BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Hoàng Văn Kỳ ÁP DỤNG MÔ HÌNH LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI TRONG CHIẾN LƯỢC CHÀO GIÁ CỦA ĐƠN VỊ PHÁT ĐIỆN TRONG THỊ TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Hoàng Văn Kỳ
ÁP DỤNG MÔ HÌNH LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI TRONG CHIẾN LƯỢC CHÀO GIÁ CỦA ĐƠN VỊ PHÁT ĐIỆN TRONG THỊ
TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện- Hệ thống điện
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
KỸ THUẬT ĐIỆN - HỆ THỐNG ĐIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TSKH TRẦN ĐÌNH LONG
Hà Nội - Năm 2014
Trang 2II
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu do tôi tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, bài báo và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả
Trang 3
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đõ và đóng góp ý kiến chuyên môn của các đồng nghiệp ở Công ty Điện lực NghệAn
Cuối cùng tác giả vô cùng biết ơn sự quan tâm, động viên của gia đình và bạn bè trong thời gian qua Nhờ đó, tác giả có thêm nhiều thời gian và nghị lực để hoàn thành luận văn Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4
IV
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN II LỜI CẢM ƠN III MỤC LỤC IV DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ VII DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VIII DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ VIII DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU IX
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 1
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4.Phương pháp nghiên cứu 2
5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
6.Nội dung chính của luận văn 2
CHƯƠNG I 3
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN TRÊN THẾ GIỚI 3
1.1 Tổng quan về phát triển thị trường điện trên thế giới 3
1.1.1 Mô hình ngành điện truyền thống 3
1.1.2 Các yếu tố thúc đẩy cạnh tranh trong ngành điện 4
1.1.3 Những ý kiến trái chiều 6
1.2 Quá trình hình thành và phát triển thị trường điện của một số nước tiêu biểu 6
1.2.1 Các nước công nghiệp phát triển 6
1.2.2 Các nước Đông Âu 10
1.2.3 Các nước đang phát triển khác 11
Trang 5V
1.2.4 Các nước khu vực Châu Á 13
1.3 Một số mô hình thị trường điện cạnh tranh điển hình 14
1.3.1 Mô hình có sự tham gia của bên thứ ba (TPA - Third Party Access) 15
1.3.2 Mô hình một người mua 17
1.3.4 Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 21
1.4 Đánh giá về phát triển thị trường điện tại các nước và các vấn đề cần lưu ý khi áp dụng vào điều kiện Việt Nam 23
CHƯƠNG II 25
LỰA CHỌN MÔ HÌNH VÀ LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN TẠI VIỆT NAM 25 2.1 Quan điểm xây dựng và phát triển thị trường điện tại Việt Nam 25
2.2 Thị trường phát điện cạnh tranh tại Việt Nam 29
2.2.1 Giai đoạn thị trường nội bộ EVN 29
2.2.2 Giai đoạn thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh 38
2.3 Thị trường bán buôn điện cạnh tranh tại Việt Nam 46
2.3.1 Giai đoạn thử nghiệm 46
2.3.2 Giai đoạn thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn chỉnh 51
2.4 Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh tại Việt Nam 54
2.4.1 Giai đoạn thử nghiệm 54
2.4.2 Giai đoạn thị trường bán lẻ điện cạnh tranh hoàn chỉnh 56
CHƯƠNG III 59
LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI TIẾN HÓA ÁP DỤNG CHO THỊ TRƯỜNG ĐIỆN 59
3.1 Lý thuyết trò chơi 59
3.1.1 Giới thiệu lý thuyết trò chơi 59
3.1.2 Các yếu tố của trò chơi 60
3.1.3 Các loại trò chơi 61
3.1.4 Các vấn đề được nghiên cứu trong lý thuyết trò chơi 64
3.2 Cân bằng Nash (NE- Nash Equilibria) 64
3.2.1 Các ví dụ về cân bằng Nash- NE 65
Trang 6VI
3.2.2 Tính ổn định 68
3.2.3 Cân bằng Nash (NE) xảy ra 68
3.2.4 Tính toán cân bằng Nash 70
3.3 Lý thuyết trò chơi tiến hóa 71
3.3.1 Giới thiệu lý thuyết trò chơi tiến hóa 71
3.3.2 Sự thích ứng trò chơi tiến hóa và lý thuyết trò chơi (Adapting Game Theory to Evolutionary Games) 72
3.3.3 Cân bằng Nash (NE) và chiến lược tiến hóa ổn định (ESS-Evolutionarily Stable Strategy) 73
3.3.4 Ví dụ về sự khác nhau giữa NE và ESS 74
3.4 Lý thuyết trò chơi với thị trường điện cạnh tranh 76
3.5 Trò chơi tiến hóa trong chiến lược chào giá của các công ty phát điện 77
3.5.1 Lý thuyết trò chơi tiến hóa cho chiến lược chào giá của các công ty phát điện 78
3.5.2 Phân tích sự ổn định trong chiến lược chào giá các công ty phát điện dùng lý thuyết trò chơi tiến hóa 79
3.6 Kết luận 80
CHƯƠNG IV 81
PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CHÀO GIÁ CHO CÁC NHÀ MÁY BẰNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI TIẾN HÓA 81
4.1 Khái niệm chào giá 81
4.1.1 Sự cần thiết xây dựng một chiến lược chào giá 81
4.1.2 Các hình thức chào giá 82
4.1.3 Quy định bản chào giá theo thị trường phát điện cạnh tranh thí điểm 84
4.2 Kỳ vọng của các thành phần tham gia thị trường 85
4.2.1 Kỳ vọng của nhà sản xuất 85
4.2.2 Kỳ vọng của người tiêu thụ 86
4.3 Chi phí phát điện 88
4.3.1 Hàm chi phí phát điện 88
Trang 7VII
4.3.2 Chi phí biên phát điện 88
4.3.3 Tính toán giá trị nước cho hồ thủy điện 89
4.3.3.2 Quy định giá trị nước của Cục Điều tiết điện lực 90
4.4 Chào giá theo chi phí trong thị trường điện tập trung 90
Bài toán chào giá trong thị trường điện tập trung 91
4.5 Phân tích chiến lược chào giá của các công ty phát điện 94
4.5.1 Chiến lược chào giá 94
4.5.2 Nghiên cứu chiến lược chào giá cho các doanh nghiệp phát điện 94
4.5.3 Ứng dụng thực tế 96
4.6 Kết luận 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 8VIII
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Năm bắt đầu cải cách ngành điện của một số nước trên thế giới 3
Hình 1.2 Mô hình truyền thống ngành điện 4
Hình 1.3 Mô hình tham gia của bên thứ ba (TPA) 16
Hình 1.4 Mô hình thị trường một người mua 18
Hình 1.5 Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh 20
Hình 1.6 Mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh 22
Hình 2.1 Các giai đoạn phát triển thị trường điện ở Việt Nam 28
Hình 2.2 Cấu trúc thị trường một người mua nội bộ EVN 29
Hình 2.3 Cấu trúc thị trường phát điện cạnh tranh một đơn vị mua hoàn chỉnh 39
Hình 3.4 Cấu trúc thị trường bán buôn điện cạnh tranh 52
Hình 3.5 Cấu trúc thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 57
Hình 4.1: Phân loại các hình thức chào giá 82
Hình 4.2: Đồ thị đường chi phí các tổ máy 88
Hình 4.3: Đồ thị đường chi phí biên 89
Hình 4.7: Đồ thị chào mua và bán 92
Trang 9IX
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Giá trị thưởng phạt trò chơi búa, dao, kéo 62
Bảng 3-2: Chiến lược 1 của người chơi C 63
Bảng 3-3: Chiến lược 2 của người chơi C 63
Bảng 3-4: Chiến lược 3 của người chơi C 63
Bảng 3.5: Trò chơi chỉ có một trạng thái cân bằng Nash 66
Bảng 3.6: Trò chơi có hai trạng thái cân bằng Nash 66
Bảng 3.7: Lợi nhuận của G1/G2 ($) 67
Bảng 3.8: Trò chơi đồng xu 70
Bảng 3.9: Trò chơi người tù (Prisoners games) 74
Bảng 3.11: Ví dụ 3 75
Bảng 3.12: Ma trận thanh toán 2x2 của trò chơi không cân xứng 78
Bảng 4.1: Bản chào mua và chào bán 91
Bảng 4.2: Chi phí và doanh thu của mỗi công ty 92
Bảng 4.4: Bảng chào của nhà máy thứ nhất 96
Bảng 4.5: Bảng chào của nhà máy thứ hai 97
Bảng 4.6: Kết quả ma trận thanh toán từ kế hoạch chào giá trên 97
Trang 10Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
1
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
- Theo quy định của Luật Điện lực: Giá phát điện là một trong bốn thành phần
cơ bản của giá điện ( phát điện, truyền tải, phân phối và dịch vụ phụ trợ) trong đó
giá phát điện chiếm tỷ lệ lớn nhất
- Giá điện nói chung và giá phát điện nói riêng có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và tùy từng đối tượng trong chiến lược chào giá có những tiêu chí và những ảnh hưởng khác nhau:
- Đối với xã hội: chiến lược chào giá nhằm mục tiêu tổng chi phí phải trả cho
việc cung cấp điện là thấp nhất
- Đối với những người kinh doanh điện: giá chào phải mang lại lợi nhuận cao
cho những nhà cung cấp diện
- Đối với những người mua điện: giá chào phải thấp nhất mà thị trường chấp
- Trong điều kiện có nhiều yếu tố bất định như vậy, việc áp dụng các mô hình trò chơi trong lựa chọn quyết định chào giá có thể mang lại hiệu quả thiết thực
Xuất pháp từ thực tế trên tác giả đề xuất hướng nghiên cứu cho luận văn với tên đề tài
“Áp dụng mô hình lý thuyết trò chơi trong chiến lực chào giá của đơn vị phát
điện trong thị trường điện cạnh tranh”
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu quá trình phát triển của thị trường điện cạnh tranh
- Nghiên cứu sự hoạt động của các mô hình thị trường phát điện cạnh tranh
- Tìm hiểu các dạng thị trường điên, phân tích các phương pháp chào giá của các nhà máy điện thuộc ngành điện Việt Nam
- Nghiên cứu chiến lược chào giá trên thị trường điện Việt Nam bằng lý thuyết
Trang 11Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
2
trò chơi tiến hóa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Áp dụng mô hình lý thuyết trò chơi trong chiến lực chào giá của đơn vị phát điện trong thị trường điện cạnh tranh
- Phạm vi nghiên cứu: Thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
- Xác định giá thị trường cho các bên tham gia thị trường
- Tính toán trạng thái ổn định cho chiến lược chào giá bằng lý thuyết trò chơi tiến hóa để đưa ra giá bán điện hợp lý
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đưa ra phương thức vận hành nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng lợi nhuận cho các nhà máy
- Phù hợp với quá trình cải cách ngành điện Việt Nam và chuẩn bị cho các bước phát triển thị trường điện Việt Nam
6 Nội dung chính của luận văn
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về thị trường điện cạnh tranh
Chương 2: Lý thuyết trò chơi tiến hóa
Chương 3:Áp dụng lý thuyết trò chơi tiến hóa cho thị trường điện
Chương 4: Phân tích chiến lực chào giá của đơn vị phát điện trong thị trường điện
cạnh tranh bằng lý thuyết trò chơi tiến hóa
Trang 12Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
3
CHƯƠNG I
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN TRÊN THẾ GIỚI
Ngành công nghiệp điện của các nước trên thế giới trước những năm 80 của thế kỷ 20 về cơ bản đều có chung một cấu trúc là tất cả các khâu trong dây chuyền sản xuất, truyền tải và phân phối điện đều thuộc sở hữu của một công ty Xu thế cạnh tranh đã tạo nên những thay đổi đáng kể về nhận thức và hệ thống quản lý sản xuất kinh doanh đối với ngành điện
Từ năm 1980 trở lại đây, quá trình cải tổ ngành điện với những mức độ tự do hoá và thị trường hoá khác nhau đã được tiến hành ở nhiều nước thuộc nhiều khu
vực khác nhau trên thế giới (Hình 1.1)
1.1 Tổng quan về phát triển thị trường điện trên thế giới
1.1.1 Mô hình ngành điện truyền thống
Tổ chức sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp điện lực bao gồm 3 khâu chính: phát điện, truyền tải điện và phân phối điện đến người tiêu dùng Cấu trúc truyền thống của ngành điện là cả 3 chức năng nêu trên được tập trung trong một công ty điện lực quản lý trên một vùng lãnh thổ nhất định gọi là công ty liên kết dọc Tại một vùng lãnh thổ, công ty điện lực liên kết dọc sẽ sở hữu và vận hành tất cả các nhà máy điện, lưới truyền tải và lưới phân phối Việc tập trung các chức năng trong một công
ty như vậy xuất phát từ quan điểm cho rằng nếu như một công ty sở hữu và vận hành toàn bộ quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối điện thì việc phối hợp hoạt động một cách đồng bộ để đem lại hiệu quả là tốt nhất Với mô hình này các công ty điện lực sẽ độc quyền trong việc sản xuất và cung cấp điện cho người tiêu dùng Các công ty điện lực liên kết dọc này chủ yếu là thuộc sở hữu nhà nước với quan niệm cho rằng điện là một dạng hàng hoá đặc biệt, hệ thống điện thuộc cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mục tiêu lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất của hoạt động kinh doanh của các công ty điện
Trang 13Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
3
Hình 1.1 Năm bắt đầu cải cách ngành điện của một số nước trên thế giới
Chile Norway USA
(California)
Sweden NSW (Australia) New Zealand
Spain Singapore China
Finland Portugal Australia (Victoria, Queens- land) Japan Brazil Columbia India (Orrisa)
Tasmania (Australia)
EU
Austria Belgium Italia NetherLand S.Korea
Denmark Ireland France Ontario (Canada)
1980 82 1990 1991 1992 1993 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Trang 14Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
4
Hình 1.2 Mô hình truyền thống ngành điện
Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong mô hình độc quyền liên kết dọc sẽ không
có yếu tố cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh điện Tất cả các đơn vị thuộc công ty điện lực đều thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh do công ty đề ra
Về phía khách hàng mua điện cũng không có sự lựa chọn người bán Một lý do mà trước đây coi khâu phát điện cũng là độc quyền tự nhiên vì phạm vi độ lớn của nhà máy điện so với tiêu thụ là rất lớn Trong giai đoạn đầu những năm 80 của thế kỷ
20, quan niệm về điện đã có chiều hướng thay đổi khi người ta coi điện cũng là một loại hàng hóa đặc biệt không lưu trữ được Khâu phát điện và bán lẻ điện được coi
là có tiềm năng cạnh tranh còn khâu truyền tải và phân phối là mang tính độc quyền
tự nhiên Do vậy việc đưa cạnh tranh vào khâu phát điện và phân phối bán lẻ điện
đã được nhiều nước nghiên cứu và phát triển
1.1.2 Các yếu tố thúc đẩy cạnh tranh trong ngành điện
Từ thực tế phát triển thị trường điện các nước, có thể xác định những yếu tố
cơ bản thúc đẩy cạnh tranh trong ngành điện, bao gồm:
- Các yếu tố đặc thù của từng quốc gia: Đối với Mỹ thì mức chênh lệch về
giá điện thực tế so với chi phí biên dài hạn và mức chênh lệch về giá giữa các bang
là yếu tố thúc đẩy cạnh tranh Trong khi tại Cộng đồng Châu Âu thì nhân tố chính
Phát điện
Truyền tải điện
Phân phối điện
Khách hàng
Trang 15Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
5
trị muốn có một thị trường điện chung Châu Âu là yếu tố ảnh hưởng quan trọng Ở Nhật Bản, giá điện cao và sự tận dụng công suất phát do đồ thị phụ tải không đồng đều là nguyên nhân thúc đẩy cạnh tranh
- Nhu cầu huy động vốn đầu tư: Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt
là các nước khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nhu cầu vốn để xây dựng mới, đại
tu cải tạo các công trình điện là rất lớn Vốn ngân sách của Chính phủ thường không
đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư các công trình nguồn điện Theo dự báo của Uỷ ban Năng lượng Thế giới, trong giai đoạn 1990-2020, các nước trong khu vực cần đầu
tư khoảng 143 tỷ USD/năm, trong đó nguồn đầu tư nước ngoài ước tính cần khoảng
48 tỷ USD/năm Như vậy việc cải tổ ngành điện, phát triển thị trường điện cạnh tranh là giải pháp tích cực để thu hút được đầu tư tư nhân vào ngành điện
- Thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật: Quy mô của các nhà máy điện đã
được thay đổi nhờ có nguồn nhiên liệu khí rẻ tiền và các tổ máy tua bin khí có hiệu quả cao, công suất nhỏ phù hợp với cạnh tranh trong phát điện Ứng dụng công nghệ tin học cũng góp phần làm thay đổi quan điểm trước đây về kinh doanh của ngành điện Công nghệ tin học cũng hỗ trợ cho các công ty trong việc quản lý kỹ thuật, kinh doanh giao dịch khách hàng
- Ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa: Trong một nền kinh tế khép kín,
tính không hiệu quả của nền kinh tế dẫn đến chi phí cao đều chuyển cho khách hàng phải chịu Trong một nền kinh tế mở, hầu hết các ngành kinh tế đều có thể phát triển trong môi trường cạnh tranh, các nhà đầu tư thường lựa chọn những nơi có điều kiện đầu tư hấp dẫn nhất Như vậy, vấn đề toàn cầu hóa tạo ra áp lực tăng hiệu quả kinh doanh của ngành điện Nền kinh tế toàn cầu hỗ trợ việc cải tổ ngành điện bằng việc thúc đẩy sự xuất hiện của các công ty điện quốc tế những công ty có đủ nguồn lực để tham gia cạnh tranh trong các thị trường điện
- Ảnh hưởng của việc xây dựng thị trường điện ở các nước: Một thực tế
cho thấy rằng việc xây dựng thành công thị trường điện ở một số nước cũng có tác động tới các nước khác Các nước đi sau có thể rút ra các bài học về kinh nghiệm thành công cũng như thất bại trong quy trình xây dựng thị trường điện của các nước
Trang 16Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
6
đi trước Tác động tích cực của quá trình đưa cạnh tranh vào ngành điện đối với nền kinh tế một số nước như nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty điện lực,
giảm gánh nặng ngân sách đầu tư vào ngành điện, giảm giá bán điện v.v động lực
mạnh mẽ thúc đẩy các nước đi sau đặc biệt là các nước đang phát triển đẩy nhanh quá trình xây dựng thị trường điện
1.1.3 Những ý kiến trái chiều
- Một số nước không đạt được kỳ vọng
- Phân tán nguồn lực, khả năng đầu tư, vay vốn suy giảm, giảm khả năng đầu
tư ra nước ngoài
- Giá điện có xu hướng tăng
- Khó điều hành, rủi ro do thiếu kinh nghiệm
1.2 Quá trình hình thành và phát triển thị trường điện của một số nước
tiêu biểu
1.2.1 Các nước công nghiệp phát triển
Phần lớn các nước công nghiệp phát triển đã thực hiện cải tổ ngành điện và phát triển thị trường điện lực ở các mức độ khác nhau và nhiều nước đã đạt được những thành công nhất định, ảnh hưởng của phát triển thị trường điện cạnh tranh chỉ thể hiện
rõ trong giai đoạn dài hạn do kết quả tốt hơn của các quyết định đầu tư Trong giai đoạn ngắn hạn, mở ra thị trường cạnh tranh đã tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh được ghi nhận ở nhiều nước công nghiệp phát triển trên cơ sở tư nhân hóa, công ty hóa Giá điện cho khách hàng được giảm đáng kể ở một số nước và giữ ổn định ở một số nước khác Giá bán buôn được giữ ở mức thấp so với chi phí xây dựng nguồn mới
Trong các nước phát triển, United Kingdom, Australia, Norway, New Zealand
và Sweden là những nước đã thực hiện cải tổ ngành điện, phát triển thị trường điện sớm nhất và đã đạt được nhiều lợi ích đáng kể Việc cải tổ ngành điện tại các nước này đều bắt đầu từ việc chia tách hoạt động truyền tải ra khỏi phát điện và phân phối điện Đồng thời việc chia tách ngang và thiết lập một số lượng nhất định các công ty phát
Trang 17Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
7
hoặc phân phối cũng được thực hiện để hạn chế lũng đoạn thị trường Việc giám sát quá trình cải tổ và hoạt động của thị trường được thực hiện bởi cơ quan điều tiết Cơ quan này là một cơ quan độc lập, một số nước có thể trực thuộc Bộ Mô hình ban đầu của thị trường các nước này thường là mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh
Các nước công nghiệp phát triển khác trong khối OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development) đều đã hoặc đang thực hiện phát triển thị trường điện bao gồm toàn bộ các nước trong Cộng đồng Châu Âu, Canada, Japan và các bang của Mỹ Ủy ban Châu Âu đã thông qua một định hướng phát triển thị trường điện Châu Âu (EC 96/92) vào ngày 19/12/1996 Theo đó các nước trong Cộng đồng Châu Âu sẽ đưa định hướng này vào Luật Điện của từng quốc gia
và thực hiện phát triển thị trường theo một định hướng chung Theo đó thời hạn và mức độ phát triển thị trường được xác định chung cho các nước thành viên Nhiều nước đã thực hiện phát triển thị trường sớm hơn dự kiến Đến năm 1999, thị trường cạnh tranh bán lẻ đã phát triển tại Finland, Sweden, UK và Germany Tại Denmark vào năm 2000, tại Spain và Netherland vào năm 2007
Vai trò vận hành lưới truyền tải trong giai đoạn đầu hình thành thị trường
chủ yếu dưới mô hình có sự tham gia của bên thứ ba có điều tiết hoặc theo thoả
thuận Phần lớn các nước áp dụng hình thức có điều tiết Một số ít nước sử dụng mô hình một người mua Sau đây sẽ mô tả tóm tắt quá trình phát triển thị trường điện, những thành công và tồn tại của thị trường điện tại một số nước điển hình
1 Tại Liên hiệp Anh
Quá trình cải tổ và mức độ phát triển thi trường
- Năm 1983, thông qua Luật Điện, khuyến khích xây dựng các IPP bán điện cho Công ty Điện lực Trung ương (CEGB - Central Electricity Generating Board)
- Năm 1989, ra đời Luật Điện mới tạo cơ sở cho cải cách CEGB được tách thành 2 công ty phát điện (National Power chiếm 46% và PowerGen chiếm 28% tổng công suất đặt của hệ thống điện England và Wales), 1 công ty truyền tải quốc gia (NGC - National Grid Company) có cổ đông là 12 công ty điện lực vùng được
Trang 18Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
8
hình thành Thị trường điện hình thành tại Anh và sứ Wales theo mô hình cạnh tranh bán buôn Các giao dịch là bắt buộc thông qua thị trường Tuy nhiên vẫn có một số lượng nhỏ giao dịch theo hình thức hợp đồng song phương Các khách hàng công nghiệp lớn và các công ty phân phối được quyền lựa chọn nhà cung cấp Tham gia lưới điện theo hình thức có điều tiết NGC đóng vai trò điều độ hệ thống và vận hành thị trường Cơ quan Điều tiết Điện lực (OFFER - Office of Electricity Regulatory) giữ vai trò điều tiết
- Từ năm 1998, các khách hàng mua điện, kể các hộ gia đình đều có quyền lựa chọn người bán điện, như vậy thị trường bán lẻ điện cạnh tranh đã phát triển hoàn toàn
- Năm 1999, Cơ quan Điều tiết Điện lực và Cơ quan Điều tiết Khí được sáp nhập thành Cơ quan Điều tiết Điện - Khí (OFGEM - Offce of Gas and Electricity Regulatory)
- Năm 2002, tại Liên hiệp Anh bắt đầu tiến hành cải cách tổ chức của thị trường điện, chuyển từ hình thức bắt buộc sang tự nguyện, hạn chế các rủi ro đối với người mua điện trên thị trường
Các thành công và vấn đề tồn tại
Khối Liên hiệp Anh là một ví dụ điển hình về quá trình tái cơ cấu và phát triển thị trường điện cạnh tranh, tư nhân hoá và cải cách thể chế trong công nghiệp điện Nhìn chung, việc cải cách ngành điện ở Liên hiệp Anh được đánh giá là thành công Các kinh nghiệm của phát triển TTĐ tại Liên hiệp Anh đã trở thành khuôn mẫu về chính sách cải tổ và phát triển thị trường điện cạnh tranh trong ngành điện cho một số quốc gia khác Theo tài liệu của Uỷ ban Năng lượng Thế giới, từ năm
1990, năng suất lao động của ngành công nghiệp điện tăng đáng kể (tăng 8% từ
1988 đến 1995) Giá bán điện cho người tiêu dùng giảm đáng kể (7,5% từ 1990 đến 1995) Các công ty phát điện kinh doanh có lãi với tỷ lệ thu hồi vốn 25% đối với hai
công ty lớn nhất trong giai đoạn 1993 đến 1999 Việc giảm giá điện đối với người
sử dụng tại UK được đánh giá là do cơ chế điều tiết và áp lực cạnh tranh
Trang 19Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
9
2 Tại Australia
Quá trình cải tổ và phát triển thị trường Việc cải tố và tư nhân hóa tại
Australia được tiến hành cả ở cấp Bang và Liên Bang
- Năm 1994, công ty điện lực bang Victoria được chia thành 5 công ty phát điện,
29 công ty phân phối cũ được sáp nhập lại thành 5 công ty phân phối Lưới điện truyền tải được chia ra làm 2 vùng do 2 công ty quản lý, Cơ quan Vận hành thị trường bang (Victorian Power Exchange) được thành lập để vận hành thị trường bán buôn điện và công ty lưới điện Victoria (PowerNet Victoria) quản lý lưới truyền tải điện Mô hình ban đầu là cạnh tranh bán buôn Năm 1996, bắt đầu hình thành thị trường cạnh tranh bán lẻ ở bang Victoria, các khách hàng lớn được quyền lựa chọn mua điện từ 5 công ty phân phối Đến năm 2000, tất cả các khách hàng đều được tự do lựa chọn nhà cung cấp
- Năm 1994 bắt đầu tái cơ cấu ngành điện bang New South Wales Phần truyền tải của Pacific Power (TCTY Điện lực bang NSW) được tách ra và hình thành lên một doanh nghiệp riêng thuộc sở hữu Nhà nước là Trans Grid 25 công ty
phân phối được sáp nhập và tập đoàn hóa thành 6 công ty phân phối vào năm 1996
Năm 1996 , thị trường bán buôn New South Wales bắt đầu đi vào hoạt động
- Thị trường điện quốc gia của Australia National Electricity Market-NEM)
được thành lập theo từng giai đoạn trên cơ sở thị trường điện các bang Giai đoạn 1
của thị trường (NEM 1) hoạt động vào năm 1997 với sự liên kết của các bang Victoria, NSW và khu hành chính Thủ đô Đến cuối năm 1998 NEM bắt đầu đi vào hoạt động chính thức với sự tham gia thêm của 2 bang là South Australia, Queensland Tasmania dự kiến sẽ tham gia thị trường vào năm 2005 Giai đoạn đầu thực hiện mô hình cạnh tranh bán buôn Từ năm 2002 bắt đầu thực hiện mô hình thị trường bán lẻ điện toàn phần, các hộ gia đình cũng có quyền lựa chọn nhà cung cấp Công ty quản lý thị trường điện quốc gia (National Electricity Market Management Company- NEMCO) chịu trách nhiệm điều độ hệ thống và vận hành thị trường NEM là thị trường bắt buộc, các nguồn phát từ 30MW trở lên đều phải bán điện lên thị trường Các hợp đồng song phương là các hợp đồng tài chính nhằm hạn chế các rủi ro do biến động về giá cả trên thị trường
Trang 20Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
10
Năm 1995 Cơ quan Điều tiết Điện lực quốc gia độc lập (Aụstralian Competition and Consumer Commission - ACCC) được thành lập Từng bang lại có các cơ quan điều tiết riêng cho điều tiết thị trường điện từng bang Từ đầu năm 2005 các cơ quan điều tiết liên bang và tiểu bang được thống nhất lại thành 1 cơ quan điều tiết duy nhất
Các thành công và vấn đề tồn tại
Việc mở ra thị trường cạnh tranh tại Australia được đánh giá là thành công Giá điện giảm đáng kể Đặc biệt là ở giá bán buôn Trong 2 năm từ 1995 đến 1997 giá bán buôn trên thị trường Victoria giảm hơn một nửa từ 28,1 A$ xuống còn 12,5 A$/1 MWh Các khách hàng được tự do lựa chọn nhà cung cấp điện Mức độ sẵn sàng của nguồn điện tăng lên, từ 84% năm 1992 tăng đến 93% năm 1999
Một số vấn đề tồn tại cần xem xét nghiên cứu như sau:
- Tiến trình tái tổ chức lại ngành điện ở các bang là khác nhau và ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố chính trị Điều này ảnh hưởng đến việc buôn bán giữa các bang trong thị trường điện quốc gia
- Nguyên tắc xác định giá khác nhau giữa các bang sẽ ảnh hưởng đến sự không công bằng về cơ hội
- Cơ quan điều tiết ở cấp liên bang và tiểu bang cùng tồn tại nên có nhiều trùng lặp về chức năng và đã phải tiến hành hợp nhất thành một cơ quan duy nhất
1.2.2 Các nước Đông Âu
Trước kia, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung của các nước xã hội chủ nghĩa thuộc Đông Âu, các công ty điện lực quốc gia ở các nước này đều theo mô hình liên kết ngành dọc Hệ thống điện các nước này khi đó nối với hệ thống điện của Liên Xô cũ và đã thực hiện mua bán điện liên quốc gia trong khuôn khổ khối Hội đồng Tương trợ kinh tế Sau khi khối xã hội chủ nghĩa sụp đổ tại Đông Âu, rất nhiều nước trong số này (Hungary, Poland, Cộng hoà Séc, v.v ) đã theo đuổi các chương trinh tư nhân hoá sâu rộng, kể cả ngành điện Tuy nhiên, quá trình hình
Trang 21Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
11
thành thị trường tại các nước này cũng chỉ mới bắt đầu Đây cũng là xu thế chung của Châu Âu
Mô hình chủ yếu tại các nước này là mô hình một người mua duy nhất
1.2.3 Các nước đang phát triển khác
Xu thế phát triển thị trường điện tại các nước đang phát triển chậm hơn so với các nước công nghiệp phát triển Thị trường điện đã được mở ra ở một số nước khu vực Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La tinh Chile là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện cải tổ ngành điện Trong các nước đang phát triển Argentina và Chile được coi là có những thành công nhất định Thị trường điện tức thời của Argentina tương tự như thị trường điện quốc gia Australia Dưới đây là tóm tắt quá trình phát triển thị trường của một số nước đang phát triển điển hình
1 Tại Chile
Quá trình cải tổ và mức độ phát triển thị trường
Năm 1982 Luật Điện lực ra đời Ý tưởng đầu tiên được đưa ra để thực hiện xây dựng thị trường là chia tách các công ty nguồn và phân phối ra khỏi truyền tải Sau khi đã chia tách các công ty điện liên kết dọc, một loạt các thị trường điện khu vực đã được thành lập hoạt động theo điều khiển của các cơ quan vận hành hệ thống độc lập (ISO) Tiếp theo là thành lập cơ quan điều tiết và tiến hành cải cách cơ bản
về giá Song song với việc cải tổ, quá trình tư nhân hóa cũng được tiến hành Đến cuối những năm 90, phần lớn các công ty điện của Chile đã được sở hữu bởi các công ty tư nhân Mô hình thị trường của Chile hiện nay là mô hình bán lẻ với các khách hàng lớn được quyền lựa chọn nhà cung cấp
Các thành công và vấn đề tồn tại
Chile là một trong những nước đang phát triển thực hiện thành công thị trường điện Việc mở rộng các nguồn điện chủ yếu được đóng góp bởi các nhà đầu tư nước ngoài trong khi vẫn giữ được giá cung cấp điện thấp Giá điện ở Chile thấp so với tiêu chuẩn Quốc tế Giá điện sinh hoạt trung bình năm Uscents/kWh 2002 là 8.25 và giá
Trang 22Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
12
điện công nghiệp là 5,51 US cent/kWh Trong giai đoạn 1992 đến 2002, giá điện trung
bình đã giảm được 30%
2 Tại Argentina
Quá trình cải tổ và mức độ phát triển thị trường
- Trước khi bắt đầu tư nhân hóa vào năm 1991, ngành diện lực Argentina bao gồm 4 công ty liên bang, 2 công ty liên doanh quản lý hai nhà máy thủy điện liên doanh giữa Argentina - Paraguay, Argentina - Uruguay, 19 công ty điện lực khu vực
- Cơ sở pháp lý cho tư nhân hóa là việc thông qua hai bộ luật (Luật Tình trạng khẩn cấp và Luật về Cải cách) vào năm 1989 Đến năm 1992, Luật Điện ra đời là cơ sở pháp lý cho quá trình cải cách lại ngành điện lực Cũng giống như Chile, quá trình cải cách bắt đầu với việc tách sản xuất khỏi truyền tải, bán bớt một
số nhà máy và một số công ty phân phối Từng bước thực hiện tư nhân hóa
- Thị trường điện bán buôn tại Argentina được thành lập năm 1992 Thị trường điện bán buôn được điều hành bởi một cơ quan vận hành độc lập phi lợi nhuận, gọi là Cammesa Cơ quan này là một liên doanh của Chính phủ và các công
ty phát điện Giữ vai trò điều tiết là ENRE ENRE chịu trách nhiệm đảm bảo quyền
sử dụng lưới truyền tải bình đẳng cho các đối tượng tham gia thị trường, giám sát toàn bộ hoạt động của ngành điện Hiện nay thị trường Argentina đang ở mô hình cạnh tranh bán lẻ
Các thành công và vấn đề tồn tại
Từ khi cải cách, đã có nhiều sự cải thiện đáng kể trong sản xuất và kinh doanh điện Giá điện giảm, độ tin cây cung cấp điện tăng, thất nghiệp giảm, năng suất lao động cao hơn, đầu tư nước ngoài tăng lên, giảm được gánh nặng về nợ nước ngoài của Chính phủ Giá điện giảm, năm 1997 đã giảm được 60% so với năm
1992 Độ tin cậy cung cấp điện ở mức 22 giờ mất điện năm 1992 xuống chỉ còn 6
giờ năm 1995
Trang 23Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
13
1.2.4 Các nước khu vực Châu Á
Quá trình cải tổ cơ cấu và thiết lập thị trường điện cũng bắt đầu diễn ra ở một số tỉnh của Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á như Singapore Thái Lan, Philippines, v.v với những bước đi và thành tựu khác nhau Tuy nhiên, chính thức mới chỉ có Singapore và tỉnh Triết Giang (Trung Quốc) là đã thiết lập được thị trường điện cạnh tranh Triết Giang thực hiện mô hình cạnh tranh phát điện một người mua Singapore mới bắt đầu thực hiện mô hình cạnh tranh: bán buôn, các khách hàng lớn được lựa chọn nhà cung cấp Tóm tắt một số nét về cải tổ và phát triển thị trường một
số nước trong khu vực như sau:
1 Tại Trung Quốc
Quá trình cải tổ và mức độ phát triển thị trường
- Năm 1996, Luật Điện ra đời là cơ sở khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng
các nhà máy điện độc lập IPP Tính đến năm l999, khoảng hơn 50% sản lượng điện
của Trung Quốc là do các IPP sản xuất
- Năm 1998, Trung Quốc bắt đầu tập trung nghiên cứu phát triển thị trường điện xây.dựng thị trường điện thí điểm tại một số tỉnh Sơn Đông, Thượng Hải, Triết Giang, Lianing, Jilin và Hắc Long Giang
- Hiện tại tỉnh Triết Giang và một số tỉnh đã đưa thị trường điện vào hoạt động như Henan, Jiángu, Tứ Xuyên, Hunan Thị trường điện thí điểm của Trung Quốc được xây dựng theo mô hình thị trường điện một người mua Trong đó, công ty điện lực tỉnh đóng vai trò người mua duy nhất trên thị trường
- Đồng thời với việc xây dựng thị trường điện, Trung Quốc đã thành lập Cơ quan Điều tiết Điện lực Quốc gia (SERC) làm nhiệm vụ quản lý,
2 Tại Singapore
Quá trình cải tổ và mức độ phát triển thị trường
- Năm 1995, ngành điện lực Singapore tiến hành cải tổ cơ cấu tổ chức phân tách Cục Điện lực trước đây thành các doanh nghiệp hoạt động trong từng khâu của dây chuyền kinh doanh điện Hai công ty Power Senoko và Power Seraya chịu trách
Trang 24Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
14
nhiệm quản lý các nhà máy điện cũ, công ty Tuas Power là công ty con của công ty Temasek Holding Pte.Ld thuộc sở hữu nhà nước Trong khâu truyền tải, công ty PowerGrid được giao trách nhiệm quản lý lưới điện phân phối và truyền tải đồng thời đảm nhận nhiệm vụ quản lý thị trường điện Trong khâu phân phổi Công ty Power Supply là công ty chịu trách nhiệm trong khâu phân phối và bán lẻ
- Thị trường điện Singapore bắt đầu hoạt động từ tháng 8/1998 do công ty Power Grid điều hành và quản lý Thị trường điện Singapore được tổ chức theo hình thức thị trường bắt buộc, tất cả điện năng giao dịch mua bán đều phải tham gia thị trường Tham gia thị trường điện ngoài 3 công ty phát điện nêu trên, còn có sự tham gia của công ty phát điện trực thuộc Bộ Môi trường, một số IPP trong nước, nước ngoài và các công ty bán buôn điện Hiện tại thị trường điện tại Singapore là mô hình bán buôn điện cạnh tranh
Các thành công và vấn đề tồn tại
Singapore là quốc gia đi đầu trong lĩnh vực cải cách ngành điện trong khu vực Đông Nam Á Singapore có nhiều thuận lợi để triển khai vì hệ thống điện tương đối gọn, với nhiều hộ tiêu thụ điện công nghiệp lớn Bài học rút ra là sự kết hợp đồng bộ giữa cải tổ mô hình tổ chức ngành điện như phân tách công ty, công ty hóa,
tư nhân hóa với xây dựng thị trường điện
1.3 Một số mô hình thị trường điện cạnh tranh điển hình
Thực tế cho thấy rằng, trong dây chuyền sản xuất kinh doanh của ngành điện, khâu truyền tải và phân phối luôn mang tính chất độc quyền tự nhiên và sẽ tiếp tục giữ vai trò độc quyền trong tương lai Lý do chính là vì chi phí đầu tư xây dựng hệ thống lưới điện rất lớn nên việc cung cấp dịch vụ truyền tải và phân phối sẽ
rẻ hơn và hiệu quả hơn rất nhiều khi một công ty cung cấp dịch vụ này trên một phạm vi địa lý nhất định thay vì nhiều công ty khác nhau cùng xây dựng nhiều hệ thống hạ tầng kỹ thuật trên cùng một địa bàn để cung cấp cho một khu vực hoặc một khách hàng Thời gian gần đây, nhiều mô hình cạnh tranh trong các hoạt động điện lực đã được nghiên cứu và phát triển ở nhiều nước trên thế giới Để việc cạnh
Trang 25Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
15
tranh có hiệu quả, cần phải đảm bảo quyền được đấu nối vào lưới công bằng, không phân biệt đối xử giữa các đối tượng tham gia thị trường Thực tế quá trình phát triển thị trường cạnh tranh trên thế giới cho thấy có hai hình thức cơ bản của cạnh tranh trong ngành điện là mô hình có sự tham gia của bên thứ ba (Third Party Access - TPA) và các mô hình thị trường cạnh tranh Hình thức thứ hai thể hiện dưới 3 dạng
mô hình cơ bản là : thị trường một người mua, thị trường cạnh tranh bán buôn, thị trường cạnh tranh bán lẻ Ngoài ra còn có một số biến thể của các mô hình này tùy theo đặc thù phát triển thị trường điện của các nước
1.3.1 Mô hình có sự tham gia của bên thứ ba (TPA - Third Party Access)
Mô hình này thực chất là hình thức "bán dịch vụ truyền tải" trong đó khách hàng và nhà sản xuất ký với nhau hợp đồng song phương, công ty sở hữu lưới truyền tải chịu trách nhiệm điều hành lưới truyền tải để chuyên tải điện năng từ nhà sản xuất đến khách hàng mua điện cuối cùng và được hưởng một khoản phí dịch vụ cho công việc này Có hai loại tổ chức mô hình có sự tham gia của bên thư ba, gồm:
Mô hình có điều tiết (Regulated TPA) và mô hình thỏa thuận (Negotiated TPA) Trong mô hình TPA có điều tiết, các công ty muốn nối lưới ký kết hợp đồng dựa trên các qui định đấu nối, mức cước phí do cơ quan điều tiết qui định trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của các bên Đối với mô hình TPA thỏa thuận, các công ty tự thoả thuận về mức cước phí và các điều kiện để nối lưới Trong hai cách nêu trên, cách thứ nhất có nhiều điểm ưu điểm hơn vì nó sẽ hạn chế được hiện tượng phân biệt đối xử của công ty quản lý lưới điện với các công ty sử dụng lưới điện và tiết kiệm đáng kể chi phí giao dịch Mô hình TPA được mô tả ở Hình 1.3
Mô hình có sự tham gia của bên thứ ba được thực hiện cá ở lưới điện truyền tải và lưới điện phân phối Mô hình này tạo ra sự cạnh tranh trong khâu phát điện và phân phối điện Việc thực hiện mô hình này sẽ hạn chế sự lạm dụng vị thế độc quyền của các công
ty điện lực liên kết dọc trong kinh doanh bán điện cho các khách hàng, khuyến khích các công ty mới tham gia vào kinh doanh điện Mô hình tham gia của bên thứ ba được lựa chọn trong giai đoạn đầu của công cuộc cải cách thị trường hoá ngành điện ở các nước
Trang 26Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
- Khách hàng được quyền lựa chọn nhà cung cấp;
- Không yêu cầu phải có sự phân tách về chức năng của công ty điện liên kết dọc
2 Hạn chế:
- Cần phải có các qui định tham gia lưới và điều tiết đủ mạnh do sẽ có nhiều khả năng xung đột lợi ích khi công ty liên kết dọc phải cho các đơn vị ngoài sử dụng lưới;
- Phải có phương pháp và qui định tính toán phí truyền tải phức tạp
- Hệ thống cơ sở hạ tầng cho vận hành đo đếm sẽ phải đầu tư rất lớn
Phát điện
Truyền tải điện
Phân phối điện
Khách hàng IPP
KH đủ điều kiện
Trang 27Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
17
1.3.2 Mô hình một người mua
Mô hình một người mua được mô tả ở Hình 1.4 Mô hình này được coi là bước đầu của quá trình cải tổ tiến tới tự do hoá trong kinh doanh điện Mô hình một người mua đòi hỏi phải có sự tách biệt giữa khâu truyền tải và phát điện để đảm bảo cạnh tranh hiệu quả Mô hình một người mua cho phép các nhà đầu tư tư nhân xây dựng, sở hữu và quản lý các nhà máy điện độc lập (Independent Power Producer - IPP) Các công ty phát điện phải cạnh tranh để bán điện cho Đơn vị mua điện duy nhất (Single Buyer - SB) Đơn vị mua duy nhất độc quyền mua điện từ các nguồn phát và bán điện đến các khách hàng sử dụng điện Các công ty phát điện sẽ cạnh tranh để được xây dựng nhà máy và bán điện theo các hợp đồng mua điện - Power Purchase Agreement) thỏa thuận giữa nhà sản xuất và Đơn vị mua duy nhất Thực chất đây là mô hình chuyển tiếp được bắt đầu bằng việc cho phép cạnh tranh trong lĩnh vực phát điện trong khi chưa có điều kiện để thiết lập các thiết chế của thị trường cạnh tranh đến tận khâu bán buôn và bán lẻ Mô hình này bảo đảm rủi ro ít nhất cho các IPP, vì vậy làm tăng trách nhiệm của các công ty điện lực mặc dù nó tạo động lực thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực phát điện Việc lựa chọn thời điểm đầu
tư, vị trí đầu tư chịu ảnh hưởng của các nhà lập kế hoạch nhiều hơn là của bản thân doanh nghiệp Thị trường phát điện cạnh tranh một người mua đòi hỏi phải chia tách chức năng của các khâu truyền tải và phát điện trong mô hình liên kết dọc
Việc cho phép các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước đầu tư vào xây dựng các IPP sẽ giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho ngân sách của Chính phủ đầu tư vào ngành điện, chia sẻ bớt các rủi ro khi đầu tư xây dựng các nhà máy điện Việc
đa dạng hóa thành phần sở hữu trong phát điện cũng là động lực để nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm giá thành sản xuất điện của các nhả máy điện Trong giai đoạn đầu hình thành thị trường điện có nhiều nước đã trải qua mô hình này Chủ yếu là các nước Đông Âu, các nước thuộc Liên Xô cũ và các nước đang phát triển như Hàn Quốc, Nam Mỹ, một số nước Đông Nam Á và tại một số tỉnh của Trung Quốc
Trang 28Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
giao ngay Ổn định được giá điện, giảm áp lực tăng giả
- Thu hút được đầu tư vào các nguồn điện mới, giảm nhẹ được yêu cầu vốn đầu tư từ Chính phủ cho ngành điện, là mô hình thích hợp cho thời ký cỏ nhu cầu điện tăng với tốc độ cao, nhu cầu đầu tư nguồn điện mới lớn
- Không gây ảnh hưởng lớn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty phân phối hiện tại, do đó không ảnh hưởng trực tiếp tới các khách hàng sử
Công ty phát Công ty phát Công ty phát IPP
Công ty
phân phối/
Bán lẻ
Công ty phân phối/
Bán lẻ
Công ty phân phối/
Bán lẻ
Khách hàng Khách hàng Khách hàng Khách hàng lớn
Đơn vị mua duy nhất
Trang 29Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
19
dụng điện, các công ty phân phối có đủ thời gian để tăng cường năng lực tài chính
và quản lý, chuẩn bị cho các cấp độ cạnh tranh cao hơn trong tương lai;
- Mô hình thị trường đơn giản nên hệ thống các qui định cho hoạt động của thị trường chưa phức tạp;
- Nhu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường không lớn
2 Hạn chế
- Đơn vị mua duy nhất được độc quyền mua buôn điện từ các đơn vị phát điện nên có nhiều điều kiện cho các tiêu cực trong điều hành thị trường xuất hiện
Vì vậy, đòi hỏi phải có mức độ điều tiết rất cao;
- Mức độ cạnh tranh chưa cao, chỉ giới hạn cạnh tranh trong phát triển các nguồn điện mới và một phần cạnh tranh trong thị trường ngắn hạn Sức ép đối với các đơn vị phát điện giảm chi phí, tăng hiệu quả chưa lớn Không có cơ hội cho các công ty phân phối lựa chọn nhà cung cấp;
- Đơn vị mua duy nhất phải có năng lực tài chính đủ mạnh để đảm bảo thực hiện các PPA đã ký và đủ uy tín thu hút các nhà đầu tư mới;
- Chưa có lựa chọn mua điện cho các công ty phân phối và khách hàng
1.3.3 Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh
Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh tạo ra sự cạnh tranh trong khâu phát
và bán buôn điện Điểm khác biệt nổi bật đối với mô hình một người mua là các công ty phân phối được quyền lựa chọn mua điện trực tiếp từ bất cứ công ty phát điện nào không nhất thiết phải từ Đơn vị mua duy nhất, tuy nhiên khâu bán lẻ điện đến các khách hàng dùng điện vẫn độc quyền bởi các công ty phân phối tùy theo địa bàn quản lý Trong mô hình này sẽ xuất hiện một số các công ty kinh doanh mua bán điện nhưng không sở hữu lưới điện Các công ty này sẽ thực hiện các hợp đồng mua bán điện với các công ty phát điện và với các công ty phân phối
Trong mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh, các công ty phát điện sẽ
tự do cạnh tranh và chịu các rủi ro trong đầu tư kinh doanh Các giao địch mua bán
Trang 30Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
20
điện năng được thực hiện thông qua các hợp đồng song phương hoặc thông qua thị trường tức thời hoặc dưới cả hai hình thức Thị trường điện có thể ở dạng tự nguyện hoặc bắt buộc Trong thị trường bắt buộc, tất cả điện năng bán buôn tại lưới truyền tải đều bắt buộc phải thực hiện thông qua thị trường Ưu điểm nổi bật của mô hình thị trường điện bắt buộc là số lượng giao dịch ít nên chi phí giao dịch thấp, ít
có tranh chấp giữa các bên khi thực hiện các hợp đồng mua bán điện Nhược điểm của mô hình này là người mua chưa hoàn toàn được quyền lựa chọn phương thức mua điện phù hợp nhất Mô hình cạnh tranh bán buôn được mô tả trên hình 1.5
Hình 1.5 Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh
bán lẻ
Công ty phân phối/
bán lẻ
Khách hàng
Công ty phát Công ty phát
Công ty phân phối/
bán lẻ
Khách hàng Khách hàng Khách hàng Lưới truyền tải & Thị trường bán buôn
Trang 31Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
1.3.4 Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
Mô hình bán lẻ cạnh tranh là bước phát triển cao nhất, cuối cùng của cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh điện Trong mô hình này, cho phép cạnh tranh trong tất cả các khâu phát điện, bán buôn và bán lẻ điện Vấn đề cơ bản của mô hình này
là sự chia tách hoàn toàn khâu phát điện và bán lẻ ra khỏi khâu truyền tải và phân phối Không còn độc quyền bán lẻ nữa Tuỳ theo từng bước phát triển thị trường, các khách hàng sẽ dần được quyền lựa chọn mua điện từ các công ty bán lẻ, các công ty bán lẻ lại được quyền lựa chọn mua điện từ các công ty phát điện hoặc các đơn vị bán buôn điện hoặc thông qua thị trường bán buôn điện Thông qua cạnh tranh, các công ty kinh doanh điện buộc phải tìm cách nâng cao năng suất lao động
và hiệu quả kinh doanh Điện năng thực sự trở thành hàng hoá, được giao dịch mua bán trên thị trường Mô hình cạnh tranh bán lẻ được trình bày ở hình 1.6
1 Ưu điểm:
- Mức độ cạnh tranh tăng rất nhiều Khách hàng dùng điện được hưởng lợi trực tiếp từ cạnh tranh, được lựa chọn mua điện Xóa bỏ hoàn toàn độc quyền trong kinh doanh mua bán điện;
- Chất lượng dịch vụ, chất lượng điện năng sẽ được nâng lên đáng kể; giá điện do cạnh tranh cao nên có thể giảm đáng kể
Trang 32Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
22
- Giảm dần tiến tới loại bỏ bù chéo trong kinh doanh phân phối và bán lẻ điện giữa các vùng trong cả nước
- Mức độ điều tiết trong thị trường giảm đi rất nhiều so với hai cấp độ trước
Hình 1.6 Mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh
Lưới phân phối & Thị trường bán lẻ
Trang 33Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
trình bày ở phần 1.1.2 Việc phát triển thị trường điện phải bắt đầu từ chính sách cải
tổ ngành điện Mục tiêu của cải tổ thường khác nhau đối với từng nước; Tại các nước công nghiệp phát triển, mục tiêu của cải tổ tập trung chủ yếu vào nâng cao hiệu quả hoạt động và thực tế đã đã đạt được những kết quả nhất định Đối với các nước đang phát triển, vấn đề thu hút vốn đầu tư là ưu tiên hàng đầu Ngoài ra còn phải đối mặt với các vấn đề khác như hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao, sự quản lý không chặt chẽ, các qui trình qui tắc chưa rõ ràng, cơ chế giá chưa hợp lý, tốc độ tăng trưởng phụ tải cao, tác động xấu đối với môi trường Cơ cấu ngành điện truyền thống cho thấy khó có thể đáp ứng những yêu cẩu phát triển ngành điện trong tương lai với một nền kinh tế hội nhập
Quá trình phát triển thị trường điện thường là khác nhau tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể của từng nước và chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi nền tảng kinh tế chính trị đặc thù Qua nghiên cứu quá trình cải tổ và phát triển thị trường điện của các nước, từ các kinh nghiệm và bài học thu được có thể rút ra một số đặc điểm lưu ý khi phát triển thị trường điện tại Việt Nam như sau:
- Về cấp độ phát triển thị trường Phần lớn các nước Châu Âu áp dụng mô
hình TPA ban đầu sau đó chuyển sang thị trường bán buôn và mục tiêu cuối cùng là bán lẻ Việc phát triển thị trường điện tại Việt Nam cũng cần thực hiện qua từng bước Mục tiêu ban đầu là thu hút vào đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phụ tải cao đồng thời giảm gánh nặng về vốn đầu tư của Chính phủ Sau đó sẽ tăng hiệu quả hoạt động của ngành điện và mở rộng quyền lựa chọn của khách hàng
Trang 34Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
24
- Về cấu trúc thị trường Để thị trường điện hoạt động hiệu quả, các khâu
độc quyền tự nhiên như truyền tải và phân phối điện cần được tách ra khỏi các khâu
có tiềm năng cạnh tranh như phần nguồn phát và phần bán lẻ điện Việc chia tách này sẽ bao gồm chia tách dọc, tức là tách nguồn và phân phối hoặc bán lẻ ra khỏi truyền tải và chia tách ngang, tức là xác định số lượng hợp lý các công ty phát điện hoặc phân phối/ bán lẻ để đảm bảo hiệu quả cạnh tranh Có 3 hình thức chia tách: chia tách về hạch toán trong 1 công ty, chia tách về chức năng thành các công ty trực thuộc một công ty mẹ, chia tách về chức năng thành các công ty độc lập
- Về điều tiết điện lực Hệ thống các văn bản pháp lý hoàn chỉnh đồng bộ
với Luật Điện lực phải được ban hành trên cơ sở các mục tiêu đề ra Cần phân biệt
rõ chức năng điều tiết và chức năng quản lý nhà nước ngành điện Tức là phải có một cơ quan điều tiết có đủ tính độc lập tương đối, có đủ nguồn lực để giám sát và
tổ chức thực hiện các chiến lược phát triển thị trường điện cạnh tranh
- Về thiết kế thị trường Thiết kế mô hình thị trường cũng là yếu tố quyết
định đối với thành công của thị trường Việc này cũng liên quan đến mức độ cạnh tranh cần thiết khi phát triển các cấp độ thị trường Vì vậy, cần phải xây dựng và ban hành hệ thống luật lệ, quy tắc đồng bộ để đảm bảo cho thị trường hoạt động hiệu quả, đúng mục đích đề ra Mục tiêu cuối cùng của phát triển thị trường là sự
mở ra một thị trường cạnh tranh bán lẻ hoàn toàn trong tương lai
- Về tổ chức thực hiện Hầu hết các nước đang phát triển trong giai đoạn
cải tổ và mở ra thị trường điện cạnh tranh đều cần có sự hỗ trợ, tư vấn của các tổ chức tư vấn quốc tế Phát triển thị trường điện tại Việt Nam cần phải có sự hỗ trợ của tư vấn có kinh nghiệm trên thế giới để tránh những sai sót không đáng có Vai trò của tư vấn là trợ giúp các cơ quan Việt Nam trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện lộ trình phát triển thị trường điện, thiết kế mô hình thị trường, soạn thảo các quy định quy có liên quan đến hoạt động của thị trường, đào tạo và phát triển năng lực cho các cơ quan tham gia thực hiện các hoạt động của thị trường v.v
Trang 35Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
25
CHƯƠNG II LỰA CHỌN MÔ HÌNH VÀ LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
ĐIỆN TẠI VIỆT NAM
2.1 Quan điểm xây dựng và phát triển thị trường điện tại Việt Nam
1) Phù hợp với mục tiêu cải tổ của Chính phủ
Việc xây dựng từng bước đi cụ thể cho phát triển thị trường điện tại Việt Nam phải thỏa mãn được các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của Chính phủ về cải tổ nghành điện Từ năm 1995, Chính phủ đã đưa ra các mục tiêu cơ bản cho cải tổ ngành điện Việt Nam Các mục tiêu này đã được cập nhật bổ sung qua các năm Một số mục tiêu chính như sau:
- Tăng cường thu hút vốn đầu tư tư nhân, giảm gánh nặng đầu tư của nhà nước cho ngành điện;
- Tăng cường hiệu quả kinh tế của ngành điện;
- Phát triển thị trường điện, xóa bỏ bao cấp trong ngành điện, tăng quyền lựa chọn mua điện cho khách hàng sử dụng điện;
- Đảm bảo cung cấp điện ổn định, tin cậy và chất lượng;
- Đảm bảo phát triển ngành điện bền vững
2) Phát triển thị trường qua từng cấp độ
Luật Điện lực 2005 đã khẳng định "Thị trường điện lực được hình thành và phát triển theo thứ tự các cấp độ sau đây: thị trường phát điện cạnh tranh, thị trường bán buôn điện cạnh tranh, thị trường bán lẻ điện cạnh tranh" Việc xây dựng các bước đi cụ thể của thị trường phải theo đúng trình tự các cấp độ thị trường với tính cạnh tranh tăng dần và đích cuối cùng là thị trường bán lẻ điện hoàn chỉnh, mọi khách hàng đều có quyền lựa chọn nhà cung cấp điện
3) Đảm bảo ổn định
Phát triển thị trường điện phải được tiến hành từng bước từ từ và thận trọng không gây đột biến, xáo trộn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và cơ cấu tổ chức
Trang 36Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
26
dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế, xã hội, môi trường Việc phát triển thị trường điện tại Việt Nam phải được bắt đầu bằng việc tái cơ cấu EVN Với quan điểm đảm bảo ổn định thì việc tái cơ cấu EVN sẽ diễn ra từng bước và chỉ thực hiện khi đã đáp ứng đủ các điều kiện về năng lực quản lý kinh doanh, về khả năng tài chính
về cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết đồng bộ với yêu cầu của từng cấp độ phát triển của
thị trường
4) Các giai đoạn phát triển thị trường điện
Theo Luật Điện lực, thị trường điện Việt nam sẽ phát triển từ cấp độ phát điện cạnh tranh, qua bán buôn cạnh tranh và cuối cùng là bán lẻ cạnh tranh Hiện tại ngành điện Việt Nam đang là mô hình liên kết dọc truyền thống, với EVN là một Tổng công
ty nhà nước quản lý toàn bộ quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối điện Hiện nay
có khoảng 40% nguồn điện là thuộc các nhà máy điện độc lập (IPP) bán điện cho EVN
Để mở ra cạnh tranh trong khâu phát điện, có thể áp dụng mô hình TPA và mô hình một người mua Ưu điểm và các hạn chế của từng mô hình đã được phân tích ở Chương 1 Qua đó có thể nhận thấy mô hình một người mua là phù hợp nhất với bước
đi đầu tiên cho thị trường điện ở Việt Nam Mô hình này không đòi hỏi phải thay đổi lớn về cơ cấu tổ chức và đầu tư cơ sở hạ tầng Giai đoạn đầu của thị trường một người mua sẽ tạo điều kiện cho ngành điện tập trung vào việc mở rộng phát triển nguồn điện trong vòng vài năm tới Đơn vị mua, với sự đảm bảo về uy tín và tài chính của EVN có thể có khả năng thu hút đầu tư vào mở rộng nguồn điện đáp ứng mục tiêu trước mắt của ngành điện Việt Nam
Để giảm được các chi phí vận hành ngắn hạn, tăng mức độ cạnh tranh trong phát điện, khuyến khích các nhà máy điện giảm chi phí và làm quen với hoạt động trong môi trường cạnh tranh, có thể phát triển một mức độ nhất định thị trường ngắn hạn (giao ngay) trong mô hình này Để đảm bảo cân bằng cung cầu và ổn định giá điện thì lượng điện giao dịch trên thị trường giao ngay cần được hạn chế ở một tỷ lệ nhất định đồng thời phải được thực hiện thông qua các hợp đồng tài chính để quản lý rủi ro
Tỉ lệ tham gia thị trường ngắn hạn sẽ được tính toán trong quá trình thiết kế thị trường
Trang 37Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
hạ tầng kỹ thuật cho các hoạt động của thị trường Các qui định cho vận hành thị trường, vận hành hệ thống và các qui định về điều tiết sẽ từng bước được biên soạn
và đưa vào áp dụng trong giai đoạn này Cũng trong giai đoạn này khi qui định đấu thầu cạnh tranh chọn nhà đầu tư nguồn điện mới theo quy hoạch nguồn chi phí tối thiểu đã được ban hành, có thể mở ra ngay thị trường phát điện có cạnh tranh ở khâu đầu tư xây dựng mới đối với các IPP trước khi hội đủ điều kiện để chuyển sang thị trường cạnh tranh phát điện hoàn chỉnh
Bước tiếp theo giai đoạn thị trường nội bộ sẽ là thị trường cạnh tranh phát điện một người mua hoàn chỉnh, có sự tham gia của các đơn vị phát điện độc lập ở
cả giai đoạn đầu tư xây dựng mới cũng như trong vận hành Tại giai đoạn này sẽ chuẩn bị tiếp các điều kiện cho cấp độ thị trường bán buôn cạnh tranh Trước khi chuyển sang cấp độ bán buôn cạnh tranh cần thực hiện thêm một bước chuyển tiếp, tức là mở ra thị trường bán buôn cạnh tranh thử nghiệm ở một số khu vực với số
Trang 38Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
28
lượng đơn vị phân phối và đơn vị bán buôn hạn chế Từ kinh nghiệm thu được qua thử nghiệm sẽ nhân rộng ra cho toàn quốc Bước đệm này tạo điều kiện để kiểm chứng các qui định của hoạt động điều tiết, các qui định hoạt động của thị trường, các hệ thống quản lý thị trường nhằm hạn chế các rủi ro có thể xảy ra
Sau cấp độ thị trường bán buôn là thị trường bán lẻ điện cạnh tranh Cũng giống như ở cấp độ trước, sẽ có một bước đệm thử nghiệm ở một số khu vực thí điểm và sau
đó phát triển thành thị trường bán lẻ điện hoàn chỉnh
Các giai đoạn phát triển thị trường điện ở Việt Nam qua từng cấp độ được thể hiện ở Hình 2.1
Hình 2.1 Các giai đoạn phát triển thị trường điện ở Việt Nam
Các mốc để chuyển đổi các giai đoạn phát triển thị trường điện là các điểm
từ M1 đến M6 trên hình 2.1 Ở các phần tiếp theo sẽ mô tả về cấu trúc, hoạt động, chức năng của từng đơn vị tham gia thị trường và các vấn đề liên quan cho từng bước đi và đưa ra các điều kiện tiên quyết để hình thành từng giai đoạn phát triển thị trường điện qua các cấp độ như nêu trên
Trang 39Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
29
2.2 Thị trường phát điện cạnh tranh tại Việt Nam
2.2.1 Giai đoạn thị trường nội bộ EVN
1 Cấu trúc
EVN
Hình 2.2 Cấu trúc thị trường một người mua nội bộ EVN
Cấu trúc thị trường phát điện cạnh tranh nội bộ mô tả ở Hình 2.2 Để thực hiện thị trường này, sẽ phải hình thành Đơn vị mua duy nhất và Đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện Vai trò của các đơn vị phát điện, đơn vị mua duy nhất, công ty truyền tải, cơ quan vận hành hệ thống vả vận hành thị trường đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của thị trường Các đơn vị này phải được tách biệt với nhau về tài chính, tốt nhất là không có bất cứ lợi ích tài chính chung nào Vì thế, cấu trúc thị trường cần được thiết kế để tránh những mâu thuẫn lợi ích nhằm tiến tới một thị trường cạnh tranh minh bạch, công bằng và hiệu quả Những quy định về chống phi cạnh tranh cần phải được ban hành chặt chẽ để tránh được những hoạt động liên kết lũng đoạn thị trường Trong giai đoạn thị trường nội bộ EVN, các đơn
Trang 40Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
30
vị này có thể đều trực thuộc EVN Tuy nhiên để thị trường điện nội bộ đạt hiệu quả thì các đơn vị này cần được hạch toán độc lập để các chi phí được hạch toán rõ ràng
và không ảnh hưởng lẫn nhau Các qui định cho hoạt động của thị trường, vận hành
hệ thống và điều tiết thị trường sẽ dần được đưa vào thử nghiệm trong giai đoạn này Cấu trúc ngành điện gần như không có gì thay đổi so với hiện tại
2 Hoạt động
Hoạt động của thị trường bắt đầu với việc công ty mua bán điện (EPTC) - Đơn vị mua duy nhất (Single Buyer - SB) dự báo phụ tải và lập kế hoạch phát triển nguồn phù hợp với qui hoạch phát triển điện lực quốc gia Cơ quan điều tiết sẽ thông qua và giám sát việc thực hiện đầu tư nguồn mới phù hợp với Qui định cạnh tranh chọn nhà đầu tư nguồn điện mới theo qui hoạch nguồn chi phí tối thiểu Các đơn vị phát điện độc lập bán điện cho SB thuộc EVN thông qua các hợp đồng mua bán có thời hạn ký với SB Các đơn vị phát điện của EVN (PEVN) cạnh tranh bán
điện cho SB qua các hợp đồng song phương hoặc qua thị trường ngắn hạn Đơn vị
điều hành giao dịch thị trường (Market Operator MO) lập kế hoạch huy động công suất, điện năng của các nhà máy điện và chuyển cho Đơn vị điều độ hệ thống điện quốc gia (System Operator SO) thực hiện điều hành hệ thống điện SB sẽ thanh toán tiền điện cho các Đơn vị phát điện theo các hợp đồng có thời hạn vả qua giao dịch
ngắn hạn SB bán buôn điện cho các đơn vị phân phối theo khung giá bán buôn
được qui định bởi Cục Điều tiết Điện lực Các công ty phân phối độc quyền bán lẻ cho các khách hàng sử dụng điện theo biểu giá bán lẻ được Thủ tướng Chính phủ qui định Các khách hàng và các đơn vị phân phối, thông qua SB phải trả phí truyền tải cho đơn vị truyền tải, phí sử dụng dịch vụ phụ trợ và phí giao dịch cho SO và
MO Trong quá trình thực hiện thị trường nội bộ cần xây dựng các mức phí này để
thực hiện thanh toán thử trong nội bộ Cục Điều tiết Điện lực qui định mức phí truyền tải, phí sử dụng dịch vụ phụ trợ và phí giao dịch áp dụng cho các đối tượng tham gia thị trường
3 Các vấn đề liên quan
a) Các nguồn phát điện