1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tích hợp giáo dục kỹ năng sống trong dạy học văn bản nhật dụng ở trường THPT mai sơn, tỉnh sơn la

81 377 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TÍCH HỢP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở TRƯỜNG THPT MAI SƠN, TỈNH SƠN LA Thuộ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

TÍCH HỢP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở TRƯỜNG THPT MAI SƠN,

TỈNH SƠN LA

Thuộc nhóm ngành khoa học: Phương pháp dạy học

Sơn La, 5/2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

TÍCH HỢP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở TRƯỜNG THPT MAI SƠN,

TỈNH SƠN LA

Thuộc nhóm ngành khoa học: Phương pháp dạy học

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Việt Hùng Nam, Dân tộc: Kinh

Vũ Thị Hiền Nữ, Dân tộc: Kinh

Lớp: K55ĐHSP Ngữ văn Khoa: Ngữ văn

Ngành học: Sư phạm Ngữ văn

Năm Thứ: 03 / Số năm đào tạo: 4

Sinh viên chịu trách nhiệm: Nguyễn Việt Hùng

Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Ngọc Mai

Sơn La, 5/2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài, chúng em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại trường Đại học Tây Bắc Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo hướng dẫn, Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Mai đã hướng dẫn tận tình, chu đáo, hết lòng chỉ bảo, giúp đỡ chúng em thực hiện đề tài này

Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban lãnh đạo, các thầy cô giáo và các bạn học sinh trường THPT Mai Sơn, thành phố Sơn La đã giúp đỡ chúng em trong quá trình thực nghiệm tại trường

Chúng em chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô trong khoa Ngữ văn, Trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Tây Bắc cùng cố vấn học tập và tập thể lớp K55 Đại học Sư phạm Ngữ văn đã tạo điều kiện giúp chúng em hoàn thành đề tài

Cuối cùng, chúng em xin cám ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, tạo động lực cho chúng em hoàn thành đề tài này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song

do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế giảng dạy cũng như hạn chế về kiến thức lí luận và kinh nghiệm thực tiễn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, chúng em rất mong nhận được sự góp

ý của quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2017

Nhóm sinh viên Nguyễn Việt Hùng

Vũ Thị Hiền

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 1.1 Bảng phân loại các nhóm KNS cơ bản đối với HS phổ thông 13

Bảng 1.2 Bảng hệ thống các VBND và khả năng tích hợp KNS 19

Bảng1.3 Bảng khảo sát nhận thức của HS về KNS 20

Bảng 1.4 Bảng đánh giá môi trường giáo dục KNS của HS 22

Bảng 1.5 Bảng đánh giá của HS về mức độ được giáo dục KNS qua môn Ngữ văn 23

Bảng 3.1: Đánh giá mức độ hứng thú với giờ học của HS 62

Bảng 3.3: Bảng khảo sát sự hiểu biết của HS qua bài học 64

Bảng 3.4: Mức độ rèn luyện KNS của HS sau bài học 64

Biểu đồ 1.1 Đánh giá môi trường tác động đến KNS của HS 22

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ mô phỏng hình thức dạy học truyền thống 28

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ mô phỏng hoạt động đối thoại đa dạng 28

Sơ đồ 2.3 Sơ đồ mô phỏng kĩ thuật “khăn trải bàn” 41

Sơ đồ 2.4 Sơ đồ mô phỏng “nhóm mảnh ghép” 43

Sơ đồ 2.5 Mô phỏng kĩ thuật sơ đồ tư duy 45

Biểu đồ 3.2: Mức độ hứng thú của HS với giờ học 63

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Đóng góp của đề tài 6

8 Cấu trúc của đề tài 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC 8

1.1 Cơ sở lý luận 8

1.1.1 Vấn đề dạy học tích hợp 8

1.1.1.1 Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp 8

1.1.1.2 Bản chất của dạy học tích hợp 8

1.1.2 KNS và vấn đề giáo dục KNS trong trường phổ thông 9

1.1.2.1 Khái niệm kĩ năng sống 9

1.1.2.2 Tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh THPT 11

1.1.2.3 Nội dung giáo dục KNS trong nhà trường phổ thông 12

1.1.2.4 Khả năng giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường THPT 13

1.1.2.5 Mục tiêu giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở THPT 15

1.1.3 Giáo dục KNS cho HS THPT thông qua dạy học VBND 16

1.1.3.1 Khái niệm văn bản nhật dụng 16

1.1.3.2 Đặc điểm của văn bản nhật dụng 16

1.1.3.3 Hệ thống các bài VBND và khả năng tích hợp giáo dục KNS 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.2.1 Thực trạng nhận thức và nhu cầu giáo dục KNS của HS trường THPT Mai Sơn, tỉnh Sơn La 20

1.2.1.1 Kết quả khảo sát nhận thức của HS về KNS 20

1.2.1.2 Nhu cầu được giáo dục về KNS ở HS THPT 21

1.2.1.3 Đánh giá về môi trường giáo dục KNS của HS 21

Trang 7

1.2.2 Thực trạng dạy học tích hợp giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường THPT

Mai Sơn, tỉnh Sơn La 22

1.2.2.1.Khảo sát qua phiếu hỏi của học sinh 22

1.2.2.2 Khảo sát qua phiếu hỏi và phỏng vấn giáo viên 23

1.2.3 Nguyên nhân của thực trạng 24

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT 26

2.1 Các nguyên tắc chỉ đạo việc đề xuất biện pháp 26

2.1.1 Tương tác 26

2.1.2 Trải nghiệm 26

2.1.3 Tiến trình 26

2.1.4 Thay đổi hành vi 26

2.1.5 Thời gian – môi trường giáo dục 27

2.2 Một số biện pháp tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học VBND 27

2.2.1 Tổ chức hoạt động giao tiếp, đối thoại đa dạng, phong phú trong giờ học 27

2.2.2 Tạo ra các tình huống liên hệ thực tiễn 31

2.2.3 Vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực 33

2.2.3.1 Một số phương pháp dạy học tích cực 34

2.2.3.2 Một số kĩ thuật dạy học tích cực 41

2.3 Các bước thực hiện một bài dạy VBND tích hợp giáo dục KNS 48

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52

3.1 Các yêu cầu cơ bản của thực nghiệm 52

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 52

3.1.2 Nhiệm vu ̣ thực nghiệm 52

3.1.3 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 52

3.1.4 Nguyên tắc tiến hành thực nghiê ̣m 52

3.1.5 Phương pháp thực nghiê ̣m 53

3.2 Tiến hành thực nghiệm 53

3.2.1 Chuẩn bị thực nghiệm 53

3.2.2 Giáo án thực nghiệm 53

3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 61

3.3.1 Đánh giá về mặt định tính qua quan sát, dự giờ 61

Trang 8

3.3.2 Đánh giá về mặt định lượng 62

KẾT LUẬN 66

PHỤ LỤC 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 9

Giáo dục – đào tạo

Điều 28 của Luật giáo dục năm 2005 đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông, phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; Bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Theo đó, vấn đề giáo dục kỹ năng

sống được đặt ra như một yêu cầu và thách thức

1.2 Năm 1996, trong báo cáo “Học tập – Một kho báu tiềm ẩn”, tổ chức giáo dục thế giới UNESCO đã đưa ra bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI là: “Học để biết, học đề làm, học để tự khẳng định mình, học để cùng chung sống” [7, tr.7].Báo cáo này

đã khẳng định vai trò cơ bản của giáo dục trong sự phát triển của xã hội và của mỗi cá nhân Nhấn mạnh học tập suốt đời như là một chìa khóa để mỗi cá nhân thích ứng với những thách thức của thế kỷ XXI, mà thực chất là một cách tiếp cận giáo dục kỹ năng sống Từ đó, vấn đề rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh đã được Bộ giáo dục và Đào tạo xác định là một trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các nhà trường phổ thông

Trong các môn học ở trường phổ thông, môn Ngữ văn vốn được coi là môn học

“rèn người”, văn học là nhân học, nội dung và mục tiêu dạy học hướng đến giáo dục

Trang 10

nhân cách con người, tác động trực tiếp vào tư tưởng, tình cảm, nhân sinh quan của con người Văn học giáo dục con người sống có bản lĩnh, có suy nghĩ, ứng xử, lí tưởng sống,

kỹ năng sống, lối sống đúng đắn, lành mạnh Qua môn Ngữ văn, nhà giáo dục mong muốn con người nói chung và học sinh nói riêng tiếp nhận được những giá trị tốt đẹp, có

lý tưởng cống hiến và sống có ý nghĩa Do đó đây là môn học có nhiều điều kiện và lợi thế để tích hợp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trong các nội dung dạy học có các bài học nhật dụng, với nội dung bàn về những vấn đề thời sự cấp thiết như đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử; Về các tệ nạn xã hội như ma túy thuốc lá, lao động, trẻ em; Vấn

đề giáo dục trẻ em; Các vấn đề tương lai nhân loại như bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh, bảo vệ quyền lợi trẻ em, vấn đề hội nhập và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; Môi trường, dân số, di tích văn hóa, danh lam thắng cảnh,… đây là những nội dung có khả năng lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cao cho học sinh trường phổ thông

1.3 Trường THPT Mai Sơn, tỉnh Sơn La thuộcđịa bàn miền núi Tây Bắc còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về điều kiện văn hóa, giáo dục, giao thông, an sinh xã hội Học sinh thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau, do đó cũng có nhiều khác biệt về hoàn cảnh, trình độ, nhận thức, lối sống, sự giáo dục của gia đình, cộng đồng làng bản… Các tỉnh miền núi Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng từ lâu vẫn được coi là điểm nóng về tệ nạn ma túy, HIV/AIDS nên lứa tuổi thanh niên dễ bị tác động bởi tệ nạn xã hội do kĩ năng sống còn hạn chế, khả năng ứng phó với các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống chưa cao Vậy nên việc giáo dục kỹ năng sống ngay khi ngồi trên ghế nhà trường là rất cần thiết và quan trọng

Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tích hợp giáo dục kĩ năng sống

trong dạy học văn bản nhật dụng ở trường THPT Mai Sơn, tỉnh Sơn La”, với mong

muốn góp một tiếng nói vào quá trình dạy học Ngữ văn tích hợp giáo dục KNS cho HS

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử vấn đề KNS và giáo dục KNS

Trên thế giới, vấn đề giáo dục KNS đã được quan tâm từ những năm 90 của thế

kỷ XX trong một số chương trình giáo dục của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị sống cơ bản cần đào tạo dành cho thế hệ trẻ Từ đó, vấn đề giáo dục KNS đã nhận được sự quan tâm và vào cuộc của nhiều chương trình, tổ chức trên thế giới như Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi người

Trang 11

(Senegan 2000), Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc UNESCO… Nhìn chung vấn đề giáo dục KNS đều thống nhất đi theo những nét khái quát sau:

- Nghiên cứu xác định mục tiêu của giáo dục KNS

- Nghiên cứu xác định chương trình và hình thức của giáo dục KNS, bao gồm: + Lồng ghép vào chương trình dạy học (tích hợp trong các môn học) ở các mức

độ khác nhau

+ Dạy các chuyên đề cần thiết cho người học

Ở Việt Nam, thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông

Việt Nam từ những năm 1995 – 1996, thông qua Dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức

khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường” do

UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, phối hợp cùng với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện Từ đó đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn với giáo dục các vấn đề xã hội: phòng chống ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, bảo vệ môi trường,… Giáo dục phổ thông nước ta những năm vừa qua đã được đổi mới về cả mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học (PPDH) gắn với bốn trụ cột giáo dục của thế kỉ XXI: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định, học để cùng chung sống, mà thực chất

là một cách tiếp cận của KNS Đặc biệt, rèn luyện KNS cho học sinh (HS) đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định là một trong năm nội dung của phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực ” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 –

2013 Trong đó, vấn đề giáo dục KNS bao gồm: Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội Từ đó đến nay đã có một số tài liệu hướng dẫn, tài liệu tập huấn và công trình nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này

2.2 Lịch sử vấn đề giáo dục KNS trong dạy học ngữ văn

Một trong những tác giả đầu tiên có công trình nghiên cứu một cách hệ thống về KNS và giáo dục KS là tác giả Nguyễn Thanh Bình Với một loạt các bài báo, công trình nghiên cứu, chuyên khảo… , tác giả đã đưa ra những hướng nghiên cứu về giáo dục KNS ở Việt Nam như sau:

- Xác định các vấn đề lý luận cốt lõi về KNS và giáo dục KNS

Trang 12

- Nghiên cứu so sánh giáo dục KNS ở Việt Nam và một số quốc gia khác

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình đã mô tả sinh động, đầy đủ, hệ thống

về tiếp cận và thực hiện KNS cho học sinh do ngành giáo dục thực hiện Ngành giáo dục đã đưa mục tiêu giáo dục KNS vào các cấp học ở cả hệ chính quy và không chính quy trong cả nước Tuy nhiên, đây chỉ là những vấn đề chung mang tính định hướng cho toàn bộ chương trình giáo dục KNS chứ chưa gắn với từng môn học, từng hoạt động cụ thể

Năm 2010, cuốn tài liệu “Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường

THPT” của nhóm tác giả Lê Minh Châu – Nguyễn Thúy Hồng – Trần Thị Tố Oanh –

Phạm Thị Thu Phương – Lưu Thu Thủy – Nguyễn Thị Hồng Vân – Đào Vân Vi – Nguyễn Huệ Yên cũng nhận được sự quan tâm của đông đảo nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục Tài liệu được biên soạn nhằm giúp giáo viên có thêm hiểu biết chung về kĩ năng sống và nội dung, cách thức giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn Ngữ văn ở trường THPT Các tác giả đã xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận về giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường phổ thông, phân tích khả năng, mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn Ngữ văn ở trường THPT và giới thiệu một số nội dung và địa chỉ các tiết học/bài học tiêu biểu của môn Ngữ văn ở trường THPT có thể thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở từng lớp Phần này chỉ mang tính gợi

mở, khuyến khích giáo viên tìm tòi, sáng tạo, vận dụng, kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc trang bị kiến thức và kĩ năng sống cho học sinh trong những bài học, tiết học khác trong phạm vi chương trình

Tác giả Nguyễn Ngọc Mai, trong bài viết “Dạy học văn bản nhật dụng tích hợp

giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 12 trung học phổ thông”, Tạp chí Giáo dục số

tháng 12/2016 đã đặt ra vấn đề dạy học VBND tích hợp giáo dục KNS cho HS, đặc biệt là HS lớp 12 địa bàn các tỉnh miền núi như Sơn La Đồng thời, tác giả đã xây dựng các biện pháp giáo dục KNS cho HS qua dạy học bài “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003” (Ngữ văn 12) Tuy nhiên, các biện pháp đưa ra mới chỉ dừng lại ở cách tiếp cận phương pháp dạy học mang tính định hướng chứ chưa gắn với cách tiếp cận nội dung

Những phân tích trên đây cho thấy, vấn đề giáo dục KNS cho học sinh THPT mặc dù đã được định hướng bởi mục tiêu, chương trình giáo dục nhưng triển khai chương trình này trong hoạt động giáo dục của nhà trường còn nhiều hạn chế Các đề

Trang 13

tài đã xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận và đề xuất các định hướng giáo dục KNS nhưng còn thiếu các kết quả thử nghiệm một cách rõ ràng, do đó tính thuyết phục chưa cao Đặc biệt, đối với phân môn Ngữ văn, môn học có nhiều điều kiện và ưu thế trong việc tích hợp giáo dục KNS, có nhiều bài VBND gắn với các vấn đề thường gặp trong đời sống hàng ngày của học sinh nhưng lại chưa có nhiều đánh giá, kiểm nghiệm thực

tế Vì vậy, cần có thêm những đúc kết thực tế, kết quả thực nghiệm để việc đánh giá hoạt động giáo dục KNS được hiệu quả hơn Đó cũng chính là lý do xác đáng và cấp thiết để nhóm nghiên cứu chúng tôi thực hiện đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất và xây dựng các phương pháp dạy học văn bản nhật dụng tích hợp giáo dục KNS cho học sinh trường THPT Mai Sơn nói riêng và học sinh THPT nói chung, góp phần định hướng cho giáo viên, đặc biệt là sinh viên sư phạm trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu vấn đề tích hợp giáo dục KNS cho học sinh thông qua dạy học các văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THPT Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung làm rõ một số biện pháp giúp giáo viên tích hợp giáo dục KNS trong dạy học VBND cho học sinh trường THPT Mai Sơn, tỉnh Sơn La

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lí luận có liên quan đến nội dung nghiên cứu: dạy học tích hợp, vấn đề giáo dục KNS, dạy học văn bản nhật dụng Khảo sát đánh giá thực trạng dạy học văn bản nhật dụng tích hợp với giáo dục kĩ năng sống ở trường THPT hiện nay

Đề xuất các biện pháp dạy học văn bản nhật dụng tích hợp giáo dục kĩ năng sống theo định hướng phát huy tính tích cực và năng lực người học, thiết kế giáo án và thực nghiệm tại trường THPT Mai Sơn, tỉnh Sơn La

6 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành làm đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Nghiên cứu lý thuyết

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết là phương pháp thu thập thông tin qua việc đọc sách báo, tài liệu, nghiên cứu những thành tựu lý luận đã có nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm, tư tưởng cơ bản làm cơ sở lý luận cho đề tài Cụ thể, ở đề tài

Trang 14

này chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề lý luận về dạy học tích hợp, dạy học văn bản nhật dụng và vấn đề giáo dục kĩ năng sống ở trường THPT nước ta Từ đó có

cơ sở xây dựng, đề xuất các phương pháp dạy học tích hợp

6.2 Nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn là các phương pháp trực tiếp tác động vào đối tượng trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và quy luật vận động của đối tượng đó, giúp người nghiên cứu thu thập thông tin hoặc làm nảy sinh các ý tưởng nghiên cứu và

đề xuất sáng tạo Ở đề tài này chúng tôi nghiên cứu thực tiễn bằng các phương pháp dự giờ, phỏng vấn, quan sát, điều tra bảng hỏi về kĩ năng sống của học sinh trong nhà trường THPT, từ đó đề xuất ra các phương pháp dạy học tích hợp

6.3 Phương pháp so sánh tổng hợp

Phương pháp so sánh tổng hợp là phương pháp kết hợp lý luận với thực tế, đem lý luận so sánh thực tế, từ so sánh thực tế lại rút ra lý luận cao hơn Phương pháp so sánh tổng hợp là phương pháp xem xét lại những thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để so sánh rút ra kết luận bổ ích cho khoa học và thực tiễn Cụ thể, ở đề tài này chúng tôi đã so sánh tổng hợp các văn bản nhật dụng ở trường THPT đề đưa ra các bài học, các

kĩ năng sống trong bài có ảnh hưởng lớn đối với cuộc sống và hoạt động thực tiễn

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là loại thực nghiệm nhằm khẳng định vai trò ảnh hưởng, mối quan hệ giữa một biện pháp sư phạm với sự hình thành và phát triển một vấn đề nào đó trong lĩnh vực khoa học giáo dục Cụ thể, ở đề tài này chúng tôi đã tiến hành sử dụng phương pháp nghiên cứu này để mô tả, thiết kế nội dung, biện pháp và vai trò dạy học bài học nhật dụng tích hợp kĩ năng sống cho học sinh trường THPT Mai Sơn, tỉnh Sơn La nhằm nâng cao chất lượng học và kĩ năng sống cho học sinh

7 Đóng góp của đề tài

Thực hiện đề tài này, nhóm tác giả muốn tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về vấn

đề dạy học tích hợp giáo dục KNS, một trong những định hướng đổi mới dạy học đang được giáo dục và xã hội quan tâm Đặc biệt, trong việc dạy học văn bản nhật dụng môn Ngữ văn – môn học được coi là “nhân học”, có nhiều lợi thế và điều kiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Từ đó đề xuất những phương pháp dạy học tích cực phát huy tính chủ động sáng tạo và nâng cao năng lực, kĩ năng sống cho học sinh

Trang 15

Dự kiến đề tài này thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên sư phạm và các giáo viên Ngữ văn THPT quan tâm đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Đây cũng là quá trình tập dượt nghiên cứu khoa học cho nhóm tác giả trong quá trình học tập và làm việc sau này

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm ba chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2 Đề xuất biện pháp dạy học

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Vấn đề dạy học tích hợp

1.1.1.1 Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp

Tích hợp được hiểu là sư “hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp” [5, tr.8] Nội hàm

khoa học của khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau, để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy

Trong dạy học, vấn đề dạy học tích hợp (DHTH) đã được quan tâm từ nhiều năm trở lại đây Trong quá trình nghiên cứu kinh nghiệm giáo dục thế giới, một số quan

niệm về DHTH đã được đưa vào Việt Nam Theo Từ điển Giáo dục học, DHTH được hiểu là “hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của một lĩnh

vực hay nhiều lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” Từ quan niệm

đó, đã có nhiều cách tiếp cận vấn đề DHTH khác nhau như: tích hợp trong nội bộ môn học, tích hợp liên môn, tích hợp dọc, tích hợp ngang, tích hợp chương trình, tích hợp kiến thức, tích hợp kĩ năng… Đề tài nghiên cứu của chúng tôi đi theo hướng tích hợp

kĩ năng (tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Ngữ văn)

1.1.1.2 Bản chất của dạy học tích hợp

Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Ưu điểm của DHTH là nâng cao năng lực người học, đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện tại Có thể tóm tắt ba mục tiêu cơ bản của DHTH như sau:

- Tránh trùng lặp về nội dung thuộc các môn học khác nhau

- Tạo mối quan hệ giữa các môn học khác nhau và với kiến thức thực tiễn

- Tạo cơ hội để hình thành và phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn

Có thể thấy, bản chất của DHTH gắn liền với hình thành và rèn luyện kĩ năng, năng lực cho người học Nếu lựa chọn được chủ đề/ nội dung tích hợp hợp lý, kết hợp với việc sử dụng các phương tiện, kĩ thuật dạy học tích cực, GV hoàn toàn có thể phát huy được tính chủ động tích cực của HS

Trang 17

1.1.2 KNS và vấn đề giáo dục KNS trong trường phổ thông

1.1.2.1 Khái niệm kĩ năng sống

Thuật ngữ kĩ năng sống (KNS) bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông

Việt Nam từ những năm 1995 – 1996, thông qua Dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức

khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường” do

UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, phối hợp cùng với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện Từ đó đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn với giáo dục các vấn đề xã hội: phòng chống ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, bảo vệ môi trường,… Giáo dục phổ thông nước ta những năm vừa qua đã được đổi mới về cả mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học (PPDH) gắn với bốn trụ cột giáo dục của thế kỉ XXI: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định, học để cùng chung sống, mà thực chất là một cách tiếp cận của KNS Đặc biệt, rèn luyện KNS cho học sinh (HS) đã được Bộ Giáo dục và

Đào tạo xác định là một trong năm nội dung của phong trào thi đua “ Xây dựng trường

học thân thiện, HS tích cực ” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013

Vậy, KNS là gì? Ngay từ khi vấn đề giáo dục KNS được đặt ra như một nhu cầu thiết yếu thì trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam đã có nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu đặt ra cách hiểu về KNS

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là “khả năng để có hành vi thích ứng

(adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” [7, tr.7] Đó cũng là khả năng của

một cá nhân duy trì trạng thái khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, biểu hiện qua các hành vi hợp tác tích cực và ứng xử phù hợp khi tương tác với môi trường xung quanh Theo Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), KNS được hiểu là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và KN Theo cách hiểu này, KNS là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng tránh được các tình huống nguy hiểm cho bản thân…

Còn theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) trong hội thảo “Chất lượng giáo dục và KN sống do UNESCO tài trợ, được tổ chức tại

Hà Nội từ 23 đến 25 tháng 10/2003 đã đưa ra định nghĩa: “KN sống là năng lực cá

nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Là những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu

Trang 18

cầu và thách thức của cuộc sống” [7, tr.8] KNS gắn với 4 trụ cột giáo dục thế kỷ XIX,

đó là: Học để biết (Learning to know) gồm các KN tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…; Học làm người (Learning to be) gồm các KN cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…; Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các KN xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm (Learning to do) gồm KN thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: KN đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…

Tác giả Nguyễn Đức Thạc trong bài “Rèn luyện KN sống - một hướng tiếp cận

mới về chất lượng đào tạo” đã đưa ra định nghĩa về KNS “KN sống được hiểu là

những năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức về giá trị và phương thức hành động ứng xử, được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng được đặt

ra trong cuộc sống thực của chính chủ thể đó Những tri thức về giá trị và phương thức hành động này chính là chân- thiện- mỹ đảm bảo cho KN sống của các cá nhân

đó được đúng, tốt và đẹp KNS vừa là giá trị sống vừa là cách thức đạt đến những giá trị đó của các cá nhân” [20]

Từ những quan niệm trên đây, chúng tôi đưa ra cách hiểu về KNS là “là sự lĩnh

hội những tri thức của cuộc sống để hình thành nên năng lực của cá nhân, thể hiện qua các hành vi trong cuộc sống KNS là kết quả tổng hợp của tri thức, thái độ và cuối cùng phải thể hiện bằng các hành vi tích cực và hợp lý KNS giúp mỗi người thực hiện đầy đủ các chức năng của mình, đáp ứng thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu, thách thức của cuộc sống” Bản chất của KNS là KN tự quản lí bản thân và KN

xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:

Trang 19

Trong quá trình nghiên cứu và tổng hợp tài liệu, cũng như căn cứ tình hình thực

tế của việc giáo dục KNS trong nhà trường THPT, chúng tôi cũng thống nhất đi theo cách đề xuất nội dung giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường phổ thông như trên

1.1.2.2 Tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh THPT

KNS thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội

Có thể nói KNS chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình Ngược lại, những người thiếu KNS thường bị vấp váp,

dễ bị thất bại trong cuộc sống KNS không chỉ thúc đẩy sự phát triển cá nhân, mà KNS còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo vệ quyền con người

Giáo dục KNS là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ

Thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi THPT chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm tới Nếu không có KNS, các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước

Lứa tuổi HS là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động…

Việc giáo dục KNS cho HS giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè

và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa và lành mạnh

Giáo dục KNS nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển

xã hội Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện, do vậy cần phải đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới phổ thông nói riêng Nhiệm vụ đổi mới giáo dục đã được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, trong Luật Giáo dục năm 2005

Trang 20

Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Luật Giáo dục năm 2005, Điều 2 đã xác định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm

mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng nhu cầu của

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường phổ thông là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới

Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở Tiểu học và Trung học Việc giáo dục KNS cho HS ở các nước được thực hiện theo ba hình thức:

- KNS là một môn học riêng biệt

- KNS được tích hợp vào một vài môn học chính

- KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình Như vậy, có thể thấy việc giáo dục KNS cho HS trong các trường phổ thông là rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự hình thành nhân cách HS, đồng thời cũng phù hợp với sự phát triển chung của xu thế giáo dục trên thế giới

1.1.2.3 Nội dung giáo dục KNS trong nhà trường phổ thông

Theo định hướng giáo dục KNS trong nhà trường phổ thông hiện nay như đã phân tích ở trên, chúng tôi phân loại được các nhóm KNS với các KN thành phần như sau:

Trang 21

16 KN tìm kiếm và xử lí thông tin

17 KN tư duy phê phán

18 KN tư duy sáng tạo

19 KN ra quyết định

20 KN giải quyết vấn đề

21 KN quản lí thời gian

(Bảng 1.1 Bảng phân loại các nhóm KNS cơ bản đối với HS phổ thông)

Trong nhà trường phổ thông, nội dung giáo dục KNS cho HS tập trung vào các

KN tâm lí – xã hội là những KN được vận dụng trong các tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống Nội dung giáo dục KNS cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng lứa tuổi, cấp học, môn học, hoạt dộng giáo dục và điều kiện cụ thể Ngoài các KNS cơ bản trên, tùy theo đặc điểm vùng, miền, địa phương, GV có thể lựa chọn thêm một số KNS khác để giáo dục cho HS của trường, lớp cho phù hợp

1.1.2.4 Khả năng giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường THPT

Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh nhiệm

vụ hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác, môn Ngữ văn còn giúp HS có được những hiểu biết về xã hội, văn hóa, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người Với tính chất

là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp HS có năng lực ngôn ngữ để học tập, giao tiếp và nhận thức về xã hội và con người Với tính chất giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp HS bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếu để hoàn thiện nhân cách Vì thế, Ngữ văn là một môn học có những khả năng đặc biệt trong việc giáo dục các KNS cho HS Điều đó thể hiện qua các phương diện sau:

- Mục tiêu giáo dục của môn Ngữ văn ở trường THPT được xác định: Trang bị

cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, hệ thống về văn học và tiếng

Trang 22

Việt; Hình thành và phát triển các năng lực Ngữ văn, bao gồm: năng lực sử dụng tiếng Việt thể hiện ở 4 KN cơ bản (nghe, nói, đọc, viết), năng lực tiếp nhận văn học, năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tự học và năng lực thực hành ứng dụng; Bồi dưỡng cho

HS tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa; tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước; lòng

tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; lí tưởng xã hội chủ nghĩa; tinh thần dân chủ, nhân văn; nâng cao ý thức trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc tế; ý thức tôn trọng, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại Mục tiêu và nội dung môn Ngữ văn đã chứa đựng những yếu tố của giáo dục KNS, phù hợp với các nội dung cơ bản của giáo dục KNS (bao gồm KN tư duy sáng tạo: nêu vấn đề, tìm kiếm

và xử lí thông tin: bình luận, phân tích đối chiếu, phê phán, bác bỏ; KN hợp tác nhóm: thảo luận, phân tích đối chiếu, phê phán, bác bỏ; KN hợp tác nhóm: thảo luận, tham gia hiệu quả; KN giao tiếp: lắng nghe, phản hồi, trình bày…), phù hợp với cách tiếp cận làm thay đổi hành vi của người học trên cơ sở nhận thức về các vấn đề của cuộc sống Vì vậy có thể triển khai giáo dục KNS vào các nội dung của môn Ngữ văn mà không cần phải đưa thêm thông tin, kiến thức làm nặng thêm nội dung môn học

- Bản chất công cụ của môn Văn trong nhà trường: Một trong những đặc điểm của

môn Ngữ văn ở trường phổ thông, với tính chất là môn học công cụ, là có thể kết hợp nhiều nội dung giáo dục trong quá trình dạy học Bên cạnh nội dung cốt lõi, mang tính chất ổn định của môn học là các nội dung giáo dục mang tính thời sự xã hội (giáo dục tình cảm nhân văn, trách nhiệm của thanh niên HS trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giáo dục về truyền thống dân tộc, về tình bạn tình yêu và gia đình; về vấn đề lập nghiệp; về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; giáo dục bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng chống HIV/AIDS, giáo dục sức khỏe, giáo dục giới tính,…) nhằm đáp ứng yêu cầu hình thành ở HS quan hệ ứng xử đúng đắn với những vấn đề của cuộc sống, đất nước, thời đại; giúp HS có đủ bản lĩnh hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa Vì vậy việc giáo dục KNS vào môn Ngữ văn là điều có thể thực hiện và phù hợp với xu thế dạy học Ngữ văn hiện nay

- Yêu cầu thực tiễn: Việc giáo dục các chuẩn mực xã hội, các KNS không thể chỉ

xuất phát từ yêu cầu của những người làm chương trình và những nhà giáo dục mà phải xuất phát từ quyền lợi và nhu cầu phát triển của HS Cách tiếp cận giáo dục KNS giúp cho HS có những KN cần thiết để sống an toàn, lành mạnh, có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển, làm cho HS tích cực, hứng thú học tập, lĩnh hội các tri thức, chuẩn

Trang 23

mực một cách chủ động, tự giác Việc giáo dục KNS trong môn Ngữ văn được tiếp cận theo hai phương diện: từ nội dung các bài học và từ phương pháp triển khai các nội dung bài học Nhiều bài học của môn Ngữ văn hướng đến việc giúp HS nhận thức được các giá trị trong cuộc sống, hình thành lối sống, cách ứng xử có văn hóa trong các tình huống giao tiếp đa dạng của cuộc sống Mặt khác, các KNS còn được giáo dục thông qua phương pháp học tập tích cực, dựa trên sự tương tác giữa nội dung bài học với những hiểu biết, kinh nghiệm vốn có của bản thân người học và quá trình đối thoại, tương tác giữa người học với nhau để thực hành, vận dụng linh hoạt vào các tình huống trong cuộc sống phù hợp với lứa tuổi

Như vậy, có thể khẳng định được rằng việc giáo dục KNS trong môn Ngữ văn là

có nhiều ưu thế Quá trình học tập môn học theo hướng nhấn mạnh tới KNS trong trường phổ thông có khả năng tạo điều kiện giúp HS nâng cao năng lực lĩnh hội trong học tập, hình thành thái độ, hành vi và giúp các HS có động lực tìm hiểu, cân nhắc các chọn lựa và có quyết định đúng đắn để giải quyết vấn đề cũng như có cơ hội thuận lợi

để rèn luyện các KN ứng xử hiệu quả

1.1.2.5 Mục tiêu giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở THPT

Giáo dục KNS thông qua các giờ học Ngữ văn theo phương pháp tích cực ở trường THPT nhằm giúp HS:

- Về kiến thức:

+ Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng như những giá trị tốt đẹp của nhân loại; góp phần củng cố, mở rộng và bổ sung, khắc sâu kiến thức đã học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội, về định hướng nghề nghiệp

+ Nhận thức được sự cần thiết của các KNS giúp cho bản thân sống tự tin, lành mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất và tinh thần của bản thân và người khác

+ Nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho các KNS

Trang 24

+ Có KN quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trước những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn và lành mạnh của cuộc sống (tệ nạn xã hội, HIV/AIDS, bạo lực, nạn xâm hại tinh thần, thể xác…); giúp HS phòng ngừa những hành vi, nguy cơ có hại cho sự phát triển của cá nhân

+ Có ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và

xã hội; có ý thức định hướng nghề nghiệp

1.1.3 Giáo dục KNS cho HS THPT thông qua dạy học VBND

1.1.3.1 Khái niệm văn bản nhật dụng

Về văn bản nhật dụng, sách giáo khoa Ngữ văn 9 [tr.94] đã chỉ rõ “khái niệm văn

bản nhật dụng không phải là khái niệm thể loại, cũng không chỉ kiểu văn bản Nó chỉ

đề cập tới chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung văn bản” Cách lý giải này

thật ra vẫn chưa trọn vẹn và còn gây nhiều tranh cãi nhưng có thể hiểu đây là những bài viết đề cập, bàn luận, thuyết minh, tường thuật, đánh giá… những vấn đề hiện tượng gần gũi, bức xúc với đời sống con người và cộng đồng như môi trường, văn hóa,

tệ nạn xã hội, giữa gìn bản sắc dân tộc Văn bản nhật dụng là loại văn bản không sử dụng hư cấu, tưởng tượng, với hai đặc điểm chính là tính cập nhật và tính thực tiễn, được thể hiện qua nội dung và hình thức văn bản Đặc trưng này giúp văn bản nhật dụng hấp dẫn người đọc không chỉ ở hoạt động đọc – hiểu như những văn bản khác

mà còn kích thích khả năng tìm kiếm số liệu, thông tin liên quan, những đánh giá, nhìn nhận về các vấn đề tương tự diễn ra trong đời sống của họ Văn bản nhật dụng như chiếc cầu nối giữa người học với thực tiễn

1.1.3.2 Đặc điểm của văn bản nhật dụng

Dựa vào những hiểu biết về VBND ở trên, chúng ta có thể thấy VBND có những đặc điểm riêng về nôi dung và hình thức

- Nội dung:

với những vấn đề cơ bản của cộng đồng Cái thường nhật gắn với những vấn đề lâu dài

Trang 25

của sự phát triển lịch sử xã hội

đại chúng nhắc đến, được xã hội và địa phương quan tâm như tệ nạn xã hội, văn hóa, chính trị, giáo dục, đào tạo, môi trường, chiến tranh…

Đảng và Nhà nước, của nhiều thông báo, công bố của các tổ chức quốc tế

- Hình thức:

phương thức biểu đạt trong một văn bản)

là trong các văn bản báo chí, chính luận, các thể loại ký…

1.1.3.3 Hệ thống các bài VBND và khả năng tích hợp giáo dục KNS

Như trên đã phân tích, khi vấn đề xác định phạm vi của khái niệm “nhật dụng‟ còn gây nhiều tranh cãi và chưa thống nhất, thì việc xác định và chọn lọc các bài VBND chỉ là tương đối Từ sự phân tích và đối chiếu với các tiêu chí về đặc điểm bài học, chúng tôi xác định được bảng hệ thống VBND và các KNS tương ứng sau:

- KN tự nhận thức ý nghĩa, giá trị trong quan niệm của người xưa về vị trí của bậc hiền tài đối với đất nước

- KN giao tiếp, phản hồi/ lắng nghe tích cực, trình bày suy nghĩ/ ý tưởng

về ý nghĩa, giá trị của những người hiền tài đối với đất nước

- Xác định trách nhiệm cá nhân đối với đất nước, dân tộc

Lớp 11

hội ở nước ta

Vấn đề giữ gìn đạo đức và luân lý xã hội

- KN tự nhận thức: tinh thần yêu nước, tư tưởng tiến bộ của Phan Chu Trinh khi kêu gọi gây dựng nền luân

lí xã hội cho đất nước

Trang 26

- KN tư duy sáng tạo: phân tích, bình luận về nghệ thuật viết văn chính luận của tác giả qua văn bản

- KN giao tiếp, thuyết trình: thông qua làm việc nhóm, trả lời câu hỏi của

GV, bày tỏ ý kiến, thuyết trình về các nội dung của bài

- KN ra quyết định: xác định những việc cá nhân và xã hội cần phải làm

để giữ gìn đạo đức, luân lý xã hội trong bối cảnh mở cửa hội nhập quốc

- KN tự nhận thức: nhận thức được vai trò của tiếng nói dân tộc trong đời sống xã hội, đời sống văn hóa tinh thần cá nhân và dân tộc

- KN đảm nhận trách nhiệm: sự tự tin, chủ động và giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng một nền văn hóa riêng của nước nhà, ý thức giữ gìn tiếng nói dân tộc

Lớp 12

độc lập

Vấn đề chủ quyền đất nước

- KN tư duy sáng tạo: phân tích, bình luận về ý nghĩa lịch sử và nghệ thuật chính luận của bản tuyên ngôn

- KN tự nhận thức: nhận thức được Đảng và Chính phủ đã có những quyết sách đúng đắn, sáng suốt để đưa đất nước vượt qua gian khó

- KN đảm nhận trách nhiệm: nghĩa vụ

Trang 27

của công dân trong những ngày đầu thành lập nước Việt Nam mới

- KN ra quyết định: xác định và khẳng định mong muốn mọicông dân phải bảo

vệ đất nướccủa Đại tướng Võ Nguyên Giáp, làm những gì mà Đảng và Chính phủ chưa làm được, từ đó đưa ra kế hoạch hành động cho bản thân

xã hội

- KN tự nhận thức về tính chất nóng bỏng của cuộc chiến đấu phòng chống AIDS hiện nay trên thế giới, từ đó xác định được trách nhiệm của mỗi cá nhân khi tham gia vào cuộc chiến đấu này

- KN ra quyết định: xác định những việc cá nhân và xã hội cần làm để góp phần vào cuộc chiến đấu chống lại căn bệnh thế kỉ

- KN giao tiếp: trình bày, trao đổi về hiện trạng của chiến đấu phòng chống AIDS hiện nay và những việc cần làm

để góp phần vào cuộc chiến này

văn hóa dân tộc

Vấn đề giữ gìn, bảo tốn và phát huy vốn văn hóa dân tộc

- KN tự nhận thức về những mặt tích cực

và một số hạn chế của văn hóa truyền thống dân tộc được phân tích trong văn bản; có ý thức phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để hội nhập với thế giới trong thời đại ngày nay

- KN tư duy sáng tạo: phân tích, bình luận về quan điểm của tác giả về những ưu điểm, nhược điểm của văn hóa truyền thống Việt Nam

(Bảng 1.2 Bảng hệ thống các VBND và khả năng tích hợp KNS)

Trang 28

Mục đích điều tra: Thu thập thông tin, phân tích, đánh giá thực trạng dạy học

VBND tích hợp giáo dục KNS cho học sinh

Nội dung điều tra:

+ Tìm hiểu thực trạng nhận thức và nhu cầu cần được giáo dục KNS của học sinh và thực trạng dạy học VBND tích hợp giáo dục KNS cho học sinh của giáo viên nhà trường

+ Điều kiện dạy học: cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho học tập nói chung

và học tập Ngữ văn nói riêng

+ Sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo: Ban giám hiệu, tổ chuyên môn…

Phương pháp điều tra

- Phương pháp quan sát và phỏng vấn trực tiếp

- Phương pháp điều tra dùng phiếu hỏi HS, phiếu xin ý kiến GV

- Phân tích, xử lý số liệu, tổng hợp

Đối tượng và phạm vi điều tra: Chúng tôi trực tiếp khảo sát tại trường THPT

Mai Sơn với các đối tượng cụ thể: 12 GV trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn và 100 học

sinh trường THPT Mai Sơn

1.2.1.1 Kết quả khảo sát nhận thức của HS về KNS

Với câu hỏi: Em hiểu thế nào là KNS?, chúng tôi thu được kết quả như sau:

KNS là những thái độ, phẩm chất đạo đức của con người được

KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng

(Bảng1.3 Bảng khảo sát nhận thức của HS về KNS)

Trang 29

Trừ những trường hợp “không biết”, trong hai cách hiểu về KNS trên, cách hiểu

“KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và xã hội…” là cách hiểu đúng về KNS Theo bảng số liệu trên có thể thấy phần lớn HS trường THPT Mai Sơn đã có nhận thức đúng về nội hàm của khái niệm KNS (80%) Đây là tín hiệu đáng mừng cho thấy vấn đề KNS cũng đã được

HS THPT quan tâm có sự chủ động nhận thức về vấn đề này Bên cạnh đó, còn 3% không biết và 17% HS hiểu KNS là những thái độ, phẩm chất… đây là cách hiểu chưa đầy đủ về KNS

Để làm rõ hơn về thực trạng nhận thức của HS về KNS, chúng tôi đưa ra một số

KN cơ bản bao gồm cả KN làm việc và KN sống để HS lựa chọn, phân biệt đâu là KNS, đâu là KN làm việc Với việc điều tra và khảo sát thì 52% HS đã phần nào hiểu

và nắm bắt được các KNS cơ bản Nhưng bên cạnh đó tỉ lệ chưa hiểu về các KNS vẫn còn cao (48%) Qua đây ta có thể thấy số HS chọn sai có thể là do các em chưa được học về KNS hoặc trong nhà trường có kết hợp với môn học để truyền đến các em nhưng chỉ nhắc đến đôi khi và không nhắc đến khiến các em không biết thực chất KNS

là gì? Không nắm được kiến thức về những KN cơ bản trong KNS và nhầm lẫn với các

KN làm việc Qua đó, nhà trường và các thầy cô giáo cần phải tích hợp KNS vào môn học và chỉ rõ đặc trưng bản chất của KNS để HS nắm bắt được, hiểu về KNS

1.2.1.2 Nhu cầu được giáo dục về KNS ở HS THPT

Ở nội dung này, chúng tôi đặt ra câu hỏi “Các em đánh giá mình cần được giáo

dục KNS ở mức độ nào?” và đưa ra các mức độ rất cần thiết, cần thiết, bình thường và

không cần thiết để HS lựa chọn theo suy nghĩ cá nhân Kết quả thu được cho thấy phần lớn HS đều nhận thấy nhu cần được giáo dục KNS là rất cần thiết chiếm 26%, cần thiết chiếm 52%, bình thường (có cũng được, không có cũng không sao) chiếm 16%

và 6% cho rằng không cần thiết Qua đây có thể thấy phần lớn HS đã nhận thức được nhu cầu được giáo dục KNS cho mình Với xã hội hiện đại kèm theo rất nhiều tiêu cực xảy ra thì KNS có vai trò vô cùng cần thiết để HS có thể thích ứng được với đời sống

và thấy rõ được những lợi ích mà KNS đem lại Bên cạnh đó mức chọn tỉ lệ bình thường và không cần thiết cũng chiếm tỉ lệ đáng kể Vậy giáo dục cần đẩy mạnh tích cực hơn nữa việc tích hợp KNS trong giảng dạy, đặc biệt là môn Ngữ văn

1.2.1.3 Đánh giá về môi trường giáo dục KNS của HS

Để làm rõ hơn vai trò của các yếu tố gia đình, nhà trường, xã hội trong việc giáo

Trang 30

dục KNS cho HS, chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Em thấy mình được giáo dục KNS nhiều

nhất trong môi trường nào”, và thu được kết quả:

(Bảng 1.4 Bảng đánh giá môi trường giáo dục KNS của HS)

Có thể thấy rõ sự chênh lệch trên qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 1.1 Đánh giá môi trường tác động đến KNS của HS

Từ bảng trên có thể thấy HS tự nhận thấy mình học được nhiều KNS nhất trong môi trường xã hội (54%), đặc biệt là trong giao tiếp với bạn bè, trong khi đó, giáo dục KNS ở nhà trường chỉ chiếm 25%, gia đình 21% Do xã hội ngày càng phát triển kèm theo đó là khu vui chơi giải trí, thông tin khoa học được cập nhật nhanh nên hầu hết HS học được nhiều KNS trong xã hội Tuy nhiên, mặt trái của những tác động từ môi trường xã hội, bạn bè là những tác động không có định hướng, các em chưa đủ năng lực

và kĩ năng để tiếp nhận cái tốt, đào thải cái xấu Vì vậy, nhà trường và gia đình cần phải quan tâm kết hợp và chú ý đến việc rèn luyện KNS cho các em bằng cách kết hợp hài hòa giữa giáo dục kiến thức với giáo dục đạo đức cho HS

1.2.2 Thực trạng dạy học tích hợp giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường THPT Mai Sơn, tỉnh Sơn La

1.2.2.1 Khảo sát qua phiếu hỏi của học sinh

Để khảo sát, chúng tôi đặt câu hỏi: Các thầy cô có thường xuyên kết hợp giáo dục

KNS trong các bài dạy VBND cho các em không?

Trang 31

(Bảng 1.5 Bảng đánh giá của HS về mức độ được giáo dục KNS qua môn Ngữ văn)

Từ bảng số liệu trên, có thể thấy việc tích hợp rèn luyện KNS cho HS trong nhà trường vẫn chưa đồng nhất Tỉ lệ HS cho rằng GV thường xuyên tích hợp rèn luyện KNS chiếm 20%, ít hơn tỉ lệ tích hợp trong một số giờ học (41%) Bên cạnh đó, còn 34% thầy cô chỉ nhắc đến vấn đề KNS khi còn thừa thời gian của tiết học và cũng có đến 5% HS cho rằng hầu như GV không định hướng giáo dục KNS cho các em Kết quả này cho thấy nhà trường cần có những kế hoạch hành động và định hướng chương trình cụ thể hơn nữa đến với GV để việc giáo dục KNS cho HS qua môn Ngữ văn được đồng bộ và hiệu quả hơn

1.2.2.2 Khảo sát qua phiếu hỏi và phỏng vấn giáo viên

Đánh giá về mức độ cần thiết của việc giáo dục KNS cho học sinh qua môn Ngữ văn, tất cả 12/12 giáo viên tổ Ngữ văn trường THPT Mai Sơn đều nhận thấy việc giáo dục KNS cho học sinh là cần thiết Trong đó 7/12 giáo viên cho rằng rất cần thiết Các giáo viên cho rằng KNS không chỉ cần thiết cho học sinh trong học tập mà còn giúp các em có những cách ứng xử phù hợp khi giao tiếp xã hội, đặc biệt khi đối mặt với những khó khăn thách thức trong cuộc sống

Khi khảo sát mức độ tổ chức dạy học văn bản nhật dụng đã kết hợp với rèn luyện các KNS cho học sinh của GV, chúng tôi nhận thấy hầu hết giáo viên cho rằng chỉ đôi khi trong một số bài học họ có hướng đến giáo dục KNS, còn lại hầu như ít nhắc đến hoặc nhắc đến một cách qua loa, đại khái Phần lớn GV chưa có những kế hoạch hành động và định hướng chương trình cụ thể hơn nữa đến với học sinh việc giáo dục KNS cho HS qua môn Ngữ văn được đồng bộ, thường xuyên và hiệu quả hơn

Khi tổ chức giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học VBND, thầy cô thường dựa vào cơ sở học hỏi từ đồng nghiệp để thiết kế bài học (6/12); 4/5 bằng kinh nghiệm bản thân và 2/5 từ tham khảo các tài liệu Các GV đều cho rằng họ có quá ít tài liệu định

Trang 32

hướng giáo dục KNS qua môn học, ít được tham gia các chương trình bồi dưỡng, tập huấn về DHTH, đặc biệt là tích hợp giáo dục KNS Và trong quá trình tổ chức dạy học, để giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học VBND, thầy cô thường sử dụng biện pháp thông qua các câu hỏi liên hệ từ nội dung của bài học là chính Thầy cô chưa có

sự tiếp cận và sử dụng các phương pháp/kỹ thuật dạy học tích cực; sử dụng phương pháp dạy học truyền thống chưa có sự cách tân, đổi mới trong dạy học

1.2.3 Nguyên nhân của thực trạng

Lí giải về các nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, chúng tôi nhận thấy, điều khó khăn nhất để tổ chức dạy học VBND tích hợp giáo dục KNS cho học sinh là về phía giáo viên cho rằng thực hiện tổ chức KNS cho học sinh chỉ bằng kinh nghiệm bản thân

và học hỏi đồng nghiệp nên còn mang tính chủ quan nhiều Chưa vận dụng được các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực vào bài học để có kết quả tốt hơn và chưa có phương pháp dạy học văn bản nhật dụng tích hợp giáo dục KNS cụ thể, phổ biến rộng rãi cho giáo viên Còn về phía học sinh gặp khó khăn do học sinh chưa linh hoạt vận dụng KNS khi thầy cô đưa ra, một số học sinh chưa dám trình bày suy nghĩ, quan điểm bản thân cho vấn đề giáo viên đưa ra Kiến thức hiểu biết chưa sâu rộng nên việc thực hiện KNS chưa thật hiệu quả

Thực tế dạy học ở trường THPT Mai Sơn cho thấy, việc lựa chọn phương pháp tích hợp KNS trong dạy học VBND ở GV còn gặp khó khăn, do trình độ của HS THPT chưa đồng đều Khi tổ chức dạy học, GV chú trọng quá sâu đến văn bản như thể loại bút kí, chỉ chú ý khai thác và bình luận trên phương diện nghệ thuật như: sự kiện, nhân vật, cách kể, ngôi kể… mà chưa quan tâm đến việc liên hệ thực tiễn, chưa có sự tích hợp KNS trong văn bản nhật dụng, những văn bản thực tiễn nhất, gắn bó với đời sống hàng ngày của con người HS thì chưa có kỹ năng vận dụng thậm chí còn một số học sinh chưa có kiến thức về KNS, khả năng vận dụng, cảm thụ của mỗi em cũng khác nhau HS THPT Mai Sơn còn nhiều em là thành phần dân tộc thiểu số nên nhận thức, giao tiếp, khả năng ngôn ngữ còn có giới hạn cũng tác động đến hiệu quả dạy học

Trang 33

kết hợp với các cấp quản lý để đề ra những biện pháp, phương pháp đưa dạy học bài học nhật dụng tích hợp giáo dục KNS cho HS trong môn Ngữ văn phải thường xuyên

vì hầu như KNS các em học được là ở xã hội mà bộ môn Ngữ văn là môn học thuộc bộ môn xã hội bao gồm mọi lĩnh vực, mọi vấn đề đều được cập nhật đến trong bộ môn này GV vừa kết hợp dạy kiến thức nội dung bài học vừa kết hợp dạy KNS là điều kiện thuận lợi và nhanh nhất sự truyền thụ KNS tới HS Bên cạnh đó, trường thuộc địa bàn vùng núi là nơi thường xuyên xảy ra nhiều tệ nạn như buôn bán trẻ em, buôn bán ma túy, tiêm chích ma túy,… và trình độ hiểu biết còn thấp nên việc tích hợp KNS vào bài học là việc rất quan trọng và rất cần thiết Cần phải áp dụng ngay và thường xuyên vào chương trình giảng dạy của nhà trường để giúp các em có những KNS cần thiết để ứng phó với các vấn đề đời sống xung quanh Đây cũng là những căn cứ sát thực để chúng tôi tiến hành xây dựng các biện pháp giáo dục KNS cho HS thông qua dạy học các bài VBND

Trang 34

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG TÍCH

HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT

2.1 Các nguyên tắc chỉ đạo việc đề xuất biện pháp

Theo định hướng chương trình giáo dục KNS cho học sinh THPT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc lồng ghép tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT phải tuân theo các nguyên tắc sau:

2.1.1 Tương tác

KNS không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác Việc nghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhận thức về một vấn đề nào đó Nhiều KNS được hình thành trong quá trình học sinh tương tác với bạn cùng học và những người xung quanh (kĩ năng thương lượng, kĩ năng giải quyết vấn đề…) thông qua các hoạt động có tính tương tác, học sinh có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNS hiệu quả [7, tr.14]

2.1.3 Tiến trình

Giáo dục KNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức – hình thành thái độ - thay đổi hành vi Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu trình mới Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất

kì mắt xích nào trong chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ [7, tr.14]

2.1.4 Thay đổi hành vi

Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng

Trang 35

tích cực Giáo dục KNS thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ

và hành động của mình Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là một quá trình khó khăn, không đồng thời Có thời điểm người học lại quay trở lại những thái độ, hành vi hoặc giá trị trước Do đó, GV cần kiên trì và tổ chức các hoạt động liên tục để học sinh duy trì hành vi mới và có thói quen mới; tạo động lực cho học sinh điều chỉnh hoặc thay đổi , thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ và hành vi mới GV không nhất thiết phải luôn luôn tóm tắt bài “hộ” học sinh, mà cần tạo điều kiện cho học sinh tự tóm tắt những ghi nhận cho bản thân sau mỗi giờ học /phần học.[7, tr.14]

2.1.5 Thời gian – môi trường giáo dục

Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức và kĩ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống

Giáo dục KNS được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng Người tổ chức giáo dục KNS có thể là bố mẹ, là thầy cô, là bạn cùng học hay các thành viên cộng đồng Trong nhà trường phổ thông, giáo dục KNS được thực hiện trên các giờ học, trong các hoạt động lao động, hoạt động đoàn thể - xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục khác [7, tr.15]

2.2 Một số biện pháp tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học VBND

Dựa trên kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn của chương 1 và các nguyên tắc

đề xuất biện pháp đã được trình bày ở trên, chúng tôi xây dựng một số biện pháp dạy học VBND tích hợp với giáo dục KNS cho học sinh THPT như sau:

2.2.1 Tổ chức hoạt động giao tiếp, đối thoại đa dạng, phong phú trong giờ học

Tổ chức hoạt động đối thoại đa dạng là tổ chức hoạt động giao tiếp xảy ra giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên; tổ chức nhiều, phong phú các hoạt động giao tiếp, trình bày và trao đổi với nhau để tìm ra phương hướng, ý nghĩa và giá trị của vấn đề cần trao đổi trong giờ học Trong giờ đọc hiểu văn bản, việc tổ chức hoạt động giao tiếp, đối thoại giữa giáo viên và học sinh là hoạt động cơ bản và chiếm vai trò vô cùng quan trọng Tuy nhiên, đối với VBND, với đặc điểm nội dung đặt ra các vấn đề liên quan đến đời sống hàng ngày thì hoạt động giao tiếp, đối thoại đó càng có hiệu quả và ý nghĩa

a) Mục đích, ý nghĩa của biện pháp

Việc tổ chức hoạt động giao tiếp đa dạng trong giờ học sẽ đề cao và phát huy vai

Trang 36

trò tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh Trong dạy học truyền thống, hoạt động giao tiếp thường diễn ra một chiều từ giáo viên đến học sinh Còn trong giờ học với các hoạt động đối thoại đa dạng, học sinh sẽ được tham gia vào quá trình giao tiếp nhiều chiều với tư cách là những đối tượng giao tiếp bình đẳng trong một không khí học tập cởi mở và có định hướng Chúng tôi đưa ra hai biểu đồ so sánh như sau để thấy rõ sự khác biệt giữa hoạt động dạy học truyền thống và dạy học tích cực:

Dạy học truyền thống:

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ mô phỏng hình thức dạy học truyền thống

Dạy học với hoạt động đối thoại đa dạng:

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ mô phỏng hoạt động đối thoại đa dạng

Có thể thấy, trong hoạt động đối thoại theo hướng tích cực, học sinh được tham gia vào quá trình giao tiếp nhiều chiều với vai trò chủ động, tích cực Giờ học trở thành những những cuộc đối thoại bình đẳng, phong phú, sinh động giữa những người đọc văn trong một không khí học tập cởi mở, có định hướng Đó là những cuộc đối thoại giữa giáo viên với học sinh (giáo viên – học sinh, học sinh – giáo viên, giáo viên – nhóm, nhóm – giáo viên), học sinh với học sinh (cá nhân – cá nhân, cá nhân – nhóm, nhóm – cá nhân, nhóm – nhóm….) Học sinh được nói lên tiếng nói cảm nhận, ý kiến, đánh giá về một vấn đề được giáo viên đặt ra trong giờ học, thảo luận để tìm ra cách giải quyết Đồng thời, có sự đóng góp, bổ sung rất tích cực của người khác hay một nhóm khác trong cuộc đối thoại Thông qua các tổ chức các kiểu đối thoại này, học sinh hình thành và rèn luyện được kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kỹ năng thể hiện sự tự tin trước đám đông và kỹ năng hợp tác làm việc tập thể, kĩ năng giải quyết xung đột và kĩ năng quyết định khi đứng trước một tình huống, một vấn đề

b) Cách thức thực hiện biện pháp

Trong giờ đọc hiểu, thay vì giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản

Giáo viên

Học sinh

Học sinh

Học sinh Giáo viên

Giao tiếp

Giao tiếp

Trang 37

bằng phương pháp thuyết trình, thông báo - giải thích hoặc hỏi đáp đơn thuần thì giáo viên có thể tổ chức các hoạt động đối thoại đa dạng dưới nhiều hình thức như:

- Đối thoại giáo viên – học sinh/nhóm: Giáo viên đưa ra câu hỏi/ vấn đề với học sinh/nhóm, học sinh chia sẻ nhận thức, suy nghĩ của mình với giáo viên

- Đối thoại học sinh – học sinh: Giáo viên đặt ra tình huống hoặc yêu cầu một học sinh tự đặt câu hỏi theo vấn đề thảo luận, mời một học sinh khác trả lời, hai học sinh tranh luận bảo vệ ý kiến của mình Hoặc tổ chức đối thoại giữa các nhóm: các nhóm đưa ra vấn đề cho nhóm khác trả lời và phản biện, thảo luận

- Đối thoại học sinh – giáo viên: giáo viên cho phép, khuyến khích học sinh đưa

ra câu hỏi/tình huống/vấn đề về nội dung bài học với giáo viên, giáo viên chia sẻ suy nghĩ, kinh nghiệm của mình với học sinh một cách cởi mở, dân chủ Theo quan sát và

dự giờ, phỏng vấn giáo viên và học sinh, chúng tôi thấy trong các giờ đọc hiểu nói chung và đọc hiểu VBND nói riêng, rất ít khi giáo viên khuyến khích hoặc tạo điều kiện cho học sinh được đưa ra câu hỏi hoặc tình huống mang tính tranh luận với giáo viên Nguyên nhân có thể do tư tưởng giáo viên “luôn đúng” còn đang tồn tại, làm cản trở tư duy phản biện, tranh luận và khả năng liên tưởng sáng tạo của học sinh

Kết thúc cuộc đối thoại, bao giờ giáo viên cũng là người cuối cùng tổng kết, đưa ra nhận xét, đánh giá và kết luận chung về nội dung tranh luận

c) Ví dụ minh họa

Khi dạy học bài “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 2003” (Cô-Phi An-Nan, Ngữ văn 12, tập 1) Khi tiến hành tìm hiểu phần “Xác định nhiệm vụ phòng chống AIDS của toàn nhân loại”, giáo viên có thể tạo ra các hoạt động đối thoại sau:

1-12-a) Đối thoại giáo viên – học sinh

Giáo viên nêu yêu cầu: mỗi học sinh suy nghĩ về câu văn “Trong thế giới khốc

liệt của AIDS, không có khái niệm “chúng ta” và “họ” Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết” và yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi:

- Xác định các chủ thể “chúng ta” và “họ” trong câu nói trên? Tại sao tác giả lại nói “im lặng đồng nghĩa với cái chết”?

- Tác giả đã xác định nhiệm vụ phòng chống HIV/AIDS của toàn nhân loại như thế nào?

Trang 38

- Cá nhân em có suy nghĩ gì về trách nhiệm và hành động phòng chống HIV/AIDS của bản thân?

Học sinh sẽ suy nghĩ, liên hệ với thực tế và trình bày ý tưởng cá nhân, cần thể hiện được những suy nghĩ chân thành về trách nhiệm và hành động cụ thể phòng chống HIV/AIDS Sau khi học sinh nêu ra được quan điểm của mình, giáo viên cần chốt lại được AIDS không phải là vấn đề của một/một vài người mà là vấn đề của cả nhân loại; không thể im lặng, lảng tránh trách nhiệm hay kì thị với những người nhiễm HIV, bởi nguy cơ nhiễm HIV có thể xảy ra với bất kì ai nếu không biết cách phòng tránh đúng; Mỗi người cần có những hành động cụ thể để hưởng ứng lời kêu gọi “hãy sát cánh bên tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chính các bạn” của tác giả

b) Đối thoại học sinh – học sinh

Giáo viên sử dụng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề (sẽ trình bày kỹ ở phần

sau) đặt ra tình huống cho các học sinh/nhóm học sinh thảo luận, ví dụ: “Giả sử trong

buổi chiều ở nhà một mình, đứng trên cửa sổ tầng 2 em vô tình phát hiện anh con trai bác hàng xóm đang hít heroin cùng một thanh niên khác không quen biết phía sau nhà

em Con trai người hàng xóm ấy đã trông thấy em và có ý định dụ dỗ em “hít” thử

Em sẽ xử lý tình huống ấy như thế nào?” Giáo viên tổ chức cho các nhóm thảo luận,

đưa ra các cách xử lý khác nhau và tranh luận, phản biện lẫn nhau để tìm ra cách giải quyết phù hợp nhất

Một hình thức khác, giáo viên có thể tổ chức cho cá nhân hoặc các nhóm học sinh tự suy nghĩ, đưa ra một tình huống để các học sinh khác hoặc các nhóm khác suy nghĩ trả lời, đưa ra cách giải quyết phù hợp Hoạt động này sẽ kích thích khả năng tìm tòi, suy nghĩ, vận dụng liên hệ thực tiễn đời sống của học sinh, học sinh suy nghĩ tìm

ra cách giải quyết sẽ giúp hình thành kĩ năng xử lý tình huống, ứng phó với rủi ro (học sinh sẽ có kinh nghiệm nếu chẳng may sau này có rơi vào tình huống đó), kĩ năng ra quyết định giải quyết vấn đề

Cuối cuộc tranh luận, giáo viên cũng sẽ là tổng kết, nhận xét ưu điểm, hạn chế của từng cách giải quyết và kết luận cách giải quyết phù hợp Với ví dụ trên, bạn nhỏ

đó cần phải nhanh trí lấy lí do đang bận học hoặc chuẩn bị đi đâu đó không xuống được, rồi nhanh chóng báo cho bố mẹ mình để bố mẹ có cách phối hợp với gia đình bác hàng xóm và chính quyền giáo dục, vận động người con trai và thanh niên lạ mặt kia từ bỏ ma túy trở lại cuộc sống bình thường

Trang 39

c) Đối thoại học sinh – giáo viên

Giáo viên khuyến khích, cho phép học sinh đưa ra câu hỏi, tình huống hoặc quan điểm của mình để giáo viên trả lời Đôi khi, việc yêu cầu học sinh đưa ra tình huống/câu hỏi cho học sinh sẽ gặp phải trở ngại bởi tâm lý e dè, ngại hỏi/sợ hỏi cô giáo của học sinh Để khắc phục khó khăn đó, giáo viên có thể sử dụng một trong các cách thức sau:

- Phát những mảnh giấy nhỏ cho học sinh, đề nghị học sinh viết tình huống ra giấy để hỏi nếu có

- Vận dụng kỹ thuật 3-2-1: đề nghị học sinh viết ra 3 điều học được từ bài học, 2 điều tâm đắc nhất và 1 câu hỏi liên hệ thực tế/tình huống khó cần xử lý Từ câu hỏi thắc mắc đó, giáo viên vận dụng hiểu biết, kinh nghiệm của mình giúp học sinh xử lý Ví dụ,

học sinh có thể hỏi “Em tình cờ phát hiện ra một người bạn của em có bố bị nhiễm HIV,

và bạn ấy cũng bị nhiễm HIV từ bố mẹ Trước đây em rất thân với bạn nhưng từ khi em biết được bí mật đó, mặc dù rất quý mến bạn nhưng em không thể vượt qua sự kỳ thị để chơi với bạn Em phải làm gì?”

- Giáo viên dẫn dắt, tạo ra những mâu thuẫn trong câu trả lời của mình để “gài bẫy” học sinh, kích thích học sinh phát hiện ra mâu thuẫn đó để phản biện lại giáo viên

Như vậy, việc tạo ra các chủ đề đối thoại, tranh luận và tổ chức dưới nhiều hình thức sẽ giúp giáo viên và học sinh tạo được không khí cởi mở, sinh động trong giờ học, giúp việc tiếp nhận bài học của học sinh trở nên chủ động, tích cực hơn, qua đó học sinh rèn luyện cho mình được nhiều KNS bổ ích và thiết thực Ngoài ra, giáo viên

có thể kết hợp với một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực khác (sẽ trình bày kỹ

ở phần 2.3) để hoạt động diễn ra có hiệu quả hơn

2.2.2 Tạo ra các tình huống liên hệ thực tiễn

Tình huống liên hệ thực tiễn là những tình huống, sự việc có tính chất mâu thuẫn của thực tế đời sống có nội dung liên quan đến bài học, được vận dụng, liên hệ vào bài học Học sinh từ những kiến thức đã học từ bài học sẽ vận dụng để đưa ra quan điểm, suy nghĩ của mình về tình huống đó hoặc đưa ra cách giải quyết

a) Mục đích, ý nghĩa của biện pháp

Đặc điểm mang tính bản chất của VBND là có nội dung đề cập đến các vấn đề đời sống, xã hội xảy ra thường ngày xung quanh học sinh Do đó, khi tổ chức dạy học

Trang 40

đọc hiểu VBND, nếu giáo viên chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu các vấn đề đặt ra trong văn bản mà không liên hệ đến thực tiễn thì việc dạy học đó chưa triệt để Vấn đề giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học VBND thể hiện ở chỗ: khi giáo viên tổ chức liên hệ với đời sống từ văn bản, học sinh sẽ vận dụng những kiến thức được học từ bài học để giải quyết, qua đó hình thành kinh nghiệm, kĩ năng cho mình để giải quyết các tình huống tương tự khác trong đời sống…

Việc tổ chức giải quyết các tình huống trải nghiệm thường tạo cho học sinh tâm thế “nhập cuộc”, hứng thú, cảm thấy mình là người trong cuộc, cần phải thể hiện suy nghĩ và hành động cụ thể Qua những tình huống đó, học sinh dần dần hình thành kĩ năng giải quyết các vấn đề và điều chỉnh hành vi theo hướng hợp lí Một số tình huống khác còn yêu cầu học sinh phải tìm hiểu các số liệu, thống kê trong thực tế, phân tích

để tìm cách giải quyết, qua đó sẽ giúp học sinh phát triển được kĩ năng tìm kiếm, xử lý thông tin một cách có hiệu quả

b) Cách thức thực hiện biện pháp

Trong mỗi bài học, giáo viên nên tạo ra những tình huống có vấn đề, mang tính chất ứng dụng vào thực tế đời sống, rồi tổ chức cho học sinh tự giải quyết Việc giải quyết các tình huống như thế có thể được tổ chức theo hình thức cá nhân, theo cặp đôi hoặc theo nhóm Sau đó tiến tới thảo luận tập thể để đi đến một cách giải quyết tối ưu nhất

Sau khi đưa ra tình huống, tổ chức cho học sinh tự giải quyết vấn đề trên một tờ phiếu học tập, tất cả mọi người đều phải đưa ra chủ kiến của riêng mình Với hình thức

cá nhân, có thể chọn một số ý kiến (có thể để học sinh xung phong, cũng có khi chỉ định bất kì), gọi một học sinh khác đọc to các ý kiến đó lên cho cả lớp cùng nghe, cùng thảo luận, để thống nhất cách giải quyết tốt nhất Với hình thức nhóm, giáo viên

tổ chức cho từng nhóm thuyết trình về ý kiến của nhóm mình, các nhóm khác thảo luận, thống nhất cách giải quyết Vấn đề về sự gần gũi, thiết thực, học sinh càng chủ động tích cực và càng có hiệu quả rèn luyện KNS cho học sinh

c) Ví dụ minh họa

Tổ chức dạy học bài “Về luân lí xã hội ở nước ta” (Phan Châu Trinh, Ngữ văn

11, tập 2) Vấn đề nhật dụng được đặt ra trong văn bản là giữ gìn đạo đức và luân lí xã hội Văn bản đã được ra đời từ những năm 20 của thế kỷ XX nhưng tính thời sự, cập nhật của văn bản vẫn còn thấy rõ, nhất là trong thời đại vòng xoáy công nghiệp ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn hóa, đạo đức con người ngày nay Do đó, để giáo

Ngày đăng: 19/07/2017, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Bình (2003), “Giáo dục kỹ năng sống cho người học”, Tạp chí Thông tin KHGD, số 100/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống cho người học”, "Tạp chí Thông tin KHGD
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2003
2. Nguyễn Thanh Bình (2006), Giáo dục kỹ năng sống, Chuyên đề cao học, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2006
3. Nguyễn Thanh Bình (2008), Xây dựng và thực nghiệm một số chủ đề giáo dục kỹ năng sống cơ bản cho học sinh Trung học phổ thông, Đề tài KHCN cấp Bộ, Mã số B 2007-17-57, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và thực nghiệm một số chủ đề giáo dục kỹ năng sống cơ bản cho học sinh Trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2008
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Việt – Bỉ (2010), Dạy và học tích cực một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Việt – Bỉ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp ở trường THCS, THPT (Dùng cho cán bộ quản lý, giáo viên THCS, THPT), NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp ở trường THCS, THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2015
6. Lê Minh Châu (2003), UNICEF Việt Nam và Giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên, Báo cáo tại Hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống”, từ 23- 25/10/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: UNICEF Việt Nam và Giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên", Báo cáo tại Hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống
Tác giả: Lê Minh Châu
Năm: 2003
8. Nguyễn Việt Cường (2000), “Giáo dục kỹ năng sống là việc làm quan trọng và cần thiết”, Tạp chí AIDS và Cộng đồng, số 4/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống là việc làm quan trọng và cần thiết”, "Tạp chí AIDS và Cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Việt Cường
Năm: 2000
9. Lê Kim Dung (2003), Chương trình thực nghiệm giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống với sự hỗ trợ của UNICEF, Báo cáo tại Hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống”, từ 23-25/10/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình thực nghiệm giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống với sự hỗ trợ của UNICEF", Báo cáo tại Hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống
Tác giả: Lê Kim Dung
Năm: 2003
10. Dương Tự Đam (1999), Những phương pháp tiếp cận thanh niên hiện nay, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Những phương pháp tiếp cận thanh niên hiện nay
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 1999
11. Dương Thị Thúy Giang (2005), “Giáo dục môi trường ngoài giờ lên lớp”, Tạp chí giáo dục, 126/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục môi trường ngoài giờ lên lớp”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Dương Thị Thúy Giang
Năm: 2005
12. “Đào tạo hướng dẫn viên về kỹ năng sống cho trẻ em”, Báo Sài Gòn giải phóng, số 16/10/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo hướng dẫn viên về kỹ năng sống cho trẻ em”, "Báo Sài Gòn giải phóng
13. Nguyễn Thị Khiết (2000), Cẩm nang sinh hoạt cho học đường, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang sinh hoạt cho học đường
Tác giả: Nguyễn Thị Khiết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
14. Nguyễn Văn Ký (1996), Mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, Trường Cán bộ quản lý giáo dục Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Tác giả: Nguyễn Văn Ký
Năm: 1996
15. Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Sinh Hy (2000), Giáo dục học đại cương, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương
Tác giả: Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Sinh Hy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
16. Trần Viết Lưu (2004), “Suy nghĩ về các giải pháp phát triển giáo dục phổ thông nước ta hiện nay”, Tạp chí Giáo Dục, 94/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về các giải pháp phát triển giáo dục phổ thông nước ta hiện nay”, "Tạp chí Giáo Dục
Tác giả: Trần Viết Lưu
Năm: 2004
17. Nguyễn Ngọc Mai (2016), “Dạy học văn bản nhật dụng tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua bài “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS (01-12-2003)” – Ngữ văn 12”, Tạp chí giáo dục (12/2016), 226 – 229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Dạy học văn bản nhật dụng tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua bài “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS (01-12-2003)” – Ngữ văn 12”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Mai
Năm: 2016
18. Phạm Hồng Quang (2006), Môi trường giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường giáo dục
Tác giả: Phạm Hồng Quang
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
19. Bùi Văn Quân (2006), Giáo trình Phương pháp nghiên cứu giáo dục học, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp nghiên cứu giáo dục học
Tác giả: Bùi Văn Quân
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
20. Nguyễn Đức Thạc (2004), “Rèn luyện kỹ năng sống một hướng tiếp cận mới về chất lượng giáo dục đào tạo”, Tạp chí Giáo dục, số 81/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kỹ năng sống một hướng tiếp cận mới về chất lượng giáo dục đào tạo”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Thạc
Năm: 2004
21. Lê Đình Trung (Chủ biên) – Phan Thị Thanh Hội, Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w