1/45 ca (2,2 %) phải chuyển mổ; di lệch stent: 2/10 ca (4,4%); 1

ca di lệch ra ngoài, được đặt stent lần 2 có kết quả tốt Một ca di lệch vào trong được chuyển

mổ để nối nang vào ống tiêu hóa Một trường hợp nang tồn lưu, không điều trị gì thêm Không có trường hợp nào tử vong Tỷ lệ điều trị thành công sau 1 tháng: 40/45 ca (89%)

BÀN LUẬN

Trang 3

Kết quả đặt stent trong dẫn lưu nang giả

tụy

Chúng tôi đã thành công 42/45 BN (93,3%),

trong đó 2 trường hợp không đặt được stent do

dịch chảy ra làm nang xẹp nhanh, 1 trường hợp

tụt stent vào lòng nang phải chuyển mổ và đây

cũng chính là tai biến thủ thuật duy nhất (2,2%),

không ghi nhận tai biến thủng, xuất huyết…

Biến chứng xảy ra 2/45 BN(4,4%): 1 trường hợp

nhiễm trùng nang tạo áp xe sau khi xuất viện 1

tuần, phải nhập viện phẫu thuật Trường hợp

khác là do di lệch stent vào ống tiêu hóa phải đặt

stent lần 2 Sau 1 tháng theo dõi, kiểm tra qua

siêu âm 40/45 BN có nang xẹp hoàn toàn và

được nội soi rút stent Một trường hợp nang xẹp

không hoàn toàn và BN được theo dõi định kỳ

mỗi 3 tháng Tỷ lệ thành công chung của chúng

tôi là 89% và không có biến chứng tử vong

Về theo dõi, tiêu chảy không phải là biến

chứng mà là một hiện tượng tất yếu xảy ra sau thủ thuật do dịch trong nang thoát vào ống tiêu hóa Chúng tôi rút kinh nghiệm hút thật nhiều dịch nang trước khi ngưng thủ thuật để làm giảm lượng dịch đi vào ống tiêu hóa

Tỷ lệ thành công của chúng tôi tương đương với các báo cáo được tham khảo Tỷ lệ biến chứng có thấp hơn các tác giả khác, có lẽ nhờ chọn bệnh đúng và chỉ đặt 1 stent vào nang nên giảm được biến chứng xuất huyết do thủ thuật Thời gian nằm viện trung bình: 7,7 ngày, chủ yếu là để thực hiện chẩn đoán và chuẩn bị, thực sự thời gian nằm viện sau thủ thuật chỉ có 2,5 ngày Nghiên cứu của Shyam Varadarajulu tại Mỹ, năm 2008, thời gian này

là 2,65 ngày so với phẫu thuật là 6,5 ngày và chi phí điều trị chỉ hơn một nửa so với phẫu thuật(14) Theo Matatoshi Dohmoto thì thời gian nằm viện trung bình là 3 ngày(11)

So sánh với kết quả của một số nghiên cứu khác trên thế giới

Bảng: So sánh kết quả so với các tác giả khác

Tác gi ả Cremer

B ỉ (3)

Smits

Ha Lan (15)

Binmoeller

Đứ c (2)

Beckingham Nam Phi (7)

Dohmoto

Đứ c (11)

D Cahen

Hà lan (4)

Barthet Pháp (10) BVCR

N ă m 1989 1995 1995 1999 2001 2005 2008 2008

Th ờ i gian theo dõi 31 tháng 32 tháng 22 tháng 46 tháng 4-10 n ă m 43 tháng 7,3 tháng 1 tháng Thành công th ủ thu ậ t 100% 92% 94% 71% 100% 97% 98% 93,3%

K ế t qu ả đ i ề u tr ị 88% 65% 90% 62% 89% 71% 90% 89%

Bi ế n ch ứ ng 13% 16% 11% 14,7% 15% 34% 18% 4,4%

Tỷ lệ thành công của chúng tôi cũng tương

đương với các báo cáo được tham khảo Tỷ lệ

biến chứng có thấp hơn các tác giả khác, có lẽ do

chọn bệnh có chọn lọc và chỉ đặt 1 stent vào

nang nên giảm được biến chứng xuất huyết do

thủ thuật Thời gian nằm viện trung bình: 7,75

ngày nhưng chủ yếu là để thực hiện chẩn đoán

và chuẩn bị, thực sự thời gian nằm viện sau thủ

thuật trung bình chỉ có 2,5 ngày Nghiên cứu của

Shyam Varadarajulu tại Mỹ, năm 2008, thời gian

này là 2,65 ngày so với phẫu thuật là 6,5 ngày và

chi phí điều trị chỉ hơn một nửa so với phẫu

thuật(14) Theo Matatoshi Dohmoto thì thời gian

nằm viện trung bình là 3 ngày(11)

Một vài nhận xét về kỹ thuật

Để tăng hiệu quả và giảm các tai biến, biến chứng của thủ thuật

Chọn bệnh đúng là yếu tố quyết định thành công

Vấn đề chọn bệnh rất quan trọng để đảm bảo thành công(11) Một yếu tố quan trọng trong chọn bệnh là bề dày vách nang-lòng dạ dày hoặc

tá tràng Khi khoảng cách này > 1cm, tỷ lệ thất bại sẽ cao(13) I J Beckingham và cs thất bại 10/34 BN,trong đó có 7 trường hợp có vách nang

>1cm(7) Chúng tôi dựa vào CTscan để đo khoảng cách nói trên để chỉ định thủ thuật Mặt khác, trên hình ảnh CT scan, chúng tôi có thể dự kiến

Trang 4

được vị trí sẽ đặt stent qua xác định vị trí tiếp

cận gần nhất

Có thể thực hiện thủ thuật không cần màn

tăng sang

Theo Kozarek(9), sau khi đưa được dao kim

vào nang, cần bơm thuốc cản quang để khẳng

định đã chọc đúng vào nang, ngoài ra còn xác

định sự thông thương giữa nang với ống tụy(8)

Chúng tôi không dùng X quang trong lúc làm

thủ thuật mà dựa vào các yếu tố: cảm giác xuyên

qua nang rất đặc trưng, dịch nang thoát ra sau

khi xuyên kim qua vách Do đó, thủ thuật đơn

giản và quy trình rút ngắn hơn

Sự chọn lựa stent

Chúng tôi sử dụng stent nhựa 5-10F, loại

thẳng, 1 đầu cong và 2 đầu cong Loại 5F chúng

tôi dùng để đặt vào ống tụy, 7-10F dùng để đặt

vào nang ở vị trí dạ dày hoặc tá tràng Stent có

khẩu kính nhỏ (7F) sẽ có nguy cơ tắc gây nhiễm

trùng khi dịch nang lợn cợn nhiều mô hoại tử

Chỉ có 5 trường hợp được đặt stent 10F nhưng

thao tác đẩy stent khó khăn hơn Để khắc phục,

có thể dùng bóng nong hoặc dao cắt để mở rộng

lỗ thông vào nang.Tuy nhiên, khi dùng dao cắt

sẽ có nguy cơ xuất huyết cao hơn Nên mở lỗ

thông 3-5mm để giảm nguy cơ này(15) Đối với

người mới bắt đầu, chúng tôi nhận thấy loại

stent thẳng dễ đặt hơn loại 1 đầu cong hay 2 đầu

cong Tuy nhiên, loại stent thẳng có nguy cơ di

lệch stent và gây xuất huyết Do đó, nên dùng

loại stent 2 đầu cong để giảm bớt nguy cơ(1,15,16,4)

Chúng tôi có 1 trường hợp tụt stent vào nang khi

làm thủ thuật do dùng stent 1 đầu cong Khi đẩy

stent, phần cong của stent vào nang nhiều nên bị

cuộn lại trong nang và BN phải mổ sau đó Một

trường hợp di lệch stent vào ống tiêu hóa sau 2

tuần khi dùng stent thẳng, BN đã được nội soi

đặt lại stent lần 2 và cho kết quả tốt

Số lượng stent cần đặt vào nang

Chúng tôi sử dụng 1-2 stent cho 1 BN Số

lượng stent nên đặt bao nhiêu là tốt nhất thì

chưa rõ Theo Tony, nên đặt 2 stent cho 1 BN(16)

Câu hỏi được đặt ra là liệu đặt 2 stent có dẫn lưu

tốt hơn đặt 1 stent hay không? Marianne E Smits đã thành công trên 37 BN với chỉ 1 stent và lưu stent 4-6 tuần(15) Một số tác giả cho rằng khi đặt nhiều stent sẽ có nguy cơ gây chèn ép vào vách nang gây họai tử, tổn thương mạch máu gây xuất huyết Mặc dù số lượng BN chưa nhiều

và tương đối chọn lọc, nhưng với kết quả điều trị thành công khá cao (89%), chúng tôi nghĩ rằng, chỉ cần đặt 1 stent cũng đủ để dẫn lưu và giảm các tai biến-biến chứng do thủ thuật

Chọn điểm đặt stent

Có hai yếu tố quan trọng để chọn vị trí xuyên dao kim: Vị trí cao nhất mà nang chèn

ép vào dạ dày, tránh không xuyên dao kim ở

vị trí gần sát phần thấp Hướng tiếp cận khi đẩy stent là trực diện với nang giúp đẩy stent nhanh và dễ dàng hơn Khi hai yếu tố này không tốt, thao tác đẩy stent khó khăn, dịch nang chảy ra nhiều và điểm đặt stent sẽ thay đổi, gây khó khăn cho việc đặt stent Đây cũng chính là 1 nguyên nhân trong 2 trường hợp đặt stent thất bại của chúng tôi

Vai trò của siêu âm nội soi (EUS: Endoscopic Ultrasound)

Siêu âm nội soi là phương tiện rất tốt trong việc xác định kích thước của vách nang, tính chất của dịch nang và khảo sát được sự hiện diện của giả phình mạch trong vách nang Từ đó, giúp xác định vị trí xuyên kim vào nang thích hợp tránh được tai biến Có thể thực hiện siêu âm nội soi trước hoặc đồng thời với thủ thuật dẫn lưu như là sự dẫn đường Thiết bị này giúp nội soi dẫn lưu nang vào dạ dày hoặc tá tràng trong những trường hợp không thấy hình ảnh của nang chèn vào qua nội soi Giovannini đã thành công 33/35 bệnh nhân (94%) không thấy hình ảnh chèn của nang vào ống tiêu hóa(16), một số báo cáo khác có tỷ lệ thành công là 96,4%(10), và 94%(13) Trong trường hợp có hình ảnh nang chèn vào dạ dày thì không có sự khác biệt rõ ràng về hiệu quả và tính an toàn khi dùng và không dùng siêu âm nội soi để dẫn lưu nang(10) Theo Kahalesh và cộng sự tỷ lệ thành công và biến chứng khi dùng và không dùng siêu âm nội soi

Trang 5

dẫn lưu nang là 94% so với 93% và 19% so với

18%(5)

Vai trò của ERCP trước khi dẫn lưu nang

ERCP giúp chẩn đoán sự thông nối giữa

nang với ống tụy, giúp lựa chọn phương pháp

dẫn lưu thích hợp Tuy nhiên, một số tác giả cho

rằng ERCP không thật sự cần thiết khi có đủ 2

điều kiện là nang chèn vào ống tiêu hóa và vách

nang < 1cm ERCP có thể gây nhiễm trùng nang

nếu dẫn lưu thất bại(8) Ngoài ra để đánh giá cấu

trúc của ống tụy có thể dựa vào siêu âm bụng,

siêu âm nội soi hoặc CT scan(12) Tỷ lệ nang thông

với ống tụy trong viêm tụy cấp và viêm tụy mạn

là 50% và 20%(10) Trong lô nghiên cứu của chúng

tôi đa số BN không cần ERCP trước khi dẫn lưu

Khả năng áp dụng

Nội soi DL NGT có thể dùng đường xuyên

thành vào dạ dày hoặc DL nang vào tá tràng, DL

qua nhú vater Tuy chưa phải là biện pháp tốt

nhất vì chỉ định còn hạn chế nhưng đây là một

thủ thuật đơn giản và hiệu quả Đầu tư ban đầu

thấp, chi phí thủ thuật thấp do các dụng cụ có

thể dùng lại như dây dẫn, dao kim… Thủ thuật

này có thể thực hiện ngay ở tuyến tỉnh, nhưng có

sự phối hợp chặt chẽ với ngoại khoa

KẾT LUẬN

Với mục tiêu là đánh giá hiệu quả và các tai

biến-biến chứng của phương pháp đặt stent

xuyên thành dạ dày qua NS để DL NGT Qua

nghiên cứu trên 45 BN, tỷ lệ thành công của thủ

thuật là 93,3%, tỷ lệ tai biến là 2,2%, tỷ lệ biến

chứng là 4,4%, tỷ lệ điều trị thành công sau 1

tháng theo dõi là 89% và thời gian nằm viện sau

thủ thuật là 2,5 ngày(1-6 ngày) Do vậy, DL NGT

xuyên thành vào dạ dày là một phương pháp

nhẹ nhàng ít xâm lấn, kinh tế, hiệu quả và an

toàn Trên cơ sở các nghiên cứu đã công bố và

qua một loạt trường hợp NGT được điều trị

thành công, chúng tôi xin giới thiệu một hướng

điều trị mới về NGT, hy vọng trong tương lai kỹ

thuật này sẽ được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Baillie, J (2004), “ Pancreatic pseudocysts (Part I)”,

Gastrointestinal Endoscopy, 59(7), pp 873-879

2 Binmoeller, S H W A S (1995), “ Transpapillary and

transmural drainage of pancreatic pseudocysts”, Gastrointest

Endosc 42(3), pp 219-224

3 Cremer, D J E (1989), “ Endoscopic management of cysts and pseudocysts in chronic pancreatitis: long-term follow-up after

7 years of experience”, Gastrointest Endosc 35(1), pp 1-9

4 D Cahen1, E R., P Fockens1, G.Weverling2, K Huibregtse1,

M Bruno1 (2005), “ Endoscopic Drainage of Pancreatic Pseudocysts: Long−Term Outcome and Procedural Factors

Associated with Safe and Successful Treatment”, Endoscopy

37(10), pp 977-983

5 Giovannini, M (2007), “ What is the best endoscopic treatment

for pancreatic pseudocysts?”, Gastrointest Endosc, 65(4), pp

620-623

6 J Beckingham, J E J (1997), “ Endoscopic management of

pancreatic pseudocysts”, British Journal of Surgery, 84(12), pp

1638-1645

7 J Beckingham, J E J (1999), “ Transmural endoscopic

drainage of pancreatic pseudocysts”, British Journal of Surgery,

86(3), pp 422-423

8 Jose, S (1990), “ Endoscopic Cystogastrostomy and Cystoduodenostomy of Pancreatic Cysts and Pseudocysts”,

Digestive Endoscopy, 2(2), pp 218-223

9 Kozarek, R A (1994), “Endoscopic drainage of pancreatic

pseudocyst”, Advanced therapeutic endoscopy, Raven Press 2nd

ed, pp 401-405

10 Marc Barthet, M., PhD, Gatien Lamblin, MD, Mohamed Gasmi, MD, Veronique Vitton, MD, Ariadne Desjeux, MD, Jean-Charles Grimaud, MD (2008), “ Clinical usefulness of a

treatment algorithm for pancreatic pseudocysts”, Gastrointest

Endosc 67(2), pp 245-252

11 Matatoshi Dohmoto, D K R (2001), “ German experience with endoscopic transmural drainage for pancreatic

pseudocysts”, Digestive Endoscopy, 13(3), pp 137-141

12 Martin Kru¨ger, M, Andrea S Schneider, MD, Michael P Manns, MD, Peter N Meier (2006), “ Endoscopic management of pancreatic pseudocysts or abscesses after an

EUS-guided 1-step procedure for initial access”, Gastrointest

Endosc 2006;63:409-16.), 63(3), pp 409-416

13 Shivakumar Vignesh, M & William R Brugge, M (2008), “

Endoscopic Diagnosis and Treatment of Pancreatic Cysts”, J

Clin Gastroenterol, 42, pp 493-506

14 Shyam Varadarajulu, T L, Wilcox, C M., Drelichman, E R., Kilgore, M L & Christein, J D (2008), “ EUS versus surgical cyst-gastrostomy for management of pancreatic pseudocysts”,

Gastrointestinal Endoscopy, In Press, Corrected Proof

15 Smits, M E., Rauws, E A J., Tytgat, G N J & Huibregtse, K (1995), “The efficacy of endoscopic treatment of pancreatic

pseudocysts”, Gastrointestinal Endoscopy, 42(3), pp 202-207

16 Todd H Baron (2008), “ Endoscopic Drainage of Pancreatic

Pseudocysts”, J Gastrointest Surg 12, pp 369–372

17 Yusuf, T E & Baron, T H (2006), “Endoscopic transmural drainage of pancreatic pseudocysts: results of a national and

an international survey of ASGE members”, Gastrointest

Endosc, 63(2), pp 223-227

Ngày đăng: 20/07/2017, 08:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w