Khái niệm về năng lượng sinh khối 1.1.1.Định nghĩa sinh khối, năng lượng sinh khối Sinh khối biomass là một thuật ngữ bao hàm rất rộng dùng để mô tả các vật chất có nguồn gốc sinh học
Trang 11
MỤC LỤC
Nô ̣i dung
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 9
TỔNG QUAN VỀ VIỆC SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG SINH KHỐI 9
1.1 Khái niệm về năng lượng sinh khối 9
1.1.1.Định nghĩa sinh khối, năng lượng sinh khối 9
1.1.2 Quá trình chuyển đổi sinh khối thành năng lượng 11
1.2 Những ưu điểm và hạn chế của năng lượng sinh khối 15
1.2.1 Ưu điểm của năng lượng sinh khối 15
1.2.2 Hạn chế 16
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG CỦA CÁC DẠNG SINH KHỐI ĐỂ PHÁT ĐIỆN Ở VIỆT NAM 17
2.1 Thực trạng sử dụng năng lượng sinh khối ở việt nam 17
2.1.1 Các dạng sinh khối phổ biến ở Việt Nam 17
2.1.2 Hiện trạng sử dụng năng lượng sinh khối ở Việt Nam 33
2.2 Thuận lợi và khó khăn đối với việc phát triển nguồn NLSK ở Việt Nam
43
2.2.1 Thuận lợi của việc phát triển nguồn NLSK ở nước ta 43
2.1.2 Những rào cản đối với việc phát triển nguồn NLSK ở nước ta 45
2.3 Công nghệ sản xuất điện từ sinh khối 46
2.3.1 Đốt trực tiếp 47
2.3.2 Đồng đốt 48
2.3.3 Nhiệt phân 48
2.3.4 Khí hóa sinh khối 49
2.4 Đánh giá tiềm năng sử dụng sinh khối để phát điện ở Việt Nam 54
Chương 3: ĐÁNH GIÁ MỘT DỰ ÁN NHÀ MÁY ĐIỆN DÙNG SINH KHỐI BẰNG PHẦN MỀM RESTCREEN 59
3.1 Tổng quan về phần mềm RETScreen 59
Trang 22
3.1.1 Giới thiệu phần mềm RETScreen 59
3.1.2 Cơ sở dữ liệu của phần mềm RETScreen 61
3.1.3 Các ứng dụng của phần mềm RETScreen 62
3.1.4 Cơ sở lý luận để đánh giá dự án của phần mềm RETScreen 64
3.2 Đánh giá 1 dự án nhà máy điện dùng nguyên liệu bã mía bằng phần mềm RETScreen 69
3.2.1 Tiềm năng sinh khối bã mía tại công ty mía đường Lam Sơn 69
3.2.2 Sử dụng phần mềm RETScreen để đánh giá tiềm năng sử dụng bã mía để phát điện tại Công ty Mía đường Lam Sơn 70
3.3 Sử dụng phần mềm RETScreen phân tích các chỉ tiêu của nhà máy điện diesel 87 3.3.1 Tổng quát 87
3.3.2 Phân tích phát thải 89
3.3.3 Phân tích tài chính 89
3.4 So sánh về mặt kinh tế, kỹ thuật và xã hội của 2 dự án phát điện từ bã mía và máy phát diesel 91
3.4.1 So sánh hai dự án phát điện từ bã mía và máy phát diesel 91
3.4.2 Nhận xét 92
3.5 Nghiên cứu phương án lai ghép phát điện từ bã mía – diesel 93
3.5.1 Phân tích, đánh giá dự án lai ghép điện từ bã mía – diesel bằng phần mềm RETScreen 93
3.5.2 Đánh giá dự án lai ghép phát điện từ bã mía – diesel 99
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
4.1 Kết luận 100
4.2 Khuyến nghị 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, các thầy, cô giáo viện sau đại học, bộ môn hệ thống điện, đặc biệt PGS.TS Nguyễn Lân Tráng đã tận tình hướng dẫn giúp tác giả hoàn thành luận văn Thạc sĩ kỹ thuật đúng thời gian quy định
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu trường Trung cấp nghề Nghi Sơn, các thầy cô trong trường TCN Nghi Sơn đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả hy vọng những kiến thức đã học tập và nghiên cứu sẽ giúp công tác
và cuộc sống của tác giả được tốt hơn
Mặc dù rất cố gắng nhưng với năng lực còn nhiều hạn chế nên khó tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo,
cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Tác giả xin chân thành cảm ơn./
Tác giả
Trịnh Xuân Thắng
Trang 44
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tác giả, các số liệu trong luận văn là trung thực, khách quan, dựa trên các kết quả nghiên cứu thực tế và các tài liệu đã được công bố
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Trịnh Xuân Thắng
Trang 55
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NLSK Năng lượng sinh khối
NLTT Năng lượng tái tạo
NLSH Năng lượng sinh học
ĐBSH Đồng Bằng sông Hồng
ĐBSCL Đồng Bằng sông Cửu Long
WHO Tổ chức y tế thế giới
WB Ngân hàng thế giới
GEF Viện Nghiên Cứu Môi Trường Toàn Cầu
REEEP Hội Hợp Tác Hiệu Quả Năng Lượng và Năng Lượng Có Thể Tái Tạo UNEP Chương Trình Môi Trường Liên Hợp Quốc
CFB Công nghệ lò hơi tầng sôi tuần hoàn
VSSA Hiệp hội mía đường Việt Nam
Trang 66
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Hình 1: Cây lúa Hình 2: Cánh đồng lúa đang thu hoạch[2] 17
Hình 3: Trấu, củi trấu 18
Hình 4 Thu hoạch rơm rạ sau vụ mùa 18
Hình 5: Cánh đồng mía 19
Hình 6: Bã mía tại nhà máy đường 19
Hình 7 Cánh đồng ngô 20
Hình 8: Lõi ngô 20
Hình 9: Sắn tại nhà máy 21
Hình 10: Cây Cà phê 22
Hình 11: Cấu tạo sinh thái quả cà phê 23
Hình 12: Quả dừa 25
Hình 13: Vỏ dừa 26
Hình 14: Chế biến cá xuất khẩu 28
Hình 15: Trang trại chăn nuôi lợn 28
Hình 16 Rừng trồng lấy gỗ 30
Hình 17: Sản xuất sản phẩm từ gỗ 32
Hình 18Mùn cưa và mùn cưa đóng bánh 33
Hình 19 Nhiệt phân khí hóa trong quá trình cháy 46
Hình 20 Lò hơi đốt sinh khối đang hoạt động 47
Hình 21 Khí hóa sinh khối updraft Hình 22 Khí hóa sinh khối downdraft 50 Hình 23 Nguyên lý lò hơi tầng sôi 51
Hình 24 xử lý khói thải của lò hơi tầng sôi 53
Hình 25 Sơ đồ quá trình thực hiện dự án đầu tư 60
Hình 26 Biểu diễn chi phí và mức độ không chắc chắn của dự án theo thời gian 61
Hình 27 Tua bin hơi nước SHINKO DNG40 70
Bảng 1: Sản lượng một số nông sản trọng yếu[1] 17
Bảng 2: Tổng tiêu thu NLSK qua các năm 34
Bảng 3: Các lĩnh vực sử dụng NLSK 34
Bảng 4: Sử dụng SK theo năng lượng cuối cùng 35
Bảng 5: Tiềm năng của một số dạng SK 55
Trang 77
MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong giai đoạn vươn mình phát triển mạnh mẽ, đặc biệt chú trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Điều này đòi hỏi cần một nguồn năng lượng điện năng rất lớn Nhu cầu năng lượng phục vụ cho sản xuất,sinh hoạt đời sống cũng không ngừng tăng theo hàng năm Trong khi các nguồn năng lượng truyền thống (thủy điện, than đá, dầu mỏ ) đang ngày càng khan hiếm Theo dự báo, trữ lượng dầu thô của thế giới sẽ cạn kiệt vào khoảng năm 2050 – 2060 Sự phụ thuộc quá nhiều vào năng lượng hoá thạch gây ra những vấn đề: an toàn nguồn năng lượng, hiệu ứng nhà kính do khí thải và sự bất ổn về chính trị và chủ nghĩa khủng
bố thế giới Điều này cho thấy đảm bảo an ninh năng lượng là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia
Trước những đòi hỏi đó đặt ra cho các nước trên thế giới phải quan tâm đến việc sản xuất và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo (NLTT) và quan tâm đến bảo
vệ môi trường Một trong số các nguồn NLTT đó là năng lượng sinh khối Năng lượng sinh khối (NLSK) là nguồn năng lượng cổ xưa nhất đã được con người sử dụng khi bắt đầu biết nấu chín thức ăn và sưởi ấm
Ngành nông nghiệp của Việt Nam có vị trí vô cùng quan trọng với tỷ trọng chiếm 20,3% trong toàn bộ nền kinh tế, 70% dân số làm nông nghiệp Hiện nay, Việt Nam luôn nằm trong tốp các nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới Trong quá trình canh tác nông nghiệp, bên cạnh các sản phẩm chính luôn tạo ra một lượng lớn phụ phẩm Nếu không được quản lý tốt nguồn phụ phẩm này chúng sẽ biến thành lượng rác thải rất lớn và gây ô nhiễm môi trường
Việc áp dụng đưa nguồn NLSK vào sử dụng không chỉ thay thế nguồn năng lượng hoá thạch mà còn góp phần xử lý chất thải rắn trong môi trường hiện nay Do
đó, việc nghiên cứu đánh giá khả năng sử dụng năng lượng sinh khối để phát điện ở Việt Nam là rất cần thiết, không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng và còn góp phần giảm thiểu ảnh hưởng tới môi trường, tận dụng được nguồn năng lượng sẵn có
Trang 8Nội dung chính của luận văn bao gồm:
1 Tổng quan về việc sử dụng năng lượng sinh khối hiện nay ở nước ta
2 Đánh giá tiềm năng của các dạng sinh khối để phát điện ở Việt Nam
3 Đánh giá một dự án nhà máy điện dùng nguyên liệu bã mía chạy bằng phần mềm RETScreen
Trang 99
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VIỆC SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG SINH KHỐI
1.1 Khái niệm về năng lượng sinh khối
1.1.1.Định nghĩa sinh khối, năng lượng sinh khối
Sinh khối (biomass) là một thuật ngữ bao hàm rất rộng dùng để mô tả các vật
chất có nguồn gốc sinh học vốn có thể được sử dụng như một nguồn năng lượng hoặc do các thành phần hoá học của nó Sinh khối (SK) chứa năng lượng hoá học, nguồn năng lượng từ mặt trời tích luỹ trong thực vật qua quá trình quang hợp Sinh khối là các phế phẩm từ nông nghiệp ( rơm rạ, bã mía, vỏ dừa, sơ bắp v.v…), từ phế phẩm lâm nghiệp ( lá khô, vụn gỗ, v.v…), giấy vụn, mêtan từ các bãi chôn lấp, trạm
xử lý nước thải, chất thải từ các trại chăn nuôi gia súc gia cầm
Năng lượng sinh khối (NLSK) là năng lượng được sản sinh từ nguồn SK Bản chất của NLSK là năng lượng Mặt trời được lưu giữ trong SK thông qua quá trình quang hợp của cây cối để biến đổi CO2 thành hiđratcacbon (đường, tinh bột, xenlulô) là những hợp chất cấu tạo nên SK Khi sử dụng các SK này xảy ra quá trình giải phóng năng lượng tích trữ trong các hiđratcacbon và phát thải CO2 vào khí quyển Năng lượng sinh khối được xem là năng lượng tái tạo vì nó được bổ sung nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ bổ sung của năng lượng hoá thạch
Sự khác nhau quan trọng nhất giữa năng lượng sinh khối và nhiên liệu hóa thạch là thời gian hình thành của chúng Sinh chất lấy cacbon ra khỏi không khí khi chúng phát triển và trả lại không khí khi nó bị đốt cháy Nếu được kiểm soát trong
sự bền vững cơ bản, sinh chất sẽ được thu hoạch như 1 phần của vụ mùa bổ sung liên tiếp Sinh chất đến từ quá trình trồng rừng, quá trình quản lý cây, vùng trồng cây, hoặc từ 1 giai đọan của quá trình trồng lại cây liên tục Cây phát triển lấy khí
CO2 từ không khí ngay khi khí được thải ra qua quá trình đốt cháy của vụ mùa trước Chu trình này giữ lại sự tuần hoàn khép kín của cacbon mà không làm tăng mật độ CO2 trong không khí
Trang 1010
Tuy nhiên có một lượng lớn từ chất phế phẩm và rác thải được sử dụng với
số lượng lớn với 1 giá tương đối rẻ, hoặc thậm chí giảm được chi phí ở những nơi hiện tại đang có yêu cầu trả tiền cho rác thải Có các loại vật liệu cơ bản như:
- Gỗ mới, lấy từ rừng, các hoạt động trồng rừng hoặc từ các quá trìnhsản xuất gỗ
- Chất thải nông nghiệp: chất thải sinh ra từ quá trình thu hoạch hoặc xử lý nông nghiệp
- Thức ăn thừa: từ các họat động sản xuất, chuẩn bị và xử lý thức và rác thải
- Chất thải công nghiệp và phế phẩm: từ quá trình sản xuất và các quy trình công nghiệp Vì sự đa dạng trong tính chất và đặc tính của nhiều loại vật liệu và các phân nhóm khác nhau của chúng, hiện tại có rất nhiều kĩ thuật chuyển hóa để có thể sử dụng những vật liệu đó một cách tối ưu, bao gồm cả kỹ thuật chuyển hóa nhiệt và hóa chất
Sinh khối còn có thể được phân chia nhỏ ra thành các thuật ngữ cụ thể hơn, tùy thuộc vào mục đích sử dụng: tạo nhiệt, sản xuất điện năng hoặc làm nhiên liệu cho giao thông vận tải, vận tải hàng không và vận tải hạng nặng mà hiện tại các loại pin điện chưa thể đáp ứng được
Các nguồn sinh khối được chuyển thành các dạng năng lượng khác như điện năng, nhiệt năng, hơi nước và nhiên liệu qua các phương pháp chuyển hóa như đốt trực tiếp và turbin hơi, phân hủy yếm khí (anaerobic digestion), đốt kết hợp (co-firing) khí hóa (gasification) và nhiệt phân (pyrolysis)
Năng lượng sinh khối (NLSK) là nguồn năng lượng cổ xưa nhất đã được con người sử dụng khi bắt đầu biết nấu chín thức ăn và sưởi ấm Củi là nguồn năng lượng chính cho tới đầu thế kỷ 20 khi nhiên liệu hoá thạch thay thế nó Trong những năm gần đây sự chú ý tới các công nghệ NLSK hiện đại nói riêng và năng lượng tái tạo nói chung đã tăng mạnh trên toàn cầu để thay thế các nguồn năng lượng hoá thạch vì hai lý do:
Trang 1111
Một là do các nguồn năng lượng hoá thạch đang ngày càng cạn kiệt dần (dự trữ dầu như được đánh giá cuối năm 2002 vào khoảng 40 năm tiêu thụ với mức độ tiêu thụ như hiện nay)
Hai là các nguồn này gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Khác với các công nghệ năng lượng tái tạo khác, công nghệ năng lượng sinh khối không chỉ thay thế năng lượng hoá thạch mà nhiều khi còn góp phần xử lý chất thải vì chúng tận dụng các nguồn chất thải để sản xuất năng lượng
1.1.2 Quá trình chuyển đổi sinh khối thành năng lượng
Nhiên liệu sinh khối có thể ở dạng rắn, lỏng, khí được đốt để giải phóng năng lượng Sinh khối, đặc biệt là gỗ, than gỗ cung cấp phần năng lượng đáng kể cho thế giới Một phần không nhỏ dân số trên thế giới dựa trên nguồn năng lượng chính từ sinh khối Con người đã sử dụng năng lượng sinh khối để sưởi ấm và nấu
ăn từ hàng ngàn năm trước Hiện nay, gỗ vẫn là nguồn nhiên liệu được sử dụng phổ biến ở các nước đang phát triển Những nghiên cứu của các nhà khoa học gần đây
đã chỉ ra rằng việc chuyển đổi sinh khối thành dạng năng lượng điện năng sẽ có lợi
và mang lại hiệu quả hơn nhiều khi chyển sang các dạng nhiên liệu khác
Sinh khối cũng có thể chuyển thành dạng nhiên liệu lỏng như Metanol, êtanol dùng trong các động cơ đốt trong hay thành dạng khí sinh học (biogas) ứng dụng cho nhu cầu năng lượng ở quy mô gia đình
Quá trình biến đổi SK thành năng lượng có thể được biểu diễn theo sơ đồ sau:
Trang 1212
Nguồn sinh khối rất đa dạng vì vậy quá trình biến đổi SK thành năng lượng hữu ích cũng đa dạng Quá trình chuyển đổi SK thành năng lượng có thể được chia làm 2 loại cơ bản sau:
- Quá trình biến đổi trực tiếp SK thành năng lượng hữu ích như việc đốt cháy SK để phục vụ sinh hoạt (đun, nấu…) và sản xuất (đốt lò vôi, lò gốm…)
- Quá trình trong đó SK được biến đổi thành các nhiên liệu thứ cấp khác như: đóng bánh SK, sản xuất than gỗ, khí hoá Sau đó mới biến đổi thành năng lượng hữu ích Đây là phương pháp làm tăng hiệu suất sử dụng của SK, dề vận chuyển, lưu trữ, sử dụng Ngày nay khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ con người đã nghiên cứu ra rất nhiều công nghệ để biến đổi SK thành năng lượng hiệu quá hơn
Các nhà khoa học hiện nay đang tiến hành để tìm thêm các loại sinh khối có
thể được sử dụng để tạo ra nhiên liệu và cách thức hiệu quả hơn để chuyển đổi nó thành nhiên liệu phục vụ cho các nhà máy sản xuất ô tô, các nhà máy điện, và các ngành công nghiệp khác sẽ bắt đầu thay đổi hệ thống năng lượng của họ nhiều hơn
để một tỷ lệ phần trăm cao hơn năng lượng sản xuất đến từ sinh khối
NHIÊN LIỆU
§èt ch¸y trùc tiÕp Động cơ nhiệt
Pin nhiªn liÖu
Trang 1313
Các công nghệ biến đổi SK thành nhiên liệu được thực hiện thông qua 3 quá trình
là; vật lý, nhiệt hóa và sinh học
Quá trình vật lý:
- Thường sử dụng chất thải SK ở dạng gốc (vỏ dừa, chất hữu cơ phơi khô: mùn cưa, vỏ trấu…) đóng bánh với đường kính viên ép là 55 ÷ 65 mm, trọng lượng mỗi bánh từ 5 ÷ 50 kg Chất lượng cháy, hiệu suất thu hồi nhiệt cao hơn khi đốt củi hoặc đốt than hầm
- Về phương diện kinh tế giá thành vẫn còn cao so với đốt vật liệu trước khi
ép Tuy nhiên, quá trình này tạo thuận lợi cho việc vận chuyển vì thể tích chất phế thải được thu nhỏ
* Quá trình nhiệt hoá:
- Đốt cháy: Đốt là quá trình xử lý biến đổi SK hoặc chất thải thành nhiệt và hơi nước Năng lượng được sản xuất ra thường chỉ là một sản phẩm thứ cấp bên cạnh quá trình này Mặt khác nhiệt và hơi nước sản xuất ra có thể biến đổi sang điện
Viên,bó, bánh
lượng cuối cùng Khí tổng hợp
Khí, dầu, cốc
Khí hoá Nhiệt phân
Gỗ vụn, mùn cưa trấu,…
Dầu thực vật
Etanol Khí sinh học Phân giải kỵ khí
Lên men rượu
Ép
Trang 1414
hoặc được trực tiếp sử dụng như nguồn năng lượng Các hệ thống đốt SK chủ yếu được thiết kế cho gỗ và phụ phẩm nông nghiệp Trong nhiều nước công nghiệp phát triển, chất thải rắn cũng được đốt để giảm lượng chất thải và sử dụng năng lượng được tạo ra Đây là công nghệ hiện đại vì vậy chi phí đầu tư cao
- Khí hoá: Nhiệt độ trong quá trình khí hoá tương đối cao Lượng không khí cung cấp vào quá trình này hạn chế (oxy hoá một phần) sẽ biến SK thành nhiên liệu khí (50% là N, 20% là CO và 15% H2) Khí tạo ra với nhiệt trị thấp, được sử dụng trong làm khô, kéo tuốcbin khí hoặc làm nhiên liệu cho động cơ đốt trong;
- Nhiệt phân: Là quá trình biến đổi SK thành 3 phần: nhiên liệu lỏng, hỗn hợp khí gọi là “khí phát sinh” và các chất thải rắn Quá trình nhiệt phân SK với nhiệt độ cao, mức độ oxy hoá thấp, không được cháy hoàn toàn do nhiệt phân nhanh
và phát sáng
* Quá trình sinh học:
- Lên men rượu: Đường, cặn và các chất hữu cơ xenlulô được biến đổi nhờ vi khuẩn và chuyển sang các sản phẩm có gốc rượu cồn Sản phẩm êtanol tương đối tinh khiết sau khi được chưng cất Công nghệ này phát triển rộng vì rượu được dùng phổ biến Do đòi hỏi vốn đầu tư lớn và cần nhiều nguyên liệu đầu vào nên công nghệ lên men chưa có hiệu quả cao
- Phân giải yếm khí: Ủ chất thải trong hầm là một quá trình vi sinh tự nhiên làm phân huỷ chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí (thiếu oxy) Điều này xảy ra ở các hệ thống không được kiểm soát như trong các đống phế thải, các bãi rác hoặc trong điều kiện có kiểm soát (như các lò khí sinh học, các bãi rác có kiểm soát v.v…) Mục đích chính của công nghệ yếm khí là tạo ra khí năng lượng cao (chứa đến 70% khí CH4); tạo ra phân và làm giảm ô nhiễm môi trường Quá trình yếm khí được sử dụng rộng rãi để xử lý nước thải công nghiệp và các chất thải dạng bùn sệt, phân dùng trong nông nghiệp Việc xử lý chất thải rắn (các chất hữu cơ đã được
Trang 1515
phân tách ra) là ứng dụng tương đối mới, nhưng được phổ cập nhanh vì có ưu điểm
là tạo ra năng lượng
1.2 Những ưu điểm và hạn chế của năng lượng sinh khối
1.2.1 Ưu điểm của năng lượng sinh khối
a Về kinh tế
- Do có thể tận dụng được các phế phẩm, chất thải của nông, lâm nghiệp nên giá đầu vào thấp, nguồn cung cấp dồi dào, phong phú Ngoài ra phát triển năng lượng sinh khối đang được các nước khuyến khích ưu tiên Đây chính là lợi thế cho năng lượng sinh khối phát triển
- Phát triển năng lượng sinh khối chính là phát triển nông thôn, tạo thêm việc làm cho người lao động Tận dụng được nguồn lao động lớn ở nông thôn có giá nhân công rẻ
- Phát triển năng lượng sinh khối còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp năng lượng, khoa học kỹ thuật Tạo ra một ngành năng lượng không phải là mới nhưng hiệu quả, tiên tiến hơn, giảm sự phụ thuộc vào dầu
mỏ, than đá Người tiêu dùng cho nhiều lựa chọn hơn với nguồn cung cấp năng lượng mới này
b Về môi trường
- Năng lượng sinh khối tận dụng chất thải làm nhiên liệu Do đó vừa làm giảm lượng rác thải vừa biến chất thải thành sản phẩm có ích Đốt sinh khối cũng thải ra CO2 nhưng mức S và tro thấp hơn đáng kể so với việc đốt than bitum Chúng ta có thể cân bằng CO2 thải vào không khí nhờ trồng cây xanh hấp thụ CO2
Vì vậy, sinh khối lại được tái tạo thay thế sinh khối đã sử dụng nên xét tổng thể sử dụng năng lượng sinh khối không làm tăng CO2 trong khí quyển
Ngoài ra, việc sử dụng sinh khối để tạo năng lượng có tác động tích cực đến môi trường Hiển nhiên việc đốt sinh khối không thể giải quyết ngay vấn đề mất cân bằng vể tỷ lệ CO2 hiện nay Tuy nhiên, vai trò đóng góp của sinh khối trong việc
Trang 1616
sản xuất năng lượng vẫn rất đáng kể trong việc bảo vệ cân bằng môi trường, vì nó tạo ra ít CO2hơn năng lượng hóa thạch Một cách khái quát, CO2 tạo ra bởi việc đốt sinh khối sẽ được "cô lập" tạm thời (sequestered) trong cây cối được trồng mới để thay thế nhiên liệu Nói một cách khác, đó là một chu kỳ tuần hoàn kín với tác động hết sức nhỏ lên môi trường
Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý nếu tăng cường sử dụng gỗ như một nguồn nhiên liệu sinh khối thì sẽ gây ra nhưng tác động tiêu cực đến môi trường Khai thác
gỗ dẫn đến phá rừng, xói mòn đất, sa mạc hoá và những hệ luỵ khó lường khác Năng lượng sinh khối có nhiều dạng và nhưng lợi ích có được khi tập trung vào những dạng sinh khối mang tính tái sinh, tận dụng từ phế thải nông lâm nghiệp
1.2.2 Hạn chế
- Hiệu suất sinh năng lượng thấp (7 ÷ 11%) do công nghệ sản xuất cũng như bản thân khả năng sinh năng lượng của các phụ phẩm SK
- Phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết, khí hậu
- Việc thu gom tập trung và lưu trữ gặp khó khăn
- Quá trình chuyển đổi năng lượng phức tạp
- Chịu sức ép từ các nhu cầu sử dụng SK khác
Tóm lại tìm hiểu về vấn đề năng lượng sinh khối để phát điện đang trở thành một chủ đề nóng trong những năm gần đây Bởi các nguồn nhiên liệu hóa thạch được sử dụng để cung cấp năng lượng hiện nay là nguồn cung hạn chế và cuối cùng
sẽ bị cạn kiệt Ngoài ra, các khí nhà kính sinh ra bởi khi đốt nhiên liệu hóa thạch đang làm trầm trọng quá trình nóng lên toàn cầu Sinh khối đang được xem xét nghiêm túc như là một nguồn nhiên liệu thay thế Trong đó năng lượng sinh học là năng lượng sinh ra khi đốt sinh khối hoặc sinh khối nhiên liệu Đây còn là một trong những bước tiến tới giải quyết nhiều vấn đề năng lượng của thế giới Chúng ta cần
có cái nhìn tổng quan về năng lượng sinh khối bởi những lý do như vậy
Trang 1717
Chương 2:
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG CỦA CÁC DẠNG SINH KHỐI
ĐỂ PHÁT ĐIỆN Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng sử dụng năng lượng sinh khối ở việt nam
2.1.1 Các dạng sinh khối phổ biến ở Việt Nam
Việt Nam là nước đang phát triển từ một nước nông nghiệp, có điều kiện tự nhiên thuận lợi nên các loại sinh khối rất đa dạng và phong phú Có thể tận dụng được các phụ phẩm trong nông nghiệp cũng như chế biến và sản xuất công nghiệp
2.1.1.1 Phụ phẩm từ nông nghiệp
Danh sách sản lượng các mặt hàng chủ yếu trong nông nghiệp năm 2013
Hình 1: Cây lúa Hình 2: Cánh đồng lúa đang thu hoạch[2]
Trang 1818
Hình 4 Thu hoạch rơm rạ sau vụ mùa
Hình 3: Trấu, củi trấu
Trấu hiện nay được sử dụng theo nhiều cách khác nhau như được sử dụng làm nhiên liệu đun nấu, các lò nung gốm/gạch hoặc làm phân bón cho cây trồng Hiện nay trấu có thể được khí hóa trước khi sử dụng như dạng nhiên liêu, hoặc sản xuất củitrấu cung cấp nhiên liệu có giá trị cho nồi hơi công nghiệp Trấu còn được
sử dụng làm nhiên liều cho hệ thống xấy thóc
Không giống như trấu, rơm rạkhông được sử dụng với mức độ như vậy Trước đây, rơm rạ được sử dụng để đun nấu tại địa phương, nhưng ngày nay điều kiện sống được cải thiện nên bà con đã không sử dụng nữa Ngày nay, rơm rạ được
sử dụng để trồng khoai tây, làm thức ăn, lót ổ cho gia súc, trồng nấm và vùi trực tiếp vào đất 23% tổng số rơm rạ được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi[3]
Theo khảo sát gần đây của SNV tại khu vực miền Trung Việt Nam ở tỉnh Quảng Bình (tháng 12 năm 2011), có khoảng 25% rơm rạ được sử dụng, 25% khác được đốt trên các cánh đồng và 50% được trộn với đất làm phân bón cho đất Tại khu vực ĐBSCL, SNV cũng tiến hành một cuộc khảo sát ở tỉnh Cần Thơ (2011) và kết quả cho thấy 60% rơm rạ được đốt cháy trong khi đó 40% được vùi xuống đất
Trang 1919
Hình 5: Cánh đồng mía
Hình 6: Bã mía tại nhà máy đường
Ở khu vực đồng bằng sông Hồng, trong năm 2011, Hải Dương là tỉnh đầu tiên thúc đẩy sản xuất phân bón sinh học từ rơm rạ với quy mô lớn 2.507 tấn rơm rạ (chiếm 26% tổng sản lượng rơm của toàn tỉnh) đã được sử dụng làm phân bón sinh học (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương)
2 Mía đường
Sản xuất mía đường tại Việt Nam
đã liên tục giảm trong 10 năm qua với
diện tích trồng giảm từ 344.000 ha năm
1999 xuống còn 266.000 ha trong năm
2010.Trong năm 2010, Việt Nam chế biến
khoảng 16 triệu tấn mía (Tổng cục Thống
kê, 2010) Tại cùng thời điểm, nhu cầu về
đường tăng 30% trong năm 2010 so với
nguồn cung cấp địa phương[4]
Sử dụng bã mía làm nhiên liệu cho
quá trình phát nhiệt và hoặc phát điện là
công nghệ tiên tiến trong ngành sản xuất
đường Hiện nay bã mía được sử dụng
100% tại Việt Nam, chủ yếu là để sản xuất
năng lượng tại các nhà máy sản xuất
đường và một số lượng nhỏ làm thức ăn
gia súc
Tuy nhiên, hầu hết các nhà máy chế biến có công nghệ (đồng) đốt cháy hiệu quả thấp Vì vậy, đấy chính là cơ hội để tối ưu hóa các công nghệ (đồng) đốt này Ước tính hàng năm có khoảng 2 triệu tấn bã mía được các nhà máy sản xuất đường
sử dụng để đốt trong nồi hơi tạo ra ít nhất 4 triệu tấn hơi nước và 560 triệu kWh điện[5]
3 Ngô
Trang 2020
Hình 8: Lõi ngô
Hình 7 Cánh đồng ngô
Trong 10 năm qua, sản lượng ngô
Việt Nam đã từng bước tăng đáng kể chủ
yếu là do tăng nhu cầu về thức ăn gia súc
Tại Việt Nam, sản lượng ngô trong năm
2013 đạt gần 5,2 triệu tấn so với 2 triệu
tấn năm 2000 Số liệu này phản ánh sự
gia tăng từ 730.000 ha lên đến 1.125.000
ha so với cùng kỳ[1]
Các khu vực sản xuất ngô chính ở
Việt Nam nằm ở khu vực đông bắc (50%)
và đông nam (10%), phần còn lại nằm rải rác trên cả nước Mùa sản xuất chính là mùa Đông Xuân (từ tháng 12 - tháng 4) và Hè Thu (từ tháng 4 -tháng 8)
Trong kế hoạch sản xuất ngô giai đoạn 2011-2015, Bộ NN & PTNT duy trì diện tích sản xuất 1,2 triệu ha với trọng tâm chính tăng năng suất cây trồng Hiện nay, sản lượng ngô ở Việt Nam là 51,6 tấn/
ha, so với 55,5 tấn/ ha ở Trung Quốc và 96,5
tấn/ ha ở Mỹ Tỉ lệ chất thải trung bình của
ngô là 2.5 tấn[5]
Chất thải ngô được sử dụng chủ yếu
làm thức ăn chăn nuôi và nhiên liệu tại địa
phương 18% thân ngô, lá xanh và một phần
lõi ngô sử dụng làm thức ăn chăn nuôi Lõi
ngô được bà con thôn bản sử dụng làm nhiên liệu đun nấu, tuy nhiên, tại khu vực trồng ngô chính trên cả nước, tình trạng chất đống lõi ngô sau khi thu hoạch vẫn còn phổ biến và có thể ảnh hưởng đến môi trường
4 Sắn
Sản xuất sắn đã phát triển nhanh chóng tại Việt Nam, từ 1,99 triệu tấn năm
2000 lên 9.45 triệu tấn năm 2009 Đó là kết quả của việc mở rộng canh tác từ 237.600 ha đến 560.400 ha và năng suất tăng từ 8,36 tấn/ ha năm 2000 lên đến
Trang 2121
16,90 tấn/ ha năm 2009 Việt
Nam đã đạt được những tiến bộ
kỹ thuật vượt bậc ở châu Á
trong việc lựa chọn và nhân
giống sắn Có một nhu cầu lớn
về sắn lát và tinh bột sắn Sự kết
hợp giữa phát triển và sản xuất
sắn chế biến tinh bột, thức ăn
chăn nuôi và ethanol sinh học đã
tạo ra nhiều việc làm, tăng xuất
khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và góp phần vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa một
số khu vực nông thôn
Sắn là cây trồng hàng năm, mùa thu hoạch sắn khác nhau ở từng vùng của Việt Nam Do đó, nguồn chất thải sắn đề cập ở trên có thể được thu thập trong suốt
cả năm Mặc dù khối lượng chất thải sắn là thân cây sắn khá lớn nhưng tỉ lệ thu gom thực tế hiện nay là không có Tại các khu vực mà người nông dân được tổ chức thành nhóm hoặc hợp tác xã, thì việc thu thập thân cây sắn khả thi hơn
Chất thải xơ trong ngành chế biến tinh bột sắn được bán làm nguyên liệu thô sản xuất thức ăn gia súc hoặc sử dụng làm phân hữu cơ Nước thải từ chế biến tinh bột sắn và ngành công nghiệp sản xuất ethanol có thể được sử dụng để sản xuất khí sinh học tại hơn 70 nhà máy chế biến tinh bột sắn và 5 nhà máy sản xuất ethanol ở Việt Nam (từ 50 - 100 triệu lít/ năm/ nhà máy) Chưa có số liệu về sản xuất khí sinh học, nhưng công nghệ hồ phủ bạt đã được áp dụng (trong một số trường hợp,
cơ chế phát triển sạch (CDM) được áp dụng, xem dưới đây) Nhà máy sản xuất tinh bột sắn quy mô vừa với công suất khoảng 22.000 tấn mỗi năm cần khoảng 1.400 tấn than (70 kg than/ tấn tinh bột sắn sấy khô) Với mức giá than khoảng 3.000 đồng/
kg, chi phí năng lượng rơi vào khoảng 4,2 tỷ đồng mỗi năm, tương đương với 210.000 USD
Hình 9: Sắn tại nhà máy
Trang 2222
Ngành công nghiệp sản xuất ethanol tại Việt Nam hiện nay chiếm 50% sản lượng sắn hiện tại Sự gia tăng nhu cầu sắn để sản xuất hàng hóa sơ cấp đang đối mặt với vấn đề canh tác lương thực Chính phủ đã tăng cường thúc đẩy trồng sắn, tuy nhiên, không có kế hoạch tổng thể nào tích hợp cả quy hoạch sử dụng đất và biện pháp canh tác bền vững
5 Cà phê
Cà phê là hàng hóa xuất khẩu
quan trọng thứ 2 tại Việt Nam về giá trị
và số lượng[6] Ngày nay, Việt Nam là
nước sản xuất cà phê lớn thứ 2 thế giới
Sau khi bùng nổ số lượng các đồn điền
cà phê cuối những năm 1990 và đầu
năm 2000, sự tập trung chuyển dịch
theo hướng cải tiến công nghệ chế
biến để có được một sản phẩm cuối
cùng có chất lượng cao hơn, nhằm phát triển thị trường xuất khẩu Có 500.000 ha rừng trồng cà phê tại Việt Nam Trong đó 93% Robusta trồng tập trung ở vùng Tây Nguyên và 7% Arabica được trồng ở khu vực phía Bắc Phần lớn cà phê Việt Nam được thu hoạch giữa tháng Mười và tháng Giêng 85% sản lượng cà phê được trồng bởi các hộ gia đình nhỏ (thường có hạn điền dưới 2 ha) và 15% là doanh nghiệp nhà nước (các trang trại lớn hơn)
Việt Nam áp dụng các công nghệ chế biến khác nhau, chế biến ướt cho cà phê Arabica, chế biến bán ướt hoặc chế biến khô cho cà phê Robusta Mục tiêu của mỗi quy trình là để loại bỏ vỏ và thịt từ quả cà phê khô, cuối cùng thu được hạt cà phê Công nghệ chế biến khác nhau sản xuất ra các phế thải có đặc điểm khác nhau liên quan đến độ ẩm và thành phần Chất thải cà phê chiếm 15% trọng lượng quả cà phê khi sấy khô Năng suất cà phê trung bình trên mỗi ha là 1,8 tấn, do đó có 270 kg chất thải cho mỗi ha, mang lại tổng số 135.000 tấn cà phê tại Việt Nam Đây thực
sự là nguồn nguyên liệu sinh khối hữu ích cho các hộ gia đình hay các khu công
Hình 10: Cây Cà phê
Trang 2323
nghiệp chế xuất dùng phơi sấy sản phẩm cà phê tại chỗ giảm được giá thành mua nguyên liệu than đá hay dầu đốt giảm giá thành mua các nguyên liệu chất đốt khác
Hình 11: Cấu tạo sinh thái quả cà phê
Các biện pháp xử lý vỏ cà phê hiện nay tương tự như phương pháp loại bỏ vỏ trấu, đốt ngoài trời hay trải trên các con đường làng ở nông thôn, làm phân bón, hoặc chất đống bên lề đường Trong hệ thống chế biến bán ướt, nguồn nước được tái sử dụng và bùn được sử dụng làm phân bón Chất thải không được tích hợp vào chuỗi cung cấp năng lượng có hiệu quả tại Việt Nam do đó, trong quá trình chế biến ướt và bán ướt, sử dụng bùn để làm khí sinh học và phát điện là một cơ hội đầy hứa hẹn, đặc biệt là trong quy trình chế biến cà phê Arabica
Chất thải từ hạt cà phê trong quy trình chế biến khô đôi khi được sử dụng làm nguồn nhiên liệu chính cho các máy sấy cà phê ở một số cơ sở chế biến quy mô nhỏ Tuy nhiên, chỉ có khoảng 35% sản lượng hiện đang được chế biến tại các nhà máy công nghệ cao có nhu cầu về điện và nhiệt
Sản xuất cà phê cần một lượng năng lượng lớn (thường là diesel) để bơm nước và có nhu cầu sử dụng phân bón tổng hợp Chất thải sinh học dạng bùn của quy trình chế biến ướt và bán ướt có tiềm năng lớn cung cấp năng lượng cho máy bơm nước và phụ phẩm khí sinh học để làm phân bón
Trang 2424
Các bên liên quan bao gồm: Chương trình Người trồng cà phê 4C (được Nestle giới thiệu tại Việt Nam), Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột(BCEC), công ty DAKMAN, Hợp tác xã sản xuất cà phê bền vững Di Linh, công ty cổ phần đầu tư và xuất khẩu cà phê Tây Nguyên (thuộc sở hữu nhà nước), Cục Trồng trọt Bộ NN & PTNT, Cục chế biến - Bộ NN & PTNT, công ty Nam Nguyệt (công ty tư nhân), Công ty Nestle Việt Nam (rang cà phê), Công ty Thái Hòa, Trung tâm Nghiên cứu Cà phê Ca cao EaKmat, ViệnKhoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), Công ty Trung Nguyên, VICOFA, VINACAFE (Tổng Công ty Cà phê Việt Nam), Công ty Cổ phần VINACAFE Biên Hòa (Chế biến và rang cà phê), Vinacontrol (Kiểm soát chất lượng và cấp chứng nhận) Hiện nay, các dự án ODA tài trợ nhằm mục đích thực thi các dự án sản xuất bền vững mà không xem xét vấn đề sử dụng chất thải, Rainforest Alliance, Hiệp hội 4C, và tiêu chuẩn Utz Certified và Fairtrade Chứng nhận theo tiêu chuẩn EUREPGAP cũng được áp dụng rộng rãi trong ngành
6 Dừa
Việt Nam có 130.000 ha đồn điền trồng dừa và thu hoạch khoảng 700 triệu quả dừa mỗi năm Việt Nam là nước xuất khẩu dừa tươi lớn nhất trên thế giới với nhu cầu cao từ thị trường Trung Quốc Sản xuất dầu dừa kém hấp dẫn là do biến động lớn về giá và thị trường cạnh tranh cao của dầu cọ Do đó, sản xuất cùi dừa khô còn thấp và sản phẩm phụ là dầu dừa được nhập khẩu từ Philipin để làm thức
ăn chăn nuôi
Sản lượng dừa thu hoạch được càng cao thì khả năng tạo ra nhiều sản phẩm hữu dụng từ dừa càng nhiều Như vậy phế thải chế biến từ dừa trở thành nguồn nguyên liệu lớn cho ngành sản xuất tái chế: tạo ra than, bát ăn, khuy áo, khuy quần, bìa cứng, vỏ cốc làm kem, làm gạch xây cũng rất thãm mỹ từ những quả dừa tươi được thu gom về và qua xử lý nhiều công đoạn để trở thành những viên gạch tường rất đẹp cho những công trình nhà nhỏ không dùng máy lạnh
Trang 2525
Hình 12: Quả dừa
Trồng dừa được tập trung ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long miền Nam Việt Nam, mang lại 84% tổng sản lượng quốc gia Tỉnh Bến Tre có mật độ rừng dừa cao nhất và sản xuất 30% sản lượng thu hoạch quốc[2] Cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh xuất khẩu ở đồng bằng sông Cửu Long đã tiếp tục cải thiện trong những năm gần đây dưới sự hỗ trợ của ngành 31% Chế biến kẹo dừa và dừa nạo sấy xuất khẩu Vỏ dừa và gáo dừa 30% Chế biến kẹo dừa cho thị trường trong nước
Vỏ dừa và gáo dừa 32% Dừa thô xuất khẩu quốc tế (loại bỏ lớp vỏ ngoài tại địa phương) Vỏ dừa 7% Dừa thô được bán tại địa phương để tiêu thụ
Vỏ dừa – khoảng 50% dừa nước có vỏ dừa Việc sử dụng gạch bằng gáo dừa
sẽ hạn chế những tác động động môi trường của gạch nung truyền thống và rác thải gáo dừa Đồng thời đặc tính cách âm cách nhiệt của vật liệu này giúp tiết kiệm năng lượng điều hòa nhiệt độ cho công trình Thể loại công trình phù hợp với sử dụng gáo dừa đó là nhà ở miền qua đồng bằng sông Cửu Long vì ở đó có nhiều dừa và cùng một cách cắt dừa tươi để lấy nước Do vật liệu mang tính địa phương, rẻ tiềnvà
dể tìm thấy này sẽ phù hợp với nhà ở các miền quê Các không gian không dùng máy lạnh nên các bức tường gáo dừa này sẽ làm mát nhà hữu hiệu.Thể loại công trình tiếp theo là các khu nghỉ dưỡng giá rẻ Với khu vực thành phố thì có thể ứng dụng xây quán café Đây là không gian cần tính nghệ thuật và thư giãn Do đó những bức tường thô mộc bằng gạch gáo dừa sẽ đáp ứng được nhu cầu này
Trang 2626
Hình 13: Vỏ dừa
Phế thải từ chế biến dừa tại Việt Nam thường thấp hơn so với các quốc gia sản xuất dừa khác Thực tế, vỏ dừa được sử dụng 100% để sản xuất than hoạt tính hoặc làm nhiên liệu cho ngành công nghiệp trong nước hoặc các ứng dụng nhiệt 96% vỏ dừa chế biến thành xơ dừa (sợi vỏ dừa) và được sử dụng để làm dây thừng, thảm, lưới và nhiều các sản phẩm bằng sợi khác Sản phẩm phụ sau khi tạo ra xơ dừa là chất bột mịn được gọi là bột xơ dừa chiếm khoảng 12% trọng lượng quả dừa, chủ yếu để làm chất nền trồng cây và cải thiện đất
Tuy nhiên, ở Việt Nam chỉ có 20% dừa được gia tăng giá trị theo cách này
và phần còn lại, hơn 80.000 tấn, được đổ xuống sông Cửu Long tạo ra gánh nặng về môi trường (Smith et al., 2009) Các bên liên quan trong nước bao gồm: hai nhà xuất khẩu chính các sản phẩm chế biến là Wonderfarm (Bến Tre) và Betrimex (TP HCM) Prosperity Initiative là tổ chức phi chính phủ hoạt động tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và là một nguồn thông tin có giá trị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm về sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ dừa
2.1.1.2 Phụ phẩm từ các quy trình chế biến và sản xuất
1 Chất thải chế biến cá
Dầu cá từ chất thải chế biến cá có thể được sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu sinh học diesel Dầu cá thu được từ ruột cá và chất thải khác sau khi sản xuất cá philê vàcó thể được trộn với methanol và các sản phẩm khác (bằng phương
Trang 2727
pháp nén và tách) Theo tài liệu nghiên cứu thị trường do Energyfish thực hiện (Enerfish Consortium, 2011), Việt Nam là một trong những nước có sản lượng cá lớn trên thế giới (xếp thứ 3) và cá da trơn (cá tra) là đối tượng chủ yếu cho ngành nuôi trồng thủy sản Trong đó, chất thải có hàm lượng chất béo cao sau khi chế biến (22% khối lượng) và do đó rất phù hợp để sản xuất dầu diesel sinh học (năng suất cao)
Để đạt được mục tiêu 5% nhiên liệu sinh học như mô tả ở trên có nghĩa là sản xuất khoảng 500.000 tấn dầu diesel sinh học mỗi năm Biết rằng cần khoảng 10 tấn cá tra để sản xuất 1 tấn dầu diesel sinh học, và cần 500.000 ha đất để tạo ra số năng lượng này Số lượng này gấp đôi sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của Việt Nam hiện nay (Enerfish Consortium, 2011)
Cá được nuôi với số lượng lớn ở Việt Nam mang lại tiềm năng lớn, trong năm 2010, có 1.140.000 triệu tấn cá da trơn được sản xuất, chủ yếu là ở ĐBSCL Có
2 công ty khác sản xuất dầu diesel sinh học từ chất thải của cá, tại Cần Thơ (Công
ty TNHH Minh Tú) và tại An Giang (Công ty CP Xuất Nhập khẩu Thủy sản An Giang AGIFISH) Cả hai công ty này là nhà sản xuất quy mô nhỏ với sản phẩm đầu
ra đa dạng Đồng bằng sông Cửu Long tiêu thụ hàng năm khoảng 400.000 tấn cá tra
và cá basa nguyên liệu, trong đó có mỡ chiếm 15% hay 60.000 tấn Sản lượng loại
cá này làm nguyên liệu chế biến thực phẩm xuất khẩu đạt đến trên 250.000 tấn mỗi năm, trong đó lượng mỡ cá khoảng 30.000 tấn Hầu hết mỡ cá vẫn được dùng trong ngành nuôi gia súc với giá thấp Vì vậy, Công ty xuất nhập khẩu cá da trơn An Giang Agifish hợp tác với Saigon Petro xây dựng dự án nhà máy sản xuất diesel sinh học 10 triệu lít nhiên liệu/năm, bằng cách trộn mỡ cá da trơn với diesel để chạy động cơ như máy bơm nước, máy phát điện Cần có chính sách hỗ trợ tích cực cho
dự án này sớm hoạt động
Trang 2828
Hình 14: Chế biến cá xuất khẩu
2 Chất thải chăn nuôi
Ngành chăn nuôi ở Việt Nam không ngừng thay đổi Tỷ trọng của ngành chăn nuôi trong tổng giá trị ngành nông nghiệp đã tăng từ 19,3% năm 2000 lên 27,1%năm 2009 Thống kê cho thấy tổng số hộ chăn nuôi lợn đang giảm dần, trong khi số lượng động vật nuôi trong mỗi hộ đang gia tăng
Đối với gia cầm, cả số hộ chăn
nuôi cũng như số lượng động vật nuôi
ngày càng tăng, điều này là do nhu
cầu tăng cao về sữa và các sản phẩm
từ sữa Khi xem xét các trang trại hộ
gia đình, con số này cao hơn đáng kể,
ước tính có khoảng 2 triệu trang trại
chăn nuôi lợn
Hình 15: Trang trại chăn nuôi lợn
Hơn nữa, tổng số trang trại chăn nuôi lợn và gia súc quy mô vừa và lớn ngày càng tăng Chính phủ hỗ trợ phương thức chăn nuôi tập trung và công nghiệp hóa và
Trang 29Ước tính sản xuất phân bón tại Việt Nam đạt khoảng 95 triệu tấn mỗi năm (Tổng cục Thống kê, 2010) 50% phân ở thể rắn và 80% phân ở thể lỏng không được xử lý trước khi tái sử dụng hoặc được thải vào nguồn nước (Đoàn, 2006)
Việt Nam có lịch sử lâu dài với việc sử dụng hầm khí sinh học để xử lý phân Các bên liên quan lớn nhất ở cấp hộ gia đình là Bộ NN & PTNT Bộ NN &PTNT đang thực hiện “Chương trình Khí Sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam” trên toàn quốc từ năm 2003 với sự hỗ trợ của SNV và nguồn tài trợ từ Chính phủ Hà Lan (DGIS) Hơn 115.000 hầm khí sinh học đã được xây dựng từ năm 2003 - 2011.Bộ
NN & PTNT cũng đang triển khai 2 chương trình khí sinh học quy mô hộ gia đình
do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ Ước tính có khoảng 500.000 công trình khí sinh học tại Việt Nam, trong đó có khoảng 300.000 hộ thay thế than để đun nấu tại các hộ dân ở khu vực nông thôn và 200.000
hộ thay thế củi đun để đun nấu tại khu vực miền núi[7]
Ngành khí sinh học quy mô vừa và lớn hiện nay đang trên đà phát triển Trong khi hầu hết sự phát triển thương mại lớn liên quan đến hầm khí sinh học kiểu
hồ phủ bạt, các nhà tài trợ đang nỗ lực giới thiệu các mô hình thích hợp để kích thích thị trường quy mô trung bình Vẫn còn nhiều cơ hội trong lĩnh vực năng lượng sinh khối quy mô vừa và lớn Sản xuất khí sinh học từ chất thải chăn nuôi được đề cập ở trên nhưng khí sinh học cũng được sản xuất từ nước thải Ngoài ra còn có cơ hội liên quan đến cung cấp thiết bị như bộ lọc H2S, máy phát điện khí sinh học, bộ trao đổi nhiệt, sản xuất phân bón
Trang 3030
Các bên liên quan chính bao gồm: SNV (EEP Mekong tài trợ, hợp tác với IE, GECI và SEI) và Bộ NN & PTNT (do ADB tài trợ) Bộ NN & PTNT mời SNV hỗ trợ Ngành Khí Sinh học quy mô trung bình vào tháng 9 năm 2011 Một chương trình của Ngân hàng Thế giới (WB) cho khí sinh học quy mô vừa vừa kết thúc và vẫn chưa có kết quả theo dõi Tất cả các chương trình này tương đối nhỏ, thí điểm
từ 10 - 20 hầm khí sinh học ở miền Bắc Việt Nam SNV hiện đang có khả năng kết hợp với chương trình của Ngân hàng Châu Á (ADB) tập trung vào việc cung cấp tín dụng cho nông dân để tiếp tục cơ cấu thị trường và giới thiệu hệ thống kiểm soát chất lượng cũng như đào tạo thích hợp cho thợ xây dựng và người sử dụng cuối cùng
3 Gỗ
Tháng 12 năm 2009, cả nước có hơn 13 triệu ha diện tích rừng, trong đó hơn
10 triệu ha là rừng tự nhiên và 3 triệu ha là rừng trồng Ngành công nghiệp chế biến
gỗ tại Việt Nam đang phát triển và dần thay đổi trong thập kỷ qua Khối lượng gỗ khai thác tăng từ 3,2 triệu m3 năm 2006 đến 3,8 triệu m3 trong năm 2009 và dự kiến sẽ tăng lên đến 4,95 triệu
m3 trong năm 2010, trong đó
90% gỗ được thu hoạch từ rừng
Ở khu vực Tây Nguyên, Bắc
Trung Bộ và Đông Bắc, tỷ lệ che phủ rừng khoảng hơn 40% Tại khu vực Đông Nam, tỉ lệ che phủ rừng khoảng 20% trong khi ở đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL, hầu hết diện tích được sử dụng cho nông nghiệp và tỉ lệ che phủ rừng dưới 10% [8]
Hình 16 Rừng trồng lấy gỗ
Trang 3131
Năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha diện tích rừng, với tỉ lệ che phủ rừng là 43% Tỉ lệ này giảm xuống còn 9,18 triệu ha vào năm 1990, chỉ còn lại 27,2%, mất 100.000 ha rừng trong khoảng từ năm 1980-1990 Từ năm 1990 đến nay, diện tích rừng hiện đã tăng lên, mặc dù khá chậm trong thập kỷ qua Ngoài ra, rừng ngập mặn đang giảm nghiêm trọng, từ 400.000 ha năm 1943 còn dưới 60.000 ha trong năm
2008 Các khu rừng trồng mới bao gồm các loài thực vật phát triển nhanh nhưng có giá trị đa dạng sinh học rất thấp Cạnh tranh về nhu cầu sử dụng cho nông nghiệp và lâm nghiệp tại một số diện tích rừng tự nhiên đã dẫn đến những sử dụng đất bất hợp pháp và nạn phá rừng lan tràn
Một số khu rừng bảo tồn đang bị đốt để làm đường giao thông sản xuất cà phê và ngô Khoảng 70% nguyên liệu đầu vào phục vụ chế biến gỗ tại Việt Nam được nhập khẩu với giá cả ngày càng tăng, từ 10-20% mỗi năm trong những năm gần đây Việt Namcó khoảng 2.500 doanh nghiệp chế biến gỗ với 500 mặt hàng gỗ xuất khẩu Trong số này, chỉ có khoảng 200 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ chuỗi bảo hộ của Hội đồng Quản lý rừng (FSC)
Để phát triển thuận lợi trong tương lai, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tìm cách thực hiện theo Đạo luật Lacey của Mỹ và Quy định về Trách nhiệm Giải trình (DDR) ở Liên minh châu Âu nếu các doanh nghiệp này muốn tiếp cận hai thị trường lớn này
Trang 3232
Hình 17: Sản xuất sản phẩm từ gỗ
Gỗ phế liệu có thể được phân chia thành 3 dạng nhỏ:
- Sản phẩm gỗ thừa sau khi khai thác Ước lượng phế liệu từ khai thác gỗ là 2,2 triệu tấn (2009), tính trên 40% sản lượng gỗ nhiên liệu sản xuất được từ khai thác gỗ [6] Trong năm 2010, 4,7 triệu tấn gỗ khai thác được chế biến (0,7 tấn/m3) Hầu hết gỗ phế liệu được bỏ lại trong rừng do vận chuyển khó khăn và nhu cầu thấp
- Từ các xưởng mộc Số lượng gỗ phế liệu từ các nhà máy chế biến gỗ là 2,35 triệu tấn, tính theo tỉ lệ 50% bao gồm cả chất thải gỗ rắn (38%) và mùn cưa (12%)[6] Tại các xưởng sản xuất gỗ lớn, gỗ phế liệu thường được sử dụng cung cấp nhiệt để sấy gỗ, trong khi đó chất thải từ các nhà máy chế biến gỗ nhỏ thường được sử dụng đun nấu tại địa phương Một số cơ sở sử dụng thêm mùn cưa bằng cách trộn với các vật liệu kết dính để sản xuất ván gỗ dăm Trong các xưởng chế biến gỗ quy mô hộ gia đình, mùn cưa được sử dụng để đun nấu tại địa phương (theo quan sát)
Cây trồng phân tán Cây trồng phân tán là những loài cây nhỏ không có giá trị kinh tế thường bị bỏ lại trong rừng với các sản phẩm gỗ thừa sau khi khai thác Ước tính có hơn 200 triệu cây phân tán mỗi năm ở Việt Nam, tương đương với
Trang 3333
100.000 ha rừng trồng [8] Dự kiến năng suất gỗ nhiên liệu từ 0,4-0,5 tấn/ ha/ năm,
do đó, tiềm năng gỗ nhiên liệu đạt khoảng 50.000 tấn mỗi năm[8]
Các nhà máy sản xuất viên nén mùn cưa đã xuất hiện ở Việt Nam, chủ yếu với quy mô nhỏ Ví dụ như Công ty Tân Phát, Công ty Kim Anh Minh (viên nén mùn cưa, than bánh và gỗ lát) Không có nhà máy sản xuất quy mô lớn hơn Với phần lớn là các nhà máy sản xuất nhỏ lẻ, thậm chí là hộ gia đình nên không thể tận thu hết nguồn nguyên liệu mùn cưa sẵn có mà thường bỏ phí phần lớn nguồn sinh khối này thông qua việc đốt bỏ
Hình 18Mùn cưa và mùn cưa đóng bánh
Các bên liên quan chính tại Việt Nam liên quan đến rừng là Cục Lâm nghiệp (VNFOREST), Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, Đại học Lâm nghiệp Các cơ quan chế biến chính bao gồm Công ty chế biến gỗ Trường Thành, Công ty MDF COSEVCO - Quảng Trị, MDF Gia Lai, MDF Thiên Sơn (Bình Phước)
2.1.2 Hiện trạng sử dụng năng lượng sinh khối ở Việt Nam
Hiện nay khoảng 3/4 SK được sử dụng phục vụ đun nấu gia đình với các bếp đun cổ truyền hiệu suất thấp Bếp cải tiến tuy đã được nghiên cứu thành công nhưng chưa được ứng dụng rộng rãi mà chỉ có một vài dự án nhỏ, lẻ tẻ ở một số địa phương Trong tổng tiêu thụ năng lượng, NLSK chiếm vai trò rất lớn
Trang 34Tỷ lệ trong tổng năng lượng (%)
Trang 35Bảng 4: Sử dụng SK theo năng lượng cuối cùng
Việc sử dụng SK ở Việt Nam đang ngày càng được quan tâm và phát triển trong một số lĩnh vực như:
Sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ: hầu hết dùng các lò tự thiết kế theo kinh nghiệm, đốt bằng củi hoặc trấu, chủ yếu ở phía Nam;
Sản xuất đường: tận dụng bã mía để đồng phát nhiệt và điện ở tất cả 43 nhà máy đường trong cả nước với trang thiết bị nhập từ nước ngoài Mới đây Viện Cơ điện nông nghiệp đã nghiên cứu thành công dây chuyền sử dụng phụ phẩm SK đồng phát điện và nhiệt để sấy Viện đã lắp đặt được 7 hệ thống và hiện đang triển khai ứng dụng ở các tỉnh;
Sấy lúa và các nông sản: hiện ở Đồng bằng sông Cửu long có hàng vạn máy sấy đang hoạt động Những máy sấy này do nhiều cơ sở trong nước sản xuất và có thể dùng trấu làm nhiên liệu Riêng dự án sau thu hoạch do Đan Mạch tài trợ triển khai từ 2001 đã có mục tiêu lắp đặt 7000 máy sấy;
Công nghệ cacbon hoá SK sản xuất than củi được ứng dụng ở một số địa phương phía Nam nhưng theo công nghệ truyền thống, hiệu suất thấp;
Một số công nghệ khác như đóng bánh SK, khí hoá trấu hiện ở giai đoạn bắt đầu phát triển
Trang 3636
Các nhà nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu công nghệ lọc hoá dầu (Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh) với đề tài: “Công nghệ Biomass - hướng đến một nền nông nghiệp không chất thải và phát triển bền vững”
đã tinh chế phụ phẩm nông nghiệp thành nguồn năng lượng sinh học
Viện thổ nhưỡng và nông hóa: đã nghiên cứu sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong cơ cấu cây trồng có lúa nhằm nâng cao độ phì nhiêu đất, giảm sử dụng phân khoáng khi mà giá phân bón ngày càng tăng Các nghiên cứu được tiến hành trên các loại đất: bạc màu, cát biển, đất phù sa [Sông Hồng, sông Dinh (Khánh Hoà), sông Cửu Long (trên nền phèn-tại Cần Thơ)] đối với 2 cơ cấu trong
hệ thống cây trồng có lúa: (1) Lúa xuân-Lúa mùa-Ngô đông (Bắc Giang, Hà Tây)
và (2) Lúa đông xuân-Lúa xuân hè-Lúa hè thu (Khánh Hoà, Cần Thơ)
Vùi phụ phẩm nông nghiệp đã cải thiện độ phì nhiêu đất (hàm lượng chất hữu cơ, đạm, lân và kali dễ tiêu, dung tích hấp thu, thành phần cơ giới, độ xốp, độ
ẩm, vi sinh vật tổng số, vi sinh vật phân giải xenlulô, vi sinh vật phân giải lân và vi sinh vật cố định đạm), đã tăng năng suất 6-12% so với không vùi Vùi phụ phẩm nông nghiệp có thể thay thế lượng phân chuồng cần bón cho cây trồng trong cơ cấu có lúa; giảm được 20% lượng phân đạm, lân và 30% lượng phân kali mà năng suất vẫn không giảm so với không vùi phụ phẩm
Hiệu quả kinh tế tương đương với bón đầy đủ phân chuồng và phân khoáng NPK và cao hơn 5% so với chỉ bón phân khoáng NPK, lợi nhuận tăng 5-12% so với không vùi phụ phẩm Trước khi vùi cho lúa xuân, thân lá ngô phải cho vào máy cắt dài 5 cm và truớc khi ủ cần bổ sung thêm 20 kg vôi và 1 kg urê/tấn thân
lá ngô tươi Thân lá ngô tươi được ủ với chế phẩm vi sinh trong thời gian 25 ngày sau đó mới đem vùi Vùi kỹ sau 20-25 ngày thì có thể cấy lúa Cũng như phụ phẩm của cây ngô nếu vùi rơm rạ cho lúa thì cũng cần bón thêm 20 kg vôi + 1
kg urê/1 tấn rơm rạ tươi khi gặt Vùi kỹ sau 20-25 ngày có thể cấy Vùi rơm rạ cho ngô đông cần thêm chế phẩm vi sinh vật +20 kg vôi + 1 kg urê/1 tấn rơm rạ tươi khi gặt
Trang 37vỏ dăm bào khoảng 150.000 tấn Khối lượng phụ phẩm trong ngành chế biến giấy cũng lên đến hàng triệu tấn Khối lượng phụ phẩm nông nghiệp nhiều nhất nhưng được sử dụng lãng phí nhất là hơn 8 triệu tấn trấu thu gom từ các cơ sở xay xát lúa trong cả nước cùng 1,7 triệu tấn rơm rạ
Ngoài ra, các nguồn phụ phẩm nông nghiệp khác như cây cao su, vỏ điều,
xơ dừa, chất thải sinh khối từ cây mía cũng có khả năng cung cấp khoảng 3,5 triệu tấn Tổng hợp các nguồn phế thải SK, mỗi năm có thể thu được từ 8 11 triệu tấn, nếu dùng để sản xuất điện bằng công nghệ nhiệt điện, sẽ tạo ra 3 4 triệu kWh điện với chi phí chỉ bằng 10 30% so với nhiên liệu hoá thạch
Tháng 2/2004, tại Trường Đại học Cần Thơ, đã khởi động đề tài “Năng lượng tái tạo từ sinh khối và chất thải”, tên gọi tắt là BiWaRE (Biomass and Waste for Renewable Energy) Đề tài do Trường ĐH Khoa học ứng dụng Bremen, Cộng hoà Liên bang Đức chủ trì Trường ĐH Cần Thơ là một trong bốn thành viên tham gia đề tài: Trường ĐH Kỹ thuật Đresđen (Đức), Trường ĐH Wales Cardiff (Anh), Trường ĐH Chiang Mai (Thái Lan) Mục tiêu của đề tài BiWaRE là xây dựng một mô-đun đào tạo cho các trường đại học và lập một hệ thống thông tin nhằm hỗ trợ các quyết định để sử dụng NLTT từ các chất hữu cơ với những điển hình được áp dụng ở Việt Nam và Thái Lan Ngoài ra, các kết quả sẽ được phổ biến rộng rãi làm tài liệu học tập, nghiên cứu
Năm 2008, Công ty Topec BV thuộc Tập đoàn Pon của Hà Lan và Trung tâm Nghiên cứu – Phát triển về tiết kiệm năng lượng Thành phố Hồ Chí Minh vừa
Trang 3838
báo cáo về Dự án nghiên cứu khả thi xây dựng nhà máy đốt bằng trấu tại huyện Thốt Nôt Các đơn vị đề nghị Thành phố Cần Thơ chọn địa bàn huyện Thốt Nốt để xây dựng nhà máy điện từ trấu với công suất 10 MW, sau đó mới tiến hành xây dựng thêm một nhà máy khác ở Thái Lai, vì những khu vực này có nhiều trấu và cần nhiều điện năng để phát triển sản xuất Dự kiến, việc đầu tư xây dựng nhà mày này cần từ 11 triệu đến 14 triệu euro và mặt bằng rộng khoảng 5 ha và sẽ hoàn vốn sau 6,5 năm đi vào hoạt động nhờ việc bán điện, bán tro trấu và bán chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính theo Nghị định thư Kyoto Tuy nhiên, do bối cảnh nền kinh tế
bị lạm phát nên dự định năm 2008 chưa được thực hiện
Theo nhiều chuyên gia nghiên cứu về năng lượng tái tạo, trong đó có ông Werner Kossmann, Cố vấn trưởng dự án RESP, cho rằng: Năng lượng sinh khối không còn là vấn đề chỉ thực hiện được ở các nước phát triển Chính vì thế, dự án
sẽ mở ra hướng đi mới cho Việt Nam
Với dự án xây dựng nhà máy điện sinh học Biomass tại khu Rừng Xanh, thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã được cấp giấy chứng nhận đầu
tư với tổng mức đầu tư 1.160 tỷ đồng, công suất 40Mw, năm 2013 nhà máy sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động với sản lượng điện là 331,5 triệu kWh/năm Nhà máy hoạt động sẽ tạo điều kiện cho các hộ gia đình nông thôn bán phế thải hữu cơ nông nghiệp và rác thải sinh hoạt nông thôn cho nhà máy như: rơm, rạ, thân cây ngô, sắn,
đỗ, lạc hoa, cây củi sau khai thác rừng
- Nhà máy nhiệt điện đốt trấu tại KCN Trà Nóc 2 TP Cần Thơ do Công ty Cổ phần Nhiệt điện Đình Hải đầu tư, đã hoàn thành và đưa vào hoạt động giai đoạn 1 với công suất 20 tấn hơi/giờ Nhà máy có công suất phát điện 2MW khi nhà máy vận hành ở chế độ không sản xuất hơi nước Giai đoạn 2 của sẽ đầu tư turbine 3,7MW cấp điện lên lưới quốc gia
- Những dự án nhiệt điện đốt trấu tại đồng bằng sông Cửu Long:
+ Tỉnh An Giang có 2 dự án nhà máy nhiệt điện đốt trấu gồm 1 nhà máy tại khu công nghiệp Hòa An, huyện Chợ Mới, công suất 10 MW, tổng vốn đầu tư trên 10
Trang 3939
triệu USD Nhà máy thứ 2 có công suất 10 MW, đặt tại xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn, vốn đầu tư khoảng 15 triệu USD Hai nhà máy này sẽ tiêu thụ khoảng 240.000 tấn trấu
+ Tỉnh Tiền Giang có 1 dự án nhà máy nhiệt điện đốt trấu khoảng 10MW, vốn đầu
tư trên 18,6 triệu USD
+ Tỉnh Đồng Tháp dự kiến xây dựng 1 nhà máy nhiệt điện đốt trấu tại ấp Bình Hiệp
B, huyện Lấp Vò, tổng vốn 296 tỷ đồng, công suất thiết kế 10MW
+ Tỉnh Kiên Giang sẽ đầu tư xây dựng 1 nhà máy điện trấu công suất 11 MW + Tại Cần Thơ sẽ xây dựng thêm một nhà máy nhiệt điện đốt trấu tại quận Thốt Nốt, công suất 10 MW, tiêu thụ khoảng 80.000 tấn trấu/năm
Theo số liệu tính toán, cứ 5 kg trấu tạo ra 1 KW điện, như vậy với lượng trấu hàng triệu tấn trấu mỗi năm thu lại được hàng trăm MW điện Theo Ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội năng lượng Việt Nam: “Việt Nam có nguồn trấu dồi dào Đây là nguồn nguyên liệu phong phú phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện trong tương lai”
Với lợi thế một quốc gia nông nghiệp, Việt Nam có nguồn sinh khối lớn và
đa dạng từ gỗ củi, trấu, bã cà phê, rơm rạ và bã mía Phế phẩm nông nghiệp rất phong phú dồi dào ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, chiếm khoảng 50% tổng sản lượng phế phẩm nông nghiệp toàn quốc và vùng đồng bằng sông Hồng với 15% tổng sản lượng toàn quốc Hàng năm tại Việt Nam có gần 60 triệu tấn sinh khối từ phế phẩm nông nghiệp trong đó 40% được sử dụng đáp ứng nhu cầu năng lượng cho hộ gia đình và sản xuất điện
10 dự án điện trấu tiếp theo đang trong giai đoạn chuẩn bị:
Trang 402009 Nhà máy điện đốt trấu
Nhà máy đồng phát sử
dụng trấu Cần Thơ 10MW Tầng sôi,
tua-bin ngưng tụ Không áp dụng Nhà máy điện đốt trấu
2010 Nhà máy điện đốt trấu
Cần Thơ 10 Tầng sôi 10MW Tầng sôi
2010 Nhà máy điện đốt trấu
Tiền Giang 10 Tầng sôi 10MW Tầng sôi
tua-bin ngưng tụ Đã hoàn thành
BCNCKT
1/2009 Nhà máy điện đốt trấu
Cao Lãnh, ĐT 6 Tầng
tua-bin ngưng tụ Đã hoàn thành
BCNCKT
2010 Nhà máy điện đốt trấu
Nhà máy điện đốt trấu,
Chợ Gạo, An Giang 10MW Tầng sôi
tua-bin ngưng tụ có
ép Đã hoàn thành BCNCKT
1/2009
Nhà máy điện đốt trấu,
tua-bin ngưng tụ Đang chuẩn bị BCNCKT
1/2011
Nhà máy điện đốt trấu,
Long An 10 Tầng sôi, 10MW Tầng sôi
tua-bin ngưng tụ Đang chuẩn bị BCNCKT
1/2011
An Giang 10 Tầng sôi,
tua-bin ngưng tụ Không áp dụng Nhà máy điện đốt trấu
1/2011 Cai Lậy, 10 Tầng sôi,
Các dự án sinh khối khác (phế thải từ gỗ, rơm rạ, v.v.) 1 dự án ở bước tiền khả thi: trồng và đốt cỏ voi (khoảng 30MW) ở tỉnh Phú Thọ
• Rơm rạ: không có dự án đề xuất nào
• Phế thải từ gỗ: chỉ có 01 dự án sử dụng dung dịch đen để sản xuất hơi cho mục đích tự sử dụng (ở công ty giấy Bãi Bằng); sử dụng phế thải hỗ làm nhiên liệu