Đề tài tốt nghiệp “Đánh giá tiềm năng năng lượng gió để phát điện tại các tỉnh duyên hải miền Nam Việt Nam” được nghiên cứu với mục đích góp phần vào chiến lược phát triển năng lượng c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
MIỀN NAM VIỆT NAM
LÊ TUẤN ANH Người hướng dẫn Luận văn: NGUYỄN LÂN TRÁNG
Trang 2lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i
C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ ®−îc nªu trong luËn v¨n nµy lµ trung thùc vµ ch−a tõng
®−îc c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nghiªn cøu khoa häc nµo kh¸c
Hµ Néi, th¸ng 04 n¨m 2010 T¸c gi¶ luËn v¨n
Lª TuÊn Anh
Trang 3Lời nói đầu
Trong khoảng hai thập kỷ gần đây, tiêu thụ năng lượng thế giới đã và
đang tăng với tốc độ trung bình khoảng 2% năm Việc sử dụng các dạng năng lượng hoá thạch như than, dầu và khí tự nhiên chiếm một tỷ lệ áp đảo (khoảng gần 80%) tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp của phần lớn các quốc gia Trong tương lai, xu thế tăng tiêu thụ năng lượng hoá thạch có thể được coi là không bền vững, bởi nguồn cung cấp là có hạn, giá nhiên liệu gia tăng và các hậu quả tác động đến môi trường như sự nóng lên của trái đất, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và hiện tượng mưa axít…
Trong bối cảnh đó, vai trò và tầm quan trọng của năng lượng tái tạo trong tương lai ngày càng được khẳng định, nhiều nước trên thế giới đã và
đang đưa ra các biện pháp chính sách đồng bộ nhằm nghiên cứu, thúc đẩy phát triển bền vững các nguồn cung cấp năng lượng tái tạo, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, đảm bạo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề an ninh năng lượng và phát triển bền vững, Việt Nam đã có các quan điểm khuyến khích sử dụng năng lượng hiệu quả và phát triển nguồn năng lượng tái tạo Do vậy, việc điều tra,
đánh giá tiềm năng và khả năng đóng góp của các nguồn năng lượng mới và tái tạo là vấn đề cấp bách và cần thiết
Đề tài tốt nghiệp “Đánh giá tiềm năng năng lượng gió để phát điện tại
các tỉnh duyên hải miền Nam Việt Nam” được nghiên cứu với mục đích góp
phần vào chiến lược phát triển năng lượng chung của vùng và cả nước Bằng việc ứng dụng phần mềm Phân tích dự án năng lượng sạch RETScreen đề tài
đã khẳng định tính khả thi cho dự án điện gió quy mô công nghiệp tại một số
vị trí có tiềm năng năng lượng gió tại các tỉnh duyên hải miền Nam Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung Đề tài còn chỉ ra tính ưu việt của nhà máy
điện gió so với nhà máy nhiệt điện chạy than cùng công suất về các mặt kinh
tế, kỹ thuật và xã hội tại một số vị trí có tiềm năng năng lượng gió, nhằm đa dạng hoá các nguồn cung cấp cho hệ thống điện Việt Nam
Trang 4Đây là một lĩnh vực tương đối mới ở Việt Nam do vậy các tài liệu còn hạn chế và các số liệu cụ thể chưa thật sự đầy đủ, có sự sai khác số liệu từ các nguồn khác nhau Vì vậy bản luận văn của tôi không tránh khỏi những thiếu xót nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thày cô, bạn
bè và đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn chỉnh và có ý nghĩa hơn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp
đỡ tận tình của PGS.TS.Nguyễn Lân Tráng - Giảng viên bộ môn Hệ thống điện Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội, cũng như các cán bộ ở Viện Năng lượng, Công ty Tư vấn Xây dựng điện 3, Viện Thủy điện và Năng lượng tái tạo… cùng các bạn bè và đồng nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5Danh mục bảng biểu
Bảng 1-3a: Cơ cấu điện sản xuất ở Việt Nam
Bảng 1-3b: Cơ cấu tiêu thụ điện ở Việt Nam
Bảng 1-3c: Cơ cấu công suất lắp đặt và nhu cầu (MW) tại Việt Nam
Bảng 1-4: Công suất điện gió được lắp đặt trên thế giới 2006-2007
Bảng 1-5: Hiện trạng công suất điện gió được lắp đặt trên thế giới tính đến
31/12/2007
Bảng 1-6: Mười nhà sản xuất tuabin gió hàng đầu thế giới 2007
Bảng 1-7: Một số công nghệ tuabin gió lớn nhất hiện nay
Bảng 1-8: Một số loại tuabin gió 1,5-2MW của 4 nhà sản xuất hàng đầu Bảng 1-9: Tiềm năng năng lượng gió ở Việt Nam (độ cao 65m)
Bảng 2-1: Tiềm năng về năng lượng gió của Đông Nam á (ở độ cao 65m) Bảng 2-2: Các tiêu chuẩn xếp hạng vùng
Bảng 2-4: Kết quả đánh giá các vùng gió tiềm năng của tỉnh Bình Thuận Bảng 3-1: Đặc tính kỹ thuật tuabin FL MD 77-1500 của hãng Fuhrlander Bảng 3-2: Số liệu tốc độ gió trung bình từng tháng, cả năm của dự án
Bảng 3-3: Bảng kết quả tính toán sản lượng điện của dự án
Bảng 3-4: Tổng hợp mức đầu tư của dự án điện gió
Bảng 4-1: Bảng tổng hợp mức đầu tư của dự án nhiệt điện
Bảng 4-2: Bảng các chỉ tiêu kinh tế chính của dự án nhiệt điện
Bảng 4-3: Bảng tổng hợp các chỉ tiêu của 2 dự án điện gió và nhiệt điện
Trang 6Danh mục các Hình vẽ
Hình 1-3a: Điện sản xuất năm 2001-2006
Hình 1-3b: Cơ cấu tiêu thụ điện năm 2001-2006
Hình 1-3c: Điện sản xuất và tiêu thụ điện năng năm 2001-2006
Hình 1-3d: Điện tổn thất điện năng năm 2001-2006
Hình 1-4: Thành phần sản xuất điện đến năm 2025 tại Việt Nam
Hình 1-5: Công suất điện gió được lắp đặt theo châu lục 2006-2007
Hình 1-6: Công suất điện gió được lắp đặt trên thế giới 1999-2007
Hình 1-7: Giá điện trung bình của điện gió 1982-2002 có xét đến 2030
Hình 3-1: Quy trình phân tích chuẩn 5 bước
Hình 3-2: Bộ các cơ sở dữ liệu tổng hợp
Trang 7Chương 1 TổNG QUAN 1.1 Hiện trạng hệ thống nguồn điện Việt Nam
Tính đến thời điểm tháng 7 năm 2007, hệ thống điện Việt Nam có 35 nhà máy điện công suất vừa và lớn (không kể các trạm diesel và thuỷ điện nhỏ ở miền Nam và miền Trung) đang vận hành trong hệ thống, với tổng công suất lắp đặt khoảng 11.870MW Trong đó miền Bắc chiếm 3.592MW (31%), miền Nam 7.069MW (60%), miền Trung 1.079MW (9%):
Hình 1-1: Phân bổ nguồn phát theo miền đến 07/2007
(Nguồn: EVN, 2007; Viện Năng lượng 2007) Hiện có 14 nhà máy của công ty cổ phần và công ty phát điện hạch toán
độc lập lớn thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang vận hành trong hệ thống điện, cụ thể như sau:
- Miền Bắc: Thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện Thác Bà, nhiệt điện Phả Phả Lại 2, nhiệt điện Uông Bí, nhiệt điện Ninh Bình
Lại Miền Trung: Thuỷ điện Vĩnh Sơn Lại Sông Hinh và thuỷ điện Ialy
- Miền Nam: Thuỷ điện Trị An, thuỷ điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa
Mi, thuỷ điện Thác Mơ, nhiệt điện và tua bin khí Thủ Đức, tua bin khí
Phân bổ nguồn phát điện theo miền năm 2007
Miền Bắc 31%
Miền Trung 9%
Miền Nam 60%
Trang 8Bà Rịa, tua bin khí Phú Mỹ 2.1 - Phú Mỹ 2.1 mở rộng - Phú Mỹ 1 - Phú Mỹ 4, nhiệt điện và tua bin khí Cần Thơ
Có một số nhà máy lớn ngoài EVN, trực thuộc các đơn vị sản xuất công nghiệp đang vận hành trong hệ thống điện, cụ thể như sau:
- Nhà máy nhiệt điện Na Dương 110MW (2x55MW), nằm trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, được đưa vào vận hành năm 2005
- Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn - Thái Nguyên 100 MW (2x50MW),
được đưa vào vận hành vào đầu năm 2006
- Nhà máy thuỷ điện Cần Đơn 77,6MW (2x38,8MW) Nhà máy nằm trên lưu vực sông Bé, tỉnh Bình Phước Nhà máy được đưa vào vận hành từ năm 2004
Ngoài ra, một số nhà máy điện nằm trong các nhà máy, khu công nghiệp, như sau:
- Nhà máy nhiệt điện thuộc nhà máy đạm Hà Bắc 36MW (2x6MW+ 2x12MW), trong đó tổ máy 6MW dùng để dự phòng
- Nhà máy nhiệt điện thuộc nhà máy giấy Bãi Bằng 28MW (12MW+16MW), trong đó tổ máy 12MW công suất khả dụng khoảng 8-9MW Nhà máy có đã xây dựng thêm cụm Gas Tuabin hỗn hợp 38MW, hiện nay đã hoàn tất và đi vào hoạt động
- Cụm diesel Cái Lân 40MW thuộc cụm cảng và KCN Cái Lân - Quảng Ninh, dùng để dự phòng
Tổng công suất các NMĐ ngoài EVN và thuộc sở hữu của Nhà nước hiện
có 413MW (EVN, 2007) Các nhà máy nhiệt điện Hà Bắc và Bãi Bằng, chủ yếu cấp điện và hơi cho sản xuất, lượng điện phát hoặc mua từ hệ thống điện quốc gia là không lớn
Ngoài ra, hiện nay trên hệ thống điện, có 2 nhà máy nhiệt điện tuabin khí hỗn hợp đã được đầu tư theo cơ chế BOT:
- Nhà máy Phú Mỹ 2.2: 733MW, do EDF (Pháp), Sumitomo và TEPCO (Nhật) đầu tư
- Nhà máy Phú Mỹ 3: 733MW, do BP (Anh) đầu tư
Trang 9Một số nhà máy nhiệt điện thuộc đầu tư nước ngoài, nằm trong các khu
- Nhà máy nhiệt điện thuộc NM đường Bourbon 24MW (2x12MW),
thuộc tỉnh Tây Ninh
- Nhà máy nhiệt điện chạy than Formosa 150MW thuộc KCN Long
Thanh - Đồng Nai (than Bitum nhập khẩu)
Tổng công suất của các nhà máy điện thuộc thành phần đầu tư nước ngoài
đạt 2.156MW, chiếm 19,1% tổng công suất lắp đặt trong toàn hệ thống điện
quốc gia (EVN, 2007)
Tổng công suất của các nhà máy điện ngoài EVN đạt 2.625MW, chiếm
22% tổng công suất lắp đặt trong toàn hệ thống điện quốc gia (EVN, 2007)
Bảng 1-1: Các nhà máy điện hiện có trong hệ thống điện Việt Nam
Trang 11(Nguồn: EVN, 2007; Viện Năng lượng 2007; PECC3 tổng hợp, 2007)
Bảng 1-2 : Cơ cấu nguồn điện ở Việt Nam (MW) Thủy
điện
Nhiệt điện than
Nhiệt điện dầu
Gas Tuabins
Diesel &
TDN
Ngoài EVN
(Nguồn: EVN, 2007; Viện năng lượng 2007; PECC3 tổng hợp, 2007)
Hình 1-2: Cơ cấu nguồn theo công suất lắp đặt năm 2001 và 2006
(Nguồn: EVN, 2007; Viện Năng lượng 2007; PECC3 tổng hợp, 2007)
Thủy điện là nguồn phát chủ lực của hệ thống chiếm tỷ trọng tương đương
55%(2001), tuy nhiên tỷ trọng này giảm còn khoảng 34% (2006) Việc giảm
tỷ trọng đóng góp của thủy điện trong sản xuất điện trong hệ thống là do các vị
trí có tiềm năng thủy điện đã được tận dụng để xây dựng nhà máy phát điện
Tương tự, tỷ trọng của nhiệt điện chạy than sẽ tham gia vào phát điện giảm, tỷ
trọng tương đương 12% (2001) giảm còn khoảng 10% (2006) Trong khi đó
Diesel &
TĐN 1%
Gas Tuabins 16%
Ngoài EVN 12%
Nhiệt than 12%
Diesel & TĐN Ngoài EVN Thủy điện
Cơ cấu nguồn theo công suất đặt năm 2006
Thủy điện 34%
Nhiệt dầu 2%
Diesel &
TĐN 4%
Gas Tuabins 28%
Nhiệt than 10%
Ngoài EVN 22%
Diesel & TĐN Ngoài EVN Thủy điện
Trang 1228% (2006) Tỷ trọng đóng góp phát điện nhiệt điện chạy dầu tương đối nhỏ,
và tỷ trọng này giảm trong giai đoạn 2001-2006, cụ thể 4%(2001) tỷ trọng này giảm còn 2%(2006) Thành phần diesel và thủy điện nhỏ tham gia vào hệ thống điện đã có dấu hiệu tăng, tỷ trọng tương đương 1%(2001) tăng lên 4%(2006) Bên cạnh đó, việc tham gia phát điện của các nguồn điện bên ngoài EVN vào trong hệ thống điện ngày càng tăng, tỷ trọng này chiếm khoảng 12% trong năm 2001 và tăng dần đến khoảng 22% trong năm 2006
Bảng 1-3a: Cơ cấu điện sản xuất ở Việt Nam
(Nguồn: Viện Năng lượng, 2007; EVN, 2007)
Hình 1-3a: Điện sản xuất năm 2001-2006
(Nguồn: Viện Năng lượng, 2007; EVN, 2007)
Điện sản suất năm 2006
Thủy điện 30.8%
TBK (khí) 30.1%
Diesel 0.1%
Nhiệt điện than 15.5%
Nhiệt điện dầu (FO) 1.3%
TBK (DO) 0.9%
Mua ngoài 21.3%
Thủy điện Nhiệt điện than Nhiệt điện dầu (FO)
Mua ngoài
Điện sản xuất năm 2001
Thủy điện 54.7%
TBK (khí)
16.4%
Diesel 0.9%
Mua ngoài 6.2%
Thủy điện Nhiệt điện than Nhiệt điện dầu (FO)
Mua ngoài
Trang 13(Nguồn: EVN, 2007; Viện Năng lượng, 2007)
Hình 1-3b: Cơ cấu tiêu thụ điện năm 2001-2006
(Nguồn: EVN, 2007; Viện Năng lượng, 2007)
tăng với tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2001-2006 là 14,9%
Điện năng tiêu thụ tăng từ 22.403,7GWh vào năm 2001 lên tới 44.860,1GWh năm 2006
Cơ cấu tiêu thụ điện năm 2001
Công nghiệp 41%
Quản lý &
T.dùng dân cư
K/Sạn, Nhà hàng 5%
Các hoạt động
khác 4%
Nông nghiệp 2%
Quản lý &
T.dùng dân cư
44%
Các hoạt động khác 4%
Nông nghiệp 1%
T.Mại &
K/Sạn, Nhà hàng 5%
T.Mại & K/Sạn, Nhà hàng Quản lý & T.dùng dân cư
Các hoạt động khác
Trang 14Trong cơ cấu điện năng đ−ợc tiêu thụ, tỷ trọng điện cung cấp cho quản lý
và tiêu dùng dân c− giảm dần từ 48% năm 2001 xuống còn 44% vào năm
2006, trong khi đó tỷ trọng điện công nghiệp đã tăng từ 41% năm 2001 lên 46% năm 2006
Hình 1-3cd: Sản xuất, tiêu thụ điện năng năm 2001-2006
Trang 15Tình hình tổn thất điện năng đ−ợc cải thiện và giảm dần trong giai đoạn 2001-2006, tỷ lệ tổn thất điện năng giảm từ 14,5% trong năm 2001 xuống còn 12% trong năm 2006 Tính đến thời điểm tháng 9 năm 2006, tỷ lệ tổn thất trong toàn EVN là 11,66% (Viện Năng l−ợng, 2007)
1.2 Quy hoạch phát triển nguồn điện của Việt Nam đến năm 2025
Theo Viện Năng l−ợng, công suất lắp đặt và nhu cầu điện năng đ−ợc trình bày trong bảng 1-3c (TSĐ VI), nh− sau:
Bảng 1-3c: Cơ cấu công suất lắp đặt và nhu cầu (MW) tại Việt Nam
(từ năm 2006 đến năm 2025) Năm 2006 2010 2015 2020 2025 TĐ + TĐ
(Nguồn: Viện Năng l−ợng, TSĐ VI)
Đến năm 2025, dự tính khoảng 85.411MW công suất nguồn cần đ−ợc lắp đặt thêm vào hệ thống
- Giai đoạn 2006-2010, hàng năm cần xây dựng trung bình 2.860MW
- Giai đoạn 2011-2015, hàng năm cần xây dựng trung bình 3.300MW
- Giai đoạn 2016-2020, hàng năm cần xây dựng trung bình 3.650MW
- Giai đoạn 2021-2025, hàng năm cần xây dựng trung bình 4.950MW
Điện sản xuất dự kiến tăng sẽ đạt mức:
Trang 16- 112,6 TWh năm 2010
- 190 TWh năm 2015
- 294 TWh năm 2020 và
- 432 TWh năm 2025
Trong đó, tỷ trọng tham gia của các nguồn phát đến năm 2025 nh− sau:
- Thủy điện và thủy điện tích năng đóng góp 25%,
- Thủy điện nhỏ, điện gió, và năng l−ợng mới 3%,
- Nhiệt điện chạy than 42%,
- Nhiệt điện chạy khí và dầu 20%,
2025
Trang 17Hình 1-4: Thành phần sản xuất điện đến năm 2025 tại Việt Nam
(Nguồn: Viện năng lượng 2007)
Liên kết điện với Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào)
Điện nhập khẩu từ CHDCND Lào sẽ thông qua các đường dây truyền tải như sau:
- Đường dây 220kV Nậm Mô - Thủy điện Bản Vẽ - Nghệ An
- Đường dây 220kV Sê Kaman 3 - Thủy điện A Vương - Đà Nẵng
- Đường dây 500kV Nam Theun 2 - Hà Tĩnh
- Đường dây 500kV Ban Sok - Pleiku
Dự kiến, đến năm 2013-2014, điện nhập từ CHDCND Lào lên đến 1.600MW
Liên kết điện với Campuchia
- Thủy điện Hạ Sesan - 375MW
- Thủy điện Hạ Srepok 2 - 222MW
- Thủy điện Hạ Sesan 207MW
Thủy điện và TĐ tích năng TĐ nhỏ, điện gió, NLM Nhiệt điện than
Nhiệt điện khí+dầu Điện hạt nhân Nhập khẩu
Trang 18Điện nhập khẩu từ Campuchia dự kiến sẽ thông qua các đường dây truyền tải, như sau:
- Đường dây 220kV Thủy điện Hạ Sesan 3 - Pleiku
- Đường dây 220kV Thủy điện Hạ Sesan 2, Thủy điện Hạ Srepok - Tân
Định (500kV)
Dự kiến, đến năm 2012-2013, điện nhập từ Campuchia lên đến 800MW
Liên kết điện với Vân Nam - Trung Quốc
(Trung Quốc) và EVN đã hoàn tất Đường dây 220kV Tân Kiều (Vân Nam) -
Hà Khẩu (Lào Cai) - Lào Cai - Yên Bái - Việt Trì sẽ làm nhiệm vụ tiếp nhận
điện nhập khẩu từ Vân Nam với công suất thỏa thuận là 250MW
Dự kiến EVN sẽ tiếp tục nhập khẩu điện từ Trung Quốc qua lưới điện 500kV thông qua đường dây 500kV HongHe (châu Hồng Hà - Vân Nam) - Sóc Sơn Theo nghiên cứu của Viện Năng lượng kiến nghị EVN nhập khẩu
điện từ Trung Quốc khoảng năm 2013 (giá 4,2 US cent/kWh), 2015 (giá 4,4US cent/kWh), tổng công suất điện nhập khẩu có thể lên đến 2000MW
Giá điện mua ngoài
Theo Viện Năng lượng, để tiến hành phân tích tài chính, việc thực hiện giá mua điện của các nhà máy IPP, BOT,… được kiến nghị cụ thể như sau:
Nhà máy điện cổ phần hóa:
- Thủy điện lớn : 3,8 - 4 cent/kWh
- Nhiệt điện than: 4,2 cent/kWh
Những nhà máy phát điện khác ngoài EVN dự kiến mua điện theo số liệu dự kiến mức cơ sở cho mỗi loại nhà máy như sau:
- Thủy điện lớn: 4,2cent/kWh
- Thủy điện vừa và nhỏ: 4,5cent/kWh
- Nhiệt điện than: 4,8cent/kWh
- TBKHH: 4,5cent/kWh
- Điện gió: 5,5cent/kWh
Giá điện nhập khẩu: Giá mua điện nước ngoài dự kiến bình quân là 4,3cent/kWh
Trang 191.3 Năng lượng gió và tình hình sử dụng năng lượng gió để phát điện trên thế giới
1.3.1 Tiềm năng
So với năng lượng hóa thạch, ưu điểm lớn nhất của năng lương gió là năng lượng tái tạo và sạch, trong quá trình sử dụng năng lượng gió không gây ra ô nhiễm không khí, mưa axít, chất thải, không gây bức xạ và phá hỏng tầng
ôzôn…
Trên thế giới tiềm năng gió được ước tính là rất lớn, khoảng hơn 100.000TWh/năm, trong khi đó tiềm năng thủy điện được ước tính khoảng 15.000TWh/năm Tiềm năng này vượt xa nhu cầu điện năng hiện tại của thế giới, khoảng 17.500TWh/năm (D.Mikicic et al, 2008)
1.3.2 Tình hình sử dụng năng lượng gió để phát điện trên thế giới
Tính đến tháng 12/2007, 58.982MW điện gió đã được lắp đặt trên thế giới, trong đó 11.310MW đã được lắp đặt trong năm 2007, 8.300MW trong năm 2006 và 8.100MW trong năm 2005 Mức tăng trưởng trung bình công suất lắp đặt được ước tính 24% năm 2007, 21% năm 2006 Theo mức tăng trưởng trong những năm qua, WWEA dự tính sẽ có khoảng 120.000MW điện gió sẽ được lắp đặt trên toàn thế giới vào năm 2010 Hiện nay, điện gió chiếm khoảng 1% tổng nhu cầu điện năng trên toàn thế giới, và tại một số quốc gia và khu vực, tỷ trọng này lên đến 20%
Châu Âu
Năm 2007, Châu Âu đứng đầu về tổng công suất điện gió được lắp đặt (40.932MW) chiếm 69,4% tổng công suất lắp đặt trên toàn thế giới, giảm từ 72,9% trong năm 2006 Trong đó, Đức và Tây Ban Nha giữ vị trí dẫn đầu trong thị trường điện gió ở Châu Âu Đức có công suất điện gió lắp đặt thêm là 1.799MW nâng tổng công suất điện gió lên đến 18.428MW đứng đầu ở Châu
Âu, trong khi đó Tây Ban Nha có thêm 1.764MW nâng tổng công suất điện gió là 10.027MW đứng vị trí thứ 2 ở Châu Âu Bồ Đào Nha và Pháp có tốc độ tăng trưởng công suất lắp đặt rất nhanh trong năm 2007, cụ thể Bồ Đào Nha
đạt công suất điện gió lắp đặt là 1.022MW, tăng 95,8%, trong khi đó Pháp đạt
Trang 20công suất điện gió lắp đặt là 757MW, tăng 96,2% so với năm 2006 Đan Mạch
có mức tăng công suất điện gió thấp, chỉ có 4MW được lắp đặt thêm, nâng tổng công suất đạt 3.128MW
Châu á
Năm 2007, Châu á có mức tăng trưởng công suất lắp đặt điện gió cao, đạt 48%, công suất tăng thêm là 2.263MW, nâng tổng công suất lắp đặt lên 7.022MW ấn Độ và Trung Quốc là hai quốc gia dẫn đầu ở Châu á trong lĩnh vực phát triển điện gió, đạt 4.430MW, trong đó 1.430MW được lắp đặt thêm trong năm qua Trung Quốc đã có bước phát triển đáng kể trong giai đoạn
2006 - 2007, cụ thể Trung Quốc đứng thứ 10 trên thế giới về tổng công suất
điện gió được lắp đặt trong năm 2006 (764MW), nhưng tính đến cuối năm
Công suất lắp
đặt đến cuối 2007(MW)
2007 tính theo %
Trang 21Châu Mỹ
15.5%
Châu á 10.0%
Châu Phi
0.5%
Chây úc-Thái Bình Dương 1.1%
Châu Âu Châu Phi Châu Mỹ Châu á Chây úc-Thái Bình Dương
Công suất lắp đặt điện gió trên thế giới năm 2007
Châu Âu 69.4%
Châu Mỹ 17.0%
Châu á 11.9%
Châu Phi 0.4%
Chây úc-Thái Bình Dương 1.3%
Châu Âu Châu Phi Châu Mỹ Châu á Chây úc-Thái Bình Dương
Trang 23Các nhà sản xuất tuabin gió hàng đầu
Trong năm 2007, 10 nhà sản xuất tuabin gió hàng đầu thế giới vẫn không thay đổi so với năm 2006, chỉ thay đổi vị trí phần trăm thị phần chiếm lĩnh Kết quả được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1-6: Mười nhà sản xuất tuabin gió hàng đầu thế giới 2007
Trang 24Bảng 1-7: Một số công nghệ tuabin gió lớn nhất hiện nay
Kiểu wind
tuabins
Công suất (MW)
Độ cao (m)
Đường kính (m)
Trong năm 2007, trên 57% số tuabin gió đã được lắp đặt có công suất lớn hơn 1 MW và 2,4% có công suất lớn hơn 2,5MW (tăng từ 0,9% trong năm 2006)
Các loại tuabin gió (quy mô công nghiệp) đã được lắp đặt phổ biến nhất trên thế giới hiện nay có dải công suất từ 1,5 đến 2MW Trong đó, chiếm đa số
là loại tuabin gió 1,5MW của GE (Nguồn: Renewable Energy World)
Một số loại tuabin gió có công suất từ 1,5-2MW của một số nhà sản xuất hàng đầu thế giới được liệt kê ở bảng sau:
Bảng 1 - 8: Một số loại tuabin gió 1,5-2MW của 4 nhà sản xuất hàng đầu
phát (kW)
Đường kính
Chiều cao
Trang 25(Nguồn: EMD, Đan Mạch)
Giá thành điện gió
Nhờ vào các chính sách khuyến khích phát triển sử dụng năng lượng sạch trong công nghiệp điện lực, sự phát triển của công nghệ năng lượng sạch, ở các nước phát triển, giá thành sản xuất điện gió cho một đơn vị điện năng đã giảm
đáng kể trong khoảng hơn 20 năm qua Kinh nghiệm tại Mỹ cho thấy rằng, giá
điện gió khoảng 38 US cent/kWh năm 1980 và đã giảm dần chỉ còn 4 US cent/kWh - 6 US cent/kWh đến hôm nay, và sẽ tiếp tục giảm trong tương lai (Earth Policy Institute)
38
18
5
3 0
Hình 1-7: Giá điện trung bình của điện gió 1982-2002 có xét đến 2030
(Nguồn : Earth Policy Institute, National Renewable Energy Laboratory
European Wind Energy Association)
Trang 261.3.3 Hướng phát triển điện gió trên thế giới
Trong những năm tới, mức tăng trưởng điện gió trên thế giới tiếp tục gia tăng, năm 2007 đã đạt mức 70.000MW Năm 2010, dự kiến tổng công suất
điện gió đạt đến 120.000MW (WWEA, 2007)
hệ thống điện gió trên đất liền, và liên kết vào hệ thống điện quốc gia và khu vực
1.4 Tiềm năng năng lượng gió và tình hình sử dụng năng lượng gió để phát điện ở Việt Nam
Khá 7m/s)
(6-Tốt 8m/s)
(7-Rất tốt 9m/s)
(8-Tối ưu (>9m/s) Diện tích
(Nguồn: World Bank, Wind Energy Resource Altas of South Asia)
Theo tài liệu này, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng năng lượng gió tương đối khá, nhất là khu vực duyên hải, tốc độ gió trung bình từ 7-7,5m/s, ở độ cao 65m Đảo Côn Sơn có tiềm năng khá cao, tốc độ gió trung bình đạt 8-9m/s Hai huyện Duyên Hải (tỉnh Trà Vinh) và huyện Thạch Phú (tỉnh Bến Tre), tốc độ gió trung bình đạt từ 7-7,5m/s
Khu vực Tây Nguyên của Việt Nam, vùng núi Bảo Lộc có tiềm năng gió khá lớn, tốc độ gió đạt 7-7,5m/s (cao độ so với mực nước biển 800-1000m)
Trang 27Trong khi đó, khu vực Pleiku và Buôn Mê Thuột (cao độ so với mực nước biển 500m) cũng có tiềm năng năng lượng gió tương đối, tốc độ gió đạt 7m/s
Khu vực duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam có tiềm năng gió rất tốt, tốc độ gió từ 8-9,5m/s, tuy nhiên những nơi này thường tập trung ở vùng núi cao độ 1600-2000m so với mực nước biển Khu vực miền núi phía Tây Quy Nhơn và Tuy Hòa cao độ so với mực nước biển 1000-1200m, tốc độ gió đạt 7,5-7,8m/s Khu vực huyện Ninh Phước (tỉnh Ninh Thuận) tốc độ gió trung bình 7-7,5m/s Khu vực Tuy Phong, Bắc Bình, bờ biển Nam Phan Thiết và đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận) có tiềm năng năng lượng gió cũng khá lớn trên các
đỉnh núi khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng tốc độ gió trung bình lên đến 8-8,5m/s
Khu vực Bắc Trung Bộ, dãy Trường Sơn chạy dọc biên giới của Lào và Việt Nam, những nơi có cao độ 1800m, tốc độ gió trung bình có thể lên đến 8,5-9m/s, có nơi lên đến 9-9,5m/s Tuy nhiên, một số nơi có khả năng phát triển điện gió được tìm thấy thuộc khu vực vùng núi đồi biên giới của Lào và Việt Nam về phía tây của Huế, cao độ từ 400-800m tốc độ gió trung bình đạt
đến 7,0-8,0m/s Khu vực Đông Trường Sơn, cao độ 800-1200m cũng có tiềm năng gió tương tự, tốc độ gió trung bình 7,0-8,0m/s Tiềm năng năng lượng gió cho tuabin gió nhỏ, tập trung ở khu vực đồng bằng duyên hải về phía Bắc của Huế, tốc độ gió trung bình ở độ cao 30m đo được vào khoảng 5,5-6,0m/s và có vài nơi sát vùng duyên hải vượt quá 6,0m/s Vùng duyên hải của Quảng Ngãi
và Trường Sơn Đông, tiềm năng gió ở mức khá tốt tập trung ở vùng núi có cao
và vùng đồi núi đông bắc biên giới của Trung Quốc và Việt Nam có tiềm năng gió rất tốt, cao độ so với mực nước biển từ 700-1000m
Trang 281.4.2 Tình hình sử dụng năng lượng gió để phát điện ở Việt Nam
Theo điều tra của Viện Năng lượng, từ năm 1980 trong chương trình Quốc gia về nghiên cứu ứng dụng các dạng năng lượng mới và tái tạo Viện năng lượng, bộ giao thông vận tải, viện cơ giới Bộ quốc phòng, các trung tâm nghiên cứu Năng lượng mới của Đại học Bách Khoa Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh
đã nghiên cứu và thử nghiệm các tuabin gió cỡ nhỏ từ 150W đến 5kW Tính
đến năm 1999, đã có khoảng 1000 máy phát điện gió cỡ hộ gia đình (công suất 150-200W), tập trung ở các tỉnh vùng duyên hải từ Đà Nẵng trở vào phía Nam Cũng trong năm 1999, nhờ vốn tài trợ của Nhật Bản, tuabin gió công suất 30kW đã được lắp đặt tại xã Hải Thịnh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Năm
2000, một tuabin gió công suất 2kW đã được lắp đặt tại huyện Đắc Hà, tỉnh Kontum Năm 2002, Viện Năng lượng nghiên cứu và lắp đặt thành công tuabin gió công suất 3,2kW
Hiện nay, tại Việt Nam có một số dự án điện gió quy mô công nghiệp đã
và đang được triển khai như sau:
- Đảo Bạch Long Vĩ - Thành phố Hải Phòng: Đã lắp đặt 1 tuabin gió, công suất 800kW, đưa vào vận hành từ tháng 10/2004 do TW Đoàn làm chủ đầu tư
- Cửa Tùng- Quảng Trị: Dự án đo gió 2002-2004 do Bộ Công nghiệp chủ trì
- Tỉnh Khánh Hòa: Có 1 dự án xây dựng nhà máy điện gió với công suất 24MW đang được nghiên cứu thực hiện
- Bán đảo Phương Mai - Tỉnh Bình Định: Có 3 dự án xây dựng nhà máy
điện gió đang được nghiên cứu triển khai Tổng công suất 85MW
- Đảo Phú Quý - Tỉnh Bình Thuận: Hồ sơ dự án đầu tư trạm phát điện gió tại đảo do Công ty Tư vấn Xây dựng điện 3 lập đã được EVN phê duyệt vào tháng 10/2005, dự án dự kiến sẽ được thực hiện theo 3 giai
đoạn, với tổng công suất điện gió lắp đặt là 7,4MW Giai đoạn 1, lắp
đặt 1,7MW
Trang 29- Đảo Phú Quốc - Tỉnh Kiên Giang: Dự án đánh giá tiềm năng gió, do tư vấn nước ngoài thực hiện Công ty Điện lực 2 (PC2) làm chủ đầu tư, vốn vay ngân hàng thế giới Theo báo cáo sơ bộ của tư vấn nước ngoài, tiềm năng gió ở đảo này không cao
- Dự án điện gió Phú lạc - Tỉnh Bình Thuận, Công ty cổ phần phong
điện Thuận Bình làm chủ đầu tư, công suất lắp đặt là 50MW
- Dự án Quy hoạch năng lượng gió để phát điện tại các tỉnh duyên hải Việt Nam do EVN làm chủ đầu tư Phân làm 3 khu vực; miền Bắc do Viện Năng lượng thực hiện, miền Trung do Công ty Tư vấn Xây dựng
Điện 4 (PECC4) thực hiện và miền Nam do Công ty tư vấn xây dựng
Điện 3 (PECC3) thực hiện
1.5 Một số nhận xét
- Trong tương lai gần, hệ thống nguồn điện ở Việt Nam không đủ để cung cấp cho nhu cầu phụ tải ở trong nước Dự kiến phải nhập khẩu
điện từ Trung Quốc, Lào và Campuchia
- Tiềm năng năng lượng gió trên toàn thế giới là rất lớn, gần gấp 7 lần so với thủy điện (100.000TWh/năm so với 15.000TWh/năm) Cùng là năng lượng tái tạo, nhưng so với thủy điện, điện gió ít gây tác động xấu đến môi trường xung quanh hơn
- Trong 10 năm gần đây, tốc độ phát triển điện gió trên toàn thế giới rất cao, công suất lắp đặt tăng trung bình 24%/năm
- Hiện nay, điện gió chiếm khoảng 1% nhu cầu điện năng trên toàn thế giới Tại một số quốc gia và khu vực, tỉ trọng này lên đến 20% Mục tiêu trên thế giới hiện nay là lên đến năm 2020, tỷ trọng này sẽ đạt 12%, tính chung trên toàn thế giới
- Công nghệ tuabin gió ngày càng hoàn thiện và phát triển Giá thành
điện gió ngày càng giảm dần Từ 38 US cent/kWh năm 1980 đến nay chỉ còn từ 4-6 US cent/kWh
- Việt Nam có tiềm năng gió tương đối khá Tuy nhiên, hiện nay việc phát triển các dự án điện gió quy mô công nghiệp ở Việt Nam còn quá
Trang 30chậm Có nhiều lý do để giải thích cho vấn đề này, chi phí xây dựng cao, chiếm đất lớn, gây tiếng ồn,… Tuy nhiên, nguyên do cơ bản là chưa có nghiên cứu quy hoạch các vùng phát triển điện gió ở Việt Nam và chưa có chính sách hỗ trợ về mặt tài chính từ phía chính phủ cho dạng năng lượng này
- Rút kết kinh nghiệm từ các nước đã rất thành công trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng gió để phát điện cho thấy những nơi có tiềm năng năng lượng gió cao thông thường tập trung tại các vị trí hẻo lánh, xa hoặc rất xa hệ thống lưới điện truyển tải hiện hữu và do đó việc kết nối nhà máy điện gió thường sẽ phải đối mặt với vấn đề đảm bảo chất lượng điện năng (ổn định điện áp, dao động điện áp, sóng hài), hướng truyền công suất,… Vì vậy, giải pháp kết nối nhà máy điện gió cần phải được nghiên cứu và tính toán cho từng vùng cụ thể
- Nguồn năng lượng gió sẽ được sử dụng và đóng vai trò quan trọng trong phát điện vào hệ thống trong tương lai, vì những lợi ích to lớn sau:
Bảo vệ môi trường, giảm khí phát thải và đạt mục tiêu của hiệp
ước Kyoto
Tạo nhiều cơ hội việc làm mới
Tăng cường an ninh năng lượng của quốc gia
- Với các lý do nêu trên, việc đầu tư các nhà máy điện gió tại các vùng gió tiềm năng ở Việt Nam là hết sức cần thiết, phù hợp với chính sách phát triển năng lượng của nước ta và bắt kịp với xu thế chung của thời
đại
Trang 31CHƯƠNG 2
ĐáNH GIá TIềM NĂNG GIó TạI các tỉnh DUYÊN HảI MIềN NAM VIệT NAM 2.1 Phương pháp đánh giá tiềm năng năng lượng gió
Một dự án về năng lượng gió phải được bắt đầu từ số liệu điều tra cơ bản
được tiến hành trong nhiều năm
ở quy mô toàn cầu nên có một bản đồ gió một cách chi tiết Đáng tiếc là chưa có tổ chức, định chế nào làm việc đó Mới có bản đồ gió tỉ lệ xích nhỏ và không đầy đủ ở nước ta cũng chưa có tổ chức nào, chương trình quốc gia nào làm công việc đo và lập bản đồ gió của Việt Nam Một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, họ đã có bản đồ các đường đồng giá trị về vận tốc gió trên quy mô cả nước Tuy vậy, bản đồ gió cho từng vùng, nhất là những vùng có tiềm năng khá về gió thì không có ngay mà cần thời gian đo đạc trong nhiều năm khi cần chú ý lập dự án cho vùng đó Việc đo gió ở quy mô một dự án cũng không phải là không tốn kém: cần trang bị các máy đo gió ghi tự động lưu trữ số liệu hoặc truyền trực tiếp số liệu xuống máy tính Cần xây lắp các trụ đặt thiết bị đo hướng gió, vận tốc gió có chiều cao từ vài chục mét đến 60,
80 mét Từ số liệu đo gió đủ tin cậy với thời gian đo liên tục trong một số năm thì mới có căn cứ ban đầu cho việc phân tích và đánh giá tiếp theo Các máy đo gió này phải có tính năng đo 2 giây một lần và cứ 10 phút thì lấy giá trị trung bình
Xử lý số liệu đo
Từ số liệu đo được, ta sẽ lập các biểu mẫu:
1- Vận tốc gió theo từng giờ trong ngày (từ giờ thứ 1 đến giờ thứ 24 trong ngày) vào mùa đông, vào mùa hè và trung bình trong năm 2- Vận tốc gió trung bình theo từng ngày trong năm
3- Vận tốc gió trung bình theo từng tháng trong năm
Từ các biểu mẫu này, ta lập các đồ thị:
1) Đồ thị bar V=f (giờ trong ngày) v- m/s giờ trong ngày: 1,2, ,24…
Trang 3224 1
∑
= i= i i
tb
t V V
30
30 1
∑
tb
t V V
Từ đồ thị này tìm:
- Vận tốc gió trung bình trong ngàyVtb:
2) Đồ thị bar V=f (giờ trong tháng)
Vận tốc gió trung bình trong tháng
Lập thêm đồ thị XY-Scatter tần suất xuất hiện=f(V)
4- Lập bảng phân bố luỹ tích số giờ có gió mà V gió < V gió tham chiếu Cột thứ I của bảng này là các khoảng vận tốc gió, cột thứ II là
số giờ có vận tốc gió đó xuất hiện, cột thứ III là số giờ luỹ kế Cụ thể, gọi cột 1 của hàng thứ i là cột i,1 Cột thứ 2 là cột i,j-1 thì cột luỹ kế
Vẽ đồ thị phân bố luỹ tích số giờ có gió mà V gió < V gió tham chiếu
(trục tung là % luỹ kế (cột 4) Trục hoành là các khoảng giá trị của V (cột 1)
Lấy phương trình giải tích của đồ thị phân bố luỹ tích số giờ có gió mà V gió < V gió tham chiếu Phương trình này cần ở dạng tuyến tính Và chú ý tuyến tính hoá đường cong đồ thị tần suất xuất hiện=f(V) trong phạm vi
V=0,7Vtb đến V=2Vtb
Từ đồ thị tần suất xuất hiện=f(V) và đồ thị phân bố luỹ tích số giờ có gió mà V gió < V gió tham chiếu ta có thể định tính được trạng huống của gió
tại vùng khảo sát
Song để có cách nhìn tổng quan, và chính xác, ta cần sử dụng hàm phân
bố thống kê toán học Weibull Sử dụng hàm Weibull sẽ vừa định tính và định lượng trạng huống của gió tại vùng này, vừa có thể từ đó tính được mật độ năng lượng gió Có thể căn cứ thêm vào các thông số của tuabin gió dự kiến sẽ
được lắp đặt để tính ra điện năng mà nó sản xuất
) 1 (
) 2 (
Trang 33= ∞
ư
0 Vf(V)dV V
dV V f V
0 2
∫ ư
= ∞ ư
Phân bố Weibull
Nhận xét từ đồ thị tần suất vận tốc gió và đồ thị phân bố luỹ tích đã nói
ở trên, nếu ta lấy trục hoành theo V/Vtb thì ta sẽ có đồ thị của các đại lượng tương tự, rất tiện lợi cho việc so sánh trạng huống của các vùng gió khác nhau Những trạng huống này có thể được mô hình hoá bằng hàm thống kê toán học Weibull hay Rayleigh Nhờ hai hàm phân bố này ta có thể đoán định số giờ làm việc có hiệu quả của tuabin gió và điện năng thu được từ các máy phát
điện bằng tuabin gió
Hàm Weibull:
Hàm Weibull F(V) mô tả số thời gian hoặc số % thời gian mà gió có vận tốc nhỏ hơn một vận tốc quy chiếu: F(V)=P (V<=V’) (không thứ nguyên) (3)
Hàm Weibull f(V) mô tả mật độ phân bố tần suất Vgió:
Đặc tính của phân bố Weibull biểu thị bởi hai nhân tử đặc tính: nhân tử
k (không thứ nguyên) và nhân tử thang độ c (m/s) Nhân tử k đặc trưng cho dạng đường cong phân bố Nhân tử c đặc trưng cho thang độ của trục toạ độ gọi là tham số tiêu độ
`
`) ( ) (
0
dV V f v F
V
∫
) 6 (
Trang 34V V
V c
k dV
dF V
1
) 9 (
dy e y
X =∫∞ xư ưy
) (
) 10 (
=
ư
k c
ư
ư
k k
V
V k V
k k
V
V k k
V
V V
k V
) 12 (
) 13 (
V
V V
V
V V
V V
) 14 (
) 15 (
Hàm số phân bố luỹ tích F(V):
Hàm phân bố tần suất mật độ vận tốc f(V):
Vtb có thể biểu thị qua k và c; hoặc c là hàm của Vtb và k Các tích phân trên rất khó giải, do vậy để đơn giản người ta đưa vào hàm Gamma Γ:
Trang 353 _ _
_ _
_ _
_ _
tb
E
V theo tinh
luong nang
dung kha
luong nang
tong
)
1 1 ( / )
3 1
k k
Tìm các nhân tử Weibull từ bảng số liệu về gió:
Sau khi đã có các số liệu đo đầy đủ, ta có thể tính được các giá trị của các nhân tử k và c của hàm Weibull Có ba phương pháp để xác định các giá trị này:
- Phương pháp dùng đồ thị hệ trục toạ độ Weibull
- Phương pháp phân tích lệch sai tiêu chuẩn
- Phương pháp phân tích hệ số đường cong năng lượng
Trong bài này tác giả trình bày phương pháp thứ nhất và thứ ba
Phương pháp dùng đồ thị hệ trục toạ độ Weibull
Bằng cách chuyển đường cong đồ thị Weibull sang dạng tuyến tính thì
dễ dàng xác định giá trị của k và c Lúc này tang của góc nghiêng đường Weibull tuyến tính chính là k Cách làm:
hoành có thang độ chia theo ln(V).Lúc này đồ thị hàm Weibull sẽ có dạng
đường thẳng Đường thẳng này được đặt vào đồ thị qua hai cặp giá trị của
phương trình giải tích của đố thị phân bố luỹ tích số giờ có gió mà Vgió < Vgió tham chiếu (đã nói ở phần trên) Đo độ nghiêng của đường đồ thị tuyến tính
này, chính là hàm lượng giác tang của nó Chính là k Từ giao điểm của đường
này với đường F(V)=0.632 chiếu xuống trục hoành, ta có giá trị của c
Trang 361
1 3
V N k
3 2
2.2 Sơ bộ về đặc điểm tự nhiên khu vực
Các tỉnh duyên hải miền Nam Việt Nam bao gồm 12 tỉnh: Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang Tuy nhiên, theo tài liệu “Wind Energy Resource Atlas of Southeast Asia“ của WB, các vùng có khả năng phát điện gió đạt hiệu quả về mặt kinh tế (có tốc độ gió và mật độ năng lượng gió trung bình năm ở độ cao 65m tương ứng đạt từ 7m/s và 400W/m2 trở lên) ở khu vực phía Nam Việt Nam chủ yếu tập trung tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, một phần nhỏ tại các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng
2.2.1 Vị trí địa lý
2.2.1.1 Tỉnh Ninh Thuận
Ninh Thuận là tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ của
Ninh Thuận có địa giới chung với các tỉnh như sau:
- Giáp tỉnh Khánh Hòa ở phía Bắc,
- Giáp tỉnh Bình Thuận ở phía Nam,
- Giáp tỉnh Lâm Đồng ở phía Tây, và
- Phía Đông là biển Đông
Trang 372.2.1.2 Tỉnh Bình Thuận
Bình Thuận là tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ của Việt Nam, thuộc vùng kinh tế Đông Nam Bộ và nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của địa bàn
Bình Thuận có địa giới chung với các tỉnh như sau:
- Phía Bắc của tỉnh giáp với tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Ninh Thuận,
- Phía Tây giáp với tỉnh Đồng Nai,
- Phía Nam giáp với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,
- Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông với đường bờ biển dài 192
km,
- Ngoài khơi có đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết 120 km,
- Trung tâm tỉnh Bình Thuận các thành phố Hồ Chí Minh 200 km, cách thành phố Nha Trang 250 km, có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam chạy qua nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và phía Nam của cả nước, quốc lộ 28 nối liền thành phố Phan Thiết với các tỉnh Nam Tây Nguyên, quốc lộ 55 nối với trung tâm dịch vụ dầu khí và du lịch Vũng Tàu
2.2.1.3 Tỉnh Bến Tre
Bến Tre là tỉnh đồng bằng nằm cuối nguồn sông Cửu long Tỉnh Bến Tre
người Tỉnh Bến Tre có chung địa giới với các tỉnh như sau:
- Phía Đông tiếp giáp với biển Đông,
- Phía Tây tiếp giáp với tỉnh Vĩnh Long,
- Phía Nam giáp với tỉnh Trà Vinh,
- Phía Bắc giáp với tỉnh Tiền Giang
2.2.1.4 Tỉnh Trà Vinh
Tỉnh Trà Vinh có chung địa giới với các tỉnh như sau:
- Phía Đông là biển Đông,
Trang 38- Phía Tây Nam tiếp giáp với tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ qua ranh giới sông Hậu,
- Phía Tây tiếp giáp với tỉnh Vĩnh Long,
- Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bến Tre được ngăn cách bởi sông Cổ Chiên (một nhánh của sông Tiền)
2.2.1.5 Tỉnh Sóc Trăng
Tỉnh Sóc Trăng nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long Tổng diện
giới với các tỉnh như sau:
- Phía Đông tiếp giáp với tỉnh Trà Vinh,
- Phía Tây tiếp giáp với tỉnh Bạc Liêu,
- Phía Nam giáp với biển Đông,
- Phía Bắc và phía Tây Bắc tiếp giáp với thành phố Cần Thơ
2.2.2 Đặc điểm địa hình, địa chất
2.2.2.1 Tỉnh Ninh Thuận
Địa hình Ninh Thuận thấp dần từ Tây bắc xuống Đông Nam, bởi đây là vùng đất cuối của dãy Trường Sơn với nhiều dãy núi đâm ra biển Lãnh thổ tỉnh được bao bọc bởi 3 mặt núi: phía Bắc và phía Nam là 2 dãy núi cao chạy sát ra biển, phía Tây là vùng núi cao giáp tỉnh Lâm Đồng Tỉnh Ninh Thuận có
3 dạng địa hình: núi, đồi gò bán sơn địa, đồng bằng ven biển Vùng đồi núi chiếm 63,2% diện tích của tỉnh, chủ yếu là núi thấp, cao trung bình từ 200 ữ 1000m Vùng đồi gò bán sơn địa chiếm 14,4% diện tích tự nhiên, vùng đồng bằng ven biển chiếm 22,4% diện tích đất tự nhiên
Trang 392.2.2.3 Tỉnh Bến Tre
Là một tỉnh châu thổ nằm sát biển, Bến Tre có địa hình bằng phẳng rải rác
có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có một
số rừng chồi và những dải rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông
Địa hình Bến Tre tương đối bằng phẳng, có xu thế thấp dần từ Tây sang
Đông, nghiêng dần ra biển, có nhiều giồng cát hình vòng cung quay lưng ra biển là kết quả của quá trình lấn biển Sự chênh lệch tuyệt đối giữa vùng đất cao nhất và thấp nhất không quá 3,5m
2.2.2.4 Tỉnh Trà Vinh
Địa hình Trà Vinh mang tinh chất vùng đồng bằng ven biển, chịu ảnh hưởng bởi sự giao thoa giữa sông và biển đã hình thành các vùng trũng, phẳng xen lẫn các giồng cát, các huyện phía Bắc địa hình bằng phẳng hơn các huyện ven biển, đại hình dọc theo 2 bờ sông thường cao, vào sâu nội đồng bị các giồng cát hình cánh cung chia cắt tạo nên các vùng trũng cục bộ, xu thế độ dốc chỉ thể hiện ở trên từng cánh đồng Cao trình biến thiên của tỉnh từ 0,1-1m chiếm 66% diện tích tự nhiên
Địa hình cao nhất trên 4m gồm đỉnh các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long Sơn (Cầu Ngang); Ngọc Biên (Trà Cú); Long Hữu (Duyên Hải) Địa hình thấp nhất dưới 0,4m tập trung tại các cánh đồng trũng ở Tập Sơn, Ngãi Xuyên (Trà Cú), Thanh Mỹ, cánh đồng Ôcàđa (Châu Thành); Mỹ Hoà, Mỹ Long, Hiệp Mỹ (Cầu Ngang); Long Vĩnh (Duyên Hải) Nhìn chung địa hình thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp từ 0,6-1m thích hợp cho tưới tiêu tự chảy, ít bị hạn cũng như không bị ngập úng
2.2.2.5 Tỉnh Sóc Trăng
Sóc Trăng có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng Độ cao cốt đất tuyệt
đối từ 0,4-1,5m, độ dốc thay đổi khoảng 45cm/km chiều dài Nhìn chung địa hình tỉnh Sóc Trăng có dạng lòng chảo, cao ở phía sông Hậu và biển Đông thấp dần vào trong, vùng thấp nhất là phía Tây và Tây Bắc Tiểu địa hình có dạng gợn sóng không đều, xen kẽ là những giồng cát địa hình tương đối cao và
Trang 40những vùng thấp trũng nhiễm mặn, phèn Đó là những dấu vết trầm tích của thời kỳ vận động biển tiến và lùi tạo nên các giồng cát và các bưng trũng ở các huyện Mỹ Tú, thị xã Sóc Trăng, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu Vùng đất phèn có địa hình lòng chảo ở phía Tây và ven kinh Cái Côn có cao trình rất thấp, từ 0-0,5m, mùa mưa thường bị ngập úng làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng Vùng cù lao trên sông Hậu cũng có cao trình thấp, thường bị ngập khi triều cường, vì vậy để đảm bảo sản xuất phải có
Khu vực nghiên cứu bao gồm các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng thuộc miền khí hậu phía Nam, khí hậu cơ bản là nhiệt
đới, gió mùa ở đồng bằng quanh năm chỉ có một mùa nóng
Trừ vùng núi, miền này không có yêu cầu chống lạnh Chống nóng chiếm
vị trí chủ yếu
Miền Nam được chia thành hai vùng khí hậu:
Vùng khí hậu núi Tây Nguyên: bao gồm toàn bộ phần núi cao, trên 100m của nửa phần phía Nam thuộc các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận
Có khí hậu vùng núi nhiệt đới Phía Bắc, mùa đông còn chịu ít ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nhưng mức độ lạnh chủ yếu do độ cao
địa hình quyết định ở cùng độ cao, nhiệt độ các tháng mùa đông ở