TÓM TẮT Dựa theo bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô ở Châu Á” của Cunado, J., và các cộng sự 2015 với mẫu nghiên cứu g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN XUÂN THÙY
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CÚ SỐC GIÁ DẦU ĐẾN
CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ Ở CÁC QUỐC GIA CHÂU Á -THÁI BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN XUÂN THÙY
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CÚ SỐC GIÁ DẦU ĐẾN
CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ Ở CÁC QUỐC GIA CHÂU Á -THÁI BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Mã Số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình thực hiện Luận văn Thạc sĩ với đề tài “Ảnh hưởng của các cú sốc
giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương”,
tôi đã vận dụng các kiến thực học tập của mình và với sự trao đổi, hướng dẫn góp ý của Giáo viên hướng dẫn để thực hiện đề tài Luận văn Thạc sĩ này
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết quả trong Luận văn Thạc sĩ này là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Các kết quả của Luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Uyên Uyên
TP.HCM, Ngày 15 Tháng 10 Năm 2016 Học viên thực hiện Luận văn
Nguyễn Xuân Thùy
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁCHÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
LỜI CAM ĐOAN 1
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2
1.1 Lý do thực hiện nghiên cứu 2
1.2 Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu 5
1.3 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 6
1.5 Kết cấu của đề tài 7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 8
2.1 Các loại cú sốc giá dầu 8
2.2 Các kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô 10
2.3 Những bằng chứng thực nghiệm về tác động của các cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô 16
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 26
3.1 Ảnh hưởng của các loại cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô - phân tích SVAR 28
3.2 Dữ liệu phân tích và mô tả biến 34
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM 40
Trang 54.3 Kết quả ước lượng mô hình VAR- SVAR 45
4.3.2 Kiểm định tính ổn định của mô hình 48 4.3.3 Kết quả ước lượng ma trận ràng buộc của mô hình 49 4.3.4 Kết quả phân tích ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh
tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á - Thái Bình Dương 52 4.3.5 Kiểm định mô hình ước lượng 64
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
nhất
hồi quy dữ liệu bảng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về tác động
của cú sốc giá dầu đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế
22 - 23
Bảng 2.2 Bảng tóm ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu
tố kinh tế vĩ mô
24
Bảng 2.3 Kỳ vọng kết quả ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến các
yếu tố kinh tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương
25
Bảng 3.1 Những cú sốc giá dầu khác nhau 29
Bảng 3.2 Thứ tự các biến trong mô hình SVAR 32
Bảng 3.3 Kỳ vọng về chiều hướng tác động của các cú sốc giá
dầu lên các yếu tố kinh tế vĩ mô
33
Bảng 3.4 Tóm tắt các biến chính sử dụng trong bài 37 - 38
Bảng 3.5 Thống kê mô tả các biến 39
Bảng 4.1 Kiểm định tương quan chéo (cross-section
independence)
40
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định tính dừng Pesaran (2007) 42
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định tính dừng Levin–Lin–Chu, 2002 43
Bảng 4.4 Độ trễ tối ưu cho mô hình PVAR –PSVAR 47
Bảng 4.5 Kiểm định tính ổn định mô hình 48
Bảng 4.6 Kết quả ước lượng ma trận ràng buộc 50 - 51
Trang 8Bảng Tên Bảng Trang Bảng 4.7 Kết quả ước lượng ma trận ràng buộc C 52
Bảng 4.8 Kết quả ước lượng VAR 53
Bảng 4.9 Kết quả phân tích phân rã phương sai sự ảnh hưởng của
các cú sốc giá dầu đến tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
56
Bảng 4.10 Kết quả phân tích phân rã phương sai sự ảnh hưởng của
các cú sốc giá dầu đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
57
Bảng 4.11: Kết quả phân tích phân rã phương sai sự ảnh hưởng của
các cú sốc giá dầu đến sự biến động trong tỷ giá (EX)
58
Bảng 4.12 Kết quả phân tích phân rã phương sai sự ảnh hưởng của
các cú sốc giá dầu đến sự biến động trong trong lãi suất chiếu khấu (DR)
60
Bảng 4.13 Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu 64
Bảng 4.14 Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan LM Test
Trang 9Hình 4.2 Đồ thị phân tích phản ứng xung (impulse) giữa các
cú sốc giá dầu và các yếu tố kinh tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương
55
Trang 10TÓM TẮT
Dựa theo bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô ở Châu Á” của Cunado, J., và các cộng sự (2015) với mẫu nghiên cứu gồm 13 quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương, bài nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu phân tích ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu (cú sốc
cung dầu - oil supply shocks, cú sốc tổng cầu dầu - aggregate demand shocksvà những cú sốc phát sinh do nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá dầu - oil market specific
demand shocks) đến các yếu tố kinh tế vĩ mô, bao gồm, tổng sản phẩm quốc nội
(GDP), tỷ giá hối đoái (EX),chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và lãi suất chiết khấu (DR) Thông qua mô hình SVAR với dữ liệu bảng, có tần suất theo năm, từ năm 1997 đến năm 2015, bài nghiên cứu “Ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế
vĩ mô ở các nước Châu Á- Thái Bình Dương” đã đạt được những kết quả chính như
sau: Thứ nhất, khi xảy ra ba cú sốc giá dầu, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chỉ
giảm dưới 0.5%, nhưng CPI tăng trung bình trên 15% Bởi vì, 13 quốc gia trong mẫu là những quốc gia có sản lượng dầu mỏ nhập khẩu chiếm đến 33% trong tổng nhu cầu năng lượng sử dụng, nên giá dầu là yếu tố cấu thành chủ yếu trong chi phí sản xuất Do đó, khi giá dầu tăng bắt nguồn từ các cú sốc giá dầu, thì chi phí sản
xuất gia tăng, làm giá cả tăng và sản lượng của nền kinh tế sụt giảm Thứ hai, khi
xảy ra các cú sốc giá dầu đã làm lãi suất chiết khấu (DR) tăng từ 2%- 3% và tỷ giá hối đoái (EX) giảm trung bình 3% Đây chính là hiệu ứng cân bằng thực (Mork, 1994) và trong trường hợp này lãi suất là một công cụ thực thi chính sách tiền tệ của các cơ quan điều hành (Cunado, J., và các cộng sự 2015), biểu hiện các quốc gia trong khu vực đang có biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ để thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế, hạn chế sự sụt giảm của sản lượng (Brown và Yule, 2002) hoặc hiệu ứng ngoài kỳ vọng (Milani, 2009), cũng như là do người dân đang gia tăng tiết kiệm vì lo sợ sự tác động mạnh của giá dầu theo hiệu ứng chuyển giao thu nhập và tổng cầu (Dohner, 1981)
Từ khóa chính: Cú sốc, giá dầu, kinh tế vĩ mô, mô hình VAR, PSVAR
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do thực hiện nghiên cứu
Kể từ thập niên 80, có rất nhiều nghiên cứu về tác động của cú sốc giá dầu1đến các yếu tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, tỷ giá, chỉ số giá tiêu dùng, thị trường chứng khoán… được thực hiện tại các quốc gia như Mỹ, các nước Châu Âu, chẳng hạn nghiên cứu của Hamilton (1983); Sadorsky (1999); Hooker (2002); Barsky và Kilian (2004); Akram (2004) Những nghiên cứu tiên phong này chỉ tập trung phân tích ảnh hưởng của giá dầu hoặc một loại cú sốc giá dầu duy nhất đến các yếu tố kinh tế vĩ mô của các quốc gia như Mỹ, các nước Châu Âu Mặc dù, Hamilton (1983); Sadorsky (1999); Hooker (2002);Barsky và Kilian (2004); Akram (2004), Blanchard và Gali (2007); Filis G (2010) đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm khác nhau cho thấy cú sốc giá dầu có tác động đến các yếu tố kinh tế vĩ mô, có thể tổng hợp lại trong bốn kết luận cơ bản sau đây:
Thứ nhất, khi xảy ra cú sốc giá dầu, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) có xu hướng
giảm, theo lý giải của Mork (1994); Brown và Yule (2002)
Thứ hai, khi xảy ra cú sốc giá dầu, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) có xu hướng tăng theo
lý thuyết lạm phát chi phí đẩy (Jones và Kaul, 1996)
Thứ ba, đối với tỷ giá (EX), cú sốc giá dầu tạo ra sự ảnh hưởng khác nhau, phụ
thuộc vào việc quốc gia đó nhập khẩu dầu mỏ hay xuất khẩu dầu mỏ Với quốc gia nhập khẩu dầu mỏ, khi xảy ra cú sốc giá dầu sẽ làm giảm giá trị đồng nội tệ và tỷ giá danh nghĩa tăng Đối với quốc gia xuất khẩu dầu mỏ, khi cú sốc giá dầu xảy ra không làm thay đổi tỷ giá danh nghĩa Đây chính là hiệu ứng chuyển giao thu nhập
và tổng cầu theo quan điểm của Fried và Schulze (1975); Dohner (1981)
Thứ tư, khi xảy ra cú sốc giá dầu,lãi suất chiết khấu (DR) có xu hướng tăng theo
Ngoài ra, nếu các nhà điều hành chính sách thực thi công cụ của chính sách tiền tệ
Trang 12để hạn chế ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế thì lãi suất chiết khấu có
xu hướng giảm (Kilian, 2009)
Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương với dự báo sẽ vượt Tây Âu trở thành khu vực giàu thứ hai trên toàn cầu vào năm 2017, chỉ sau Bắc Mỹ Vì vậy, đi kèm với các cơ hội phát triển về kinh tế, thu nhập người dân cũng sẽ được cải thiện, số triệu phú gia tăng và nhu cầu dầu mỏ cần cho phát triển kinh tế cũng như cho nhu cầu đi lại của người dân tại khu vực này cũng có xu hướng tăng trong những năm trở lại đây Công ty Tư vấn Năng lượng - Wood Mackenzie (WM) - dự báo nhu cầu dầu ở Châu Á- Thái Bình Dương (bao gồm Australia) sẽ tăng trưởng chậm lại ở mức 0,72 triệu thùng/ngày vào năm 2016 và 0,62 triệu thùng/ngày vào năm 2017 do khu vực này vẫn còn phải đối mặt với khó khăn về kinh tế Tuy nhiên, sang giai đoạn từ năm 2018-2020, nhu cầu dầu tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương dự báo sẽ tăng lại là 9,1 triệu thùng/ngày (tương đương 1.6%/năm), giai đoạn 2020-2035 sẽ lên đến 43,3 triệu thùng/ngày.Vì vậy, khi xảy ra sự biến động về nguồn cung cấp dầu mỏ thì không chỉ ảnh hưởng đến những quốc gia lớn tại khu vực Châu Mỹ hay Châu Âu,
mà còn ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô ở một vài quốc gia thuộc khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, như nghiên cứu của: Burbidge và Harrison (1984); Blanchard và Gali (2007); Cunado và Gracia (2005); Chou, Tseng (2011); Cunado, J và các cộng sự (2015) Nhưng những nghiên cứu của các tác giả này chỉ mới tập trung ở những quốc gia như là Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc
Ngoài ra, sau khi kết quả nghiên cứu của Kilian (2009) được công bố, chứng minh rằng có ba nguyên nhân gây ra sự thay đổi trong cú sốc giá dầu Do vậy, cú sốc giá dầu không còn là một cú sốc giá dầu duy nhất, mà được phân thành ba loại cú sốc
khác nhau, bao gồm cú sốc từ nguồn cung dầu (oil supply shocks), cú sốc phát sinh
từ nhu cầu dầu mỏ (aggregate demand shocks), cú sốc sốc phòng ngừa rủi ro giá dầu(oil-specific demand shocks) Trong số những nghiên cứu thực nghiệm từ sau
năm 2009, có một nghiên cứu nổi bất của Cunado, J., và các cộng sự (2015), là phân
Trang 13tích sự ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu lên các yếu tố vĩ mô của khu vực Châu Á, bao gồm Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Indonesia và Trung Quốc Và như vậy, đối với khu vực Châu Á- Thái Bình Dương cho đến thời điểm hiện tại, cũng chỉ có ba quốc gia gồm Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là có đề tài nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu lên các yếu tố vĩ mô
Từ những lập luận trên đây, tác giả giả mong muốn thực hiện nghiên cứu này với
mục tiêu là tập trung phân tích sự ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu lên các yếu tố
kinh tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương Bởi vì trong nghiên cứu mới nhất được công bố của của Cunado, J., và các cộng sự (2015), các quốc gia phát triển của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương bao gồm Nhật Bản, Trung Quốc
và Hàn Quốc đã được phân tích, nên mẫu dữ liệu của tác giả được chọn lọc lại, bao gồm 13 quốc gia, đó là: Australia, Fiji, Malaysia, New Zealand, Papua New Guinea, Philippines, Samoa, Singapore, Solomon Islands, Thái Lan, Tonga, Vanuatu và Việt Nam Lý do của việc chọn 13 quốc gia này là bởi vì những quốc gia này đa số là những quốc gia đang phát triển hoặc ít được biết đến Và vì thế, cho đến nay cũng
có rất ít nghiên cứu được thực hiện đối với dữ liệu của 13 quốc gia này Nghiên cứu của tác giả sử dụng phương pháp phân tích đối với dữ liệu bảng, và đánh giá sự tác động của các cú sốc giá dầu lên các yếu tố vĩ mô của toàn bộ 13 quốc gia (Australia, Fiji, Malaysia, New Zealand, Papua New Guinea, Philippines, Samoa, Singapore, Solomon Islands, Thái Lan, Tonga, Vanuatu và Việt Nam) tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, chứ không đánh giá riêng lẻ đối với từng quốc gia Dựa trên quan điểm của Cunado, J., và các cộng sự (2015), các cú sốc giá dầu sẽ bao gồm ba loại
khác nhau, đó là cú sốc cung dầu (oil supply shocks), cú sốc tổng cầu dầu
(aggregate demand shocks); và những cú phát sinh do nhu cầu phòng ngừa rủi ro
giá dầu (oil market specific demand shocks) Tác giả hi vọng kết quả nghiên cứu sẽ
bổ sung cho những nghiên cứu hiện tại về đề tài các cú sốc giá dầu ảnh hưởng đến các yếu tố kinh tế vĩ mô, cũng như sẽ là một tiền đề cơ bản cho những nghiên cứu được thực hiện sau này đối với các quốc gia khác tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, trong giai đoạn sau khi hiệp định TPP được ký kết Từ đó giúp những nhà
Trang 14hoạch định chính sách tại mỗi một quốc gia biết được khi có sự biến động về nguồn cung dầu mỏ thì toàn bộ các biến vĩ mô của nền kinh tế khu vực Châu Á- Thái Bình Dương sẽ phản ứng như thế nào, và quốc gia của mình khi phân tích riêng lẻ thì sự tác động của cú sốc giá dầu lên nền kinh tế vĩ mô có giống như khi cú sốc giá dầu tác động lền nền kinh tế vĩ mô của mẫu chung là khu vực Châu Á- Thái Bình Dương hay không Và, khi những nhà hoạch định có cái nhìn tổng thể và cá thể thì
sẽ đưa ra những chính sách phù hợp cho mỗi quốc gia khi giao thương với nhau trong giai đoạn thi hành hiệp định TPP, cũng như là hạn chế thiệt hại về kinh tế khi xảy ra sự biến động về nguồn cung cấp dầu mỏ
1.2 Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của tác giả là phân tích ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu, gồm: cú sốc cung dầu-oil supply shocks, cú sốc tổng cầu dầu-aggregate demand shocks; và những cú phát sinh do nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá dầu- oil market specific demand shocks- đến các yếu tố kinh tế vĩ mô ởcác quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương, dựa theo quan điểm của Cunado, J., và các cộng sự (2015)
Bằng kết quả phân tích thực nghiệm thông qua mô hình SVAR với dữ liệu bảng, tác giả sẽ làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu thông qua việc giải đáp các câu hỏi sau:
Thứ nhất, sự thay đổi của các loại cú sốc khác nhau trong giá dầu sẽ tạo ra sự thay
đổi đối với các các yếu tố kinh tế vĩ mô của 13 quốc gia, tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương như thế nào? Nếu tạo ra sự thay đổi thì xu hướng tác động làm tăng hay giảm và với tỷ lệ bao nhiêu?
Thứ hai, kết quả nghiên cứu tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương có tương đồng
với quan điểm của các tác giả đã nghiên cứu tại khu vực Châu Mỹ, Châu Âu hay những nước Châu Á khác hay không?
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng mô hình SVAR kết hợp với phản ứng xung
và phân rã phương sai để phân tích ảnh hưởng của các loại cú sốc giá dầu đếncác yếu tố kinh tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương Ngoài ra, dữ liệu trong nghiên cứu là dữ liệu bảng, sử dụng cho 13 quốc gia thuộc khu vực Châu Á-
Trang 15Thái Bình Dương Mặt khác, khi phân tích mô hình SVAR cho dữ liệu bảng (PSVAR), bài nghiên cứu sử dụng hai ràng buộc chính: ràng buộc đối với các cú sốc giá dầu được tổng hợp theo bảng 3.1, dựa trên nghiên cứu của Cunado.J và các cộng sự (2015) và ràng buộc sự ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô Chi tiết về phương pháp nghiên cứu sẽ được thảo luận rõ trong chương ba của nghiên cứu này
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Về mặt lý luận, đề tài sẽ hệ thống hóa các nghiên cứu về tác động của cú sốc giá dầu lên các yếu tố kinh tế vĩ mô và ngược lại Đồng thời chỉ ra cơ chế truyền dẫn của cú sốc giá dầu lên các yếu tố kinh tế vĩ mô Từ đó rút ra kết luận về những ảnh hưởng và tác động của các các cú sốc giá dầu đối với các yếu tố kinh tế vĩ mô ở các nước thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Về mặt thực tiễn, đề tài tiến hành xây dựng một mô hình định lượng để xác định các tác động của cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô ở các nước châu Á Thái Bình Dương có tầm quan trọng ngày càng lớn trên thị trường thế giới và cũng là một điểm nóng trong thời gian quan cả về dầu mỏ lẫn chính trị Từ đó cung cấp những cơ sở để đưa ra các chính sách phù hợp điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến lạm phát và tăng trưởng
Ngoài ra, điểm mới của đề tài là phân tích cú sốc giá dầu thành ba loại khác nhau, sau đó ước lượng ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á - Thái Bình Dương, thông quan mô hình SVAR với dữ liệu bảng (PSVAR)
Đặc biệt hơn, dù nghiên cứu chỉ cung cấp bằng chứng thực nghiệm một cách tổng quan khi đặt Việt Nam trong mẫu chung với các quốc gia khác tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nhưng những nhà hoạch chính sách tại Việt Nam vẫn có thể sử dụng kết quả để làm cơ sở so sánh
Trang 161.5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Phụ lục, danh mục bảng, danh mục viết tắt, danh mục hình, tài liệu tham khảo, Nghiên cứu được tổ chức theo cấu trúc như sau:
Chương 1: Giới thiệu Trong chương này, tác giả giới thiệu chung về nghiên cứu trình bày lý do, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong chương này, tác giả trình bày các lý thuyết nền tảng và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô của các quốc gia
Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu, mô tả cụ thể nguồn thu thập số liệu cũng như mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kết quả Phân tích thực nghiệm Trong chương này, tác giả trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu đã đạt được, so sánh kết quả với các nghiên cứu trước
đó để rút ra kết luận
Chương 5: Kết luận Trong chương này, tác giả trình bày những kết luận của bài nghiên cứu; một số hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu mở rộng
Trang 17CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Trong chương hai, tác giả tập trung thảo luận các lý thuyết nền tảng cho thấy có tồn tại các cú sốc khác nhau trong giá dầu, các cú sốc có vai trò thế nào trong sự biến động của giá dầuvà các cú sốc này sẽ tác động đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế theo một chu trình như thế nào Chương này cũng điểm lại một số nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả khác trên thế giới từ trước đến nay
2.1 Các loại cú sốc giá dầu
Theo quan điểm của Kilian (2009),tồn tại ba cú sốc khác nhau trong giá dầu, ảnh
hưởng đến sự biến động của giá dầu, bao gồm cú sốc từ nguồn cung dầu (oil supply
shocks), cú sốc từ tổng nhu cầu dầu (aggregate demand shocks); và những cú sốc
phát sinh do nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá dầu (oil market specific demand shocks
/precautionary demand shocks) Để tìm hiểu xem giá trị thực của dầu được quyết
định bởi yếu tố nào, Kilian (2009) sử dụng một vector tự hồi quy (VAR) với ba biến, nguồn cung dầu, giá thực tế của dầu và một biến trung gian đại diện cho nhu cầu toàn cầu đối với các mặt hàng công nghiệp Với tác dụng đo lường hoạt động kinh tế toàn cầu thực sự, Kilian (2009) xác định, dựa trên một cấu trúc đệ quy, ba cú sốc giá dầu bao gồm: một cú sốc từ nguồn cung cấp dầu, một cú sốc dầu cụ thể thị trường và một cú sốc nhu cầu toàn cầu Kilian (2009) đã chỉ ra, cú sốc phát sinh do nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá dầu ảnh hưởng nhiều nhất đến sự thay đổi trong giá dầu Tiếp theo đó là giá dầu chịu ảnh hưởng của cú sốc tổng nhu cầu dầu và cuối
cùng là chịu ảnh hưởng của cú sốc phát sinh do nguồn cung dầu mỏ Như vậy, có ba
nhân tố góp phần tạo nên sự thay đổi trong giá dầu
Thứ nhất, cú sốc từ nguồn cung dầu Cú sốc nguồn cung dầu chính là sự sụt giảm
trong ngắn hạn trong việc cung ứng dầu mỏ của những nước xuất khẩu dầu mỏ, chẳng hạn xuất hiện những mâu thuẫn chính trị hay thay đổi trong hạn ngạch xuất khẩu của khối OPEC (Cunado và các cộng sự, 2015) Khi xảy ra sự sụt giảm nguồn cung dầu sẽ khiến cho giá dầu thay đổi theo chiều hướng tăng Khi giá dầu đã tăng thì sẽ gây ra sự sụt giảm trong hoạt động kinh tế trễ hơn sau đó
Trang 18Thứ hai, cú sốc từ tổng nhu cầu dầu mỏ.Khi nền kinh tế mở rộng, nhu cầu dầu mỏ
có xu hướng tăng, thúc đẩy giá dầu tăng Tiếp sau đó, khi giá dầu tăng thì lại làm chotổng nhu cầu dầu mỏ thay đổi theo chiều hướng giảm Khi nhu cầu tiêu thụ dầu
mỏ sụt giảm sẽ tạo ra áp lực làm giá giảm về điểm cân bằng mới (Kilian, 2009)
Thứ ba, cú sốc phòng ngừa Theo Kilian (2009), khi giá trị thực của dầu không
được giải thích dựa vào cú sốc cung dầu hoặc cú sốc cầu dầu, thì giá trị thực của dầu sẽ được giải thích từ những thay đổi trong chính giá dầu (giá bán dầu trên thị trường) Đây chính là những cú sốc phát sinh từ nhu cầu phòng ngừa Khi những nhà cung cấp dầu mỏ dự báo rằngnhu cầu tiêu thụ dầu giảm, sẽ cắt giảm nguồn cung dầu Còn đối với những người có nhu cầu sử dụng dầu mỏ trong tương lai sẽ
lo sợ gánh chịu tổn thất từ sự sụt giảm nguồn cung, từ đó sẽ phát sinh nhu cầu phòng ngừa Có nghĩa rằng, khi thị trường không chắc chắn về nguồn cung dầu hay nguồn cầu dầu sắp tới, sẽ phát sinh nhu cầu phòng ngừa cho những điều thay đổi không chắc chắn này Vì vậy, cú sốc có nguồn gốc từ nhu cầu phòng ngừa về sự không chắc chắn trong nguồn cung dầu ở tương lai Hay nói cách khác cú sốc phòng ngừa về bản chất cũng bắt nguồn từ sự thay đổi nguồn cung dầu, nhưng ở tương lai Tiếp đến, trong nghiên cứu được công bố vào năm 2011, bằng việc sử dụng mô hình Bayesian VAR, Baumeister và các cộng sự đã chứng mình rằng sự gia tăng trong giá dầu là do nguồn cung dầu sụt giảm và sự gia tăng nhu cầu dầu mỏ trong ngắn hạn Gần đây nhất, Kilian (2015) cho thấy, cú sốc từ nguồn cung dầu phát sinh, trước tiên sẽ làm giá dầu tăng, sau đó trễ hơn việc giá dầu tăng sẽ gây ra sự sụt giảm trong hoạt động kinh tế (làm sụt giảm nhu cầu dầu mỏ cho sản xuất)
Từ những lập luận trên có thể thấy, mặc dù có ba cú sốc khác nhau ảnh hưởng đến
sự thay đổi trong giá dầu, nhưng nguyên nhân sâu xa ảnh hưởng đến hoạt động kinh
tế của các quốc gia là từ sự thay đổi trong nguồn cung dầu mỏ (Kilian, 2015) Phần 2.2 tiếp theo sau, tác giả sẽ trình bày sự truyền dẫn của các cú sốc giá dầu đến nền kinh tế của các quốc gia
Trang 192.2Các kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô
Như thảo luận ở phần 2.1, giá dầu thay đổi theo chiều hướng tăng do ảnh hưởng từ
cú sốc nguồn cung dầu (oil supply shocks), hoặc nhu cầu dầu mỏ (aggregate
demand shocks) Khi giá dầu tăng sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với các chỉ số vĩ
mô khác của nền kinh tế? Cụ thể, dựa theo nghiên cứu của Cunado và các cộng sự (2015), các biến được chọn làm đại diện cho nền kinh tế vĩ mô trong nghiên cứu bao gồm: tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tỷ giá hối đoái (EX), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và lãi suất chiết khấu (DR)
Theo Cunado và các cộng sự (2015), Tang và cộng sự (2010), bốn biến này được chọn để đại diện cho nền kinh tế vĩ mô là vì:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế sẽ thể hiện qua sự tăng trưởng sản lượng, hay đó chính là tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
- Áp lực lạm phát: đại diện cho sự biến động giá cả của nền kinh tế, thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
- Tỷ giá hối đoái (EX) thể hiện sự lưu chuyển dòng vốn giữa các nền kinh tế
- Chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát được phân tích dựa trên sự biến động của lãi suất chiết khấu (DR)
Như vậy, cũng dựa trên nghiên cứu của Tang và cộng sự (2010), mối liên hệ sữ giá dầu và các biến kinh tế vĩ mô sẽ được mô tả một cách tổng quát theo sơ dồ 2.1 và sáu kênh truyền dẫn được trình bày chi tiết bên dưới, bao gồm Ảnh hưởng của cú sốc cung dầu, Hiệu ứng chuyển giao thu nhập và tổng cầu, Áp lực lạm phát, Hiệu ứng cân bằng thực, Cú sốc giá dầu và ảnh hưởng bất đối xứng và Hiệu ứng ngoài kỳ vọng
Trang 20Hình 2.1 Sơ đồ kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô
Nguồn: Nghiên cứu của Tang và cộng sự (2010),Nguyễn Thị Liên Hoa (2012)
Dựa theo nghiên cứu của Brown và Yücel (2002), Tang và cộng sự (2010) chỉ ra giá dầu thay đổi sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô theo sáu kênh truyền dẫn chính như sau:
- Ảnh hưởng của cú sốc cung dầu (A Classic Supply-Side Shock): ảnh hưởng trực
tiếp đến sản lượng đầu ra vì cú sốc nguồn cung làm giá dầu thay đổi, từ đó chi phí
sản xuất biên cũng thay đổi theo (Tang và các cộng sự, 2010) Đó chính là cú sốc
cung dầu Cụ thể hơn, sự tăng giá dầu có thể được xem là một chỉ báo từ một cú sốc trong tổng nguồn cung dầu Sự tăng giá chính là báo hiệu cho sự khan hiếm của nguồn năng lượng vốn được xem là nguyên liệu đầu vào cơ bản của sản xuất Do
đó, tốc độ tăng trưởng sản lượng và năng suất của các ngành công nghiệp sẽ sụt giảm Điều này dẫn đến giảm mức tăng lương thực và tăng tỷ lệ thất nghiệp (Brown
và Yule, 2002) Tiếp đến, nếu người tiêu dùng kỳ vọng rằng việc tăng giá dầu chỉ là tạm thời và trong dài hạn sẽ ảnh hưởng mạnh đến sản lượng đầu ra, họ sẽ có khuynh hướng hạn chế tiết kiệm và gia tăng vay mượn, điều này làm lãi suất tăng
Trang 21Như vậy,giá dầu tăng do cú sốc từ nguồn cung dầu, sẽ làm giảm sự tăng trưởng GDP, tức gây ra sự sụt giảm trong hoạt động kinh tế và tăng lãi suất thực trong dài hạn (Brown và Yule, 2002)
- Hiệu ứng chuyển giao thu nhập và tổng cầu (Income Transfers and Aggregate
Demand)
Trong nghiên cứu của Fried và Schulze (1975); Dohner (1981) đề cập, sự tăng giá dầu sẽ chuyển giao thu nhập từ các nước nhập khẩu dầu thô sang các nước xuất khẩu dầu thô, điều này làm giảm cầu tiêu dùng ở nước nhập khẩu và tăng cầu ở nước xuất khẩu, tuy nhiên mức độ tăng lại ít hơn, từ đó làm tổng cầu của cả thế giới đối với sản phẩm của nước nhập khẩu giảm, làm tăng cung tiết kiệm Cung tiết kiệm tăng gây áp lực giảm lãi suất thực và mức giảm này có thể lấn át mức tăng lãi suất thực do người tiêu dùng ổn định chi tiêu Lãi suất giảm sẽ kích thích đầu tư, điều này sẽ bù đắp cho mức giảm trong tiêu dùng, vì vậy tổng cầu không thay đổi ở các nước nhập khẩu dầu thô
Tuy nhiên, nếu giá cả khó điều chỉnh giảm, sự sụt giảm trong tiêu dùng hàng hóa sản xuất ở những nước nhập khẩu dầu mỏ sẽ làm tăng trưởng GDP giảm hơn nữa Tiêu dùng giảm sẽ tạo áp lực làm giá giảm về điểm cân bằng mới
Mặt khác, nếu giá dầu tăng cung nội tệ tại nước nhập khẩu dầu mỏ sẽ có xu hướng tăng, điều này cũng góp phần ảnh hưởng đến tỷ giáhối đoái danh nghĩa tại nước nhập khẩu dầu mỏ
Còn tại nước xuất khẩu dầu mỏ, cung ngoại tệ sẽ nhiều hơn, sẽ ảnh hưởng tạm thời đến tỷ giá hối đoái danh nghĩa tại nước xuất khẩu dầu mỏ Nhưng, không phải lúc nào giá dầu tăng cũng mang lại thu nhập nhiều hơn cho nước xuất khẩu dầu mỏ Chẳng hạn như trong nghiên cứu của Abeysinghe (2001),với dữ liệu nghiên cứu gồm10 nền kinh tế Châu Á (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản) và Mỹ đã cho thấy ngay cả những nước xuất khẩu dầu mỏ như Indonesia và Malaysia cũng không thể thoát khỏi sự ảnh hưởng tiêu cực nếu giá dầu giữ ở mức cao.Mặc dù giá dầu tăng có thể góp phần chuyển giao thu nhập từ nước nhập khẩu sang cho nước xuất khẩu
Trang 22Nhưng, trong dài hạn, vì có thêm những hiệu ứng bổ sung trong phản ứng của giá dầu nên sự thay đổi của giá dầu góp phần ảnh hưởng tới nền kinh tế của các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ theo hướng tiêu cực
Như vậy, theoBrown và Yule (2002),cú sốc giá dầu có thể tác động đến hoạt động kinh tế của các quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu dầu mỏ, thông qua hiệu ứng chuyển giao sức mua từ những nước nhập khẩu dầu thô sang những nước xuất khẩu dầu thô
- Áp lực lạm phát: giá dầu tăng sẽ tạo áp lực tăng lạm phát trong nền kinh tế Có
thể giải thích điều này thông qua lý thuyết lạm phát do chi phí đẩy:
Theo lý thuyết lạm phát do chi phí đẩy, ba loại chi phí thường gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu nhập khẩu.Dầu được xem là nguyên liệu nhập khẩu đầu vào của mọi ngành sản xuất kinh doanh Giá dầu sẽ góp phần trong việc quyết định chi phí sản xuất của nền công nghiệp, và cũng nằm trong yếu
tố cấu thành nên giá trị của sản phẩm đầu ra Jones và Kaul (1996) chỉ ra, khi giá dầu cao hơn đồng nghĩa với việc nhiên liệu đắt đỏ hơn, có thể tạo nên chi phí cao hơn trong vận chuyển, làm cho giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ gia tăng theo Hiệu ứng này có thể lần lượt mang đến các lo ngại về lạm phát Do đó, người tiêu dùng
sẽ có nhiều hạn chế trong chi tiêu của họ và có thể làm giảm nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ
Mặt khác, khi giá dầu tăng, kỳ vọng lạm phát sẽ tăng, do chi phí đầu vào của doanh nghiệp tăng, tiếp theo đó khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
bị thu hẹp Theo thời gian, nếu giá dầu tiếp tục tăng cao sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng và giá trị doanh nghiệp, để từ đó gây ra sự sụt giảm trong giá cổ phiếu của các công ty.Giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp sụt giảm làm giảm lợi nhuận thực và
kỳ vọng của nhà đầu tư đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán sẽ có xu hướng sụt giảm lợi nhuận tổng thể Cuối cùng, đầu tư của nền kinh tế giảm
Vậy, khi lạm phát tăng xuất phát từ cú sốc tăng giá của dầu thì chi phí sản xuất tăng, làm lợi nhuận giảm và đầu tư cũng giảm theo Nếu người tiêu dùng nhìn nhận đây là một cú sốc ngắn hạn, họ sẽ giữ ổn định chi tiêu bằng cách tiết kiệm ít hơn và tăng
Trang 23vay mượn, điều này làm tăng lãi suất thực cân bằng Tăng trưởng sản lượng chậm lại, lãi suất thực tăng sẽ làm giảm lượng cầu đối với số dư tiền mặt thực tế và với mức tăng trưởng cung tiền nhất định, tỷ lệ lạm phát sẽ tăng Như vậy, giá dầu tăng
sẽ làm giảm tăng trưởng GDP, làm tăng lãi suất thực và nguy cơ lạm phát
Nếu tiền lương danh nghĩa khó thay đổi theo hướng giảm đi (sticky downward), sự
suy giảm trong tăng trưởng GDP sẽ làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và làm tăng trưởng GDP giảm hơn nữa - nếu lạm phát tương lai không bằng đúng mức sụt giảm trong tăng trưởng Sự suy giảm ban đầu trong tăng trưởng GDP đi cùng với sự sụt giảm năng suất lao động vàdoanh nghiệp có xu hướng cắt giảm nhân công, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và giảm GDP Điều này gây áp lực làm tăng lạm phát
Như vậy, giá dầu tăng sẽ làm giảm tăng trưởng GDP, làm tăng lãi suất thực và nguy
cơ tăng lạm phát Nếu người dân và các nhà sản xuất nhìn thấy lạm phát có xu hướng tăng sẽ phát sinh nhu cầu phòng ngừa rủi ro lạm phát, bằng cách cắt giảm nhu cầu dầu mỏ trong dài hạn Và tiếp đến, các nhà sản xuất sẽ điều chỉnh sản lượng cung dầu Khi cung dầu và cầu dầu thay đổi thì giá dầu sẽ thay đổi theo Đây cũng
có thể chính là cú sốc phòng ngừa rủi ro giá dầu theo như quan điểm của Kilian (2009)
- Hiệu ứng cân bằng thực (Real balances effect): Mork (1994) cho rằng, hiệu ứng
cân bằng thực chính là câu trả lời cho lý do tại sao cú sốc giá dầu lại ảnh hưởng đền toàn bộ hoạt động của nền kinh tế Khi giá dầu tăng làm tăng nhu cầu tiền Khi nhu cầu tiền tăng thì lãi suất cũng tăng theo Lúc này, chính sách tiền tệ được sử dụng bằng cách tăng cung tiền Việc tăng cung tiền cũng góp phần duy trì tỷ lệ tăng
trưởng GDP danh nghĩa (Brown và Yule, 2002) Nếu cơ quan điều hành chính sách
tiền tệ tiếp tục duy trì tăng tỷ lệ cung tiền, lãi suất giảm và GDP danh nghĩa tăng làm tăng lạm phát Nếu mức tăng lạm phát cao hơn mức tăng của GDP danh nghĩa thì GDP thực sẽ giảm Khi đó lãi suất sẽ tăng để ổn định lạm phát Vì vậy, nếu chính sách tiền tệ không có tác dụng thì lãi suất vẫn giữ mức tăng và đi kèm theo đó
là sản lượng sụt giảm
Trang 24- Cú sốc giá dầu và ảnh hưởng bất đối xứng (The asymmetry in oil-price shock
impact) Khi giá dầu tăng sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế không giống như trường
hợp giá dầu giảm Mory (1993) đã phân tích hai khía cạnh khác nhau trong sự thay đổi của giá dầu Bằng phân tích Granger, Mory (1993)đã kiểm định được, khi giá dầu có xu hướng tăng thì sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế, nhưng khi giá dầu có xu hướng giảm thì lại không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế Tiếp sau đó, Ferderer (1996) đã chứng minh khi giá dầu tăng thì sẽ giải thích được sự thay đổi trong hoạt động sản xuất công nghiệp, còn khi giá dầu giảm thì rất khó giải thích được sự thay đổi trong hoạt động sản xuất công nghiệp
Như vậy, khi cú sốc giá dầu tăng hoặc giảm sẽ có những tác động không giống nhau đến nền kinh tế vĩ mô
- Hiệu ứng ngoài kỳ vọng (Unexpected effects): trường hợp giá dầu thay đổi
ngoài mong đợivà có những thay đổi không theo một xu hướng nàothì sẽ tác động thế nào đến nền kinh tế Kilian (2009) đã đề cập, khi thị trường không chắc chắn về nguồn cung dầu hay nguồn cầu dầu sắp tới, sẽ phát sinh nhu cầu phòng ngừa cho những điều thay đổi không chắc chắn này Từ đây, sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu thực
tế của dầu mỏ và góp phần tạo nên sự thay đổi giá cả dầu mỏ ở hiện tại Giá dầu ở hiện tại thay đổi sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của nền kinh tế trong tương lai.Trường hợp khác, Milani (2009) đã phát hiện giá dầucó thêm một hiệu ứng bổ sung tác động đến nền kinh tế Hiệu ứng này hoạt động thông qua tác động của sự thay đổi giá dầu tới sự hình thành kỳ vọng trong tương lai về sản lượng, lạm phát Kỳ vọng
là giá dầu sẽ ngày càng ảnh hưởng nhiều tới sản lượng và lạm phát, từ đó chính sách tiền tệ được đưa ra để đối phó với trường hợp này Sẽ có hai trường hợp, chính sách tiền tệ quá mạnh sẽ góp phần khuếch đại tác động của giá dầu đến nền kinh tế theo hướng trầm trọng hơn nữa hoặc chính sách tiền tệ sẽ phát huy tác dụng và làm giảm
sự tác động của biến động giá dầu đối với nền kinh tế Kết quả nghiên cứu của Milani (2009) tại Mỹ cho thấy:giá dầu biến động sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau nhưng theo thời gian khi các nhà điều hành chính sách thi hành các chính sách để kiểm soát các ảnh hưởng của giá dầu đến nền kinh tế, vì vậy
Trang 25tác động của giá dầu đối với nền kinh tế vĩ mô có thay đổi Giá dầu được phát hiện
là có ảnh hưởng lớn tới sản lượng và lạm phát trước những năm 1970 và ảnh hưởng không đáng kể sau giữa năm 1980 Có nghĩa rằng, những hiệu ứng bổ sung ngoài
dự đoán của giá dầu đã được các nhà điều hành chính sách kiểm soát được
Như vậy, dựa trên lý thuyết về sự truyền dẫn của thay đổi giá dầu đến nền kinh tế vĩ
mô được trình bày bên trên, tóm gọn lại giá dầu thay đổi có nguyên nhân từ những
cú sốc khác nhau Khi giá dầu thay đổi sẽ tạo ra sự ảnh hưởng đến sản lượng (GDP), tỷ giá hối đoái, lãi suất, lạm phát (CPI), thu nhập, đầu tư, thất nghiệp và ảnh hưởng như thế nào thì tùy theo sự thay đổi của giá dầu theo chiều hướng tăng hay giảm
2.3 Những bằng chứng thực nghiệm về tác động của các cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô
Nhìn chung các nghiên cứu về tác động của cú sốc giá dầuđến nền kinh tế vĩ mô, đều dựa trên lý thuyết cơ bản về truyền dẫn của cú sốc giá dầu Bên cạnh những nghiên cứu đã được liệt kê ở phần 2.2, còn có những bằng chứng thực nghiệm nổi bật về tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô
Tại khu vực Châu Mỹ, ngay từ thập niên 80, Hamilton đã thực hiện nghiên cứu đánh giá tác động của giá dầu đến sáu biến đại diện cho nền kinh tế Mỹ, bao gồm hai biến đại diện cho sản lượng đầu ra là GNP (Tổng sản lượng quốc gia) thực và tỷ
lệ thất nghiệp; ba biến giá cả là giảm phát tính trên lợi nhuận của khu vực phi nông nghiệp, lương tính theo giờ của người lao động và giá nhập khẩu; và biến cung tiền M1 đại diện cho nhân tố tài chính Mặc dù, Hamilton (1993) không tìm thấy bằng chứng cho thấy các biến kinh tế vĩ mô có thể dự đoán cho những biến động trong tương lai của giá dầu, cũng như cho những cuộc suy thoái tiếp sau đó Nhưng tổng sản lượng của Mỹ cũng đã được tìm thấy là có mối quan hệ không cân xứng với sự thay đổi của giá dầu
Tiếp đến Sadorsky (1999), khi sử dụng mô hình VAR để phân tích mối quan hệ giữa giá dầu, lãi suất, sản xuất công nghiệp và chỉ số giá tiêu dùng và thị trườngchứng
Trang 26khoán ở Mỹ giai đoạn từ tháng 01/1950 đến tháng 04/1996đã cho thấy giá dầu và biến động giá dầu, cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu Khi chia giai đoạn mẫu thành hai giai đoạn mẫu phụ, tháng 01/1950 –12/1985 và tháng 01/1986 –04/1996, thì kết quả cho thấy rằng sau năm 1986, biến động giá dầu giải thích được nhiều hơn các khác biệt sai số dự báo trong tỷ suất sinh lợi cổ phiếu thực so với lãi suất Ngoài ra, tại thời điểm này, sự bất cân xứng trong tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế bắt đầu được Sadorsky chú ý và ông đã tiến hành thử nghiệm tính đối xứng trong hai trường hợp,
cú sốc giá dầu mỏ tăng tác động đến nền kinh tế thế nào và cú sốc dầu mỏ giảm tác động đến nền kinh tế Các bằng chứng trong nghiên cứu của Sadorsky (1999)cho thấy, những cú sốc biến động giá dầu có tác động bất đối xứng đến nền kinh tế, cụ thể là những cú sốc giá dầu trong trường hợp giá dầu giảm tác động lên thị trường chứng khoán và các hoạt động kinh tế lớn hơn, so với những cú sốc giá dầu trong trường hợp giá dầu tăng
Cũng nghiên cứu đối với nền kinh tế Mỹ, Hooker (2002)dựa trên mô hình của
Fuhrer (1995), đã tiến hành nghiên cứu truyền dẫn giá dầu bằng mô hình đường cong Phillips với dữ liệu từ Q2:1962-Q1:2000 Hooker (2002) đã xác định cấu trúc của cú sốc giá dầu trong lạm phát cơ bản của Mỹ và cho thấy giai đoạn trước năm
1981 (1962 - 1981) thì cú sốc giá dầu ảnh hưởng đến nền kinh tế Mỹ mạnh hơn so với giai đoạn sau năm 1981 (1982 – 2000) Điều này có thể là do, chính sách tiền tệ trong giai đoạn từ năm 1979 của Mỹ dùng để kiểm soát lạm phát, nên biến động giá dầu không ảnh hưởng nhiều đến lạm phát Ngoài ra, sự thay đổi của thị trường năng lượng và những biến động của nền kinh tế Mỹ những năm 1980 đưa ra một số giải thích việc cú sốc giá dầu giảm tác động đối với nền kinh tế Mỹ và lạm phát Tuy nhiên, sự sụt giảm trong nhu cầu năng lượng cũng không phải là nguyên nhân chính
Trái ngược với nghiên cứu của Hooker (2002), Barsky và Kilian (2004)cho rằng biến động giá dầu có thể là nguyên nhân giải thích cho sự thay đổi lạm phát ở Mỹ
Trang 27những năm 1970 Sự gia tăng trong giá dầu đưa tới sự suy thoái, thời kỳ lạm phát cao, giảm sản lượng và tăng trưởng kinh tế thấp tại Mỹ giai đoạn này Bằng chứng của Barsky và Kilian (2004) cho thấy, xảy ra sự biến động mạnh của CPI theo sau
sự thay đổi của giá dầu tại Mỹ Ngoài ra, sự gia tăng giá dầu vào những năm 1974 cũng kéo theo sụt giảm sản xuất nhưng chưa có một mô hình thực nghiệm nào củng
cố cho giả thuyết này, khi mà chi phí năng lượng quá nhỏ trong thành phần GDP
Mở rộng ra hơn đối với các quốc gia ngoài Mỹ, có thể kể đến các nghiên cứu được thực hiện tại khu vực Châu Âu và Châu Á Trong đó, Nhật Bản là quốc gia được nghiên cứu nhiều nhất Gần như cùng thời điểm nghiên cứu của Hamilton (1983) với dữ liệu của nước Mỹ được công bố, Burbidge và Harrison (1984)thông qua việc
sử dụng mô hình VAR, đã tiến hành ước lượng mối quan hệ giữa giá dầu và chỉ số kinh tế vĩ mô, gồm GDP, lạm phát, chỉ số sản xuất công nghiệp, của mẫu gồm 5 nền kinh tế OECD bao gồm cả Nhật Bản Kết quả nghiên cứu của Burbidge và Harrison (1984) cho thấy, giá dầu có ảnh hưởng tới chỉ số giá (CPI) và chỉ số sản xuất công nghiệp của các quốc gia này Còn tại khu vực châu Âu, có nghiên cứu của Akram (2004).Akram (2004)đã tìm thấy mối tương quan âm giữa giá dầu và giá trị của tỷ giá hối đoái Na Uy tương đối mạnh khi giá dầu xuống dưới 14 USD
Tiếp đến, cũng tại những nền kinh tế phát triển, nghiên cứu của Blanchard và Gali (2007), đã chứng minh được ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đối với nền kinh tế thay đổi theo thời gian Blanchard và Gali (2007) sử dụng mô hình VAR có cấu trúc (SVAR) với dữ liệu ở các nước công nghiệp: Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Ý và Nhật Bản Bài nghiên cứu tập trung vào những tác động khác nhau của biến động giá dầu vào lạm phát và hoạt động kinh tế theo thời gian Kết luận của Blanchard và Gali (2007)
gồm 5 ý chính Thứ nhất, những tác động của cú sốc giá dầu thì trùng hợp về mặt
thời gian với những cú sốclớn có tính chất khác nhau của nền kinh tế Có một vài bằng chứng thể hiện trong những năm 1970, khi cú sốc giá dầu xảy ra, giá cả của các loại hàng hóa khác trong nền kinh tế cũng tăng, tuy nhiên, giai đoạn những năm
2000 lại không xảy ra điều này Thứ hai, các tác động của các cú sốc giá dầu thay
Trang 28đổi theo thời gian, và theo thời gian sự tác động của cú sốc giá dầu đối với giá cả và
tiền lương, cũng như về sản lượng và việc làm có xu hướng giảm đi Thứ ba,
nguyên nhân chính cho những thay đổi theo thời gian về giá dầu, sản lượng và việc làm là sự sụt giảm trong tiền lương thực (là phần tiền lương thực sự người lao động nhận được sau khi đã tính đến tỷ lệ làm phát, tiền lương thực bằng tiền lương danh
nghĩa trừ đi lạm phát) Thứ tư, nguyên nhân khác cho những thay đổi theo thời gian
về giá dầu, sản lượng và việc làm là người tiêu dùng tăng mức độ tin cậy vào sự thành công của chính sách tiền tệ Blanchard và Gali (2007) cho thấy, phản ứng của
lạm phát kỳ vọng với những cú sốc dầu đã giảm đáng kể theo thời gian Thứ năm,
một nguyên nhân nữa giải thích vì sao tác động của cú sốc giá dầu đối với giá cả và tiền lương, cũng như về sản lượng và việc làm có xu hướng giảm đi theo thời gian, chỉ đơn giản là việc giảm nhu cầu sử dụng dầu trong tiêu dùng và sản xuất
Từ thời điểm 2009, sau khi kết quả nghiên cứu của Kilian (2009) được công bố, chứng tỏ có sự tồn tại của các cú sốc giá dầu khác nhau trong sự thay đổi của giá
dầu, bao gồm: cú sốc từ nguồn cung dầu (oil supply shocks), cú sốc từ tổng nhu cầu dầu(aggregate demand shocks) và những cú sốc phát sinh do nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá dầu (precautionary demand shocks); thì những nghiên cứu thực nghiệm ở
những năm tiếp theo bắt đầu phân tích về ảnh hưởng của các cú sốc khác nhau trong giá dầu đối với nền kinh tế
Đầu tiên, có thể kể đến nghiên cứu của Lee và Song (2009) với dữ liệu tại Hàn Quốc trong hai giai đoạn nhỏ là: từ Q1:1987-Q4:1997 và Q1:2000 đến Q1:2009 Lee và Song (2009)đã tiến hành phân tích ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế của Hàn Quốc Kết quả của Lee và Song (2009)cho thấy những cú sốc tăng giá dầu giai đoạn 2000- 2009, được gây ra bởi sự gia tăng trong nhu cầu dầu mỏ nói chung (cú sốc từ tổng nhu cầu dầu) Còn giai đoạn trước năm 2000, giá dầu tăng giá
chủ yếu là từ nguồn cung dầu mỏ bị gián đoạn (cú sốc từ nguồn cung dầu) Từ đó,
ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế ở hai giai đoạn cũng khác nhau Giai đoạn từ năm 1997 đến trước năm 2000, hoạt động kinh tế ở Hàn Quốc cũng như các nền kinh tế Châu Á khác trong mẫu của Lee và Song không bị ảnh hưởng đáng kể
Trang 29bởi những cú sốc nguồn cung dầu Tuy nhiên, giai đoạn từ năm 2000 trở đi, ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến yếu tố vĩ mô trầm trọng hơn Cụ thể, sự tác động của các cú sốc giá dầu làm GDP của Hàn Quốc bị sụt giảm
Tiếp theo, một nghiên cứu khác cũng phân tích tác động của các cú sốc giá dầu khác nhau đến nền kinh tế là nghiên cứu của Aastveit và cộng sự (2012) Aastveit và cộng sự (2012) thực hiện nghiên cứu trên 33 quốc gia, gồm 18 quốc gia phát triển
và 15 quốc gia mới nổi Aastveit và cộng sự (2012) đưa ra ba kết luận chính Đầu
tiên, cú sốc tổng cầu dầu xảy ra làm sản lượng (GDP)tăng đối với khu vực Châu Á,
Châu Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ Tuy nhiên, tại khu vực Châu Á (những quốc gia mới nổi), tác động của cú sốc tổng cầu dầu đối với GDP lớn hơn so với các khu vực
khác Thứ hai, cú sốc từ nguồn cung dầu vàcú sốc phát sinh do nhu cầu phòng ngừa
rủi ro giá dầu tạo ra sự sụt giảm đối với nền kinh tế đối với các nước Bắc Mỹ và Châu Âu, nhưng hai cú sốc này lại ít ảnh hưởng ở các nước đang phát triển và thậm chí còn tạo ra sự ảnh hưởng tích cực ở một số nước Châu Á Aastveit và cộng sự (2012) cho rằng, tác động hạn chế của cú sốc từ nguồn cung dầu và cú sốc phát sinh
do nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá dầu đối với nền kinh tế của bốn nước Châu Á là
do một vài yếu tố đã làm thay đổi cấu trúc cơ bản của cú sốcgiá dầu, chẳng hạn như chính sách năng lượng dài hạn, độ mở của nền kinh tế cũng như tỷ lệ đầu tư vô nền kinh tế cao
Gần đây nhất, Cunado, J., và các cộng sự (2015) đã tiến hành phân tích ảnh hưởng của các cú sốc khác nhau trong giá dầu đến các yếu tố vĩ mô của bốn nền kinh tế tại khu vực Châu Á, bao gồm Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Indonesia và phân tích mở rộng cho cả Trung Quốc, giai đoạn từ quý 2 năm 1997 đến quý 4 năm 2014 Kết quả của Cunado, J., và các cộng sự (2015) cũng có một phần tương đồng với nghiên cứu của Aastveit và cộng sự (2012) Cunado, J., và các cộng sự (2015) đã khẳng
định có tồn tại ba cú sốc khác nhau trong giá dầu, đó là cú sốc cung dầu, cú sốc tổng
cầu dầu và những cú sốc phòng ngừa dựa trên nghiên cứu của Kilian (2009) và Peersman, Van Robays (2009) Kết quả phân tích của Cunado, J., và các cộng sự (2015) cho thấy cú sốc cung dầu xảy ra đã làm giảm tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Trang 30và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng nhưng ảnh hưởng này rất thấp, còn với các yếu tố
vĩ mô khác thì cú sốc cung dầu không có tác động Trái lại, cú sốc tổng cầu dầu khi
xảy ra lại làm cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng, các yếu tố còn lại thì thay đổi theo từng quốc gia Và cuối cùng, đối với những quốc gia xuất khẩu dầu mỏ như Indonesia thì tồn tại tương quan cùng chiều giữa cú sốc phòng ngừa xuất hiện thì tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng, các quốc gia khác thì cho kết quả ngược lại
Như vậy, dựa vào nội dung trình bày ở phần 2.1, 2.2 và 2.3, đã có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cú sốc giá dầu đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh
tế với những kết quả nghiên cứu khác nhau Có thể tổng hợp lại theo bảng 2.1 bên dưới:
Trang 31Bảng 2.1.Bảng tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về tác động
cú sốc giá dầu đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế
Tác giả Năm
Dữ liệu nghiên cứu tại quốc gia
Kết quả nghiên cứu chính
Giá dầu có ảnh hưởng tới chỉ số giá (CPI)
và chỉ số sản xuất công nghiệp
Sadorsky 1999 Mỹ
Từ tháng 01/1950 đến tháng 04/1996, những cú sốc biến động giá dầu có tác động bất đối xứng đến nền kinh tế, cụ thể là những cú sốc giá dầu trong trường hợp giá dầu giảm tác động lên thị trường chứng khoán và các hoạt động kinh tế lớn hơn, so với những cú sốc giá dầu trong trường hợp giá dầu tăng
Hooker 2002 Mỹ
Tác động của giá dầu lên lạm phát ở Mỹ là đáng kể trước năm 1981, nhưng kể từ đó truyền dẫn là không đáng kể
Barsky và
Kilian 2004 Mỹ
Sự gia tăng trong giá dầu đưa tới sự suy thoái, thời kỳ lạm phát cao, giảm sản lượng
và tăng trưởng kinh tế thấp
Akram 2004 Na Uy Khi giá dầu xuống dưới 14 USD, thì giá
dầu làm tỷ giá hối đoái của Na Uy giảm
Blanchard 2007 Mỹ, Pháp, Các tác động của các cú sốc giá dầu đã thay
Trang 32và 15 quốc gia mới nổi
Những cú sốc khác nhau trong giá dầu tạo
ra sự ảnh hưởng không giống nhau đối với nền kinh tế ở các khu vực khác nhau
Indonesia
Cú sốc cung dầu xảy ra, làm giảm tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng nhưng ảnh hưởng này rất thấp, còn với các yếu tố vĩ mô khác thì cú
sốc cung dầu không có tác động Trái lại, cú
sốc tổng cầu dầu khi xảy ra lại làm cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng, các yếu tố còn lại thì thay đổi theo từng quốc gia Và cuối cùng, đối với những quốc gia xuất khẩu dầu mỏ (Indonesia) thì tồn tại tương quan dương giữa cú sốc phòng ngừaxuất hiện thì tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng, các quốc gia khác thì cho kết quả ngược lại
Nguồn:Tác giả tổng hợp từ nhiền nguồn khác nhau
Như vậy, dựa trên các học thuyết kinh tế và nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cú sốc giá dầu đối với nền kinh tế vĩ mô, được trình bày một cách tổng quát như phần 2.1; 2.2 và 2.3 bên trên, kết hợp với kết quả thực nghiệm trong nghiên cứu của
“Ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô ở Châu Á” của Cunado,
Trang 33J., và các cộng sự (2015) như phần trình bày ở bảng 2.2 bên dưới,tác giả có cơ sở để thực hiện các phân tích ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến các yếu tố vĩ mô tại quốc giakhu vực Châu Á- Thái Bình Dương, cũng như kỳ vọng được kết quả nghiên cứu
sẽ đạt được ở trình bày ở bảng 2.3
Bảng 2.2.Bảng tóm tắt ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu
đến các yếu tố kinh tế vĩ mô
Tương quan
Supply Side Shock
Cú sốc cung dầu
Aggregate Demand Shock
Cú Sốc cầu dầu
Oil Specific Demand Shock
Cú sốc nhu cầu phòng ngừa
GDP (Tổng sản
phẩm quốc nội)
Giảm trung bình 5%
Tăng trung bình 0.5%
Giảm trung bình 0.1%
CPI (Chỉ số lạm
phát tiêu dùng)
CPItăng trung bình 0,5%
CPI tăng trung bình
đối với quốc gia xuất khẩu dầu mỏ
Giảm dưới 5% đối với quốc gia nhập khẩu dầu mỏ Tăng dưới 5% đối với quốc gia xuất khẩu dầu mỏ
Giảm dưới 5% đối với quốc gia nhập khẩu dầu mỏ
Tăng dưới 5% đối với quốc gia xuất khẩu dầu mỏ
DR (Tỷ lệ lãi
suất thực)
Tăng dao động từ 3%- 5%
Tăng trung bình 5%
Tăng trung bình 10%
Nguồn: Nghiên cứu củaCunado.J và các cộng sự (2015), mẫu nghiên cứu gồm 04
nước Châu Á: Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc và Indonesia
Trang 34Bảng 2.3 Kỳ vọng kết quả ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế
vĩ mô ở các quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương
Tương quan
Supply Side Shock
Cú sốc cung dầu
Aggregate Demand Shock
Cú Sốc cầu dầu
Oil Specific Demand
Shock
Cú sốc nhu cầu phòng ngừa
Giảm trung bình dưới 5%
Giảm trung bình dưới 5%
DR (Tỷ lệ lãi
suất thực)
Tăng trung bình 3%- 5%
Giảm trung bình 3%- 5%
Tăng trung bình 3%- 10%
Nguồn: Tổng hợp từ lý thuyết kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế như trình bày ở phần 2.1, 2.2 và 2.4; nghiên cứu Aastveit và cộng sự (2012), nghiên
cứu của Cunado.J và các cộng sự (2015)
Trang 35CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Chương này sẽ trình bày phương pháp và dữ liệu nghiên cứu để có thể đạt được những mục tiêu mà tác giả đã trình bày ở phần 1.2 Đó là, phân tích ảnh hưởng của các loại các cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương bằng mô hình SVAR với dữ liệu bảng
Dựa theo nghiên cứu của Kilian (2009), nghiên cứu của Baumeister (2011) xác nhận rằng có tồn tại ba cú sốc khác nhau trong giá dầu, ảnh hưởng đến sự biến động
của giá dầu, bao gồm cú sốc từ nguồn cung dầu (oil supply shocks), cú sốc từ tổng nhu cầu dầu (aggregate demand shocks); và những cú sốc phát sinh do nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá dầu (oil-specific demand shocks) Nên, để ước lượng ảnh
hưởng của các loại cú sốc giá dầu đếncác yếu tố kinh tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương, thì mô hình SVAR là sự lựa chọn phù hợp nhất Tác giả chọn phương pháp này là bởi vì mô hình SVAR đã được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về đề tài ảnh hưởng của giá dầu (hay cú sốc giá dầu) đến các yếu
tố kinh tế vĩ mô và đã giúp được nhiều nhà nghiên cứu đạt được kết quả nghiên cứu
có ý nghĩa thống kê Những nghiên cứu đã sử dụng mô hình SVAR có thể kể đến là các nghiên cứu của Bernanke và các cộng sự (1997); Lee và Ni (2002); Peersman (2005); Kilian (2009); Peersman và Van Robays (2009) Đặc biệt hơn, kể từ sau năm 2009, khi Kilian (2009) công bố có sự tồn tại của những cú sốc giá dầu khác nhau, thì những nghiên cứu từ sau năm 2009 tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của các loại cú sốc giá dầu đếncác yếu tố kinh tế vĩ mô cũng sử dụng mô hình SVAR, như là Baumeister và Peersman (2013), Peersman và Van Robays (2009), Cunado.J và các cộng sự (2015)
Mô hình SVAR khi phân tích dựa trên nền tảng của mô hình vector tự hồi quy (VAR) Về bản chất VAR là sự kết hợp của 2 phương pháp: tự hồi quy đơn chiều (univariate autoregression - AR) và hệ phương trình ngẫu nhiên (simultanous equations - SEs) VAR hay ở chỗ có được ưu điểm của AR là dễ ước lượng bằng phương pháp tối thiểu hóa phần dư (OLS) và ưu điểm của SEs là ước lượng nhiều
Trang 36biến trong cùng một hệ thống Đồng thời khắc phục nhược điểm của SEs là không cần lưu tâm đến tính nội sinh của các biến kinh tế Tức là các biến kinh tế vĩ mô thường mang tính nội sinh khi chúng tác động qua lại lẫn nhau Thuộc tính này làm cho phương pháp cổ điển hồi quy bội dùng một phương trình hồi quy nhiều khi bị sai lệch khi ước lượng Đây là những lý do cơ bản khiến VAR trở nên phổ biến trong nghiên cứu kinh tế vĩ mô Mô hình Var thường được dùng trong các bài toán liên quan đến các biến kinh tế vĩ mô như:
Dự báo, đặc biệt là dự báo trung hạn và dài hạn
Phân tích cơ chế truyền tải sốc, nghĩa là xem xét tác động của một cú sốc trên một biến phụ thuộc lên các biến phụ thuộc khác trong hệ thống qua hàm phản ứng xung (Impulse response) Đây chính là bước mở rộng của mô hình VAR, đó cũng chính là mô hình SVAR
Tóm gọn lại, lý do sử dụng mô hình hồi quy hệ phương trình SVAR với dữ liệu bảng là do các biến (các yếu tố đo lường) có khuynh hướng về mặt lý thuyết tác động qua lại lẫn nhau Điều này đã tìm thấy ở nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trước đây Với mục đích kiểm soát hiện tượng nội sinh khi sử dụng các mô hình hồi quy đơn thông thường Ngoài ra, phương pháp phân tích hệ phương trình cho phép phân tích hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai có tác dụng tốt trong việc xác định tác động các cú sốc giá dầu
Vì vậy, trong nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng mô hình SVAR kết hợp với phản ứng xung và phân rã phương sai để phân tích ảnh hưởng của các loại cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương
Ngoài ra, dữ liệu trong nghiên cứu là dữ liệu bảng, sử dụng cho mười ba quốc gia thuộc khu vực Châu Á- Thái Bình Dương
Trang 373.1 Ảnh hưởng của các loại cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô - phân tích SVAR
Dựa theo nghiên cứu của Baumeister và Peersman (2013), Peersman và Van Robays (2009), Cunado.J và các cộng sự (2015), mô hình SVAR được viết tổng quát như sau:
, = c + A(L)
, + B
. (1)
Trong đó:
- Véc tơ thể hiện sự biến động của thị trường dầu mỏ thế giới, bao gồm: sản lượng dầu thế giới (Qoil) đại diện cho cú sốc từ nguồn cung dầu (oil supply shocks); giá thực tế của dầu thô thể hiện bằng đô la Mỹ (Poil) đại diện cho cú sốc phát sinh do
nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá dầu (oil-specific demand shocks), và một biến đại
diện cho các hoạt động kinh tế thế giới thực (Yw) tượng trưng cho cú sốc từ tổng
nhu cầu dầu (aggregate demand shocks)
- Véc tơ , , chứa các biến đặc trưng của quốc gia như: tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tỷ giá hối đoái (EX), và các tỷ lệ chiết khấu thể hiện cho chính sách tiền tệ như lãi suất chiết khấu (DR), lãi suất, cung tiền M2
Để mô hình SVAR có thể đạt được kết quả thống kê một cách chính xác nhất và hạn chế hiện tượng nhận diện quá mức (over identification), trong nghiên cứu sẽ có hai ràng buộc hạn chế (restriction) khi ước lượng SVAR Bao gồm: Ràng buộc đối với các cú sốc giá dầu dựa trên khung lý thuyết nền tảng trong nghiên cứu của Cunado.J
và các cộng sự (2015) và Ràng buộc sự ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô, dựa trên khung lý thuyết về sự truyền dẫn của cú sốc giá đầu
Trang 38đến nền kinh tế vĩ mô đã được thảo luận chi tiết ở phần 2.2 Hai ràng buộc này cũng chính là cơ sở giải thích trật tự các biến khi phân tích
Như vậy, mô hình (1) có hai ràng buộc chính:
- Ràng buộc đối với các cú sốc giá dầu được tổng hợp theo bảng 3.1, dựa trên
nghiên cứu của Cunado.J và các cộng sự (2015):
Bảng 3.1 Những cú sốc giá dầu khác nhau Loại cú sốc Qoil Yw Poil
Cú sốc từ nguồn cung dầu
(oil supply shocks) <0
Cú sốc phát sinh do nhu cầu
phòng ngừa rủi ro giá dầu
(oil-specific demand shocks)
>0 ≤ 0 >0
Nguồn: nghiên cứu của Cunado.J và các cộng sự (2015), Kilian (2009)
Dựa trên quan điểm của Kilian (2009); Filis G (2014); Cunado.J và các cộng sự (2015), bảng 3.1 được giải thích như sau:
Đầu tiên, khi có bất kỳ một cú sốc từ nguồn cung cấp dầu mỏ, chẳng hạn như là gia
tăng bất ổn chính trị, xung đột quân sự hay hạn ngạch xuất khẩu của khối OPEC thay đổi sẽ làm cho sản lượng cung ứng dầu mỏ thay đổi theo chiều hướng ngược lại, tức là khi cú sốc nguồn cung xảy ra thì sản lượng dầu mỏ cung ứng sẽ giảm Khi nguồn cung cấp dầu mỏ trở nên khan hiếm thì giá dầu sẽ tăng giá Tiếp đến, theo quan điểm của Kilian (2009), nhu cầu dầu mỏ chịu ảnh hưởng từ nguồn cung cấp
Trang 39dầu Vì dầu mỏ là một loại hàng hóa đặc biệtvà nguồn cung là cố định nên nhu cầu dầu mỏ được điều chỉnh theo nguồn cung dầu, thông qua việc phản ứng đối với các
cú sốc tăng/giảm giá dầu do thiếu cung hoặc dư cung dầu trên thị trường Vì vậy khi
có sự thay đổi về nguồn cung dầu, thì nhu cầu dầu mỏ có xu hướng thay đổi, nhưng thường diễn ra sau đó ít nhất là 01 tháng
Thứ hai, theo quan điểm của Kilian (2009), cú sốc từ tổng nhu cầu dầu xuất hiện khi
nền kinh tế mở rộng Trong ngắn hạn, khi có sự thay đổi về nhu cầu dầu mỏ thì nguồn cung dầu mỏ vẫn không thay đổi nhiều, nguyên nhân là do việc thay đổi kế hoạch sản xuất của những nhà cung cấp dầu mỏ sẽ rất tốn kém Nên, trong ngắn hạn khó để những nhà thay đổi kế hoạch sản xuất nếu chỉ dựa vào dự báo rằng nhu cầu dầu mỏ sẽ gia tăng Và có nghĩa sự thay đổi về nhu cầu dầu mỏ không tạo ra thay đổi trong tổng sản lượng cung dầu mỏ
Thứ ba, cú sốc phòng ngừa bắt nguồn từ nhu cầu phòng ngừa về sự không chắc
chắn trong nguồn cung dầu trong tương lai Theo Kilian (2009), các cú sốc phòng ngừa rủi ro giá dầukhông phải chỉ do sự thay đổi bất ngờ về giá dầu, mà còn xuất phát từ những gián đoạn bất ngờ đến quá trình sản xuất và sự thay đổi đột ngột, không thể đoán trước, chuyển dịch trong hoạt động kinh tế toàn cầu Theo Tang và các cộng sự (2010), khi người tiêu dùng và nhà sản xuất hàng hoá e ngại rủi ro sẽ có khuynh hướng hạn chế tiêu dùng và tìm nguồn nhiên liệu thay thế để tiết kiệm chi phí Trái lại, nhà sản xuất dầu mỏ sẽ điều chỉnh nguồn cung ứng dầu mỏ theo hướng
có lợi cho mình
Theo những lập luận đó, ma trận ràng buộc ngắn hạn các cú sốc trong giá dầu được thiết lập theo cấu trúc đệ quy như sau, tương tự như quan điểm của Kilian (2009):
Có nghĩa:
Trang 40 Global oil production (sản lượng cung dầu thô thế giới): chỉ chịu ảnh hưởng từ chính những bất ổn trong quá trình sản xuất và cung cấp dầu.Cung dầu thô sẽ không phản ứng với những cú sốc cầu dầu mỏ trong tháng, vì chi phí điều chỉnh sản xuất dầu được cho trước và vì sự không chắc chắn về tình trạng của thị trường dầu thô
Global real activity (chỉ số hoạt động kinh tế toàn cầu): đại diện cho tổng nhu cầu dầu của thế giới, chịu ảnh hưởng chỉ từ cú sốc của tổng cung dầu và hoạt động kinh
tế toàn cầu
Real oil price retunrs(roilprice), đại diện cho giá trị thực của dầu thô, sẽ chịu ảnh hưởng từ 03 cú sốc: Cú sốc trong tổng cung, tổng cầu và sự bất ổn trong bản thângiá dầu
- Ràng buộc sự ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ
mô: theo như lập luận đã trình bày ở phần 2.2 bên trên thì thứ tự truyền dẫn của ba
cú sốc khác nhau trong giá dầu, đến các yếu tố vĩ mô được thiết lập theo thứ tự như sau:
(3)
Ma trận ràng buộc (3) được hiểu một cách đơn giản là ràng buộc để thiết lập thứ tự trong mô hình SVAR, cũng như cho phân tích phản ứng xung và phân rã phương sai
Thông qua hai ràng buộc được trình bày chi tiết bên trên, thứ tự các biến khi phân tích sẽ là như sau: