1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Phân tích cơ cấu thành phần phụ tải trong đồ thị phụ tải hệ thống điện thị xã từ sơn tỉnh bắc ninh

122 270 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là các thành phần khách hàng sử dụng điện của thị xã Từ Sơn – tỉnh Bắc Ninh và được chia theo 5 thành phần theo như quy định của Tổng cục thống kê

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này do tôi hoàn thành Các kết quả phân tích và tính toán có sử dụng số liệu của Điện lực Từ Sơn - Công ty Điện lực Bắc Ninh

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 7

MỞ ĐẦU 8

I Đặt vấn đề 8

II Lý do chọn đề tài 9

III Tính cấp thiết của đề tài 9

3.1 Mục đích của đề tài 10

3.2 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 11

3.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 11

CHƯƠNG 1 12

TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ NHU CẦU DSM 12

(DEMAND SIDE MANAGEMENT) 12

1.1 Khái niệm về DSM 12

1.2 Chiến lược của DSM 12

1.2.1 Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng của các hộ tiêu thụ 13

1.2.1.1 Sử dụng các thiết bị điện có hiệu suất cao 13

1.2.1.2 Hạn chế đến mức thấp sự tiêu hao điện năng vô ích 13

1.2.2 Điều khiển nhu cầu điện năng phù hợp với khả năng cung cấp điện 17

1.2.2.1 Điều khiển trực tiếp dòng điện 17

1.2.2.1.1 Cắt giảm đỉnh 19

1.2.2.1.2 Lấp thấp điểm 19

1.2.2.1.3 Chuyển dịch phụ tải 19

1.2.2.1.4 Biện pháp bảo tồn 19

1.2.2.1.5 Tăng trưởng dòng điện 20

1.2.2.1.6 Biểu đồ phụ tải linh hoạt 20

1.2.2.2 Lưu trữ nhiệt 20

1.2.2.3 Điện khí hóa 20

1.2.2.4 Đổi mới giá 20

1.3 DSM và các Công ty Điện lực 22

1.4 Các bước triển khai chương trình DSM 23

1.5 Tổng quan các chương trình DSM thực hiện tại Việt Nam 25

1.5.1 Giai đoạn I thực hiện 2000-2002 25

1.5.2 Giai đoạn II thực hiện 2004-2007 26

1.5.2.1 Chương trình tiết kiệm năng lượng thương mại thí điểm EE do bộ công thương quản lý 27

1.5.3 Giai đoạn thực hiện 2007 - 2015 28

1.6 Kinh nghiệm áp dụng DSM từ các nước 28

1.6.1 Các tác động về giá do triển khai DSM 34

1.6.2 Quy hoạch nguồn 35

1.6.3 Vai trò của các công ty dịch vụ năng lượng (ESCO) 38

Trang 3

CHƯƠNG 2 40

HIỆN TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CHƯƠNG TRÌNH DSM CHO HỆ THỐNG ĐIỆN THỊ XÃ TỪ SƠN 40

2.1 Hiện trạng hệ thống điện thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh 40

2.1.1 Hiện trạng nguồn và lưới điện 40

2.1.2 Tình hình cung cấp điện 41

2.2 Một số giải pháp ứng dụng chương trình DSM trên địa bàn thị xã Từ Sơn 41

2.2.1 Các giải pháp giảm tổn thất điện năng 41

2.2.2 Các giải pháp thực hiện chương trình tiết kiệm điện 41

CHƯƠNG 3 47

PHÂN TÍCH CƠ CẤU THÀNH PHẦN PHỤ TẢI 47

TRONG ĐỒ THỊ PHỤ TẢI HỆ THỐNG ĐIỆN 47

3.1 Phương pháp luận nghiên cứu phụ tải 47

3.1.1 Giới thiệu chung 47

3.1.2 Các bước tiến hành nghiên cứu phụ tải 47

3.1.3 Soạn thảo và phê chuẩn số liệu 49

3.2 Phương pháp phân tích cơ cấu thành phần phụ tải đỉnh trong ĐTPT của HTĐ dựa trên cơ sở những đặc trưng cơ bản của các ĐTPT thành phần 50

Để phân tích cơ cấu các thành phần phụ tải trong đồ thị phụ tải ngày của hệ thống điện có thể dùng các phương pháp sau: 51

3.3 Nội dung phương pháp 51

3.3.1 Phương pháp luận 51

3.3.2 Cách lấy số liệu phụ tải 53

3.3.3 Thông tin đặc trưng của đồ thị phụ tải 53

3.3.4 Các giả thiết 54

3.3.5 Xác định các khoảng thời gian công suất cực đại, trung bình và cực tiểu 55

CHƯƠNG 4 59

PHÂN TÍCH CƠ CẤU THÀNH PHẦN PHỤ TẢI THỊ XÃ TỪ SƠN 59

XÂY DỰNG BIỂU ĐỒ PHỤ TẢI THỊ XÃ TỪ SƠN 59

4.1 Phân tích cơ cấu thành phần phụ tải của biểu đồ phụ tải hệ thống điện thị xã Từ Sơn 59

4.1.1 Số liệu thu thập và biểu đồ phụ tải ngày của các khu vực 59

4.2 Tính Tmax, Ttb, Tmin, Kmin của từng phụ tải khu vực 88

4.2.1 Khu vực công nghiệp 88

4.2.2 Khu vực thương mại 93

4.2.3 Khu vực công cộng 98

4.2.4 Khu vực nông nghiệp 104

4.2.5 Khu vực ánh sáng sinh hoạt 107

CHƯƠNG 5 113

CÁC GIẢI PHÁP SAN BẰNG ĐỒ THỊ PHỤ TẢI 113

HỆ THỐNG ĐIỆN THỊ XÃ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH 113

5.1 Các giải pháp chung 113

5.1.1 Vào thời gian cao điểm sáng 113

5.1.2 Vào thời gian cao điểm chiều 117

5.2 Kết luận và kiến nghị 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

25 SSM Supply Side Management Quản lý nguồn cung cấp

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Công suất theo ngày điển hình khu vực công nghiệp - khối luyện kim Bảng 4.2: Công suất theo ngày điển hình khu vực công nghiệp - khối chế biến gỗ Bảng 4.3: Công suất theo ngày điển hình khu vực công nghiệp - khối dệt may

Bảng 4.4: Công suất theo ngày điển hình khu vực công nghiệp - khối cơ khí chế tạo Bảng 4.5: Công suất theo ngày điển hình khu vực thương mại - khối khách sạn Bảng 4.6: Công suất theo ngày điển hình khu vực thương mại - khối nhà hàng Bảng 4.7: Công suất theo ngày điển hình khu vực công cộng - khối cơ quan chính quyền

Bảng 4.8: Công suất theo ngày điển hình khu vực công cộng - khối trường học Bảng 4.9: Công suất theo ngày điển hình khu vực công cộng - khối ánh sáng công cộng

Bảng 4.10: Công suất theo ngày điển hình khu vực công cộng - khối bệnh viện Bảng 4.11: Công suất theo ngày điển hình khu vực công cộng - khối ngân hàng Bảng 4.12: Công suất theo ngày điển hình khu vực nông nghiệp

Bảng 4.13: Công suất theo ngày điển hình khu vực ánh sáng sinh hoạt

Bảng 4.14: Tần suất xuất hiện thời gian công suất cực đại của khu vực công nghiệp Bảng 4.15: Tần suất xuất hiện thời gian công suất trung bình của khu vực công nghiệp

Bảng 4.16: Tần suất xuất hiện thời gian công suất cực đại của khu vực thương mại Bảng 4.17: Tần suất xuất hiện thời gian công suất cực tiểu của khu vực thương mại Bảng 4.18: Tần suất xuất hiện thời gian công suất cực đại của khu vực công cộng Bảng 4.19: Tần suất xuất hiện thời gian công suất cực tiểu của khu vực công cộng Bảng 4.20: Tần suất xuất hiện thời gian công suất cực đại, cực tiểu của khu vực công cộng

Bảng 4.21: Tần suất xuất hiện thời gian công suất cực đại, cực tiểu của khu vực ánh sáng sinh hoạt

Bảng 5.1: Bảng tổng hợp các thành phần phụ tải sau khi đã chuyển một phần phụ tải công nghiệp sang thấp điểm sáng

Bảng 5.2: Số lượng bóng đèn cần thay thế tại các phường - thị xã Từ Sơn

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 4.1: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực công nghiệp - khối luyện kim

Hình 4.2: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực công nghiệp - khối chế biến gỗ

Hình 4.3: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực công nghiệp - khối dệt may

Hình 4.4: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực công nghiệp - khối cơ khí chế tạo

Hình 4.5: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực công nghiệp

Hình 4.6: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực thương mại - khối khách sạn, nhà nghỉ Hình 4.7: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực thương mại - khối nhà hàng

Hình 4.8: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực thương mại

Hình 4.9: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực công cộng - khối cơ quan, chính quyền Hình 4.10: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực công cộng - khối trường học

Hình 4.11: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực công cộng - khối chiếu sáng công cộng Hình 4.12: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực công cộng - khối bệnh viện

Hình 4.13: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực công cộng - khối ngân hàng

Hình 4.14: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực công cộng

Hình 4.15: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực nông nghiệp

Hình 4.16: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực ánh sáng sinh hoạt dân cư

Hình 4.17: Biểu đồ phụ tải ngày hệ thống điện thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Hình 4.18: Biểu đồ tỷ lệ các thành phần tham gia vào đồ thị phụ tải ngày hệ thống điện thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Hình 5.1: Biểu đồ phụ tải ngày hệ thống điện thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh hiện tại Hình 5.2: Biểu đồ phụ tải ngày hệ thống điện thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh sau khi chuyển dịch đỉnh phụ tải

Trang 8

MỞ ĐẦU

I Đặt vấn đề

Điện là một dạng năng lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân,và chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống năng lượng trên thế giới.Do vậy tiết kiệm và sử dụng điện năng hiệu quả là một vấn đề quan trọng cũng dẫn đến tiết kiệm năng lượng nói chung

Trong thời gian gần đây cùng với sự phát triển về kinh tế ở Việt Nam,nhu cầu sử dụng điện năng tăng lên một cách nhanh tróng.Vào giờ cao điểm các nguồn điện phải phát hết công suất, nhiều bộ phận lưới điện truyền tải và phân phối bị quá tải,tổn thất điện năng vào giờ cao điểm tăng cao.Tuy nhiên vào thấp điểm đêm nhu cầu điện năng giảm thấp thì hệ thống nguồn điện và truyền tải điện lại phải giảm công suất dẫn đến vận hành không kinh tế HTĐ

Trong một thời gian dài chúng ta áp dụng chính sách giá năng lượng bao cấp, những mức giá không phản ánh thực chất chi phí của quá trình sản suất,và do vậy vấn đề sử dụng hợp lý và tiết kiệm năng lượng thực tế rất ít được quan tâm mặc dù trong các báo cáo và các phương tiện thông tin vẫn thường xuyên đề cập Trong những năm gần khi nhà nước xóa bỏ chế độ bao cấp,các cơ sở sản suất kinh doanh dần phải tự hạch toán lỗ lãi,vấn đề sử dụng năng lượng đã được quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên do thiếu thông tin, kinh nghiệm và tổ chức kết quả đạt được rất hạn chế Từ những năm 1990 nhiều tổ chức nước ngoài đã giúp đỡ ta những kinh nghiệm, tài trợ kinh phí để tổ chức hội thảo đào tạo và thực hiện những dự án liên quan đến lĩnh vùc sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm.Tuy vậy mặc dù còn rất nghèo chúng ta vẫn khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng với hiệu quả thấp

Từ đó dễ dàng nhận thấy tầm quan trọng của việc hoạch định chính sách phát triển

và sử dụng điện năng một cách hợp lý sao cho nó thực sự là động lực thúc đẩy sự phát triển toàn bộ nền kinh tế

Theo kinh nghiệm của nhiều nước,một trong những giải pháp kinh tế và hiệu quả để giảm bớt nhu cầu phát triển nguồn và lưới điện là áp dụng các chương trình

Trang 9

quản lý nhu cầu (DSM) kết hợp với quản lý nguồn cung cấp SSM (Supply Side Management)

II Lý do chọn đề tài

Đáp ứng nhu cầu sử dụng điện, nhằm phát triển kinh tế và an sinh xã hội là một trong những mục tiêu hàng đầu mà chính phủ đang nỗ lực thực hiện Với nhu cầu phụ tải của Việt Nam tăng khoảng ≥10%/năm đang là gánh nặng trong việc phát triển mới nguồn, lưới điện Nguyên nhân quan trọng nhất là thiếu nguồn vốn đầu tư xây dựng mới các nhà máy điện và đường dây truyền tải Chính vì vậy giải pháp đưa ra là chúng ta nghiên cứu các biện pháp sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm

Thị Xã Từ Sơn-Tỉnh Bắc Ninh là một trong những Thị Xã có tốc độ đô thị hóa rất cao với nhiều khu công nghiệp nặng, nhẹ, nhiều làng nghề dẫn đến tốc độ tăng trưởng phụ tải trên địa bàn rất nhanh Đặc biệt các tháng mùa hè nhu cầu sử dụng điện năng đột biến làm tăng công suất truyền tải trên lưới điện, dẫn đến quá tải cục bộ nhiều MBA, đường dây trung áp và lưới điện hạ áp gây tổn thất điện năng rất lớn và làm tăng khả năng xảy ra sự cố.Trong những năm qua Công ty Điện lực Bắc Ninh đã liên tôc nâng công suất các TBA, phát triển thêm nhiều trạm mới tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được tốc độ tăng trưởng của phụ tải và đó cũng làm một trong những nguyên nhân làm tăng tỉ lệ tổn thất điện năng Để giảm sức ép về tài chính và đáp ứng nhu cÇu sử dụng điện để phát triển kinh tế xã hội, Công Ty ĐLBN

đã và đang tập trung nghiên cứu để tìm ra giải pháp hữu hiệu Muốn vậy cần phải

„biết được cơ cấu thành phần phụ tải trong đồ thị phụ tải hệ thống điện Thị xã Từ Sơn‟ để lựa chọn các giải pháp của DSM phù hợp nhằm sử dông điện năng tiết kiệm

và hiệu quả

III Tính cấp thiết của đề tài

Với nhu cầu phụ tải và tốc độ tăng trưởng điện năng trung bình hàng năm của cả nước vào khoảng 10-15%, trong hoàn cảnh nguồn vốn trong nước còn hạn chế, chủ yếu nguồn vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện là nguồn vốn vay của các tổ chức tài chính trên thế giới (WB, ADB, ODA ) đặt ra cho ngành điện phải

Trang 10

giải quyết một vấn đề hết sức khó khăn: phải đáp ứng nhu cầu điện năng theo tăng trưởng của nền kinh tế nhưng lại rất hạn chế về nguồn vốn đầu tư

Qua các kết quả nghiên cứu về tiềm năng và khả năng khai thác của các nguồn năng lượng sơ cấp, trong tương lai nguồn năng lượng sơ cấp không đủ cung cấp cho nhu cầu năng lượng, nên trong định hướng chiến lược về đầu tư phát triển, EVN đã phải nhập khẩu điện từ Trung Quốc và đang tiến hành đầu tư, liên kết mua bán điện với Lào, Campuchia và liên kết mạng lưới điện và trao đổi điện năng với các nước ASEAN, nghiên cứu triển khai dự án nhà máy điện nguyên tử,NMĐ gió, NMĐ mặt trời và vận hành tối ưu hệ thống điện

Thực tế, qua nghiên cứu, phân tích, đánh giá thì tiềm năng tiết kiệm điện năng trong các lĩnh vực kinh tế đời sống xã hội còn rất lớn vào khoảng 50% lượng điện năng tiêu thụ

3.1 Mục đích của đề tài

Đề tài này sẽ đưa ra các giải pháp hợp lý nhằm phân tích cơ cấu thành phần phụ tải dựa trên cơ sở những đặc trưng của các đồ thị phụ tải thành phần, kết hợp các phương pháp tính toán, các đặc trưng của đồ thị phụ tải ngày với lý thuyết xác suất và thống kê đồ thị phụ tải ngày

Trong điều kiện thiếu nguồn thông tin về phụ tải điện, để phân tích cơ cấu thành phần phụ tải đỉnh trong đồ thị phụ tải, người ta thường sử dụng các phương pháp “So sánh đối chiếu” hoặc “Thống kê, điều tra, đo đạc trực tiếp” tại các nút phụ tải của hệ thống điện Tuy nhiên, độ tin cậy của những kết quả nhận được cũng rất hạn chế

Sau khi phân tích được các đặc điểm, cơ cấu thành phần phụ tải có thể phân tích và đánh giá, tìm ra các giải pháp của các chương trình quản lý nhu cầu điện DSM trong quy hoạch phát triển, làm san bằng phẳng đồ thị phụ tải như: Chuyển dịch phụ tải, cắt đỉnh đồ thị, lấp đầy phần trũng trong đồ thị phụ tải, san bằng đồ thị phụ tải của hệ thống điện, tuy nhiên cần phải phân tích được cơ cấu thành phần phụ tải đặc biệt là phụ tải đỉnh trong đồ thị phụ tải

Trang 11

3.2 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là các thành phần khách hàng sử dụng điện của thị xã Từ Sơn – tỉnh Bắc Ninh và được chia theo 5 thành phần theo như quy định của Tổng cục thống kê;

Phương pháp nghiên cứu là dựa vào những đặc trưng của các đồ thị phụ tải thành phần để xác định được các số liệu yêu cầu rồi thực hiện giải quyết các mục tiêu nghiên cứu

3.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu phương pháp phân tích cơ cấu thành phần phụ tải trong đồ thị phụ tải thực tế của hệ thống điện thị xã Từ Sơn – tỉnh Bắc Ninh; qua đó sẽ đưa ra được các kiến nghị và giải pháp DSM nhằm nâng cao hiệu quả trong sử dụng và tiêu thụ điện năng

Việc nghiên cứu biểu đồ phụ tải các thành phần phụ tải tham gia đỉnh nhằm mục đích phục vụ công tác quy hoạch phát triển hệ thống điện của thị xã Từ Sơn trong tương lai cũng như đưa ra các giải pháp DSM nhằm giảm vốn đầu tư cho nguồn điện và phát triển hệ thống điện mới mà vẫn đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện cho thị xã Từ Sơn

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ NHU CẦU DSM

(DEMAND SIDE MANAGEMENT)

Hiệu quả kinh tế do thực hiện DSM một số nước trên thế giới trong thời gian qua được đánh giá là khá cao và bền vững DSM giúp ngành Điện giảm nhẹ vốn đầu tư xây dựng mới hệ thống điện, tiết kiệm nguồn năng lượng sơ cấp và giảm bớt

sự ô nhiễm môi trường; DSM giúp khách hàng được cung cấp điện năng với giá rẻ, đảm bảo chất lượng điện năng và độ tin cậy cung cấp điện Đây cũng là một trong những mục tiêu quan trọng khi xây dựng thị trường điện ở nước ta để tiến tới thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

Trên thực tế hiệu quả thực hiện DSM tại các nước trên thế giới là rất rõ ràng, DSM làm giảm hơn 10% nhu cầu tiêu thụ điện với mức chi phí chỉ vào khoảng (0,3

 0,5) chi phí cần thiết xây dựng nguồn và lưới điện để đáp ứng lượng điện năng tương ứng

1.2 Chiến lược của DSM

DSM được xây dựng dựa trên hai chiến lược chủ yếu là nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng của các hộ dùng điện và điều khiển nhu cầu dùng điện cho phù hợp với khả năng cung cấp một cách kinh tế nhằm giảm công suất tiêu thụ yêu cầu

Ngoài ra còn có những biện pháp hỗ trợ mang tính kinh tế - xã hội đưa ra các giải pháp khác nhau nhằm khuyến khích khách hàng cải tiến cách tiêu thụ điện năng

Trang 13

mà vẫn đảm bảo yêu cầu và chất lượng phục vụ Việc khuyến khích khách hàng sử dụng hợp lý nguồn năng lượng hoặc giảm bớt nhu cầu sử dụng sẽ là giải pháp thuận lợi hơn việc tăng cường xây dựng thêm các nguồn năng lượng mới

1.2.1 Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng của các hộ tiêu thụ

Chiến lược nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng của các hộ tiêu thụ nhằm giảm nhu cầu điện năng một cách hợp lý; vậy nên có thể làm giảm vốn đầu tư cho việc phát triển nguồn điện và lưới điện và giúp khách hàng sẽ tiết kiệm một khoản chi phí đáng kể

Dẫn đến ngành Điện có điều kiện nâng cấp thiết bị, đường dây chủ động trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng và làm giảm tổn thất điện năng, nâng cao chất lượng điện năng

Chiến lược này bao gồm 2 nội dung chủ yếu sau:

1.2.1.1 Sử dụng các thiết bị điện có hiệu suất cao

Tại thời điểm hiện nay dựa vào các phát minh, các tiến bộ của khoa học và công nghệ, các thiết bị dùng điện đã có hiệu suất cao với tuổi thọ lớn nhưng lại có giá thành tăng không đáng kể; bởi vậy một phần năng lượng điện năng được tiết kiệm cho nền kinh tế

- Dùng các thiết bị điện dân dụng với hiệu suất cao thay thế cho các thiết bị

đã lạc hậu, lỗi thời, hiệu suất thấp (thiết bị chiếu sáng, tivi, quạt, máy thu thanh, tủ lạnh, máy điều hoà, bình đun nước, tủ đá, máy giặt, bàn là, bếp điện )

- Thay thế các thiết bị điện trong công nghiệp bằng các thiết bị có hiệu quả

sử dụng năng lượng cao

- Thay thế các dây chuyền sản xuất cũ với công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng bằng các dây chuyền sản xuất theo công nghệ mới hiện đại tiêu hao ít năng lượng

1.2.1.2 Hạn chế đến mức thấp sự tiêu hao điện năng vô ích

Việc sử dụng hiệu quả nguồn điện năng của Việt Nam còn rất thấp, trong khi

đó tổn thất điện năng trong các khâu sản xuất, truyền tải, phân phối còn cao

Trang 14

Các biện pháp để tiết kiệm điện năng thuộc chiến lược này chia làm 5 khu vực chủ yếu :

- Khu vực nhà ở dân dụng (các hộ gia đình);

- Khu vực công cộng: Các trung tâm thương mại, chợ, các dịch vụ, các văn phòng, các công sở, các trường học và các dịch vụ du lịch, khách sạn;

- Khu vực công nghiệp;

- Khu vực sản xuất nông nghiệp

- Khu vực sản xuất, truyền tải và phân phối điện

Các giải pháp với khu vực nhà ở dân dụng:

Với khu vực nhà ở điện năng được sử dụng chủ yếu cho các thiết bị chiếu sáng và các thiết bị phục vụ nhu cầu sinh hoạt Thực hiện việc lựa chọn các thiết bị

có hiệu suất cao phù hợp với yêu cầu sử dụng, thay thế các bóng đèn sợi đốt, huỳnh quang, thay thế các thiết bị như bình nước nóng, ti vi không có ống phóng sử dụng công nghệ LCD, LED, tủ lạnh nanô, máy giặt, máy điều hoà tiết kiệm điện

Giải pháp với khu vực công cộng: Các trung tâm thương mại, chợ, các dịch

vụ, các văn phòng, các công sở, các trường học và các dịch vụ du lịch, khách sạn…

Với khu vực này việc quan tâm đến khâu thiết kế công trình phù hợp nhằm hạn chế việc tiêu tốn năng lượng trong các khâu chính như: chiếu sáng, làm mát, sưởi ấm sẽ đạt hiệu quả rất cao

Việc tuân thủ các qui định của luật xây dựng, luật môi trường, luật sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm , công tác thiết kế xây dựng, thẩm định, quyết định đầu tư, cấp phép xây dựng sẽ là mục tiêu làm giảm chi phí cho khối này

Tích cực tham gia vào công tác giáo dục, tuyên truyền tại các công sở, nơi công cộng về tiết kiệm điện tránh lãng phí , tiết giảm chi phí công sẽ làm giảm nhu cầu năng lượng tại khu vực công cộng

Thực hiện nghiêm chỉnh việc lắp đặt rơ le thời gian chiếu sáng công cộng, bơm nước nông nghiệp, thực hiện giảm tiêu thụ điện cho máy điều hoà không khí,

Trang 15

ánh sáng tại các cơ quan, xí nghiệp, bệnh viện, công viên, nhà văn hoá, khu vui chơi giải trí…

Thực hiện việc sử dụng các thiết bị đun nước nóng bằng cách sử dụng năng lượng mặt trời, sưởi ấm bằng năng lượng mặt trời giúp chi tiêu kinh tế tốt hơn

Giải pháp với khu vực sản xuất công nghiệp:

Cơ sở sản xuất, chế biến, gia công sản phẩm hàng hoá căn cứ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức về sử dụng năng lượng để lựa chọn, áp dụng biện pháp công nghệ và quản lý sau đây:

1 Đầu tư hiện đại hóa dây chuyền sản xuất, chế biến, gia công sản phẩm hàng hóa; thay thế thiết bị có công nghệ lạc hậu, hiệu suất năng lượng thấp để tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường;

2 Cải tiến, hợp lý hoá các quá trình:

a) Đốt nhiên liệu trong lò hơi, lò luyện, lò nung, lò sấy;

b) Trao đổi nhiệt trong thiết bị gia nhiệt, làm lạnh;

c) Chuyển hóa nhiệt năng thành điện năng, điện năng thành nhiệt năng, cơ năng và các dạng chuyển hóa năng lượng khác;

3 Tận dụng nhiệt thừa của lò hơi, lò luyện, lò nung, hơi nước thải nóng cho mục đích sản xuất và đời sống;

4 Áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm giảm tổn hao năng lượng trong hệ thống cung cấp điện và cung cấp nhiệt;

5 Sử dụng động cơ điện, lò hơi, máy bơm có hiệu suất cao, thiết bị biến tần, thiết bị điều chỉnh tốc độ động cơ cho công trình xây lắp mới hoặc thay thế, sửa chữa;

6 Áp dụng công nghệ đồng phát nhiệt điện đối với cơ sở chế biến, gia công, sản xuất sản phẩm hàng hoá có tiềm năng phát triển phụ tải điện và nhiệt

7 Bù công suất phản kháng để cải thiện cos

8 Thiết kế, vận hành kinh tế các TBA

Với các động cơ điện

-Giữ đúng lịch bảo hành

Trang 16

-Giảm hoặc tránh chạy non tải

-Sử dụng động cơ có công suất phù hợp

-Lắp đặt thêm ASD cho các động cơ lớn có phụ tải luôn thay đổi

-Lắp tụ bù cho động cơ công suất lớn

Với hệ thống nước lạnh

-Bảo hành đúng quy định

-Vận hành thiết bị ở COP cực đại

-Sử dụng thiết bị có hiệu quả cao (COP cao)

-Bảo ôn mạng nước lạnh

-Sử dụng nước lạnh hợp lý

-Cân bằng hệ thống phụ tải điều hòa không khí

-Tích trữ nước lạnh

-Sử dụng máy nước lạnh hấp thụ thay máy lạnh thông thường

-Điều chỉnh theo Entanpi

-Dùng chao đèn có hiệu quả cao

-Cải thiện thông số phòng (giảm mức hấp thụ ánh sáng,giảm độ treo cao đèn)

-Dùng phương pháp chiếu sáng không đồng đều

-Tận dụng ánh sáng tự nhiên

-Thường xuyên bảo dưỡng các hệ thống chiếu sáng

Trang 17

1.2.2 Điều khiển nhu cầu điện năng phù hợp với khả năng cung cấp điện

Về phần nhu cầu có thể được nhận định như là một phần của hệ thống năng lượng liên quan trực tiếp đến người sử dụng năng lượng cuối cùng Đây là phần mà không do nhà cung cấp dịch vụ năng lượng quản lý đến và có yếu tố ngẫu nhiên

Mục tiêu của một hệ thống điện khi thực hiện chương trình DSM là thay đổi hình dáng đồ thị phụ tải; điều hoà nhu cầu tối đa và tối thiểu hàng ngày của năng lượng điện để sử dụng có hiệu quả các nguồn năng lượng sơ cấp Hướng dẫn các khách hàng tránh giờ cao điểm, chỉ sử dụng điện vào những giờ bình thường và khuyến khích vào giờ thấp điểm

Thực hiện các chương trình giảm sử dụng điện, cả giờ cao điểm và giờ bình thường, đặc biệt không làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ cung cấp điện cho khách hàng DSM thay thế về mặt công nghệ các thiết bị hiện đại để tạo ra các dịch

vụ với mức tương tự (hoặc cao hơn) cho người sử dụng điện (ví dụ : chiếu sáng, sưởi ấm, làm mát ) mà lại tiêu thụ ít điện năng hơn

Thực hiện các chương trình xây dựng phụ tải điện được thiết kế để tăng sử dụng các thiết bị điện hoặc chuyển tiêu thụ điện từ giờ cao điểm sang giờ bình thường để qua đó tăng tổng doanh số bán điện Các chương trình này bao gồm việc tăng sử dụng điện trong giờ bình thường Các chương trình DSM giới thiệu các quy trình và công nghệ mới về tiêu thụ điện năng

Thực hiện các chương trình thay đổi giá điện, chu kỳ thiết bị hoặc cắt điện để đáp lại những thay đổi cụ thể về chi phí năng lượng hoặc nguồn năng lượng có thể đạt được tính linh hoạt về hình dạng của đồ thị phụ tải Các chương trình này bao gồm tính giá tức thời và tính giá theo tỷ lệ thời gian sử dụng điện

1.2.2.1 Điều khiển trực tiếp dòng điện

Thực hiện phương pháp này có tác dụng giảm sử dụng điện tối đa vào các giờ cao điểm tối và cao điểm ngày Chương trình DSM giảm sử dụng điện tối đa thường là các chương trình thực hiện tiết kiệm do khách hàng dùng điện và ngành điện kiểm soát các thiết bị điện như máy điều hoà nhiệt độ, chiếu sáng hay bình

Trang 18

nước nóng Phương pháp khống chế nhiệt độ của máy điều hoà nhiệt độ hay rơ le thời gian cho các thiết bị điện là hiệu quả

( kWh) ( kWh)

( t ) ( t ) Cắt giảm đỉnh Lấp thấp điểm ( kWh) ( kWh)

……

…………

… ……

( t ) ( t ) Chuyển dịch phụ tải Biện pháp bảo tồn ( kWh) ( kWh)

……

………

…………

………

( t ) ( t)

Tăng trưởng dòng điện Biểu đồ phụ tải linh hoạt

Trang 19

1.2.2.1.1 Cắt giảm đỉnh

Đây là biện pháp khá thông dụng để giảm phụ tải đỉnh trong các giờ cao điểm của hệ thống điện nhằm làm giảm nhu cầu gia tăng công suất phát và tổn thất điện năng.Có thể điều khiển dòng điện của khách hàng để giảm đỉnh bằng các tín hiệu điều khiển từ xa hoặc trực tiếp tại hộ tiêu thụ.Ngoài ra bằng chính sách giá điện cũng có thể đạt được mục tiêu này,tuy nhiên khi áp dụng biện pháp này các khách hàng thường được thỏa thuận hoặc thông báo trước để tránh những thiệt hại do ngừng cung cấp điện

1.2.2.1.2 Lấp thấp đểm

Đây là biện pháp truyền thống thứ 2 Để điều khiển dòng điện lấp thấp điểm

là tạo thêm các phụ tải vào thời gian thấp điểm, điều này đặc biệt hấp dẫn nếu như giá điện cho các phụ tải dưới đáy nhỏ hơn giá điện trung bình Thường áp dụng biện pháp này khi công suất thừa được sản xuất bằng nhiên liệu rẻ tiền, kết quả là gia tăng tổng điện năng thương phẩm nhưng không làm tăng công suất đỉnh Tránh được hiện tượng xả nước (thủy điện) hoặc hơi (nhiệt điện) thừa,có thể lấp thấp điểm bằng các kho nhiệt (nóng, lạnh) Xây dựng các nhà máy thủy điện tích năng, nạp điện cho ắc quy, ô tô điện…

1.2.2.1.3 Chuyển dịch phụ tải

Chuyển dịch phụ tải từ thời gian cao điểm sang thời gian thấp điểm,kết quả giảm được công suất đỉnh song không làm thay đổi điện năng tiêu thụ tổng.Các ứng dụng trong trường hợp này là các kho nhiệt, các thiết bị tích năng lượng và thiết lËp

hÖ thống giá điện thật hợp lý

1.2.2.1.4 Biện pháp bảo tồn

Đây là biện pháp giảm tiêu thụ cuối cùng dẫn tới giảm tiêu thụ điện năng tổng nhờ việc nâng cao hiệu năng của các thiết bị dùng điện.Biện pháp này giúp bảo tồn năng lượng bền vững nó liên quan đến việc giảm tải trọng năng lượng tổng thể, chính sách năng lượng, chính sách phát triển kinh tế và chính sách quản lý kinh tế

Trang 20

1.2.2.1.5 Tăng trưởng dòng điện

Tăng thêm các khách hàng mới (Chương trình điện khí hóa nông thôn) dẫn tới tăng cả công suất đỉnh và tổng điện năng tiêu thụ

1.2.2.1.6 Biểu đồ phụ tải linh hoạt

Biện pháp này xem độ tin cậy cung cấp điện như một biến số trong bài toán lập kế hoạch tiêu dùng và do vậy đương nhiên có thể cắt điện khi cần thiết Kết quả

là công suất đỉnh và cả điện năng tiêu thụ tổng có thể suy giảm

1.2.2.3 Điện khí hóa

Mở rộng điện khí hóa nông thôn, điện khí hóa hệ thống giao thông hoặc dùng điện thay thế việc đốt xăng, dầu trong các thiết bị động lực làm gia tăng dòng ®iện đỉnh và điện năng tổng của hệ thống Song đó là việc làm cần thiết bởi nó sẽ thúc đấy sự phát triển của kinh tế - xã hội và giảm thiểu sự hủy hoại môi trường

1.2.2.4 Đổi mới giá

Nhu cầu sử dụng điện của các khách hàng thường phân bố không đều theo thời gian một cách tự nhiên, theo tập quán sinh hoạt, làm việc và sản suất sẽ xuất hiện các cao điểm và thấp điểm trong đồ thị phụ tải của hệ thống Tại thời gian cao điểm hệ thống phải huy động mọi khả năng phát điện để đáp ứng nhu cầu của phụ tải, đôi khi vẫn phải xa thải phụ tải, cắt khống chế, luân phiên, nếu không xây dựng

Trang 21

thêm các nguồn điện cũng như hệ thống truyền tải mới Nên chi phí thực để đáp ứng nhu cầu điện năng trong thời điểm này sẽ rất cao Nhưng trong thời gian thấp điểm thì ngược lại với cao điểm nên xảy ra tình trạng:

+ Thủy điện phải xả nước vô ích vào mùa mưa

+ Nhiệt điện phải xả bớt hơi quá nhiệt, đôi khi phải ngừng phát và chạy với công suất hạn chế theo điều kiện kỹ thuật, dẫn đến:

+ Vốn đầu tư xây dựng không được khai thác hợp lý

+ Vận hành MBA non tải gây tổn thất cho hệ thống

+ Tại một số nước giá bán điện không được thay đổi trong suốt thời gian cung cấp đã t¹o nên những hạn chế đáng kể đối với việc khuyến khích sử dụng điện năng thật hiệu quả.Ở các nước phát triển, giá bán điện sử dụng như một công cụ rất hiệu quả để điều hòa nhu cầu dùng điện, biểu giá được thay đổi một cách linh hoạt phụ thuộc vào từng mùa, từng thời ®iÓm cấp điện Khả năng đáp ứng của hệ thống trị số công suất và điện năng yêu cầu, địa điểm tiếp nhận, đối tượng khách hàng… Nhờ vậy điện năng đã được sử dụng một cách hiệu quả đem lại lợi ích cho cả người cung cấp lẫn người sử dụng.Giá điện mà nhà cung cấp mua lại của khách hàng thường rất cao để khuyến khích khách hàng sử dụng những nguồn năng lượng rẻ và sạch và bán lại cho khách hàng với giá rất rẻ

1.Giá tính theo thời điểm sử dụng (Lắp đặt công tơ 3 giá)

2.Giá cho phép cắt điện khi cần thiết

Biểu giá này được áp dụng để khuyến khích các khách hàng cho phép cắt điện trong các trường hợp cần thiết phù hợp với khả năng cung cấp điện.Số lần cắt điện và thời gian cắt phụ thuộc vào sự thỏa thuận với khách hàng và số tiền khách hàng được nhận thêm từ dịch vụ này

Để thưc hiện DSM hoặc thực hiện mục tiêu của Chính Phủ, để phát triển kinh tế.Nếu các khách hàng có hệ thống lưu nhiệt hoặc đặt các thiết bị sử dụng các nguồn năng lượng khác như mặt trời,gió,thủy điện nhỏ,pin năng lượng…để giảm dòng điện trong suốt thời gian cao điểm sẽ được hưởng mức giá đặc biệt theo công suất của nguồn năng lượng mà khách hàng hiện có

Trang 22

Tuy nhiên cũng cần tính toán và thực hiện các biểu giá đặc biệt sao cho thực

sự có tính thuyết phục, hợp lý, có lợi cho cả hai bên, nếu không khoản tiền trả cho khách hàng khi cho phép cắt điện hoặc tham gia tích cực vào chương trình DSM lớn hơn những gì do DSM mang lại có thể làm tăng giá cả cho những khách hàng không tham gia vào chương trình

1.3 DSM và các Công ty Điện lực

Với các Công ty Điện lực thì chương trình DSM chính lại là một phương pháp hệ thống nhằm phối hợp kiểm soát các biện pháp cung cấp và sử dụng năng lượng cho đạt hiệu quả cao Phương pháp này được phát triển tại Mỹ cùng với khái niệm phụ trợ về lập kế hoạch cho chi phí tối thiểu hay quan trọng hơn là chính sách

về lập kế hoạch an ninh năng lượng cho cả quốc gia

Việc sử dụng điện hiệu quả, tiết kiệm vẫn còn mới mẻ do nếp nghĩ cũ lạc hậu, chưa phát triển tương xứng với những kinh nghiệm mà ngành công nghiệp sản xuất và tiêu thụ điện năng có được; mà bản chất của vấn đề này là:

- Khách hàng đang thiếu thông tin hiểu biết về các biện pháp tiết kiệm năng lượng, không thực sự hiểu về an ninh năng lượng, một vấn đề toàn cầu mới

- Thiếu vốn cho các khoản đầu tư trang thiết bị công nghệ mới, xử lý các thiết

bị cũ lạc hậu

- Với khách hàng dùng điện đang thiếu trách nhiệm trong việc tiết kiệm điện năng, an ninh năng lượng

- Thông tin về đơn giá năng lượng chưa thực sự được khách hàng quan tâm

- Về giá điện các biểu giá điện chưa thực sự phản ánh đúng theo thị trường, vẫn có sự điều tiết, bao cấp

- Thiếu các cơ sở pháp lý cho các pháp lệnh, các luật về các chính sách tiết kiệm năng lượng, các biện pháp thực hiện thực hiện cụ thể

Trách nhiệm và nhiệm vụ chính với ngành điện và các công ty điện lực là rất quan trọng trong chiến lược này, việc tuyên truyền, hướng dẫn khách hàng, đưa thông tin chính xác cho khách hàng nhiệm vụ lâu dài

Trang 23

Qua các nhận xét trên có thể thấy các chương trình DSM thực sự sẽ mang lại nhiều lợi ích cho ngành Điện cũng như Công ty Điện lực, đồng thời giúp khách hàng đạt được các yêu cầu mong muốn

1.4 Các bước triển khai chương trình DSM

- Thiết kế các chương trình thí điểm:bao gồm cách tiếp thị, quảng cáo cho chương trình, các chế độ khuyến khích đối với khách hàng, cơ chế chuyển giao, kế hoạch theo dõi, quản lý và có đánh giá về các yếu tố bất ổn về kỹ thuật, kinh tế và thị trường; ngoài ra cần xác định các cách tiến hành thế nào để giảm rủi ro và tăng nhanh khả năng thành công của chương trình Cuối cùng là tiến hành phân tích về tài chính để tạo ra một chương trình có thể sinh lợi để các khách hàng chấp nhận đầu tư

- Thực hiện các chương trình thí điểm

- Lựa chọn mục tiêu chương trình căn cứ trên các yêu cầu của các Công Ty Điện Lực.Các mục tiêu về biểu đồ phụ tải nói chung và các thành phần phụ tải nói riêng

- Thu nhập dữ liệu

- Tiếp thị DSM phải xác định rõ từng loại khách hàng, điện năng tiêu thụ hiện tại,thói quen tiêu dùng,công nghệ của thiết bị sử dụng điện, quan niệm sử dụng điện của họ…

- Trên cơ sở các dữ liệu cần thiết có thể đánh giá tiềm năng DSM với khách hàng,các biện pháp DSM khác nhau đối với từng khách hàng khác nhau dẫn đến lợi ích về kinh tế được đề cập đến để các công ty Điện Lực và khách hàng cùng tham gia

- Đánh giá các chương trình DSM

- Khi DSM được sử dụng như các nguồn lực thực sự của ngành điện,do đó có thể giảm việc xây dựng các NMĐ mới,ĐD truyền tải,TBA mới

Trang 24

- Các đánh giá về tác động của chương trình quyết định sự thay đổi về phương thức tiêu thụ năng lượng.Việc đánh giá chương trình cũng kịp thời cung cấp thông tin phản hồi quan trọng cùng những đề xuất điều chỉnh chương trình giữa chừng

- Triển khai các chương trình tổng thể: Các Công Ty Điện Lực sẽ đưa ra các chương trình DSM thiết kế để sinh lợi nhiều hơn.Các Điện lực triển khai dựa trên sự

tổ chức đồng bộ của toàn xã hội

Việc triển khai thành công các chương trình DSM tại các Công ty điện lực, cần phải tuân theo các bước sau trước khi mở rộng các chương trình DSM:

- Thực hiện phát triển cơ cấu tổ chức;

- Thu thập các dữ liệu thị trường tại thời điểm;

- Phân tích nhu cầu và xác định các biện pháp cụ thể;

- Chuẩn bị dự báo nhu cầu cơ sở trong tương lai;

- Đánh giá tiềm năng kỹ thuật và kinh tế tối ưu;

- Thiết kế các cơ chế phân phối cụ thể;

- Đánh giá tiềm năng thị trường;

- Thực hiện đánh giá rủi ro gặp phải;

- Ban hành các chương trình thí điểm;

- Thiết kế các kế hoạch đánh giá theo dõi và quản lý;

- Thực hiện phân tích IRP;

- Cụ thể hoá lịch trình thực hiện và vấn đề vay vốn sản xuất;

Nội dung rất quan trọng trong nghiên cứu ứng dụng DSM là nghiên cứu đánh giá tiềm năng và tác động của DSM đối với xã hội

Các chương trình quản lý phụ tải được thiết kế nhằm mục đích cắt giảm phụ tải đỉnh và thường ít có ảnh hưởng đến tổng năng lượng tiêu thụ và mang lại nhiều lợi nhuận cho các công ty điện lực cũng như toàn hệ thống

Trang 25

1.5 Tổng quan các chương trình DSM thực hiện tại Việt Nam

DSM tại Việt Nam đang ở mức sơ khai ban đầu Chính phủ và Bộ Công thương đang chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam tổ chức thực hiện tốt các giai đoạn của chương trình DSM

1.5.1 Giai đoạn I thực hiện 2000-2002

Với mục tiêu cắt giảm một lượng công suất khoảng 130 MW công suất hệ thống điện vào giờ cao điểm bằng các biện pháp

- Lắp đặt công tơ điện tử theo biểu giá thời gian áp dụng đối với khách hàng

sử dụng điện có trạm biến áp chuyên dùng từ 50kVA trở lên và có điện tiêu thụ bình quân tháng từ 2.000kWh trở lên;

- Chương trình điều khiển phụ tải trực tiếp bằng sóng tự động cắt các thiết bị

sử dụng năng lượng điện (như điều hoà nhiệt độ, hệ thống đun nước nóng ) vào giờ cao điểm;

- Chương trình quảng bá và đẩy mạnh sử dụng đèn huỳnh quang bóng gầy, bóng đèn compact

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền tiết kiệm điện với nhiều hình thức như:

+ Phát trên các phương tiện thông tin, in hình tiết kiệm điện sau tờ hóa đơn

+ Phát hành các tờ rơi hay in những dòng chữ chạy trên màn hình ti vi vào giờ cao điểm

- Nâng cao năng lực điều hành DSM và thực hiện giám sát và đánh giá các biện pháp DSM trong EVN

- Nâng cao năng lực nghiên cứu phụ tải của EVN

- Thiết kế và thực hiện chương trình nghiên cứu quản lý phụ tải thí điểm trong khoảng 100 đơn vị thương mại và công nghiệp lớn

- Chuẩn bị và thực hiện một luật xây dựng mang tính thương mại liên quan đến hiệu quả năng lượng

Trang 26

- Phát triển các tiêu chuẩn quốc gia về động cơ và thiết bị chiếu sáng có hiệu suất cao và một cơ chế thực hiện cụ thể

- Thực hiện thí điểm chương trình chiếu sáng công cộng thành phố theo chương trình DSM

- Thực hiện thí điểm kiểm toán năng lượng với các khách hàng dùng điện

- Chuẩn bị nghiên cứu khả thi cho việc thực hiện Giai đoạn 2 của kế hoạch hành động DSM toàn quốc

Cho đến nay các nội dung chính của dự án đã được thực hiện, chương trình

đã góp cắt giảm được 200MW công suất đỉnh hệ thống và làm giảm độ chênh lệch giữa công suất vào giờ cao điểm và công suất vào giờ thấp điểm xuống còn 1,9 – 2,2 lần

1.5.2 Giai đoạn II thực hiện 2004-2007

- Chương trình DSM giai đoạn II do EVN quản lý: nhằm tiếp tục triển khai các hoạt động DSM của EVN và các hoạt động chuyển đổi thị trường, thử nghiệm các mô hình chương trình DSM mới

- Triển khai các chương trình EE thí điểm do Bộ công nghiệp quản lý

- Chương trình giá điện theo thời gian TOU: EVN lắp đặt công tơ điện áp dụng biểu giá điện theo thời gian sử dụng

- Chương trình thí điểm điều khiển phụ tải trực tiếp (DLC): Thí điểm DLC bằng hệ thống điều khiển sóng điện để cắt tải của khoảng 2.000 điểm phụ tải của khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh với lượng công suất đỉnh cắt được khoảng 2.700kW

- Chương trình đèn Compact (CFL): EVN bán khoảng 1 triệu bóng đèn compact 12-18W để thay thế cho các hộ gia đình ở nông thôn dùng đèn sợi đốt có công suất từ 60 ÷ 100W và có công suất chiếu sáng tương đương với đèn sợi đốt.Việc giảm giá sẽ giảm dần theo thời gian thực hiện chương trình

Trang 27

- Chương trình bóng đèn huỳnh quang gầy (tuýp gầy FTL): 36W, với công suất chiếu sáng và giá thành tương đương như bóng đèn T-12-40W nhưng tiêu thụ điện ít hơn khoảng 10%

- Chương trình bổ trợ: EVN cũng sẽ triển khai các hoạt động phụ trợ để giúp cho các chương trình trên

1.5.2.1 Chương trình tiết kiệm năng lượng thương mại thí điểm EE do bộ công thương quản lý

Chương trình được giới hạn thực hiện ở 4 thành phố chính (Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) Các biện pháp tiết kiệm năng lượng sẽ được giới hạn trong chiếu sáng, điều khiển động cơ, làm mát/sưởi ấm, và hệ thống cung cấp điện Từ giới hạn này dần xây dựng khả năng của các cơ quan thực hiện chương trình, tạo thuận lợi cho việc phát triển các tiêu chuẩn kỹ thuật của chương trình

Các hoạt động trong chương trình thí điểm sẽ bao gồm:

- Chương trình đào tạo tổng hợp cho cơ quan thực hiện dự án: Cung cấp những kiến thức kỹ thuật, tài chính và kinh doanh cơ bản cho các cơ quan thực hiện

dự án và tạo thuận lợi cho việc thực hiện các đề xuất của dự án cũng như một vài trợ giúp kỹ thuật chọn lọc để phát triển các kế hoạch kinh doanh và quảng bá

- Kiểm toán và đầu tư không hoàn lại : Chương trình sẽ cung cấp khoản trợ giúp không hoàn lại cho kiểm toán năng lượng và các khoản trợ giúp cho các cơ quan thực hiện dự án và các khách hàng Khi các cơ quan thực hiện dự án bổ sung thêm các khách hàng, các chương trình sẽ chào mời một phần hoặc toàn bộ khoản tiền không hoàn lại cho việc kiểm toán năng lượng

- Quảng bá, giám sát và điều hành chương trình : Chương trình sẽ cung cấp kinh phí để hỗ trợ cho việc:

+ Quảng bá, quảng cáo cho chương trình

+ Giám sát và điều hành dự án

+ Chi phí quản lý và trợ giúp kỹ thuật

Trang 28

+ Các nghiên cứu khả thi cho việc mở rộng thành công dự án

1.5.3 Giai đoạn thực hiện 2007 - 2015

Tổng mức chi phí thực hiện chương trình giai đoạn này là 120 tỷ đồng.Trong

đó mục tiêu tổng quát của chương trình gồm:

- Nâng cao nhận thức của cộng đồng về DSM, thu hút sự quan tâm để chuyển biến thành nhu cầu và thúc đẩy hành động về DSM trong toàn xã hội

- Phấn đấu cắt giảm được nhu cầu công suất đỉnh của hệ thống điện quốc gia

2010 là 500MW năm 2015 là 1.200MW thông qua triển khai thực hiện các chương trình DSM

Nội dung của chương trình bao gồm 4 nhóm nội dung chính sau:

- Nhóm 1: Các chương trình hỗ trợ DSM gồm chương trình nghiên cứu phụ tải

- Nhóm 2: Các dự án DSM trung và dài hạn, gồm: Chương trình kiểm soát phụ tải trực tiếp (LDC); chương trình công tơ biểu giá theo thời gian TOU và các biện pháp khuyến khích có liên quan; chương trình áp dụng biểu giá đặc biệt cho khách hàng chấp nhận bị ngắt điện; Chương trình bù công suất phản kháng

- Nhóm 3: Chương trình quốc gia nâng cao nhận thức về DSM

- Nhóm 4: Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nhu cầu điện

1.6 Kinh nghiệm áp dụng DSM từ các nước

Trên thực tế đứng theo phương diện tài chính thì các Công ty điện lực khi bán ra mỗi kWh sẽ làm tăng doanh thu và mỗi kWh không bán được sẽ làm giảm doanh thu Việc áp dụng DSM mà thực chất ở đây là giảm nhu cầu sử dụng điện sẽ làm các Điện lực giảm doanh thu

Tuy nhiên với phần lớn các Công ty Điện lực trên thế giới việc áp dụng DSM

là đi ngược lại với phương thức kinh doanh thuần tuý, gây băn khoăn trong quá trình thực hiện các hoạt động DSM

Trang 29

Việc làm sao đảm bảo cho các Công ty điện lực này đồng ý thực hiện việc triển khai DSM, nhưng không ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế chung của cả nền kinh

tế

Có ba mô hình về quản lý phụ tải đã được áp dụng ở các nước khác nhau trên thế giới, nó biểu hiện trạng thái hệ thống điện của mỗi nước, đặc trưng của hệ thống điện nước đó, nhưng có cùng nguyên tắc cơ bản khi áp dụng DSM

Mô hình những quy tắc

Đây là mô hình được áp dụng chủ yếu ở các nước mà Nhà nước giữ vai trò điều hoà lớn như Hoa Kỳ và Canada cũng như một số nước nhỏ ở Châu Âu như Đan Mạch và Hà Lan

Với mô hình này người ta áp dụng sự độc quyền để đưa ra các nguyên tắc về tiêu dùng điện nhằm đạt được các mục tiêu khi thực hiện DSM

Mô hình này có 4 đặc trưng chủ yếu sau:

- Nhà nước uỷ quyền cho các Công ty phân phối để các Công ty này có thể quản lý phụ tải với chức năng là người đáp ứng phụ tải điện Các Công ty phân phối phải thực hiện công việc quản lý phụ tải trên cơ sở định hướng mà Nhà nước đã chi

ra với mục tiêu lợi ích toàn cộng đồng là lớn nhất có thể

- Nhà nước giữ vai trò là người điều hoà sẽ xây dựng các cơ chế và khuyến khích tài chính để có thể năng động hoá tính độc quyền của ngành điện khi thực hiện công việc quản lý phụ tải đối với các hộ tiêu thụ điện năng

- Nhằm giải quyết các khó khăn gặp phải khi các đơn vị điện lực thực hiện công việc quản lý, Nhà nước cần xây dựng một kế hoạch thích hợp giữa khả năng cung cấp và phụ tải yêu cầu bằng việc buộc các Công ty phân phối điện thực hiện một chương trình cung cấp vì lợi ích tổng thể đi từ việc phân tích kinh tế của việc thực hiện DSM sẽ được áp dụng

- Trong quá trình thực hiện kế hoạch, phải có sự tham gia từ phía khách hàng tiêu thụ điện, nhóm các Công ty điện lực phía Nhà nước và các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý phụ tải điện

Trang 30

Mặt khác, Nhà nước cũng muốn mở rộng việc nghiên cứu, sản xuất điện năng từ những nguồn năng lượng mới hoặc năng lượng tái tạo

Đồng thời với phía phụ tải là những chiến dịch vận động tiết kiệm năng lượng dưới nhiều hình thức khác nhau kết hợp với các chính sách về giá đánh vào các hộ sử dụng điện trong giờ cao điểm

Công ty điện lực bắt đầu đưa ra các chiến lược nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa nhà cung cấp và các khách hàng, đảm bảo lợi ích của nhau

Căn cứ từ tính độc quyền của thị trường năng lượng, khách hàng dùng điện bắt buộc phải có những hợp tác với phía nhà sản xuất điện năng nếu như họ muốn

có mặt trong hệ thống và chính điều đó cho phép thực hiện tốt DSM theo cả hai khía cạnh là tiết kiệm điện năng và giảm công suất ở giờ cao điểm bằng các qui định, điều luật riêng

Mô hình cạnh tranh

Trong mô hình này, các Công ty điện lực được tự do trong hoạt động vận hành Đây là mô hình được áp dụng ở vương quốc Anh và Na Uy Mô hình DSM cạnh tranh theo những đặc trưng của ngành công nghiệp tự do nhau cạnh tranh

- Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện năng thể hiện với các đặc trưng cơ bản là:

+ Thực hiện mở cửa thị trường trong sản xuất nguồn điện

Trang 31

+ Thực hiện xây dựng các mạng truyền tải cạnh tranh, mở rộng, tuy nhiên nó vẫn phải vận hành trên cơ sở nguyên tắc chung, không phân chia riêng rẽ và đảm bảo yêu cầu về giá

Từ mô hình cạnh tranh này tạo ra các ưu điểm sau:

- Việc thị trường điện là cạnh tranh đẫn đến rất nhiều lợi ích mà khách hàng được lợi;

- Khách hàng có thể thoải mái chọn lựa nhà cung cấp dịch vụ tốt do có nhiều nhà cung cấp dịch vụ

- Việc triển khai DSM được các nhà cung cấp thuyết phục các khách hàng thực hiện tốt hơn, do các vùng có mật độ dân cư trung bình hoặc thưa thớt nếu các nhà dịch vụ cùng khách hàng không áp dụng DSM sẽ dẫn đến chất lượng dịch vụ kém, khách hàng từ chối mua bán điện của Công ty cung cấp

Đánh giá về DSM trên thế giới hiện có rất nhiều nước đã áp dụng thành công DSM để nâng cao hiệu quả tiết kiệm năng lượng, việc thực hiện có hiệu quả các chương trình DSM làm giảm áp lực tăng thêm các nhà máy phát điện mới, cải thiện tính kinh tế và độ ổn định vận hành hệ thống điện, kiểm soát trượt giá biểu giá điện, tiết kiệm nguồn tài nguyên hiện có và cải thiện môi trường

DSM đã trở thành một chiến lược quan trọng nhằm đạt được phát triển bền vững Tuy nhiên, việc áp dụng và sự thành công của các chương trình DSM phụ thuộc nhiều vào điều kiện hoàn cảnh của từng quốc gia

Bảng tổng hợp sau thể hiện sơ lược về mô hình áp dụng các chương trình quản lý nhu cầu DSM thành công cũng như là việc áp dụng IRP đã được hiệu quả của các quốc gia thế giới

Tại Mỹ:

- Nước Mỹ là nước tiêu tốn đến 40% nhu cầu năng lượng trên thế giới

- Nước Mỹ tiêu tốn hơn 600 tỷ USD cho tổng năng lượng tiêu thụ trong năm

2000 Nhiều bang ở nước Mỹ đã sử dụng IRP để so sánh giữa lợi ích và chi phí của DSM với chi phí sản xuất điện tăng thêm

Trang 32

- Các chương trình IRP đưa ra một hệ thống các chương trình DSM giúp các bang tránh được nhu cầu đầu tư 30.000 MW Theo số liệu thu thập được thì việc thực hiện DSM tốn khoảng 2 cent/kWh Trong khi chi phí sản xuất điện của các nhà máy hiện tại lớn hơn 5 cent/kWh

- Thống kê cho thấy từ năm 1985 – 1995 với hơn 500 Công ty điện lực thực hiện các chương trình DSM, đã thực hiện cắt giảm được 29 GW công suất đỉnh

- Theo một nghiên cứu năm 2009 cho thấy ½ công dân Mỹ những người sử dụng máy tính tại nơi làm việc không tắt máy tính trước khi ra về, thói quen xấu này làm tăng khoảng 2,8 tỷ USD chi phí năng lượng không cần thiết mỗi năm.Vì vậy nên tắt màn hình hoặc đặt nó trong chế độ ngủ đông nếu nghỉ giải lao lớn hơn 20 phút

- Chính việc thực hiện tốt của cơ chế khuyến khích đối với áp dụng DSM ở

Mỹ rất lớn Nhiều điện lực hiện đang đầu tư 1÷2% doanh thu ròng hàng năm vào DSM và thu được 0,03÷ 0,94 doanh thu ròng hàng năm từ cơ chế khuyến khích đối với Điện lực

- Các chương trình DSM ở Mỹ đạt giá trị 2 tỷ USD/năm và đã giảm được nhu cầu sử dụng công suất xuống 5% tương đương với 27.000MW, cũng như tiết kiệm điện năng được 1% tương đương 23.000GWh mỗi năm

Tại các nước thuộc liên minh Châu Âu:

- EU đang soạn thảo một hướng dẫn về hiệu suất năng lượng - quản lý nhu cầu (EE-DSM) Hướng dẫn này đòi hỏi các nước là thành viên của EU phải đạt được một lượng tối thiểu hiệu quả năng lượng nhất định thông qua các chương trình EE-DSM

- Hướng dẫn về hiệu suất năng lượng - quản lý nhu cầu (EE-DSM) khuyến nghị các nước thành viên EU mỗi năm phải giảm được tiêu thụ năng lượng ở mức 1% so với năm trước và phải dành tối thiểu 2% doanh thu của các Công ty điện lực

và khí đốt để đầu tư vào các chương trình DSM

Tại Australia:

Trang 33

- Điện năng sản xuất ra tại Australia đa phần là từ nguồn than nội địa rẻ Cường độ năng lượng cao và hiệu suất năng lượng thấp do giá điện thấp

- Tại Australia, việc thực hiện các chương trình DSM rất tiến bộ, bao gồm cả việc cấp phép cho các Công ty cung cấp và phân phối điện Những cấp phép này đòi hỏi các đơn vị này phát triển và thực hiện DSM cùng các chiến lược môi trường và

an ninh năng lượng

Tại Cộng hoà Pháp:

- Thực hiện 19 chương trình DSM thí điểm ở cấp vùng và 3 chương trình ở cấp quốc gia Những chương trình này xúc tiến các thiết bị hiệu suất năng lượng và bóng đèn compact, kiểm toán năng lượng trong công nghiệp, chiếu sáng công cộng

và động cơ hiệu suất cao phối hợp cùng cơ chế đảm bảo an ninh năng lượng cao

Tại Hồng Kông – Trung Quốc:

- Chính phủ thiết lập một cơ chế cho việc thực hiện DSM vào tháng 5/2000 Mục tiêu của chương trình này là để tác động mức và thời gian của nhu cầu điện công cộng và tối ưu hoá sử dụng các nhà máy điện

- Việc nhận thức được giảm nhu cầu đỉnh sẽ làm giảm nhu cầu các nhà máy mới, biểu giá điện thấp hơn trong dài hạn và giúp bảo vệ môi trường đã được Chính phủ Hồng Kông quan tâm đặc biệt

- Các chương trình hiệu suất năng lượng khuyến khích khách hàng giảm nhu cầu đỉnh và tiêu thụ năng lượng thông qua chế độ tiêu thụ và sử dụng các thiết bị hiệu suất cao

- Các chương trình cắt đỉnh khuyến khích giảm phụ tải đỉnh, và các chương trình chuyển dịch phụ tải tiêu thụ từ cao điểm sang thấp điểm đối với đồ thị phụ tải

hệ thống

- Các hoạt động DSM cũng bao gồm các chương trình giáo dục và thông tin

về biểu giá TOU cho các khách hàng thương mại lớn Các chương trình này được chuẩn bị thực hiện theo các kế hoạch 3 năm một lần

Tại Indonesia:

Trang 34

- Chương trình DSM được tập trung vào cắt giảm phụ tải đỉnh, chủ yếu do sự đóng góp của chiếu sáng dân dụng, chiếu sáng đường phố và thiết bị dân dụng

- Do nhận thức đầy đủ về DSM nên việc thực hiện đã giúp tiết kiệm hơn việc xây dựng công suất phát điện

- Tuy nhiên việc vướng mắc về tài chính cũng đã hạn chế DSM tại nước này

1.6.1 Các tác động về giá do triển khai DSM

Như chúng ta đã phân tích việc áp dụng DSM gây ra tình trạng doanh thu của các Công ty Điện lực có thể bị giảm đi và do chi phí đầu tư cho DSM, dẫn đến giá điện có thể tăng cao

Việc thực hiện các chương trình DSM thường giúp tiết kiệm tiền điện cho khách hàng nhưng điều này dường như chỉ đúng với các khách hàng công suất lớn

vì rất có thể lượng tiền điện tránh được do giảm điện năng tiêu thụ cao hơn lượng tiền phải trả do tăng giá điện

Với chính sách giá điện hiện nay tại Việt Nam là chưa phù hợp nên không có tác dụng nhiều đối với mục tiêu này, biểu giá điện hiện nay còn nhiều bất hợp lý, không có tính linh hoạt cao, chưa có tác dụng điều hoà phụ tải điện, đặc biệt ngành điện chưa có đủ công tơ nhiều giá ( hiện chỉ có công tơ 3 giá ) để lắp cho các phụ tải mức độ trênh lệch giữa các giá không nhiều

Sử dụng biểu giá điện năng hợp lý là giải pháp làm thay đổi đặc tính tiêu dùng điện năng của hệ thống giúp cho san bằng đồ thị phụ tải hệ thống Các giải pháp DSM đều bị tác động bởi ba loại biểu giá sau:

- Giá theo thời điểm sử dụng (TOU): Mục tiêu chính của TOU là điều hòa phụ

tải điện hệ thống sao cho phù hợp với khả năng cung cấp đem lại lợi ích cho cả ngành điện lẫn khách hàng Do đó nó phải có tính linh hoạt cao bởi muốn đạt mục tiêu trên TOU phụ thuộc rất nhiều yếu tố: Thời điểm dùng điện, khoảng thời gian dùng điện liên tục, độ lớn và độ biến động công suất cũng như điện năng yêu cầu

Ở khu vực đã có nhiều nước áp dụng TOU và thu được những kết quả bước đầu

trong lĩnh vực điều khiển dòng điện phụ tải như Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan

Trang 35

- Giá cho phép cắt điện khi cần thiết: Biểu giá này để khuyến khích các khách

hàng cho phép cắt điện trong các trường hợp cần thiết phù hợp với khả năng cung

cấp điện kinh tế của ngành điện

- Giá dành cho các phụ tải tiêu thụ đặc biệt: Biểu giá đặc biệt nhằm khuyến

khích khách hàng thực hiện DSM hoặc phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế của chính phủ Biểu giá đặc biệt phải có tính hợp lý theo quan điểm tổng thể của cả chương trình DSM vì đôi khi khoản tiền trả cho khách hàng khi cho phép cắt điện hoặc tham gia tích cực vào chương trình DSM lại có thể làm tăng giá cho những

khách hàng không tham gia vào chương trình

Với điều kiện kinh tế, chính trị Việt Nam trước hết nên thực hiện áp dụng giá điện theo thời gian, giá điện cho phép cắt điện khi cần thiết, cải thiện dịch vụ khách hàng

1.6.2 Quy hoạch nguồn

Quy hoạch nguồn (Integrated Resource Planning - IRP) là một quy hoạch toàn diện mà thông qua đó ngành Điện xác định được các nguồn cần thiết để đáp ứng nhu cầu công suất và nhu cầu điện năng của khách hàng Ở Bắc Mỹ, IRP đã trở thành một sáng kiến đem lại những cải thiện đáng kể trong hoạt động kinh doanh truyền thống của các Điện lực IRP cung cấp những chiến lược để giúp hiểu được vai trò và tầm quan trọng của DSM

Trong việc xác định những nguồn lực có hiệu quả nhất đối với một Điện lực, điều quan trọng là phải tính được chi phí và lợi nhuận Do đó, lợi ích của một chương trình DSM (là phần chi phí tránh được do không phải đầu tư xây dựng và vận hành nguồn điện mới) phải lớn hơn chi phí để áp dụng chương trình DSM (các chi phí hành chính, chi phí khuyến khích khách hàng tham gia và doanh thu bị mất

do giảm lượng điện năng tiêu thụ) thì mới có thể nói rằng chương trình DSM có hiệu quả

Cơ sở để phát triển quy hoạch nguồn là cung cấp được những phân tích và đề xuất cho một chương trình hành động:

Trang 36

 Tính toán dự báo phụ tải với các kịch bản khác nhau

 Quyết định lượng công suất phát cần thiết cho mỗi năm để thực hiện quy hoạch

suất của nguồn

được nguồn lực có tiềm năng nhất để tạo lập một kế hoạch hành động có hiệu quả, linh hoạt và thuận lợi

kinh tế, chính trị và xã hội

nghiệm từng phương án để tìm ra phương án thay thế có hiệu quả nhất tuỳ theo các quan điểm khác nhau

kế hoạch nếu cần thiết

Mô hình IRP vẫn còn tương đối mới và thể hiện một sự tiến bộ lớn trong việc lập quy hoạch cho ngành điện Đặc tính quan trọng nhất của mô hình IRP là khả năng đánh giá một cách cụ thể sự kết hợp giữa cung cấp điện và các phương án lựa chọn nguồn lực DSM trong khuôn khổ khuôn mẫu chung Để IRP có thể hoạt động tốt ở Việt Nam cần phải trao cho các Điện lực quyền được triển khai, có nghĩa họ phải có trách nhiệm thu nhận các nguồn lực cả 2 phía cung và cầu để các nguồn lực đều tham gia vào hệ thống điện

Một phương pháp để thu nhận các nguồn điện trên cơ sở IRP đã được phát triển ở Mỹ là sự đấu thầu cạnh tranh nguồn điện Bằng đấu thầu cạnh tranh Điện lực

có thể lựa chọn các nguồn điện thông qua thị trường Trong đấu thầu cạnh tranh, các Điện lực kiến nghị các đề xuất về nguồn điện Các cuộc đấu thầu có thể diễn ra định

kỳ hoặc khi nào mà ngành điện thấy cần thiết phải phát triển thêm nguồn Các đề xuất yêu cầu đối với nhà thầu:

 Công suất và sản lượng điện năng của nguồn điện

Trang 37

 Giá bỏ thầu

 Thời hạn chuyển giao các nguồn điện

 An toàn khi chuyển giao các nguồn điện

Ngoài ra các nhà thầu phải có kinh nghiệm và trình độ đáp ứng dự án; cách tiếp cận của nhà thầu đối với việc phát triển dự án và khả năng tài chính cho dự án; tác động về mặt môi trường của dự án

Ngoài ra, các Điện lực có thể tổ chức đấu thầu cho nguồn phát, cho chương trình nâng cấp hệ thống truyền tải và phân phối điện, cho các chương trình DSM để cải thiện năng lực quản lý nhu cầu và hiệu quả sử dụng điện từ phía khách hàng hoặc cho bất kỳ sự kết hợp nào của tất cả các chương trình trên

Qua kinh nghiệm đấu thầu ở Mỹ đối với phía cung, cách tiếp cận ban đầu được tiến hành nhằm kiểm soát sự phát triển quá mức của thị trường dành cho các công ty điện độc lập Tuy nhiên, nhiều Điện lực vẫn tiếp tục đặt giá trần rất cao trong đấu thầu theo thói quen quá khứ Do đó sự phát triển quá mức của thị trường điện vẫn tiếp tục Mặt khác, việc giảm giá trần đến một mức độ có thể thu hẹp thị trường dành cho các công ty điện độc lập lại đặt áp lực lên chi phí tránh được của điện lực

Qua các chương trình đấu thầu trọn gói cho thấy nên dùng các tiêu chí khác nhau, riêng rẽ để lựa chọn đánh giá thầu phía cung và DSM vì các nguồn lực phía cung và DSM có chu trình và chi phí phát triển dự án khác nhau

Vì Việt Nam chưa có kinh nghiệm triển khai DSM nên không biết bắt đầu trước IRP hay DSM, trong đó: IRP sẽ xác định các nguồn lực sinh lợi của DSM nhưng đòi hỏi thông tin như chi phí ước tính, lợi ích và khả năng thâm nhập thị trường cho các chương trình của DSM Việt Nam nên thực hiện chương trình DSM tăng tốc không dựa vào sự đánh giá về IRP ban đầu vì những lý do sau: Kinh nghiệm về DSM của Việt Nam còn hạn chế nên không thể sử dụng DSM làm đầu vào đánh giá IRP Cách duy nhất để đánh giá chính xác DSM trong khuôn khổ IRP

là phải tiến hành các chương trình thí điểm nhằm cung cấp thông tin về chi phí và lợi ích của chương trình DSM Việt Nam đang mất cân đối giữa nguồn và tải, trong

Trang 38

điều kiện kinh tế còn khó khăn việc phát triển nguồn là không đơn giản thì DSM sẽ

là một kế hoạch ít tốn kém nhất cho đất nước; vấn đề chủ yếu là xác định các chương trình sinh lợi nhất IRP sẽ cung cấp một khuôn khổ để đánh giá chương trình DSM khi chúng được triển khai trong thời gian ngắn hạn, kết quả của chương trình DSM thí điểm có thể được sử dụng để tiến hành phân tích IRP Về lâu dài IRP

có thể tối ưu hoá các lựa chọn và kết hợp giữa chương trình DSM và các phương án phía cung cấp Vì vậy, DSM và IRP phải tiến hành song song, kết quả của cái này

sẽ bổ trợ cho cái kia

1.6.3 Vai trò của các công ty dịch vụ năng lượng (ESCO)

Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng và vài trò của các công ty dịch vụ năng lượng cũng tăng theo ESCO thường cung cấp dịch

vụ cho khách hàng thông qua các hợp đồng nâng cao hiệu quả năng lượng với các công ty Điện lực ESCO sẽ cung cấp toàn bộ vốn hay phần lớn vốn thực hiện dự án sau đó sẽ thu phí từ phần tiết kiệm mà dự án đạt được qua một khoảng thời gian ESCO sẽ cung cấp cả tài chính và kỹ thuật kèm theo các dịch vụ trọn gói cho khách hàng ngay từ khi bắt đầu dự án bao gồm:

 Kiểm toán năng lượng hoặc phân tích tiêu thụ năng lượng và đưa ra các biện pháp tiết kiệm năng lượng

 Thiết kế dự án và tính toán kết quả của các biện pháp tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng

 Thực hiện và duy trì các biện pháp sử dụng năng lượng có hiệu quả trong suốt thời gian thực hiện dự án

ESCO đem lại cho các công ty Điện lực cả thuận lợi và khó khăn ESCO đứng ra chịu các rủi ro trong việc thực hiện chương trình DSM ở các Điện lực và ở các hộ tiêu thụ, ESCO cũng đảm bảo độ tin cậy và sự ổn định của nguồn tiết kiệm DSM được tạo ra nhờ các dự án Theo thoả thuận ESCO được trả một khoản tiền từ phần tiết kiệm được, đó cũng là động lực để ESCO cung cấp những dịch vụ bảo

Trang 39

dưỡng để đảm bảo duy trì khoản tiết kiệm đó ESCO đem lại một cơ chế phân phối trên thị trường cho khu vực tư nhân đúng như định hướng của nền kinh tế thị trường Đồng thời ESCO cũng đem lại một số bất cập cho các Điện lực, thường các

dự án của ESCO chỉ kéo dài 510 năm nên các ESCO chỉ triển khai các biện pháp DSM đem lại nhiều lợi nhuận và thu hồi vốn nhanh mà không quan tâm đến các DSM có lợi ích lâu dài

Trang 40

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CHƯƠNG TRÌNH

DSM CHO HỆ THỐNG ĐIỆN THỊ XÃ TỪ SƠN

2.1 Hiện trạng hệ thống điện thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Lưới điện thị xã Từ Sơn nằm trong hệ thống điện tỉnh Bắc Ninh, năm 2013 sản lượng điện thương phẩm thị xã Từ Sơn đạt 441,955 triệu kWh với Pmax=140MW, tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm giai đoạn 2006 – 2010: 5,9%/năm, giai đoạn

2010 – 2013: 2,1%/năm Hiện trạng nguồn, lưới điện thị xã Từ Sơn như sau:

2.1.1 Hiện trạng nguồn và lưới điện

2.1.1.1 Nguồn điện

Hiện nay, phụ tải thị xã Từ Sơn được cấp điện chính từ 4 trạm biến áp 110/35/22kV Châu Khê - 2x63MVA, trạm 110/35/22kV Tiên Sơn -2x63MVA, trạm 110/35/22kV Võ Cường - (2x40+25)MVA, trạm 110/35/22kV Gia Lâm -3x63MVA

2.1.1.2 Nguồn trạm 110kV

Trạm 110kV Châu Khê (E27.3) đặt tại phường Phù Khê, công suất (2x63)MVA, điện áp 110/35/22kV Hiện tại trạm 110kV Châu Khê (E27.3) cấp điện cho phụ tải khu vực phía Tây Bắc thị xã Từ Sơn Trạm 110 kV Châu Khê cấp điện cho thị xã thông qua các lộ : 371-E27.3; 372-E27.3; 373-E27.3; 374-E27.3; 375-E27.3; 376-E27.3;

Trạm 110kV Tiên Sơn (E27.1) đặt tại huyện Tiên Du, công suất (2x63)MVA, điện áp 110/35/22kV Hiện tại trạm 110kVTiên Sơn (E27.1) cấp điện cho phụ tải huyện Tiên Du và khu vực phía Đông Nam thị xã Từ Sơn Trạm 110 kV Tiên Sơn cấp cho thị xã thông qua lộ 371 – E27.1; 372- E27.1;

Trạm 110kV Võ Cường cấp cho thị xã Từ Sơn thông qua lộ 371-E74;

Trạm 110 kV Gia Lâm cấp cho thị xã thông qua lộ 374 – E21; lộ 374 – E11 kết nối mạch vòng với lộ 371 – E27.1

Ngày đăng: 19/07/2017, 22:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS – VS – TSKH Trần Đình Long (1999), Quy hoạch phát triển năng lượng và điện lực, nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển năng lượng và điện lực
Tác giả: GS – VS – TSKH Trần Đình Long
Nhà XB: nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
2. Trần Đình Long, Đặng Quốc Thống, Nguyễn Thường, Lã Văn Út, Đào Kim Hoa, Nguyễn Văn Đạm (1997), Nghiên cứu khả năng ứng dụng DSM ở Việt Nam, Báo cáo khoa học, Mã số KCĐL.95.04.10, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng ứng dụng DSM ở Việt Nam, Báo cáo khoa học
Tác giả: Trần Đình Long, Đặng Quốc Thống, Nguyễn Thường, Lã Văn Út, Đào Kim Hoa, Nguyễn Văn Đạm
Năm: 1997
3. Viện Khoa học và Năng lƣợng (2012), Quy hoạch phát triển điện lực thị xã Từ Sơn giai đoạn 2011 – 2015, có xét đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển điện lực thị xã Từ Sơn giai đoạn 2011 – 2015, có xét đến năm 2020
Tác giả: Viện Khoa học và Năng lƣợng
Năm: 2012
4. Nguyễn Gia Chính (2013), Nghiên cứu và đánh giá tác động của chương trình DSM, đề xuất các giải pháp ứng dụng DSM và phân tích đồ thị phụ tải cho thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và đánh giá tác động của chương trình DSM, đề xuất các giải pháp ứng dụng DSM và phân tích đồ thị phụ tải cho thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Gia Chính
Năm: 2013
5. Điện lực Từ Sơn, Báo cáo kỹ thuật năm 2013 và 6 tháng năm 2014, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kỹ thuật năm 2013 và 6 tháng năm 2014
6. Điện lực Từ Sơn, Báo cáo kinh doanh điện năng năm 2013 và 6 tháng năm 2014, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh doanh điện năng năm 2013 và 6 tháng năm 2014
1. Clark W. Gelling & John Charmberlin (1993), Demand Side Managament: Concepts and Methods, The Fairmont Press, Inc, 2 nd Edition, India Sách, tạp chí
Tiêu đề: Demand Side Managament: "Concepts and Methods
Tác giả: Clark W. Gelling & John Charmberlin
Năm: 1993
2. Suwich Chanpaisarnwong (1996), The Electricity Demand Side Managament Program in Thailand, Ministry of Science, Technology and Environment Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Electricity Demand Side Managament Program in Thailand
Tác giả: Suwich Chanpaisarnwong
Năm: 1996
3. EIA (2000), US Electricity utility DSM, Energy Information Administration, Washington, DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: US Electricity utility DSM, Energy Information Administration
Tác giả: EIA
Năm: 2000
7. Luật sử dụng năng lƣợng tiết kiệm và hiệu quả. Tài liệu Tiếng Anh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w