ERAV Electricity Regulatory Authority of Vietnam: Cục Điều tiết điện lực EPTC Electric Power Trading Company: Công ty Mua bán điện GDE General Directorate of Energy: Tổng cục Năng lượng
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập được trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa từng được ai công bố trước đây
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Trang 2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 7
MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN 11
1.1 Kinh nghiệm các quốc gia về cải cách thị trường điện 11
1.1.1 Các nước Trung và Nam Mỹ 11
1.1.2 Các nước Châu Âu 16
1.1.3 Các nước thuộc Liên Xô cũ 18
1.1.4 Các nước Bắc Mỹ 19
1.1.5 Các nước Châu Úc và Châu Á 19
1.1.6 Các nước Châu Phi 22
1.2 Một số mô hình thị trường điện cạnh tranh điển hình 23
1.2.1 Mô hình có sự tham gia của bên thứ ba (TPA- Third Party Access) 23
1.2.2 Mô hình một người mua 25
1.2.3 Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh 25
1.2.4 Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 26
1.3 Tổng quan về phát triển thị trường điện ở Việt Nam 27
1.3.1 Lộ trình phát triển thị trường điện tại Việt Nam 28
1.3.2 Thị trường phát điện cạnh tranh tại Việt Nam 29
CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG PHÁT ĐIỆN CẠNH TRANH 31
2.1 Mô hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của EVN trước đây 31
2.2 Mô hình Thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam (VCGM) 32
2.3 Các thành phần tham gia thị trường điện 33
2.3.1 Đơn vị mua buôn duy nhất 34
2.3.2 Tổng công ty phát điện (Genco) 35
Trang 32.3.6 Các đơn vị xuất khẩu (XK) 37
2.3.7 Các công ty điện lực (PC) 37
2.3.8 Công ty truyền tải điện 38
2.4 Các cơ quan quản lý vận hành và giám sát thị trường điện 38
2.4.1 Cơ quan vận hành hệ thống (SO) và vận hành thị trường (MO) 38
2.4.2 Cơ quan điều tiết điện lực 40
2.5 Vận hành thị trường điện 43
2.5.1 Cơ chế hợp đồng mua bán điện trong thị trường 43
2.5.2 Cơ chế vận hành của thị trường điện giao ngay 43
2.5.3 Cơ chế giá công suất thị trường 44
2.5.4 Cơ chế cung cấp dịch vụ phụ trợ trong thị trường 44
2.5.5 Cơ chế thanh toán trong thị trường 45
2.5.6 Cơ chế huy động các nhà máy thuỷ điện chiến lược đa mục tiêu 45
CHƯƠNG 3: CƠ CẤU GIÁ ĐIỆN VÀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN 46
3.1 Hợp đồng mua bán điện trong thị trường 46
3.1.1 Mục tiêu của hợp đồng mua bán điện 46
3.1.2 Các dạng hợp đồng mua bán điện 46
3.1.3 Nguyên tắc áp dụng cơ chế hợp đồng 47
3.1.4 Nguyên tắc xác định giá hợp đồng 48
3.1.5 Đặc điểm của hợp đồng mua bán điện 48
3.2 Giá hợp đồng mua bán điện (Pc) của nhà máy Nhiệt điện 49
3.2.1 Giá cố định 49
3.2.2 Giá vận hành và bảo dưỡng cố định 50
3.2.3 Giá biến đổi 50
3.2.4 Giá nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện 52
3.3 Giá điện trên thanh cái nhà máy nhiệt điện 53
3.4 Giá điện năng thị trường (SMP) 54
3.5 Giá công suất thị trường (CAN) 55
3.5.1 Chi phí thiếu hụt năm của Nhà máy điện mới tốt nhất 55
3.5.2 Chi phí thiếu hụt của Nhà máy điện mới tốt nhất theo tháng 56
Trang 43.5.3 Giá công suất thị trường trong từng giờ giao dịch 57
CHƯƠNG 4: CHIẾN LƯỢC CHÀO GIÁ TỔ MÁY NHIỆT ĐIỆN CHẠY THAN 58
4.1 Thực trạng nguồn nhiệt điện chạy than ở Việt Nam 58
4.2 Thị trường điện Việt Nam tính đến cuối năm 2014 59
4.2.1 Cơ cấu nguồn điện trong hệ thống điện 60
4.2.2 Cơ cấu nguồn điện trực tiếp tham gia thị trường điện 61
4.2.3 Giá thị trường điện giao ngay năm 2013, 2014 64
4.3 Chiến lược chào giá của các nhà máy nhiệt điện tham gia Thị trường điện 72
4.3.1.Chi phí sản xuất điện năng của nhà máy nhiệt điện 72
4.3.2 Doanh thu các nhà máy khi tham gia thị trường điện 73
4.3.3 Chiến lược chào giá chung cho các tổ máy nhiệt điện chạy than 74
4.4 Chiến lược chào giá cho nhà máy Nhiệt điện Uông Bí mở rộng 76
4.4.1 Tổng quan về Nhà máy 76
4.4.2 Xây dựng bản chào giá cho tổ máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng 81
4.4.3 Chiến lược chào giá cho nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng 90
KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TTĐ: Thị trường điện
CGM (Competitive Generation Market): Thị trường phát điện cạnh tranh
TPA (Third Party Access): Mô hình có sự tham gia của bên thứ ba
IPP (Independent Power Producer - IPP): Nhà máy điện độc lập
SB (Single Buyer): Đơn vị mua buôn duy nhất
EVN: Tập đoàn điện lực Việt Nam
ERAV (Electricity Regulatory Authority of Vietnam): Cục Điều tiết điện lực
EPTC (Electric Power Trading Company): Công ty Mua bán điện
GDE (General Directorate of Energy): Tổng cục Năng lượng
SO (System Operator): Đơn vị vận hành Hệ thống điện
MO (Market Operator): Đơn vị vận hành Thị trường điện
NPT (National Power Transmission): Tổng công ty truyền tải điện Quốc gia
GENCO (Power Generation Corporation): Tổng công ty Phát điện
TNHH MTV: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
SMP (System Marginal Price): Giá điện năng Thị trường điện
CAN (capacity Add- On): Giá công suất Thị trường điện
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Giá thị trường điện bình quân theo giờ của các tháng trong năm 2013 Bảng 4.2 Giá thị trường điện bình quân theo giờ của các ngày trong tuần năm 2013 Bảng 4.3 Giá thị trường điện bình quân theo giờ của các tháng trong năm 2014 Bảng 4.4 Giá thị trường điện bình quân theo giờ của các ngày trong tuần năm 2014 Bảng 4.5 Thông số kỹ thuật của lò hơi
Bảng 4.6 Thông số kỹ thuật của tubin
Bảng 4.7 Các cửa trích hơi và thông số hơi trích
Bản 4.8 Bảng tính suất tiêu hao nhiên liệu của tổ máy
Bảng 4.9 Bảng tính số liệu chi phí theo công suất phát của tổ máy
Bảng 4.10 Bảng tính suất tăng tiêu hao nhiên liệu của tổ máy
Bảng 4.11 Bảng tính block giá có tính tới chi phí không tải
Bảng 4.12 Bảng tính block giá có tính tới tiêu hao tự dùng
Bảng 4.13 Bảng tính chi phí khởi động của tổ máy trong năm
Bảng 4.14 Bảng tính bock giá chào có tính đến chi phí khởi động
Bản 4.15 Bảng tính giá trần của tổ máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Mô hình tham gia của bên thứ ba (TPA)
Hình 1.2 Mô hình thị trường một người mua
Hình 1.3 Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh
Hình 1.4 Mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh
Hình 1.5 Các giai đoạn phát triển thị trường điện ở Việt Nam
Hình 2.1 Cấu trúc tích hợp dọc của ngành điện Việt Nam
Hình 2.2 Mô hình thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam
Hình 3 Nguyên tắc xác định giá biên của hệ thống
Hình 4.1 Cơ cấu nguồn điện theo loại hình năm 2014
Hình 4.2 Cơ cấu sở hữu nguồn điện năm 2014
Hình 4.3 Số lượng nhà máy và công suất đặt tham gia thị trường điện đến năm 2014 Hình 4.4 Cơ cấu nguồn điện theo công suất đặt tham gia Thị trường điện năm 2014 Hình 4.5 Cơ cấu nguồn điện theo công nghệ tham gia Thị trường điện năm 2014 Hình 4.6 Cơ cấu nguồn điện theo chủ sở hữu tham gia Thị trường điện năm 2014 Hình 4.7 Giá bình quân các tháng trong năm 2013
Hình 4.8 Giá bình quân các giờ trong năm 2013
Hình 4.9 Giá bình quân ngày trong tuần năm 2013
Hình 4.10 Giá bình quân các tháng trong năm 2014
Hình 4.11 Giá bình quân các giờ trong năm 2014
Hình 4.12 Giá bình quân ngày trong tuần năm 2014
Hình 4.13 Sơ đồ nguyên lý công nghệ sản xuất nhiệt điện than
Hình 4.14 Đường cong suất tiêu hao nhiên liệu tổ máy
Hình 4.15 Đường đặc tính chi phí theo công suất phát của tổ máy
Hình 4.16 Đường đặc tính suất tăng tiêu hao nhiên liệu của tổ máy
Hình 4.17 Block giá phụ thuộc vào chi phí biến đổi
Hình 4.18 Block giá tính tới chi phí không tải
Hình 4.19 Block giá có tính tới tiêu hao tự dùng
Hình 4.20 Block giá có tính chi phí không tải và chi phí khởi động
Trang 8Hình 4.22 Chiến lược chào giá của tổ máy trong giờ cao điểm
Hình 4.23 Chiến lược chào giá của tổ máy xét tới giá biên miền
Trang 9MỞ ĐẦU
SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Thị trường điện đã và đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, kinh nghiệm vận hành Thị trường điện của nhiều nước cho thấy đây là một tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực quản lý năng lượng Tại Việt Nam, Thị trường điện bắt đầu hình thành và từng bước phát triển từ khi Luật Điện lực được ban hành năm 2004 và Quyết định 26/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về lộ trình
và các điều kiện hình thành phát triển các cấp độ thị trường điện lực
Thị trường Phát điện cạnh tranh là bước đầu tiên trong lộ trình phát triển Thị trường điện ở Việt Nam, vận hành thử nghiệm từ 1/7/2011 và chính thức từ 1/7/2012 Theo báo cáo công tác vận hành Trị trường phát điện cạnh tranh của EVN thì: Các nhà máy thủy điện và nhiệt điện chạy khí có lợi nhuận tăng so với kế hoạch trong khi các nhà máy nhiệt điện đốt than nhìn chung lại giảm Lợi nhuận của các nhà máy đốt than khi tham gia thị trường điện giảm do: chế độ sửa chữa định kỳ không đảm bảo thời gian và chất lượng dẫn đến sự cố kéo dài, chưa chủ động trong chiến lược sản xuất kinh doanh và nhất là chưa quan tâm đúng mức tới chiến lược chào giá trên thị trường điện giao ngay
Theo Thông tư số 30/2014/TT- BCT của bộ Công Thương, các nhà máy nhiệt điện có trách nhiệm tham gia thị trường điện chậm nhất là sau 12 tháng kể từ ngày vận hành thương mại của tổ máy Đó vừa là cơ hội và cũng là thách thức cho các nhà máy mới đi vào vận hành Trong năm 2015, một số nhà máy nhiệt điện đốt than bắt đầu tham gia thị trường điện như Nhiệt điện Uông Bí mở rộng, Nhiệt điện Uông Bí
mở rộng 2, Nhiệt điện Hải Phòng 2, Nhiệt điện Quảng Ninh 2 và trong tương lai không xa một số nhà máy nhiệt điện đốt than đang chạy thử nghiệm cũng sẽ tham gia thị trường điện như: Nhiệt điện Duyên Hải, Nhiệt điện Vĩnh Tân
Với bối cảnh đó và các lý do đã nêu trên, việc “Nghiên cứu chiến lược chào giá cho các nhà máy nhiệt điện đốt than tham gia thị trường phát điện cạnh tranh ở Việt Nam” là yêu cầu cấp thiết, đây sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà máy đang và
sẽ tham gia vào thị trường điện Các nhà máy có chiến lược chào giá tốt không những
Trang 10nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà máy mình mà còn góp phần nâng cao hiệu quả vận hành chung của toàn Hệ thống điện
GIỚI HẠN NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài xây dựng phương pháp chào giá cho các nhà máy nhiệt điện đốt than tham gia vào thị trường phát điện cạnh tranh, trên cơ sở chi phí biến đổi của các nhà máy theo thiết kế của thị trường phát điện cạnh tranh Theo dự thảo thiết kế thị trường bán buôn điện cạnh tranh, trong giai đoạn đầu các nhà máy nhiệt điện vẫn chào giá theo chi phí biến đổi của tổ máy Tuy nhiên, thị trường bán buôn điện cạnh tranh hướng tới sẽ chào giá dựa trên chi phí toàn phần của tổ máy để nâng tính cạnh tranh trên thị trường điện Mặc dù vậy, chiến lược chào giá chung của các nhà máy vẫn không có gì thay đổi khi tham gia thị trường bán buôn điện cạnh tranh
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN 1.1 Kinh nghiệm các quốc gia về cải cách thị trường điện
Ngày nay, ở hầu hết các nước châu Âu, Mỹ, Canada, Australia và một số nước
ở châu Mỹ La Tinh, thị trường điện đã phát triển ở mức cao Các nước ở châu Phi và Trung Đông đã chậm trễ trong việc thực hiện cải cách ngành điện Đông Âu và châu
Á đã bắt đầu phát triển thị trường điện trong khoảng chục năm gần đây
1.1.1 Các nước Trung và Nam Mỹ
Một số nước ở Mỹ La Tinh đã tiến hành cổ phần hóa và tự do hóa ngành điện, đỉnh cao là thị trường cạnh tranh đã được thành lập ở các nước như Argentina, Bolivia, Chile và El Salvador Cải cách ngành điện ở Chile và Argentina là sâu rộng nhất Tại Bolivia, Colombia và Peru, thị trường điện đã được cơ cấu lại và mở rộng cạnh tranh Cải cách ngành điện ở Brazil diễn ra chậm và thận trọng hơn các nước trong khu vực Hầu hết các nước trong khu vực đã đi theo mô hình của Chile (Peru, Bolivia và Argentina trong giai đoạn đầu tiên), nhưng Colombia bước đầu đi theo mô hình của Anh và xứ Wales
• Chilê
Năm 1974, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng dầu lửa OPEC làm cho giá cả nhiên liệu ở Chi lê tăng cao, cộng thêm sự quản lý yếu kém của các công ty điện nhà nước dẫn tới tổn thất lớn Chính phủ Chi lê muốn cải tổ lại ngành điện để tăng hiệu quả Chile là nước đầu tiên trên thế giới tiến hành cải cách trong ngành công nghiệp năng lượng Năm 1978, Chilê thành lập Ủy ban Năng lượng Quốc gia CNE (The National Energy Commission) đóng vai trò điều tiết giá, xây dựng chính sách năng lượng, dự báo nhu cầu năng lượng, điều phối kế hoạch tăng trưởng, giám sát hoạt động của hệ thống điện, và thực hiện tính toán chi phí
Năm 1982 với việc ra đời luật điện lực đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong công cuộc cải cách ngành điện ở Chile Luật Điện lực năm 1982 vẫn còn được
áp dụng cho đến tận ngày nay Từ năm 1981, ngành điện ở Chi lê đã bắt đầu được phân tách theo chiều dọc và chiều ngang Các doanh nghiệp nhà nước từng bước
Trang 12được tư nhân hóa Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Chi lê thực sự sâu rộng vào năm 1986 Endesa là một công ty thuộc sở hữu nhà nước, công ty này được thành lập vào năm 1944 hoạt động trong lĩnh vực phát điện, truyền tải điện và phân phối điện trên khắp đất nước đã được phân tách thành 14 công ty con, bao gồm:
6 công ty phát điện, 6 công ty phân phối và hai công ty nhỏ độc lập ở phía Nam hoạt động trong lĩnh vực phát điện và phân phối điện Chilectra là một công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực phân phối điện ở Santiago được chia thành 3 công ty con gồm: 1 công ty phát điện và 2 công ty phân phối điện Chilê đã hình thành hai thị trường điện năng khu vực chính: SIC- bao gồm các khu vực phía Nam và miền Trung
và SING- bao gồm các phần phía Bắc của đất nước
Khách hàng được chia thành 2 dạng là khách hàng tự do và khách hàng ràng buộc Khách hàng tự do là những người có nhu cầu tối đa trên 2 MW Những khách hàng này được tự do ký hợp đồng trực tiếp với các đơn vị phát điện Khách hàng bị ràng buộc không ký hợp đồng trực tiếp với các đơn vị phát điện mà phải mua điện từ các công ty phân phối địa phương Những khách hàng này phải trả phí phân phối cộng với giá nút
Ngày nay, ngành điện Chile bao gồm 31 công ty phát điện , 5 đơn vị truyền tải, và 36 công ty phân phối điện, hầu hết đều thuộc sở hữu tư nhân Kể từ khi Chile
bỏ quy định hạn chế đối với các công ty vốn nước ngoài tham gia thị trường điện, rất nhiều các doanh nghiệp nước ngoài đã gia nhập thị trường điện
• Argentina
Argentina cũng là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới thực hiện cải cách thị trường điện Argentina được coi là một trong những nước thành công nhất trong quá trình cải cách với việc giảm đáng kể tổn thất hệ thống và cải thiện chất lượng cung cấp điện Các cải cách ngành điện Argentina đã được thiết kế dựa trên các bài học kinh nghiệm từ quá trình cổ phần hóa và cải cách ở Chile và Vương quốc
Trang 13năm 1988- 1989, chủ yếu là do các nhà máy nhiệt điện trong hệ thống không được bảo dưỡng định kỳ (50% tổ máy không được bảo dưỡng) Ngay sau cuộc khủng hoảng, chính phủ Argentina ban hành luật điện lực, trong đó bao gồm các quy định sau: phân tách ngành điện theo cả chiều dọc và ngang trong các lĩnh vực truyền tải và phân phối điện; mở cửa tất cả các khâu để cho tư nhân tham gia đầu tư; và tách chức năng quản lý thành đơn vị làm việc độc lập
Ngành điện trong Argentina bắt đầu được tái cơ cấu và cổ phần hóa vào năm
1992, đây là nỗ lực nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng năng lượng đã xảy ra Trong quá trình cải cách, hơn 80% khâu phát điện, 60% trong lĩnh vực phân phối đã được chuyển thành sở hữu tư nhân Nhà nước chỉ quản lý các nhà máy điện hạt nhân và các thủy điện đa mục tiêu Cơ quan điều tiết điện lực (ENRE) được thành lập Hình thành thị trường điện bán buôn (MEM) chi phối tới 93% nhu cầu của toàn hệ thống Một đơn vị quản lý thị trường điện bán buôn (CAMMESA) được thành lập với sự tham gia của tất cả các bên liên quan trên thị trường, ngoại trừ các khách hàng và các nhà máy phát điện nhỏ CAMMESA được giao trách nhiệm điều phối, thiết lập giá bán buôn và quản lý các giao dịch mua bán trên thị trường
Cuộc khủng hoảng kinh tế vĩ mô xảy ra năm 2002 ở nước này đã cho thấy được hiệu quả của quá trình cải cách ngành điện từ những năm 1990 với việc giảm giá bán điện, tình hình đầu tư được cải thiện trong lĩnh vực phát điện Tuy nhiên, trong giai đoạn này chính phủ Argentina đã thực hiện chính sách kiểm soát giá và can thiệp vào thị trường điện làm cho các đơn vị tham gia thị trường điện không thu hồi
đủ chi phí bỏ ra Mặc dù sau khủng hoảng những thành tựu của công cuộc cải cách đã
bị hạn chế bởi các chính sách của chính phủ, tuy nhiên cuộc cải cách điện ở Argentina đã chỉ ra rằng quá trình cải cách toàn diện trong lĩnh vực điện có thể thực hiện có hiệu quả ở một đất nước đang phát triển
• Brazil
Trong những năm 1980, Ngành điện ở Brazil do nhà nước giữ độc quyền Các công ty nhà nước hoạt động không hiệu quả Đến năn 1990, ngành điện có dấu hiệu
Trang 14khủng hoảng, để ngăn ngừa cuộc khủng hoảng năng lượng có thể xảy ra buộc chính phủ phải tiến hành cải tổ lại ngành điện
Năm 1996, dự án tái cơ cấu ngành điện Brazil (RESEB) đánh dấu bước đầu thực hiện các cải cách ngành điện Mục tiêu của cải cách là xây dựng một ngành điện cạnh tranh hơn với việc tạo ra một sân chơi bình đẳng cho phép khối tư nhân tham gia Ngoài ra, các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực điện lực cũng được cổ phần hóa Tuy khâu truyền tải điện không được cổ phần hóa nhưng hầu hết các dự án mở rộng lưới truyền tải được thực hiện bằng nguồn vốn tư nhân Trong quá trình cải cách chính phủ đã thành lập ra Cục Điều tiết điện lực (ANEEL), đây là
cơ quan quản lý độc lập chịu trách nhiệm giám sát ngành điện Dấu ấn quan trọng nhất trong công cuộc cải cách là chính phủ đã ban hành Luật Điện lực năm 1998 Nhờ đó, Brazil đã thành lập ra một đơn vị độc lập điều hành lưới truyền tải điện quốc gia (ONS) và một đơn vị điều hành thị trường bán buôn điện (MAE) Các IPP cũng được thành lập và tham gia vào thị trường điện ở Brazil Tuy nhiên, do thiếu cơ chế quản lý, quy hoạch không đồng bộ, đầu tư kém hiệu quả dẫn tới Brazil đã không ngăn chặn được cuộc khủng hoảng năng lượng diễn ra năm 2001 Chính phủ đã phải phân phối năng lượng từ tháng 6/2001 đến tháng 2/2002 Cuộc khủng hoảng năng lượng năm 2001 đã chứng minh rằng thị trường điện ở Brazil khá yếu Do phụ thuộc quá nhiều vào nguồn thủy điện, nên khi hạn hán xảy ra lượng điện năng thiếu hụt lớn trên thị trường đã gây ra khủng hoảng nghiêm trọng sau năm 2004, Brazil đã thay đổi chính sách về điện, chú trọng tới sự ổn định trong dài hạn Chính phủ đã thành lập một khung pháp lý mới cho ngành điện Trong luật sửa đổi năm 2004, nổi bật nhất là xuất hiện hai cơ chế hợp đồng là hợp đồng bắt buộc (ACR) và hợp đồng tự do (ACL) cho phép các khách hàng lớn được quyền tự do lựa chọn đơn vị cung cấp điện cho mình
• Bolivia
Trang 15dọc dưới sự quản lý của công ty Ende (Empresa Nacional de Electricidad) Năm
1994, Bolivia tiến hành cải cách ngành điện với việc đề xuất cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn Luật Điện lực năm 1994 quy định rõ việc bắt buộc phải cổ phần hóa hệ thống điện với việc phá vỡ liên kết theo chiều dọc giữa khâu phát điện, truyền tải điện, và phân phối điện Với mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả của tất cả các khâu trong hệ thống điện, thúc đẩy cạnh tranh và khuyến khích đầu tư
Kết quả của việc cổ phần hóa ngành điện là Bolivia đã thành lập ra được 3 công ty phát điện: Corani, Guaracachi và Valle Hermoso Các công ty này phân tách
từ công ty Ende Một công ty tư nhân cũng được thành lập quản lý lưới điện truyền tải Quá trình cổ phần hóa ở Bolivia hoàn thành vào năm 1998 Hình thành thị trường bán buôn với cơ chế thanh toán theo hợp đồng và cơ chế thị trường giao ngay
• Peru
Peru cũng thực hiện cải cách ngành điện vào những năm đầu thập niên 1990 Cải cách ngành điện ở Peru là một phần trong công cuộc cải tổ nền kinh tế của nước này Năm 1990, Peru đã tiến hành cổ phần hóa một số công ty trong ngành điện thuộc quyền quản lý của nhà nước Cuộc cải cách này nhằm thu hút vốn đầu tư để mở rộng xây dựng các nguồn cấp điện mới
Công cuộc cải cách ngành điện ở Peru đã đạt được những kết quả ấn tượng
Sử dụng điện đã tăng từ 45% năm 1990 lên 88,8% trong tháng 7 năm 2011, trong khi chất lượng dịch vụ cung cấp điện được cải thiện Đồng thời giá điện cũng phù hợp với mức thu nhập trung bình của người dân khu vực châu Mỹ Latinh Tuy nhiên, một
số thách thức vẫn còn Đứng đầu trong số đó là mức độ tiếp cận điện của người dân trong khu vực nông thôn còn thấp Các tiềm năng về năng lượng chưa được khai thác, như các nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng gió và năng lượng mặt trời, do gặp vấn đề về pháp lý
Công suất phát điện hiện nay được chia đều giữa các nguồn nhiệt và thủy điện Một xu hướng mới của ngành điện trong nước được dựa trên sự thay đổi cho các nhà máy khí đốt tự nhiên, trong đó chủ yếu được cung cấp sản lượng từ mỏ khí Camisea trong rừng Amazon
Trang 161.1.2 Các nước Châu Âu
Theo truyền thống, ngành điện ở Châu Âu cũng được cơ cấu theo ngành dọc Trong khâu truyền tải điện không có sự tham gia của bên thứ ba Đến năm 1996, Ủy ban Châu Âu đã bắt đầu tự do hóa ngành điện thông qua một định hướng phát triển thị trường điện Châu Âu (EC 96/92) Theo đó, thời hạn và mức độ phát triển thị trường được xác định chung cho các nước thành viên EU đã yêu cầu 15 nước trong liên minh mở cửa thị trường bán lẻ hoặc ít ra mở cửa một phần vào năm 2000 Kết quả đến năm 2000, tất cả các nước thành viên EU ngoại trừ Hy Lạp đã mở cửa thị trường bán lẻ của họ Ngoài ra, EU cũng đặt ra các mục tiêu khác đó là giảm độc quyền trong khâu truyền tải, các khách hàng lớn có quyền tự do lựa chọn nhà cung cấp Năm 2003, EU tiếp tục yêu cầu tất cả các nước thành viên phải mở cửa toàn bộ thị trường bán lẻ Yêu cầu các nước thành lập cơ quan quản lý ngành điện độc lập Đến năm 2009, EU tiến hành cải cách lần thứ ba và có hiệu lực vào năm 2011 nhằm
mở rộng hai lần cải cách trước đó Trong lần cải cách này, người tiêu dùng có nhiều quyền lựa chọn nhà cung cấp điện, giá cả công bằng hơn, được tiếp cận với nguồn năng lượng sạch và an toàn
Nhìn chung, cuộc cải cách nhằm thống nhất thị trường điện chung ở Châu Âu, tuy nhiên, nhiều nước trong khối liên minh không mấy mặn mà trong việc tham gia cải cách Ngày nay, có nhiều mô hình thị trường điện song song tồn tại ở khu vực Châu Âu, chúng khác nhau về loại hình sở hữu, mức độ mở, thị trường điện tập trung
và mức độ phát triển thị trường theo chiều dọc Sau đây, là sơ lược quá trình cải cách thị trường điện một số nước tiêu biểu ở Châu Âu:
• Anh
Ở Anh, Điện lực nhà nước (CEGB) được tái cơ cấu vào năm 1990 với mục đích tách riêng hệ thống truyền tải điện và thành lập ra 3 công ty phát điện bao gồm National Power, PowerGen và Nuclear Electric Tất cả các nguồn trừ nguồn điện hạt
Trang 17Hiện nay, thị trường điện ở Anh đã được tự do hóa toàn bộ Người tiêu dùng có quyền tự do lựa chọn các nhà cung cấp dịch vụ Kể từ khi tiến hành cải cách, giá điện
đã giảm khoảng 25%, độ tin cậy cung cấp điện được duy trì ở mức cao
Cải cách thị trường điện ở Anh được đánh giá là ví dụ điển hình để các nước khác học hỏi theo Tuy nhiên, một số học giả tỏ ra nghi ngờ về kết quả của quá trình cải cách Họ lập luận rằng , thị trường bán buôn điện ở Anh bị chi phối bởi các hợp đồng dài hạn bảo mật Cạnh tranh bán lẻ đã khiến cho các khách hàng nhỏ bị thiệt thòi, dẫn tới khó khăn cho việc bảo vệ người tiêu dùng nhỏ lẻ
• Pháp
Ngược lại với Anh, Pháp là một trong những nước tiến hành cải cách thị trường điện khá muộn Ngoài ra, cải cách ở Pháp cũng không tạo ra được sự thay đổi lớn trong cơ cấu ngành điện Quá trình cải cách chỉ thực sự bắt đầu vào năm 2000 khi Pháp đưa ra một đạo luật thực hiện chỉ thị của EC năm 1996 về cải cách thị trường điện ở Châu Âu Việc cải cách bao gồm: xây dựng một cơ quan điều tiết điện lực, quy định mô hình có sự tham gia của bên thứ ba, thiết lập thị trường điện bán buôn
và thị trường bán lẻ Tuy nhiên, Cho đến nay về cơ bản Chính phủ Pháp vẫn duy trì
sự tích hợp theo chiều dọc của ngành điện như truyền thống
• Các nước Bắc Âu
Na Uy là nước đầu tiên ở Bắc Âu tiến hành tự do hóa ngành điện tương tự như
mô hình thị trường điện ở Anh, chỉ khác là không có cổ phần hóa
Cải cách ngành điện theo xu hướng tự do hóa tại các nước Bắc Âu phân ra thành hai cấp Tại cấp quốc gia, mỗi quốc gia tiến hành quá trình tự do hóa riêng của mình, với các cách thức khác nhau Cấp khu vực, quá trình tái lập cơ cấu ngành điện
và tự do hóa tiến hành song song nhằm để thị trường điện Bắc Âu (Nord- Pool) hình thành và phát triển Thị trường chung khu vực Bắc Âu thành lập năm 1996 bởi Na
Uy và Thụy Điển Phần Lan gia nhập Nord- Pool vào năm 1998 và Đan mạch vào năm 1999 Tuy nhiên, giá điện năng trong khu vực vẫn gia tăng do sự gia tăng các khoản thuế và sự ra đời của việc phải đăng ký giấy phép phát khí thải
• Các nước Đông Âu
Trang 18Trước kia, trong nền kinh tế tập trung của các nước xã hội chủ nghĩa thuộc Đông Âu, các công ty điện lực quốc gia ở các nước này đều theo mô hình liên kết ngành dọc Hệ thống điện các nước này khi đó nối với hệ thống điện của Liên Xô cũ
và đã thực hiện mua bán điện liên quốc gia trong khuôn khổ khối Hội đồng Tương trợ kinh tế Sau khi khối xã hội chủ nghĩa sụp đổ tại Đông Âu, rất nhiều nước trong
số này (Hungary, Ba Lan, Cộng hoà Séc, v.v ) đã theo đuổi các chương trinh tư nhân hoá sâu rộng, kể cả ngành điện, tuy nhiên quá trình hình thành thị trường tại các nước này cũng chỉ mới bắt đầu Đây cũng là xu thế chung của Châu Âu Mô hình chủ yếu tại các nước này là mô hình một người mua duy nhất
1.1.3 Các nước thuộc Liên Xô cũ
Ngay sau khi Liên Xô tan rã ngành điện của các quốc gia trong khu vực này vẫn được tích hợp theo chiều dọc Sau đó, mỗi quốc gia theo đuổi các chiến lược cải cách khác nhau bao gồm: việc phá vỡ tích hợp theo chiều dọc, cổ phần hóa và tiến hành tái cơ cấu
• Nga
Ở Nga, công cuộc cải cách đặt mục tiêu thay đổi ý thức hệ tư tưởng hơn là do nhu cầu kinh tế Cải cách nói chung nhằm giảm bớt quyền lực của Đảng Cộng sản Trên thực tế, ngành điện ở Nga đã đạt được nhiều kết quả tốt hơn so với nhiều nước khác và phát triển tương đương với các nước như Anh, Mỹ Công cuộc tái cơ cấu ngành điện ở Nga sẽ được hoàn tất khi công ty độc quyền nhà nước (RAO UES) hoàn thành quá trình tái cơ cấu Lưới điện truyền tải quốc gia vẫn dưới sự quản lý của nhà nước Kết quả của công cuộc cải cách là đã thành lập ra được 6 công ty bán buôn điện, tham gia cạnh tranh trong một thị trường bán buôn cạnh tranh mới
Ngày nay có 7 hệ thống điện khu vực riêng biệt được hình thành ở Nga Trong
đó, công ty RAO UES với 52% cổ phần thuộc sở hữu Chính phủ, kiểm soát hầu hết
hệ thống truyền tải và phân phối điện ở Nga Công ty này kiểm soát tới 96% quá
Trang 19Cải cách điện ở Ukraine bắt đầu vào năm 1996 Các công ty thuộc sở hữu nhà nước tích hợp theo chiều dọc bắt đầu được phân tách và tái cơ cấu lại Thông qua mô hình thị trường điện tập trung với 1 người mua duy nhất Quá trình tái cơ cấu lại các công ty điện thuộc sở hữu nhà nước được thực hiện bắt đầu từ năm 1997, nhưng bị ngừng lại vào năm 1999 do vấn đề tham nhũng
1.1.4 Các nước Bắc Mỹ
Ngành điện ở Mỹ cũng được tích hợp theo chiều dọc Bắt đầu từ cuối năm
1970, nước Mỹ đã bắt đầu thực hiện một số cải cách nhằm thay đổi cấu trúc truyền thống của ngành điện Các cải cách nhằm mang lại sự cạnh tranh trên thị trường bán buôn Sự cạnh tranh giữa các nguồn phát điện độc lập để các khách hàng nhỏ và các nhà phân phối địa phương có thể mua điện được từ các nhà cung cấp khác nhau Kết quả là chi phí bán buôn sẽ thấp hơn do đó giá bán lẻ cũng giảm Đến năm 2000, một nửa số bang ở Mỹ hoặc là đã thực hiện tái cấu trúc ngành điện ở bang mình hoặc là
đã lên kế hoach thực hiện
Trong tháng 5 năm 2000, tại California giá điện bán buôn bắt đầu tăng lên đáng kể, tăng 500% so với năm 1999 Giá bán buôn tăng do: giá khí tự nhiên, nhiên liệu chính sử dụng để tạo ra điện tại California đã tăng lên mức chưa từng thấy Nhu cầu điện tăng vọt vì sự tăng trưởng kinh tế nóng bất thường, trong khi không có nguồn phát điện mới nào được xây mới để phục vụ nhu cầu ngày càng tăng Giá bán buôn tăng dẫn tới giá bán lẻ cũng tăng cao Cuối cùng thị trường điện ở California tuyên bố ngừng giao dịch vào tháng 3 năm 2001 Chính sự sụp đổ của thị trường điện California đã làm ảnh hưởng tới quá trình tái cơ cấu ngành điện ở Mỹ
Tại Canada, cải cách ngành điện bắt đầu ở bang Alberta vào năm 1996, cạnh tranh được đưa vào khâu sản xuất điện, và một thị trường điện bán buôn điện được tạo ra Tuy nhiên, các bang khác không mấy mặn mà trong việc cải cách Nguyên nhân là do thiếu sự liên kết giữa các nhà lãnh đạo ngành điện ở các bang, trong khi Chính phủ tôn trọng quyền tự quyết của các bang
1.1.5 Các nước Châu Úc và Châu Á
• Australia
Trang 20Năm 1990, Australia đã tiến hành một cuộc cải cách sâu rộng trong ngành điện Từ năm 1991 hình thành thị trường bán buôn điện cạnh tranh, tạo ra sự cạnh tranh ở khâu phát và bán lẻ điện Quá trình cải cách khởi đầu diễn ra ở bang Victoria
Cơ cầu ngành điện ở đây ban đầu được tích hợp theo chiều dọc bao gồm các khâu: Phát điện, truyền tải điện, phân phối/ bán lẻ điện Khi tiến hành cải cách, khâu phân phối/ bán lẻ được chia thành 5 công ty hạch toán độc lập Khâu phát điện được chia thành 7 công ty độc lập Đến năm 1997, toàn bộ các công ty này đều được cổ phần hóa Năm 1998, Thị trường bán buôn điện quốc gia được thành lập Sau khi thị trường điện bán buôn quốc gia được thành lập, hệ thống truyền tải điện tách ra và được quản lý, vận hành bởi một công ty cổ phần Việc đưa cạnh tranh và tu nhân hóa vào ngành điện đã làm tăng đáng kể hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tăng hiệu quả sử dụng vốn, giảm số lượng nhân công Quá trình cải cách chủ yếu tác động tới các khách hàng lớn như trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại, dịch vụ, trong khi những hộ gia đình nhỏ, lẻ thì ít chịu ảnh hưởng Hiện nay, ở một số bang như New South Wales, Victoria và Queensland đã tự do hóa trong lĩnh vực bán lẻ, trong khi các bang ở phía tây Australia vẫn duy trì cấu trúc ngành theo chiều dọc truyền thống
• Ấn Độ
Ấn Độ bắt đầu tiến hành cải cách ngành điện vào năm 1991, khi đất nước này đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng về kinh tế, chính trị Các nhà máy điện độc lập (Independent Power Producer - IPP) đã được phép tham gia kinh doanh và được chào bán với giá hấp dẫn Năm 2003, Ấn Độ đã thành lập thị trường điện với
mô hình một người mua buôn duy nhất (single buyer) Xây dựng một khung pháp lý cho việc tách độc lập khâu vận hành hệ thống điện và khâu truyền tải điện Thiết lập thị trường bán buôn và bán lẻ điện Mặc dù, có một khuôn khổ pháp lý cho việc quản
lý ngành công nghiệp điện nhưng quá trình tự do hóa và tư nhân hóa không đạt được như mong đợi Hiện nay, ngành điện ở Ấn Độ vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém Tình
Trang 21Trung Quốc có ngành công nghiệp điện lớn thứ hai trên thế giới và đang đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu Trong hơn 30 năm qua, Trung Quốc đã trải qua hàng loạt các cải cách liên quan tới ngành điện lực Với sự phát triển của ngành kinh tế kể từ năm 1980, nhu cầu điện năng phục vụ phát triển kinh tế,
xã hội tăng lên nhanh chóng, tình trạng thiếu điện ngày càng trở nên nghiêm trọng
Để thu hút thêm vốn đầu tư phục vụ phát triển ngành điện và cải thiện tình trạng thiếu điện trầm trọng, từ năm 1985 Chính phủ đã cho phép các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các nhà đầu tư tư nhân trong nước tham gia đầu tư vào ngành điện
Hiện nay, Ủy ban Kinh tế và Thương mại Quốc gia có nhiệm vụ quản lý ngành điện lực Quá trình cải cách ngành điện ở Trung Quốc tiến hành qua 4 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất, từ năm 1997 đến năm 1998: Giải tán Bộ Điện lực, thành lập Công ty Điện lực quốc gia (SPC), phá bỏ sự độc quyền nhà nước trong ngành điện Kết quả là giá điện tại Trung Quốc đã giảm 20%
Giai đoạn thứ hai, từ 1998 đến 2000: Phát triển thị trường cạnh tranh ở khâu phát điện, hoàn thiện hệ thống quản lý ngành
Giai đoạn thứ ba, từ năm 2001 đến năm 2010: Hoàn thiện quá trình phân tách các khâu: Phát điện, truyền tải điện và phân phối điện
Giai đoạn thứ tư, từ sau năm 2010: Tiến hành mở cửa toàn bộ thị trường, chính thức vận hành thị trường điện cạnh tranh và đạt tiêu chuẩn thế giới để kết nối với các hệ thống điện các quốc gia trong khu vực
• Hàn Quốc
Hàn Quốc bắt đầu chuyển dịch cơ cấu của ngành điện từ độc quyền sang thị trường cạnh tranh từ năm 1998 Trước đó, ngành điện lực được điều phối bởi công ty nhà nước KEPCO theo mô hình độc quyền chiều dọc Cải cách ngành điện ở Hàn Quốc nhằm tạo ra thị trường điện cạnh tranh, cho phép tư nhân tham gia đầu tư vào ngành điện Tái cơ cấu công ty nhà nước KEPCO là bước đầu tiên của công cuộc cải cách Năm 2001, lĩnh vực phát điện của KEPCO đã được chia thành 5 công ty nhiệt điện và 1 công ty điện hạt nhân Tuy nhiên, KEPCO vẫn là đơn vị mua điện duy nhất
Trang 22từ phía các công ty phát điện Vì vậy cạnh tranh chỉ diễn ra ở khâu phát điện Các đơn vị phát điện sẽ chào giá dựa trên chi phí sản xuất thực tế trên một sàn giao dịch chung Giá của các nhà máy được kiểm tra và giám sát bởi Ủy ban Đánh giá chi phí (GCAC), đảm bảo các nhà máy chào giá đúng với chi phí sản xuất thực tế của mình Trên thị trường điện tồn tại 2 loại giá khác nhau là giá biên (SMP) và giá công suất (CP) Giá công suất CP được trả cho các tổ máy sẵn sàng phát điện trên hệ thống Giá SMP được xác định là giá của tổ máy đắt nhất trên hệ thống tại chu kỳ giao dịch thị trường
1.1.6 Các nước Châu Phi
Các cuộc cải cách về thị trường điện ở Châu Phi có phạm vi và quy mô hạn chế Các cuộc cải cách hầu như nhằm mục đích khuyến khích đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào ngành điện Tại Châu Phi, chỉ có một số ít quốc gia quan tâm tới việc cải cách ngành điện lực đó là Nam Phi, Ghana, Cameroon và Nigeria
• Nam Phi
Trước năm 1994, chính sách năng lượng ở Châu Phi chú trọng vào việc đảm bảo cung cấp đủ điện năng cho các khu mỏ, hóa chất và phục vụ ngành nông nghiệp Năm 1995, chính phủ thành lập cơ quan điện lực quốc gia thay thế cho ban kiểm soát điện lực cũ được thành lập từ năm 1987 Sản xuất điện ở Nam Phi được chi phối bởi công ty sở hữu nhà nước Eskom Công ty này quản lý, vận hành lưới điện truyền tải quốc gia và do đó độc quyền cả khâu phát điện và khâu truyền tải điện Đến năm
2002, Công ty Eskom được cổ phần hóa Năm 2006 Luật Điện lực ở Nam Phi được ban hành, thành lập cơ quan Điều tiết quốc gia (NERSA) và theo đó công ty Eskom chịu sự chi phối của NERSA Tuy nhiên, theo đánh giá của một số chuyên gia thì quá trình cải cách thị trường điện ở Nam Phi đạt không mấy hiệu quả Quá trình tư nhân hóa ở Nam Phi không được xem trọng, giá vẫn được tính theo cách truyền thống và quan trọng hơn nhu cầu năng lượng vượt xa so với dự báo Ngày nay Công ty Eskom
Trang 23Trước cải cách, ngành điện ở Ghana hoạt động chủ yếu bởi hai công ty nhà nước Một công ty quản lý tất cả các nguồn phát và truyền tải điện (VRA), và công ty khác quản lý khâu phân phối điện (ECG) Công ty VRA quản lý khá tốt về mặt tài chính và kỹ thuật trong khi công ty ECG bộc lộ sự yếu kém trong quản lý với chất lượng phục vụ kém, thất thoát lớn Năm 1993, xảy ra một cuộc khủng hoảng nguồn
do hạn hán và nhu cầu tiêu thụ năng lượng tăng cao Để tiếp cận với nguồn vốn từ Ngân hàng Thế giới đòi hỏi Chính phủ phải có kế hoạch cải cách toàn diện trong ngành điện Một cơ quan điều tiết độc lập được tạo ra Tuy nhiên, năm 2001 nhà máy sản xuất nhôm nước ngoài tuyên bố phá sản và rút ra khỏi Ghana, đồng nghĩa với việc nước này mất đi khách hàng tiêu thụ điện lớn nhất , khi đó nguồn công suất bị
dư thừa và gây ra lãng phí vốn đầu tư các dự án nguồn điện trước đó
1.2 Một số mô hình thị trường điện cạnh tranh điển hình
Điện năng là một loại hàng hoá đặc biệt Quá trình kinh doanh điện năng bao gồm 3 khâu: Sản xuất - Truyền tải - Phân phối điện Đặc điểm của hệ thống điện là ở bất kỳ thời điểm nào cũng có sự cân bằng giữa công suất phát ra và nhu cầu tiêu thụ điện Khâu truyền tải và phân phối luôn mang tính chất độc quyền tự nhiên và sẽ tiếp tục giữ vai trò độc quyền trong tương lai Bởi vì chi phí đầu tư xây dựng hệ thống lưới điện rất lớn, việc đầu tư xây dựng và vận hành song song hai hệ thống truyền tải
và phân phối điện là không hiệu quả Ngày nay, trên thế giới áp dụng nhiều mô hình thị trường điện khác nhau Về cơ bản có thể chia thành hai loại mô hình là mô hình
có sự tham gia của bên thứ ba (Third Party Access - TPA) và các mô hình thị trường cạnh tranh Các mô hình thị trường cạnh tranh bao gồm: thị trường một người mua, thị trường bán buôn cạnh tranh, thị trường bán lẻ cạnh tranh
1.2.1 Mô hình có sự tham gia của bên thứ ba (TPA- Third Party Access)
Theo mô hình này, Khách hàng tiêu thụ điện sẽ ký hợp đồng mua bán điện song phương với đơn vị phát điện Đơn vị truyền tải có trách nghiệm truyền tải điện năng từ nơi sản xuất tới hộ tiêu thụ cuối cùng và sẽ được hưởng phí truyền tải cho công việc này Mô hình có sự tham gia của bên thứ ba có hai dạng: mô hình có sự tham gia của bên thứ ba có điều tiết (Regulated TPA) và mô hình có sự tham gia của
Trang 24bên thứ ba thỏa thuận (Negotiated TPA) Trong mô hình TPA có điều tiết, cơ quan điều tiết sẽ đưa ra các quy định về đấu nối, tính toán mức phí truyền tải để đảm bảo công bằng cho các bên liên quan Trong mô mình TPA thỏa thuận, các công ty tự thỏa thuận với nhau về điều kiện đấu nối và phí truyền tải
Hình 1.1 Mô hình tham gia của bên thứ ba (TPA)
Mô hình này đã khắc phục được đặc điểm độc quyền tự nhiên của lưới điện truyền tải và phân phối Tạo ra được sự cạnh tranh ở khâu phát điện và khâu phân phối điện Khách hàng lớn được lựa chọn nhà cung cấp điện thông qua hợp đồng
Phát điện
Truyền tải điện
Phân phối điện
Khách hàng IPP
Khách hàng lớn
Trang 251.2.2 Mô hình một người mua
Hình 1.2 Mô hình thị trường một người mua
Trong mô hình này, Khâu phát điện được tách ra thành nhiều công ty phát điện độc lập Các công ty phát điện sẽ cạnh tranh với nhau để bán điện cho một Đơn
vị mua buôn duy nhất (Single Buyer - SB) Đơn vị mua buôn duy nhất là đơn vị mua điện độc quyền từ các công ty phát điện, qua các kênh phân phối/ bán lẻ bán đến khách hàng tiêu thụ điện
1.2.3 Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh
Hình 1.3 Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh
Trang 26Trong mô hình này, ngoài cạnh tranh trong khâu phát điện còn có sự cạnh tranh trong khâu mua buôn điện Các công ty phát điện cạnh tranh bán điện cho các công ty mua buôn khác nhau Ngoài ra, các công ty phân phối/ bán lẻ có thể mua điện trực tiếp từ các công ty phát điện mà không cần qua các công ty mua buôn Các công
ty phát điện bán điện cho các công ty mua bán điện hoặc các công ty phân phối/ bán
lẻ thông qua hợp đồng song phương hoặc giao dịch trên thị trường điện giao ngay, cũng có khi thực hiện song song cả hai hình thức trên Các khách hàng tiêu thụ điện năng lớn so với mức quy định sẽ trở thành khách hàng lớn Các khách hàng lớn được
tự do lựa chọn nhà cung cấp
1.2.4 Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
Hình 1.4 Mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh
Mô hình bán lẻ cạnh tranh là bước phát triển cao nhất, cuối cùng của cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh điện Trong mô hình này, có sự cạnh tranh trong cả
ba khâu: phát điện, mua bán buôn và hoạt động bán lẻ được tách khỏi hoạt động phân phối điện Tất cả khách hàng có quyền tự do lựa chọn nhà cung cấp
Trang 271.3 Tổng quan về phát triển thị trường điện ở Việt Nam
Ngày 21/12/2014 vừa qua, ngành Điện lực Việt Nam kỷ niệm tròn 60 năm ngày truyền thống của ngành Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của ngành Điện lực Việt Nam những năm gần đây có một số mốc đáng chú ý sau:
Ngày 1/1/1995, Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) chính thức ra mắt, EVN điều hành toàn bộ công việc của ngành điện, bao gồm: Phát điện, truyền tải, phân phối, đầu tư xây dựng trên cơ sở các Tổng sơ đồ phát triển điện đã được phê duyệt Sự ra đời của EVN đánh dấu bước ngoặt trong quá trình đổi mới, chuyển sang
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Ngày 3/12/2014, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Điện lực và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2005 Sự ra đời của Luật Điện Lực đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động điện lực, nâng cao tính minh bạch, công bằng cho các bên tham gia hoạt động điện lực, góp phần nâng cao năng lực cung ứng điện năng cho nền kinh tế đất nước Ngày 19/10/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định thành lập Cục Điều tiết Điện lực (ERAV) thuộc Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) Cục Điều tiết Điện lực có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện chức năng điều tiết hoạt động điện lực và thị trường điện lực, nhằm góp phần cung cấp điện an toàn, ổn định, chất lượng, sử dụng điện tiết kiệm, có hiệu quả và bảo đảm tính công bằng, minh bạch, đúng quy định của pháp luật Ngày 26/01/2006, Thủ tướng Chính Phủ ký Quyết định phê duyệt lộ trình, các điều kiện hình thành và phát triển các cấp độ thị trường điện lực tại Việt Nam Để thực hiện mục tiêu từng bước phát triển thị trường điện lực cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngày 22/6/2006, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Điện Lực Việt Nam Ngày 17/12/2006, Tập đoàn Điện lực Việt Nam chính thức ra mắt, đánh dấu một bước ngoặt đưa ngành Điện trở thành một tập đoàn kinh tế lớn, kinh doanh
đa ngành nghề, đa sở hữu, có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại, chuyên môn hóa cao và hội nhập quốc tế có hiệu quả Ngày 31/12/2007, Hội đồng Quản trị Tập đoàn Điện Lực Việt Nam đã ban hành quyết định thành lập Công ty Mua bán điện (EPTC), với nhiệm vụ chính: Lập kế hoạch, đàm phán, thực hiện các hợp đồng mua bán điện;
Trang 28thỏa thuận, ký kết thiết kế kỹ thuật, quản lý hệ thống đo đếm điện năng phục vụ mua bán điện; tham gia vận hành thị trường điện nội bộ và cạnh tranh
Ngành điện Việt Nam chịu sự quản lý chặt chẽ của Chính phủ Bộ Công Thương hỗ trợ Chính phủ trong việc lên kế hoạch phát triển ngành, quản lý thị trường, các vấn đề đầu tư xây dựng các nhà máy điện Tổng cục Năng lượng (DGE)
và Cục Điều tiết Điện lưc (ERAV) giúp Bộ lập kế hoạch và quản lý chính sách, giám sát hoạt động của thị trường điện, quy hoạch điện, giá bán và cấp các giấy phép EVN
là Tập đoàn nhà nước và báo cáo trực tiếp với Chính phủ EVN giữ vai trò là nhà cung cấp chính trong sản xuất điện, là đơn vị độc quyền mua buôn, truyền tải và phân phối điện
1.3.1 Lộ trình phát triển thị trường điện tại Việt Nam
Nhu cầu sử dụng điện năng ở Việt Nam tăng lên nhanh chóng Trong năm
2000, công suất lắp đặt khoẳng 6.450 MW và tổng sản lượng khoảng 26,5 tỷ kWh/năm Đến năm 2014 tổng công suất lắp đặt khoảng 34.000 MW (gấp hơn 5 lần
so với năm 2000), sản lượg đạt 160 tỷ kWh/năm (tăng gấp 6 lần) Ngành Điện Việt Nam phát triển theo Quy hoạch phát triển điện quốc gia (Tổng sơ đồ VII), nhu cầu điện của Việt Nam tiếp tục tăng từ 14-16%/năm trong thời kỳ 2011- 2015 và sau đó giảm dần xuống 11.15%/năm trong thời kỳ 2016-2020 và 7.4-8.4%/năm cho giai đoạn 2021-2030
Theo Luật Điện lực năm 2004 và được cụ thể hóa trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì thị trường điện Việt Nam sẽ hình thành và phát triển theo 3 cấp độ:
- Thị trường phát điện cạnh tranh (giai đoạn 2005-2015)
- Thị trường bán buôn cạnh tranh (giai đoạn 2015-2022)
- Thị trường bán lẻ cạnh tranh (giai đoạn sau năm 2022)
Trang 29cơ hội lựa chọn đơn vị bán điện cho mình Các đơn vị phát điện sẽ cạnh tranh bán điện cho một đơn vị mua buôn duy nhất (Công ty mua bán điện trực thuộc EVN ) trên thị trường giao ngay và qua hợp đồng mua bán điện dài hạn Cục Điều tiết Điện lực quy định hàng năm tỷ lệ sản lượng điện năng mua bán qua hợp đồng và điện năng giao dịch trên thị trường giao ngay
Thị trường bán buôn điện cạnh tranh: Hình thành các đơn vị mua bán buôn mới để tăng cường cạnh tranh trong khâu mua bán điện Khách hàng lớn và các công
ty phân phối được quyền mua điện trực tiếp từ các đơn vị phát điện thông qua thị trường hoặc từ các đơn vị bán buôn Các đơn vị bán buôn điện cạnh tranh mua điện
từ các đơn vị phát điện và cạnh tranh bán điện cho các đơn vị phân phối và khách hàng lớn Chưa có cạnh tranh trong khâu bán lẻ điện, khách hàng sử dụng nhỏ chưa
có quyền lựa chọn đơn vị cung cấp điện
Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh: Sự cạnh tranh diễn ra ở cả 3 khâu: phát điện, bán buôn và bán lẻ điện Khách hàng trên cả nước được lựa chọn đơn vị bán điện cho mình (đơn vị bán lẻ điện) hoặc mua điện trực tiếp từ thị trường Các đơn vị bán lẻ điện cũng cạnh tranh mua điện từ các đơn vị bán buôn, các đơn vị phát điện hoặc từ thị trường để bán lẻ cho khách hàng sử dụng điện
Hình 1.5 Các giai đoạn phát triển thị trường điện ở Việt Nam
1.3.2 Thị trường phát điện cạnh tranh tại Việt Nam
Thị trường phát điện cạnh tranh (CGM) là thị trường điều độ tập trung chào
giá ngày tới theo chi phí Tất cả các nhà máy, ngoại trừ các nhà máy có công suất đặt
Trang 30dưới 30MW đều phải tham gia thị trường Vào trước ngày giao dịch, các bản chào điện năng của tất cả các nhà máy tham gia cho từng 24 chu kỳ giao dịch hàng giờ của ngày giao dịch sẽ phải nộp cho đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện (SMO) Thông qua trình tự vận hành ngày tới, SMO sẽ chuẩn bị lịch huy động ngày tới dự kiến bằng phương pháp tối ưu chi phí có ràng buộc và giá thị trường điện năng tham khảo bằng cách tối ưu chi phí không có ràng buộc Vào ngày giao dịch, lịch huy động giờ tới sẽ được lập cũng bằng cách sử dụng phương pháp tối ưu chi
phí có ràng buộc làm cơ sở phục vụ điều độ thời gian thực
Trong thị trường phát điện cạnh tranh, các đơn vị phát điện sẽ được quyền chủ động chào bán điện trên thị trường, việc điều độ các nhà máy điện sẽ hoàn toàn căn
cứ trên bản chào giá của nhà máy theo nguyên tắc huy động các mức công suất của các nhà máy có giá chào từ thấp đến cao cho đến khi đáp ứng đủ điện của cả hệ thống Thanh toán tiền mua điện cho các nhà máy điện sẽ được thực hiện theo hai cơ chế: Khoảng 95% sản lượng điện năng được thanh toán theo hợp đồng mua bán điện giữa các nhà máy điện với Công ty Mua bán điện, khoảng 5% sản lượng còn lại sẽ thanh toán theo giá thị trường từng giờ Tỷ lệ sản lượng điện năng thanh toán theo hợp đồng sẽ được xem xét, điều chỉnh hằng năm trên cơ sở đánh giá hiệu quả vận hành của thị trường và nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường phát điện
Khi vận hành theo thị trường phát điện cạnh tranh, cơ chế giá điện được tách thành 4 khâu: Giá phát điện, giá truyền tải điện, giá phân phối điện, chi phí điều hành – quản lý và dịch vụ phụ trợ hệ thống điện Cục Điều tiết điện lực (ERAV) xây dựng giá điện, thực hiện điều tiết và giám sát hoạt động của thị trường phát điện cạnh tranh, điều chỉnh các cơ chế để đảm bảo thị trường hoạt động minh bạch và công bằng Hàng năm, giá bán điện bình quân được xây dựng trên cơ sở đảm bảo thu hồi chi phí cho sản xuất, kinh doanh điện tương ứng với 4 khâu trên
Trang 31CHƯƠNG 2 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG PHÁT ĐIỆN CẠNH TRANH
2.1 Mô hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của EVN trước đây
Mô hình sản xuất và kinh doanh của EVN trước đây là mô hình tích hợp
ngành dọc cả 3 khâu: phát điện, truyền tải điện, phân phối và bán lẻ điện Cả 3 khâu này chủ yếu do EVN quản lý, chỉ có một phần nhỏ thuộc kinh doanh điện nông thôn, kinh doanh điện trong một số khu công nghiệp và một số nhà máy điện BOT, IPP là
do các doanh nghiệp ngoài EVN quản lý Về sở hữu, toàn bộ tài sản của EVN thuộc
sở hữu của Nhà nước
Hình 2.1 Cấu trúc tích hợp dọc của ngành điện Việt Nam
Tổ chức của EVN gồm các khối chức năng và đơn vị chính sau đây:
• Phát điện: EVN quản lý ba Tổng công ty Phát điện (Genco1, Genco2, Genco3), quản lý các Nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu ( Thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Sơn La…) chiếm 64% tổng công suất đặt Còn lại, 36% công suất của các đơn vị phát điện ngoài EVN
• Truyền tải điện: Hệ thống truyền tải điện bao gồm các đường dây 500 kV,
220 kV và một phần các đường dây 110 kV được quản lý và vận hành bởi Tổng công
ty truyền tải điện quốc gia (NPT), trực thuộc EVN NPT bao gồm các công ty truyền tải điện khu vực (PT 1,2,3,4) Các công ty truyền tải này quản lý và vận hành lưới điện ở các khu vực từ Bắc vào Nam trên toàn quốc
Phát điện (EVN)
Truyền tải các nguồn điện ngoài
Phân phối và bán lẻ điện
Các nguồn điện ngoài EVN
Trang 32• Phân phối điện: EVN quản lý toàn bộ khâu phân phối điện qua 5 tổng công
ty Điện lực: miền Bắc, miền Trung, Miền Nam, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh
• Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia được bổ sung thêm chức năng điều hành thị trường, là đơn vị hạch toán phụ thuộc
• Công ty Mua bán điện (EPTC - Electric Power Trade Company): Bắt đầu hoạt động từ tháng 1 năm 2008 dưới hình thức công ty hạch toán phụ thuộc, đại diện cho EVN đàm phán mua điện từ các nhà máy điện lớn để bán lại cho các Tổng Công
ty Điện lực
• Khối các đơn vị tư vấn, trường học: gồm 4 Công ty cổ phần tư vấn xây dựng điện 1, 2, 3, 4 có nhiệm vụ chính là tư vấn xây dựng các công trình nguồn và lưới điện Trường Đại học Điện lực và 2 trường Cao đẳng Điện lực Miền Trung và Miền Nam giữ vai trò đào tạo nguồn nhân lực cho ngành điện
2.2 Mô hình Thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam (VCGM)
Thị trường VCGM được thiết kế theo mô hình Thị trường điều độ tập trung chào giá theo chi phí (Mandatory Cost-Based Pool)
- Điều độ tập trung: Tất cả các nhà máy điện trên hệ thống bắt buộc phải tham gia thị trường điện và được điều độ vận hành tập trung
- Chào giá theo chi phí: các đơn vị phát điện chào giá theo chi phí biến đổi và đươc lập lịch huy động căn cứ theo giá chào
Đơn vị mua buôn duy nhất mua toàn bộ sản lượng điện năng của các đơn vị phát điện
Điện năng mua bán được thanh toán theo giá hợp đồng và giá thị trường giao ngay của từng chu kỳ giao dịch
Tỷ lệ giữa sản lượng điện năng thanh toán theo giá hợp đồng và giá thị trường giao ngay: khoảng 95% cho năm đầu vận hành VCGM, giảm dần cho các năm tiếp
Trang 33Hình 2.2 Mô hình thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam
Điện năng: điện năng đươc sản xuất ra từ các nhà máy điện thuộc các Genco, các nhà máy thủy điện đa mục tiêu (PĐMT) và các nhà máy khác (IPP), qua hệ thống truyền tải điện và lưới điện phân phối cung cấp điện cho các hộ tiêu thụ
Tiền điện: Các đơn vị phát điện bán điện cho đơn vị mua buôn duy nhất thông qua hợp đồng PPA và bán điện trên thị trường giao ngay Công ty mua buôn duy nhất nhận tiền từ khách hàng thông qua hệ thống phân phối bán lẻ Đồng thời, Công ty này sẽ phải trả phí truyền tải cho đơn vị truyền tải, trả phí điều độ và phí vận hành thị trường cho đơn vị điều độ hệ thống điện quốc gia
Điều hành: Cơ quan điều tiết điện lưc (ERAV) sẽ đóng vai trò kiểm tra và giám sát tất cả các đơn vị tham gia thị trường Đơn vị điều độ (SO/MO) điều hành vận hành hệ thống và thị trường điện
2.3 Các thành phần tham gia thị trường điện
Đơn vị mua buôn điện duy nhất (SB) và tất cả các đơn vị phát điện sở hữu các nhà máy điện có công suất từ 30MW trở lên trong và ngoài EVN nối trực tiếp vào
Trang 34máy điện đã ký hợp đồng mua bán điện dài hạn với EVN trước ngày hình thành thị trường điện Cơ quan vận hành hệ thống và thị trường điện (SMO) là nhà cung cấp dịch vụ vận hành thị trường điện, có trách nhiệm lập lịch huy động và điều độ hệ thống điện và các dịch vụ phụ trợ Các đơn vị phát điện sẽ tham gia trực tiếp vào quá trình giao dịch bằng cách chào bán điện năng trên thị trường giao ngay Trong khi đó, các nhà máy điện được đầu tư theo hình thức Xây dựng- Kinh doanh- Chuyển giao (nhà máy điện BOT) thông qua hợp đồng giữa nhà đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thủy điện chiến lược đa mục tiêu (SMHP) không tham gia trực tiếp vào CGM SB nộp các bản chào của các nhà máy BOT và SMO công bố sản lượng từng giờ của SMHP
2.3.1 Đơn vị mua buôn duy nhất
Đơn vị mua buôn duy nhất hiện tại là công ty mua bán điện (EPTC), được sự
ủy thác của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) mua điện trực tiếp từ các nhà máy điện theo hợp đồng có thời hạn và qua thị trường giao ngay, ký kết các hợp đồng PPA, các hợp đồng dịch vụ và bán lại cho các công ty điện lực, dự báo phụ tải, thanh toán và giám sát các hoạt động của thị trường Cụ thể:
• Phối hợp với A0 trong vận hành TTĐ
EPTC cung cấp các số liệu tính toán phục vụ lập kế hoạch vận hành năm tới, phân loại tổ máy, xác định giới hạn giá chào các tổ máy nhiệt điện, lựa chọn nhà máy
Trang 35- EPTC, các đơn vị phát điện kiểm tra bảng kê thanh toán thị trường điện sơ
2.3.2 Tổng công ty phát điện (Genco)
Bộ Công Thương đã quyết định thành lập các Tổng Công ty phát diện hoạt động theo hình thức Công ty mẹ - Công ty con, trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại các công ty TNHH MTV, các Công
ty phát điện hạch toán phụ thuộc, các Ban quản lý dự án nguồn điện và tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại một số Công ty phát điện thuộc EVN đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
Tổng công ty phát điện 1 (EVN Genco 1) được thành lập trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại Công ty TNHH MTV Nhiệt điện Uông bí và 14 đơn vị thành viên bao gồm: 9 đơn vị hạch toán phụ thuộc (các công ty thủy điện Đại Ninh, Bản Vẽ, Sông Tranh, Đồng Nai và các Ban quản lý dự án Thủy điện 2, Thủy điện 3, Thủy điện 6, Nhiệt điện 2, Nhiệt điện 3); 1 công ty con do công ty mẹ nắm giữ trên 50% vốn điều
lệ tại thời điểm thành lập (Công ty CP Thủy điện Đa Nhim – Hàm Thuận – Đa Mi); 4 công ty liên kết do công ty mẹ nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ tại thời điểm thành lập (Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh, Công ty cổ phần Phát triển điện lực Việt Nam, Công ty cổ phần EVN quốc tế, Công ty cổ phần Thủy điện miền Trung) Tổng công ty phát điện 2 (EVN Genco 2) được thành lập trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiệt điện Cần thơ và 12 đơn
vị thành viên gồm: 5 đơn vị hạch toán phụ thuộc (Công ty thủy điện Quảng Trị, An Khê KaNak, các Ban quản lý dự án Thủy điện 7, Sông Bung 2, Sông Bung 4); 2 công
ty con do công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ tại thời điểm thành lập (Công ty TNHH MTV Nhiệt điện Thủ Đức, Công ty TNHH MTV Thủy điện Trung Sơn); 5 công ty con do công ty mẹ nắm giữ trên 50% vốn điều lệ tại thời điểm thành lập
Trang 36(Thác Mơ, Hải Phòng, Phả Lại, Sông Ba Hạ, A Vương) Hiện Genco 2 đang quản lý
8 dự án nguồn
Tổng công ty phát điện 3 (EVN Genco 3) được thành lập trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại công ty TNHH MTV Nhiệt điện Phú Mỹ và 11 đơn vị thành viên gồm: 4 đơn vị hạch toán phụ thuộc (Công ty Thủy điện Buôn Kuôp, các Ban quản lý dự án Thủy điện 1, Nhiệt điện 1, Nhiệt điện Vĩnh Tân); 2 công ty con do công ty mẹ nắm giữ trên 50% vốn điều lệ tại thời điểm thành lập (Công ty cổ phần Nhiệt điện Bà Rịa
và Công ty cổ phần Nhiệt điện Ninh Bình); 5 công ty liên kết do công ty mẹ nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ tại thời điểm thành lập (Thủy điện Thác Bà, Thủy điện Vĩnh Sơn – Sông Hinh, Công ty CP Đầu tư và phát triển điện Sesan 3, Công ty CP điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2, Công ty CP Điện Việt Lào) Hiện tại, Genco 3 đang quản lý 8
dự án nguồn
Cũng theo các quyết định trên, công ty mẹ của các Genco 1,2,3 là công ty TNHH một thành viên, do EVN sở hữu 100% vốn điều lệ, hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con, trực thuộc EVN
Trong CGM, các Genco thay các đơn vị thành viên là các nhà máy điện trực thuộc đàm phán hợp đồng mua bán điện với EPTC, ủy quyền cho các nhà máy điện thành viên tham gia chào giá cạnh tranh trên thị trường điện giao ngay, hoặc đại diện chào giá chung cho toàn bộ các nhà máy này khi tham gia vào thị trường điện
2.3.3 Nhà máy điện BOT
Nhà máy điện BOT là các nhà sản xuất điện độc lập xây dựng và vận hành theo các điều khoản của hợp đồng mua bán điện BOT (BOT PPA) Sự ra đời của CGM sẽ không có ảnh hưởng tài chính đối với các BOT Các BOT không cần phải giao dịch trong CGM, và SB sẽ chào sản lượng phát cho BOT
2.3.4 Các nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu (SMHP)
SMHP do nhà nước sở hữu, các nhà máy này sẽ tham gia các hợp đồng đặc
Trang 372.3.5 Các đơn vị nhập khẩu (NK)
Có ba kiểu nhập khẩu điện từ các nước láng giềng:
• Nhập khẩu điện từ một khu vực biệt lập không nối với vào lưới truyền tải Kiểu nhập khẩu này sẽ không bị chi phối bởi quy định thị trường (Market Rules)
• Nhập khẩu qua lưới truyền tải mà toàn bộ sản lượng nhập khẩu được ký hợp đồng Kiểu nhập khẩu này được thực hiện bởi các đơn vị nhập khẩu tham gia giao dịch gián tiếp
• Nhập khẩu qua lưới truyền tải mà lượng điện nhập khẩu không được ký hợp đồng toàn bộ với một phần sản lượng điện sẽ được bán thông qua thị trường giao ngay Kiểu nhập khẩu này được thực hiện bởi đơn vị tham gia giao dịch trực tiếp Các đơn vị nhập khẩu và các đơn vị tham gia giao dịch trực tiếp mà nhập khẩu điện cần phải trình sản lượng điện nhập khẩu từng giờ đã được ký cho SMO để đưa vào quá trình lập lịch huy động Hơn nữa, các đơn vị này được yêu cầu phải bán tất cả lượng điện nhập khẩu cho SB
2.3.6 Các đơn vị xuất khẩu (XK)
Các đơn vị xuất khẩu là những đơn vị bán điện cho các nước láng giềng, họ là những thành viên thị trường gián tiếp Các đơn vị XK phải nộp sản lượng điện xuất khẩu hàng giờ đã ký cho SMO để tính vào quá trình lập lịch huy động
2.3.7 Các công ty điện lực (PC)
Các PC vận hành lưới điện phân phối và cung cấp điện đến các khách hàng nối lưới của họ Các công ty điện lực sẽ mua điện từ SB và bán cho các khách hàng của mình trên cơ sở biểu giá điện quy định Mặc dù không tham gia trực tiếp vào thị trường, nhưng các PC vẫn có trách nhiệm hỗ trợ ERAV trong xác định giá phân phối
để xác định các mức phí mà họ phải trả cho SB và trả cho lượng điện mua từ SB với giá phân phối điện hợp đồng theo quy định Các thành viên giao dịch trực tiếp có thể nằm trong lưới phân phối được vận hành bởi các PC; các PC không phải là nhà cung cấp dịch vụ cho CGM Đây là trách nhiệm của các nhà máy có công suất lớn nằm trong lưới phân phối phải tính đến các tổn thất đường dây và các nghẽn mạch với các lưới phân phối của họ
Trang 382.3.8 Công ty truyền tải điện
Bảo đảm lưới điện và các trang thiết bị truyền tải vận hành an toàn, ổn định, tin cậy Bảo đảm cung cấp dịch vụ truyền tải và các dịch vụ phụ trợ cho các bên liên quan, trừ trường hợp lưới điện bị quá tải theo xác nhận của Cục Điều tiết Điện lực Tuân thủ phương thức vận hành, lệnh chỉ huy, điều khiển của Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia
- Xây dựng, trình duyệt phí truyền tải
- Xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển lưới điện truyền tải và thực hiện đầu tư phát triển lưới điện truyền tải đáp ứng nhu cầu truyền tải điện theo quy hoạch phát triển điện lực
2.4 Các cơ quan quản lý vận hành và giám sát thị trường điện
2.4.1 Cơ quan vận hành hệ thống (SO) và vận hành thị trường (MO)
Chức năng về vận hành hệ thống và vận hành thị trường hiện tại trực thuộc trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia (A0) Tuy nhiên có thể có một số phương
án về tổ chức khâu này như sau:
- Vận hành hệ thống và Vận hành thị trường nằm chung trong 1 đơn vị thuộc EVN như hiện tại
- Vận hành hệ thống thuộc công ty truyền tải độc lập, Vận hành thị trường thuộc EVN
- Vận hành hệ thống và Vận hành thị trường chung trong 1 đơn vị và tách ra độc lập với EVN, trực thuộc Cục Điều tiết Điện lực
Nhìn chung cả 3 phương án đều không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của thị trường điện Hai đơn vị này có quan hệ mật thiết với nhau thường xuyên nên về vị trí địa lý có thể bố trí gần nhau
• Chức năng chính của SO bao gồm:
- Lập kế hoạch vận hành hệ thống điện ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Trang 39- Thực hiện thao tác và xử lý sự cố trên hệ thống điện
• Chức năng chính của MO
Thị trường phát điện cạnh tranh sẽ gồm có cả mua bán qua hợp đồng dài hạn
và qua giao dịch ngắn han Như vậy cần phải có đơn vị điều hành giao dịch thị trường (MO) để thực hiện quản lý các giao dịch trên thị trường Đơn vị sẽ hoạt động tuân thủ theo Qui định thị trường TT Điều độ HTĐ Quốc gia hiện tại có thể sẽ đồng thời đảm nhiệm chức năng MO MO có các chức năng chính như sau:
- Điều hành và quản lý hoạt động giao dịch mua bán điện giao ngay Quản lý việc thực hiện mua bán công suất, điện năng trong các hợp đồng có thời hạn và các hợp đồng cung cấp dịch vụ phụ trợ trong thị trường điện lực;
- Lập kế hoạch huy động công suất, điện năng của các nhà máy điện trên cơ sở công suất, điện năng trong các hợp đồng có thời hạn, đăng ký mua bán điện giao ngay của các đơn vị tham gia mua bán điện trên thị trường và các ràng buộc kỹ thuật trong hệ thống điện để giao cho Đơn vị điều độ hệ thống điện quốc gia và các đối tượng tham gia thị trường điện thực hiện;
- Xác định nhu cầu sử dụng các dịch vụ truyền tải điện, phân phối điện, các dịch vụ phụ trợ để ký hợp đồng với các Đơn vị truyền tải điện, phân phối điện, các đơn vị cung cấp dịch vụ phụ trợ;
- Tính toán giá điện tức thời, lập hóa đơn thanh toán đối với lượng công suất, điện năng mua bán giao ngay và các phí sử dụng dịch vụ phụ trợ
Trong thị trường phát điện cạnh tranh một người mua các chức năng chính của
Trang 40- Cân đối các yêu cầu mua điện trong các thời kỳ ngắn hạn chuyển cho MO thực hiện tổ chức mua bán giao ngay
2.4.2 Cơ quan điều tiết điện lực
• Sự cần thiết của hoạt động điều tiết điện lực
Khi thực hiện cải cách ngành điện theo hướng mở ra thị trường cạnh tranh cần phải có Cơ quan điều tiết điện lực nhằm phân tách rõ các chức năng hoạch định chính sách và chức năng giám sát và tổ chức thực hiện chính sách Điều tiết được định nghĩa là việc thiết lập và đảm bảo hiệu lực thi hành các luật lệ nhằm thúc đẩy hiệu quả và tính tối ưu vận hành của các thị trường Việc thành lập cơ quan điều tiết độc lập là một bước quan trọng cơ bản đầu tiên trong chương trình cải tổ ngành điện chuẩn bị phát triển thị trường điện cạnh tranh Để đảm bảo thành công của việc đưa cạnh tranh vào ngành điện, cần thiết phải có một thể chế điều tiết rõ ràng, minh bạch,
có một cơ quan điều tiết độc lập được trao đầy đủ quyền lực để thực hiện các chức năng giám sát thực hiện
Mục tiêu của Chính phủ trong giai đoạn trước mắt là đẩy mạnh đầu tư vào nguồn điện mới để đảm bảo đủ điện cho phát triển kinh tế Trong khi ngân sách nhà nước không đủ cho việc đầu tư nguồn thì việc thu hút đầu tư tư nhân là rất quan trọng Tuy nhiên, khu vực tư nhân sẽ chỉ đầu tư nếu có các điều kiện hấp dẫn Mong muốn thu hút đầu tư cũng phải được kiểm soát nhằm đảm bảo các khoản lợi nhuận từ vốn tư nhân không quá lớn, tránh đẩy giá điện lên cao, nên đầu tư tư nhân cũng phải
có cam kết chắc chắn và đáng tin cậy Vì vậy, vai trò của điều tiết để đảm bảo sự tin cậy cho thu hút đầu tư là rất quan trọng
• Vị trí của Cục Điều tiết Điện lực
Cơ quan điều tiết cần phải độc lập về quyền lợi với các bên tham gia thị trường Xu hướng chung trên thế giới hiện nay có 3 hình thức chính về tổ chức vị trí
cơ quan điều tiết: cơ quan điều tiết độc lập, cơ quan điều tiết thuộc bộ và bộ quản lý