Phân loại các phương pháp thiết kế bộ điều khiển PID Chỉnh định tham số là công việc tính toán các tham số cho bộ điều khiển PID dựa trên quá trình và các đặc tính vòng kín mong muốn..
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Điều khiển-Tự động hóa
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TSKH VS Nguyễn Văn Mạnh
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 5
LỜI CẢM ƠN 6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC BẢNG BIỂU 8
DANH MỤC HÌNH VẼ 9
MỞ ĐẦU 11
Chương 1: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THỐNG THIẾT KẾ BỘ ĐIỀU KHIỂN PID 13
1.1 Tổng quan về bộ điều khiển PID 13
1.2 Phân loại các phương pháp thiết kế bộ điều khiển PID 14
1.3 Các phương pháp dựa trên mô hình mẫu 15
1.3.1 Phương pháp lựa chọn mô hình hở Haalman 15
1.3.2 Phương pháp tổng hợp trực tiếp 16
1.3.3 Phương pháp tổng hợp trực tiếp ưu tiên kháng nhiễu 18
1.4 Phương pháp mô hình nội 22
1.5 Phương pháp Ziegler-Nichols 25
1.5.1 Phương pháp Ziegler-Nichols thứ nhất 25
1.5.2 Phương pháp Ziegler-Nichols thứ hai 27
Chương 2: NHẬN DẠNG VÀ MÔ HÌNH HÓA ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU KHIỂN 29
2.1 Tổng quan 29
2.2 Phương pháp mô hình hóa đối tượng nhiệt năng 30
2.3 Nhận dạng đối tượng theo mô hình quán tính bậc hai có trễ 32
Chương 3: ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN 35
3.1 Các tiêu chuẩn tần số đánh giá ổn định hệ thống điều khiển 35
3.1.1 Tiêu chuẩn Nyquist 35
3.1.2 Tiêu chuẩn parabol 37
3.2 Dự trữ ổn định của hệ thống điều khiển 40
3.2.1 Các khái niệm về dự trữ ổn định 40
Trang 33.2.2 Dự trữ ổn định pha và biên độ theo tiêu chuẩn Nyquist 42
3.2.3 Dự trữ ổn định theo chỉ số biên độ 43
3.2.4 Dự trữ ổn định theo chỉ số ổn định η 44
3.2.5 Dự trữ ổn định theo chỉ số dao động “cứng” ( = const) 47
3.2.6 Dự trữ ổn định theo chỉ số dao động “mềm” 48
3.2.7 Điều kiện đủ của tiêu chuẩn dự trữ ổn định parabol 53
Chương 4: PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP HỆ THỐNG THEO QUAN ĐIỂM BỀN VỮNG 56
4.1 Khái niệm chung về bài toán tổng hợp hệ thống 56
4.2 Đặt bài toán tổng hợp hệ thống điều khiển bền vững 57
4.3 Chỉ số dao động và cấu trúc bền vững của hệ thống điều khiển 59
4.4 Xây dựng hệ thống bền vững chất lượng cao 61
4.4.1 Hàm truyền của hệ thống và bộ điều chỉnh 61
4.4.2 Bản chất tối ưu của hệ điều khiển bền vững chất lượng cao 62
4.5 Hệ thống điều chỉnh bền vững 63
4.5.1 Cấu trúc tựa bền vững của bộ điều chỉnh và hệ thống 63
4.5.2 Tổng hợp bộ điều chỉnh bền vững theo chất lượng cho trước 65
4.6 Tăng cường khả năng kháng nhiễu cho bộ điều khiển 67
4.7 Tổng hợp các bộ điều chỉnh của hệ hai tầng 70
Chương 5: TỔNG HỢP BỘ ĐIỀU CHỈNH PID BỀN VỮNG TỐI ƯU ĐIỀU KHIỂN MỨC BAO HƠI NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN 73
5.1 Tổng quan về hệ thống tự động điều chỉnh cấp nước lò hơi 73
5.1.1 Vai trò và nhiệm vụ của hệ thống tự động điều chỉnh cấp nước lò hơi…… 73
5.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi mức nước bao hơi 73
5.1.3 Ảnh hưởng của sự thay đổi lưu lượng nước cấp vào lò 75
5.1.4 Ảnh hưởng của lượng nhiệt sinh ra trong buồng lửa 75
5.1.5 Ảnh hưởng cúa sự thay đổi áp suất 76
5.1.6 Ảnh hưởng của sự thay đổi lưu lượng hơi ra khỏi lò 76
5.1.7 Các sơ đồ tự động điều chỉnh mức nước bao hơi 77
Trang 45.1.8 Hệ thống điều chỉnh một xung 77
5.1.9 Hệ thống điều chỉnh hai xung: H, D 79
5.1.10 Hệ thống điều chỉnh ba xung 81
5.2 Hệ thống điều chỉnh mức nước bao hơi của nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng 1 83
5.2.1 Nguyên lý làm việc của hệ thống cấp nước bao hơi nhà máy 83
5.2.2 Thực trạng làm việc của hệ thống điều khiển mức nước bao hơi nhà máy… 84
5.3 Tổng hợp bộ điều chỉnh mức nước bao hơi theo quan điểm bền vững tối ưu 86
5.3.1 Sơ đồ khối điều khiển 86
5.3.2 Giới thiệu phần mềm thiết kế CASCAD 86
5.3.3 Nhận dạng đối tượng đang làm việc 87
5.3.4 Xử lý số liệu vận hành trên CASCAD 88
5.3.5 Trình tự tính toán trên CASCAD và kết quả .89
5.3.6 Nhận xét kết quả thu được 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… …98
PHỤ LỤC……… 99
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, nội dung luận văn này là do tôi làm theo sự hướng dẫn của
PGS.TSKH.VS Nguyễn Văn Mạnh Không sao chép bất kỳ của ai hay nội dung của
đề tài nào đã được công bố
Các số liệu thu thập tại nhà máy nhiệt điện Uông Bí được đưa ra trong luận văn là
hoàn toàn trung thực Các kết quả tính toán đưa ra trong luận văn chưa từng được
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân thành cảm ơn Thầy giáo PGS TSKH VS Nguyễn Văn Mạnh đã
nhiệt tình hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin trân thành cảm ơn các Thầy Cô của Khoa, Viện Trường Đại học
Bách Khoa Hà Nội đã truyền thụ những kiến thức quý báu trong thời gian 02 năm
tôi học tập tại Trường
Tôi xin trân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các kỹ sư Công ty Nhiệt
điện Uông Bí đã giúp đỡ tôi trong quá trình tập hợp số liệu để hoàn thành Luận văn
Trang 7CV: Van điều khiển
FT: Bộ truyền tín hiệu lưu lượng
LT: Bộ truyền tín hiệu mức
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Lựa chọn thông số cho bộ điều khiển theo phương pháp tổng hợp trực
tiếp ưu tiên kháng nhiễu 21
Bảng 1.2 Luật chỉnh định IMC-PID theo Chien&Fruehauf 25
Bảng 1.3 Xác định thông số bộ PID theo phương pháp Ziegler-Nichols II 27
Bảng 4.1 Bảng thông số lựa chọn 65
Bảng 4.2: Bảng thông số lựa chọn tổng hợp bộ điều chỉnh bền vững 66
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Điều khiển với bộ điều khiển PID 13
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc điều khiển IMC 22
Hình 1.3 Sơ đồ cấu trúc điều khiển thực 23
Hình 1.4: Đặc tính quá độ của đối tượng quán tính có trễ 26
Hình 2.1 Đặc tính quá độ thực nghiệm 32
Hình 3.1 Sơ đồ cấu trúc của hệ thống điều khiển 35
Hình 3.2 Đồ thị F(jω)-hình (a) và H(jω)-hình (b) 36
Hình 3.3 Đặc tính tần số của hệ hở, với bậc phi tĩnh q khác nhau 37
Hình 3.4 Kiểm tra sự ổn định của hệ thống theo Txứpkin 38
Hình 3.5 Đặc tính tần số H(jω) của hệ hở và đường cong parabol trong hệ tọa độ phức 39
Hình 3.6 Cách xác định dự trữ ổn định của hệ thống theo tiêu chuẩn Mikhailov 41
Hình 3.7 Ví dụ cách xác định dự trữ ổn định của hệ thống 42
Hình 3.8 Đặc tính biên độ của hệ kín và đặc tính biên độ pha của hệ hở 43
Hình 3.9 Sự phân bố các nghiệm đặc tính của hệ thống 45
Hình 3.10 Các đường cong ánh xạ trên hệ tọa độ cực từ các đường biên giới hạn nghiệm 46
Hình 3.11 Sự biến thiên của chỉ số dao động mềm theo tần số, 50
ứng với các hệ số mềm hoá: α 2 >α 1 >α 50
Hình 3.12 Nghiệm đặc tính bên trái đường biên mềm và góc quay của các véc tơ con 51
Hình 3.13 Đồ thị đánh giá dự trữ ổn định theo điểm cắt 54
cao nhất giữa đặc tính mềm và parabol 54
Hình 4.1: Hệ thống điều khiển một vòng – cấu trúc điển hình 58
Hình 4.2 Sự phân bố các nghiệm đặc tính của hệ thống 60
Hình 4.3 Cấu trúc bộ điều chình bền vững chất lượng cao 64
Hình 4.4 Các đáp ứng ra của hệ thống khi đối tượng có độ quán tính khác nhau 68
Trang 10Hình 4.5 Đặc tính mềm của hệ hở với bộ điều chỉnh bề được bổ sung thành phần
tích phân 69
Hình 5.1 Sơ đồ biểu diễn mức trong hiện tượng sôi bồng 76
Hình 5.2a, b Hệ thống điều chỉnh 1 xung và đặc tính tĩnh 77
Hình 5.3 Đặc tính động quá trình điều chỉnh hệ 1 xung 78
Hình 5.4a, b Hệ thống điều chỉnh 2 xung và đặc tính tĩnh 80
Hình 5.5 Đặc tính động quá trình điều chỉnh hệ 2 xung 80
Hình 5.6 Hệ thống điều chỉnh 3 xung 81
Hình 5.7 Đặc tính động của hệ thống điều chỉnh 3 xung 82
Hình 5.8 Sơ đồ nguyên lý hệ thống cấp nước lò hơi 83
Hình 5.9 Sơ đồ khối hệ thống điều khiển mức nước bao hơi được thiết kế mới 86
Hình 5.10 Đường cong đặc tính vận hành, 89
mầu tím-góc mở van, mầu xanh-lưu lượng nước cấp 89
Hình 5.11 Hàm truyền đối tượng van nước cấp 90
Hình 5.12 Đường cong đặc tính vận hành, 90
mầu đỏ-lượng nước cấp, mầu xanh-mức nước bao hơi 90
Hình 5.13 Hàm truyền đối tượng bao hơi 91
Hình 5.14 Sơ đồ điều khiển hệ thống 92
Hình 5.15 Xác định bộ điều khiển tối ưu R 2 92
Hình 5.16 Xác định bộ điều khiển R 1 93
Hình 5.17 Tối ưu hóa bộ điều khiển R 1 93
Hình 5.18 Đặc tính mềm của hệ hở tại đầu vào R 1 94
Hình 5.19 Đặc tính quá độ của hệ thống khi không có khử nhiễu 94
Hình 5.20 Tổng hợp bộ khử nhiễu 95
Hình 5.21 Đặc tính quá độ của hệ thống đáp ứng theo kênh nhiễu khi chưa khử và khi đã khử nhiễu khử nhiễu 95
Trang 11
MỞ ĐẦU
Với ưu điểm đơn giản, dễ chỉnh định, làm việc ổn định và lịch sử thành công
gần 70 năm, bộ điều khiển PID kinh điển được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống
công nghiệp Tính cho tới nay đã có rất nhiều phương pháp thiết kế bộ điều khiển
PID được đưa ra Với ứng dụng to lớn của nó, các phương pháp thiết kế bộ PID mới
vẫn tiếp tục được nghiên cứu và phát triển
Là một kỹ sư công tác trong lĩnh vực tư vấn xây dựng nhà máy nhiệt điện,
chuyên nghành đo lường điều khiển bản thân tác giả luận văn có thời gian trực tiếp
giám sát xây dựng và giám sát vận hành thử nghiệm tại nhà máy nhiệt điện Uông Bí
mở rộng 1, cũng như tìm hiểu về các dự án nhiệt điện khác mà đơn vị tác giả tham
gia như nhiệt điện Cẩm Phả, nhiệt điện Hải Phòng, nhiệt điện Quảng Ninh… tác giả
nhận thấy một trong những vấn đề lớn nhất đối với các dự án nhiệt điện là công tác
hiệu chỉnh Toàn bộ các bộ điều khiển được sử dụng cho các nhà máy nhiệt điện là
P, PI, PD, PID (gọi chung là PID), việc chỉnh định các bộ điều khiển mặc dù đã có
phương pháp riêng của từng Nhà thầu nhưng vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong môi
trường thực tế
Hiện nay, mặc dù đã được bàn giao gần 02 năm, nhà máy vẫn chưa vận hành
ổn định, thời gian vận hành liên tục ngắn hơn so với yêu cầu Tổ máy bị dừng nhiều
lần do ngắt bảo vệ, đặc biệt việc ngắt bảo vệ lò hơi do mức nước bao hơi vượt quá
giá trị cho phép diễn ra nhiều lần Đây là tình trạng đã xảy ra từ thời điểm vận hành
thử nghiệm nhà máy mà cho đến nay vẫn chưa khắc phục được
Xuất phát từ thực tế này, tác giả mong muốn tìm hiểu thiết kế bộ điều khiển
PID bền vững tối ưu nhằm nâng cao chất lượng hệ thống điều khiển của các nhà
máy Nhiệt điện
Phương pháp tổng hợp bộ điều khiển theo quan điểm bền vững tối ưu của tác
giả PGS TSKH VS Nguyễn Văn Mạnh được nêu ra và bảo vệ thành công năm
2000 Phương pháp cho phép thiết kế bộ điều khiển bền vững tối ưu cho các đối
tượng điều khiển có đặc tính thường xuyên thay đổi và có trễ vận tải Ngoài ra tác
giả PGS TSKH VS Nguyễn Văn Mạnh cũng đưa ra phương pháp nhận dạng đối
Trang 12tượng có trễ vận tải dựa trên lý thuyết tối ưu hóa “vượt khe” của chính tác giả nêu
ra năm 1986
Toàn bộ hệ thống lý thuyết nêu trên được tác giả Nguyễn Văn Mạnh cài đặt
trong phần mềm CASCAD do tác giả viết bằng ngôn ngữ Pascal và phát triển trong
hơn 10 năm qua
Với mục đích như trên cùng sự hỗ trợ của phần mềm CASCAD tác giả đã thực
hiện đề tài: “Phương pháp tổng hợp bộ điều khiển PID bền vững tối ưu cho các
quá trình công nghệ nhiệt” Nội dung luận văn được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan các phương pháp thiết kế bộ điều chỉnh PID
Nội dung chương này khái quát về các phương pháp chỉnh định bộ điều khiển
PID được sử dụng phổ biến
Chương 2: Nhận dạng và mô hình hóa đối tượng điều khiển
Nội dung chương nêu các mô hình đối tượng được sử dụng để mô hình hóa
đối tượng có trễ vận tải, phương pháp dụng để nhận dạng các đối tượng này
Phương pháp nhận dạng đối tượng quán tính bậc hai có trễ
Chương 3: Độ ổn định của hệ thống điều khiển
Nội dung chương nêu các tiêu chuẩn tần số đánh giá ổn định hệ thống điều và
lý thuyết về dự trữ ổn định của hệ thống điều khiển
Chương 4: Tổng hợp hệ thống điều khiển
Nội dung chương nêu bài toán tổng hợp hệ thống điều khiển bền vững tối ưu
Chương 5: Tổng hợp bộ điều chỉnh PID bền vững tối ưu từ số liệu thực tế
Nội dung chương thực hiện các công việc sau:
− Tập hợp số liệu thực tế tại nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng 1
− Thực hiện nhận dạng các đối tượng bao hơi và van cấp nước chính của nhà
máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng 1 bằng phần mềm CASCAD
− Xây dựng mô hình hệ thống điều khiển, tính toán các bộ điều khiển tối ưu
bền vững PID
− Nhận xét kết quả đạt được
Kết luận
Trang 13Chương 1: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THỐNG THIẾT KẾ BỘ
ĐIỀU KHIỂN PID
1.1 Tổng quan về bộ điều khiển PID
Luật PID tính toán đưa ra tín hiệu điều khiển dựa theo ba thành phần khác
nhau là thành phần tỷ lệ P hay còn gọi là tác động tỉ lệ (proportional action), thành
phần tích phân I hay còn gọi là tác động tích phân (integral action, reset action) và
thành phần vi phân D hay còn gọi là tác động vi phân (derivative action)
Vai trò của các thành phần của PID được xác định:
− P (tỷ lệ): Phục tùng và thực hiện chính xác nhiệm vụ được giao
− I (tích phân): Làm việc và có tích lũy kinh nghiệm để thực hiện tốt nhiệm vụ
− D (vi phân): Luôn có sáng kiến và phản ứng nhanh nhạy với sự thay đổi tình
huống trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
Bộ điều khiển PID được sử dụng khá rộng rãi để điều khiển đối tượng một đầu
vào, một đầu ra theo nguyên lý hồi tiếp Lý do bộ PID được sử dụng rộng rãi là tính
đơn giản của nó cả về cấu trúc lẫn nguyên lý làm việc Bộ PID có nhiệm vụ đưa sai
lệch của hệ thống về 0 sao cho quá trình quá độ thỏa mãn các yêu cầu cơ bản
về chất lượng:
− Nếu sai lệch càng lớn thì thông qua thành phần , tín hiệu điều chỉnh
càng lớn (vai trò của khuếch đại )
y
Hình 1.1 Điều khiển với bộ điều khiển PID
y K(s)
z
µ
ε
Trang 14− Nếu sai lệch chưa bằng 0 thì thông qua thành phần , PID vẫn còn
tạo tín hiệu điều chỉnh (vai trò của tích phân )
− Nếu sự thay đổi của sai lệch càng lớn thì thông qua thành phần ,
phản ứng thích hợp của sẽ càng nhanh (vai trò của vi phân )
Bộ điều khiển PID được mô tả bằng mô hình vào-ra:
chất lượng như mong muốn thì phải phân tích đối tượng rồi trên cơ sở đó chọn các
tham số của bộ điều khiển cho phù hợp
1.2 Phân loại các phương pháp thiết kế bộ điều khiển PID
Chỉnh định tham số là công việc tính toán các tham số cho bộ điều khiển PID
dựa trên quá trình và các đặc tính vòng kín mong muốn
Các luật chỉnh định có thể được xây dựng bằng một vài cách, chúng được xếp vào 3
nhóm phương pháp chỉnh định tham số sau:
Nhóm 1: Yêu cầu mô hình quá trình và sử dụng để chọn các tham số chỉnh định sao
cho đáp ứng vòng kín mong muốn đạt được như một mô hình mẫu, hoặc có được
các đặc tính trên miền thời gian hay tần số như là thời gian xác lập, vị trí các
điểm cực đặt trước Trong nhóm này có các phương pháp: Tổng hợp trực
tiếp (Direct Synthesis), Mô hình nội (Internal Model Control – IMC), Xấp xỉ đáp
ứng tần số (Frequency Response Fitting), phương pháp điều khiển bền vững của tác
giả PGS TSKH VS Nguyễn Văn Mạnh nêu trong tài liệu [4]
Nhóm 2: Không yêu cầu mô hình quá trình, lựa chọn các tham số bộ điều khiển để
thu được các đặc tính vòng kín mong muốn (tính toán dựa trên các đặc điểm của
quá trình, không phải là mô hình), phản ánh yêu cầu của người sử dụng như là
đường cong đáp ứng Nyquist vòng hở chứa điểm nào đó Phương pháp này thường
Trang 15dựa trên phản hồi rơle, ta có phương pháp chỉnh định không dựa trên mô hình quá
trình và theo các đặc tính Trong nhóm này có các phương pháp của Ziegler –
Nichols, phương pháp dựa trên độ dự trữ biên độ và pha (AM – Amplitude Margins,
PM – Phase Margins), phương pháp dựa trên đặc tính mềm
Nhóm 3: Các phương pháp chỉnh định dựa trên suy luận của con người, ta có các
phương pháp dựa trên luật Phương pháp này sử dụng cả đáp ứng của quá trình và
các đặc tính đáp ứng vòng kín mong muốn, dựa trên mô hình quá trình hoặc không,
do đó suy luận của con người được sử dụng và bắt chước Trong nhóm này có các
phương pháp chỉnh định mờ, sử dụng mạng nơron
Đặc biệt ta xét đến dưới đây là các phương pháp thiết kế bộ điều khiển cho các
đối tượng có trễ vận tải
1.3 Các phương pháp dựa trên mô hình mẫu
1.3.1 Phương pháp lựa chọn mô hình hở Haalman
Phương pháp do Haalman đưa ra năm 1965, được thử nghiệm thành công đối
với cả mô hình quán tính bậc nhất có trễ và quán tính bậc hai có trễ Tư tưởng chính
của phương pháp này là tìm các tham số của bộ điều khiển sao cho hàm truyền
đạt của hệ hở có dạng
2
3 1.2Tương ứng tần số cắt 2 /3 và độ dự trữ pha 500 Các tham số
của bộ điều khiển được xác định dựa vào phép tính ngược ⁄ , hay
nói cách khác là dựa vào triệt tiêu điểm không-điểm cực (ổn định) Phương pháp
đưa ra các công thức cụ thể cho từng lớp mô hình thích hợp như sau:
− Đối với mô hình quán tính bậc nhất có trễ, ta sử dụng thuật toán PI với các
Trang 16Phương pháp Haalman thích hợp với các đối tượng có dao động tắt nhanh và
thời gian trễ tương đối lớn Thực tế, tần số cắt tỉ lệ nghịch với thời gian trễ , vì
thế đáp ứng hệ kín có thể sẽ quá nhanh và nhạy cảm với nhiễu (tần số cao) nếu rất
nhỏ
Dựa trên phương pháp của Haalman, Scattolini và Schiavoni đã đưa ra một
công thức cải tiến cho trường hợp hệ bậc nhất có trễ, sử dụng luật PI:
Trong đó m và trở thành hai tham số thiết kế Một phương án là chọn cho
một giá trị cố định nhỏ nhất (ví dụ 50o), còn được xác định sao cho thời gian quá
độ của hệ kín (bằng 5 ) nhỏ hơn thời gian quá độ của đối tượng (tương đương với
khoảng 5 ) một hệ số nào đó Có nghĩa là
5
5 Với nằm trong khoảng [4, 10] Tham số được hiểu với vai trò tăng tốc đáp ứng
của hệ kín
1.3.2 Phương pháp tổng hợp trực tiếp
Tổng hợp trực tiếp (Direct Sythesis, DS) tức là lựa chọn mô hình hệ kín là
phương pháp tính toán bộ điều khiển trực tiếp từ mô hình hàm truyền đạt của quá
trình và mô hình hàm tuyến đạt mong muốn của hệ kín Bình thường, Phương pháp
tổng hợp trực tiếp không nhất thiết phải đưa kết quả về dạng PI/PID Tuy nhiên, nếu
chọn mô hình hệ kín thích hợp và sử dụng phép xấp xỉ thành phần trễ về một hàm
truyền đạt thực-hữu tỷ thì ta có thể dẫn dắt các công thức chỉnh bộ điều khiển
PI/PID áp dụng cho một số dạng quá trình tiêu biểu
Xét cấu hình điều khiển phản hồi quen thuộc minh họa tại hình 1.1 Ký hiệu
hàm truyền đạt mong muốn của hệ kín là , trước hết ta có
1
Trang 17Từ đó ta rút ra được công thức tổng hợp trực tiếp bộ điều khiển
1
1 1.3
Có thể thấy, bộ điều khiển chứa bên trong nghịch đảo mô hình của quá trình
Như đã biết, điều kiện cần để hệ kín ổn định nội ở đây là không có điểm
không hay điểm cực nằm bên phải trục ảo Vấn đề còn lại là cần trọn sao
cho thỏa mãn các yêu cầu về chất lượng đáp ứng hệ kín và khả năng thực thi của bộ
điều khiển Hơn nữa, cũng cần được chọn theo những cấu trúc nhất định để
kết quả cuối cùng có dạng PI hoặc PID Một điểm đáng chú ý là nếu đưa
được về dạng PI hoặc PID thì nó không thể có điểm cực hoặc điểm không nằm bên
phải trục ảo, hiện tượng triệt tiêu điểm cực không ổn định không thể xảy ra Điều đó
cũng có hiểu theo nghĩa ngược lại là, chỉ cần có điểm không hoặc điểm cực
nằm bên phải trục ảo thì ra không thể đưa về dạng PI hoặc PID
Chọn mô hình mẫu của hệ kín là một khâu quán tính bậc nhất có trễ:
1 1.4Trong đó τ là thời gian trễ của quá trình và là hằng số thời gian quán tính Việc
chọn mô hình mẫu của hệ kín có thời gian trễ bằng thời gian trễ của quá trình là
hoàn toàn hợp lý, bởi đó cũng là khả năng tốt nhất của hệ kín có thể đạt được Tốc
độ và chất lượng đáp ứng của hệ kín chỉ còn phụ thuộc vào một tham số thiết kế
Giá trị của càng nhỏ thì đáp ứng của hệ càng nhanh, nhưng cũng làm cho tín hiệu
điều khiển thay đổi mạnh hơn và hệ kém bền vững hơn với sai lệch của mô hình
Kết hợp (1.3) và (1.4), ta đi đến công thức tổng quát cho xác định hàm truyền đạt
của bộ điều khiển:
Trang 18Lưu ý rằng, bên cạnh sai số do phép xấp xỉ thời gian trễ gây ra thì sai lệch
mô hình bao giờ cũng tồn tại, nên ta chỉ có thể thấy hy vọng là đáp ứng thực của hệ
kín gần giống chứ không thể lý tưởng như của mô hình mẫu (1.4) Trong đa số
trường hợp, ra phải chấp nhânk quà điều chỉnh ở một mức độ nào đó
Mô hình quá trình quán tính bậc nhất có trễ
Tất nhiên, phương pháp tổng hợp trực tiếp cũng áp dụng cho nhiều dạng mô hình
khác Trong mỗi trường hợp, cần chọn công thức xấp xỉ phù hợp cho thành phần trễ
xuất hiện ở mẫu số của mỗi biểu thức để có thể đưa kết quả cuối cùng về cấu trúc PI
hoặc PID
1.3.3 Phương pháp tổng hợp trực tiếp ưu tiên kháng nhiễu
Phương pháp tổng hợp trực tiếp nguyên bản dựa trên đặc tả hàm truyền đạt
mong muốn từ giá trị đặt tới đầu ra của hệ kín, nên cho đặc tính bám giá trị đặt khá
tốt Nhưng trong đa số ứng dụng của điểu khiển quá trình thì việc ưu tiên kháng
Trang 19nhiễu được đặt lên hàng đầu Tuy nhiên, đối với các quá trình có đáp ứng chậm với
nhiễu hoặc tỉ số ⁄ rất nhỏ thì bộ điều khiển nhận được đáp ứng rất chậm với
nhiễu quá trình Vì vậy gần đây đã có nhiều phương pháp thiết kế chú trọng vào vấn
đề này, tiêu biểu là phương pháp tổng hợp trực tiếp áp dụng cho bài toán loại bỏ
nhiễu của Chen và Seborg, được viết tắt là DS-d Mặc dù phương pháp này chú
trọng vào việc ưu tiên kháng nhiễu, đáp ứng với giá trị đặt vẫn được thỏa mãn khi
dùng trọng số cho giá trị đặt với cấu hình bộ điều khiển hai bậc tự do
Ký hiệu hàm truyền đạt mong muốn từ nhiễu quá trình ν tới đầu ra y của hệ
còn lại là chọn mô hình mẫu và công thức xấp xỉ thành phần trễ thích hợp để có
thể đưa (1.6) về dạng bộ điều khiển PI hoặc PID Chen và Seborg đã đưa ra các
phương án và dẫn giải luật chỉnh định cho nhiều dạng mô hình quá trình khác nhau
Công thức tính toán cho một số dạng mô hình quá trình tiêu biểu nhất được tóm tắt
trong Bảng (…) Trong trường hợp nhiễu tác động tại đầu vào quá trình (tức là
), các hàm truyền đạt mong muốn từ nhiễu tới đầu ra được chọn như sau:
Nhóm mô hình A:
1Nhóm mô hình B:
1 0.51Nhóm mô hình C:
Trang 201Nhóm mô hình D:
1Đối với trường hợp tổng quát, , các luật chỉnh định đưa ra trong bảng 1.1
vẫn hoàn toàn sử dụng được, bởi các mô hình mẫu được chọn lại theo công thức
Để dẫn giải ra các công thức chỉnh định, thành phần thời gian trễ ở mẫu số của một
số hàm truyền đạt (tính toán trung gian) được xấp xỉ theo một trong hai phương
Ưu điểm của phương pháp DS-d là cho phép ta thiết kế bộ điều khiển để loại bỏ tốt
nhất ảnh hưởng của nhiễu quá trình, sau đó có thể cải thiện đáp ứng với giá trị đặt
bằng cách sử dụng các trọng số trong cấu trúc PID thực hai bậc tự do Nếu chọn
được giá trị hợp lý thì hệ kín cho thời gian đáp ứng với giá trị đặt và nhiễu khá
nhỏ Cần chú ý là với một số giá trị nhất định, các tham số của bộ PID có thể có
giá trị âm và kết quả là bộ PID cho đáp ứng ngược, trong trường hợp đó ta phải
chọn lại giá trị Cũng cần lưu ý rằng cả hai phương pháp tổng hợp trực tiếp (DS
và DS-d) đều không áp dụng được trực tiếp cho quá trình không ổn định, trừ trường
hợp quá trình chỉ chứa một khâu tích phân
Trang 221.4 Phương pháp mô hình nội
Phương pháp IMC (Internal Model Control) hay điều khiển mô hình nội do
Morari và các đồng sự phát triển đã được ứng dụng rất thành công trong thực tế
IMC dựa trên mô hình hàm truyền đạt của quá trình và trước hết cho ta kết quả là
một bộ điều khiển phản hồi tổng quát Đối với một số dạng mô hình quá trình thông
dụng, người ta đưa về dạng PID chuẩn và đơn giản hóa các luật chỉnh định tham số
Trước hết ta xét tới việc áp dụng phương pháp IMC cho các quá trình ổn định và
quá trình tích phân
Sơ đồ cấu trúc IMC chuẩn được minh họa trên hình 1.2 Một mô hình (s) được
dùng để ước lượng đầu ra của quá trình, Chênh lệch là tín hiệu vào bộ điều
có được đáp ứng lý tưởng, thì phải có:
1.9 tức là bộ điều khiển IMC thu được là nghịch đảo của mô hình đối tượng
Nhận thấy hai vấn đề trong công thức (1.9):
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc điều khiển IMC
Trang 23− sẽ không khả thi khi O có bậc mẫu số lớn hơn bậc tử số hoặc có trễ
− Khi O có điểm không nằm bên phải trục ảo thì dù có khả thi, bộ điều
khiển lý tưởng sẽ có điểm cực nằm bên phải trục ảo và hệ điều khiển sẽ mất
ổn định nội Vì thế, R cần phải được xấp xỉ để đảm bảo cả tính khả thi và tính
ổn định nội
Trong thực tế ta luôn có cũng như 0 và cấu điều khiển là một sự kết hợp
giữa truyền thẳng và phản hồi Tác dụng phản hồi tín hiệu sai lệch giữa đầu ra thực
và đầu ra ước lượng, giúp khắc phục nhược điểm của điều khiển truyền thẳng
đối với sai lệch mô hình và với nhiễu không đo được
Công thức (1.7) cũng chỉ ra rằng sơ đồ cấu trúc IMC tương đương với cấu trúc điều
khiển phản hồi truyền thống như trong sơ đồ sau:
Trong đó:
1 1.10 Việc khắc phục các vấn đề như đã nên ở trên có thể được thực hiện theo các bước
như sau:
− Phân tích mô hình quá trình về dạng:
Trong đó chứa thành phần trễ và các điểm không bên phải trục ảo nếu có, và có
hệ số khuếch đại tĩnh bằng 1
− Xác định bộ điều khiển IMC theo công thức
1
Trong đó F là bộ lọc thông thấp với hệ số khuếch đại bằng 1 Bộ lọc thong thấp F
có vai trò “khả thi hóa” bộ điều khiển IMC Một trong những dạng đơn giản nhất
của F là
ν
Hình 1.3 Sơ đồ cấu trúc điều khiển thực
y K(s)
z
+ µ
ε
Trang 24trong đó k là một số nguyên dương, được chọn vừa đúng bằng bậc tương đối của
− Áp dụng công thức (1.10) để đưa cấu trúc IMC về cấu trúc điều khiển phản
hồi truyền thống
Với việc sử dụng thành phần (khả đảo, không có khâu trễ và không có các điểm
không bên phải trục ảo) và bộ lọc F, bộ điều khiển IMC thu được sẽ khả thi và ổn
định Phương pháp IMC chuẩn dựa trên việc khử các điểm cực – điểm không, do đó
đối với các quá trình vòng hở không ổn định ta cần sửa đổi đôi chút
Chọn mô hình mẫu của hệ kín là một khâu quán tính bậc nhất có trễ:
1 1.11 Trong đó:
− τ: Là thời gian trễ
− : Là hằng số thời gian quán tính mong muốn
Thông số của bộ điều khiển PID xác định theo luật chỉnh định IMC của Chien &
Fruehauf theo bảng sau:
Trang 25Ziegler và Nichols đưa ra hai phương pháp thực nghiệm để xác định tham số
bộ điều khiển PID Trong khi phương pháp thứ nhất sử dụng dạng mô hình xấp xỉ
quán tính bậc nhất có trễ của đối tượng điều khiển
1 1.12 Thì phương pháp thứ hai nổi trội hơn ở chỗ hoàn toàn không cần đến mô hình toán
học của đối tượng Tuy nhiên nó có hạn chế là chỉ áp dụng được cho một lớp các
đối tượng nhất định
1.5.1 Phương pháp Ziegler-Nichols thứ nhất
Phương pháp thực nghiệm này có nhiệm vụ xác định các tham số , , cho bộ
điều khiển PID trên cơ sở xấp xỉ hàm truyền đạt của đối tượng thành dạng
(1.24), để hệ kín nhanh chóng trở về chế độ xác lập và độ quá điều chỉnh không
vượt quá một giới hạn cho phép, khoãng 40% so với lim , tức là có:
∆
0, 4
Ba tham số τ (hằng số thời gian trễ), K (hệ số khuếch đại) và θ (hằng số thời gian
quán tính) của mô hình xấp xỉ (1.24) có thể được xác định gần đúng từ đồ thị hàm
Bảng 1.2 Luật chỉnh định IMC-PID theo Chien&Fruehauf
Trang 26quá độ h(t) của đối tượng Nếu đối tượng có hàm quá độ dạng như hình 1.4 a) mô tả
thì từ đồ thị hàm h(t) đó ta đọc ra được:
− τ là khoãng thời gian đầu ra h(t) chưa có phản ứng ngay với kích thích 1(t) tại
đầu vào
− K là giá trị giới hạn lim
− Gọi A là điểm kết thúc khoãng thời gian trễ, tức là điểm trên trục hoành có
hoành độ bằng τ Khi đó θ là khoãng thời gian cần thiết sau τ để tiếp tuyến của
h(t) tại A đạt được giá trị K
Trường hợp hàm quá độ h(t) không có dạng lý tưởng như ở hình 1.4 a) song có
dạng gần giống là hình chữ S của khâu quán tính bậc 2 hoặc bậc n như hình 1.4 b)
mô tả, thì ba tham số K, τ, θ của mô hình (1.12) được xác định xấp xỉ như sau:
− K là giá trị giới hạn lim
− Kẻ đường tiếp tuyến của h(t) tại điểm uốn của nó Khi đó τ sẽ là hoành độ giao
điểm của tiếp tuyến với trục hoành và θ là khoãng thời gian cần thiết để đường
tiếp tuyến đi được từ giá trị 0 tới được giá trị K
Như vậy ta có thể thấy là điều kiện để áp dụng được phương pháp xấp xỉ mô hình
bậc nhất có trễ của đối tượng là đối tượng đã phải ổn định, không có dao động và ít
nhất hàm quá độ của nó phải có dạng hình chữ S
Sau khi đã có các tham số cho mô hình xấp xỉ (1.12) của đối tượng,
Ziegler-Nichols đã đề nghị sử dụng các tham số , , cho bộ điều khiển như sau:
Hình 1.4: Đặc tính quá độ của đối tượng quán tính có trễ
K
b)
Trang 27− Nếu chỉ sử dụng bộ điều khiển khuếch đại thì chọn
− Nếu sử dụng bộ PI với 1 thì chọn 0,9T
− Nếu sử dụng bộ PID với 1 thì chọn , ,
2 , /2
1.5.2 Phương pháp Ziegler-Nichols thứ hai
Năm 1942, Ziegler và Nichols đề xuất một phương pháp chỉnh định bộ PID
đơn biến với tên gọi continuous cycling method (được các tài liệu tiếng Việt đề
cập tới với tên gọi phương pháp Ziegler- Nichols II) Nội dung cơ bản của phương
pháp này như sau:
− Đặt đối tượng trong vòng điều khiển phản hồi với bộ điều khiển tỷ lệ (P)
Tăng dần hệ số khuếch đại của bộ điều khiển đến khi hệ thống đạt trạng thái
dao động ổn định (trạng thái biên giới ổn định, trạng thái tới hạn) với chu kỳ
Hệ số khuếch đại của bộ điều khiển lúc này là
− Xác định các thông số của bộ điều khiển P, PI hoặc PID dựa trên cágiá trị
Thực chất của phương pháp này là xác định các thông số bộ PID dựa trên
thông tin (tần số, biên độ) về giao điểm giữa đường đặc tính tần của đối tượng và
phần âm trục thực (tại đó độ trễ pha của đối tượng bằng 180 ) Phương pháp
Ziegler-Nichols II có mấy nhược điểm lớn:
− Việc xác định hệ số khuếch đại tới hạn K và tần số tới hạn ω bằng cách cách
tăng dần hệ số khuếch đại bộ điều khiển P cần phải tiến hành thí nghiệm lặp đi
Bảng 1.3 Xác định thông số bộ PID theo phương pháp Ziegler-Nichols II
Trang 28lặp lại rất mất thời gian và hệ dễ mất ổn định, kết quả thu được thiếu chính
xác
− Các đối tượng có bậc tương đối nhỏ hơn 3 sẽ không đạt tới trạng thái tới hạn
khi đặt trong vòng điều khiển phản hồi sử dụng bộ điều khiển tỷ lệ (dù hệ số
khuếch đại lớn đến đâu)
− Bộ điều khiển thu được thường tác động quá mạnh nên hệ thống thu được dao
động mạnh, kém bền vững
Mặc dù có những nhược điểm như vậy, cho đến nay, phương pháp Ziegler-
Nichols II vẫn là một trong các phương pháp chỉnh định bộ PID nổi tiếng nhất và
thường được sử dụng trong các tài liệu làm cơ sở so sánh đánh giá các phương
pháp chỉnh định khác
Trang 29Chương 2: NHẬN DẠNG VÀ MÔ HÌNH HÓA ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU KHIỂN
2.1 Tổng quan
Việc xây dựng mô hình cho đối tượng được gọi là mô hình hóa Các phương
pháp mô hình hóa thường được phân chia thành hai loại:
− phương pháp lý thuyết và
− phương pháp thực nghiệm
Phương pháp lý thuyết là phương pháp thiết lập mô hình dựa trên các định luật
có sẵn về quan hệ vật lý bên trong và quan hệ giao tiếp với môi trường bên ngoài
của đối tượng Các quan hệ này được mô tả theo quy luật lý-hóa, quy luật cân bằng,
… dưới dạng những phương trình toán học
Trong trường hợp mà ở đó sự hiểu biết về những quy luật giao tiếp bên trong
đối tượng cũng như về mối quan hệ giữa đối tượng và môi trường bên ngoài không
được đầy đủ để có thể xây dựng được mô hình hoàn chỉnh, nhưng ít nhất có thể cho
biết các thông tin ban đầu về dạng mô hình thì tiếp theo người ta phải áp dụng
phương pháp thực nghiệm để hoàn thiện nốt việc xây dựng mô hình đối tượng trên
cơ sở quan sát đầu ra và đầu vào và tín hiệu ra của đối tượng sao cho mô hình thu
được bằng phương pháp thực nghiệm thỏa mãn các yêu cầu của phương pháp lý
thuyết đề ra Phương pháp thực nghiệm đó được gọi là nhận dạng hệ thống điều
khiển
Khái niệm về về bài toán nhận dạng như được nêu ở trên đã được Zadeh thu
gọn vào định nghĩa phát biểu năm 1962 với hai nét cơ bản sau:
a) Nhận dạng là phương pháp thực nghiệm nhằm xác định một mô hình cụ thể
trong lớp các mô hình thích hợp đã cho trên cơ sở quan sát các tín hiệu vào
ra
b) Mô hình tìm được phải có sai số với đối tượng là nhỏ nhất
Theo định nghĩa này thì những bài toán nhận dạng sẽ được phân biệt với nhau ở
3 điểm chính Đó là:
− Lớp mô hình thích hợp Chẳng hạn lớp các mô hình tuyến tính không có
cấu trúc hoặc có cấu trúc, lớp các mô hình lưỡng tính,…
Trang 30− Loại tín hiệu quan sát được (tiền định/ngẫu nhiên)
− Phương thức mô tả sai lệch giữa mô hình và đối tượng thực
Trong bài toán nhận dạng, sai lệch giữa đối tượng thực và mô hình thường
được biểu diễn qua:
a) Sai lệch đầu ra: được sử dụng cho bài toán nhận dạng có mô hình tĩnh
b) Sai lệch tổng quát: sử dụng cho bài toán nhận dạng tham số với mô
hình tuyến tính động
c) Sai lệch đầu vào: dùng cho bài toán nhận dạng không có nhiễu đầu ra
Sai lệch giữa đối tượng thực và mô hình thường được đánh giá qua các chỉ
tiêu:
− Bình phương sai lệch nhỏ nhất
− Giá trị trung bình của bình phương sai lệch nhỏ nhất (tính theo chu kỳ)
− Tổng giá trị tuyệt đối của sai lệch là bé nhất
2.2 Phương pháp mô hình hóa đối tượng nhiệt năng
Trong quá trình công nghệ nhiệt, nếu ta xem các đối tượng điều khiển là tuyến
tính (không đổi) thì chúng sẽ được mô tả dưới dạng hàm truyền Hàm truyền của
lớp đối tượng này với đặc trưng cơ bản là có trễ vận tải, có thể mô tả ở các dạng cơ
bản như sau:
- Binomial - dạng nhân tử nhị thức:
q τs
n
m
s
e s a s
a s a
s b s
b s b b s W
−
× + +
+
+ +
+
=
) 1 ) (
1 )(
1 (
) 1 ) (
1 )(
1 ( ) (
2 1
2 1
0 , (2 1)
- Trinomial - dạng nhân tử tam thức:
q
τs s
e s
a s a s
a s a
s b s b s
b s b b s
+++
+
+++
+
=
)
1)(
1(
)
1)(
1()
4 3
2 2 1
2 4 3
2 2 1
, 0
, 0
n i a
m i b i
- Polynomial - dạng đa thức:
q
τs n
n
m m
s
e s a s
a
s b s
b b s
+++
+++
1
1
0 , (2 3)
Trong đó:
Trang 31b0 , b1, , b m – các hệ số của tử thức, trong đó b0 là hệ số truyền,
a1, a2, , a n – các hệ số của mẫu thức,
τ – thời gian trễ vận tải ,
X={b0, b1, ,b m , a1, a n,τ} – véctơ tham số của đối tượng
m ≥0 – bậc nguyên của tử thức; n≥0 – bậc nguyên của mẫu thức,
q – bậc tích phân (bậc phi tĩnh) nếu q>0 hoặc là bậc vi phân nếu q<0,
Bộ ba (m, n, q) qui định cấu trúc của hàm truyền nên thường gọi đơn giản là
cấu trúc của mô hình
Mô hình tối ưu của đối tượng xác định bằng cách chọn nhiều cấu trúc khác
nhau, ứng với mỗi cấu trúc đã chọn giải bài toán tối ưu hoá các tham số theo chỉ
tiêu sai lệch cực tiểu giữa mô hình và chuỗi số liệu Sau đó, trong số các mô hình tối
ưu tham số tìm được ứng với những cấu trúc đã thử, mô hình nào có chỉ tiêu sai
lệch bé nhất sẽ là mô hình tối ưu toàn cục - tối ưu theo cả tham số và cấu trúc của
đối tượng
Trong thực tế, phổ biến dùng chỉ tiêu tổng các bình phương sai lệch Bài toán
tương ứng tối ưu hoá tham số của mô hình với cấu trúc đã cho, có dạng:
E ω , (2 4)
trong đó, N - số điểm của chuỗi số liệu đặc tính tần số; P i , Q i - số liệu phần thực và
phần ảo ứng với tần số ωi ; W(s,X) - mô hình đối tượng, có dạng (2 1), (2 2) hoặc
(2 3); s = jω ; j – đơn vị ảo
Để lời giải nhận được của bài toán (2 4) có nghĩa, cần đưa điều kiện khống
chế các hệ số:
0≤ a1≤ a1max, 0≤ a2≤ a2max, ., 0≤ an ≤ a nmax, 0 ≤ τ ≤ τmax (2 5)
Bài toán (2 4) với điều kiện (2 5) có thể giải một cách đơn giản và hiệu quả,
nếu đưa nó về dạng bài toán tối ưu hoá tương đương, không có ràng buộc, như sau:
X
X X
Trang 32i i
Ψ
1
2 max
max 2
max
|)
- hàm “phạt” theo (2 5)
Với px đủ lớn, bài toán (2.6) tương đương với bài toán (2.4)-(2.5), tức chúng
có lời giải cực tiểu trùng nhau Điều này dễ thấy vì chỉ cần một tham số nào đó vượt
ngưỡng cho phép sẽ dẫn đến 0 Khi đó với px→ ∞ thì ∞, sẽ
làm cho J(X) lớn tuỳ ý Như vậy, J(X) không thể có cực tiểu tại miền, khi mà điều
kiện (2.5) bị phá vỡ Mặt khác, nếu (2.5) thoả mãn thì 0 và J(X) ≡ Eo(X)
Từ đây, điểm cực tiểu của J(X) trùng với điểm cực tiểu có thể của Eo(X) trong miền
thoả mãn điều kiện (2.5), tức hai bài toán trên là tương đương
Bài toán (2.6) có thể giải một cách hiệu quả bằng thuật toán tối ưu hoá lặp
theo nguyên lý “vượt khe”
Giải bài toán (2.6) với nhiều cấu trúc (m,n,q) khác nhau sẽ cho phép ta chọn
lời giải tốt nhất W(s,X) - ứng với tổng bình phương sai lệch bé nhất Đó là mô hình
tối ưu cần tìm
2.3 Nhận dạng đối tượng theo mô hình quán tính bậc hai có trễ
Đối tượng quán tính có quán tính bậc cao ( 2) tồn tại phổ biến trong thực
tế Tuy vậy, người ta vẫn mong muốn và thực tế cho phép mô tả chúng một cách
khá chính xác bởi mô hình quán tính bậc 2 có trễ
Hình 2.1 Đặc tính quá độ thực nghiệm
Trang 33Giả sử đặc tính quá độ thực nghiệm (hình 2.1) của đối tượng, nhận được do
tác động ở đầu vào một xung bậc thang Giá trị tiệm cận ngang là
lim =h(∞); đồ thị có điểm uốn là U( ) Tiếp tuyến của đường cong tại
điểm uốn cắt trục hoành và đường tiệm cận ngang tại A và B Hằng số quán tính
biểu trưng =AC (hình chiếu ngang của AB) đặc trưng cho độ quán tính của đối
tượng
Mô hình quán tính bậc 2 có trễ, xét dưới dạng:
.
1 1 2.7 trong đó, K – hệ số truyền; τ – thời gian trễ; T1,T2 – các hằng số quán tính
Hàm quá độ của mô hình với đầu vào là xung bậc thang, có dạng:
Điều kiện xấp xỉ là đặc tính quá độ của mô hình và của đối tượng trùng nhau
tại điểm uốn và tại thời điểm vô hạn Ngoài ra, chúng có độ nghiêng giống nhau tại
điểm uốn
Theo các điều kiện trên, tác giả Nguyễn Văn Mạnh đã rút ra các công thức
đơn giản để tính các tham số của mô hình Thật vậy, từ đồ thị thực nghiệm, xác định
các đại lượng đặc trưng sau:
1 h(∞) – giá trị xác lập,
2 Ta - hằng số quán tính biểu trưng,
3 ( , ) – tọa độ điểm uốn,
4 g= /h(∞) – tung độ tương đối của điểm uốn,
5 = 1-2 0,26424; e 2,73183 – cơ số lôgarít tự nhiên
Các hàng số quán tính và thời gian trễ, xác định theo hai trường hợp sau:
a) Nếu g , thì tính v = 0.324 + 0,458 . , sau đó:
ν, 1 ‐ g ‐ , τ ‐ ln ν
b Nếu g>gmax, thì tính δ g – gmax , sau đó:
T1 T2 Ta 1 – 0,8.δ /e, τ tu –Ta 1 2,4δ /e
Trang 34Hệ số truyền của mô hình, xác định theo quan hệ quen thuộc:
K h ∞ /x0 Trường hợp a) trên đây, xảy ra khi đối tượng thực sự là khâu quán tính bậc
2 có trễ Khi đó, cấu trúc (2.7) trùng với cấu trúc của đối tượng Nếu số liệu thí
nghiệm và các kết quả tính toán chính xác, thì mô hình sẽ trùng hoàn toàn với đối
tượng Trong trường hợp riêng, nếu đối tượng là khâu quán tính bậc nhất có trễ, thì
kết quả tính toán sẽ dẫn đến: = , =0
Trường hợp b) nói trên thường xảy ra, khi đối tượng có quán tinh bậc cao
( 2), hoặc đặc tính quá độ không đơn điệu, hoặc có dạng phức tạp hơn nữa Khi
đó, cấu trúc quán tính bậc hai có trễ chỉ là cấu trúc xấp xỉ Tuy nhiên, nếu đối tượng
là khâu quán tính bậc cao có trễ hoặc là khâu dao động yếu có trễ, thì trong nhiều
ứng dụng thực tế, mô hình (2.7) vẫn cho kết quả khá chính xác
Phương pháp mô hình hóa nêu trên khá đơn giản, có thể tính bằng tay và cho
kết quả nhanh, đồng thời đảm bảo độ chính xác cao
Ưu điểm của mô hình quán tính bậc hai có trễ là có tính đại diện cao Với
cấu trúc khá đơn giản, cho phép mô tả đúng hoặc hầu như đúng bản chất động học
của đa số các đối tượng có tự cân bằng trong công nghiêp
Trang 35Chương 3: ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN
3.1 Các tiêu chuẩn tần số đánh giá ổn định hệ thống điều khiển
3.1.1 Tiêu chuẩn Nyquist
Tiêu chuẩn tần số này do nhà bắc học Mỹ nêu ra vào năm 1932, khi ông
nghiên cứu các hệ tự động trong vô tuyến điện tử Tiêu chuẩn mang tên tác giả
Nyquist Bản chất của tiêu chuẩn này là xét ổn định hệ thống kín dựa vào tính chất
ổn định của hệ hở tương ứng
Giả sử có hệ thống điều khiển với sơ đồ cấu trúc như trên hình 3.5
Giả sử hàm này có dạng:
, 3.1 Nếu cắt đứt mạch phản hồi tại điểm A thì hệ thống trở thành hở Hàm truyền
H(s) của hệ hở (còn gọi là hàm truyền vòng) bằng tích các hàm truyền của các khâu
nằm trong mạch vòng đó
Tiêu chuẩn Nyquist phát biểu như sau:
Điều kiện cần và đủ để cho hệ kín ổn định là đặc tính tần số H(jω) của hệ hở
bao điểm (-1,j0) ngược chiều kim đồng hồ m/2 lần, khi tần số ω thay đổi từ 0 đến
+∞, m là số nghiệm đặc tính của hệ hở nằm bên phải trục ảo
Trong thực tế, hầu hết các hệ thống điều khiển đều ổn định ở trạng thái hở
nên hệ hở không có nghiệm phải Từ đó, ta có hệ quả quan trọng của tiêu chuẩn
Nyquist:
Một hệ thống ổn định ở trạng thái hở, thì sẽ ổn định ở trạng thái kín, nếu đặc
tính tần số H(jω) của hệ hở không bao điểm (-1,j0)
Hình 3.1 Sơ đồ cấu trúc của hệ thống điều khiển
Trang 36Nếu hệ hở ổn định, thì đặc tính tần số H(jω) là một đường cong hữu hạn
khép kín như hình 3.2 và việc kiểm tra sự ổn định của hệ kín theo tiêu chuẩn
Nyquist khá đơn giản
Nếu hệ hở có nghiệm đặc tính nằm trên trục ảo (nghiệm biên), thì tiêu chuẩn
Nyquist vẫn đúng nếu coi các nghiệm biên thuộc về tập nghiệm trái Tuy nhiên,
trong trường hợp này đường cong H(jω) không khép kín mà bị đứt đoạn một cách
phức tạp nên việc xác định góc quay theo qui tắc bao gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi
xem xét thận trọng
Trong thực tế, khi tổng hợp hệ thống đảm bảo không có sai số xác lập của
quá trình quá độ, thương gắn với sự tồn tại thành phần tich phân trong bộ điều chỉnh
hoặc trong đối tượng Số thành phần tích phân tồn tại trong mạch vòng, một mặt
làm cho hệ hở trở thành phi tính, tức trong mẫu thức của đặc tính H(jω) và làm cho
nó bị đứt và mở ra vô cùng ở tần số ω = 0
Trường hợp tồn tại nghiệm 0
Đây là trường hợp khi đối tượng hoặc bộ điều chính có thành phần tích phân
Trong trường hợp này, hàm truyền tối giản của hệ hở có dạng:
H(s) = , q>0 , trong đó, q – goii là bậc phi tĩnh; Q0(s) = dnsn + dn-1sn-1 + … + d0 - đa thức chỉ có
nghiệm trái; Q0(0) = d0 ≠ 0; R0(s) = bnsn + bn-1sn-1 + …+ b0 – tử thức với b0 ≠ 0
Hình 3.2 Đồ thị F(jω)-hình (a) và H(jω)-hình (b)
Trang 37Trong trường hợp này vẫn có thể áp dụng tiêu chuẩn Nyquist, nếu coi
nghiệm 0 là giới hạn của nghiệm thực âm
Thật vậy, trước hết dựng đoạn đồ thi cơ bản H(jω) trong khoảng ω =
ω →ω Biên tần trên: ωmax chọn đủ lớn sao cho H(jω) hầu như đã hội tụ Còn
biên dưới: ωmin chọn đủ nhỏ sao cho đoạn đầu của đồ thị H(jω) ứng với ω = 0→ωmin
nằm xa gốc tọa độ Đoạn này không cần vẽ cụ thể mà thay tương trưng bằng một
cung tròn quanh gốc tọa độ, quay theo chiều kim đồng hồ từ phần dương trục thực
đến điểm H(jω ) của đồ thị cơ bản (hình 3.7)
Theo cách dựng trên, nhận được một đường cong tương đương của H(jω), cho
phép áp dụng tiêu chuẩn Nyquist một cách bình thường
3.1.2 Tiêu chuẩn parabol
Tiêu chuẩn Nyquist có thể hiện hình học trực quan và do đó cho phép dễ
dàng kiểm tra sự ổn định của hệ thống trên đồ thị Tuy nhiên, hạn chế của tiêu
chuẩn này là vấn đề lập trình tính toán để kiểm tra tự động trên máy tính rất phức
tạp Dưới đây sẽ trình bày một quy tắc đánh giá sự ổn định của hệ thống có hiệu quả
và tiện lợi cho việc lập trình và tính toán tự động trên máy tính
Thật vậy, xết hệ thống với sơ đồ cấu trúc và các ký hiệu như trên hình 3.1
Từ những năm 1950, Txứpkin đã đưa ra giải pháp khắc phục nhược điểm của tiêu
chuẩn Nyquist, bằng cách xét tính chất của các điểm cắt giữa đặc tính tần số của hệ
hở (hình 3.4) và đoạn trục thực âm: (-∞,-1)
Hình 3.3 Đặc tính tần số của hệ hở, với bậc phi tĩnh q khác nhau
Trang 38Xét theo chiều tăng tần số: ω = 0→∞ Nếu đường cong H(jω) cắt trục thực
trong khoảng (-∞,-1) theo chiều từ trên xuống, thì đó là xu hướng H(jω) sẽ bao
điểm (-1,j0) ngược chiều kim đồng hồ Trái lại, nếu cắt theo chiều từ dưới lên, thì
đó là xu hướng H(jω) bao điểm (-1,j0) thuận chiều kim đồng hồ
Từ suy luận đó, Txứpkin đưa ra qui tắc kiểm tra sự ổn định của hệ thống như
sau:
Điều kiện cần và đủ để cho hệ kín ổn định là đường cong H(jω) cắt phần
trục thực âm (-∞,-1) với số lần cắt theo chiều từ trên xuống nhiều hơn số lần cắt từ
dưới lên là p/2, p –p là số nghiệm đặc tính của hệ hở nằm bên phải trục ảo
Nếu đa thức đặc tính của hệ hở có không quá một nghiệm không: q≤1, thì
đường cong H(jω) sẽ xuất phát (khi ω=0) từ nửa mặt phẳng dưới (hình 3.8), đường
số 1 và số 2) Trong trường hợp đó, việc kiểm tra sự ổn định của hệ thống theo quy
tắc Txứpkin khá đơn giản
Mặc dù vậy, tiêu chuẩn của Txứpkin rất khó lập trình và có thể cho kết luận
sai về sự ổn định của hệ trong các trường hợp phức tạp, ví dụ khi q>1 (hình 3.9,
đường cong 1’ và 2’)
Sự hạn chế của tiêu chuẩn Txứpkin có thể khắc phục, nếu thay vai trò đoạn
trục thực âm: (-∞,-1) bởi một đường cong, xuất phát từ điểm (-1,j0), nằm phía trên
trục thực và tiến tới vô tận trong góc phần tư thứ nhất.Với vai trò đó, có thể sử dụng
nửa đường cong parabol nằm ngang, đối xứng qua trục thực, có đỉnh tại (-1,j0) Qui
tắc đánh giá sự ổn định của hệ thống theo cách đó gọi là tiêu chuẩn parabol do tác
Hình 3.4 Kiểm tra sự ổn định của hệ thống theo Txứpkin
Trang 39giả Nguyễn Văn Mạnh nêu ra năm 1992 Đường cong parabol vừa nói trên có
phương trình là:
P = Q2 - 1 (3.2) trong đó: P, Q – là các tọa đọ của parabol tính theo trục thực và trục ảo
Xét theo chiều tăng tần số: ω = 0→∞, đường cong H(jω) sẽ cắt parabol tạ
một số điểm nhất định Những điểm cắt nào xảy ra khi H(jω) đi từ miền ngoài vào
miền trong của parabol gọi là điểm “cắt vào” Còn những điểm cắt xảy ra khi H(jω)
đi từ miền trong ra miền ngoài của parabol thì gọi là điểm “cắt ra”
Đoạn đường cong P = Q2 – 1 với Q ≥ 0 là nửa đương parabol, nằm trên trục
thực, bắt đầu từ điểm (-1,j0) và tiến tới vô tận trong góc phần tư thứ nhất
Dễ thấy rằng, H(jω) sẽ không bao (không đi vòng quanh) điểm (-1,j0), nếu
số điểm “cắt vào” của nó với nửa dương parabol bằng số điểm “cắt ra” Khi đó, hệ
kín sẽ bảo toàn tính chất ổn định của hệ hở, tức hệ hở có bao nhiêu nghiệm trái thì
hệ kín cũng có bấy nhiêu
Xét theo cách khác, nếu hệ hở không ổn định và có p nghiệm phải mà số
điểm “cắt ra” giữa H(jω) và nửa dương parabol lớn hơn số điểm cắt vào là p/2, thì
đường cong H(jω) sẽ bao quanh điểm (-1,j0) ngược chiều kim đồng hồ p/2 lần
Theo nguyên lý góc quay, điều đó đảm bảo rằng hệ kín sẽ ổn định Từ phân tích
trên, có thể phát biểu tiêu chuẩn parabol như sau:
Hình 3.5 Đặc tính tần số H(jω) của hệ hở và đường cong parabol trong hệ tọa độ phức
Trang 40Tiêu chuẩn parabol:
Điều kiện cần và đủ để hệ kín ổn định là đặc tính tần số của hệ hở cắt nửa dương
parabol P = Q 2 – 1 (Q>0) với số điểm “cắt ra” nhiều hơn số điểm “cắt vào” là
p/2, trong đó, p là số nghiệm đặc tính của hệ hở nằm bên phải trục ảo
Hệ quả của tiêu chuẩn parabol:
Nếu hệ hở ổn định, thì điều kiện cần và đủ để hệ kín ổn định là đặc tính tần
số của hệ hở cắt nủa dương parabol với số điểm “cắt ra” và “cắt vào” bằng nhau
Tiêu chuẩn parabol áp dụng đơn giản để kiểm tra sự ổn định của hệ thống,
khi đặc tính tần số của hệ hở có điểm bắt đầu trong bất cứ góc phần tư nào của hệ
tọa độ phức
3.2 Dự trữ ổn định của hệ thống điều khiển
3.2.1 Các khái niệm về dự trữ ổn định
Để đơn giản hóa việc nghiên cứu và thiết kê hệ thống điều khiển, người ta
thường phải chấp nhận hàng loạt các giải pháp xấp xỉ và tuyến tính hóa Ví dụ khi
xây dựng mô hình hệ thống ngươi ta dựa trên các định luật vật lý cơ bản (về cơ,
nhiệt, điện…) và thường bỏ qua rất nhiều yếu tố phụ khác trong các mô hình xấp xỉ
tuyến tính thì các tham số, như hệ số khuyếch đại, hằng số quán tính, thời gian trễ,
v.v… của các khâu thường có sai số cả về phương pháp và kết quả đo đạc thực tế
Mặt khác, các tính toán khảo sát thường chỉ thực hiện đối với một số trường hợp
điển hình, bỏ qua sự thay đổi theo thời gian hoặc những sự thay đổi khác không
lường trước được
Vì vậy, mặc dù xác định được rằng hệ tuyến tính hóa nhận được là hệ ổn
định, ta chưa thể tin tưởng hoàn toàn rằng nó sẽ ổn định khi đưa vào hoạt động, tức
chưa chắc chắn hệ sẽ nằm trong vùng ổn định thực sự của nó Ví dụ trong trường
hợp hệ thống có nghiệm đặc tính nằm gần sát biên ổn định, chỉ cần một sai lệch nhỏ
của mô hình đối tượng hoặc sai số khi thực thị luật điều chỉnh có thể làm cho hệ
thống trở nên mất ổn định
Việc xác định miền ổn định thực của hệ thống theo mô hình chính xác nói
chung là vần đề rất phức tạp, nhiều khi không thể thực hiện được Do đó, trước hết
người ta thường tính toán theo mô hình xấp xỉ tuyến tính, sau đó hiệ chỉnh lại lời