1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam

77 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô của nền kinh tế .... Sự cần thiết nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa, chính sá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM



VƯƠNG HOÀI NAM

NHẬN DIỆN TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH

TÀI KHÓA, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

LÊN CÁC BIẾN SỐ VĨ MÔ TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH, Năm 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM



VƯƠNG HOÀI NAM

NHẬN DIỆN TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH

TÀI KHÓA, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

LÊN CÁC BIẾN SỐ VĨ MÔ TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VÕ XUÂN VINH

TP HỒ CHÍ MINH, Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đề tài “Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại Việt Nam” là đề tài nghiên cứu của tôi dưới

sự hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn khoa học Các số liệu, kết quả trong bài nghiên cứu là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tôi cam đoan những điều nói trên là đúng sự thật

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Vương Hoài Nam

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU 6

DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ 7

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Sự cần thiết nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô của nền kinh tế 1

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

1.6 Phương pháp nghiên cứu 3

1.7 Kết cấu luận văn 3

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN CÁC BIẾN SỐ VĨ MÔ 4

2.1 Cơ sở lý thuyết về chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ 4

2.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ 4

2.1.2 Các công cụ của CSTT 4

2.1.3 Khái niệm chính sách tài khóa 9

2.2 Cơ sở lý thuyết về biến số vĩ mô nền kinh tế 10

2.2.1 Sản lượng nền kinh tế 10

Trang 5

2.2.2 Lạm phát 11

2.3 Cơ sở lý thuyết về tác động chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên biến số vĩ mô nền kinh tế 12

2.3.2 Tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế 19

2.4 Lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 20

2.5 Đóng góp của đề tài 23

Tóm tắt chương 23

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN CÁC BIẾN SỐ VĨ MÔ TẠI VIỆT NAM 24

3.1 Giới thiệu chương 24

3.2 Thực trạng điều hành chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ 24

3.3 Phân tích tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại Việt Nam 26

Tóm tắt chương 32

CHƯƠNG 4 PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

4.1 Giới thiệu chương 34

4.2 Mô hình nghiên cứu 34

4.2.1 Tổng quan về mô hình SVAR 34

4.2.3 Các ràng buộc cho ma trận SVAR 37

4.3.Quy trình thực hiện nghiên cứu 38

4.4 Kết quả kiểm định ban đầu 39

4.4.1 Thống kê mô tả 39

4.5.2 Kiểm định tính dừng (Stationary) 39

4.5.3 Lựa chọn độ trễ tối ưu 40

4.6 Kết quả kiểm định giả thuyết 43

4.6.1 Kết quả ước lượng ma trận A 0 , ma trận B 43

Trang 6

4.6.2 Hàm phản ứng xung 45

4.6.3 Phân rã phương sai 49

Tóm tắt chương 53

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Kiến nghị chính sách 55

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 3

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

SVAR Structural Vector Autoregressive

ADF Augemented Dickey-Fuller

GSO General Statistics Office Tổng cục Thống kê IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Cung tiền M2 giai đoạn 2006-2008 26

Bảng 4.1: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình 36

Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 39

Bảng 4.3: Kết quả kiểm định tính dừng 40

Bảng 4.4: Lựa chọn độ trễ tối ưu trong mô hình với cung tiền M2 đại diện cho CSTT 40

Bảng 4.5: Lựa chọn độ trễ tối ưu trong mô hình với lãi suất cho vay đại diện cho CSTT 42

Bảng 4.6 Kết quả ước lượng ma trận A0, ma trận B với cung tiền M2 là đại diện của CSTT 43

Bảng 4.7 Kết quả ước lượng ma trận A0, ma trận B với lãi suất cho vay là đại diện của CSTT 44

Bảng 4.8 Bảng phân rã phương sai của chỉ số sản xuất công nghiệp 49

Bảng 4.9 Bảng phân rã phương sai của CPI 50

Bảng 4.10: Phân rã phương sai của chỉ số sản xuất công nghiệp 51

Bảng 4.11 Bảng phân rã phương sai của CPI 52

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu

CSTK và CSTT là hai chính sách điều hành kinh tế vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia Trong khi CSTT do NHNN thực hiện (có thể là cơ quan trực thuộc hoặc độc lập với Chính phủ) thì CSTK do Chính phủ quyết định Mặc dù mỗi một chính sách theo đuổi một mục tiêu cụ thể và tuân thủ những quy luật riêng nhưng đều hướng tới một mục đích chung là ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế Mỗi chính sách tác động đến nền kinh tế theo một phương thức, kênh truyền dẫn riêng và có độ trễ nhất định Trong thực tế, khó có CSTK hay CSTT nào có hiệu quả toàn diện Một chính sách hiệu quả được hiểu

là chính sách đó đem đến ảnh hưởng như mong muốn của các nhà điều hành kinh

tế và gây tác động tiêu cực nhỏ nhất đến các biến số vĩ mô khác của nền kinh tế

Vì vậy, trước khi thực hiện một CSTK, CSTT với mục tiêu cải thiện tình hình hoặc một biến số vĩ mô của nền kinh tế, các nhà điều hành kinh tế phải cân nhắc

kỹ dựa trên các đánh giá đầy đủ các tác động của chính sách đó đối với nền kinh

tế Nếu sử dụng chính sách không hợp lý thì không những không đạt được mục tiêu mong muốn mà còn gây tác động tiêu cực lớn đến các biến số vĩ mô khác trong nền kinh tế

Để đánh giá tác động của các chính sách điều hành nền kinh tế, nhiều lý thuyết, mô hình được xây dựng để trả lời cho vấn đề này, có thể kể đến như mô hình vector tự hồi quy VAR thuần túy hay các biến thể của VAR như mô hình vector tự hồi quy cấu trúc SVAR, sign resticted VAR, là các mô hình thường được các nhà nghiên cứu sử dụng Bài nghiên cứu này sử dụng mô hình SVAR

để đánh giá tác động của CSTK và CSTT đến các biến số vĩ mô của nền kinh tế

1.2 Sự cần thiết nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô của nền kinh tế

CSTK, CSTT là hai công cụ quan trọng trong điều hành, quản lý nền kinh

tế, tồn tại song song tại bất kỳ nền kinh tế nào Tuy nhiên, do thực hiện các mục

Trang 11

tiêu khác nhau nên ở một số thời điểm sẽ xảy ra tình trạng thiếu đồng bộ, chưa kết hợp được liều lượng và mức độ sử dụng dẫn đến tác động tiêu cực đến nền kinh tế Điều này sẽ gây ra những phản ứng tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến biến số vĩ mô kinh tế

Do đó, cần phải đánh giá đầy đủ tác động của CSTK, CSTT đến nền kinh

tế Có nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của CSTK, CSTT đến nền kinh tế thông qua các chỉ số vĩ mô, tuy nhiên, đa số các bài nghiên cứu tách riêng phân tích tác động của từng chính sách, ít bài nghiên cứu kết hợp cả hai chính sách để đánh giá trong khi điều hành nền kinh tế cần sự phối hợp đồng bộ của CSTK, CSTT Vì vậy, cần nghiên cứu tác động cả hai chính sách đến nền kinh tế trong mối quan hệ, tác động lẫn nhau giữa hai chính sách

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tác động của CSTK, CSTT lên các biến số nền kinh tế

Xác định mức độ tác động của CSTK, CSTT lên các biến số nền kinh tế

Đề xuất một số kiến nghị đối với CSTK, CSTT phù hợp nhằm ổn định kinh

tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

CSTK và CSTT tác động lên các biến số vĩ mô của nền kinh tế như thế nào?

Độ trễ các tác động của CSTK và CSTT đến các biến số vĩ mô là bao lâu? CSTK hay CSTT phát huy hiệu quả tốt hơn đối với nền kinh tế vĩ mô Việt Nam?

1.5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Tác giả sử dụng mô hình Structural Vector Autoregression (Structural VAR), gọi tắt là SVAR để nghiên cứu tác động của CSTT và CSTK tới biến số vĩ

mô thông qua hai nhóm biến đại diện cho CSTK và CSTT

Trang 12

Đề tài sử dụng chuỗi dữ liệu theo tháng của các biến số vĩ mô từ tháng 1/2008 đến tháng 12/2015 để nghiên cứu tác động của CSTT và CSTK tới biến

số vĩ mô Việt Nam

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sẽ thực hiện kiểm định và đánh giá tác động các CSTT và CSTK tới biến số vĩ mô Việt Nam thông qua sử dụng mô hình SVAR

Phương pháp được sử dụng là nghiên cứu định lượng Với dữ liệu chuỗi thời gian theo tháng nên ta có tất cả 96 quan sát cho mỗi biến trong nghiên cứu Trên cơ sở dữ liệu chuỗi thời gian, nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định Dickey-Fuller bổ sung (Augemented Dickey-Fuller test) để xác định tính dừng các biến, từ đó sử dụng hàm phản ứng xung và phân rã phương sai để đánh giá tác động của CSTT và CSTK lên các biến số vĩ mô của nền kinh tế

1.7 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm 05 chương:

Chương 1 Giới thiệu

Chương 2 Cơ sở lý thuyết về tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô

Chương 3 Thực trạng tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại Việt Nam

Chương 4 Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu

Chương 5 Kết luận và đề xuất giải pháp

Trang 13

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI

KHÓA, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN CÁC BIẾN SỐ VĨ MÔ 2.1 Cơ sở lý thuyết về chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ

2.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ

CSTT quốc gia là một bộ phận cấu thành quan trọng trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định: ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần phát triển kinh tế -

xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân lao động Qua đó có thể thấy rằng, CSTT quốc gia có vai trò trọng yếu trong việc ổn định nền tiền tệ quốc gia và phục vụ cho tăng trưởng kinh tế

Theo nghĩa thông thường thì CSTT là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kỳ tới (thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm

ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hoá Theo nghĩa rộng là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đến 4 mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt được mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hoá

Luật NHNN 2010 của Việt Nam định nghĩa "CSTT quốc gia là các quyết

định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra" Với

định nghĩa này chúng ta hiểu rằng, CSTT phải là chính sách ở cấp độ vĩ mô mang tính quốc gia thay vì là một chính sách mang tính địa phương của một cấp chính quyền thấp hơn Nói chung, CSTT cũng hướng đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô như CSTK nhưng mục tiêu chính thường được xác định là ổn định giá cả và lạm phát

2.1.2 Các công cụ của CSTT

Tái cấp vốn

Trang 14

Tái cấp vốn là một phương pháp mà qua đó NHNN sẽ cung ứng tiền cho nền kinh tế thông qua việc cấp tín dụng cho các NHTM trên cơ sơ nhận tái chiết khấu, tái cầm cố các chứng từ có giá của các NHTM

NHNN điều chỉnh tăng, giảm lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu phù hợp với mục tiêu thắt chặt hay mở rộng tiền tệ, từ đó làm giảm hoặc tăng lượng tiền trong lưu thông Nếu chính sách của NHNN là muốn bành trướng khối tiền tệ, NHNN khuyến khích các NHTM trong việc đi vay bằng cách hạ thấp lãi suất tái chiết khấu và những điều kiện tái chiết khấu cũng dễ dãi Ngược lại, khi NHNN muốn giảm bớt cơ hội làm tăng khối tiền tệ, sẽ thực hiện nâng lãi suất tái chiết khấu, thay đổi điều kiện tái chiết khấu theo hướng khó khăn hơn

NHNN cũng sử dụng hạn mức tái cấp vốn để tác động trực tiếp về mặt lượng đối với dự trữ của hệ thống NHTM

Lãi suất

Lãi suất là giá của quyền sử dụng vốn, việc thay đổi của lãi suất sẽ kéo theo sự biến đổi của chi phí tín dụng, từ đó tác động đến việc thu hẹp hay mở rộng khối lượng tín dụng trong nền kinh tế Do đó, lãi suất là một trong những công cụ chủ yếu của CSTT Thực tế cho thấy, tùy theo điều kiện thực tế và trình

độ phát triển của thị trường tài chính, NHNN có thể sử dụng công cụ lãi suất để điều hành CSTT theo các cách:

+ NHNN kiểm soát trực tiếp lãi suất thị trường bằng cách quy định các loại lãi suất như: lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay theo từng kỳ hạn; hoặc sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay để tạo nên khung lãi suất giới hạn; hoặc công bố lãi suất cơ bản cộng với biên độ giao dịch…

+ NHNN áp dụng chính sách tự do hóa để lãi suất tự hình thành theo cơ chế thị trường, NHNN có thể gián tiếp can thiệp thông qua các chính sách: công

bố lãi suất cơ bản để hướng dẫn lãi suất thị trường hoặc sử dụng công cụ lãi suất tái cấp vốn và kết hợp với lãi suất thị trường mở để can thiệp và điều chỉnh lãi suất thị trường

Có thể nói, lãi suất vừa là đối tượng quản lý, vừa là một công cụ quan trọng của CSTT Lãi suất nếu được sử dụng đúng đắn và phù hợp với những điều

Trang 15

kiện, tình hình kinh tế trong từng thời kỳ nhất định sẽ có tác dụng trực tiếp đến kiểm soát lạm phát, kích thích tiết kiệm và đầu tư phát triển cũng như ảnh hưởng đến những thay đổi của tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ với cán cân thanh toán quốc tế Ngược lại, nếu sử dụng nó cứng nhắc, không phù hợp với điều kiện thực

tế của nền kinh tế, lãi suất trở thành vật cản kìm hãm, trói buộc nền kinh tế

Nghiệp vụ thị trường mở

Là nghiệp vụ của NHNN để tiến hành giao dịch mua, bán chứng từ có giá ngắn hạn với các NHTM và các thành viên khác của thị trường mở, để thực hiện CSTT quốc gia

Khi nền kinh tế có lạm phát gia tăng, NHNN sẽ làm giảm lượng tiền cung ứng bằng cách bán chứng từ có giá “Giá bán” hấp dẫn khiến các NHTM sẽ mua

vì có lợi hơn cho vay Lúc này dự trữ tiền tệ của NHTM sẽ giảm, mục tiêu kiểm soát khối lượng tiền cung ứng của NHNN được thực hiện

Khi nền kinh tế có dấu hiệu trì trệ, hoặc suy thoái, NHNN sẽ mua chứng

từ có giá của các NHTM với giá cao để gia tăng khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế Lúc này dự trữ tiền tệ của các NHTM sẽ tăng lên, và họ sẽ mở rộng

cho vay để thúc đẩy kinh tế phát triển

Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa hai đồng tiền Nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng một số lượng đơn vị tiền tệ nước khác

Sự biến động của tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động kinh tế, từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước qua biến đổi của giá cả hàng hóa Do vậy, tỷ giá hối đoái là một công cụ để NHNN thực thi CSTT của mình Tuy nhiên, khi vận dụng công cụ này, NHNN không đẩy tỷ giá lên cao hay kéo tỷ giá xuống thấp mà ổn định tỷ giá ở mức phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của quốc gia trong từng giai đoạn

Khi vận hành tỷ giá hối đoái, NHNN có thể ấn định tỷ giá cố định hoặc tỷ giá thả nổi theo quan hệ cung - cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Có các loại

Trang 16

tỷ giá như: tỷ giá cố định, tỷ giá thả nổi hoàn toàn, tỷ giá thả nổi có sự quản lý của Nhà nước

Tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi hoàn toàn đều có những nhược điểm cơ bản Cụ thể, cung - cầu ngoại hối biến đổi không ngừng, nếu NHNN ấn định một

tỷ giá cố định thì tác động đến quy luật cung - cầu trên thị trường Còn nếu thả nổi tỷ giá thì sự biến động của tỷ giá có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, có thể làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhưng cũng có thể đưa nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng

Tỷ giá thả nổi có quản lý là tỷ giá được hình thành trên cơ sở quan hệ cung – cầu ngoại hối, nhưng khi cần thiết NHNN có thể can thiệp bằng những biện pháp thích hợp, tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào quan hệ cung – cầu ngoại tệ từ đó ổn định được tỷ giá

Biện pháp chủ yếu mà các NHNN thường dùng để can thiệp vào cung – cầu ngoại tệ là sử dụng dự trữ ngoại hối và quỹ bình ổn hối đoái

Cụ thể, khi tỷ giá hối đoái tăng cao, NHNN tung ngoại tệ ra bán, làm cho cung ngoại tệ trên thị trường tăng lên, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, thì tỷ giá sẽ từ từ giảm xuống Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm NHNN hút ngoại tệ về bằng cách mua vào, trong khi các yếu tố khác vẫn không đổi thì tỷ giá

sẽ dần tăng lên Để áp dụng biện pháp này hiệu quả, đòi hỏi quốc gia phải có khối lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn.Vì vậy, đối với những nước đang phát triển, chẳng hạn như nước ta thì việc áp dụng công cụ này có những hạn chế nhất định

Dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NHTM, các tổ chức tín dụng bắt buộc phải gửi vào một tài khoản tại NHNN

Mức dự trữ bắt buộc nhiều hay ít tùy thuộc vào các yếu tố sau:

+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Tỷ lệ này do NHNN quy định cụ thể - trong phạm

vi từ 0% đến 20% tùy từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi

+ Số dư nguồn vốn huy động của các NHTM và các tổ chức tín dụng khác

Trang 17

Trong hai yếu tố trên, yếu tố số dư nguồn vốn huy động có tính ổn định,

do đó mức dự trữ bắt buộc cao hay thấp chủ yếu phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng kéo theo mức dự trữ bắt buộc tăng, làm nguồn vốn khả dụng của NHTM giảm, nhờ đó làm giảm khả năng cho vay của các NHTM

Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm, thì sẽ có tác động ngược lại với tình hình trên

Như vậy, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ có tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các NHTM, và vì vậy, nó trở thành công cụ của NHNN trong việc điều hành CSTT quốc gia Tuy nhiên, tùy theo cơ chế quản lý dự trữ bắt buộc, mà tác dụng của công cụ này cũng sẽ khác nhau

Nếu áp dụng phương pháp phong tỏa (Blockade), theo đó toàn bộ mức dự trữ bắt buộc phải gửi vào tại NHNN và phải duy trì số dư đó trong thời kỳ áp dụng Nếu áp dụng phương pháp này, công cụ dự trữ bắt buộc sẽ có tác động trực tiếp, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng của các NHTM, các tổ chức tín dụng

Nếu áp dụng phương pháp không phong tỏa (Unblockade), cho phép các NHTM, các tổ chức tín dụng có thể duy trì dự trữ của mình bằng tiền mặt, hoặc bằng tiền gửi tại NHNN, hoặc bằng cả hai loại đó cùng tồn tại, nhưng riêng tiền gửi thì không nhất thiết phải duy trì số dư ổn định, mà có thể thay đổi (tăng, giảm), nhưng phải đảm bảo số dư bình quân thực tế không thấp hơn mức dự trữ bắt buộc phải duy trì

Như vậy, phương pháp này tuy có tác động nhưng không trực tiếp và mạnh mẽ như phương pháp trên

Nói chung, NHNN chỉ áp dụng phương pháp phong tỏa khi tình hình tài chính tiền tệ quốc gia có diễn biến phức tạp, NHNN cần kiểm soát chặt chẽ mức cung ứng tiền Nếu tình hình bình thường, thì nên áp dụng phương pháp thứ hai – phương pháp không phong tỏa, để tạo điều kiện cho các NHTM chủ động hơn trong các hoạt động kinh doanh của mình

Trang 18

2.1.3 Khái niệm chính sách tài khóa

Muốn thực hiện các mục tiêu đề ra chính phủ cần phải có các công cụ để tác động vào nền kinh tế và từ đó thực hiện các mục tiêu cụ thể của mình Chính phủ có bốn công cụ thông dụng để điều tiết nền kinh tế vĩ mô đó là CSTK, CSTT, chính sách kinh tế đối ngoại, và chính sách thu nhập Trong đó, CSTK và CSTT giữ vai trò quyết định Đặc biệt, CSTK giữ vai trò chủ chốt và quan trọng

Chính sách tài khóa (fical policy) là các chính sách của chính phủ nhằm tác động nên định hướng phát triển của nền kinh tế thông qua việc thay đổi chính sách Thuế và các khoản chi tiêu của Chính phủ

Việc thay đổi thuế một mặt làm thay đổi thu nhập, mặt khác thuế cũng có thể tác động đến giá cả hàng hóa

Việc thay đổi chi tiêu của chính phủ một mặt làm ảnh hưởng đến tổng chi tiêu của xã hội, mặt khác cũng làm thay đổi thu nhập của dân cư thông qua các khoản trợ cấp Thu nhập dân cư thay đổi lại làm thay đổi mức chi tiêu của hộ gia đình Từ đó sẽ ảnh hưởng đến sản lượng giá cả, công ăn việc làm

CSTK là một công cụ quan trọng giúp Nhà Nước thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô Các công cụ của CSTK gồm thu và chi ngân sách

Thu ngân sách nhà nước

Là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa nhà nước với chủ thể trong

xã hội dựa trên quyền lực nhà nước, nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ kinh tế xã hội của nhà nước

- Thu từ thuế: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập

cá nhân,…

- Thu từ các khoản phí, lệ phí: Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp So với thuế, tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn nhiều Phí gắn liền với với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ

Trang 19

công cộng hữu hình Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân

- Vay nợ: phát hành công trái, thu từ các khoản vay nợ nước ngoài, nhận viện trợ từ nước ngoài

Chi ngân sách nhà nước

Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước cho việc thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ Theo chức năng nhiệm

vụ, chi ngân sách nhà nước bao gồm:

- Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực Tài chính của Nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ môi trường và các hoạt động

sự nghiệp khác Nói tóm lại thì chi thường xuyên của sự nghiệp là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ sự nghiệp để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế xã hội

- Chi đầu tư phát triển là các khoản chi dài hạn nhằm làm tăng cơ sở vật chất của đất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; trong đó phần lớn là xây dựng

cơ bản, khấu hao tài sản xã hội

- Chi trả nợ bao gồm các khoản chi để nhà nước thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế

2.2 Cơ sở lý thuyết về biến số vĩ mô nền kinh tế

2.2.1 Sản lượng nền kinh tế

Khái niệm sản lượng quốc gia là tâm điểm của kinh tế học vĩ mô Tổng giá trị thực của sản lượng (hàng hoá và dịch vụ) mà một nước sản xuất thiết lập ràng buộc ngân sách cơ bản của nước đó Một nước có thể sử dụng nhiều sản lượng hơn là mức sản xuất của nó chỉ khi nước này vay mượn phần chênh lệch

Trang 20

từ nước ngoài Khối lượng sản lượng lớn - chứ không phải là số lượng tiền lớn – là điều tạo nên sự thịnh vượng của các quốc gia

John Maynard Keynes (1883-1946) là nhà kinh tế học Anh, được coi là nhà kinh tế học có ảnh hưởng lớn nhất đối với kinh tế học phương Tây hiện đại

và chính sách kinh tế của các chính phủ nhằm duy trì và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes được biết đến trong cuốn sách

Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ Keynes cho rằng, nền kinh tế

không phải lúc nào cũng đạt đến mức sản lượng tiềm năng nhờ cơ chế tự điều chỉnh như quan điểm của trường phái cổ điển và tân cổ điển mà nền kinh tế chỉ

có thể đạt tới và duy trì một sự cân đối ở một mức sản lượng nào đó, dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người

Khi mô tả nền kinh tế, cũng giống như mô hình cổ điển, ông cho rằng có hai đường tổng cung: AS - LR phản ánh mức sản lượng tiềm năng của nền kinh

tế và AS - SR phản ánh khả năng thực tế Và, cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết ở mức sản lượng tiềm năng, mà thông thường sản lượng thực tế đạt được ở mức cân bằng nhỏ hơn mức sản lượng tiềm năng, nơi mà dưới mức công

ăn việc làm đầy đủ cho mọi người

Theo Keynes, để đảm bảo sự cân bằng kinh tế, khắc phục thất nghiệp, khủng hoảng và duy trì tăng trưởng kinh tếthì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết, mà cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kích thích đầu tư để bảo đảm việc làm và tăng thu nhập Theo ông, chính phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng thông qua các hoạt động: đầu tư nhà nước; hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ; các hình thức khuyến khích tiêu dùng

2.2.2 Lạm phát

Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá của một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh Một điều quan trọng cần nhận thức là

Trang 21

lạm phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục trong mức giá Nếu như chỉcó một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá, thì dường như mức giá chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó

Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng

ta sẽ phải chi ngày càng nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định

Để đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định, các nhà thống kê kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi của mức giá chung Mức giá cả chung thường sử dụng chỉ số điều chỉnh GDP và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để đo lường mức giá chung Tuy nhiên, nếu mục tiêu là xác định ảnh hưởng của lạm phát đến mức sống, thì rõ ràng chỉ số giá tiêu dùng tỏ ra thích hợp hơn Trong thực tế, đa số các số liệu công bố chính thức về lạm phát trên toàn thế giới đều được tính trên cơ sở CPI

2.3 Cơ sở lý thuyết về tác động chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên biến số vĩ mô nền kinh tế

2.3.1 Tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế

Để điều chỉnh thành công nền kinh tế bằng CSTT, các nhà hoạch định chính sách phải có những đánh giá chính xác về tính kịp thời và ảnh hưởng của các chính sách tới nền kinh tế; vì vậy đòi hỏi một sự hiểu biết về cơ chế tác động

mà qua đó CSTT ảnh hưởng đến nền kinh tế Bài viết của Frederic S.Mishkin đưa

ra một cái nhìn tổng quan về các cơ chế truyền dẫn của CSTT và quan điểm của ông về triển vọng của lý thuyết này Ông nói tới các kênh lãi suất truyền thống, tiếp đến thảo luận về kênh hoạt động thông qua giá các tài sản khác và cuối cùng nói về kênh tín dụng, một kênh được tập trung nghiên cứu nhiều trong những năm gần đây

Kênh lãi suất

Trang 22

Là kênh cơ bản được đề cập tới trong nhiều lý thuyết kinh tế trong hơn năm mươi năm qua và là cơ chế truyền dẫn tiền tệ quan trọng trong mô hình IS-

LM của phái Keynes, một nền tảng cho lý thuyết kinh tế học vĩ mô hiện nay

Kênh lãi suất được Keynes mô tả như sau: khi CSTT mở rộng, lãi suất thực sẽ giảm, làm giảm chi phí vốn, kéo theo nhu cầu đầu tư tăng, dẫn đến tăng tổng cầu và tăng sản lượng

Những kênh giá tài sản khác

Theo F.Miskin phân ra ba loại giá cả tài sản bên cạnh giá cả công cụ nợ được xem là những kênh truyền dẫn quan trọng, thông qua đó CSTT tác động tới nền kinh tế đó là: giá cả chứng khoán, giá cả bất động sản và tỷ giá hối đoái CSTT mở rộng hay thu hẹp thông qua các kênh truyền dẫn này tác động đến tình trạng lạm phát và đầu tư trong nền kinh tế

Kênh tỷ giá hối đoái

Có hai kênh truyền dẫn cơ bản thông qua tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái tác động xuất khẩu ròng và tỷ giá hối đoái tác động đến bảng cân đối tài sản của các đơn vị tài chính và phi tài chính

Tỷ giá hối đoái tác động xuất khẩu thuần

Trong điều kiện các hoạt động kinh tế ngày nay càng mang tính toàn cầu cùng với việc áp dụng phổ biến cơ chế tỷ giá linh hoạt, đã có nhiều sự chú ý tới hoạt động truyền dẫn CSTT thông qua việc tỷ giá hối đoái tác động lên xuất khẩu ròng Kênh này cũng liên quan tới những tác động của lãi suất, trong trường hợp này lãi suất của nội tệ giảm so với ngoại tệ làm cho giá trị tiền gửi nội tệ thấp hơn giá trị tiền gửi ngoại tệ, đó chính là sự giảm giá của đồng nội tệ Giá trị của đồng nội tệ thấp hơn làm cho hàng hóa nước đó trở nên rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, và do đó làm tăng xuất khẩu ròng và GDP

Tỷ giá hối đoái tác động đến bảng cân đối tài sản

Sự biến động tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến tổng cầu thông qua bảng cân đối của các công ty tài chính và phi tài chính khi có một số lượng nợ đáng kể

Trang 23

bằng đồng ngoại tệ Với những hợp đồng bằng đồng ngoại tệ, CSTT mở rộng sẽ làm giảm giá trị đồng nội tệ, gia tăng gánh nặng nợ; kéo theo là giá trị thuần tài sản giảm, dẫn đến vay mượn giảm, giảm đầu tư và giảm sản lượng

Kênh giá cả chứng khoán

Có hai kênh quan trọng có liên quan đến giá cổ phiếu trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ: kênh liên quan tới học thuyết q của Tobin về đầu tư, bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp và những tác động của mức độ giàu có lên tiêu dùng của hộ gia đình

Tác động đến đầu tư

Học thuyết q của Tobin: Học thuyết q của Tobin đưa ra một cơ chế sử dụng các công cụ CSTT tác động tới nền kinh tế thông qua tác động lên giá trị của vốn cổ phần Tobin định nghĩa q là giá thị trường của doanh nghiệp chia cho chi phí thay thế vốn Nếu q cao, giá thị trường của công ty sẽ cao so với chi phí thay thế vốn hay vốn mở nhà xưởng mới và thiết bị mới sẽ rẻ hơn so với giá trị thị trường của công ty Các công ty khi đó có thể phát hành vốn cổ phần và thu được giá cao so với chi phí trang thiết bị và nhà xưởng mà họ đang mua Do đó, đầu tư sẽ nhiều hơn vì doanh nghiệp có thể mua được rất nhiều hàng hóa đầu tư mới bằng một lượng nhỏ vốn cổ phần phát hành

Mặt khác, khi q thấp, công ty sẽ không mua hàng hóa đầu tư mới vì giá trị thị trường của công ty là thấp so với chi phí vốn Nếu công ty muốn thu được vốn khi q thấp, họ mua một công ty khác với giá rẻ và nhận được lượng vốn cũ thay thế Đầu tư vì thế mà giảm sút Vấn đề đặt ra là làm thế nào CSTT lại có ảnh hưởng đến hệ số q?

Chính sách nới lỏng tiền tệ có thể làm tăng hệ số q qua 2 kênh Thứ nhất, lãi suất thấp sẽ không khuyến khích nhà đầu tư gửi tiền vào ngân hàng và nhà đầu

tư có thể vay thêm vốn với chi phí thấp hơn trước Nhà đầu tư sẽ phải tìm kiếm các kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn, một trong những kênh đầu tư đó là thị trường chứng khoán Do đó, thị giá cổ phiếu có thể sẽ tăng lên do cầu kéo Thứ hai, lãi suất thấp còn làm cho các công cụ có lãi suất cố định như trái phiếu sẽ trở nên

Trang 24

kém hấp dẫn hơn so với cổ phiếu, nhà đầu tư có thể cũng sẽ chuyển từ kênh trái phiếu sang kênh cổ phiếu Tóm lại, chính sách nới lỏng tiền tệ sẽ làm tăng giá cổ phiếu, và do đó, làm tăng hệ số q, và kết quả là đầu tư cũng tăng theo

Tác động đến bảng cân đối của công ty

Tín dụng và giá cả chứng khoán tác động đến bảng cân đối của công ty CSTT mở rộng làm tăng giá cả chứng khoán, theo đó giá trị thuần của công ty tăng lên Một sự tăng lên giá trị thuần sẽ nâng cao khả năng thế chấp vay nợ của công ty vì thế dẫn đến vay nợ tăng lên Vay nợ càng tăng chi đầu tư càng tăng kéo theo tổng cầu tăng

Tác động tới mức giàu có của các hộ gia đình

Trong mô hình MPS của Modigliani (1971) về tiêu dùng, lãi suất tăng sẽ làm giảm giá cổ phiếu và trái phiếu và ảnh hưởng xấu đến tài sản của người dân,

từ đó dẫn đến tiêu dùng giảm sút và cuối cùng là tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mô hình vòng đời của Modigliani, chi tiêu tiêu dùng được quyết định bởi những nguồn lực trong suốt cuộc đời của cá nhân, bao gồm

cả nguồn vốn con người, tài sản thực và tài sản tài chính Trong cấu phần của tài sản tài chính bao gồm cả cổ phiếu phổ thông Khi giá cổ phiếu tăng, giá trị của tài sản tài chính cũng tăng, do vậy làm tăng nguồn lực của người tiêu dùng và vì vậy chi tiêu tiêu dùng sẽ tăng

Kênh giá cả bất động sản

Giá cả bất đống sản tác động đến tổng cầu thông qua các kênh: ảnh hưởng trực tiếp đến chi tiêu nhà ở, sự giàu có của các hộ gia đình, bảng cân đối ngân hàng

Tác động đến chi tiêu nhà ở

Mô hình chi tiêu nhà ở là một dạng biến đổi của lý thuyết q – Tobin CSTT mở rộng làm giảm lãi suất, giảm chi phí tài trợ nhà ở và vì thế làm gia tăng giá cả nhà ở Sự gia tăng giá cả nhà ở làm gia tăng lợi nhuận của các công ty xây dựng nhà và vì thế chi tiêu nhà ở gia tăng, kéo theo tổng cầu xã hội gia tăng

Trang 25

Tác động đến mức giàu có của các hộ gia đình

Giá cả nhà ở là hợp phần quan trọng của mức giàu có các hộ gia đình và tác động đến mức chi tiêu dùng Vì thế, CSTT mở rộng làm gia tăng giá nhà ở, gia tăng mức độ giàu có của các hộ gia đình, kéo theo gia tăng chi tiêu dùng và tổng cầu xã hội

Tác động đến bằng cân đối tài sản ngân hàng

Mô hình này dựa vào giả thiết, khi vay mượn vốn nhà đầu tư phải thế chấp bất động sản ở ngân hàng CSTT mở rộng, làm gia tăng giá cả bất động sản, gia tăng giá trị tài sản thế chấp và vốn ngân hàng, dẫn đến đầu tư và sản lượng tăng lên

Các kênh tín dụng

Có hai kênh truyền dẫn tiền tệ cơ bản đều xuất phát từ kết quả của vấn đề thông tin không cân xứng trong thị trường tín dụng là kênh cho vay ngân hàng và kênh bảng cân đối tài sản

Kênh cho vay ngân hàng

Kênh tín dụng ngân hàng dựa trên quan điểm ngân hàng đóng vai trò đặc biệt trong hệ thống tài chính bởi vì các ngân hàng có đủ các điều kiện tốt để giải quyết các vấn đề thông tin không cân xứng trong thị trường tín dụng Do vai trò đặc biệt của ngân hàng, một số người vay nhất định sẽ không thể gia nhập vào thị trường tín dụng trừ phi họ vay từ ngân hàng Chừng nào mà chưa có khả năng thay thế hoàn hảo các khoản tiền gửi ngân hàng bán lẻ bằng các nguồn vốn khác của các quỹ, kênh truyền dẫn tiền tệ qua cho vay ngân hàng hoạt động như sau: CSTT nới lỏng làm tăng dự trữ ngân hàng và tiền gửi ngân hàng, tăng chất lượng các khoản vay ngân hàng hiện có Do ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng là người cho vay của những người đi vay ngân hàng, chính việc tăng các khoản vay

sẽ dẫn đến đầu tư tăng

Hàm ý quan trọng của quan điểm về kênh tín dụng là CSTT có ảnh hưởng lớn tới sự tiêu dùng của các công ty nhỏ phụ thuộc nhiều vào các khoản vay ngân

Trang 26

hàng hơn là các công ty lớn có khả năng huy động vốn trực tiếp từ thị trường bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu

Kênh bảng cân đối tài sản

Giá trị ròng của các công ty càng thấp đi thì các vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức khi tiến hành cho các công ty này vay càng trầm trọng hơn Giá trị ròng thấp hơn nghĩa là người cho vay có ít tài sản thế chấp cho các khoản vay của họ, và vì vậy thua lỗ từ sự lựa chọn đối nghịch sẽ cao hơn Giá trị ròng thấp của các công ty kinh doanh cũng làm tăng vấn đề rủi ro đạo đức, bởi vì điều này có nghĩa là những người chủ sở hữu có tiền đóng góp cổ phần thấp trong công ty của họ, khiến cho họ có nhiều động lực tham gia vào các dự án đầu tư rủi

ro Do thực hiện các dự án đầu tư rủi ro hơn có thể dẫn đến việc không trả được

nợ, làm giảm giá trị ròng của các công ty sẽ dẫn đến giảm cho vay và vì thế giảm chi đầu tư

CSTT có thể ảnh hưởng tới bảng cân đối tài sản của các công ty theo một

số cách như CSTT nới lỏng dẫn đến giá cổ phần tăng như đã mô tả ở phần trước, làm tăng giá trị ròng của công ty và vì vậy dẫn đến chi đầu tư cao hơn và tăng tổng cầu, nhờ giảm lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức

Hoặc CSTT nới lỏng làm giảm lãi suất, tạo nên một sự tăng trưởng trong bảng cân đối tài sản của công ty bởi vì dòng tiền tăng, do đó, giảm lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức

Kênh bảng cân đối tài sản của hộ gia đình

Mặc dù hầu hết tài liệu nghiên cứu về kênh tín dụng tập trung vào chi tiêu của các công ty kinh doanh, nhưng cũng nên quan tâm đến chi tiêu của người tiêu dùng, đặc biệt là chi tiêu hàng lâu bền và nhà ở Sự thắt chặt tiền tệ khiến các ngân hàng từ chối cho vay nên gây ra sự suy giảm trong hoạt động chi tiêu hàng lâu bền và nhà ở bởi vì người tiêu dùng không tiếp cận được các nguồn vốn tín dụng Tương tự như vậy, việc tăng lãi suất khiến bảng cân đối tài sản của hộ gia đình xấu đi bởi vì dòng tiền của hộ gia đình bị tác động tiêu cực

Trang 27

Một cách khác để nhận ra kênh cân đối tài sản của hộ gia đình hoạt động như thế nào đó là xem xét những ảnh hưởng của thanh khoản đến chi tiêu hàng lâu bền và nhà ở - một yếu tố quan trọng được tìm thấy trong cuộc Đại suy thoái Với quan điểm hiệu ứng thanh khoản ảnh hưởng lên bảng cân đối tài sản thông qua tác động của nó lên mong muốn chi tiêu của người tiêu dùng nhiều hơn so với mong muốn cho vay của người cho vay Bởi vì thông tin không cân xứng về chất lượng, hàng hóa lâu bền và nhà ở là những tài sản có tính thanh khoản thấp Nếu thu nhập thấp đi khiến người tiêu dùng cần bán hàng lâu bền hoặc nhà ở của

họ để có thêm tiền, thì họ có thể bị lỗ bởi họ không thể thu về đầy đủ giá trị tài sản của họ trong hoàn cảnh túng quẫn đó Ngược lại, nếu người tiêu dùng giữ tài sản tài chính (như là tiền trong nhà băng, chứng khoán và trái phiếu), họ sẽ dễ dàng bán chúng với giá bằng giá thị trường và thu về tiền mặt Do đó, nếu người tiêu dùng nhận thấy có nhiều khả năng lâm vào tình trạng khó khăn tài chính, họ

sẽ ít muốn giữ tài sản thanh khoản thấp như hàng hóa lâu bền và nhà ở, mà giữ các tài sản tài chính có tính thanh khoản cao hơn

Bảng cân đối tài sản của hộ gia đình có ảnh hưởng quan trọng tới ước tính khả năng gặp khó khăn tài chính của họ Cụ thể, khi người tiêu dùng có một khối lượng lớn các tài sản tài chính trên tổng các khoản nợ của họ và họ ước đoán khả năng khó khăn tài chính là thấp thì họ sẵn sàng chi tiêu cho hàng lâu bền và nhà

ở Khi giá cổ phiếu tăng, giá trị của tài sản tài chính cũng tăng lên, tiêu dùng hàng hóa lâu bền cũng tăng bởi người tiêu dùng sẽ cảm thấy an toàn tài chính hơn và khả năng gặp khó khăn tài chính cũng thấp hơn

Tính thanh khoản thấp của tài sản lâu bền và nhà ở giải thích lý do tại sao khi thắt chặt tiền tệ khiến tăng lãi suất và do đó làm giảm dòng tiền vào của người tiêu dùng, dẫn đến sự suy giảm chi tiêu cho hàng lâu bền và nhà ở Dòng tiền tiêu dùng giảm làm tăng khả năng gặp khó khăn tài chính, vì thế người tiêu dùng giảm mong muốn giữ hàng lâu bền và nhà ở, do đó giảm chi tiêu của họ và làm giảm tổng sản lượng Sự khác biệt duy nhất giữa quan điểm về ảnh hưởng của dòng tiền đối với doanh nghiệp và hộ gia đình là không phải do người cho

Trang 28

vay không sẵn lòng cho người tiêu dùng vay khiến cho tiêu dùng giảm, mà là người tiêu dùng không muốn chi tiêu

2.3.2 Tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế

Để thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế (tức là điều chỉnh tổng cầu để đưa sản lượng trở về mức sản lượng tiềm năng), chính phủ có thể thay đổi thuế ròng (T) hoặc chi tiêu mua hàng hòa và dịch vụ (G) theo vụ (G) theo hai hướng: mở rộng hoặc thu hẹp

Khi tổng cầu tăng đường tổng cầu dịch chuyển lên trên thì làm cho sản lượng (Y) tiến về sản lượng tiềm năng và thất nghiệp giảm xuống bằng thất nghiệp tự nhiên

Khi tổng cầu giảm đường tổng cầu dịch chuyển xuống dưới làm cho sản lượng (Y) tiến về sản lượng tiềm năng và lúc đó sẽ khắc phục được tình trạng lạm phát cao

Trang 29

Cơ chế tác động của CSTK thu hẹp:

G AD Y

T→ YDCADY

2.4 Lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Trong các nghiên cứu thực nghiệm đánh giá tác động của chính sách vĩ

mô, đa số các tác giả đều tập trung nghiên cứu riêng tác động CSTT đến nền kinh

tế như Popescu, Iulia Vasile (2012), Sayyed Mahdi Ziaei (2012), Trần Ngọc Thơ

và cộng sự (2013), Cao Thị Ý Nhi và Lê Thu Giang (2015), hoặc nghiên cứu riêng tác động của chính sáchtài khóa Blanchard and Perotti (2002), Burriel, P.,

De Castro, F., Garrote, D., Gordo, E., Paredes, J., & Pérez, J J (2010), Tuy nhiên, việc nghiên cứu tách riêng các chính sách vĩ mô để nghiên cứu có những hạn chế nhất định vì hai CSTT và CSTK là không thể tách rời trong nền kinh tế, bất cứ quốc gia nào đều sử dụng cả hai chính sách để điều tiết, ổn định nền kinh

tế nhưng còn khá ít nghiên cứu đánh giá tác động đồng thời của hai chính sách đến nền kinh tế

2.4.1 Các nghiên cứu thực nghiệm của các nước trên thế giới

Van Aarle, B., Garretsen, H., & Gobbin, N (2003)

Ba tác giả đã nghiên cứu tác động của CSTT, CSTK đối với tổng thể nền kinh tế khu vực Euro (gồm 12 nước trong liên minh Châu Âu và 03 nước Đan Mạch, Thụy Điển, Vương Quốc Anh), Nhật và Mỹ Sử dụng phương pháp SVAR

5 biến gồm tốc độ tăng trưởng sản lượng, lạm phát, thay đổi lãi suất ngắn hạn, tốc

độ tăng trưởng thu ngân sách, tốc độ tăng trưởng chi ngân sách, trong đó biến lãi suất đại diện cho CSTT; thu, chi chính phủ đại diện cho CSTK

Qua đó, tác giả nhận thấy tác động của CSTK trong khu vực Euro, Mỹ, Nhật đa dạng hơn và thậm chí không thuộc trường phái Keynes như kỳ vọng của tác giả, cụ thể cú sốc tăng trong chi ngân sách không hoàn toàn khiến sản lượng tăng và cú sốc tăng thu ngân sách không nhất thiết khiến sản lượng giảm Về

Trang 30

CSTT, trong khi cú sốc CSTT có tác động tiêu cực, dù nhỏ, đến biến động của sản lượng thì lại gần như không tác động đến lạm phát

Rossi, B., & Zubairy, S (2011)

Với mục đích lượng hoá vai trò và các tác động của CSTK, CSTT trong biến động của nền kinh tế Mỹ khi cả hai chính sách tác động đồng thời, hai tác giả đã sử dụng mô hình VAR với biến chi ngân sách, lãi suất dự trữ liên bang và vector các biến số vĩ mô gồm GDP, số giờ làm việc trong khu vực phi nông nghiệp, tiêu dùng dịch vụ và hàng hoá không bền (non-durables and services consumption), đầu tư tư nhân và tiêu dùng hàng hoá bền, mức lương thực trong khu vực phi nông nghiệp và chỉ số giảm phát GDP

Kết quả ước lượng cho thấy CSTK có tác động đến các biến động mang tính chu kỳ trung hạn (từ 32 đến 200 quý) đến ba biến số vĩ mô (sản lượng, tiêu dùng và số giờ làm việc) Trong khi đó, CSTT cũng tác động đến ba biến số vĩ

mô này nhưng chỉ tác động đến các biến động mang tính chu kỳ kinh doanh (từ 6 đến 32 quý)

Dungey, M., & Fry, R (2009)

Bằng việc phân tích dữ liệu được thu thập từ quý 2 năm 1983 đến quý 4 năm 2006 của New Zealand bằng phương pháp SVAR, các tác giả muốn nhận diện tác động của những cú sốc CSTT, CSTK và những ảnh hưởng sau đó đến nền kinh tế Trong nghiên cứu của mình, các tác giả sử dụng 12 biến nội sinh gồm chỉ số sản lượng nước ngoài, chỉ số giá xuất khẩu, chỉ số giá nhập khẩu, chi tiêu chính phủ thực, thuế, mức độ hấp thụ của nền kinh tế (đại diện bởi tổng chi tiêu thực quốc gia),tỉ lệ nợ công, GDP thực, chỉ số lạm phát theo giá nhà, chỉ số lạm phát theo giá tiêu dùng, lãi suất ngắn hạn, tỷ giá hối đoái thực hiệu lực đồng

đô la New Zealand

Kết quả cho thấy rằng những cú sốc CSTK nói chung đã có những cú sốc lớn hơn CSTT Trong đó, cú sốc thuế và chính sách nợ có ý nghĩa thống kê đáng

kể so với những cú sốc chi tiêu chính phủ Ngoài ra, hầu hết biến động của sản lượng trong giai đoạn nghiên cứu không hẳn là một kết quả của những cú sốc

Trang 31

chính sách, trong nhiều trường hợp New Zealand đã bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những cú sốc có nguồn gốc quốc tế, hoặc các hiệu ứng từ nhu cầu trong nước và

cú sốc lạm phát là quan trọng Tuy nhiên, một sự phân tách của những cú sốc CSTT cho thấy nó chủ yếu phản ứng với những cú sốc lạm phát

Kết quả cho thấy, trong khi CSTT có tác động đến sản lượng thực thì CSTK mà đại diện chi tiêu chính phủ không có tác động có ý nghĩa thống kê đến sản lượng thực tại nền kinh tế Mỹ

2.4.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam

Đối với nghiên cứu trong nước, đa số các nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu tác động riêng của các chính sách mà đặc biệt là CSTT đến nền kinh tế, ít có bài nghiên cứu đồng thời tác động hai chính sách lên nền kinh tế Nguyễn Thị Thuý Diệu (2013) nghiên cứu tác động của CSTT và CSTK đến tăng trưởng kinh

tế thông qua phương pháp bình phương bé nhất OLS với tổng sản lượng quốc dân GDP (đại diện cho tăng trưởng kinh tế) là biến phụ thuộc và cung tiền (đại diện CSTT), chi tiêu chính phủ, xuất khẩu là biến độc lập Kết quả cho thấy CSTT với biến cung tiền không tác động đến tăng trưởng kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn Trong khi đó, sự gia tăng chi tiêu chính phủ góp phần gia tăng sản lượng cho thấy CSTK có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng cho thấy xuất khẩu các tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế

Trang 32

Trong khi đó Nguyễn Thị Hiếu (2015) sử dụng mô hình VAR rút gọn để nghiên cứu sự tác động CSTK và CSTT đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam với các đại lượng tổng sản lượng trong nước theo giá so sánh năm 1994 (đại diện tăng trưởng kinh tế), chi tiêu chính phủ (đại diện CSTT), cung tiền (đại diện cho CSTT), lãi suất tiền gửi 3 tháng, tỷ giá hối đoái danh nghĩa của USD/VNĐ (đại diện cho các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế) Kết quả kiểm định cho thấy cả hai chính sách vĩ mô đều tác động đến nền kinh tế tuy nhiên CSTT có tác động đáng

kể lên tăng trưởng kinh tế so với CSTK

2.5 Đóng góp của đề tài

Bài nghiên cứu giúp củng cố thêm các nghiên cứu liên quan tác động của CSTT, CSTK đến nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện cả hai chính sách tác động đồng thời, từ đó, làm cơ sở để đánh giá được tầm quan trọng của từng chính sách đến

sự tăng trưởng, ổn định của nền kinh tế cũng như lựa chọn được một chính sách phù hợp để đạt mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn cụ thể

Tóm tắt chương

Trong chương này, bài nghiên cứu đã tóm lược các lý thuyết về khái niệm cũng như công cụ, phương thức tác động của CSTK, CSTT đến nền kinh tế Đồng thời, chương này cũng lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm của thế giới

và Việt Nam liên quan đến vấn đề nghiên cứu, mỗi nghiên cứu có kết quả nhất định phụ thuộc đặc điểm của đối tượng, phạm vi nghiên cứu Chương này là cơ

sở lý luận kết hợp với thực trạng về tác động của CSTK và CSTT đến các biến số

vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam trình bày tại chương ba là cơ sở cho nghiên cứu của tác giả

Trang 33

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA,

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN CÁC BIẾN SỐ VĨ MÔ TẠI VIỆT NAM 3.1 Giới thiệu chương

Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua những giai đoạn thăng trầm, có giai đoạn tăng trưởng nóng nhưng cũng xuất hiện giai đoạn đình đốn sau khủng hoảng đòi hỏi các chính sách về tiền tệ và tài khóa phải đối mặt với yêu cầu phối hợp chặt chẽ Trong thực tế, sự phối hợp giữa hai chính sách này đã đạt được kết quả

là tốc độ tăng trưởng dương và không có đổ vỡ hệ thống Chương này sẽ điểm lại các mốc thời gian và các chính sách được áp dụng cũng như sự phối hợp CSTK, CSTT trong điều hành kinh tế Việt Nam

3.2 Thực trạng điều hành chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ

Có sự nhất quán trong điều hành CSTT và CSTK nhằm mục tiêu duy trì

đà tăng trưởng Mặc dù mục tiêu ổn định giá cả được tuyên bố là mục tiêu ưu tiên trong luật NHNN nhưng lựa chọn cuối cùng luôn là vấn đề tăng trưởng Có thể nhìn thấy điều này cả trong giai đoạn kiềm chế lạm phát năm 2008, giai đoạn kích cầu năm 2009 - 2010 và cả giai đoạn thực hiện Nghị quyết 11 tập trung ổn định vĩ mô năm 2011 Xét ở khía cạnh này, cả hai chính sách đã có sự phối hợp khá rõ nét

Năm 1997, sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, CSTT và CSTK đã được sử dụng để khôi phục đà tăng trưởng kinh tế, hạn chế tình trạng giảm phát thông qua chính sách kích cầu kéo dài từ năm 1997 đến 2003 Kết quả là Việt Nam đạt được mức tăng trưởng ở mức cao (7,7; 8,4; 8,17; 8,5%/năm của các năm

2004, 2005, 2006 và 2007 tương ứng) kèm theo tỷ lệ lạm phát có lúc ở mức 2 con

số (giai đoạn 2004 - 2007)

Giai đoạn lạm phát bùng nổ vào năm 2008 như là kết quả tất yếu của chính sách nới rộng tổng cầu trước đó đòi hỏi các chính sách kiềm chế tổng cầu quyết liệt và nhất quán song song với cải thiện các khía cạnh của cấu trúc kinh tế

và hiệu quả đầu tư Song trong thực tế, Chính phủ đã 4 lần thay đổi mục tiêu ưu

Trang 34

tiên và bằng cách đó, các điều chỉnh chính sách luôn có thiên hướng duy trì tốc

độ tăng trưởng (đặc biệt là CSTK)

i/ Từ thắt chặt tài khóa và tiền tệ để kiềm chế lạm phát (năm 2008) sang kích cầu đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng (năm 2009) (Công văn số 75/TTg-KTTH ngày 15/01/2008 về biện pháp kiềm chế lạm phát, kiểm soát tăng giá năm 2008; Công văn số 319/TTg-KTTH ngày 03/3/2008 về tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát năm 2008; Nghị quyết 10/2008/NQ-CP ngày 17/4/2008 về 8 giải pháp đồng bộ để kiềm chế lạm phát; Nghị quyết 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội)

ii/ Thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ, linh hoạt để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng (năm 2010) (Nghị quyết

số 18/ NQ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2010 về những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5% trong năm 2010)

iii/ Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát (2011) (Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 về các giải pháp chủ yếu nhằm tập trung kìm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội trong năm 2011)

iv/ Năm 2012 tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô (Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2012)

Có thể nhận thấy, cho tới 2010 và nửa đầu 2011, mục tiêu tăng trưởng vẫn là mục tiêu ưu tiên, mặc dù lạm phát không còn là dấu hiệu mà đã thực sự bùng phát cộng với những ảnh hưởng bởi độ trễ của chính sách kích cầu năm

2009 Chỉ tới nửa cuối năm 2011 cho tới nay, ưu tiên kiềm chế lạm phát mới thực

sự được thể hiện trong các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và trở thành hành động của Bộ Tài chính và NHNN Tuy nhiên, trong thực tế, CSTT và CSTK được sử dụng để hướng tới các mục tiêu kinh tế với các mức độ khác nhau Trong đó, CSTT luôn được sử dụng như là công cụ chủ yếu để điều tiết kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong giai đoạn giảm tổng cầu, kiềm chế lạm phát

Trang 35

3.3 Phân tích tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại Việt Nam

Sử dụng chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa thắt chặt nhằm mục tiêu

ổn định vĩ mô sau khủng hoảng

Từ đầu năm 2008, NHNN đã sử dụng tất cả các công cụ CSTT theo hướng thắt chặt để kiềm chế lạm phát: (i) tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và mở rộng diện tiền gửi phải dự trữ bắt buộc ở tất cả các kỳ hạn; (ii) Phát hành bắt buộc 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN và quy định các tín phiếu NHNN không được sử dụng để vay tái cấp vốn tại NHNN; (iii) Lãi suất cơ bản được điều chỉnh lên mức

12 rồi 14% Hệ thống lãi suất điều hành gồm cặp lãi suất tái cấp vốn cũng được điều chỉnh tăng lên 15% và 13%; (iv) Khống chế hạn mức tín dụng và yêu cầu kiểm soát chặt những lĩnh vực cho vay có rủi ro cao, đặc biệt cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán và bất động sản

Về tổng phương tiện thanh toán, trong những tháng đầu năm 2008, cung tiền M2 tăng chậm lại, có tháng giảm nhẹ so với tháng trước cho thấy sự thận trọng trong điều hành CSTT trong nước

Bảng 3.1: Cung tiền M2 giai đoạn 2006-2008

Tháng Giá trị

(nghìn tỷ)

Tốc độ tăng so với tháng trước (%)

Tháng Giá trị

(nghìn tỷ)

Tốc độ tăng so với tháng trước (%)

Tháng Giá trị

(nghìn tỷ)

Tốc độ tăng so với tháng trước (%) 1/2006 677.388 4,44% 1/2007 872.549 3,75% 1/2008 1.293.054 3,11%

Trang 36

Tuy nhiên, các biện pháp đề ra chưa thực sự quyết liệt Kết quả là: tổng chi tiêu Chính phủ thực hiện trong năm 2008 vẫn vượt 19% so với dự toán, tăng hơn 22% so với thực hiện năm 2007 và chiếm 31,75% GDP Chi đầu tư phát triển đã được cắt giảm đáng kể nhưng vẫn chiếm đến 7,9% GDP, vượt dự toán 18% và tăng 5% so với năm 2007 Kết quả thâm hụt ngân sách nhà nước năm 2008 vẫn xấp xỉ 5% GDP

Sau năm 2009: Sử dụng chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa mở rộng nhằm kích cầu nền kinh tế

Từ nửa cuối năm 2008, CSTT lại hướng vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhằm đối phó với suy thoái kinh tế trong nước và khủng hoảng kinh tế thế giới thông qua một loạt các công cụ: (i) Triển khai thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất mà thực chất là mở rộng cung tiền; (ii) Hạ lãi suất cơ bản từ 14% xuống 8,5% và cặp lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn xuống 7,5% và 9,5%; (ii) Giảm tỷ lệ

dữ trữ bắt buộc đối với tiền đồng xuống còn 5%; (iv) Thực hiện thanh toán trước hạn 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN Nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu là mua

Trang 37

giấy tờ có giá để cung ứng thêm tiền; (v) Duy trì lãi suất cơ bản ở mức 7% trong gần suốt năm 2009, tăng lên 8% vào tháng 11/2009 Kết quả là tốc độ tăng trưởng tín dụng lên tới mức kỷ lục gần 40% vào năm 2009 và lạm phát tạm thời ở mức 6,9%, tỷ lệ cao nhất trong khu vực vào thời gian đó

Ðóng góp vào thành tích này là nỗ lực mở rộng chi tiêu của CSTK Trước hết là gói kích cầu tới 160.000 tỷ đồng (gồm cả 17.000 tỷ đồng hỗ trợ lãi suất) chiếm 10% GDP vào năm 2009 (mức hỗ trợ vào loại cao nhất thế giới xét ở tỷ lệ phần trăm so với GDP) để đầu tư và trợ cấp cho các khu vực bị tổn thương Cùng với nó là các giải pháp mở rộng chi tiêu và đầu tư (các thành quả của năm 2008

về cắt giảm chi tiêu công, hoãn và phân bổ lại vốn cho các dự án hầu như bị xóa bỏ), chính sách giãn thuế, giảm thuế đã được đưa ra để kích cầu đầu tư và tiêu dùng (19 nhóm hàng hóa, dịch vụ được giảm 50% thuế VAT; 6 ngành nghề được giãn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 9 tháng; thuế thu nhập cá nhân được miễn cho hộ nghèo 6 tháng đầu năm 2009…) có tác dụng điều tiết hiệu ứng phân phối lại của lãi suất cho cá nhân và doanh nghiệp, hỗ trợ phần nào mục tiêu kích thích kinh tế trong năm 2009

Nỗ lực này khiến Việt Nam duy trì được mức tăng trưởng 5,3%, mức tăng trưởng dương hiếm hoi sau khủng hoảng Nền kinh tế đã không rơi vào tình trạng

đổ vỡ hàng loạt do ảnh hưởng của khủng hoảng

Giai đoạn ưu tiên sử dụng chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa thắt chặt nhằm ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát (2011)

Lần đầu tiên, tuyên bố mục tiêu vĩ mô và cam kết thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát thể hiện sự nhất quán cao trong tư tưởng chỉ đạo của Chính phủ theo Nghị quyết 11/NQ-CP tháng 2/2011 Theo đó, cả CSTT và CSTK đều được yêu cầu sử dụng triệt để các công cụ chính sách nhằm ưu tiên kiềm chế lạm phát CSTT một lần nữa quay lại thực hiện thắt chặt với mục tiêu trung gian gồm

dư nợ tín dụng tăng trưởng dưới 16%, M2 tăng dưới 20% NHNN đã triển khai các chính sách cụ thể nhằm đạt mục tiêu này, gồm: (i) Yêu cầu các tổ chức tín dụng điều chỉnh kế hoạch kinh doanh phù hợp với mục tiêu tăng trưởng tín dụng, điều chỉnh cơ cấu tín dụng, tập trung vốn phát triển sản xuất kinh doanh, giảm tốc

Trang 38

độ và tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất trong tổng dư nợ xuống mức 22% đến 30/06/2011 và 16% đến 31/12/2011; (ii) Lãi suất chiết khấu tăng từ 7%/năm lên 12% rồi13%/năm, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 10%/năm tăng dần đến 16%/năm; (iii) Nghiệp vụ thị trường mở thực hiện nghiệp vụ hút tiền ròng trong phần lớn thời gian của năm 2011 (tính đến cuối tháng 6/2011, mức cung ròng qua OMO là không đáng kể: hơn 13.000 tỷ đồng và tính đến cuối năm 2011 lượng hút ròng 111.365 tỷ đồng; (iv) Tuân thủ nghiêm ngặt giới hạn tín dụng trong toàn hệ thống ngân hàng với các chế tài xử phạt nghiêm khắc của nội bộ từng ngân hàng; (v) Xây dựng và triển khai chiến lược cấu trúc lại hệ thống ngân hàng từng bước nhằm nâng cao tính hiệu quả, giảm mức độ rủi ro và cải thiện sức mạnh cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Chủ trương này cũng nhằm giải quyết tận gốc căn nguyên của tình trạng mặt bằng lãi suất cao (về phía ngân hàng); (vi) Triển khai đồng bộ các giải pháp đối với thị trường ngoại tệ, thị trường vàng nhằm mục tiêu giảm sự di chuyển vốn lòng vòng giữa tài sản được coi như tiền (money likes) - một trong các yếu tố gây áp lực lên lãi suất nội tệ, triệt tiêu tác động của CSTT Kết quả là mức tăng M2 và tín dụng của cả năm 2011 đạt dưới 10% và trên 12% (số liệu ước tính theo công bố của NHNN đầu năm 2012), thấp hơn nhiều so với mức tăng trung bình của các năm trước Ðây là mức thắt chặt thấp hơn đáng kể so với mức tăng định hướng đã nêu trong Nghị quyết 11 nhằm hướng tới giảm tổng cầu Tuy vậy, sự quyết liệt trong giảm tổng cầu từ phía CSTT đã không đạt được kết quả mong muốn Trong khi tỷ lệ tăng trưởng đạt 5,89% thì tỷ lệ lạm phát vẫn tiếp tục tăng tới mức kỷ lục gần 19% (mức tăng cao so với mục tiêu đã được điều chỉnh là 15% cho năm 2011)

Ngoài ra, về chính sách tài khóa, các giải pháp cắt giảm chi tiêu công được đưa ra khá quyết liệt: Không kéo dài thời gian giải ngân, không ứng trước

kế hoạch năm 2012 vốn ngân sách và trái phiếu chính phủ, giảm 32% vốn trái phiếu chính phủ, giảm 10% tín dụng đầu tư của nhà nước Yêu cầu cắt giảm đầu

tư công theo tinh thần Nghị quyết 11 được coi là giải pháp quyết liệt và cần thiết

để kiềm chế lạm phát Mục tiêu của chủ trương này gắn liền với chiến lược tái

Ngày đăng: 19/07/2017, 23:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Phạm Thế Anh (2009), “Kích cầu và những tác động có thể có đến nền kinh tế”, Tạp chí Tài chính, Số 1 (531) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kích cầu và những tác động có thể có đến nền kinh tế
Tác giả: Phạm Thế Anh
Năm: 2009
4. Tô Ngọc Hƣng (2012), “Bàn về CSTT trong thời gian qua”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Phối hợp CSTK và CSTT trong điều tiết kinh tế vĩ mô, tr. 248- 261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về CSTT trong thời gian qua
Tác giả: Tô Ngọc Hƣng
Năm: 2012
5. Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (2012), “Đánh giá thực trạng phối hợp CSTT và CSTK của Việt Nam từ 2008 đến nay – những vẫn đề đặt ra và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Phối hợp CSTK và CSTT trong điều tiết kinh tế vĩ mô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng phối hợp CSTT và CSTK của Việt Nam từ 2008 đến nay – những vẫn đề đặt ra và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Tác giả: Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia
Năm: 2012
1.Nguyễn Thị Kim Thanh (2013), “Tính hiệu quả trong phối hợp CSTT và CSTK:, Tạp chí Tài chính, số 581-03/2013 Khác
2. Phạm Thế Anh (2008), Ứng dụng mô hình SVAR trong việc xác định hiệu ứng CSTT và dự báo lạm phát Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 2/2009 Khác
6. Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, 2011, Báo cáo triển vọng kinh tế Việt Nam 2012 - 2013.Danh mục tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh Khác
2. Dixit, A., & Lambertini, L. (2001). Monetary–fiscal policy interactions and commitment versus discretion in a monetary union. European Economic Review, 45(4), 977-987 Khác
3. Dungey, M., & Fry, R. (2009). Identifying fiscal and monetary policy in a small open economy VAR. Economic Modelling, 26(1), 147-60 Khác
4. Dungey, M., & Fry, R. (2009). The identification of fiscal and monetary policy in a structural VAR. Economic Modelling, 26(6), 1147-1160 Khác
5. Dungey, M., & Fry, R. (2010). Fiscal and monetary policy in australia: an svar model (pp. 1-30). working paper Khác
6. Fredric S. Mishkin (2004), The Economics of Money, Banking, and Financial Markets, the seventh edition, Pearson - Addison Wesley Khác
7. Rossi, B., & Zubairy, S. (2011). What is the importance of monetary and fiscal shocks in explaining US macroeconomic fluctuations?. Journal of Money, Credit and Banking, 43(6), 1247-1270 Khác
8. Senbet, D. (2011). The relative impact of fiscal versus monetary actions on output: A vector autoregressive (VAR) approach. Business and Economic Journal, 25, 1-11 Khác
9. Van Aarle, B., Garretsen, H., & Gobbin, N. (2003). Monetary and fiscal policy transmission in the Euro-area: evidence from a structural VAR analysis.Journal of Economics and Business, 55(5), 609-638 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Cung tiền M2 giai đoạn 2006-2008 - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Bảng 3.1 Cung tiền M2 giai đoạn 2006-2008 (Trang 35)
Bảng 4.1: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Bảng 4.1 Mô tả các biến sử dụng trong mô hình (Trang 45)
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định tính dừng - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định tính dừng (Trang 49)
Bảng 4.5: Lựa chọn độ trễ tối ưu trong mô hình  với lãi suất cho vay đại diện cho CSTT - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Bảng 4.5 Lựa chọn độ trễ tối ưu trong mô hình với lãi suất cho vay đại diện cho CSTT (Trang 51)
Bảng 4.6 Kết quả ước lượng ma trận A 0 , ma trận B  với cung tiền M2 là đại diện của CSTT - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Bảng 4.6 Kết quả ước lượng ma trận A 0 , ma trận B với cung tiền M2 là đại diện của CSTT (Trang 52)
Hình 4.1 Hàm phản ứng xung của các biến số vĩ mô trước cú sốc thu ngân - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Hình 4.1 Hàm phản ứng xung của các biến số vĩ mô trước cú sốc thu ngân (Trang 54)
Hình 4.2 Hàm phản ứng xung của các biến số vĩ mô trước cú sốc chi ngân - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Hình 4.2 Hàm phản ứng xung của các biến số vĩ mô trước cú sốc chi ngân (Trang 55)
Hình 4.3 Hàm phản ứng xung của các biến số vĩ mô trước cú sốc thu - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Hình 4.3 Hàm phản ứng xung của các biến số vĩ mô trước cú sốc thu (Trang 55)
Hình 4.4 Hàm phản ứng xung của các biến số vĩ mô trước cú sốc chi ngân - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Hình 4.4 Hàm phản ứng xung của các biến số vĩ mô trước cú sốc chi ngân (Trang 56)
Hình 4.5Hàm phản ứng xung của các biến số vĩ mô trước cú sốc cung - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Hình 4.5 Hàm phản ứng xung của các biến số vĩ mô trước cú sốc cung (Trang 57)
Bảng 4.8 Bảng phân rã phương sai của chỉ số sản xuất công nghiệp - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Bảng 4.8 Bảng phân rã phương sai của chỉ số sản xuất công nghiệp (Trang 58)
Bảng 4.9 Bảng phân rã phương sai của CPI - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Bảng 4.9 Bảng phân rã phương sai của CPI (Trang 59)
Bảng 4.10: Phân rã phương sai của chỉ số sản xuất công nghiệp - Nhận diện tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ lên các biến số vĩ mô tại việt nam
Bảng 4.10 Phân rã phương sai của chỉ số sản xuất công nghiệp (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w