Đó là sự kết nối phong điện vào lưới có thể làm thay đổi dòng công suất trên lưới, ảnh hưởng tới tổn thất điện áp và tổn thất công suất trên lưới, ảnh hưởng tới dòng sự cố và độ tin cậy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGUYỄN CHÍ CÔNG
¶NH H¦ëNG CñA NGUåN PH¢N T¸N PHONG §IÖN
tíi C¸C TH¤NG Sè CñA L¦íI ®iÖn
Chuyên ngành : Hệ thống Điện
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HỆ THỐNG ĐIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN LÂN TRÁNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ khoa học này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, bạn bè và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS NGUYỄN LÂN TRÁNG,
người thầy đã chỉ bảo và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Viện Điện, đặc biệt là các thầy, các cô trong bộ môn Hệ thống điện đã truyền thụ cho tôi những kiến thức quý báu
để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá tình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, những người đã luôn cổ vũ, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Sau cùng tôi xin dành tình cảm và lòng biết ơn vô hạn tới gia đình đã chia sẻ những thuận lợi cũng như khó khăn trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2013
Học viên
Nguyễn Chí Công
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những vấn đề đƣợc trình bày trong bản luận văn này là những nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu thống kê, báo cáo, các tài liệu khoa học trong luận văn đƣợc sử dụng của các công trình khác đã nghiên cứu, đƣợc chú thích đầy đủ, đúng quy định
Hà Nội, ngày 25 tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Chí Công
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CC : Cầu chì
CSC : Chuyển đổi nguồn dòng
DC : Điện một chiều
DG : Nguồn điện phân tán
DFIG : Máy phát điện cảm ứng nguồn kép
FCL : Thiết bị hạn chế dòng sự cố
HVG : Máy phát điện cao áp
LPP : Lưới điện phân phối
MBA : Máy biến áp
OSIG : Máy phát điện cảm ứng optislip
PMSG : Máy phát điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu
PM : Nam châm vĩnh cửu
PMW : Điều chế độ rộng xung
SCIG : Máy phát điện cảm ứng rotor lống sóc
SRG : Máy phát điện chuyển đổi từ hóa
TĐL : Thiết bị tự động đống lại
TF : Nguyên tắc ngang dòng
TFG : Máy phát điện ngang dòng
VSC : Chuyển đổi nguồn áp
WRIG : Máy phát điện cảm ứng rotor dây quấn
WRSG : Máy phát điện đồng bộ rotor dây quấn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Mục đích nghiên cứu 2
3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
5.1 Khái niệm các phương pháp nghiên cứu 4
5.1.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4
5.1.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 4
5.1.3 Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm 4
5.2 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHONG ĐIỆN VÀ LƯỚI ĐIỆN 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHONG ĐIỆN 5
1.1.1 Gió và sự hình thành gió 5
1.1.2 Lịch sử phát triển phong điện 5
1.1.3 Tình hình ứng dụng phong điện trên thế giới 8
1.1.4 Tình hình ứng dụng phong điện ở Việt Nam 9
1.1.4.1 Tiềm năng năng lượng gió 9
1.1.4.2 Các dự án điện gió hiện nay 11
1.1.4.3 Các nhà cung cấp thiết bị điện gió ở Việt Nam 12
1.2 TỔNG QUAN VỀ LƯỚI ĐIỆN 13
1.2.1 Các khái niệm 13
1.2.2 Sơ đồ lưới điện phân phối 14
1.2.3 Các yêu cầu của lưới điện phân phối 16
Trang 61.3 KẾT LUẬN 16
CHƯƠNG II: CẤU TẠO VÀ NGUYÊN LÝ CỦA HỆ THỐNG NĂNG LƯỢNG GIÓ 17 2.1 TỔNG QUAN VỀ TUABIN GIÓ 17
2.1.1 Một số khái niệm về tuabin gió 17
2.1.2 Cấu tạo tuabin gió 19
2.1.3 Các dạng tuabin gió 21
2.2 CÁC LOẠI CẤU HÌNH TUABIN GIÓ VÀ PHƯƠNG PHÁP KẾT NỐI LƯỚI ĐIỆN 24 2.2.1 Tốc độ hoạt động của tuabin gió 24
2.2.1.1 Tuabin gió có tốc độ cố định (Fixed-speed wind turbines) 24
2.2.1.2 Tuabin gió tốc độ thay đổi (Variable-speed wind turbines ) 24
2.2.2 Tổng quan về các loại điều khiển điện năng 25
2.2.3 Các loại cấu hình tuabin gió và phương pháp kết nối lưới 26
2.2.3.1 Kết nối loại A: tốc độ cố định (fixed speed) 28
2.2.3.2 Kết nối theo loại B: thay đổi tốc độ hạn chế (limited variable speed) 30
2.2.3.3 Kết nối theo loại C: thay đổi tốc độ với bộ chuyển đổi tần số từng phần (variable speed with partial scale frequency converter ) 31
2.2.3.4 Kết nối theo loại D: biến tốc với bộ chuyển đổi tần số đầy đủ tỉ lệ (variable speed with full-scale frequency converter ) 32
2.2.4 Xu thế thị trường của các cấu hình tuabin gió 32
2.3 MÁY PHÁT ĐIỆN VÀ ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT CHO TUABIN GIÓ 33
2.3.1 Máy phát trong hệ thống tua bin gió 33
2.3.1.1 Máy phát điện không đồng bộ 34
2.3.2 Điện tử công suất hiện đại 42
2.4 KẾT LUẬN 46
Trang 7CHƯƠNG III: ẢNH HƯỞNG CỦA PHONG ĐIỆN TỚI CÁC THÔNG SỐ CỦA
LƯỚI ĐIỆN 47
3.1 TỔNG QUAN 47
3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA PHONG ĐIỆN TỚI CÁC THÔNG SỐ CỦA LƯỚI 48
3.2.1 Nhấp nháy hay dao động điện áp 48
3.2.2 Sóng hài 54
3.2.3 Sự suy giảm nhanh điện áp 58
3.2.4 Sự gia tăng điện áp 59
3.2.5 Công suất phản kháng 60
3.2.6 Các vấn đề về bảo vệ lưới điện 61
3.2.6.1 Mức dòng ngắn mạch 62
3.2.6.2 Thay đổi phối hợp giữa các thiết bị bảo vệ 63
3.2.6.3 Máy cắt không mong muốn 65
3.2.6.4 Tác động đến sự làm việc của tự động đóng lại 65
3.2.6.5 Thay đổi vùng tác động của rơle bảo vệ 68
3.2.6.6 Các biện pháp hạn chế ảnh hưởng của tuabin gió trong chế độ sự cố điện 68
3.3 KẾT LUẬN 69
CHƯƠNG IV: MÔ PHỎNG ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ MÁY PHÁT ĐIỆN GIÓ TỚI CÁC THÔNG SỐ CỦA LƯỚI BẰNG MATLAB/SIMULINK® 70
4.1 CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH MÔ PHỎNG HỆ MÁY PHÁT ĐIỆN SỨC GIÓ CÓ TRONG MATLAB/SIMULINK® 70
4.1.1 Tổng quan về matlab/simulink® 70
4.1.2 Các phương pháp mô phỏng tuabin gió trong Matlab/Simulink® 71
4.1.3 Các khối chức năng cơ bản 72
4.1.4 Các mô hình mô phỏng 74 4.1.4.1 Mô hình cánh đồng gió sử dụng cấu hình DFIG (Mô hình chi tiết)74 4.1.4.2 Mô hình cánh đồng gió sử dụng cấu hình DFIG (Mô hình phasor)75
Trang 84.2 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA NGUỒN PHÂN TÁN PHONG ĐIỆN TỚI
CÁC THÔNG SỐ CỦA LƯỚI QUA KẾT QUẢ MÔ PHỎNG 76
4.2.1 Nhấp nháy hay dao động điện áp 76
4.2.2 Sóng hài 79
4.2.3 Sự suy giảm nhanh điện áp 79
4.2.4 Sự gia tăng điện áp 81
4.2.5 Công suất phản kháng 83
4.2.6 Bảo vệ lưới điện 83
4.3 KẾT LUẬN 85
KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tiềm năng gió của Việt Nam ở độ cao 80 m so với bề mặt đất 10 Bảng 2.1 Các cấu hình tuabin gió khác nhau 28 Bảng 2.2 Ƣu điểm và nhƣợc điểm của việc sử dụng thiết bị điện tử công suất 43 Bảng 2.3 Thiết bị chuyển mạch: phạm vi hoạt động và đặc điểm 45 Bảng 3.1 Mức độ nhấp nháy quy hoạch và phát thải cho điện áp trung bình (MV)
và điện áp cao (HV) 53 Bảng 3.2 Quy định về giới hạn méo sóng hài điện áp cho phép cho từng cấp điện
áp theo IEC-61000-3-6 56 Bảng 4.1: Độ méo hài THD 79
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Tuabin gió đầu tiên của James Blyth 6
Hình 1.2: Tổng công suất điện gió trên thế giới từ 1996-2012 8
Hình 1.3: Giá điện gió của một số nước từ 1993-2007 8
Hình 1.4 Lưới điện phân phối hình tia không phân đoạn 15
Hình 1.5 Lưới điện phân phối hình tia có phân đoạn 15
Hình 1.6 Lưới điện phân phối kín vận hành hở 15
Hình 2.1 Minh họa định luật Betz 17
Hình 2.2 Đường cong công suất lý tưởng của tuabin gió 19
Hình 2.3 Cấu tạo của tuabin gió 20
Hình 2.4 Cấu tạo một cánh đón gió của tuabin gió 20
Hình 2.5 Tuabin gió trục đứng 22
Hình 2.6 Tuabin gió trục ngang 23
Hình 2.7 Cấu hình gió tuabin tiêu biểu 27
Hình 2.8 Kết nối lưới của máy máy phát điện lồng sóc cảm ứng SCIG - squirrel cage induction generator 28
Hình 2.9 Kết nối lưới của máy phát điện cảm ứng rotor dây quấn có thể thay đổi điện trở rotor (WRIG = wound rotor induction generator ) 30
Hình 2.10 Kết nối lưới của máy máy phát điện cảm ứng rotor dây quấn(WRIG = wound rotor induction generator) 31
Hình 2.11 Kết nối lưới của máy phát điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu
(PMSG = permanent magnet synchronous generator) 32 Hình 2.12 Tỷ lệ công suất lắp đặt của các loại cấu hình tuabin gió từ 2000-2009 33 Hình 2.13 Các loại chuyển đổi năng lượng tự chuyển mạch cho tua bin gió: (a) bộ
chuyển đổi nguồn dòng và (b) bộ chuyển đổi nguồn áp Sao chép từ S Heier năm 1998, mạng lưới tích hợp hệ thống chuyển đổi năng lượng
Trang 11Hình 3.3 Nhấp nháy của tuabin gió tốc độ cố định (loại A) theo công suất tác dụng 50
Hình 3.4 Công suất đầu ra của một tuabin gió tốc độ thay đổi 51
Hình 3.5 Cắt trong (a) một tuabin gió tốc độ cố định (loại A) và(b) một tuabin gió tốc độ thay đổi(loại C và D) 52
Hình 3.6 Phát hiện sóng hài của một tuabin gió tốc độ thay đổi mà biến tần có
(a) một tần số đồng hồ cố định và (b) một tần số đồng hồ thay đổi 55
Hình 3.7 Điện áp nút tăng lên tại nút có đấu nối tuabin gió 59
Hình 3.8 Mạch tương đương 63
Hình 3.9 Ảnh hưởng của DG tới sự phối hợp giữa các bảo vệ 64
Hình 3.10 Sự phối hợp giữa TĐL và CC trên lưới điện hình tia 66
Hình 4.1 : Mô phỏng trong simulink 71
Hình 4.2 Mô hình khối tuabin gió và hộp số 72
Hình 4.3 Mô hình khối tính toán độ méo hài 72
Hình 4.4 Mô hình khối điều khiển 73
Hình 4.5 Mô hình khối máy phát DFIG nối lưới 73
Hình 4.6 Mô hình khối máy biến áp 3 pha 2 cuộn dây và mô hình khối đường dây truyền tải 73
Hình 4.7 Mô hình chi tiết cánh đồng gió sử dụng cấu hình DFIG 74
Hình 4.8 Mô hình phasor cánh đồng gió sử dụng cấu hình DFIG 75
Hình 4.9 Các cửa sổ mô tả chất lượng điện áp phát 77
Hình 4.10 Các cửa sổ mô tả chất lượng điện áp tại các thanh cái 77
Hình 4.11 Giản đồ mô tả ảnh hưởng khi tuabin gió hoạt động ở chế độ ổn định công suất phản kháng 78
Hình 4.12 Sự gia tăng điện áp khi tốc độ gió tăng 78
Hình 4.13 Giản đồ kết quả mô phỏng với một võng điện áp ở chế độ ổn định công suất phản kháng 80
Hình 4.14 Giản đồ kết quả mô phỏng với một võng điện áp ở chế độ ổn định điện áp 81
Hình 4.15 Giản đồ kết quả mô phỏng ảnh hưởng của tuabin gió tới điện áp trong chế độ ổn định điện áp 82
Trang 12Hình 4.16 Giản đồ kết quả mô phỏng với lỗi ngắn mạch một pha trên lưới 22 kV ở
chế độ ổn định điện áp 84Hình 4.17 Giản đồ kết quả mô phỏng với lỗi ngắn mạch một pha trên lưới 22 kV ở
chế độ ổn định công suất phản kháng 84
Trang 13áp với khoảng cách truyền lên tới hàng trăm kilomet Hệ thống này của các nhà máy điện tập trung có nhiều bất lợi Ngoài các vấn đề khoảng cách truyền dẫn, các hệ thống này còn đóng góp vào việc phát thải khí nhà kính, sản xuất chất thải hạt nhân, kém hiệu quả và gây tổn thất điện năng trên đường dây truyền tải dài, ảnh hưởng tới môi trường nơi các đường dây điện được xây dựng, và các vấn đề liên quan đến bảo mật Để giải quyết vấn đề này các nguồn điện phân tán - các nguồn điện được đặt gần hoặc kết nối trực tiếp với lưới phân phối [1] – ngày càng được sử dụng nhiều
Mặt khác nhu cầu về năng lượng của con người trong xã hội hiện đại ngày càng tăng Các nguồn nhiên liệu dự trữ như than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên và cả thủy điện đều có hạn khiến cho con người đứng trước nguy cơ thiếu hụt năng lượng Việc tìm kiếm và khai thác các nguồn năng lượng mới như năng lượng địa nhiệt, năng lượng gió và năng lượng mặt trời … là hướng đi quan trọng để giải quyết và đẩy lùi nguy cơ này
Ở các nước phát triển tỉ trọng của các nguồn điện phân tán là nguồn năng lượng mới, các nguồn năng lượng tái tạo có công suất nhỏ kết nối vào lưới ngày càng tăng Lưới điện Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Trong Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia (Tổng Sơ đồ Điện VII) giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến 2030 Chính phủ đã đặt ra ưu tiên phát triển nguồn năng lượng tái tạo cho sản xuất điện nhằm giải quyết triệt để bài toán thiếu điện vẫn đang tồn tại hiện nay Mục tiêu đề ra là tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng này từ mức 3,5% năm 2010 lên 4,5% tổng điện sản xuất vào năm 2020 và đạt 6% vào năm 2030 Đặc
Trang 14biệt, đưa nguồn điện gió chiếm tỷ trọng từ 0,7% (1.000 MW) năm 2020 lên 2,4% (khoảng 6.200 MW) vào năm 2030 [11]
Cùng với sự xuất hiện của của phong điện trong các lưới điện ở Việt Nam cũng kéo theo một số vấn đề phát sinh do bản thân các lưới chưa đáp ứng được sự gia tăng của nguồn và tải Đó là sự kết nối phong điện vào lưới có thể làm thay đổi dòng công suất trên lưới, ảnh hưởng tới tổn thất điện áp và tổn thất công suất trên lưới, ảnh hưởng tới dòng sự cố và độ tin cậy cung cấp điện của lưới…
Vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn phân tán phong điện đến các thông số của lưới điện là rất quan trọng, đặc biệt trong hoàn cảnh hàng loạt dự án về phong điện đã, đang và sắp được triển khai như: điện gió đảo Phú Quý, điện gió ở Bình Thuận, điện gió Bạc Liêu…
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 15được nhà nước ưu tiên phát triển - đến các thông số của lưới Việc đánh giá này dựa trên việc phân tích các đặc điểm của từng loại cấu hình hệ máy phát điện gió và mô phỏng kết nối lưới của chúng Từ đó đề xuất lựa chọn loại cấu hình máy phát điện gió và đưa ra được một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy được những ưu điểm
và khắc phục các nhược điểm của loại nguồn phân tán này
3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nguồn phân tán phong điện
Phạm vi nghiên cứu:
Lịch sử phát triển phong điện, tình hình phát triển phong điện hiện nay
ở Việt Nam và trên thế giới
Tổng quan về lưới điện
Các đặc điểm cấu tạo và nguyên lý hoạt động cơ bản của các loại tuabin gió Ưu nhược điểm của từng loại
Ảnh hưởng của phong điện đến các thông số của lưới
Mô phỏng trang trại gió kết nối lưới
4 Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
Chỉ ra việc phát triển nguồn điện phân tán phong điện là xu thế tất yếu trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Đưa ra được những nguyên lý và đặc điểm cấu tạo của các loại tuabin gió
Đưa ra và phân tích 6 ảnh hưởng chính của phong điện đến các thông
số của lưới điện và các biện pháp khắc phục
Mô phỏng được ảnh hưởng của phong điện tới lưới điện
Kiến nghị lựa chọn cấu hình DFIG (loại C) cho các dự án trong tương lai gần và xem xét việc sử dụng cấu hình loại D cho các dự án trong tương lai xa để vừa hạn chế các ảnh hưởng xấu của phong điện tới lưới vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu khoa học người ta thường sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 16 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm
Để lựa chọn phương pháp nghiên cứu “ Ảnh hưởng của nguồn phân tán phong điện tới các thông số của lưới” ta sẽ đi tìm hiểu về các phương pháp này
5.1 Khái niệm các phương pháp nghiên cứu
5.1.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đây là phương pháp nghiên cứu khoa học được áp dụng trong cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, bao gồm nhiều nội dung khác nhau như nghiên cứu tư liệu, xây dựng khái niệm, phạm trù, thực hiện các phán đoán, suy luận, …và không
có bất cứ quan sát hoặc thực nghiệm nào được tiến hành
5.1.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu thực nghiệm là những nghiên cứu được thực hiện bởi những quan sát hoặc hiện tượng diễn ra trong những điều kiện có gây biến đổi đối tượng nghiên cứu một cách có chủ định Nghiên cứu thực hiện có thể được thực hiện trên đối tượng thực hoặc trên các mô hình do người nghiên cứu tạo ra với những tham số do người nghiên cứu khống chế
5.1.3 Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm
Là một phương pháp nghiên cứu dựa trên sự quan sát, quan trắc những sự kiện
đã hoặc đang tồn tại, hoặc thu thập những số liệu thống kê đã tích lũy Trên cơ sở
đó phát hiện quy luật của sự vật hoặc hiện tượng Trong phương pháp này người nghiên cứu chỉ quan sát những gì đã và đang tồn tại, không có bất cứ sự can thiệp nào gây biến đổi trạng thái của đối tượng nghiên cứu
5.2 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu có được kết quả chính xác thì việc áp dụng đồng thời nhiều
Trang 17CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ PHONG ĐIỆN VÀ LƯỚI ĐIỆN
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHONG ĐIỆN
1.1.1 Gió và sự hình thành gió
Gió là sự di chuyển của không khí trong bầu khí quyển trái đất Năng lượng gió là động năng của không khí di chuyển trong bầu khí quyển trái đất Đây là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời
Bức xạ mặt trời chiếu xuống các nơi trên bề mặt trái đất là không đồng đều Một nửa bề mặt trái đất, mặt ban đêm bị che khuất không nhận được ánh sáng mặt trời và các khu vực gần xích đạo nhận được nhiều hơn các cực Địa hình các nơi khác nhau cũng ảnh hưởng đến khả năng hấp thu bức xạ mặt trời của các địa phương Do đó có sự chênh lệch về nhiệt độ, áp suất không khí giữa các địa phương
và tạo thành gió Trái đất xoay tròn cũng góp phần vào việc làm xoáy không khí và trục quay của trái đất nghiêng đi so với mặt phẳng do quỹ đạo trái đất tạo thành khi quay quanh mặt trời nên cũng tạo thành các dòng không khí theo mùa
1.1.2 Lịch sử phát triển phong điện
Các tuabin gió đầu tiên được sử dụng để chuyển đổi năng lượng khác như cối xay gió, được sử dụng để bơm nước, xay ngũ cốc… được xây dựng vào năm 1887 bởi Giáo sư James Blyth của trường Đại học Anderson College, Glassgow (nay là Strathclyde University) Thí nghiệm của Blyth có ba thiết kế tuabin khác nhau với trụ cao 10 mét (33 foot),cánh bằng khung gỗ bọc vải, được ông thử nghiệm lắp đặt tại khu vườn trong trang trại riêng của ông tại Marykirk một làng nhỏ thuộc Quận Kincardineshire(một quận nằm trên bờ biển phía đông bắc Scotland), và tuabin gió đầu tiên này đã hoạt động trong suốt 25 năm sau đó Phát minh Blyth đã đánh dấu buổi bình minh của sự phát triển tuabin gió với đặc trưng là thiết kế cánh quạt gồm
144 cánh đơn làm từ gỗ tùng tuyết, cánh quạt có đường kính quay 17m và tạo ra công suất 12kW (hình 1.1)
Trang 18Hình 1.1: Tuabin gió đầu tiên của James Blyth
Năm 1890 Poul la Cour nhà khoa học người Đan Mạch hoàn chỉnh các thiết kế của mình và tuabin gió lần đầu tiên được lắp đại trà tại Đan Mạch với 2.500 chiếc, tổng công suất ước tính tối đa đạt khoảng 30 MW Các tuabin gió của Poul la Cour không những chỉ dùng vào sản xuất điện mà còn được sử dụng trong việc sản xuất hydro
Kể từ đó, tuabin gió đã được lắp đặt bởi hàng triệu người trên thế giới, đặc biệt
là ở vùng Trung tây Hoa Kỳ, nơi mà những nông trại đã sử dụng các máy bơm điện
để phục vụ thủy lợi và tưới tiêu Năm 1931, tuabin gió hiện đại đầu tiên có trục quay nằm ngang đã được đưa vào sử dụng tại Yalta, Liên Xô cũ Đó là một máy phát điện công suất lớn 100 kW được lắp đặt trên một tháp cao 30m, máy phát điện này cũng lập kỷ lục về hệ số công suất (tỷ lệ giữa công suất thực tế và công suất tối
đa thiết kế) cho tuabin gió là 32% vào thời điểm đó Năm 1941 lần đầu tiên trên thế giới một tuabin gió công suất 1.25 MW đã hòa lưới điện tại Grandpa’s Knob thuộc vùng Castleton bang Virgina Hoa Kỳ
Trang 19ba cánh gió với cơ cấu tự động điều khiển góc đón gió của tuabin cùng máy phát điện không đồng bộ của tuabin Gedser theo một cơ quan chức năng nhận xét là một
“thiết kế tiên phong cho các tuabin gió hiện đại, mặc dù cánh quạt với dây chằng trông có vẻ hơi cổ điển” Hệ thống phanh điều tốc (stall - controlled) của tuabin mà Juul phát minh là hệ thống phanh khí động lực được lắp ở đầu chóp tâm cánh quạt
nó được kích hoạt bởi lực ly tâm trong trường hợp tuabin quay quá tốc độ Về cơ bản hệ thống của Juul giống như hệ thống điều tốc của các tuabin gió hiện đại ngày nay Tuabin của Juul đã chạy liên tục 11 năm mà không cần bảo dưỡng
Việc sử dụng năng lượng điện gió được thổi một luồng sinh khí mới sau cuộc khủng hoảng dầu lửa thế giới đầu tiên vào năm 1973 Các nước như Đan Mạch, Đức, Thụy Điển, Anh và Mỹ đua nhau thiết kế các tuabin lớn hơn Năm 1979, các
kỹ sư Đan Mạch đã lắp đặt thành công 2 tuabin gió với công suất 630 kW một chiếc với hệ thống tự động điều khiển góc nghiêng cánh quạt (Pitch - controlled) và hệ thống phanh điều tốc (Stall - controlled) hiện đại [13] Trước những thách thức về tình trạng thiếu điện và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu trong những năm tiếp theo thì kế hoạch phát triển “điện xanh” từ các nguồn năng lượng tái tạo là một giải pháp khả thi nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường Gần đây, Chính phủ Việt Nam đã xác định rõ các mục tiêu trong định hướng phát triển dạng
“điện xanh” này Trong đó, năng lượng gió được xem như là một lĩnh vực trọng tâm, do Việt Nam được xem là nước có giàu tiềm năng nhất trong khu vực Đông Nam Á Mục đích của nghiên cứu này là đưa ra cái nhìn về tình hình phát triển điện gió hiện nay và các khả năng cung ứng tài chính của các tổ chức trong và ngoài nước cho phát triển điện gió ở Việt Nam
Trang 201.1.3 Tình hình ứng dụng phong điện trên thế giới
Với các ưu thế của mình, điện gió đang ngày càng dành được sự quan tâm phát triển của các quốc gia trên thế giới Điều đó đã được thể hiện rõ qua việc tổng công suất điện gió trên thế giới ngày càng tăng và giá thành sản suất điện gió đang ngày càng giảm do được đầu tư phát triển công nghệ và quy mô sản suất Cụ thể như hình 1.2 [8] dưới đây cho thấy từ năm 1996 tới năm 2012 tổng công suất điện gió trên thế giới đã tăng từ 6100 MW lên mức 282430 MW, tức là tăng lên gấp 46,3 lần
Hình 1.2 :Tổng công suất điện gió trên thế giới từ 1996-2012
Trang 21Tỷ lệ sản lượng điện từ điện gió tại nhiều nước trên thế giới đang mỗi ngày một tăng, điển hình là tại Mỹ, kế hoạch phát triển điện gió của Bộ năng lượng Mỹ năm 2030 là 300.000MW tương đương 20% lượng điện tiêu dùng của nước Mỹ Tại Đức, năm 2010 tỷ lệ điện gió chiếm 7,7% nhưng đến cuối năm 2012 là 9,8%, Đức đã có kế hoạch đến năm 2020 lắp đặt 1.200 tuabin điện gió trên biển với công suất dự tính là 10.000 MW và tăng lên 25.000 MW vào năm 2030
Trong khi đó tại Đan Mạch tỷ lệ điện gió hiện nay là 26% và theo Nhà nước Đan Mạch thì tỷ lệ này sẽ là 50% vào năm 2020 [5]
1.1.4 Tình hình ứng dụng phong điện ở Việt Nam
Trước những thách thức về tình trạng thiếu điện và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu trong những năm tiếp theo thì kế hoạch phát triển “điện xanh” từ các nguồn năng lượng tái tạo là một giải pháp khả thi nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường Gần đây, Chính phủ Việt Nam đã xác định rõ các mục tiêu trong định hướng phát triển dạng “điện xanh” này Trong đó, năng lượng gió được xem như là một lĩnh vực trọng tâm, do Việt Nam được xem là nước có giàu tiềm năng nhất trong khu vực Đông Nam Á
1.1.4.1 Tiềm năng năng lượng gió [12]
Một số nghiên cứu đánh giá cho thấy Việt Nam có tiềm năng gió để phát triển các dự án điện gió với quy mô lớn là rất khả thi Bản đồ tiềm năng gió của Ngân hàng Thế giới (Worldbank, 2001) được xây dựng cho bốn nước trong khu vực Đông Nam Á (gồm: Việt Nam, Cam-pu-chia, Lào, và Thái Lan) dựa trên phương pháp mô phỏng bằng mô hình số trị khí quyển Theo kết quả từ bản đồ năng lượng gió này, tiềm năng năng lượng gió ở độ cao 65 m của Việt Nam là lớn nhất so với các nước khác trong khu vực, với tiềm năng năng lượng gió lý thuyết lên đến 513.360 MW Những khu vực được hứa hẹn có tiềm năng lớn trên toàn lãnh thổ là khu vực ven biển và cao nguyên miền nam Trung Bộ và Nam Bộ Tuy nhiên, các kết quả mô phỏng này được đánh giá là khá khác biệt so với kết quả tính toán dựa trên số liệu quan trắc của EVN, sự khác biệt này có thể là do sai số tính toán mô phỏng
Trang 22Năm 2007, EVN cũng đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tiềm năng gió, xác định các vùng thích hợp cho phát triển điện gió trên toàn lãnh thổ với công suất kỹ thuật 1.785 MW Trong đó miền Trung Bộ được xem là có tiềm năng gió lớn nhất
cả nước với khoảng 880 MW tập trung ở hai tỉnh Quảng Bình và Bình Định, tiếp đến vùng có tiềm năng thứ hai là miền Nam Trung Bộ với công suất khoảng 855
MW, tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận
Ngoài ra, Bộ Công thương và Ngân hàng Thế giới (2010) đã tiến hành cập nhật thêm số liệu quan trắc (đo gió ở 3 điểm) vào bản đồ tiềm năng gió ở độ cao 80
m cho Việt Nam Kết quả cho thấy tiềm năng năng lượng gió ở độ cao 80 m so với mặt đất là trên 2.400 MW (tốc độ gió trung bình năm trên 7 m/s)
Bảng 1.1: Tiềm năng gió của Việt Nam ở độ cao 80 m so với bề mặt đất
Tốc độ gió
trung bình <4 m/s 4-5 m/s 5-6 m/s 6-7 m/s
7-8 m/s
8-9 m/s >9 m/s Diện tích (km2
Trang 23ra, các báo cáo về quy trình và tiêu chuẩn lắp đặt cột đo gió cũng đang được hoàn thiện và sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà phát triển điện gió nói chung
1.1.4.2 Các dự án điện gió hiện nay
Cho đến nay, có khoảng 48 dự án điện gió đã đăng ký trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và Nam bộ, với tổng công suất đăng ký gần 5.000 MW, quy mô công suất của các dự án từ 6 MW đến 250 MW Tuy nhiên, hiện nay do chi phí đầu tư của dự án điện gió vẫn còn khá cao, trong khi giá mua điện gió là khá thấp 1.614 đồng/ kWh (tương đương khoảng 7,8 UScents/ kWh) theo Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg, cao hơn 310 đồng/ kWh so với mức giá điện bình quân hiện nay là 1.304 đồng/ kWh, được xem là chưa hấp dẫn các nhà đầu
tư điện gió trong và ngoài nước Do vậy, cho đến nay mới chỉ duy nhất một dự án điện gió ở Xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận là hoàn thiện giai đoạn 1 (dự kiến nâng tổng công suất lên 120 MW trong giai đoạn 2 từ 2011 đến 2015), với công suất lắp đặt 30 MW (20 tuabin gió x 1,5 MW mỗi tua bin) Chủ đầu
tư dự án là Công ty Cổ phần Năng lượng Tái tạo Việt Nam (Vietnam Renewable Energy Joint Stock Company - REVN) Tổng mức đầu tư của dự án lên đến 1.500
tỷ đồng (tương đương khoảng 75 triệu USD), các thiết bị tuabin gió sử dụng của Công ty Fuhrlaender Đức Dự án chính thức được nối lên lưới điện quốc gia vào tháng 3 năm 2011 Theo nguồn tin nội bộ, sản lượng điện gió năm 2011 đạt khoảng 79.000 MWh
Trên đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, dự án điện gió lai tạo với máy phát điện diesel của Tổng Công ty Điện lực Dầu khí, thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam), có tổng công suất là 9 MW (gồm 3 tuabin gió x 2 MW mỗi tuabin + 6 máy phát diesel x 0,5 MW mỗi máy phát) đã lắp đặt xong và đang trong giai đoạn nối lưới Các tuabin gió sử dụng của hãng Vestas, Đan Mạch Giá bán điện đang đề xuất thông qua hợp đồng mua bán điện với giá 13 US cents/ kWh GIá mua điện này được đánh giá là hấp dẫn do đặc thù dự án ở ngoài đảo Tương tự, một dự
án điện gió ở Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu do Công ty EAB CHLB Đức làm
Trang 24chủ đầu tư, giá bán điện thoả thuận là 25 UScents/ kWh Dự án đang chuẩn bị tiến hành xây dựng
Tại tỉnh Bạc Liêu, vùng đồng bằng Sông Cửu Long một dự án điện gió khác thuộc công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Công Lý cũng đang trong giai đoạn lắp đặt các tuabin gió (1 tuabin gió đã được lắp đặt) với công suất 16 MW trong giai đoạn đầu (10 tuabin gió x 1.6 MW mỗi tuabin của hãng GE Mỹ) Dự kiến trong giai đoạn 2 của dự án công suất sẽ nâng lên 120 MW (từ năm 2012 đến đầu năm 2014) Ngoài ra, các dự án khác đang trong các giai đoạn tiến độ khác nhau
1.1.4.3 Các nhà cung cấp thiết bị điện gió ở Việt Nam
Thị trường cung cấp tuabin gió ở Việt Nam: ngoài một số các nhà cung cấp đã góp mặt trong các dự án như Fuhrlaender (CHLB Đức), Vestas (Đan Mạch), và GE (Mỹ), còn có các nhà cung cấp khác cũng đang thể hiện sự quan tâm đến thị trường Việt Nam như Gamesa (Tây Ban Nha), Nordex (CHLB Đức), IMPSA (Agentina), Sany, Shanghai Electric và GoldWind (Trung Quốc)…
Một tín hiệu đáng mừng cho thị trường điện gió Việt Nam là sự góp mặt của một số nhà máy sản xuất tuabin gió và cột tháp cho tuabin gió (wind tower) như:
Tập đoàn GE Mỹ có nhà máy sản xuất máy phát cho tuabin gió đặt tại khu công nghiệp Nomura, thành phố Hải Phòng (vốn đầu tư lên tới 61 triệu USD);
Công ty Fuhrlaender Đức cũng đang dự định xây dựng nhà máy sản xuất tuabin gió ở Bình Thuận (vốn đầu tư là 25 triệu USD);
Công ty TNHH CS Wind Tower (100% vốn đầu tư của Hàn Quốc) ở khu công nghiệp Phú Mỹ 1, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đang sản xuất và xuất khẩu cột tháp gió
Công ty TNHH Công nghiệp Nặng VINA HALLA (100% vốn đầu tư
Trang 25Quốc, Ả Rập Saudi, Ai Cập, Indonesia, Philippines, Hoa Kỳ, và Việt Nam;
Công ty TNHH một thành viên tháp UBI (UBI Tower Sole Membe Co., Ltd.; 100% vốn của Việt Nam) đặt ở xã Kim Xuyên, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Năng lực sản xuất hàng năm của công ty là 300 cột tháp và được xuất khẩu ra các thị trường Đức (15 cột tháp năm 2011),
Ấn Độ (35 cột tháp năm 2010 và 125 cột tháp năm 2011) và các nước khác
1.2 TỔNG QUAN VỀ LƯỚI ĐIỆN
1.2.1 Các khái niệm
Lưới điện là tập hợp toàn bộ các đường dây và trạm biến áp kết nối với nhau theo những nguyên tắc nhất định có chức năng truyền tải điện năng từ nơi sản xuất tới nơi tiêu
thụ Mỗi loại lưới lại có các tính chất vật lý và quy luật hoạt động khác nhau
Trên hệ thống điện Việt Nam, lưới điện được chia ra thành 3 loại lưới chính:
Lưới truyền tải 220 kV ÷ 500 kV nối liền các trạm biến áp khu vực với
các trạm biến áp trung gian, tạo ra hệ thống điện lớn
Lưới khu vực 110 kV ÷ 220 kV là phần lưới điện từ các trạm trung gian khu vực hoặc từ thanh cái cao áp các nhà máy điện cung cấp điện cho
các trạm trung gian địa phương
Lưới phân phối là phần lưới điện sau các trạm biến áp trung gian địa phương, kết nối trực tiếp với lưới truyền tải hoặc lưới khu vực để cấp điện tới các phụ tải tiêu thụ điện Lưới phân phối được phân chia thành lưới phân phối trung áp (6, 10, 15, 22, 35 kV) và lưới phân phối hạ áp
(0,4 kV)
Tuabin gió chuyển đổi năng lượng gió thành năng lượng điện, sau đó được đưa vào hệ thống cung cấp điện Các kết nối của tuabin gió với hệ thống cung cấp điện có thể với điện áp thấp, điện áp trung bình, điện áp cao thậm chí là siêu cao áp Hiện nay hầu hết các tuabin gió đều kết nối với hệ thống điện trung thế Trong tương lai khi phát triển các trang trại gió lớn ngoài khơi thì sẽ được kết nối với hệ
Trang 26thống điện cao và siêu cao áp Vì vậy phần kế tiếp sau đây ta sẽ đi sâu hơn vào tìm hiểu về lưới phân phối trung áp hơn
Lưới phân phối trung áp (sau đây gọi tắt là Lưới điện phân phối - LPP) làm
nhiệm vụ phân phối điện năng từ các trạm trung gian cho các phụ tải Lưới phân phối có nhiệm vụ chính là đảm bảo chất lượng điện năng cho phụ tải bao gồm chất lượng điện áp và độ tin cậy cung cấp điện
Các khối cơ bản của LPP là :
Trạm biến áp trung gian, biến đổi điện năng sơ cấp máy biến áp (MBA)
ở cấp điện áp 110 và 35kV cấp cho các LPP địa phương
Lưới phân phối trung áp, thường được thiết kế dưới dạng đường dây trên không hoặc cáp ngầm, có cấp điện áp 6, 10, 15, 22 kV và đôi khi là 35kV được thiết kế phù hợp với địa hình từng khu vực và cấp điện cho các trạm biến áp phân phối hạ áp
Trạm biến áp phân phối hạ áp, với mật độ dày đặc trên LPP, biến đổi điện năng từ cấp điện áp trung áp xuống cấp điện áp 0,4kV cấp điện trực tiếp cho phụ tải
1.2.2 Sơ đồ lưới điện phân phối
Lưới điện phân phối có mật độ khá dày đặc, là lưới trung gian kết nối giữa các trạm biến áp trung gian và các khách hàng tiêu thụ điện năng Cấu trúc của LPP được chia ra làm ba loại chính là: hình tia không phân đoạn (hình 1.4), hình tia có phân đoạn ( hình 1.5) và mạch vòng kín vận hành hở (hình 1.6)
Ở các đô thị lớn, LPP thường là lưới cáp ngầm với mật độ phụ tải rất cao, độ tin cậy cung cấp điện được yêu cầu cao nên cấu trúc thường gặp là cấu trúc mạch vòng kín vận hành hở
Trang 27Hình 1.4 Lưới điện phân phối hình tia không phân đoạn
Hình 1.5 Lưới điện phân phối hình tia có phân đoạn
Hình 1.6 Lưới điện phân phối kín vận hành hở
Ở các vùng nông thôn thì LPP lại là lưới trên không với mật độ phụ tải không cao, không đòi hỏi về độ tin cậy cung cấp điện cao như lưới thành phố nên cấu trúc lưới được lựa chọn là cấu trúc hình tia Các trục chính được yêu cầu có các thiết bị phân đoạn để tăng độ tin cậy Các thiết bị phân đoạn có thể là dao cách ly, cầu dao phụ tải, thiết bị tự động đóng lại (TĐL) hoặc cao hơn có thể là máy cắt phân đoạn
Trang 281.2.3 Các yêu cầu của lưới điện phân phối
Lưới điện phân phối có mật độ dày đặc, cung cấp điện năng cho phụ tải với chất lượng điện năng đảm bảo, độ tin cậy cao, an toàn và đem lại cho doanh nghiệp kinh doanh điện lợi nhuận cao nhất trong toàn bộ thời gian vận hành:
Chất lượng điện năng bao gồm chất lượng điện áp và chất lượng tần số , phải đảm bảo chúng phải thỏa mãn các tiêu chuẩn về độ lệch và độ dao động Riêng với điện áp, nó còn phải đảm bảo độ không đối xứng
và độ không sin nằm trong giới hạn cho phép
An toàn điện gồm có an toàn cho thiết bị phân phối điện, cho hệ thống điện, cho người vận hành và người dùng điện
Độ tin cậy cung cấp điện cần được xem xét để chọn mức tin cậy hợp lý
về kinh tế, thể hiện trong việc lựa chọn phương án lưới điện
Tổn thất điện năng trên lưới là nhỏ nhất
Khả năng tải của lưới điện cũng cần được đảm bảo, đó là dòng điện hoặc dòng công suất mà đường dây hoặc MBA tải được mà không vi phạm các tiêu chuẩn kỹ thuật Trên LPP, khả năng tải được tính theo phát nóng và tổn thất điện áp: Dòng điện lớn nhất và tổn thất điện áp trên đường dây phải nhỏ hơn giá trị cho phép trong điều kiện bình thường và sự cố để đảm bảo chất lượng điện năng ở phụ tải
1.3 KẾT LUẬN
Việc phát triển nguồn điện phân tán phong điện là xu thế tất yếu trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Với sự gia tăng của các trang trại gió thì các ảnh hưởng của chúng tới lưới điện cũng tăng theo Để đảm bảo các yêu cầu, các tiêu chuẩn kỹ thuật cho lưới điện có tuabin gió kết nối thì việc nghiên cứu “Ảnh hưởng của nguồn phân tán phong điện tới các thông số của lưới” là vô cùng cần thiết
Trang 29CHƯƠNG II CẤU TẠO VÀ NGUYÊN LÝ CỦA HỆ THỐNG NĂNG LƯỢNG GIÓ
Chương này sẽ đi sâu vào việc tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, nguyên lý của hệ thống máy phát điện gió Đồng thời cũng giới thiệu về các loại tuabin gió, từ đó đề xuất lựa chọn loại tuabin gió phù hợp cho điều kiện Việt Nam
2.1 TỔNG QUAN VỀ TUABIN GIÓ
2.1.1 Một số khái niệm về tuabin gió
Tuabin gió là thiết bị chuyển đổi động năng của gió thành điện năng Nguyên
lý làm việc của tuabin gió là chuyển đổi động năng của dòng không khí thành cơ năng trên trục của rotor Năng lượng của gió làm cho các cánh quạt quay quanh 1 rotor Mà rotor được nối với trục chính và trục chính sẽ truyền động làm quay trục quay máy phát để tạo ra điện
Hình 2.1 Minh họa định luật Betz
Trang 30Khả năng tạo ra điện từ gió của một tuabin gió phụ thuộc 3 yếu tố chính sau [9]:
Năng lượng gió có sẵn
Đường cong công suất của tuabin
Khả năng đáp ứng nhiễu loạn gió của tuabin
Công suất cơ một tuabin gió tạo ra được cho bởi công thức:
Theo định luật Betz ( Nhà vật lý người Đức – Albert Bezt 1885 - 1968) về động học khí quyển thì năng lượng gió không thể chuyển tất cả sang một loại năng lượng khác mà chỉ có thể thu được tối đa là 59,26 %, tức là Cp ≤ 59,26% (Xem hình 2.1) Giá trị lý thuyết lớn nhất của Cp là 59,26% Trong những thiết kế thực tế, giá trị lớn nhất có thể đạt được của Cp là dưới 0,5 đối với tốc độ gió cao, tuabin hai cánh, và từ 0,2 đến 0,4 đối với những tuabin tốc độ thấp và nhiều cánh hơn Nếu như ta đặt 0,5 như là hiệu suất thực tế lớn nhất của rotor, thì công suất đầu ra lớn nhất của turbine gió là :
Trang 31Hình 2.2 Đường cong công suất lý tưởng của tuabin gió
Qua đồ thị cho thấy, tốc độ gió mà hệ thống vận hành được giới hạn trong khoảng tốc độ từ 3m/s đến 25m/s Khi tốc độ gió quá nhỏ thì năng lượng gió được tạo ra là không đủ cho vận hành và tổn hao Khi tốc độ gió quá lớn tuabin gió sẽ phải dừng hoạt động để tránh quá tải Hơn nữa việc thiết kế một tuabin gió phải đủ bền vững để đáp ứng được các tiêu chuẩn cơ khí cơ bản
2.1.2 Cấu tạo tuabin gió
Bao gồm các phần chính sau đây (xem hình 2.3):
Cánh quạt (Blades): Gió thổi qua các cánh quạt là nguyên nhân làm cho các cánh quạt chuyển động và quay
Roto: Bao gồm các cánh quạt và trục
Bộ xoay cánh (Pitch): Cánh được xoay hoặc làm nghiêng một ít để giữ cho rotor quay trong gió không quá cao hay quá thấp để tạo ra điện
Phanh (Brake): Dùng để dừng rotor trong tình trạng khẩn cấp bằng điện, bằng sức nước hoặc bằng động cơ
Trục quay tốc độ thấp (Low - speed shaft)
Trang 32Hình 2.3 Cấu tạo của tuabin gió
Hình 2.4 Cấu tạo một cánh đón gió của tuabin gió
Hộp số (Gear box): Bánh răng nối trục có tốc độ thấp với trục có tốc độ
Trang 33 Máy phát (Generator): Phát điện
Bộ điều khiển (Controller): Bộ điều khiển sẽ khởi động động cơ ở tốc
độ gió khoảng 8 đến 14 dặm/giờ tương ứng với 12 km/h đến 22 km/h
và tắt động cơ ở tốc độ khoảng khoảng 65 dặm/giờ tương đương với
104 km/h để các máy phát có được tốc độ làm việc phù hợp, tránh bị phát nóng
Bộ đo vận tốc gió (Anemometer): đo lường tốc độ gió và truyền dữ liệu tốc độ gió tới bộ điều khiển
Bộ đo hướng gió (Wind vane): Để xử lý hướng gió và liên lạc với "yaw drive" để định hướng tuabin gió
Vỏ (Nacelle): Bao gồm rotor và vỏ bọc ngoài, toàn bộ được đặt trên đỉnhcột tháp và bao gồm các phần: hộp số, trục truyền tốc độ cao và thấp, máy phát, bộ điều khiển, and phanh Vỏ bọc ngoài dùng bảo vệ các thành phần bên trong vỏ Một số vỏ phải đủ rộng để một kỹ thuật viên có thể đứng bên trong trong khi làm việc
Trục truyền động của máy phát ở tốc độ cao (High - speed shaft)
Bộ chuyển hướng (Yaw drive): Dùng để giữ cho roto luôn luôn hướng
về hướng gió chính khi có sự thay đổi hướng gió
Mô tơ chuyển hướng (Yaw motor): Động cơ cung cấp cho bộ chuyển hướng định được hướng gió
Cột tháp (Tower): Được làm bằng thép hình trụ hoặc thanh dằng bằng thép Bởi vì tốc độ gió tăng lên nếu cột càng cao, cột tháp cao hơn thu được năng lượng gió nhiều hơn và phát ra điện nhiều hơn
2.1.3 Các dạng tuabin gió
Về cơ bản có thể chia loại tuabin gió theo nhiều hình thức khác nhau: theo cấu tạo hoạt động, theo công suất hay theo số cánh quạt Tuy nhiên có thể chia tuabin gió theo
2 loại cơ bản sau đây: tuabin gió trục đứng và tuabin gió trục ngang
a/ Tuabin gió trục đứng (đây là loại tuabin mới phát triển trong thời gian gần đây):
cấu tạo giống như máy bay trực thăng, cánh quay của turbin theo trục hướng lên
Trang 34theo hình dưới đây, trục quay vuông góc với dòng gió và mặt đất, dải vận tốc gió hoạt động 3 - 40m/s, chiều cao tubin dưới 30m, số cánh quạt 2 - 4 cánh, bán kính cánh quạt dưới 10m
Hình 2.5 Tuabin gió trục đứng
Ưu điểm:
- Các máy phát điện, hộp số vv có thể đặt dưới mặt đất
- Dải vận tốc gió hoạt động là khá rộng
- Không cần thiết có cơ chế chuyển hướng như tuabin trục ngang
- Tuabin hoạt động không phụ thuộc vào hướng của vận tốc dòng khí nên
có thể lắp đặt ở vị trí có vận tốc gió cao với dòng chảy không ổn định
Vì vậy nó phù hợp hơn cho đô thị, nơi có nhiều gió xoáy và hướng gió thay đổi, với một cánh quạt mà quay quanh một trục thẳng đứng, gió đến từ bất kỳ hướng nào cũng có thể làm quay cánh và cung cấp điện
- Tuabin loại này thường êm hơn tuabin trục ngang, ngoài ra đối với tuabin cánh quạt dạng hình trụ đỡ tốn diện tích không gian lắp đặt, kết cấu tương đối vững chắc
Trang 35- Hiệu quả tổng thể của máy trục đứng không cao Hiệu suất của tuabin chỉ bằng 50% so với tubin trục ngang khi hoạt động ở cùng 1 vận tốc gió
- Loại này cần bố trí dây guy để giữ
b/ Tuabin gió trục ngang (đây loại tubin gió phổ biến trên thị trường - xem hình
2.6) là loại phổ biến có 2 hay 3 cánh quạt Tuabin gió 3 cánh quạt hoạt động theo chiều gió với bề mặt cánh quạt hướng về chiều gió đang thổi Ngày nay tuabin gió 3 cánh quạt được sử dụng rộng rãi, công suất phát điện từ vài trăm W đến vài MW, dải vận tốc gió hoạt động từ 4 m/s -25 m/s, chiều cao cột chống tuabin 6 m ( loại công suất nhỏ) – 120 m (loại công suất lớn), bán kính cánh quạt từ 3 m – 45 m, số vòng quay cánh quạt 20 – 40 vòng/phút
Ưu điểm:
- Đây là loại tuabin gió có hiệu suất cao nhất
- Thích hợp với nhiều vận tốc gió khác nhau
- Hình dạng và kích thước lớn nên đòi hỏi chỉ số an toàn cao
Nhược điểm:
- Tuy có hệ thống điều chỉnh hướng để đón gió nhưng vẫn giới hạn ở 1 góc
quay nhất định nên chỉ thích hợp cho những nơi có vận tốc gió ổn định
Hình 2.6 Tuabin gió trục ngang
Trang 362.2 CÁC LOẠI CẤU HÌNH TUABIN GIÓ VÀ PHƯƠNG PHÁP KẾT NỐI LƯỚI ĐIỆN
Cấu hình tuabin gió được phân chia dựa trên 2 yếu tố là tốc độ hoạt động (là
cố định hay thay đổi) và phương pháp điều khiển điện năng
2.2.1 Tốc độ hoạt động của tuabin gió
2.2.1.1 Tuabin gió có tốc độ cố định (Fixed-speed wind turbines)
Trong đầu những năm 1990 tiêu chuẩn cài đặt các tuabin gió là hoạt động ở tốc độ cố định Điều đó có nghĩa là bất kì tốc độ gió nào, tốc độ cánh quạt của tuabin gió là cố định và xác định bởi tần số của lưới điện cung cấp, tỷ số truyền và thiết kế máy phát điện
Đặc trưng của tuabin gió tốc độ cố định là chúng được trang bị máy phát điện cảm ứng (rotor lồng sóc hoặc rôto dây quấn) kết nối trực tiếp với lưới điện, với một phần mềm khởi động và bộ tụ để giảm mức tiêu hao công suất phản kháng Chúng được thiết kế để đạt được hiệu quả tối đa tại một tốc độ gió cụ thể Để tăng cường sản xuất điện, máy phát điện của một số tuabin gió có tốc độ cố định có hai cuộn dây: một là sử dụng tốc độ gió thấp (thường là 8 điện cực) và tốc độ gió trung bình, cao (thường 4 -6 điện cực)
Tuabin gió có tốc độ cố định có lợi thế là đơn giản, mạnh mẽ, đáng tin cậy và cũng đã được kiểm chứng Tổn thất điện năng của nó thấp Nhược điểm của nó là không kiểm soát được tiêu thụ công suất phản kháng, ứng suất cơ học và chất lượng điện năng bị giới hạn Do hoạt động ở tốc độ cố định , tất cả các biến động của tốc
độ gió sẽ gây lên các biến động trong mô - men xoắn cơ khí và sau đó là sự biến động của điện năng trên lưới điện Trong trường hợp lưới yếu, dao động năng lượng cũng có thể dẫn đến các biến động điện áp lớn, điều này sẽ cho kết quả rã lưới
2.2.1.2 Tuabin gió tốc độ thay đổi (Variable-speed wind turbines )
Trang 37thích ứng (tăng tốc hay giảm tốc) tốc độ quay của tuabin gió với tốc độ gió Bằng cách này, tốc độ được giữ không đổi ở một giá trị được xác định tương ứng với hệ
số công suất tối đa Trái ngược với một hệ thống tốc độ cố định, một hệ thống biến tốc giữ mô - men xoắn máy phát điện tương đối ổn định và các thay đổi gió được hấp thu bởi những thay đổi trong tốc độ máy phát điện
Hệ thống điện của một tuabin gió có tốc độ thay đổi phức tạp hơn một tuabin gió tốc độ cố định Nó thường được trang bị với máy phát điện cảm ứng hoặc máy phát điện đồng bộ và kết nối với lưới điện thông qua một công cụ chuyển đổi điện năng Bộ chuyển đổi điện năng kiểm soát tốc độ máy phát điện, đó là dao động năng lượng gây ra bởi sự thay đổi gió được hấp thu chủ yếu bởi những thay đổi tốc
độ trong rotor máy phát điện và cực từ trong roto tuabin gió
Những lợi thế của tuabin gió có tốc độ thay đổi là nắm bắt được sự tăng năng lượng, cải thiện chất lượng điện và giảm áp lực cơ khí trên các tuabin gió.Nhược điểm là gây tổn thất trong phần điện tử công suất, sử dụng nhiều bộ phận hơn và tăng chi phí thiết bị vì các thiết bị điện tử công suất
Việc sử dụng các loại tuabin gió có tốc độ thay đổi làm tăng số lượng ứng dụng của các loại máy phát điện và cũng tạo ra một vài sự kết hợp giữa các loại máy phát điện và các loại chuyển đổi điện năng
2.2.2 Tổng quan về các loại điều khiển điện năng
Tất cả các tuabin gió được thiết kế với một số loại điều khiển điện năng Có nhiều cách khác nhau để kiểm soát lực động lực học trên các rotor tuabin gió và do
đó hạn chế sức phá hoại của gió khi gió lớn để tránh hỏng hóc cho tuabin gió
Phương pháp điều khiển hiệu quả nhất và rẻ tiền nhất là điều khiển trạng thái thất tốc - the stall control (điều khiển thụ động), nơi mà các cánh quạt được bắt vít vào trung tâm ở một góc cố định Thiết kế khí động lực học roto làm cho roto thất tốc (mất điện) khi tốc độ gió vượt quá một mức nhất định Như vậy, lực khí động học trên các cánh quạt bị hạn chế Kiểm soát lực khí động học chậm gây ra những biến động năng lượng ít hơn so với việc điều chỉnh góc nghiêng cánh quạt Một số hạn chế của phương pháp này là hiệu quả thấp hơn ở tốc độ gió thấp, không có hỗ
Trang 38trợ khởi động và sự thay đổi lớn trong ổn định điện do sự thay đổi trong tỷ trọng không khí và tần số lưới điện
Một loại hình điều khiển khác là điều khiển góc nghiêng - pitch control (điều khiển chủ động), ở đó những cánh quạt có thể tạo ra sản lượng điện đầu ra cao hay thấp tương ứng Nói chung, những ưu điểm của loại hình điều khiển này là điều khiển điện tốt, hỗ trợ khởi động và dừng khẩn cấp Từ sản lượng điện cho thấy, kiểm soát năng lượng tốt có nghĩa là ở tốc độ gió cao, giá trị trung bình của sản lượng điện được giữ gần với công suất định mức của máy phát điện Một số nhược điểm là sự phức tạp phát sinh từ cơ cấu truyền động ở các góc nghiêng và dao động năng lượng cao hơn ở tốc độ gió cao Năng lượng chỉ là tức thời vì các cơn gió giật
và tốc độ hạn chế của cơ cấu truyền động góc nghiêng, làm năng lượng dao động xung quanh một giá trị trung bình
Cách điều khiển thứ ba là điều khiển trạng thái thất tốc chủ động - the active stall control Như tên ngụ ý, sự thất tốc của những cánh quạt được điều khiển một cách chủ động bằng góc nghiêng của cánh quạt Ở tốc độ gió thấp cánh quạt nghiêng giống như loại tuabin gió điều khiển góc nghiêng, để đạt được hiệu quả tối
đa Ở tốc độ gió cao, cánh quạt đi vào trạng thái thất tốc bằng cách xoay nhẹ vào hướng đối diện với tuabin điều khiển góc nghiêng Hoạt động của các trạng thái thất tốc tuabin gió làm hạn chế dao động năng lượng, không có dao động năng lượng cao như trong trường hợp của tuabin gió điều khiển góc nghiêng Loại điều khiển này có lợi thế là có thể bù đắp sự thay đổi về tỷ trọng không khí Sự kết hợp với cơ chế thay đổi góc nghiêng làm cho việc dừng khẩn cấp và khởi động tuabin gió dễ thực hiện
2.2.3 Các loại cấu hình tuabin gió và phương pháp kết nối lưới
Trong phần sau đây, các cấu hình tuabin gió phổ biến nhất được phân chia dựa
Trang 39Cấu hình tua bin gió có thể đƣợc tiếp tục phân loại đối với các loại điều khiển năng lƣợng (hay cánh quạt): thất tốc, góc nghiêng, thất tốc chủ động Bảng 2.1 cho thấy các loại khác nhau của các cấu hình tuabin gió, cả hai tiêu chuẩn (kiểm soát tốc
độ và kiểm soát năng lƣợng) vào một bảng Mỗi sự kết hợp của hai tiêu chí này nhận đƣợc một kí hiệu, ví dụ loại A0 biểu thị tuabin gió tốc độ thất tốc cố định Các phần gạch chân trong bảng 2.1 cho thấy sự kết hợp không đƣợc sử dụng trong ngành công nghiệp tuabin gió hiện nay (ví dụ nhƣ loại B0)
Hình 2.7 Cấu hình gió tuabin tiêu biểu
Trang 40Lưu ý:
SCIG = squirrel cage induction generator (máy phát điện lồng sóc cảm ứng) WRIG = wound rotor induction generator (máy phát điện cảm ứng rotor dây quấn) PMSG = permanent magnet synchronous generator (máy phát điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu)
WRSG = wound rotor synchronous generator( máy phát điện đồng bộ rotor dây quấn)
Bảng 2.1 Các cấu hình tuabin gió khác nhau
Điều khiển tốc độ
Điều khiển năng lƣợng
động
Loại C Loại C0 Loại C1 Loại C2
Loại D Loại D0 Loại D1 Loại D2
2.2.3.1 Kết nối loại A: tốc độ cố định ( fixed speed)
Hình 2.8 Kết nối lưới của máy máy phát điện lồng sóc cảm ứng SCIG - squirrel
cage induction generator
Cấu hình này biểu thị các tuabin gió tốc độ cố định với một máy phát điện