Qua phân tích thống kê mô tả mức độ tham gia của người dân vào xây dựng nông thôn mới, Luận văn nhận thấy đa số người dân ở địa bàn nghiên cứu đều có những hiểu biết cơ bản, nhiệt tình
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TỈNH BÌNH ĐỊNH (Giai đoạn 2011 – 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TỈNH BÌNH ĐỊNH (Giai đoạn 2011 – 2015)
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60340403 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Tấn Khuyên
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn: “Phân tích sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, giai đoạn 2011 – 2015”
do tôi tiến hành khảo sát, tham khảo tài liệu và viết Các đoạn trích dẫn, số liệu sử dụng trong Luận văn đều được trích nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm
vi hiểu biết của tôi Luận văn này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác./
Học viên thực hiện
Phạm Thanh Bình
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.1.1 Mục tiêu chung 2
1.2.1.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa của đề tài 4
1.5.1 Ý nghĩa khoa học 4
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
1.6 Cấu trúc của nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.6 2.1 Cơ sở lý luận 6
2.1.1 Khái niệm về nông thôn, phát triển nông thôn và mô hình NTM 6
2.1.2 Những nguyên tắc XDNTM theo Chương trình mục tiêu quốc gia 11
2.1.3 Sự tham gia của người dân trong việc xây dựng mô hình NTM 12
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước 17
2.3 Kinh nghiệm thế giới về xây dựng nông thôn 22
Trang 52.3.2 Tình hình xây dựng mô hình NTM ở Việt Nam 25
2.3.3 Tình hình xây dựng mô hình NTM ở tỉnh Bình Định 26
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất 22
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Quy trình nghiên cứu 31
3.2 Nội dung nghiên cứu 33
3.2.1 Đánh giá nhận thức của người dân trong việc XDNTM 33
3.2.2 Đánh giá sự tham gia của người dân trong việc xây dựng mô hình NTM ở huyện Phù Mỹ, Bình Định 33
3.2.3.Đánh giá những kết quả đạt được và một số tác động bước đầu của NTM ở huyện Phù Mỹ, Bình Định 33
3.3 Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu 34
3.3.1 Địa bàn nghiên cứu 34
3.3.2 Quy mô mẫu 34
3.3.3 Phương pháp lấy mẫu 35
3.3 Phương pháp nghiên cứu 35
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 35
3.3.2 Phương pháp xử lý thông tin 37
3.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 37
3.4 Xây dựng thang đo 37
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
4.1 Đánh giá mức độ của người dân trong việc XDNTM 41
4.1.1 Hiểu biết của người dân về NTM 41
4.1.2 Người dân đánh giá về sự cần thiết của XDNTM 43
4.1.3 Mức độ tự nguyện và lý do người dân tham gia XDNTM 44
4.2 Đánh giá sự tham gia của người dân trong việc xây dựng mô hình NTM ở huyện Phù Mỹ, Bình Định 46
4.2.1 Tổ chức thực hiện các vấn đề XDNTM 46
Trang 64.2.3 Các mô hình sản xuất, tập huấn khoa học - kỹ thuật 50
4.2.4 Công tác huy động nguồn lực XDNTM 51
4.2.5 Kiểm tra, giám sát XDNTM 55
4.2.6 Quản lý, khai thác và sử dụng công trình NTM 56
4.2.7 Sự sẵn lòng của người dân tham gia XDNTM 57
4.2.8 Đánh giá của người dân về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia XDNTM 58
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
5.1 Kết luận 62
5.2 Kiến nghị 63
5.2.1 Đối với các cấp chính quyền 63
5.2.2 Đối với người dân nông thôn 67
5.3 Hạn chế nghiên cứu và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Viết tắt Giải thích
Trang 8Hình 4.1: Hiểu biết của người dân về XDNTM 42Hình 4.2: Thông tin về hoạt động XDNTM 42Hình 4.3: Trao đổi thông tin về XDNTM với cán bộ ban quản lý XDNTM ở địa phương 43Hình 4.4: Kết quả đánh giá về sự cần thiết của XDNTM 44Hình 4.5: Hình thức tuyên truyền XDNTM 46Hình 4.6: Tổ chức họp để người dân tham gia thảo luận chiến lược phát triển, việc lập
kế hoạch và công tác quy hoạch XDNTM 48Hình 4.7: Sự tham gia của người dân trong việc quyết định lựa chọn các giải pháp, xác định các vấn đề ưu tiên của địa phương 50Hình 4.8: Hình thức tham gia XDNTM 52Hình 4.9: Người dân tham gia quản lý tài sản hình thành trong quá trình XDNTM 55Hình 4.10: Tỷ lệ người dân sẵn lòng tham gia XDNTM 56Hình 4.11: Mức đánh giá trung bình của người dân và các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng tham gia XDNTM 57
Trang 9Bảng 4.1: Kết quả đánh giá về mức độ tự nguyện và lý do người dân tham gia
XDNTM 44
Bảng 4.2: Sự tham gia của người dân trong đóng góp XDNTM 48
Bảng 4.3: Người dân tham gia tập huấn, ứng dụng kỹ thuật trong sản xuất 51
Bảng 4.4: Người dân tham gia kiểm tra, giám sát XDNTM 54
Trang 10Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn này là nhằm tìm mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào xây dựng nông thôn mới tại huyện Phù
Mỹ, tỉnh Bình Định Qua đó, đề ra những kiến nghị giúp tăng cường sự tham gia, đóng góp của người dân trong việc xây dựng nông thôn mới Luận văn thực hiện nghiên cứu trên kích thước mẫu là 320 hộ thuộc 4 xã: Mỹ Hòa, Mỹ Lộc, Mỹ Thắng,
Mỹ An thuộc Huyện Phù Mỹ, Bình Định Qua phân tích thống kê mô tả mức độ tham gia của người dân vào xây dựng nông thôn mới, Luận văn nhận thấy đa số người dân ở địa bàn nghiên cứu đều có những hiểu biết cơ bản, nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm trong xây dựng nông thôn mới; các nhân tố ảnh hưởng, tác động đến sự tham gia của người dân đó là: Cơ sở hạ tầng, dịch vụ tiện ích công cộng, đất đai nhà ở, môi trường, sức khỏe, tính gắn kết xã hội, văn hóa - xã hội, chính quyền địa phương, trong đó, nhân tố cơ sở hạ tầng tác động mạnh nhất và nhân tố chính quyền địa phương tác động yếu nhất đến sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
Từ đó, tác giả tiến hành đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao sự tham gia của người dân vào việc thực hiện chương trình nông thôn mới tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
Trang 11CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VÀ CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH
1.1 Bối cảnh nghiên cứu
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã có những bước phát triển khá toàn diện và to lớn nhưng đồng thời trong quá trình phát triển, dưới
sự tác động ngày càng mạnh mẽ của quá trình hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu, đã nảy sinh nhiều vấn đề cả về lý luận và thực tiễn cần được quan tâm chú ý giải quyết (Nguyễn Mậu Dũng và Nguyễn Mậu Thái, 2012) Nhằm khắc phục những tồn tại, đẩy mạnh hơn nữa công cuộc phát triển nông thôn, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa X đã bàn và ra nghị quyết chuyên đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó xác định những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong bối cảnh phát triển mới Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ
“Triển khai chương trình XDNTM phù hợp với đặc điểm của từng vùng theo các bước đi cụ thể vững chắc trong từng giai đoạn; giữ vững và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011)
Để triển khai thực hiện nghị quyết 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương, và sau khi triển khai thí điểm ở một số địa phương, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM giai đoạn 2010 - 2020 với mục tiêu đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn NTM và đến năm 2020 có 50% số xã đạt được tiêu chuẩn này Chính vì vậy, XDNTM đã và đang được triển khai thực hiện ở hầu hết các vùng nông thôn trong
cả nước
Qua hơn 6 năm kể từ khi có chủ trương và hơn 3 năm thực hiện XDNTM (NTM), NTM đã được thực hiện ở 9.025 xã trên toàn quốc (Thanh Duy, 2014) Theo báo cáo tổng kết hoạt động của Văn phòng điều phối toàn quốc năm 2015, đến nay cả nước có 1.751 xã, 17 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt
chuẩn NTM (Hoàng Nam, Ngàn Thương, Văn Cường, 2016) Nhìn chung, hoạt
động NTM chủ yếu thông qua tuyên truyền và người dân thường chỉ biết đến khái
Trang 12niệm NTM chứ chưa thực sự hiểu và chủ động trong các hoạt động, chủ yếu chỉ chờ
có chủ trương, hỗ trợ của Nhà nước để thực hiện Vì vậy, người dân cần phải thực
sự được phát huy vai trò chủ thể của họ Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng phải là giải pháp quan trọng hàng đầu Làm cho dân hiểu, dân tin, dân hưởng ứng bằng sự tham gia bàn bạc, hiến kế, đóng góp công, của và chủ động thực hiện các nhiệm vụ của mình là yếu tố quyết định sự thành công trong XDNTM (Văn phòng đại diện NTM Trung ương, 2016)
Huyện Phù Mỹ - tỉnh Bình Định, qua 5 năm XDNTM (giai đoạn 2011 – 2015) đã huy động gần 8.000 hộ dân hiến đất, hiến cây, đóng góp XDNTM với tổng số tiền hơn 20 tỷ đồng Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ trong công tác XDNTM giai đoạn 2011-2015, huyện có 04/16 xã đạt chuẩn NTM, đạt 25%, vượt 2
xã so với Chương trình hành động của tỉnh và của huyện đề ra Tuy nhiên, các hình thức tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu, tin tưởng tham gia hưởng ứng đóng góp, ủng hộ để cùng với chính quyền thực hiện thành công XDNTM còn thấp Mặc dù, huyện mới bước đầu XDNTM và có 04 xã hoàn thành các tiêu chí xã NTM (19/19 tiêu chí), nhưng sự tham gia của người dân trong huyện vẫn còn thấp, chưa thể hiện được vai trò chủ thể của người nông dân trong XDNTM Vì vậy, vai
trò chủ thể của người dân cần phải phát huy trong XDNTM Nghiên cứu “Phân tích
Sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Phù
Mỹ, Bình Định, giai đoạn 2011 - 2015” được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu
này Đây là đóng góp quan trọng của đề tài, không những góp phần thúc đẩy quá trình nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mỗi người dân mà là tạo nguồn lực mới có thể đem lại thành công của chương trình
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Trang 131.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện để trả lời các câu hỏi:
- Tại sao phát triển NTM cần có sự tham gia của người dân?
- Người dân có vai trò gì và mức độ tham gia của họ vào trong quá trình XDNTM tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định như thế nào?
- Làm thế nào để cải thiện sự tham gia của người dân trong XDNTM và góp phần đẩy mạnh quá trình XDNTM tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về các yếu tố ảnh
hưởng đến sự tham gia của người dân trong XDNTM tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, mức độ tham gia của người dân, những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tham gia của người dân trong các hoạt động xây dựng mô hình NTM
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại 4 xã : Mỹ Hòa, Mỹ Lộc, Mỹ Thắng,
Mỹ An thuộc Huyện Phù Mỹ, Bình Định
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng sự tham gia của người dân trong
việc xây dựng mô hình phát triển NTM tại địa bàn nghiên cứu từ khi huyện thực mô hình NTM từ năm 2011 đến 2015
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận nghiên cứu của đề tài là lịch sử và hệ thống dựa trên lý thuyết, cơ sở khoa học về phát triển nông thôn và kinh nghiệm vận dụng phát triển nông thôn
- Áp dụng các phương pháp phỏng vấn sâu, phỏng vấn chuyên gia, phỏng vấn nhóm (focus group), đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal) và điều tra xã hội
Trang 14- Áp dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá tiến trình phát triển dựa trên cơ sở dữ liệu của các xã nông thôn mới với thông tin khảo sát bổ sung của đề tài để tổng kết kết quả xây dựng nông thôn mới
1.5 Ý nghĩa của đề tài
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
Xác định được mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong việc XDNTM tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Các yếu tố này bao gồm: (1) Thu nhập, (2) Cơ sở hạ tầng, (3) Dịch vụ tiện ích công cộng, (4) Đất đai, nhà ở, (5) Môi trường, (6) Sức khỏe, (7) Tính gắn kết xã hội, (8) Văn hóa, xã hội và (9) Chính quyền địa phương Đồng thời đánh giá được mức độ tác động của từng yếu tố này đến sự tham gia của người dân trong việc XDNTM tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở đánh giá mức độ hiểu biết của người dân, sự tham gia của người dân và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong việc XDNTM trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Và đánh giá kết quả đạt được trong việc XDNTM cũng như những thuận lợi và khó khăn của người dân trong việc tham gia vào xây dựng chương trình NTM trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
Từ đó, tác giả đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao sự tham gia của người dân trong
việc xây dựng chương trình NTM trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định 1.6 Cấu trúc của nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan và các vấn đề chính sách Chương này nhằm giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm những nội dung như lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giới hạn của nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày những khái niệm, cơ sở lý thuyết về NTM, nguyên tắc và kinh nghiệm XDNTM của các nước Bên cạnh đó, chương này cũng giới thiệu tóm tắt những kết quả nghiên cứu trước làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài
Trang 15Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này giới thiệu về sơ đồ quy trình nghiên cứu, cách thức chọn mẫu, phương pháp thu thập số liệu, cỡ mẫu và phân tích thống kê mô tả Nghiên cứu này được thực hiện thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu định lượng
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này sẽ tiến hành phân tích thực trạng và những ý kiến về các yếu tố ảnh hưởng Dựa vào kết quả khảo sát, tổng hợp các số liệu thu thập đưa ra kết quả sự tham gia của người dân vào quá trình XDNTM Chương 5: Kết luận và Kiến nghị Chương này đánh giá lại kết quả nghiên cứu của
đề tài, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác XDNTM trên địa bàn huyện Phù Mỹ
Trang 162.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về nông thôn, phát triển nông thôn và mô hình NTM
2.1.1.1 Khái niệm về nông thôn
Nông thôn là một khái niệm đại diện về xã hội, là một cộng đồng có chung lợi ích,
có chung văn hóa hay là cách sống Tuy nhiên, cách hiểu phổ biến trên thế giới, thường dựa trên khái niệm lãnh thổ, cho nông thôn là vùng không gian lãnh thổ có các đặc trưng đối lập với thành thị Nông thôn thường được phân loại dựa trên quy
mô dân số, mật độ dân số, bối cảnh cư trú và bối cảnh thị trường lao động (Plessis, Beshiri, Bollman & Clemenson, 2002) Bên cạnh đó, Ý kiến khác lại cho rằng, dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở
hạ tầng không phát triển bằng thành thị Một quan điểm khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của dân cư nông thôn trong vùng là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (Mai Thanh Cúc & cộng sự, 2005)
Những ý kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng nước nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ cấu áp dụng cho từng nền kinh
tế Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu:
Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác
Trang 172.1.1.2 Phát triển nông thôn
Theo Ellis và Biggs (2001) và Nimal (2008), khái niệm phát triển nông thôn đã thay đổi sâu sắc từ ba thập kỷ qua Với quan điểm ở những thập niên 50 - 60, mục tiêu chính của phát triển nông thôn là phát triển sản xuất nông nghiệp để qua đó tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho cư dân nông thôn, và phát triển nông thôn là nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tăng trưởng Ngày nay với phát triển và phát triển kinh tế, phát triển nông thôn là chỉ sự phát triển ở khu vực nông thôn; có thể hiểu rằng phát triển nông thôn chỉ sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi hẹp hơn phát triển và phát triển kinh tế Sau đây
là một số quan điểm về phát triển nông thôn (Mai Thanh Cúc và công sự, 2005):
- Phát triển nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về kinh
tế, văn hóa, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của dân cư nông thôn
- Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm phát triển đời sống kinh tế và xã hội của một nhóm người riêng biệt, người nghèo ở nông thôn Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong những người nghèo nhất, trong những người đang tìm kế sinh nhai ở các vùng nông thôn Nhóm này gồm những tiểu nông, tá điền và những người không có đất
- Phát triển nông thôn bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn với tốc
độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của người dân nông thôn Phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài trong nông thôn Sự phát triển đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo đảm giữ gìn môi trường sinh thái nông thôn Phát triển nông thôn đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên, không
để lại hậu quả cho thế hệ tương lai
Từ các quan điểm trên có thể hiểu: Phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế -
xã hội, văn hoá, môi trường và ổn định chính trị Quá trình này, trước hết là do nỗ
Trang 18lực từ chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác (Nguyễn Duy Hoan và Nguyễn Văn Tâm, 2007)
Theo Ellis và Biggs (2001), tiếp cận phát triển nông thôn theo kiểu từ trên xuống (top-down), với đặc trưng công nghệ từ bên ngoài và chính sách cấp độ quốc gia đã thay đổi theo hướng tiếp cận từ dưới lên (bottom-up), tiếp cận cơ sở, hay là tiếp cận
“quá trình” Cách tiếp cận này cho rằng phát triển nông thôn là một quá trình có sự tham gia, nhấn mạnh giao quyền cho cư dân nông thôn để họ có thể kiểm soát tiến trình phát triển theo những ưu tiên mà họ lựa chọn Cách tiếp cận mới này hình thành dưới sự tác động của hàng loạt yếu tố như: 1) sự thất bại của nghiên cứu hệ thống canh tác và cách mạng xanh đối với tăng thu nhập của nông dân; 2) sự phù hợp của kiến thức kỹ thuật bản địa và quan niệm người nghèo có đủ năng lực để giải quyết các vấn đề của họ; 3) sự nổi lên của phương pháp nghiên cứu có sự tham gia ví dụ như Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), Học và hành động có sự tham gia (PLA); 4) quan điểm lấy cư dân nông thôn làm trung tâm của các chính sách phát triển nông thôn; 5) sự chuyển đổi cấu trúc và tự do hóa thị trường dẫn đến
sự rút lui của chính phủ khỏi các vấn đề quản trị ngành nông nghiệp trên quy mô lớn; 6) sự nổi lên của các tổ chức phi chính phủ như là các tổ chức phát triển nông thôn; 7) quan niệm là các lý thuyết tổng quát không áp dụng được cho mọi hoàn cảnh; và 8) vấn đề giới trong phát triển nông thôn
Nhìn chung, quan niệm hiện đại về phát triển nông thôn chú trọng đến bốn nội dung (hay còn gọi là bốn cột trụ) của phát triển nông thôn, bao gồm:
1) Chính trị và thể chế: xây dựng quyền sở hữu cộng đồng; phân quyền và thể chế
hóa sự tham gia của công công chúng; thúc đẩy sự tiếp cận công bằng đến các nguồn lực có giới hạn và cơ hội; đưa ra các giải pháp cung ứng dịch vụ
2) Văn hóa – xã hội: tái phát hiện và xây dựng các nền tảng xã hội, văn hóa vùng
và địa phương; đối phó với rủi ro và bất lợi thông qua hệ thống an sinh xã hội
3) Kinh tế: tạo ra cơ hội việc làm thông qua đa dạng hóa nghề nghiệp; tạo ra giá trị
gia tăng cho vùng; kiện toàn năng lực để đối mặt với thị trường
Trang 194) Môi trường: quản lý tài nguyên tự nhiên theo cách bền vững và tạo ra các thỏa
ước sử dụng mang tính cộng đồng
Theo Dower (2001) đưa ra bốn nguyên tắc bền vững của phát triển nông thôn: bền vững về con người, về kinh tế, môi trường và tổ chức
Tổ chức Để bền vững, phát triển phải:
- Nằm trong giới hạn năng lực của các tổ chức kinh tế để khống chế và quản lý, để
có thể đáp ứng các tiêu chí nêu trên
- Không gây ra loại chi phí không được hỗ trợ trong tương lai
Kinh tế Để bền vững, phát triển phải:
- Hỗ trợ để tăng cường và đa dạng hóa nền kinh tế nông thôn;
- Đảm bảo cho người dân có lợi ích đáng kể từ hoạt động địa phương;
- Thúc đẩy phồn vinh lâu dài ở nông thôn, hơn là vào lợi ích trước mắt; và
- Tránh gây tác động xấu đến các khu vực khác trong nền kinh tế quốc dân và đến các khu vực và địa phương khác trên lãnh thổ địa lý
Con người Để bền vững, phát triển phải tuân theo các nguyên tắc
- Dân chủ và an toàn;
- Bình đẳng và đối xử công bằng với tất cả, bao gồm cả sự trợ giúp đặc biệt đối với người nghèo và sự quan tâm đến phụ nữ, trẻ em và các dân tộc thiểu số;
- Chất lượng cuộc sống cho mọi người dân;
- Hành động của người dân trong hợp tác với Chính phủ; và
- Tôn trọng đối với tổ tiên, và quyền lợi của những người chưa sinh ra
Môi trường Để bền vững, phát triển phải:
- Tôn trọng nguồn tài nguyên và tính toàn vẹn của môt trường;
- Giảm thiểu sử dụng nguồn tài nguyên không có khả năng tái tạo;
- Sử dụng tài nguyên thiên nhiên với tốc độ không nhanh hơn là thiên nhiên có thể tái tạo;
Trang 20- Sử dụng tài nguyên có hiệu quả; và
- Tránh gây ô nhiễm và ảnh hưởng xấu đến môi trường
Bốn nguyên tắc phát triển nông thôn của Dower cũng phản ánh bốn nội dung (cột trụ) cơ bản của phát triển nông thôn và có thể coi như là các yêu cầu phải đạt khi đánh giá sự thành công của phát triển nông thôn
tế - xã hội Việt Nam từ hướng cung sang hướng vào nhu cầu thị trường và xã hội Đồng thời đảm bảo sự tham gia tối đa của người dân vào quá trình phát triển theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý
và dân hưởng lợi” Đây là cơ sở để phát huy nội lực, hướng vào xây dựng tính bền vững cho việc phát triển (Hoàng Chí Bảo, 2002)
Xây dựng mô hình NTM là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí
Theo các nhà nghiên cứu thì mô hình NTM là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người dân Nhìn chung mô hình NTM theo hướng CNH - HĐH, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa
Trang 21Mô hình NTM là tập hợp các hoạt động qua lại để cụ thể hoá các chương trình phát triển nông thôn; mô hình nhằm bố trí sử dụng các nguồn lực khan hiếm về tài chính, nhân lực, phương tiện, vật tư thiết bị để tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ trong một thời gian xác định và thỏa mãn các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường cho sự phát triển bền vững ở nông thôn
Mô hình NTM được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển, đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường, đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước (Mai Thanh Cúc và công sự, 2005)
Từ các quan điểm trên có thể hiểu: “Mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng
so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt”
2.1.2 Những nguyên tắc XDNTM theo Chương trình mục tiêu quốc gia
Theo Dower (2001) đưa ra bốn nguyên tắc bền vững của phát triển nông thôn: bền vững về con người, về kinh tế, môi trường và tổ chức XDNTM xây dựng theo phương châm phát huy vai trò chủ thể cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ các mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai
ở nông thôn, có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế, huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư
Được thực hiện gắn với kế hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các
Bộ chuyên ngành ban hành)
Trang 22Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chủ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; hình thành cuộc vận động “Toàn dân XDNTM” do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc XDNTM
2.1.3 Sự tham gia của người dân trong việc xây dựng mô hình NTM
2.1.3.1 Sự tham gia
Theo tổ chức Global Donor Platform for Rural Development (2006) về hai động lực của phát triển nông thôn bao là Phát triển lấy con người làm trung tâm và Quản trị địa phương; quan điểm thể chế hiệu quả của Nimal (2006) và của nhiều tác giả khác (Arcand, 2008; Brillantes & Siamwalla, 2001; FAO, 2001; Farrington, 2008; McAndrews, Roche, Frederick, & Siamwalla, 2001) Như vây, Trong chiến lược phát triển cộng đồng "sự tham gia của quần chúng" là yếu tố chủ yếu, nó là một trong những thành tố chính của phát triển cộng đồng trong thời gian gần đây vì những lý do:
Một là, sự tham gia của quần chúng là phương tiện hữu hiệu để huy động tài nguyên địa phương, tổ chức và tận dụng năng lực, sự khôn ngoan, tính sáng tạo của quần chúng vào các hoạt động phát triển
Hai là, nó giúp xác định nhu cầu tiên khởi của cộng đồng và giúp tiến hành những hoạt động phát triển để đáp ứng những nhu cầu này Quan trọng hơn cả là sự tham gia của quần chúng cho dự án hay hoạt động được công nhận, khuyến khích người dân tham gia thực hiện và đảm bảo khả năng bền vững Kinh nghiệm gần đây trong những hoạt động phát triển cho thấy rằng có một mối liên hệ quan trọng giữa mức
độ và cường độ tham gia của người dân với sự thành công của những hoạt động phát triển
Sự tham gia tích cực của người dân mặc dù được xem là một thành tố chủ yếu trong phát triển, vẫn bị chi phối bởi những điều kiện của bối cảnh diễn ra hoạt động phát triển Hơn nữa, mức độ tham gia khác nhau tuỳ theo tính chất của dự án phát triển Ở hầu hết các nước, sự tham gia của người dân vào phát triển diễn ra từ mức
độ cao cho tới chỗ chỉ tham gia một cách hình thức Mức độ tham gia khác nhau tuỳ
Trang 23thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình phát triển, phong cách quản lý, mức độ nâng cao quyền lực và bối cảnh văn hoá xã hội của đất nước hay cộng đồng Khả năng vận động người dân, các tổ chức xã hội tham gia và năng lực để tham gia của nhóm đối tượng cũng là những yếu tố quyết định
- Không có sự tham gia:
+ Cán bộ điều khiển: Người dân làm và thực hiện theo ý của cán bộ, không được hiểu rõ Như người dân bị gọi đi làm công ích, đóng góp tiền cho một hoạt động nào đó mà không được biết, không được thảo luận
Trang 24+ Tham gia mang tính hình thức: Cán bộ cũng có gọi dân đến, cho dân phát biểu ý kiến nhưng chỉ có lệ, mọi việc cán bộ quyết theo ý mình
- Tham gia ít:
+ Người dân được thông báo và giao nhiệm vụ: Người dân được thông báo, hiểu rõ những việc mà cán bộ muốn họ tham gia, sau đó người dân đóng góp công sức hay tiền của theo khả năng của mình
+ Người dân được hỏi ý kiến: Kế hoạch công tác do cán bộ thiết kế và quản
lý, người dân được mời tham gia thảo luận, hỏi lấy ý kiến, cán bộ lắng nghe nghiêm túc, sau đó cán bộ điều chỉnh kế hoạch (nếu cần thiết) cho phù hợp với dân rồi cùng thực hiện
- Tham gia thực sự:
+ Cán bộ khởi xướng, người dân cùng tham gia lấy quyết định: Cán bộ là người khởi xướng, có ý tưởng Người dân chủ động tham gia cùng cán bộ trong các khâu lập kế hoạch, quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện
+ Người dân khởi xướng và cùng cán bộ ra quyết định: Người dân khởi xướng, lập kế hoạch, cán bộ cùng dân quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện
+ Người dân khởi xướng, quyết định chọn các phương án và có sự hỗ trợ của cán bộ: Người dân khởi xướng, lập kế hoạch, quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát Cán bộ đóng vai trò khi người dân cần
+ Người dân tự lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, cán bộ hỗ trợ khi cần thiết Các mức độ tham gia này có thể minh hoạ phương thức "Nhà nước và nhân dân cùng làm" với các bước dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra cộng thêm bước xuất phát là dân nhận từ nhà nước và bước cuối cùng là dân tự quyết nên chọn nhận những gì (Bộ NN & PTNT, 2005)
2.1.3.4 Sự tham gia của người dân vào XDNTM
Sự tham gia của người dân vào việc xây dựng mô hình NTM được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm mô hình Các nội
Trang 25dung trong vai trò của người dân vào việc tham gia xây dựng mô hình NTM được hiểu là:
Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội tại địa phương vào việc xây dựng
mô hình NTM được coi là nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm xây dựng mô hình NTM Khi tham gia phát triển xóm, làng với sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân tại các cộng đồng dân cư nông thôn sẽ từng bước được tăng cường kỹ năng, năng lực về quản lý nhằm tận dụng triệt để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài Khi xem xét quá trình tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong các hoạt động trong phát triển xóm làng, vai trò của người dân ở đây được thể hiện: Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi (Viện Quy hoạch và KTNN, 2007)
Như vậy, vai trò của người dân vẫn theo một trật tự nhất định, các trật tự ở đây hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc”
Các nội dung trong nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng
mô hình NTM được hiểu:
- Dân biết: Quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân về những
kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; Người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi
- Dân bàn: Sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế hoạch phát
triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn như: bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính,… trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi
Trang 26- Dân đóng góp: Là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc, công
sức mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính
tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ
- Dân làm: Là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các hoạt động
phát triển nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập cho người dân
- Dân kiểm tra: Thông qua các chương trình, hoạt động có sự giám sát và
đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu
tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính
- Dân quản lý: Các thành quả của các hoạt động mà người dân đã tham gia;
các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình
- Dân hưởng lợi: Là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên cần chia ra
các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng do thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng… Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng
Trang 27lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập (Viện Quy hoạch & KTNN, 2007)
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước
Có nhiều định nghĩa về sự tham gia của người dân Theo Florin, Paul (1990) sự tham gia của người dân là “một quá trình trong đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, chương trình và môi trường ảnh hưởng đến họ” Theo Andre (2012) “sự tham gia của người dân là một quá trình mà trong đó những người dân thường tham gia – trên cơ sở tự nguyện hoặc bắt buộc và hành động một mình hoặc trong một nhóm – với mục tiêu ảnh hưởng đến quyết định sẽ tác động đến cộng đồng của họ” Sự tham gia này có thể xảy ra bên trong hoặc bên ngoài khuôn khổ thể chế và nó có thể được tổ chức bởi thành viên của các tổ chức
xã hội hay người ra quyết định (Andre, Martin & Lanmafankpotin, 2012) Tùy thuộc vào trình độ nhận thức, văn hóa, điều kiện địa lý của từng vùng miền khác nhau, mức độ tham gia của người dân vào các công việc phát triển cộng đồng thể hiện ở các cấp độ khác nhau, như một tiến trình liên tục và chia thành 6 cấp độ:
- Tham gia thụ động (Passive participation): trong các hoạt động người dân thụ động tham gia, bảo gì làm đấy, không tham dự vào quá trình ra quyết định
- Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin (Participation as contributors): thông qua việc trả lời các câu hỏi khảo sát của các nhà nghiên cứu Người dân không tham dự vào quá trình phân tích và sử dụng thông tin
- Tham gia như nhà tư vấn (Participation as consultants): Người dân được tham vấn và đưa ra ý kiến về các vấn đề tại địa phương
- Tham gia trong việc thực hiện (Participation in implementation): Trong các hoạt động người dân thành lập nhóm để thực hiện những chương trình hay các dự
án tại địa phương, tuy nhiên ở cấp độ này họ không tham dự vào quá trình ra quyết định
- Tham gia trong quá trình ra quyết định (Participation in decision): Người dân chủ động tham gia vào các quá trình phân tích và lập kế hoạch, họ tham gia vào quá trình ra quyết định tại địa phương
Trang 28- Tham gia tự nguyện (Self - mobilization): Người dân tự thực hiện từ đầu mọi công việc, lên ý tưởng, lập kế hoạch và đánh giá các hoạt động, việc này được thực hiện không có sự hỗ trợ, định hướng từ bên ngoài
Theo Arnstein (1969) chú trọng đến phân chia mức độ tham gia của người dân thông qua việc đưa ra 8 mức độ (Vancouver Community Network, 2014) Thang đo
8 mức độ này được Wilcox (2003) phân chia từ cao đến thấp và mô tả như sau: Ở 2 nấc thấp nhất là Sự vận động (manipulation) và Liệu pháp (therapy) hoàn toàn chưa tạo ra sự tham gia, chỉ có mục đích đào tạo người tham gia Ở nấc thang Cung cấp thông tin (Informing), đây là bước quan trọng đầu tiên nhằm thúc đẩy sự tham gia nhưng thường thông tin chỉ mang tính một chiều mà không có phản hồi Ở mức Tham vấn (Consultation) sẽ thực hiện các bước khảo sát, tổ chức các cuộc họp khu dân cư và tham khảo ý kiến người dân, tuy nhiên ở mức độ này chỉ là nghi thức Nấc thang Động viên (Placation) người dân sẽ bầu và đưa những thành viên xứng đáng vào một nhóm để thực hiện chương trình, thường là một ủy ban Ở mức độ Hợp tác (Partnerchip) có sự phân phối lại quyền lực giữa người dân và nhà cầm quyền, cả hai đều phải có trách nhiệm trong kế hoạch và ra quyết định Ở nấc thang thứ 7 Ủy quyền (Delegated Power) người dân thường nắm giữ đa số các vị trí trong
ủy ban và có quyền quyết định, ở mức độ này người dân đã có thể chịu trách nhiệm Nấc thang cuối cùng Người dân quản lý (Citizen Control) cộng đồng thực hiện toàn
bộ công việc lập kế hoạch, hoạch định chính sách và quản lý một chương trình (Wicox, 2003)
Theo các lý thuyết trên thì người dân tham gia những hoạt động bằng những hình thức và mức độ khác nhau đến đời sống cộng đồng và cá nhân Vậy, khi đối chiếu các nội dung của Chương trình XDNTM ở Việt Nam, ta thấy các nội dung đều liên quan đến cộng đồng dân cư nông thôn, nên đây là cơ sở cho người dân tham gia vào các hoạt động XDNTM
Công trình: “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển” của tác giả
Frans Ellits do NXB Nông nghiệp ấn hành năm 1994 Trong tác phẩm này, tác giả
đã nêu lên những vấn đề cơ bản của chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển thông qua việc nghiên cứu lý thuyết và khảo cứu thực tiễn ở nhiều nước Châu
Trang 29Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh Cuốn sách đã đề cập những vấn đề về chính sách phát triển vùng, chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thương mại nông sản, những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá
Công trình: “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam” của các tác giả Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott, Nguyễn Ngọc và
Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, NXB Hà Nội ấn hành năm 2000 Trong công trình này, các tác giả đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng truyền thống ở Việt Nam
Nguyễn Thị Tố Quyên (2011) với nghiên cứu “Thách thức mới đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam và một số gợi ý chính sách giai đoạn 2011 – 2020” Trong bài viết, tác giả đã đề cập đến những thách thức mới đặt ra đối với
nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong giai đoạn tới trên một số khía cạnh Từ
đó, tác giả nêu một số gợi ý nhằm giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn giai đoạn tới đó là: (1) phân bổ nguồn lực; (2) quy hoạch vùng và quy hoạch nông thôn đô thị; (3) phát triển hạ tầng cho nông nghiệp, nông thôn đang trong quá trình chuyển đổi mạnh sang nông nghiệp kinh doanh hàng hóa và nông nghiệp hiện đại; (4) nâng cao thu nhập cho người dân; (5) thay đổi tư duy, cách thức thực hiện khuyến nông; (5) chính sách xã hội đối với nông dân; (7) nâng cao năng lực của hệ thống chính quyền nông thôn - phát triển dân chủ và xã hội pháp quyền ở nông thôn
Nguyễn Thị Yến (2012) Luận án Tiến sĩ kinh tế “Phát triển nông nghiệp, nông thôn với giảm nghèo ở tỉnh Thái Nguyên” Từ phân tích thực trạng phát triển nông
nghiệp, nông thôn và đói nghèo của tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2000- 2010
đã rút ra kết luận: Ở một mức độ nhất định, phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Nguyên đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực Tuy nhiên, xét về tổng thể, sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua vẫn còn chậm và chưa thực sự bền vững Nguyên nhân của tình trạng trên được lý giải dưới hai góc độ đó là: do các nhân tố kinh tế và môi trường
xã hội Dưới góc độ kinh tế đó chính là việc hạn chế nguồn lực (vốn, lao động, đất
Trang 30và khoa học công nghệ) trong việc tạo ra thu nhập và việc sử dụng nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp chưa thực sự hiệu quả Ở khía cạnh xã hội, đó là nhận thức của người dân về công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình, khả năng và cơ hội trong việc tiếp cận đến các dịch vụ về y tế, giáo dục cũng như địa vị của các thành viên trong gia đình còn thấp Qua nghiên cứu thực trạng, kết hợp với định hướng và những quan điểm của Đảng và Nhà nước cũng như quan điểm của tác giả về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nghèo đói, luận án đã đưa ra 2 nhóm giải pháp quan trọng nhằm giải quyết tốt hơn nữa vấn đề này, đó là nhóm giải pháp về kinh tế và nhóm giải pháp về xã hội Trong hai nhóm giải pháp, nhóm giải pháp về kinh tế được tác giả đặc biệt nhấn mạnh
Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012) với luận án tiến sĩ Kinh tế “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tỉnh Nam Định trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nội dung kinh tế của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và của phát triển kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là nội dung quyết định của phát triển kinh tế nông thôn, mà còn làm thay đổi xã hội nông thôn Luận án đã đánh giá động thái chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Nam Định trong thời gian qua, vạch ra những nhân tố tác động, thúc đẩy, cản trở đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Nam Định và những vấn đề đặt ra; đề xuất quan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu có tính khả thi để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Nam Định từ nay đến 2020 Tác giả luận án
đã đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Nam Định với những khía cạnh như: đặc điểm, tính chất, tính quy luật, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế; trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm, phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Nam Định và những giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn Nam Định Luận án cũng khảo cứu sự phát triển của Bắc Ninh và Thái Bình để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Nam Định; đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Nam Định và những vấn đề mới đang đặt ra; phân tích bối cảnh phát triển của giai đoạn tới, các nguồn lực tác động từ bên ngoài vào Nam Định để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nông thôn Luận án cũng đưa ra hệ thống các quan điểm và giải pháp mang tính đồng bộ, trong đó nhấn
Trang 31mạnh nhóm giải pháp đặc thù gắn với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Nam Định từ nay đến 2020
Nguyễn Mậu Dũng (2012) với nghiên cứu “Sự tham gia của người dân trong XDNTM: Tổng quan một số vấn đề về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” Phong trào
XDNTM đã và đang được triển khai thực hiện ở hầu hết các vùng nông thôn trong
cả nước, trên cơ sở lấy người dân làm trung tâm cả trong quá trình xây dựng và thụ hưởng kết quả Kết quả nghiên cứu từ lý luận và thực tiễn cho thấy sự tham gia của người dân trong chương trình XDNTM có vai trò cực kỳ quan trọng và được coi là chìa khóa then chốt để đảm bảo cho sự thành công của chương trình Để tăng cường
sự tham gia của người dân trong XDNTM trước hết cần xác định người dân chính là chủ thể XDNTM, đồng thời cần tạo điều kiện cho người dân trực tiếp tham gia vào ban chỉ đạo XDNTM cấp thôn, xã; phát huy vai trò của người dân trong công tác tuyên truyền vận động, trong đóng góp vật tư nhân lực, trong giám sát thực hiện các hạng mục công trình XDNTM của địa phương
Nguyễn Hoài Nam (2012)với đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong XDNTM trên địa bàn Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh” Kết quả
nghiên cứu cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân, trong đó có cả yếu tố từ phía người dân như: Trình độ học vấn, trình độ nhận thức, lợi ích/hưởng lợi, điều kiện kinh tế của người dân và yếu tố từ phía nhà nước như tổ chức cộng đồng, quy chế hương ước, chính sách khuyến khích và thông tin tuyên truyền Trong quá trình XDNTM trên địa bàn, vẫn còn một số khó khăn hạn chế sự tham gia của người dân, trong đó có những khó khăn chung về cơ chế, chính sách, đặc biệt là cơ chế tài chính, cơ cấu lao động, việc làm; đồng thời có những khó khăn
về trình độ dân trí, năng lực tiểu ban XDNTM… mà trong thời gian tới cần được khắc phục để huy động tổng lực cho XDNTM Cần áp dụng đồng bộ các giải pháp: Nâng cao trình độ nhận thức của người dân trong cộng đồng, nâng cao thu nhập; Đảm bảo lợi ích cho người dân khi tham gia XDNTM; Tăng cường cơ chế dân chủ
cơ sở; xây dựng tổ chức đoàn thể vững mạnh; Hoàn thiện các quy chế, quy định, đảm bảo sự tham gia của người dân; Nâng cao trình độ của cán bộ xã, thôn; Phát triển hệ thống thông tin tuyên truyền
Trang 32Đỗ Thị Hồng Nhung (2014) với đề tài “Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong XDNTM tại một số xã thuộc Huyện Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh” Nghiên
cứu đánh giá thực trạng sự tham gia của người dân trong XDNTM, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để tăng cường sự tham gia của họ nhằm góp phần XDNTM bền vững trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Trần Hồng Quảng (2015) với luận án tiến sĩ kinh tế chính trị “Kinh tế nông thôn trong XDNTM ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình” Kết quả nghiên cứu của luận án
chỉ ra rằng để phát triển kinh tế nông thôn trong XDNTM ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình thời gian tới, luận án đưa ra 5 quan điểm đó là: Phát triển kinh tế nông thôn trong XDNTM phải tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, huy động cả hệ thống chính trị thực hiện; Phát triển kinh tế nông thôn trong XDNTM phải gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; Phát triển kinh tế nông thôn trong XDNTM phải phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; Phát triển kinh tế nông thôn trong XDNTM phải là sự nghiệp của toàn dân, trên cơ sở phát huy hiệu quả tiềm năng của các thành phần kinh tế; Phát triển kinh tế nông thôn trong XDNTM phải gắn với giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ vững chắc an ninh, quốc phòng Đồng thời luận án đề xuất 8 giải pháp gồm: Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế nông thôn trong XDNTM; Phát triển kinh tế nông thôn toàn diện theo hướng hiện đại; Huy động các nguồn vốn và đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ vào phát triển kinh tế nông thôn; Xây dựng, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn; Đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế nông thôn trong XDNTM; Tổ chức thực hiện hiệu quả hệ thống các chính sách; Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp; Tăng cường năng lực, hiệu lực quản lý Nhà nước và các tổ chức đoàn thể
2.3 Kinh nghiệm thế giới về xây dựng nông thôn
2.3.1 Tình hình xây dựng nông thôn một số nước điển hình trên thế giới
Phát triển nông thôn với việc nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, bình
ổn xã hội, nhằm đạt đến sự phát triển bền vững cho mỗi quốc gia Tuy nhiên, mỗi
Trang 33quốc gia có một quốc sách phát triển để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước mình
2.3.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Vào đầu những năm 60 Hàn Quốc vẫn là một nước chậm phát triển, nông nghiệp
là hoạt động kinh tế chính với khoảng 2/3 dân số sống ở khu vực nông thôn, nông dân quen sống trong cảnh nghèo nàn, an phận, thiếu tinh thần trách nhiệm
Tuy nhiên, một khi ý thức được tình hình đó, Chính phủ Hàn Quốc thời tổng thống Packchunghi đã đề xướng chương trình “làng mới” (Saemaul Undong) và dùng cách này để thúc đẩy sự phát triển tự thân vận động tích cực của các cộng đồng với
sự yểm trợ của Nhà nước qua các dự án phát triển nông thôn
Một số hoạt động của mô hình “làng mới” nhằm tăng cường sự tham gia của người dân trong việc xây dựng mô hình:
- Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, tổ chức từ cơ sở đến Trung ương
- Bầu ra đội ngũ lãnh đạo thôn làm nòng cốt cho chương trình phát triển
- Đào tạo cán bộ các cấp theo các mô hình, gắn cả nước với phong trào phát triển nông thôn
- Phát huy tính dân chủ, đưa nông dân tham gia vào quá trình ra quyết định
- Tạo ra một không khí thi đua, tinh thần hăng hái trong làng, xã
- Nhà nước và nhân dân cùng làm
“Ủy ban phát triển làng mới” được lập ra ở các làng để vạch kế hoạch và xúc tiến các dự án Lãnh đạo của dự án độc lập với xã trưởng là người chỉ giữ vai trò đại diện hành chính để tránh tình trạng quan liêu hóa thường thấy ở các vùng nông thôn Ủy ban ở làng xã được kết nối với ủy ban ở các cấp quận, huyện, tỉnh, cũng không phụ thuộc vào cơ quan hành chính từng cấp Các dự án ở từng làng xã xây dựng với sự hướng dẫn của các chuyên viên của các ngành khác nhau Mỗi dự án phải nhắm vào một công việc thiết thực nhất của làng, mang lại lợi ích cụ thể cho dân làng và do chính dân làng thực hiện Nhà nước hỗ trợ cho các dự án theo cách
ưu tiên cho những cộng đồng biết tự tổ chức và thực hiện dự án một cách thành công, không có việc cấp phát bình quân, cào bằng cho mọi làng nếu ở đó không có
Trang 34những công việc và mục đích thiết thực (Trung tâm thông tin NN&PTNT - Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2002)
Kết quả của việc thực hiện mô hình NTM được thể hiện rất nhanh chóng tại các làng mà các dự án được triển khai Sau 7 năm thực hiện, tổng chiều dài đường giao thông nội làng được tăng lên 42.000 km, đường giao thông nối các làng với nhau là 43.000 km Hệ thống cầu cống, các công trình cung cấp nước sạch đã được hoàn thiện đồng bộ Thay đổi lớn nhất là việc thay đổi vật liệu làm nhà từ rơm rạ sang các vật liệu công nghiệp (xi măng, tôn…) Các nguồn năng lượng phục vụ cho sinh hoạt của cư dân nông thôn được thay thế theo hướng hiện đại, thay bếp và gần 100% dân nông thôn được dùng điện Các giống lúa mới có năng suất cao được đưa vào sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế lớn
Một tác động nữa là làm tăng thu nhập của người dân Năm 1970, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực NTM chỉ đạt 824 USD/người/năm Nhưng năm 1976, thu nhập đã tăng lên 3.000 USD/người/năm Đó là một sự chuyển biến rất nhanh chóng và rõ nét
Đây là cách làm có hiệu quả vì nó đã đánh thức những tiềm năng và những quyết tâm của dân chúng ở từng cộng đồng Tính tích cực và chủ động của nông dân được khơi dậy thay cho tình trạng trì trệ vốn có ở nông thôn và từ đó tạo ra những bước phát triển cụ thể trong một cao trào học hỏi và thi đua giữa các cộng đồng (Vermillion & Sagardoy, 1999)
2.3.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Từ năm 1979, ở tỉnh Oi-ta, Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm" với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Ba nguyên tắc chính của phong trào là: (1) Địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; và phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm (2) Kinh nghiệm trong quá trình xây dựng các thương hiệu đặc sản nổi tiếng của Nhật Bản như nấm hương khô, rượu Shochu, lúa mạch, chanh Kabosu, cho thấy những bài học sâu sắc đúc kết không chỉ từ thành công mà cả sự thất bại (3) Người dân sản
Trang 35xuất rồi tự chế biến, tự đem đi bán mà không phải qua thương lái Họ được hưởng toàn bộ thành quả chứ không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian nào Chỉ tính riêng trong 20 năm kể từ năm 1979-1999, phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" của Nhật Bản đã tạo ra 329 sản phẩm bình dị và đơn giản như nấm, cam, cá khô, chè, măng tre được sản xuất với chất lượng và giá bán rất cao Bài học kinh nghiệm của phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm" trong việc tận dụng được nguồn nhân lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống (Phương Ly, 2014)
2.3.2 Tình hình xây dựng mô hình NTM ở Việt Nam
Sau gần 3 năm thực hiện, chương trình thí điểm mô hình NTM đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng Mô hình NTM theo 19 tiêu chí đã được hình thành, khẳng định việc lấy xã làm địa bàn tổ chức thực hiện và tổ chức xây dựng mô hình theo Bộ tiêu chí NTM là phù hợp (Kinh nghiệm Việt Nam, Kinh nghiệm Trung Quốc, 2009)
Chương trình xây dựng thí điểm mô hình NTM được thực hiện tại 11 xã, gồm Thanh Chăn (Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc Giang), Hải Đường (Nam Định), Thụy Hương (Hà Nội), Tam Phước (Quảng Nam), Tân Lập (Bình Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông Hội (TP Hồ Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh) và Đình Hoà (Kiên Giang) Mục tiêu của chương trình nhằm thử nghiệm các nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế, chính sách, xác định trách nhiệm và mối quan hệ chỉ đạo giữa các cấp trong việc XDNTM; hình thành các mô hình trên thực tiễn về NTM để rút kinh nghiệm triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM trên diện rộng
Theo kết quả đánh giá của các địa phương, đến nay đã có 2 xã Tân Hội và Tân Thông Hội công bố đạt đủ 19 tiêu chí NTM Nếu căn cứ trên các tiêu chí sửa đổi ban hành theo Quyết định 342/QĐ-TTg thì số xã đạt 19/19 tiêu chí đạt khoảng 6/11
xã Các xã còn lại đều đạt từ 16 - 18 tiêu chí Riêng 2 xã khó khăn là Hải Đường (Nam Định) và Thanh Chăn (Điện Biên) đã đạt 11 - 14 tiêu chí Một số xã đạt kết quả tương đối toàn diện như: Hải Đường, Tân Thịnh, Tân Thông Hội, Một số xã đạt được mô hình tốt ở một số mặt như: quy hoạch và thực hiện tốt quy hoạch ở Hải
Trang 36Đường; phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập ở Mỹ Long Nam; huy động nguồn lực ở Thanh Chăn và Định Hoà; phát triển sản xuất gắn với quy hoạch đồng ruộng
và cơ sở hạ tầng ở Tam Phước; phong trào cải tạo điều kiện sống của các hộ dân cư
ở Tân Thịnh; liên kết sản xuất giữa nông dân với doanh nghiệp ở Thụy Hương, Tân Hội; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn ở Tân Thông Hội, Tân Lập,… (Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đồng, Phạm Bích Hợp, 2009)
Hiện các mô hình này là những điểm thực tiễn được các địa phương khác đến tham quan và học tập Phát triển sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ môi trường được xác định là nội dung trọng tâm đặc biệt quan trọng của chương trình và được đẩy mạnh triển khai Đến nay, mỗi xã
đã có ít nhất 3 - 5 dự án, điểm trình diễn về sản xuất nông nghiệp được thực hiện Ngoài sản xuất tập trung theo các dự án, hầu hết các xã đã tăng nguồn vốn hỗ trợ nông dân thông qua chương trình khuyến nông, khuyến công, đặc biệt là vốn tín dụng để hình thành các mô hình, dự án sản xuất có hiệu quả kinh tế Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong XDNTM đã có nhiều hình thức đa dạng hơn, thu hút người dân tham gia nhiều hơn XDNTM đã được cán bộ, nhân dân ở cơ sở phấn khởi đón nhận, các xã điểm đã tổ chức để người dân đóng góp ý kiến vào đề án quy hoạch và bản kế hoạch XDNTM của xã, tham gia bàn bạc, lựa chọn công trình xây dựng hoặc các công việc nào cần làm trước, làm sau Từ thực tiễn triển khai ở 11 xã điểm đã giúp cho Ban chỉ đạo Trung ương, các Bộ, ngành, địa phương rút ra những bài học về mô hình, phương thức, cách thức triển khai thực hiện Từ đó, tiến hành điều chỉnh Bộ tiêu chí Quốc gia NTM, ban hành Thông tư hướng dẫn sử dụng ngân sách cấp xã, quy chế quản lý và lồng ghép các nguồn vốn, cơ chế đặc thù về quản lý nguồn vốn đầu tư phát triển, làm cơ sở để thực hiện trên toàn quốc Bản thân các
xã điểm cũng trở thành địa chỉ để các địa phương trên cả nước đến thăm quan, khảo sát, học hỏi mô hình (Xuân Tuyến, 2013)
2.3.3 Tình hình xây dựng mô hình NTM ở tỉnh Bình Định
Qua hơn 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM (XDNTM) giai đoạn 2011-2015, tình hình xây dựng mô hình NTM ở tỉnh Bình Định đã có
Trang 37nhiều khởi sắc, cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng kiên cố, đời sống của người dân từng bước được nâng cao
Kết quả, trên địa bàn tỉnh đã có 28/122 xã được công nhận đạt chuẩn NTM, chiếm 23% tổng số xã XDNTM (tăng 3% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII) Thu nhập bình quân đầu người của người dân khu vực nông thôn đạt 23,6 triệu đồng/năm, tăng 1,95 lần so với cuối năm 2010 Sản xuất nông nghiệp hàng hóa được coi trọng và có chuyển biến, góp phần tích cực nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn Vai trò của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ở nhiều nơi được phát huy, dân chủ ở nông thôn được nâng lên về chất Trong 5 năm, toàn tỉnh đã huy động gần 36.500 tỉ đồng để XDNTM, trong đó, ngân sách Trung ương
hỗ trợ trực tiếp trên 221 tỉ đồng, vốn lồng ghép các CT, dự án gần 1.787,5 tỉ đồng, vốn ngân sách tỉnh gần 570 tỉ đồng, vốn huy động nhân dân trên 424,5 tỉ, vốn tín dụng 32.551 tỉ đồng
100% số xã hoàn thành XDNTM đến năm 2015 có hơn 90% gia đình nông dân đạt gia đình văn hóa; tại 28 xã XDNTM có số hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi tăng bình quân hàng năm từ 10% - 12%; 90% xã XDNTM đạt chỉ tiêu nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân tăng trưởng đạt từ 15 - 20%/năm; 100% xã XDNTM có ít nhất 01 công việc cụ thể đăng ký với Ban Chỉ đạo XDNTM xã để trực tiếp chủ trì thực hiện như: mô hình phát triển sản xuất giảm nghèo bền vững, vệ sinh môi trường nông thôn, dạy nghề cho nông dân, bảo hiểm y tế toàn dân, xây dựng gia đình văn hóa, đảm bảo an ninh nông thôn 100% chi hội của 28 xã XDNTM có ít nhất 01 công trình, mô hình bảo vệ môi trường; 28/28 xã XDNTM đạt tiêu chí về bảo hiểm y tế (đạt tỷ lệ trên 70%); xây dựng mới 2 tủ sách nông dân Hiện toàn tỉnh
có 65 tủ sách, 01 thư viện nông dân, góp phần chung sức cùng các cấp, các ngành, hội, đoàn thể của tỉnh thực hiện đạt chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới của tỉnh giai đoạn 2011 - 2015, cụ thể là: Số xã hoàn thành 19 tiêu chí và công nhận đạt chuẩn NTM là 28 xã, chiếm 23% tổng số xã XDNTM của tỉnh, tăng 3,0% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra (chỉ tiêu Nghị quyết 20% số xã); tăng 5% so với kế hoạch Trung ương giao (22 xã, tương ứng 18% số xã); số xã đạt 15-18 tiêu chí: là 25 xã, tăng 25 xã so với năm 2010 và tăng 10 xã so với kế hoạch của Trung
Trang 38ương giao là 15 xã Đến cuối năm 2015, không còn xã đạt dưới 5 tiêu chí, giảm 53
xã so với cuối năm 2010 Số tiêu chí đạt bình quân/xã toàn tỉnh là 13,3 tiêu chí, tăng 8,5 tiêu chí so với cuối năm 2010 (4,8 tiêu chí/xã)
Theo Văn phòng Điều phối XDNTM thuộc Sở NN&PTNT, toàn tỉnh Bình Định
có 22 xã thuộc 3 huyện miền núi đang thực hiện Chương trình XDNTM Trong đó, huyện Vĩnh Thạnh có 8 xã, An Lão có 8 xã và Vân Canh có 6 xã Qua 5 năm thực hiện XDNTM, việc hoàn thành các tiêu chí NTM tại các xã miền núi đạt khá thấp
so với mức bình quân của cả tỉnh Theo thống kê, các xã XDNTM trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh bình quân chỉ đạt 8,4 tiêu chí/xã; các xã ở huyện An Lão đạt 9,1 tiêu chí/xã; Vân Canh 9 tiêu chí/xã Trong tổng số 22 xã XDNTM của 3 huyện miền núi chưa có xã nào đạt trên 15 tiêu chí Các tiêu chí như: tỉ lệ hộ nghèo, thu nhập, chợ, môi trường… ở các xã miền núi vẫn còn khoảng cách lớn so với các xã ở khu vực đồng bằng
Nguyên nhân của thực trạng XDNTM ở các xã miền núi tỉnh Bình Định chưa có chuyển biến tích cực do nhiều yếu tố Trong đó, có thể kể đến điểm xuất phát của các xã miền núi rất thấp, dẫn đến việc tổ chức phát triển sản xuất, tạo sinh kế để nâng cao thu nhập cho người dân còn nhiều khó khăn Phần lớn số hộ nông dân ở các xã miền núi thuộc diện hộ nghèo, thiếu vốn sản xuất, việc tiếp thu kiến thức KHKT còn hạn chế Một bộ phận không ít hộ đồng bào dân tộc thiểu số còn thụ động, thiếu năng lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo Số hộ thoát nghèo có nguy cơ tái nghèo hàng năm còn rất cao, kết quả giảm nghèo chưa bền vững
Bên cạnh đó, tập quán sản xuất của người dân khu vực miền núi còn lạc hậu, diện tích đất canh tác ít, chủ yếu là đất đồi rừng, khó sản xuất; việc sản xuất ở một số vùng còn mang tính tự phát, làm theo phong trào, chưa có nhiều mô hình sản xuất hàng hóa tập trung Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn xã không nhiều, quy mô không lớn, nên khả năng thu hút lao động, tạo nguồn thu ngân sách không cao, nên việc giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân không dễ khắc phục
Ngoài tiêu chí thu nhập, hộ nghèo, các tiêu chí mà các xã miền núi khó hoàn thành là: giao thông, thủy lợi, chợ, môi trường Theo quy định, để được công nhận đạt tiêu chí giao thông, địa phương phải đạt 70% tổng chiều dài đường giao thông trên
Trang 39địa bàn được bê tông hóa, cứng hóa Thế nhưng các xã miền núi phần lớn địa hình
là vùng đồi núi, dân cư sinh sống phân tán, không tập trung, đời sống của bà con còn nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo nhiều nên việc huy động nhân dân đóng góp xây dựng đường giao thông còn rất hạn chế; dẫn đến việc đầu tư xây dựng giao thông ở các xã thuộc 3 huyện miền núi của tỉnh gặp rất nhiều khó khăn
Như vậy, qua các lý thuyết và các vấn đề nghiên cứu trước về sự tham gia của người dân; kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Nhật Bản, Hàn Quốc; phát triển NTM ở Việt Nam và tỉnh Bình Định đều cho thấy vai trò chủ thể của người dân rất quan trọng trong việc phát triển nông thôn, người dân chính là người tham gia xây dựng kế hoạch, chương trình và tổ chức thực hiện việc XDNTM ở địa phương mình Nhà nước, chính quyền địa phương chỉ là hỗ trợ, thúc đẩy, định hướng, dẫn dắt Ở nơi nào người dân tích cực tham gia cùng với chính quyền địa phương thì nơi
đó sớm hoàn thành chương trình nông thôn đề ra, vì người dân là người hiểu rõ nhất mình cần gì, làm sao và bằng cách nào đạt được, giữ được Vì vậy, khi người dân tích cực tham gia thì mức độ thành công và tính bền vững của chương trình càng lớn
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu, sau đó qua tham khảo ý kiến các chuyên gia là những người làm công tác quản lý và tham gia trực tiếp xây dựng cũng như các ý kiến người dân, thầy cô giảng dạy trong lĩnh vực nông nghiệp, giả thuyết và mô hình nghiên cứu được hiệu chỉnh để phù hợp với đặc thù XDNTM tại địa phương
Qua kết quả nghiên cứu sơ bộ, sẽ rút kinh nghiệm để hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và thang đo để tiến hành nghiên cứu chính thức Việc nghiên cứu chính thức sẽ được thực hiện với đối tượng là những hộ gia đình trên địa 4 xã gồm xã Mỹ Hòa,
Mỹ Lộc, Mỹ Thắng, Mỹ An thuộc huyện Phù Mỹ, Bình Định
Mô hình nghiên cứu ban đầu của đề tài gồm có 09 yếu tố đánh giá đến sự tham gia của người dân vào XDNTM tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, đó là: (1) Thu nhập, (2) Cơ sở hạ tầng, (3) Dịch vụ tiện ích công cộng, (4) Đất đai, nhà ở, (5) Môi trường,
Trang 40(6) Sức khỏe, (7) Tính gắn kết xã hội, (8) Văn hóa - xã hội, (9) Chính quyền địa phương
KHUNG PHÂN TÍCH SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DẦN TRONG XÂY DỰNG NTM
Tính gắn kết xã hội Đất đai, nhà ở
Chính quyền địa phương
Văn hóa - xã hội