Du lịch cộng đồng gắn với nhiều hoạt động như tham quan, khám phá phong cảnh thiên nhiên núi rừng, sông nước, trải nghiệm ở các làng nghề, các bản làng để tìm hiểu phong tục, tập quán củ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
TỈNH HÒA BÌNH
Nhóm ngành khoa học: XH2b
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
TỈNH HÒA BÌNH
Nhóm ngành khoa học: XH2b
Trương Thị Hà Nam, Nữ: Nữ Dân tộc: Thái
Năm thứ: 3/Số năm đào tạo: 4
Ngành học: Sư phạm Địa lý
Sinh viên chịu trách nhiệm chính: Đinh Thị Thúy
Người hướng dẫn: TS Đỗ Thúy Mùi
Sơn La, tháng 06 năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, tìm tòi với sự cố gắng của bản thân cùng sự giúp
đỡ của thầy, cô giáo trong khoa, nhóm đề tài chúng tôi đã hoàn thành đề tài: “Đánh
giá tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình”
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của cô giáo TS
Đỗ Thúy Mùi và các thầy, cô giáo trong khoa Địa lý, Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu trường Đại học Tây Bắc, Ban chủ nhiệm khoa Sử - Địa và các phòng ban Trường Đại Học Sư Phạm thuộc Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi thực hiện đề tài của mình
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn: Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Cục Thống kê tỉnh Hòa Bình, đã cho tôi những tư liệu,
số liệu cần thiết để thực hiện đề tài.… đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài này
Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài do khó khăn về thời gian và năng lực nghiên cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô và các bạn sinh viên để
đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2017
Nhóm sinh viên thực hiện: Đinh Thị Thúy
Trương Thị Hà
Bùi Thị Dậu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài 7
4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 7
5 Những đóng góp chủ yếu của đề tài 11
6 Cấu trúc đề tài 11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Khái niệm về du lịch và du lịch cộng đồng 12
1.1.2 Vai trò của du lịch cộng đồng 18
1.1.3 Điều kiện để phát triển du lịch cộng đồng 20
1.1.4 Nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng 23
1.1.5 Các loại hình du lịch cộng đồng 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 27
1.2.1 Một số mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam 27
1.2.2 Một số mô hình phát triển du lịch cộng đồng vùng Tây Bắc 33
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TỈNH HÒA BÌNH 36
2.1 Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình 36
2.1.1 Vị trí địa lí 36
2.1.2 Tài nguyên du lịch 37
2.1.3 Các điều kiện kinh tế - xã hội khác 51
2.2 Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình 52
2.2.1 Đánh giá chung về sự phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình 52
2.2.3 Thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình qua khảo sát thực tế 60
Tiểu kết chương 2 66
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TỈNH HÒA BÌNH 67
Trang 53.1 Định hướng phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình 67
3.1.1 Cơ sở để đề xuất định hướng 67
3.1.2 Những định hướng lớn 69
3.2 Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình 77
3.2.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 77
3.2.2 Cải thiện xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 78
3.2.3 Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch 78
3.2.4 Giải pháp nghiên cứu thị trường, tiếp thị và quảng bá hình ảnh các điểm du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình 79
3.2.5 Giải pháp về vốn đầu tư 81
3.2.6 Giải pháp về nguồn nhân lực 81
3.2.7 Phát triển du lịch trên cơ sở bảo tồn các nguồn tài nguyên, đảm bảo lợi ích kinh tế, xã hội cho cộng đồng dân cư 84
3.2.8 Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường cho phát triển du lịch cộng đồng 85
Tiểu kết chương 3 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỔ CHỨC VIẾT TẮT VIẾT TẮT
Chữ viết
tắt
for Conservation of Nature)
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
ODA (Official Development
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Du lịch được coi là ngành “công nghiệp không ống khói”, “con gà đẻ trứng vàng”, vì thế trong chiến lược phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước cũng đã định hướng phát triển mạnh ngành kinh tế du lịch, coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của
cả nước, nhất là đối với các tỉnh miền núi Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hoạt động du lịch không chỉ đem lại lợi nhuận về kinh tế mà còn có ý nghĩa sâu sắc về xã hội và môi trường Nhận thức được vai trò quan trọng của ngành du lịch, Đảng và nhà nước ta đã có Chiến lược phát triển du lịch tầm nhìn năm 2020 nhằm đưa nước ta trở thành một điểm đến hấp dẫn của nhiều du khách quốc tế Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu: “Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động
du lịch để đầu tư phát triển một số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm, đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”
Du lịch cộng đồng (DLCĐ) là loại hình du lịch xuất hiện muộn hơn, nhưng hiện nay đang phát triển mạnh và mang lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều nước trên thế giới
Ở Việt Nam, DLCĐ xuất hiện từ năm 1997, trải qua gần hai thập kỉ, DLCĐ đã có những bước phát triển đáng kể, mở ra những triển vọng mới cho ngành du lịch Việt Nam DLCĐ cũng giúp cho nhiều bản làng miền núi, vùng nông thôn khó khăn phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo
Hòa Bình có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch nhất là du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Phong cảnh núi non hùng vĩ, khí hậu trong lành, mát mẻ Đồng bào dân tộc có nhiều ngành nghề mang những nét đặc trưng riêng, rất thích hợp cho du khách có thể trải nghiệm với những công việc lý thú của đồng bào địa phương Hòa Bình còn có nhiều dân tộc, mỗi dân tộc lại có phong tục, tập quán, có truyền thống, có nhiều lễ hội riêng, đồng bào thân thiện, thật thà, hiếu khách, đây cũng là một lợi thế để khách du lịch có thể “ba cùng” với người dân địa phương
Tiềm năng để phát triển du lịch rất lớn, nhưng Hòa Bình chưa khai thác được những tiềm năng này Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính, hiệu quả sản xuất không cao, đồng bào dân tộc vẫn nghèo, trình độ dân trí vẫn thấp Phát triển du lịch cộng đồng sẽ giúp cho Hòa Bình có thể khai thác những lợi thế để phát triển kinh tế, đồng thời học hỏi từ du khách những kinh nghiệm để có thể nâng cao trình độ của mình
Trang 8Phát triển du lịch cộng đồng ở Hòa Bình không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn về xã hội và môi trường Người dân nơi đây có cơ hội có thêm nguồn thu nhập từ các hoạt động du lịch, có thêm công ăn việc làm, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập, về văn hoá xã hội so với vùng đồng bằng Đặc biệt hơn, chú trọng phát triển du lịch cộng đồng góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hoá các dân tộc của tỉnh
Muốn phát triển DLCĐ, khai thác có hiệu quả hơn những tiềm năng vốn có cần phải đánh giá một cách đầy đủ những tiềm năng và thực trạng phát triển, trên cơ sở đó
đề xuất các giải pháp để phát triển một cách bền vững, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho
du khách đến tham quan, tìm hiểu Đề tài “Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng
tỉnh Hòa Bình” sẽ giải quyết được các vấn đề đó
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Trên thế giới
Âu và Châu Mỹ t ừ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, phổ biến nhất phải kể đến các quốc gia như Canada , Hungary, Hà Lan Du lịch cộng đồng gắn với nhiều hoạt động như tham quan, khám phá phong cảnh thiên nhiên núi rừng, sông nước, trải nghiệm ở các làng nghề, các bản làng để tìm hiểu phong tục, tập quán của các dân tộc, trong đó tiêu biểu nhất là loại hình homestay – hình thức khách du lịch đến nhà người dân địa phương để cùng ăn, cùng nghỉ, cùng tham gia công việc hàng ngày, tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ với địa phương DLCĐ mang lại nhiều lợi ích kinh
tế, xã hội, môi trường, bởi thế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch và du lịch cộng đồng Một số tác giả nghiên cứu với các công trình tiêu biểu như:
.Andersen D.L., A Window to the Natural World: The Design of Ecotourism Facilities in
Lindberg, K And Hawkins, D.E (eds), Ecotourism: A Guide for Planners and Managers, the E cotourism Society, North Bennington, Vermont, 1993, 116 -133;
Barker.,M 1983 Traditional landscape and Mass Tourism in the Alps The Geogr
Review, Vol.4, 395-415; Burgess, J., “Softly Minimising the Impact of Ecotourism in
Tasmania”, in Ecotourism: Incorporating the Global Classroom, Bureau of Tourism Research, Canberra, 1991 89-93; Inskeep, E Quy hoạch du lịch khu vực và quốc gia: Phương pháp luận và các ví dụ nghiên cứu
Trang 9Năm du lịch sinh thái quốc tế 2002 đã nhấn mạnh mục tiêu của du lịch sinh thái là phải tính đến lợi ích của người dân bản địa Từ đó lý thuyết về du lịch dựa vào cộng đồng đã được xây dựng và phát triển ở các nước châu Á, Phi, Nam Mỹ như: Thái Lan, Nêpan, Đài Loan, Hàn Quốc, Bôtxoana, Lêxôthô, Mađagaxca, Môrixơ, Môzămbich, Namibia, Xoadilen, Tandania, Dămbia, Zimbabuê, Nam Phi Hầu hết các tác giả đều đề cập đến cách thức, giải pháp để phát triển DLCĐ ở một địa phương, một khu vực hay một đất nước nào đó, chứ chưa đi sâu vào định nghĩa, các đặc điểm và nguyên tắc hoạt động của DLCĐ Giữa các quốc gia, các nhà nghiên cứu trên thế giới vẫn chưa có sự thống nhất về lý luận của DLCĐ Một số tác phẩm
tiêu biểu có thể kể đến như:, Đề án “Relationship between tourism and community,
social, economic and environment cost – benefit of Community based tourism”(2004), và tài liệu hướng dẫn “Community–based tourism Handbook” của tổ
chức REST nhấn mạnh đến ý nghĩa của việc phát triển DLCĐ; năm 2001, Viện
DLCĐ Thái Lan xuất bản tài liệu “Community –based tourism in Thailand” đề xuất
các mô hình phát triển DLCĐ tại đất nước này; Tiến sĩ Micheal J.Hatton cũng đưa ra các nhận định về DLCĐ ở khu vực châu Á Thái Bình Dương qua đề tài
“Community–based tourism in the Asia Pacific”
Năm 2003, tại Chitral, Pakistan, được sự hỗ trợ của UNESCO, các nhà khoa học của một số nước Kazactan, Nepan, Pakistan, Iran, Ấn Độ, Butan đã tổ chức hội
thảo “Developmen of Cultural And Ecotourism in the Mountainous Regions Of
Central and South Asia” Hội thảo này trao đổi kinh nghiệm xung quanh các vấn đề
phát triển du lịch sinh thái và văn hoá tại các vùng núi
Nhiều tổ chức quốc tế đã hỗ trợ cho các dự án phát triển miền núi Tiêu biểu
là dự án phát triển du lịch văn hoá và sinh thái ở vùng núi Trung Á và Himalaya Dự
án này của UNESCO nghiên cứu một khu vực rộng lớn thuộc lãnh thổ của 7 quốc gia
là Ấn Độ, Iran, Cadắctan, Nepan, Kirgistan, Pakistan và Tagikixtan Dự án chỉ ra những bài học kinh nghiệm trong xây dựng các loại hình du lịch, trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng trong phát triển du lịch và bảo vệ di sản văn hoá cũng như bảo
vệ môi trường
Như vậy, DLCĐ là một loại hình du lịch đang phát triển ở nhiều nước trên thế giới Đây là loại hình du lịch gắn với làng bản, gắn với người dân, cùng ăn, cùng ở và
Trang 10và học hỏi được lẫn nhau Nhưng để có nhiều khách đến tham quan các bản làng cần phải đầu tư để xây dựng nhà ở, nhất là các công trình vệ sinh, các điều kiện sinh hoạt thường ngày để đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu cho người dân, đồng thời cũng phải tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, đặc trưng của mỗi vùng miền Có như vậy mới có thể thu hút được nhiều khách du lịch và doanh thu du lịch sẽ cao hơn
2.2 Ở trong nước
Du lịch cộng đồng đã xuất hiện ở nước ta từ năm 1997, xuất phát từ nhu cầu của các du khách nước ngoài muốn tự khám phá và tìm hiểu văn hóa ở Việt Nam Đến nay, mô hình du lịch này đã lan rộng từ vùng núi Đông Bắc, Tây Nguyên, tới đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long Song hoạt động DLCĐ theo đúng các nguyên tắc phát triển của nó còn rất hạn chế và thực tế chỉ mới dừng lại ở mức độ mô hình hơn là các sản phẩm đích thực đã có Nhiều công trình nghiên cứu
về du lịch cộng đồng ở Việt Nam, có cả các tác giả trong nước và tác giả nước ngoài,
tiêu biểu như: Đỗ Thị Minh Đức, (2007) “Du lịch cộng đồng tại làng cá Vân Đồn,
Quảng Ninh”, Tạp chí khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội số 2; Gray, J.C., Phát triển du lịch sinh thái trên cơ sở cộng đồng, Tuyển tập báo cáo Hội nghị quốc tế về
phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Huế, 1997 119 - 131; Koeman, A, Du lịch bền
vững và du lịch sinh thái, Tuyển tập báo cáo Hội thảo quốc gia về sự tham gia của
cộng đồng địa phương trong quản lí khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, TP Hồ Chí
Minh, 1997, 117 – 125; Koeman, A, Du lịch sinh thái trên cơ sở phát triển du lịch
bền vững, tuyển tập báo cáo hội thảo Du lịch sinh thái với phát triển du lịch bền vững
ở Việt Nam, Hà Nội, 1998, 36-39; Lê Văn Lanh & MacNeil, D.J.,“Du lịch sinh
thái ở Việt Nam, triển vọng cho việc bảo tồn và sự tham gia của cộng đồng địa phương”, Tuyển tập báo cáo hội nghị Quốc gia về các vườn quốc gia và khu bảo
tồn thiên nhiên Việt Nam, Hà Nội, 1995, 56 -63; Lê Văn Lanh, “Các bước chuẩn bị
cho sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các dự án du lịch sinh thái ở các khu bảo tồn thiên nhiên”, Tuyển tập báo cáo hội thảo quốc gia của cộng đồng địa phương
trong quản lí các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, TP Hồ Chí Minh, 1997, 135 –
140; Triraganon, R., Các vấn đề xây dựng phát triển du lịch sinh thái cộng đồng ở
Thái Lan, Báo cáo Hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh
thái tại Việt Nam, Hà Nội, 1993, 23-33
Trang 11Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến du lịch cộng đồng ở một số địa bàn
cụ thể, trên cơ sở đó giúp cho chúng ta có cách nhìn mới về một ngành mới và có nhiều lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường Nhận thức được ý nghĩa và vai trò quan trọng của hoạt động DLCĐ đối với bảo tồn và xóa đói giảm nghèo, các cấp quản lý Nhà nước cũng như các tổ chức phi Chính phủ vì cộng đồng đã nỗ lực vạch
ra các định hướng, xây dựng các dự án, kêu gọi đầu tư, đào tạo nhân lực để người dân có thể tự vận hành loại hình du lịch này tại địa phương mình Cho đến thời điểm này, khái niệm về DLCĐ vẫn chưa được thống nhất và đề cập trong bất kỳ văn bản quy định pháp lý nào Điều đó cũng gây ảnh hưởng đến việc đề ra các chính sách cụ thể phát triển DLCĐ ở các vùng miền Cơ sở lý luận và thực tiễn về DLCĐ ở nước ta hầu như được tích hợp, hoàn thiện dần thông qua những hội thảo chia sẻ kinh nghiệm
và các đề tài nghiên cứu phát triển DLCĐ cho một địa phương cụ thể của các nhà khoa học, các chuyên gia trong và ngoài nước Trong số này có thể kể đến một số tài
liệu như: “Hội thảo chia sẻ bài học kinh nghiệm phát triển DLCĐ ở Việt Nam” (2003), “Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm phát triển DLCĐ tại Sapa” (2004), “Hội thảo
quan hệ công chúng về DLCĐ: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” (2006),
đề tài nghiên cứu “Phát triển DLCĐ ở chùa Hương – Hà Tây” (2004) của Viện nghiên cứu và phát triển du lịch, đề tài “Nghiên cứu mô hình DLCĐ” (2006) của Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội, đề tài “Tiềm năng du lịch sinh thái và du
lịch cộng đồng dọc tuyến đường Hồ Chí Minh trong cảnh quan trung Trường Sơn”
được phối hợp nghiên cứu bởi tổ chức SNV, WWF, khoa Môi trường – Đại học
Khoa học Huế và khoa Du lịch – Đại học Kinh tế Huế Trong bài viết “Du lịch cộng
đồng – l ý thuyết và vận dụng” (2006), TS Võ Quế cũng đã tổng hợp lý thuyết và
nghiên cứu về mô hình phát triển DLCĐ, song hiện nay tài liệu này không được phổ biến Ngoài ra, để hỗ trợ cho công tác quản lý hoạt động DLCĐ từ cấp dự án đến cấp quốc gia, tổ chức SNV tại Việt Nam cũng như Tổng cục du lịch Việt Nam đã cho
biên dịch “Bộ công cụ quản lý và giám sát du lịch cộng đồng” (2007) và “Du lịch và
phát triển cộng đồng ở châu Á” (2009) Đây vừa là tài liệu hướng dẫn thực hành,
đồng thời cũng góp phần làm dày thêm hệ thống l ý thuyết về DLCĐ đang còn rất hạn chế ở nước ta
Ở các tỉnh miền Tây Bắc, đã có một số công trình, dự án nghiên cứu về DLCĐ,
Trang 12Nam, Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, các tổ chức Phi chính phủ (Tổ chức phát triển
Hà Lan) rất quan tâm đến đầu tư và phát triển du lịch cộng đồng tại các tỉnh miền núi nước ta Nhiều dự án phát triển DLCĐ được đầu tư tại tỉnh Lào Cai, Hoà Bình, Sơn La
Ở các tỉnh vùng Tây Bắc cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về DLCĐ Ở Sơn La, các công trình nghiên cứu về DLCĐ còn rất khiêm tốn, năm 2007, tác giả
Nguyễn Đình Phong đã nghiên cứu vấn đề: “Nghiên cứu xây dựng mô hình bản du
lịch sinh thái cộng đồng tại xã Chiềng Yên (Mộc Châu) và Mường Do (Phù Yên) tỉnh Sơn La” Sở Văn hoá thể thao và du lịch cũng có quy hoạch tổng thể phát triển du
lịch Sơn La trong giai đoạn 2007 – 2015 và định hướng đến năm 2020, trong đó, nhiều bản văn hoá được quy hoạch để phát triển du lịch cộng đồng Năm 2014, tác giả Nguyễn Huy Hoàng cũng đã nghiên cứu và đề xuất xây dựng mô hình phát triển DLCĐ ở bản Dọi và bán Áng huyện Mộc Châu Năm 2017, TS Đỗ Thúy Mùi cũng
đã nghiên cứu, đánh giá những tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển DLCĐ ở vùng Tây Bắc trong một công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ Đề tài cũng đã đánh giá khá đầy đủ những tiềm năng và thực trạng phát triển DLCĐ của các tỉnh trong vùng trong đó có tỉnh Hòa Bình
Năm 2004, tỉnh Điện Biên đã bắt đầu xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tại 8 bản văn hoá thuộc huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ theo hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, trong đó nổi bật là các bản Phiêng Lơi, Him Lam (TP Điện Biên Phủ) và bản Mển (huyện Điện Biên)
Những nghiên cứu thực tiễn trên các địa phương đã chỉ ra rằng DLCĐ phát triển tùy theo từng môi trường chính trị văn hóa xã hội của mỗi vùng miền, mỗi tỉnh thành Do đó, không có mô hình duy nhất nào phù hợp cho tất cả các tỉnh của khu vực Mỗi tỉnh đều có thế mạnh riêng về tự nhiên, về kinh tế xã hội nên có thể có những mô hình du lịch cộng đồng khác nhau, có thể có khu vực xây dựng mô hình
du lịch cộng đồng gắn với việc làm ruộng nước (TP Điện Biên Phủ, Điện Biên), có thể có mô hình gắn với trồng hoa, cây cảnh, hái chè, chăn nuôi bò sữa (Mộc Châu – Sơn La), Bình Thuận (Thuận Châu – Sơn La), Trồng rừng Co Mạ (Thuận Châu – Sơn La), nuôi cá lồng, đánh bắt cá trên hồ thuỷ điện Hoà Bình, Sơn La , du lịch làng nghề dệt thổ cẩm, đan lát Như vậy, mỗi tỉnh thành đều có thế mạnh riêng để phát triển du lịch cộng đồng Đối với Hòa Bình cũng có một số công trình đánh giá nghiên cứu tiềm năng, giải pháp phát triển hay xây dựng các mô hình phát triển du
Trang 13lịch dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, mỗi công trình được đánh giá ở những khía cạnh và các thời gian nghiên cứu khác nhau Cần phải nghiên cứu nhiều chiều và ở các khoảng thời gian khác nhau để không ngừng cập nhật và đánh giá đầy đủ, khoa học và phù hợp với thực tiễn
3 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
3.1 Mục tiêu
Trên cơ sở lý luận chung về du lịch, du lịch cộng đồng, đề tài phân tích, đánh giá những tiềm năng, thực trạng và đề xuất định hướng, giải pháp để phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan những vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch và DLCĐ
- Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển DLCĐ tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất định hướng và giải pháp để phát triển DLCĐ tỉnh Hòa Bình
3.3 Giới hạn của đề tài
- Về nội dung: Đề tài tổng quan có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về
DLCĐ, nghiên cứu tiềm năng, thực trạng phát triển và đề xuất giải pháp phát triển DLCĐ tỉnh Hòa Bình
- Về không gian: Giới hạn nghiên cứu của đề tài là tỉnh Hòa Bình, đặc biệt chú
trọng tới một số điểm DLCĐ như: bản Lác (xã Chiềng Châu - huyện Mai Châu - tỉnh Hòa Bình), bản Giang Mỗ (xã Bình Thanh - huyện Cao Phong - tỉnh Hòa Bình), xóm
Ải (xã Phong Phú - huyện Tân Lạc - tỉnh Hòa Bình), xã Hiền Lương (huyện Đà Bắc - tỉnh Hòa Bình)
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu chủ yếu về sự phát triển DLCĐ tỉnh Hòa Bình từ
năm 2005 đến năm 2015 và đề xuất giải pháp đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Các quan điểm
4.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Quan điểm tổng hợp lãnh thổ là hệ thống xã hội được tạo thành bởi các thành tố: tự nhiên, lịch sử, văn hóa Vì vậy, nghiên cứu, đánh giá các nguồn lực du lịch thường được nhìn nhận trong mối quan hệ về mặt không gian hay lãnh thổ nhất định
Trang 14Mỗi điểm, tuyến, cụm du lịch bao gồm nhiều thành phần, tính chất phân bố trong không gian của các điểm du lịch là mối quan hệ giữa chúng được gắn kết với nhau bởi các tuyến du lịch cùng trải dài trên một không gian cụ thể và trên các lãnh thổ nhất định Để mang lại hiệu quả tổ chức, kinh doanh du lịch, cần tìm ra sự khác biệt trong từng đơn vị lãnh thổ và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố trong cùng một lãnh thổ cũng như mối quan hệ với các lãnh thổ khác Bởi vậy, khi nghiên cứu DLCĐ tỉnh Hòa Bình cần phải phân tích mối quan hệ của Hòa Bình với các điểm
và tuyến du lịch có liên quan
4.1.2 Quan điểm lịch sử
Quan điểm này cần được quán triệt khi nghiên cứu du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình Áp dụng quan điểm lịch sử trong nghiên cứu hệ thống lãnh thổ để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, các quá trình diễn biến thời gian và không gian trên từng địa bàn
cụ thể Trên cơ sở hiểu rõ những sự kiện lịch sử, lịch sử hình thành phát triển của mỗi địa phương, mỗi điểm du lịch để dự báo những chiến lược khai thác du lịch phù hợp với xu thế phát triển chung của Việt Nam và vùng Tây Bắc
Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có nhiều di tích lịch sử ghi dấu những năm tháng hào hùng của dân tộc trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Quán triệt quan điểm lịch sử
để nghiên cứu, tìm hiểu những di tích lịch sử để khai thác tốt hơn cho mục đích DLCĐ
4.1.3 Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm này được xuyên suốt trong nội dung đề tài Bởi vì, du lịch là một ngành kinh doanh, kinh doanh các danh lam thắng cảnh của đất nước Việc kinh doanh này dẫn đến việc gia tăng thiệt hại về môi trường như ô nhiễm không khí, nước, tiếng
ồn, tài nguyên du lịch có thể bị xâm phạm, do đó phải tính đến hậu quả lâu dài sẽ nảy sinh trong tương lai Chính vì thế, khi nghiên cứu đề tài phải tính đến những kết quả tiêu cực để có giải pháp khắc phục
Nghiên cứu phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng cần đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại của thế hệ tương lai, đảm bảo các mục tiêu, nguyên tắc phát triển bền vững
4.1.4 Quan điểm thực tiễn
Quan điểm này được vận dụng để đánh giá đặc điểm, hiện trạng sử dụng lãnh thổ cũng như trong việc đề xuất các định hướng sử dụng tài nguyên lãnh thổ với những khuyến nghị và giải pháp có tính khả thi Tất cả các giải pháp đưa ra đều được xuất
Trang 15phát từ thực tiễn Không thể đánh giá cũng như đưa ra giải pháp nếu như không xuất phát từ thực tiễn
Thực tiễn phát triển DLCĐ tỉnh Hòa Bình còn tồn tại nhiều hạn chế Nhiều điểm du lịch khai thác chưa hiệu quả, chưa đảm bảo sự phát triển bền vững Nhiều điểm du lịch của tỉnh khá hấp dẫn nhưng không thuận tiện đường giao thông, hệ thống
cơ sở vật chất kĩ thuật còn kém nên chưa có nhiều doanh thu… Khi nghiên cứu việc phát triển du lịch của tỉnh cần xuất phát từ những cơ sở thực tiễn đó Đề xuất những định hướng, giải pháp phù hợp với thực tiễn của tỉnh và phù hợp với từng huyện
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp này được thực hiện trong đề tài thông qua việc tổng hợp các nguồn tài liệu, số liệu, các kết quả điều tra xã hội học cùng các khảo sát thực tế, phân tích để thấy được thực trạng phát triển du lịch cộng đồng của tỉnh Hòa Bình Qua đó cho phép xác định tính động lực, thấy được sự ảnh hưởng qua lại giữa phát triển du lịch với công tác bảo tồn, với cộng đồng địa phương
4.2.2 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
Phương pháp này thực hiện nhằm nghiên cứu, xử lí các tài liệu trong phòng dựa trên cơ sở các số liệu, tư liệu, tài liệu từ các nguồn khác nhau và từ thực tế Tổng quan tài liệu có được cho phép kế thừa các nghiên cứu có trước, sử dụng các thông tin đã được kiểm nghiệm, cập nhật những vấn đề trong và ngoài nước Vì thế, đây là phương pháp thường được sử dụng trước tiên và khá phổ biến, đóng vai trò cơ sở, điều kiện cần thiết để phục vụ trong các đề tài nghiên cứu khoa học
Dựa trên nguồn tài liệu thu thập được, tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm: khái quát được cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch cộng đồng; đánh giá chính xác nguồn lực và thực trạng phát triển DLCĐ ở tỉnh Hoà Bình
4.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp này nhằm mục đích thu nhận số liệu, sự suy nghĩ, quan điểm trên một số lượng đối tượng nào đó về một vấn đề liên quan đến du lịch để có thể phán đoán, tìm ra nguyên nhân, tính phổ biến hoặc biện pháp nhằm giải quyết vấn đề đã đặt ra
Các thông tin thu thập qua điều tra giúp các nhà nghiên cứu tổng hợp được các ý kiến, các quan điểm đa dạng từ du khách, ở các điểm du lịch cộng đồng của các tỉnh một
Trang 16khảo sát thực địa, phương pháp điều tra xã hội học có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích các hiện tượng thực tế Trong quá trình điều tra, người nghiên cứu xác định:
- Đối tượng điều tra: Các khách du lịch đến các bản du lịch cộng đồng ở tỉnh Điều tra ở bốn bản có số lượng khách đông nhất
- Mục đích điều tra: Điều tra để thu thập ý kiến của du khách về mức độ đáp ứng về tài nguyên du lịch, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật, về chất lượng phục vụ của nguồn lao động; đánh giá về mức độ tham gia phát triển DLCĐ của chính quyền địa phương, của người dân, của khách du lịch, trách nhiệm của doanh nghiệp du lịch; đánh giá về mức độ phục vụ của khách du lịch ở các điểm DLCĐ về văn hóa, văn nghệ, về tham gia hoạt động cùng với người dân địa phương, việc phục
vụ ăn uống, nghỉ ngơi, môi trường của địa phương Tất cả những kết quả thu thập được để phân tích, đánh giá, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn hơn
- Phương pháp điều tra: Điều tra được thực hiện trên các phiếu in sẵn Các nội dung điều tra được biên soạn theo mục đích nghiên cứu, đánh giá Các nhóm tác giả
đi thực địa và điều tra cụ thể 200 khách ở 4 điểm đại diện của tỉnh Do thời gian người nghiên cứu đi ít gặp các đoàn tham quan nên phần lớn các phiếu điều tra (phụ lục) đều gửi các nhà kinh doanh du lịch lấy hộ, sau khi thu thập đủ số lượng được lấy
về để thống kê, xử lý Ngoài điều tra bảng hỏi là chủ yếu, trong các đợt thực địa, nhóm tác giả còn tham khảo ý kiến của các cấp chính quyền địa phương, của già làng trưởng bản và các hộ kinh doanh du lịch Trên cơ sở những thông tin đó, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn của địa phương hơn
- Xử lý kết quả điều tra: tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán học, tính toán tỷ lệ % các nội dung điều tra để có những kết luận chính xác về các nội dung điều tra
Trang 174.2.5 Phương pháp nghiên cứu thực địa
Phương pháp nghiên cứu thực địa được sử dụng rộng rãi trong Địa lý du lịch để tích lũy tài liệu thực tế về sự hình thành, phát triển và đặc điểm của tổ chức lãnh thổ du lịch Đây là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu DLCĐ,
có mối liên hệ chặt chẽ với các phương pháp khác, không chỉ riêng với phương
pháp điều tra xã hội học
Phương pháp này được tác giả thực hiện kết hợp với phương pháp điều tra xã hội học Với phương cách này, các thông tin thực tế qua quan sát, nghe và trao đổi càng thêm phong phú Thông qua việc nghiên cứu trước bản đồ và các văn bản, tài liệu đã thu thập được tạo điều kiện dễ dàng để đối chiếu, phân tích, so sánh giữa sách
vở và thực tế Trên cơ sở đó, chỉnh sửa, bổ sung, đánh giá chính xác hơn tiềm năng
và thực trạng hoạt động DLCĐ ở Hòa Bình
4.2.6 Phương pháp bản đồ - GIS:
Bản đồ không chỉ là phương tiện phản ánh những đặc điểm không gian về nguồn tài nguyên, các luồng khách, cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch hoặc các thuộc tính riêng của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch (tính ổn định, tính thích hợp ), mà còn là một cơ sở để nhận những thông tin mới và vạch ra tính quy luật hoạt động của toàn bộ hệ thống Tính hệ thống của đối tượng mà Địa lý du lịch nghiên cứu đòi hỏi phải sử dụng các mô hình bản đồ, phân tích liên hợp các xêri bản
đồ Đề tài đã xây dựng 03 bản đồ phục vụ cho tỉnh Hòa Bình Các bản đồ cũng thể hiện được một phần nội dung nghiên cứu
5 Những đóng góp chủ yếu của đề tài
Đề tài hoàn thành sẽ có một số đóng góp sau đây:
- Tổng quan và cập nhật được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch và
du lịch cộng đồng
- Đánh giá được tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình
6 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch cộng đồng
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình
Trang 18Du lịch được xác định là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và du khách quốc
tế, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh
xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh quốc phòng
Ngày nay, du lịch đã trở thành hoạt động khá phổ biến trên phạm vi toàn thế giới, nó đóng vai trò như một ngành kinh tế chiến lược của nhiều quốc gia, mang lại giá trị kinh tế cao, góp phần cải thiện đời sống và tạo ra công ăn việc làm cho con người thông qua khả năng liên kết nhiều ngành kinh tế Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “Du lịch” dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng ý nghĩa chung nhất
du lịch chính là liên quan đến chuyến đi của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm đáp ứng các nhu cầu về tham quan, tìm hiểu, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí…
Ở nước Anh, du lịch xuất phát từ tiếng “To tour” có nghĩa là cuộc dạo chơi Trong tiếng Pháp bắt nguồn từ tiếng “Le tour” là cuộc dạo chơi dã ngoại Còn theo
nhà sử học Trần Quốc Vượng thì du có nghĩa là chơi, lịch có nghĩa là lịch lãm, hiểu biết, từng trải… Du lịch được hiểu là việc đi chơi nhằm tăng thêm hiểu biết, kiến thức
Năm 1925, khi tổ chức Liên hiệp Quốc tế Tổ chức các cơ quan Lữ hành IUOTO (International of Union Official Travel Organization) thành lập tại Hà Lan, khái niệm
về “Du lịch” luôn luôn được tranh luận Và theo tổ chức này: “Du lịch được hiểu là
Trang 19hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc để kiếm tiền sinh sống”.[20]
I.I.Pirôginic, 1985 thì đã khái niệm: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư
trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”.[10]
Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, tại hội nghị liên hợp quốc tế về du lịch ở
Rôma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối
quan hệ và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước của họ nhằm mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải nơi làm việc của họ” [10]
Theo Giáo sư Hunziken và giáo sư Krapf (người Thụy Sĩ) đã đưa ra khái
niệm: “Du lịch là tổng thể các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và
lưu trú của những người ngoài địa phương, những người không có mục đích định
cư và không liên quan đến bất cứ hoạt động kiếm tiền nào” [10]
Tổ chức du lịch thế giới đã định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả những người
du hành, tạm trú trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn, cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích là làm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”
[10]
Về tầm quan trọng, nội dung và nội hàm của hoạt động du lịch có lẽ đầy đủ và hàm súc nhất là khái niệm trong tuyên bố Ô-sa-ca của hội nghị Bộ trưởng Du lịch thế
giới: “Du lịch là con đẻ của hòa bình, là phương tiện củng cố hòa bình, là phương
tiện cân bằng cán cân thanh toán quốc tế” Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ: “Du lịch
là một ngành kinh tế liên ngành, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao” Quan niệm này được thể chế thành luật Luật du lịch
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kì họp thứ VII
Trang 20đi của con người ngoài nơi cư trú của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu thăm quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [20]
Người ta căn cứ vào nhiều phương diện khác nhau để phân chia các hình thức
du lịch khác nhau:
- Căn cứ vào phạm vi không gian, lãnh thổ: Du lịch quốc tế, du lịch nội địa
- Căn cứ vào loại hình du lịch: Đón khách nước ngoài vào (Inbound), đưa khách nội địa ra nước ngoài (Outbound), du lịch khách nội địa (Domestic)
- Căn cứ vào nhu cầu đi du lịch của khách: Du lịch thể thao, du lịch thăm thân,
du lịch hành hương, du lịch mua sắm, du lịch từ thiện, du lịch giải trí, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch chữa bệnh, du lịch khám phá…
- Căn cứ vào phương tiện giao thông: Du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng xe gắn máy, du lịch bằng xe ô tô, du lịch bằng xe lửa, du lịch bằng máy bay, du lịch bằng trực thăng, du lịch bằng tàu biển, du lịch bằng du thuyền cao cấp…
- Căn cứ vào hình thức lưu trú: Du lịch ở khách sạn, du lịch ở nhà nghỉ bình dân, du lịch cắm trại, du lịch ở biệt thự cao cấp…
- Căn cứ vào khu vực địa lý: Du lịch miền núi, du lịch miền biển, du lịch đảo,
du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng xe gắn máy, du lịch bằng xe ô tô, du lịch cắm trại…
Và loại hình du lịch cộng đồng được xác định là một loại hình du lịch có khả năng phát triển mạnh mẽ trong thời gian sắp tới
1.1.1.2 Du lịch cộng đồng
Từ lâu, khái niệm về du lịch cộng đồng đã được đề cập ở nhiều quốc gia trên thế giới Hiện nay, cụm từ “Du lịch cộng đồng” đang dần trở nên quen thuộc, nó được xem là bộ phận của du lịch bền vững, hướng vào việc giảm nghèo thông qua tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương, thực hiện công bằng trong phân chia lợi ích từ du lịch, đồng thời góp phần bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa
Trang 21Thực tế, chưa có một định nghĩa chính thức nào về DLCĐ được công nhận trên toàn thế giới Mỗi quốc gia đều có khái niệm riêng:
Ở Thái Lan, khái niệm Community-Based Tourism, du lịch dựa vào cộng đồng
được định nghĩa: “DLCĐ là loại hình du lịch được quản lý và có bởi tính cộng đồng địa
phương, hướng đến mục tiêu bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội Thông qua DLCĐ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức về lối sống của cộng đồng địa phương” [10]
Khái niệm này cũng được nhắc đến trong chương trình nghiên cứu của nhiều tổ chức xã hội trên thế giới, Pachamama (Tổ chức hướng đến việc giới thiệu và bảo tồn văn hóa bản địa khu vực Châu Mỹ) đã đưa ra quan điểm của mình về Community-Based
Tourism như sau: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến
với cộng đồng địa phương để tìm hiểu về phong tục, lối sống, niềm tin và thưởng thức
ẩm thực địa phương Cộng đồng địa phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quá trình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó tăng cường khả năng
tự quản, tăng cường phương thức sinh kế và phát huy giá trị truyền thống của địa phương”.[20]
Còn Istituto Oikos (Tổ chức hướng đến việc hỗ trợ các nghiên cứu, huy động nguồn lực tài chính trong công tác bảo tồn về mặt sinh thái tự nhiên và nhân văn cho các quốc gia đang phát triển trên thế giới, ra đời tại Ý, 1996) lại đề cập đến nội dung
của DLCĐ theo hướng: “DLCĐ là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến và
có lưu trú qua đêm tại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương (thường là các cộng đồng ở nông thôn hoặc các cộng đồng nghèo hoặc sinh sống ở những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn) Thông qua đó du khách có cơ hội khám phá môi trường thiên nhiên hoang dã hoặc tìm hiểu các giá trị về văn hóa truyền thống, tôn trọng tư duy văn hóa bản địa Cộng đồng địa phương có cơ hội thụ hưởng các lợi ích kinh tế từ việc tham gia vào các hoạt động khám phá dựa trên các giá trị về tự nhiên và văn hóa
xã hội tại khu vực cộng đồng địa phương sinh sống” [10]
Tổ chức mạng lưới DLCĐ vì người nghèo cũng đã định nghĩa: “DLCĐ là một
loại hình du lịch bền vững, thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lí các dự án du lịch nhỏ như một
Trang 22của DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản tự nhiên” [10]
Tác giả Hsien Hue Lee (Hiệu trưởng trường Đại học Cộng đồng Hsin – Hsing,
Đài Loan) cũng đã đưa ra khái niệm: “DLCĐ là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại
các điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn, đồng thời, khuyến khích và tạo ra cơ hội tham gia của người dân địa phương trong du lịch”
Trong định nghĩa này tác giả đã quan tâm đến các vấn đề chủ yếu là tài nguyên du lịch, các điều kiện khuyến khích và vấn đề việc làm đối với cộng đồng tại các điểm du lịch Trích trong [10]
Các nhà nghiên cứu du lịch Nicole Hause và Wolffgang Strasdas cho rằng:
“DLCĐ là hình thái du lịch trong đó chủ yếu người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý; lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”
[10]
Tổ chức Responsible Ecological Social Tour đã đưa ra khái niệm: “Du lịch dựa
vào cộng đồng là quan tâm đến môi trường, xã hội, văn hóa bền vững, chủ nhân quản
lý là cộng đồng, vì cộng đồng, qua đó giúp du khách tăng lợi ích từ việc tiếp thu từ cộng đồng và lối sống địa phương” [10]
Tại Việt Nam, khái niệm DLCĐ lần đầu tiên được đề cập đến trong hội thảo
“Chia sẻ bài học kinh nghiệm phát triển DLCĐ Việt Nam tại Hà Nội (2003) đã xác
định: “Phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng nhằm đảm bảo văn hóa, thiên
nhiên bền vững; nâng cao nhận thức và tăng quyền lực cho cộng đồng Cộng đồng được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch, nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của chính phủ
và các tổ chức quốc tế” [20]
Tác giả Trần Thị Mai, 2005 cho rằng: “DLCĐ là hoạt động tương hỗ giữa các
đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ môi trường và mang đến cho du khách kinh nghiệm mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có sự án”.[9]
Cùng có quan điểm nhấn mạnh vai trò của phương thức phát triển DLCĐ trong công tác bảo tồn môi trường tự nhiên và nhân văn, tác giả Võ Quế, 2006 đã nhìn nhận:
“Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân
cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài
Trang 23nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên” [13]
Bên cạnh nội dung xem xét phát triển DLCĐ là phương thức góp phần đẩy mạnh tính hiệu quả trong công tác bảo tồn, tác giả Bùi Thị Hải Yến, 2012 còn đề cập
đến việc tham gia của cộng đồng địa phương, với cách nhìn về DLCĐ: “ DLCĐ có thể
hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế, của chính quyền địa phương cũng như của chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách.” [19]
Nhìn chung, các tác giả đều quan niệm DLCĐ là hình thức du lịch mà du khách
là người mang lại lợi ích kinh tế và có ảnh hưởng nhất định đến tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, nếp sống của người dân địa phương Người dân địa phương là người kiểm soát các giá trị về tài nguyên du lịch để hỗ trợ du khách có cơ hội tìm hiểu
và nâng cao nhận thức về văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương Cộng đồng địa phương sẽ nhận được lợi ích về kinh tế, học hỏi được những kinh nghiệm từ du khách, có cơ hội về giao lưu, nắm bắt được những nét văn hóa, các thông tin trong nước và quốc tế
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà du khách có thể cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với người dân địa phương Du khách được khám phá những giá trị về tự nhiên, văn hóa của địa phương, nâng cao nhận thức, hiểu biết về cộng đồng địa phương Cộng đồng địa phương được hưởng lợi về kinh tế, học hỏi được những kinh nghiệm từ du khách, nâng cao nhận thức, đồng thời biết giữ gìn, bảo vệ những giá trị
tự nhiên, nhân văn để khai thác vào mục đích du lịch
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà mọi hoạt động của nó gắn liền với cộng đồng dân cư Người dân địa phương được tham gia và chịu trách nhiệm ra quyết định thực thi, điều hành các hoạt động du lịch Mục đích là tạo cho mọi thành viên trong cộng đồng được tham gia vào hoạt động du lịch, phát triển đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao đời sống của cộng đồng dân cư địa phương
Trang 24Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà do chính cộng đồng cư dân địa phương phối hợp cùng nhau để xây dựng, hình thành, phát triển, quản lý và làm chủ các sản phẩm du lịch nhằm mang lại các lợi ích về kinh tế và bảo về môi trường Nội dung chủ yếu là:
- Du khách là tác nhân bên ngoài, là tiền đề mang lại lợi ích kinh tế và sẽ có những tác động nhất định kèm theo việc thụ hưởng các giá trị về môi trường sinh thái
tự nhiên và nhân văn khi đến với một cộng dồng địa phương cụ thể
- Cộng đồng địa phương là người kiểm soát các giá trị về mặt tài nguyên du lịch
để hỗ trợ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức của mình, khi có cơ hội tiếp cận hệ thống tài nguyên du lịch tại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương Cộng đồng địa phương sẽ nhận được lợi ích về mặt kinh tế, mở rộng tầm hiểu biết về đặc điểm tính cách của du khách cũng như có cơ hội nắm bắt các thông tin bên ngoài từ du khách
- Cộng đồng địa phương ngày càng được tăng cường về khả năng tổ chức, vận hành và thực hiện các hoạt động, xây dựng các sản phẩm du lịch phục vụ cho du khách Từ đó, cộng đồng ngày càng phát huy vai trò làm chủ của mình
Du lịch cộng đồng hình thành dựa trên những nhu cầu và mong muốn của du khách về sư tò mò, khám phá và học hỏi những điều mới lạ về cuộc sống sinh hoạt của
cư dân địa phương đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới Du lịch cộng đồng thường liên kết những cư dân ở thành thị đến với các vùng nông thôn để thưởng ngoạn và hòa nhập cuộc sống, sinh hoạt tại điểm trong một khoảng thời gian nhất định Đặc biệt hoạt động này mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương về những quyền lợi
từ vật chất, tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên
1.1.2 Vai trò của du lịch cộng đồng
Ngành du lịch muốn khai thác tài nguyên, phát triển hoạt động du lịch tại địa phương thì lợi ích của người dân nơi đây cũng phải được đảm bảo Chính vì thế, một trong những nguyên tắc để phát triển bền vững là không thể tách rời cộng đồng địa phương tại điểm du lịch đó ra khỏi hoạt động du lịch Bởi chính họ mới là chủ nhân của những vùng đất, là người chủ thực sự hiểu rõ, sống cùng, gắn bó và dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa Họ là những người bảo vệ và tôn tạo các giá trị văn hóa bản địa và tự nhiên của nơi diễn ra hoạt động du lịch
Trang 25Nhìn từ góc độ kinh tế và môi trường, nếu không có sự tham gia của người dân, nguồn tài nguyên, làm cơ sở cho du lịch, sẽ có thể dần dần bị hủy hoại và không đầu tư được nữa
Việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương vào các hoạt động
du lịch như: Hướng dẫn viên, cung cấp các dịch vụ, sản xuất và bán hàng lưu niệm, đáp ứng chỗ nghỉ cho khách… Thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương từ đó cuộc sống của người dân sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào khai thác tự nhiên
Trong quá trình khai thác tài nguyên du lịch, không chỉ đơn thuần tồn tại mối quan hệ hai chiều là giữa người làm du lịch và cộng đồng địa phương mà có rất nhiều mối quan hệ giữa các bên tham gia: giữa người dân địa phương với các nhà quản lý, người dân địa phương với khách du lịch, người dân với người làm du lịch, các công ty
du lịch cùng khai thác trên một địa bàn hay nhiều địa bàn với nhau và với những người dân với nhau… Nếu các quan hệ này được phối hợp tốt sẽ tạo nên một sức mạnh tổng hợp thúc đẩy sự phát triển du lịch Nhưng nếu không làm tốt sẽ có rất nhiều mâu thuẫn xảy ra Chính vì thế để điều hòa được các mối quan hệ đó là một vấn đề quan trọng bởi
nó là cơ sở để cho du lịch bền vững phát triển
Du lịch cộng đồng góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, bao gồm
sự đa dạng sinh học, tài nguyên nước, rừng, bản sắc văn hóa… Du lịch cộng đồng góp phần phát triển kinh tế địa phương thông qua việc tăng doanh thu du lịch và tăng những lợi ích khác cho cộng đồng DLCĐ có sự tham gia ngày càng đông đảo và tích cực của cộng đồng địa phương, mang lại cho du khách một sản phẩm du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội Có thể nói DLCĐ mang lại rất nhiều lợi ích về mọi mặt và có vai trò rất lớn đối với rất nhiều vấn đề như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, tài nguyên môi trường của quốc gia, khu vực và chính bản thân cộng đồng
- Đối với công tác bảo tồn tài nguyên: DLCĐ góp phần bảo vệ bền vững tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái; Bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa vật thể và phi vật thể của cộng đồng
- Đối với du lịch: DLCĐ tạo ra sự đa dạng sản phẩm dịch vụ du lịch của một vùng, một quốc gia; Góp phần thu hút khách du lịch; DLCĐ góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên du lịch nói riêng
Trang 26- Đối với cộng đồng:
Du lịch cộng đồng mang lại lợi ích kinh tế cho các thành viên trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ du lịch cho khách đồng thời những thành viên khác của cộng đồng cũng được hưởng lợi từ sự tái đầu tư của nguồn doanh thu du lịch vào việc hỗ trợ cung cấp phát triển cơ sở hạ tầng góp phần thay đổi của xã hội địa phương
Du lịch cộng đồng giúp cộng đồng địa phương nhận ra trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường của địa phương tại khu du lịch, từ đó tác động đến nhận thức của các cộng đồng khác về vấn đề nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên môi trường của cộng đồng
Như vậy, có thể khẳng định rằng việc phát triển DLCĐ có vai trò rất lớn đối với mọi mặt trong xã hội, bên cạnh những lợi ích từ DLCĐ đem lại cho xã hội thì nó cũng
có những mặt trái, DLCĐ gây ra một số tác hại, ảnh hưởng xấu đối với cộng đồng địa phương và tài nguyên du lịch địa phương Nhưng chúng ta nhận thấy rằng, vai trò của DLCĐ là rất quan trọng trên nhiều khía cạnh của cộng đồng, vì vậy khi phát triển DLCĐ, con người cần khai thác những thế mạnh của DLCĐ có hiệu quả và hạn chế tối
đa những thiệt hại mà nó gây ra
1.1.3 Điều kiện để phát triển du lịch cộng đồng
1.1.3.1 Tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú và tính đặc trưng cao
Đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định đến phát triển du lịch dựa vào cộng
đồng “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng,
giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch” Trích trong [10]
Như vậy, ngay trong định nghĩa của tài nguyên du lịch đã cho thấy tầm quan trọng của nó Nó được xem như tiền đề phát triển của bất cứ loại hình du lịch nào Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú hấp dẫn, càng đặc sắc thì sức hấp dẫn và hiệu quả du lịch càng cao
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn:
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: bao gồm các yếu tố hợp phần tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên và quá trình biến đổi của chúng, tạo nên các điều kiện thường xuyên tác động đến sự sống và hoạt động của con người được sử dụng vào mục đích du lịch
Trang 27- Tài nguyên du lịch nhân văn: là nhóm tài nguyên du lịch có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sáng tạo ra, bao gồm toàn bộ những sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra có giá trị phục vụ du lịch Các giá trị đó được phân ra thành các giá trị văn hóa vật thể như các di tích văn hóa, lịch sử, sản phẩm truyền thống… hay các giá trị văn hóa phi vật thể như các phong tục tập quán, các lễ hội… của cộng đồng
1.1.3.2 Sự tham gia rộng rãi và hiệu quả của cộng đồng
Điều này được đánh giá trên các yếu tố số lượng thành viên, bản sắc dân tộc, phong tục tập quán, trình độ học vấn và nhận thức trách nhiệm về tài nguyên và phát triển du lịch Xác định phạm vi cộng đồng là những dân cư sinh hoạt và lao động cố định, lâu dài trong hoặc liền kề vùng có tài nguyên thiên nhiên
Cộng đồng dân cư đóng vai trò xuyên suốt trong hoạt động du lịch, vừa là chủ thể tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, vừa là người quản lý, có trách nhiệm bảo tồn tài nguyên du lịch Các yếu tố cộng đồng quyết định tới sự phát triển của du lịch cộng đồng là:
- Sự ý thức về tầm quan trọng cũng như tính chuyên nghiệp trong việc cung cấp một sản phẩm du lịch đúng nghĩa; điều đó phải bắt nguồn từ việc nhận thức về lợi ích của du lịch cộng đồng tới sự phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa và môi trường của cộng đồng
- Ý thức tự hào về cộng đồng tức là tự hào về truyền thống, văn hóa bản địa
- Ý thức về trách nhiệm bảo tồn các tài nguyên tự nhiên, môi trường và văn hóa bản địa
- Cộng đồng phải có một trình độ văn hóa nhất định để hiểu được các giá trị văn hóa bản địa, tiếp thu và ứng dụng các kiến thức văn hóa và kĩ thuật phù hợp vào hoạt động du lịch
- Cộng đồng phải có trình độ hiểu biết về hoạt động du lịch để từ đó cân bằng giữa lợi ích kinh tế và văn hóa, môi trường, giữa văn hóa bản địa và nhu cầu của khách; đó là cơ sở để không làm mai một các giá trị văn hóa bản địa dẫn tới sự xuống cấp của các sản phẩm du lịch đặc trưng
Trang 281.1.3.3 Cơ chế chính sách tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển du lịch và sự tham gia của cộng đồng
Trước tiên ta phải kể đến chủ trương của Đảng và Nhà nước Chủ trương của nhà nước thể hiện ở mục tiêu phát triển và chiến lược phát triển du lịch quốc gia đến các văn bản pháp luật có tính pháp lý với việc quản lý hoạt động du lịch Nếu nhà nước có chủ trương phát triển du lịch thì có các chính sách thuận lợi thu hút khách du lịch và đầu tư cho du lịch Từ đó Nhà nước sẽ có những đầu tư cho địa phương như hỗ trợ vốn, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ đào tạo về kỹ thuật làm du lịch
Chính quyền địa phương có vai trò quan trọng trong điều kiện để phát triển DLCĐ Bằng quyền lực của mình, họ có thể bác bỏ, cấm đoán hay khuyến khích việc xây dựng điểm du lịch cũng như phát triển du lịch Sự yểm trợ cũng như ủng hộ của chính quyền địa phương thể hiện ở các mặt:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch đến tham quan như việc cấp thủ tục hành chính, các quy định không quá khắt khe đối với khách du lịch
- Khuyến khích và hỗ trợ địa phương tham gia hoạt động du lịch: hỗ trợ đầu tư
về vốn, kỹ thuật cho cộng đồng, có những chính sách thông thoáng, mở cửa đối với các tổ chức, đoàn thể tham gia phát triển du lịch
- Tham gia định hướng chỉ đạo và quản lý các hoạt động du lịch
- Tạo môi trường an toàn cho khách du lịch bằng các biện pháp an ninh cần thiết
1.1.3.4 Nguồn cầu của du lịch là nguồn động lực để phát triển DLCĐ của địa phương
Đối tượng của du lịch bao giờ cũng là khách du lịch Đứng dưới góc độ du lịch nói chung, họ là khách thể, là yếu tố tạo ra thị trường và hơn hết có cầu thì mới có cung, điều đó cho thấy tầm quan trọng mang tính quyết định sự hình thành và phát triển của một loại hình du lịch cũng như điểm du lịch Khách du lịch có động cơ là tiếp cận các nguồn tài nguyên ở địa phương cũng như nhu cầu cơ bản khác, nếu nhu cầu của khách du lịch cao thì nguồn cung cũng phải tương ứng Như vậy, khách du lịch là động lực để phát triển du lịch
1.1.3.5 Sự hỗ trợ, giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước về nhân lực, tài chính và kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng
Tổ chức phi chính phủ là các tổ chức hoạt động vì mục đích phát triển cộng đồng trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, du lịch, môi trường và giáo dục… Trong bối cảnh điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước nói chung cũng như địa phương
Trang 29nói riêng còn khó khăn thì sự hỗ trợ của các tổ chức này là rất quan trọng Đối với DLCĐ sự hỗ trợ đó thể hiện ở các mặt:
- Sự nghiên cứu về tiềm năng du lịch địa phương cùng với những giải pháp giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường tạo tiền đề cho sự phát triển du lịch
- Sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và sự đào tạo về nguồn nhân lực cho địa phương
1.1.3.6 Sự liên kết với các doanh nghiệp du lịch trong vấn đề tuyên truyền quảng cáo thu hút khách du lịch
Trong điều kiện phát triển du lịch hiện nay thì doanh nghiệp du lịch vẫn đóng vai trò lớn đối với địa phương Đối với DLCĐ thì các doanh nghiệp du lịch lữ hành là rất quan trọng Các doanh nghiệp đóng vai trò tiên phong trong việc tiếp cận khách du lịch, tạo dựng các sản phẩm du lịch, các tour du lịch… Nó giống như các doanh nhân trong thời đại kinh tế thị trường ngày nay luôn đi trước một bước trong chiến lược kinh doanh cũng như những bước đột phá phát triển kinh tế của đất nước Mô hình du lịch ở bản Lác (Mai Châu) là một ví dụ Hoạt động du lịch của người dân hoàn toàn tự phát, không có nhiều sự giúp đỡ, sự hỗ trợ từ chính phủ và tổ chức phi chính phủ Song nhờ các doanh nghiệp du lịch dẫn khách tới mà lượng khách ngày càng đông, hiện nay DLCĐ ở bản Lác đã trở thành điểm thu hút khách và có thương hiệu
Công tác tiếp thị rất quan trọng, được coi là công tác kích cầu, tạo điều kiện cho khách du lịch biết tới du lịch địa phương và những cơ hội tiếp cận với điểm du lịch Hoàn thiện chiến lược quảng bá và xúc tiến du lịch sẽ tạo điều kiện cho du khách khám phá bản sắc văn hóa bản địa trong phong cảnh tự nhiên hoang sơ, đồng thời nâng cao thu nhập và gìn giữ, bảo tồn các giá trị tự nhiên và nhân văn
Trang 30- Tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng: thực tế cho thấy chương trình du lịch nào cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cộng đồng địa phương Điều quan trọng là các giá trị văn hóa của cộng đồng phải được bảo vệ, giữ gìn với sự đóng góp tích cực của tất cả các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch, đặc biệt là cư dân địa phương bởi không có đối tượng nào có khả năng bảo vệ và duy trì các giá trị văn hóa tốt hơn chính họ Cộng đồng địa phương phải nhận thức được vai trò và vị trí của mình cũng như những lợi hại mà việc phát triển du lịch mang đến
- Chia sẻ lợi ích từ DLCĐ: Theo nguyên tắc này, cộng đồng được hưởng lợi như các thành phần khác tham gia vào các hoạt động kinh doanh cung cấp sản phẩm cho khách du lịch Nguồn thu từ hoạt động du lịch được phân chia công bằng cho mọi thành viên tham gia hoạt động, đồng thời lợi ích đó cũng được trích để phát triển cho lợi ích chung cho xã hội như: tái đầu tư cho cộng đồng xây dựng đường xá, cầu cống, điện và chăm sóc sức khỏe, giáo dục, các khu vui chơi giải trí…
- Xác lập quyền sở hữu và sự tham dự của cộng đồng đối với tài nguyên thiên nhiên, văn hóa truyền thống của địa phương theo hướng phát triển du lịch bền vững
1.1.5 Các loại hình du lịch cộng đồng
Các loại hình du lịch sau đây phù hợp với du lịch cộng đồng bởi nó thuộc quyền
sở hữu và được quản lý bởi cộng đồng địa phương
- Du lịch sinh thái: Là một hình thức du lịch diễn ra trong khu vực tự nhiên (đặc biệt là trong các khu vực cần được bảo vệ và môi trường xung quanh nó) kết hợp tìm hiểu bản sắc văn hóa - xã hội của địa phương có sự quan tâm đến vấn đề môi trường
Nó thúc đẩy một hệ sinh thái bền vững thông qua một quá trình quản lý môi trường có
sự tham gia của tất cả các bên
Có thể nói, du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương Du lịch sinh thái thường được diễn ra ở những khu, điểm
du lịch có tài nguyên hoang sơ, nhạy cảm, có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như: Tại các vườn quốc gia - nơi có cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ, trong lành, có sự đa dạng sinh học cao, giàu tài nguyên du lịch tự nhiên, có dân cư sinh sống, vẫn bảo tồn được nhiều giá trị truyền thống văn hóa đặc sắc; các vùng núi và cao nguyên có độ cao trung bình trở lên, có nhiều phong cảnh đẹp, có các cộng đồng ít người sinh sống với những giá trị văn hóa đặc sắc; các vùng hồ biển có phong cảnh đẹp, giàu tài nguyên thủy sản, người dân địa phương có thể tham gia vào các hoạt động du lịch; ở những vùng có
Trang 31nhiều sông ngòi, thác nước, có phong cảnh đẹp kết hợp với tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn khách du lịch; các vùng có nguồn nước nóng hoặc nước khoáng
Hiện tại, xu hướng du lịch thế giới là con người muốn trở về thiên nhiên, được hòa mình vào thiên nhiên, tìm hiểu bản sắc văn hóa của cộng đồng và bảo tồn thiên nhiên, du lịch sinh thái là loại hình du lịch đáp ứng được mong muốn của du khách
Do đó nó trở thành một loại hình du lịch phổ biến nhanh chóng trong ngành du lịch
Hai trong số các nguyên tắc của du lịch sinh thái đã nhấn mạnh đến vai trò của cộng đồng:
+ Lấy cộng đồng làm trung tâm:
Cộng đồng địa phương đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định về các hoạt động du lịch tại địa bàn mà họ sinh sống thông qua cơ cấu tổ chức riêng của
họ Phải đảm bảo lợi ích của cộng đồng sẽ được bảo vệ, cộng đồng đưa ra quyết định
và được chia sẻ lợi ích từ du lịch
Tập trung vào sáng kiến của cộng đồng và lôi kéo sự tham gia tích cực của cộng đồng Cộng đồng là chủ nhân thực sự của các vùng đất, là người hiểu vùng đất của mình hơn ai hết và đủ niềm tự hào cùng tình yêu để bảo vệ, phát triển nó
Hỗ trợ nâng cao năng lực nhận thức cho cộng đồng trong quá trình quản lý, phát triển du lịch
+ Phát triển kinh tế địa phương:
Đảm bảo nguồn du lịch được sử dụng để nâng cao đời sống cho cộng đồng địa phương, y tế, giáo dục và văn hóa
Hỗ trợ phát triển cộng đồng với sự quản lý của các doanh nghiệp và các quỹ phát triển
Thúc đẩy mở rộng các hoạt động kinh tế khác như nông nghiệp và sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
Như vậy, du lịch sinh thái không chỉ hình thành và phát triển trên cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên được bảo vệ mà nó còn có mối quan hệ với các cộng đồng địa phương trong phạm vi và các khu lân cận Du lịch sinh thái có khả năng tăng cường trong việc bảo vệ các di sản văn hóa tốt hơn và làm tăng niềm tự hào của người dân địa phương Những yếu tố thu hút sự quan tâm của khách du lịch với cộng đồng địa phương rất đa dạng: truyền thống địa phương, các tập quán sinh hoạt, tôn giáo…
Trang 32không tránh khỏi những mối quan hệ qua lại với dân cư địa phương Bởi vậy, điều quan trọng trong phát triển du lịch là đồng thời với việc tạo cho du khách những chuyến đi thú vị thì phải tạo được mối quan hệ hòa hợp với cộng đồng đón khách, cải thiện mức sống cho đa số người dân địa phương, không để lại những ảnh hưởng xấu
về văn hóa - xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững
- Du lịch văn hóa: Là một trong những thành phần quan trọng nhất của du lịch dựa vào cộng đồng từ văn hóa, lịch sử, khảo cổ học… Là yếu tố thu hút khách chủ yếu của cộng đồng địa phương Ví dụ: Du lịch văn hóa sẽ bao gồm các loại hình đưa du khách đến tham quan các di chỉ khảo cổ học, cùng tham gia vào công tác bảo tồn của cộng đồng địa phương hoặc đến với một địa điểm về tôn giáo nổi tiếng hay hòa nhập với những nếp sinh hoạt của cộng đồng địa phương tại một bản làng
Trong du lịch, bản sắc văn hóa của cộng đồng địa phương chính là “cực hút” du khách, đặc biệt là khách quốc tế Các hoạt động du lịch này thường được tổ chức ở những địa bàn nông thôn đồng bằng, các khu phố cổ, các vùng ngoại ô, nơi tập trung nhiều di tích lịch sử, văn hóa có giá trị cao và giàu tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể, những cộng đồng địa phương miền núi, nơi bảo tồn nhiều văn hóa giá trị truyền thống vật thể và phi vật thể đặc sắc, giao thông không quá cách trở
- Du lịch nông nghiệp: Đây là một hình thức du lịch dựa trên yếu tố nông nghiệp, địa điểm có thể là các vườn cây ăn trái, các cánh đồng hoặc trang trại nông lâm kết hợp, hay các tràng chăn nuôi gia súc, thủy hải sản… đã được chuẩn bị để đón tiếp
du khách theo một quy trình đã được sắp xếp khoa học Du khách khi tham gia loại hình này có thể tham quan, tìm hiểu hoặc có thể cùng tham gia hoạt động sản xuất, thu hoạch cùng với người dân địa phương mà không gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và năng suất của gia chủ Ví dụ: Các chương trình tour Farm Trip tại Australia đã đưa du khách đến những trang trại cùng với những người nông dân tham quan tìm hiểu quy trình chăn nuôi bò sữa, tham gia vắt sữa bò hoặc đến những cánh đồng nho, thu hoạch nho và tham gia sản xuất rượu vang và kết thúc mỗi tour các sản phẩm mà chính tay du khách làm ra sẽ được chủ trang trại biếu làm quà như đáp trả cho thành quả và công sức của du khách, mặt khác cũng là cách marketing rất hiệu quả cho các sản phẩm của nông trại
- Du lịch bản địa: Loại hình du lịch này nhấn mạnh vào các yếu tố cộng đồng bản địa, chính họ là người trực tiếp mang các sản phẩm du lịch đến du khách thông
Trang 33qua các giá trị về văn hóa, về lịch sử của cộng đồng địa phương Là yếu tố thu hút
du khách đến với địa phương của mình thông qua các giá trị văn hóa đặc trưng được đúc kết qua hàng ngàn năm Ví dụ: Tại miền bắc Thái Lan có làng DLCĐ của người Karen, một dân tộc có nguồn gốc từ Myanmar, phụ nữ Karen với những chiếc cổ cao và những sản phẩm thổ cẩm tinh tế chính là điểm thu hút rất nhiều du khách tham quan tìm hiểu
- Du lịch làng: Du khách tham gia các hoạt động sinh hoạt trong cuộc sống thôn bản và các làng nông thôn, cư dân địa phương chính là người thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động du lịch, họ cung cấp dịch vụ lưu trú, ăn uống cho khách nghỉ ngơi qua đêm Nhà trọ chính là các điểm kinh doanh du lịch, trong đó du khách ở lại qua đêm trong những ngôi nhà của cư dân địa phương
- Nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ là Loại hình mang tính lịch sử lâu dài của cộng đồng địa phương Đây không phải là một hình thức độc lập của du lịch, mà chính
là một trong những thành phần của các hoạt động du lịch Du lịch sẽ mang đến các cơ hội tốt về kinh doanh cho các cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ, gia tăng doanh số bán hàng cũng như các lợi nhuận về kinh tế từ các loại hình nghệ thuật và mặt hàng thủ công mỹ nghệ Mặt khác, du lịch còn là cầu nối để du khách tìm hiểu thêm các giá trị
về nghệ thuật, thủ công mỹ nghệ của cộng đồng địa phương cũng như góp phần để người dân địa phương hiểu thêm về những giá trị mà mình đang nắm giữ để có những hoạt động bảo tồn giúp những giá trị tốt đẹp đó trường tồn mãi với thời gian
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Một số mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam
DLCĐ ở Việt Nam mới được xuất hiện từ năm 1997 Cho tới nay đã có một số điểm DLCĐ đang hoạt động có hiệu quả Nhưng nhìn chung, các điểm DLCĐ hoạt động chưa có hiệu quả cao Có một số khu vực, hoạt động du lịch cộng đồng đã có giá trị kinh tế cao như: vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ…
1.2.1.1 Mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
DLCĐ ở vùng bằng sông Cửu Long bắt đầu được biết đến từ sau chương trình tàu thanh niên Đông Nam Á cập cảng lần đầu tiên ở TP Hồ Chí Minh vào năm 1995 Tham gia homestay tại đồng bằng Sông Cửu Long, du khách không chỉ hòa vào không gian sống và sinh hoạt của người dân vùng sông nước mà du khách còn được trải
Trang 34hoạch trái cây, đi chợ nổi, cùng chủ nhà nấu những món ăn dân dã, nghe và được thử hát đờn ca tài tử cùng với bà con nông dân theo phương châm 3 cùng: “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” Bên cạnh các hoạt động mà khách du lịch tham gia cùng với gia đình các chủ nhân homestay, các công ty lữ hành cũng phối hợp với các homestay
để tổ chức các tour mang sắc thái riêng của vùng quê Nam Bộ như: “về quê tát mương bắt cá” tại Cồn Phụng (Bến Tre); “một ngày làm nông dân” ở Cái Bè (Tiền Giang); “Tây ở nhà ta” (Vĩnh Long)
Đối tượng khách du lịch của các homestay tại đồng bằng sông Cửu Long khá đa dạng, từ những người có hu nhập trung bình, thấp ở nước ngoài đến những người có thu nhập cao, có địa vị cao trong xã hội như: Doanh nhân, bác sĩ, kĩ sư đến từ Pháp, Bỉ, Đức,
Hà Lan, Nhật Bản… cũng tham gia loại hình du lịch này
Tuy đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưng các hoạt động homestay ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn nhỏ lẻ, theo kiểu tự phát, thiếu chuyên nghiệp, đầu tư chưa bài bản Thường là khách du lịch yêu cầu các dịch vụ thì gia đình đáp ứng, chứ trước đó chỉ có hoạt động bán trái cây Hiện nay, một số chương trình đến các điểm homestay chủ yếu là tham quan, nghỉ vườn, còn các hoạt động lưu trú, ăn uống, các dịch vụ khác gần như không tổ chức được
Một hạn chế nữa ở đồng bằng sông Cửu Long là các tỉnh thành đều phát triển các dịch vụ cộng đồng tương đối giống nhau Các dịch vụ chủ yếu là: tham quan cù lao, ngắm cảnh sông nước, tham quan vườn trái cây, nghe đờn ca tài tử, ghé thăm nhà
cổ, thăm các lò sản xuất kẹo dừa, mật ong, thăm chợ nổi, câu cá… Với dịch vụ quen thuộc đó, du khách sẽ không nhận thấy sự khác nhau về các sản phẩm du lịch ở các tỉnh thành, nên thời gian lưu trú của khách không lâu
Đa số các chủ homestay ở đồng bằng sông Cửu Long thiếu tính chuyên nghiệp trong việc tổ chức và khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ với du khách nước ngoài còn hạn chế Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quá trình ra quyết định, phát huy
ý kiến, năng lực tổ chức trong các chương trình homestay tại đây còn thụ động, mang tính hình thức Người dân mới chỉ là nhân viên thời vụ mỗi khi các công ty lữ hành đưa khách đến địa phương Họ chỉ tham gia vào một số công việc đơn giản như chèo thuyền tham quan kênh rạch, đánh xe ngựa đưa khách di chuyển trên các cù lao, phục
vụ các bữa ăn Các công việc chính như hướng dẫn du khách tham quan, lên thực đơn
Trang 35cho các món ăn mang đặc trưng của vùng miền hay thiết kế các chương trình tham quan thuộc quyền của các đơn vị lữ hành
Như vậy, có thể nói hoạt động du lịch cộng đồng đã và đang phát triển ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng hiệu quả chưa cao, sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chưa có sức hấp dẫn du khách
1.2.1.2 Mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở Hà Giang
Từ Hà Nội, theo Quốc lộ 2 khoảng hơn 300km về phía đông bắc, du khách sẽ đến với Hà Giang - mảnh đất địa đầu nơi biên cương của Tổ quốc Hà Giang có diện tích gần 8.000km², là nơi cư trú của cộng đồng 22 dân tộc, trong đó mỗi dân tộc đều bảo tồn và lưu giữ những giá trị, sắc thái văn hóa riêng, tạo nên bản sắc đặc trưng mà không phải vùng đất nào cũng có được Với những lợi thế đó, Hà Giang đã đẩy mạnh phát triển loại hình du lịch cộng đồng gắn với nông thôn mới, như bước đột phá trong phát triển du lịch của địa phương Đến nay, Hà Giang đã xây dựng được 25 làng văn hóa du lịch cộng đồng tại hầu hết các huyện trong tỉnh, tiêu biểu là các làng Tiến Thắng, Hạ Thành (TP Hà Giang); Nậm Hồng và Phìn Hồ (huyện Hoàng Su Phì)…
Cách thành phố Hà Giang 6km về phía tây, bản văn hóa du lịch Hạ Thành có
117 hộ dân với 558 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Tày, trong đó có 5 hộ tham gia hoạt động du lịch cộng đồng Bản đã thành lập đội ngũ hướng dẫn viên gồm
3 người (1 nam, 2 nữ) có trình độ học vấn trên 12 để dẫn khách tham quan bản Đến
Hạ Thành, du khách sẽ được tận hưởng bầu không khí trong lành, mát mẻ, thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp với những đồi cọ xanh biếc, những tảng đá cổ nằm rải rác khắp các thửa ruộng bậc thang hay dòng thác Nậm Tha ngày đêm ào ào nước chảy Đến đây, du khách còn có dịp tham gia chương trình du lịch “30 phút làm công dân thôn Hạ Thành” với nhiều hoạt động thú vị như: nghỉ đêm tại nhà dân, câu
cá, làm nương, thưởng thức các món ăn dân dã hay tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian như: múa sen, hát cọi, hát then, hát giao duyên… Bà con thôn bản
đã bắt đầu có ý thức về du lịch cộng đồng và mong muốn chính quyền địa phương tạo điều kiện hỗ trợ về cơ sở vật chất và đào tạo nâng cao trình độ nguồn nhân lực phục vụ
du lịch để phát triển hơn nữa loại hình du lịch này trong thời gian tới
1.2.1.3 Mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở Lào Cai
Lào Cai là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển DLCĐ Đây là một trong
Trang 36bào dân tộc anh em sinh sống, mỗi dân tộc có những nét văn hóa đặc trưng riêng đậm
đà bản sắc nên đã tạo nên diện mạo văn hóa Lào Cai phong phú và đa dạng Từ năm
1998, được sự giúp đỡ của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) và Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) tỉnh Lào Cai đã xây dựng thí điểm mô hình cộng đồng tại các
xã Cát Cát, Bản Hổ, Tả Van, Nậm Cang… Mô hình DLCĐ đã góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống của nhân dân, giúp xóa đói, giảm nghèo
Với phương châm: Lấy văn hóa dân tộc là nền tảng và kim chỉ nam cho việc tạo
ra các thế mạnh, các sản phẩm du lịch, đồng thời gắn việc khai thác du lịch với bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số để thu hút khách du lịch Từ năm 2005, DLCĐ ở Lào Cai
có những bước phát triển mới Tỉnh đã có một số điểm DLCĐ hoạt động có hiệu quả như Bản Dền (Xã Bản Hổ), thôn Cát Cát (Xã San Xả Hổ), bước đầu hai bản này đã có
24 nhà nghỉ cộng đồng ở bản Hổ và 10 nhà nghỉ cộng đồng ở San Xả Hổ đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu của du khách Trong các bản này cần phát triển các dịch vụ khác như: Dịch vụ nấu ăn cho du khách, dịch vụ bán đồ lưu niệm… Đời sống của người dân được nâng lên đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh
Ngoài ra, Lào Cai còn xây dựng được nhiều điểm DLCĐ khác có hiệu quả khá tốt như Tả Van Chả (Bắc Hà); Cát Cát (Sa Pa), Cao Sơn (Mường Khương), Lũng Pô, nơi con sông Hồng chảy về đất Việt gắn với làng văn hóa du lịch Mông tại thôn Lũng Pô; Điểm DLCĐ thôn Lao Chải, nơi cội nguồn văn hóa người Hà Nhì đe; Điểm DLCĐ tại cụm thôn trung tâm xã Dền Sáng gắn với văn hóa người Dao Đỏ; điểm du lịch Mường Hum gắn với văn hóa chợ vùng cao; điểm du lịch trung tâm xã bản Xèo gắn với văn hóa dân tộc Giáy
Doanh thu du lịch của các hộ tham gia làm du lịch đạt khá cao, nhiều hộ đạt trên 100 triệu đồng/năm; những hộ có thu nhập thấp hơn cũng đạt khoảng 25 đến 35 triệu đồng/năm
Các sản phẩm DLCĐ ở Lào Cai cũng liên tục gia tăng ở hầu hết các huyện Các
hộ kinh doanh du lịch lưu trú qua đêm cho khách du lịch ở nhiều bản Bản Tà Phìn (Sa Pa) có 20 hộ; Tả Van (Sa Pa) có 42 hộ; Bản Hổ (Sa Pa) có 30 hộ, Cao Sơn (Mường Khương) có 03 hộ; Trung Đô (Bắc Hà) có 14 hộ Doanh thu du lịch tại các hộ kinh doanh dịch vụ du lịch khá cao, nhiều hộ đạt trên 40 triệu đồng/năm
Ngoài việc phát triển dịch vụ lưu trú, DLCĐ phát triển kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác phục vụ nhu cầu cho du khách Tại Sa Pa (Lào Cai), mỗi bản làng, mỗi
Trang 37dân tộc đều khai thác và phát huy bản sắc văn hóa riêng để phát triển du lịch Dân tộc Dao Đỏ ở xã Tà Phìn đã biết khai thác tri thức dân gian trong việc chữa bệnh
và phát triển thành thương hiệu “tắm lá thuốc dân tộc Dao Đỏ - Tà Phìn” Người dân tộc Tày xã Bản Hổ biết khai thác văn hóa vật chất nhà cửa với kiến trúc nhà sàn phát triển thành dịch vụ nhà nghỉ rất tiêu biểu của dân tộc Tày Người dân nơi đây đã phục dựng nhiều tiết mục văn hóa, văn nghệ phục vụ du khách và lưu diễn trong và ngoài nước Một số hộ còn phát triển thêm dịch vụ du khách trực tiếp câu
cá của gia đình và tự chế biến món ăn Đây là hoạt động du lịch rất hấp dẫn Người Mông ở bản Cát Cát biết phát triển dịch vụ du lịch bán hàng lưu niệm, nước uống, dịch vụ khuân vác thuê, dịch vụ dẫn đường tại các điểm nghỉ chân theo tuyến Sa Pa - Sín Chải - Cát Cát - Sa Pa Người dân đã làm chủ các hình thức kinh doanh du lịch của mình và thu lợi ích trực tiếp từ hoạt động kinh doanh đó, qua
đó đã cải thiện được cuộc sống của người dân
Đến nay, Sa Pa đã có 8 điểm và 12 tuyến DLCĐ Các tuyến du lịch thu hút du khách đông như: Sa Pa - Lao Chải - Tả Van - Bản Dền - Thái Phú; và tuyến Sa Pa - Cát Cát - Sín Chải Các tuyến du lịch này hàng năm thu hút được trên 20.000 lượt khách nước ngoài trải nghiệm
Các sản phẩm du lịch văn hóa ở Sa Pa cũng rất đặc trưng Chính sự đa dân tộc
đã làm phong phú sinh hoạt văn hóa dân tộc và trở thành các sản phẩm du lịch Phiên chợ vùng cao ngoài mục đích mua bán hàng hóa còn là một ngày hội văn hóa rất đặc sắc Một số chợ vùng cao trở thành sản phẩm du lịch đặc biệt như chợ Cốc Ly, chợ Bắc Hà, chợ Các Cầu, chợ Pha Long, chợ Mường Hum… Đặc biệt chợ Bắc Hà được giới thiệu là một trong mười chợ hấp dẫn nhất Đông Nam Á
Ruộng bậc thang ở Lào Cai được tạp chí du lịch Travel and Leisure (Hoa Kì) bình chọn là một trong bảy ruộng bậc thang kì vĩ nhất châu Á và thế giới, đặc biệt là ruộng 121 bậc ở làng Vù Lỳ Sung xã Trung Chải… Ruộng bậc thang ở Sa Pa đã phát triển thành sản phẩm du lịch thông qua các tour tham quan ruộng bậc thang, chương trình tour cho du khách tham gia trải nghiệm hoạt động sản xuất nông nghiệp trên các ruộng bậc thang
Sa Pa cũng đã khôi phục được các làng nghề thủ công truyền thống để phát triển DLCĐ Các cơ sở sản xuất hàng lưu niệm, trang phục dân tộc, đồ trang sức, thuốc
Trang 38bản địa, đồng thời góp phần vào việc bảo lưu, giữ gìn nghề thủ công truyền thống Tại các xã vùng cao ở Lào Cai, việc bảo tồn phát triển nghề, làng nghề luôn được coi trọng Nhiều làng nghề đã tạo thương hiệu trên thị trường với sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu cho người dân địa phương và khách du lịch mà còn trở thành hàng hóa, là những món quà lưu niệm cho du khách Ở Sa Pa và Bắc Hà có nhiều tiềm năng để phát triển các làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch Nơi đây có các sản phẩm dệt thổ cẩm, thêu, chạm khắc bạc, mây tre đan, rèn đúc, nấu rượu đã thu hút được nhiều khách du lịch
Ở Lào Cai còn có loại hình DLCĐ văn hóa tâm linh Tại Sa Pa có nhiều di tích như khu di tích vẽ chạm đá cổ với các loại hình khắc vẽ bản đồ, chữ viết, hình người có niên đại cách ngày nay hàng nghìn năm ở thung lũng Mường Hoa Quần thể di tích đền Thượng, đền Mẫu, đền Bắc Hà, đặc biệt là liên kết 3 tỉnh trong chương trình du lịch về cội nguồn ba tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ đã đạt được những hiệu quả nhất định như năm 2010, đền Thượng đã có doanh thu 7 tỷ đồng, đền Bắc Hà thu 10 tỷ đồng
Theo điều tra của IUCN có 70% số du khách quốc tế có nhu cầu đi xuống các bản làng, đồng bào dân tộc thiểu số Từ năm 2006 đến năm 2012 Lào Cai đã có 310.000 lượt khách theo tuyến DLCĐ, trong đó tập trung chủ yếu vào các tour du lịch ở Sa Pa Từ khi Lào Cai áp dụng chương trình: “biến di sản thành tài sản” để phát triển du lịch thì các điểm DLCĐ đã có sức hấp dẫn với du khách hơn Tổng số khách DLCĐ đến Lào Cai tăng nhanh, năm 2010, số lượng khách DLCĐ tăng gấp 1,7 lần so với năm 2006
Như vậy, DLCĐ ở Lào Cai khá phát triển Đây là tỉnh có hoạt động DLCĐ sớm
và có hiệu quả doanh thu cao Năm 2013, các điểm DLCĐ tại huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai đã đón 247.327 lượt khách, năm 2014 đón trên 300.000 lượt khách (riêng bản Dền
xã bản Hổ năm 2013 đón 19.263 lượt khách, năm 2014 đón trên 20.000 lượt khách) Năm 2014, thu nhập bình quân từ DLCĐ ở bản Dền, Tả Vạn, mỗi hộ gia đình là 25 đến 60 triệu đồng/năm có hộ đạt 70 đến 90 triệu đồng/năm Nguồn thu của các hộ làm DLCĐ gấp 5 đến 10 lần những hộ không làm DLCĐ Nhờ DLCĐ phát triển mà các ngành nghề thủ công (sản xuất thổ cẩm, chạm khắc bạc, làm đồ lưu niệm…) và các dịch vụ du lịch đã tạo được công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương Cả tỉnh Lào Cai các điểm DLCĐ đã giải quyết được việc làm cho 2.000 lao động Nếu
Trang 39được đầu tư và có những giải pháp hữu hiệu thì đây sẽ là ngành kinh tế giúp cho Lào Cai xóa đói, giảm nghèo
Ngoài ra, nước ta còn có một số tỉnh thành có hoạt động DLCĐ khá phát triển
và cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao như Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng… Các sản phẩm du lịch nhìn chung còn đơn điệu, hiệu quả kinh doanh du lịch còn thấp,
số lượng khách chưa đông Đặc biệt, du khách phần lớn không thích quay trở lại, do đó cần phải có giải pháp phù hợp để khai thác có hiệu quả hơn những tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng
1.2.2 Một số mô hình phát triển du lịch cộng đồng vùng Tây Bắc
Ở các tỉnh miền Tây Bắc cũng đã có một số công trình nghiên cứu có đề cập đến xây dựng các điểm DLCĐ Tổng cục du lịch Việt Nam, Viện Nghiên cứu phát triển
du lịch, các tổ chức phi chính phủ (tổ chức phát triển Hà Lan) rất quan tâm đến đầu tư
và phát triển DLCĐ tại các tỉnh miền núi nước ta Nhiều dự án phát triển DLCĐ được đầu tư tại tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu…
Ở Sơn La có một số bản du lịch sinh thái cộng đồng tại xã Chiềng Yên (Mộc Châu) và Mường Do (Phù Yên) tỉnh Sơn La Sở Văn hóa, thể thao và du lịch cũng
có quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Sơn La trong giai đoạn 2007 - 2015 và định hướng đến năm 2020, trong đó nhiều bản văn hóa được quy hoạch để phát triển DLCĐ
Năm 2004, tỉnh Điện Biên đã bắt đầu xây dựng mô hình DLCĐ tại 8 điểm văn hóa thuộc huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ theo hình thức nhà nước và nhân dân cùng làm, trong đó nổi bật là các bản Phiêng Lơi, Him Lam (thành phố Điện Biên Phủ) và bản Mển (huyện Điện Biên) Nằm cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 6km về phía bắc, bản Mển có hơn 110 hộ dân với khoảng 500 nhân khẩu đều là người dân tộc Thái đen, trong đó có 6 hộ làm DLCĐ Nhìn từ xa, bản Mển đẹp như một bức tranh với lưng tựa núi, mặt hướng ra cánh đồng rộng mênh mông Nổi bật trên nền xanh của cây cối và bầu trời là những nếp nhà sàn nhỏ xinh còn giữ nguyên nét truyền thống Đến với bản Mển, ngoài dịp chiêm ngưỡng khung cảnh thiên nhiên đặc trưng vùng Tây Bắc, du khách còn có cơ hội trải nghiệm các hoạt động hàng ngày cùng dân bản như: Chế biến các món ăn truyền thống, chăm sóc gia súc, gia cầm, lên rừng lấy củi, xuống suối bắt cá, dệt, thêu thổ cẩm hay tham gia các hoạt động văn nghệ cộng
Trang 40chế biến các món ăn địa phương và một đội văn nghệ gồm 15 người chuyên biểu diễn các bài hát, điệu múa truyền thống phục vụ du khách Đặc biệt, đến đây, du khách sẽ được chính trưởng bản dẫn đi tham quan và tìm hiểu một số phong tục, tập quán độc đáo của đồng bào dân tộc Thái bản địa Nhờ những nỗ lực không ngừng, những năm vừa qua, bản Mển liên tục đạt danh hiệu bản văn hoá cấp tỉnh, đồng thời là điểm du lịch cộng đồng hấp dẫn khách du lịch trong nước và quốc tế
Với những đặc trưng riêng về cảnh quan thiên nhiên cũng như bản sắc văn hóa các dân tộc, mỗi địa phương đã lựa chọn những hướng đi khác nhau nhằm phát triển hoạt động du lịch cộng đồng, đem lại lợi ích kinh tế cho người dân bản địa Để loại hình
du lịch này ngày càng hấp dẫn, thu hút nhiều du khách hơn nữa, các tỉnh cần có sự liên kết chặt chẽ, góp phần tạo ra các sản phẩm du lịch phong phú, đa dạng, mang đậm dấu
ấn riêng của mỗi địa phương
Ở Lai Châu cũng có một số bản đã bước đầu khai thác có hiệu quả như Điểm du lịch cộng đồng bản Hon, bản Vàng Pheo…