1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế nghiên cứu trường hợp các quốc gia đông nam á

77 400 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THÀNH ĐỒNG TÁC ĐỘNG CỦA NỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC S

Trang 1

NGUYỄN THÀNH ĐỒNG

TÁC ĐỘNG CỦA NỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC QUỐC

GIA ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 2

NGUYỄN THÀNH ĐỒNG

TÁC ĐỘNG CỦA NỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC QUỐC

GIA ĐÔNG NAM Á

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập và tổng hợp từ các nguồn đáng tin cậy

Tác giả

Nguyễn Thành Đồng

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Khung nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn 4

1.7 Bố cục luận văn 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6

2.1 Nợ nước ngoài 6

2.1.1 Khái niệm 6

2.1.2 Vai trò của nguồn vốn vay nước ngoài 6

2.1.3 Tiêu chí đánh giá mức độ an toàn nợ nước ngoài 9

2.2 Tăng trưởng kinh tế 15

2.2.1 Khái niệm 15

2.2.2 Một số mô hình tăng trưởng kinh tế 16

2.3 Giá trị tới hạn của nợ nước ngoài với tăng trưởng kinh tế 23

2.4 Tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế 25

2.5 Tổng quan các nghiên cứu về tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế 28

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

3.1 Mô hình nghiên cứu 40

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 40

3.3 Phương pháp nghiên cứu 41

3.4 Các biến độc lập và giả thuyết nghiên cứu 41

3.5 Mô tả dữ liệu 42

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45

4.1 Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ nước ngoài với tăng trưởng kinh tế của từng quốc gia 45

4.1.1 Kết quả 46

Trang 5

4.2 Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ nước ngoài với tăng trưởng kinh tế

các quốc gia 52

4.2.1 Thống kê mô tả 53

4.2.2 Kết quả hồi quy 53

4.3 So sánh và nhận xét 57

4.4 Kiểm tra tính vững của mô hình 58

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, HẠN CHẾ VÀ KIẾN NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Một số kiến nghị chính sách 60

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 2.1: Tiêu chí đánh giá an toàn nợ theo IMF 10

Bảng 2.2: Tiêu chí đánh giá an toàn nợ theo WB 11

Bảng 2.3: Ngưỡng nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn HIPCs 13

Bảng 2.4: Mức ngưỡng phụ thuộc vào chính sách và thể chế 14

Bảng 2.5: Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế 33

Bảng 3.1: Bảng mô tả các biến độc lập và giả thuyết 41

Bảng 3.2: Bảng mô tả dữ liệu 42

Bảng 4.1: Kết quả phân tích hồi quy từng quốc gia 46

Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 53

Bảng 4.3: Kết quả hồi quy với hiệu ứng Fixed effect 53

Bảng 4.4: Kết quả hồi quy với với hiệu ứng Random effect 55

Bảng 4.5: Đánh giá kết quả của 2 mô hình 56

Bảng 4.6: Đánh giá tổng hợp chung các mô hình 57

Trang 7

Hình 2.2: Đường cong Laffer về nợ 27 Hình 2.3: Mối liên hệ “threshold effect” giữa nợ và tăng trưởng 30

Trang 8

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Ngay cả khi thị trường chứng khoán cải thiện, thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài thì nợ vẫn là một trong những mối đe dọa lớn nhất với sự

ổn định kinh tế trong khu vực Đông Nam Á

Trong những năm qua, để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong điều kiện tiết kiệm trong nước còn hạn chế, Việt Nam cũng như các nước khác ở khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Myanmar, Indonesia thường thu hút các nguồn vốn nước ngoài bằng nhiều hình thức khác nhau, trong

đó vay nợ là một phương thức phổ biến

Đối với các quốc gia nói trên thì nguồn vốn vay nước ngoài đã và đang được xem là một trong những nguồn tài chính quan trọng cho đầu tư phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng và góp phần bù đắp những thiếu hụt cho các cán cân cơ bản của nền kinh tế (như bù đắp thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách và thâm hụt tiết kiệm - đầu tư), qua đó ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế của quốc gia mình trên trường quốc tế Đồng thời, tăng trưởng kinh tế bền vững là mối quan tâm chủ yếu của tất cả các nền kinh tế đặc biệt là những nền kinh tế đang phát triển thường xuyên phải đối mặt với thâm hụt tài chính, nguyên nhân thâm hụt chủ yếu là do mức độ nợ nước ngoài và thâm hụt tài khoản vãng lai Trong quá khứ, không ít các tập đoàn và ngân hàng không chỉ riêng ở khu vực Đông Nam Á mà trên khắp châu Á đã sụp đổ bởi họ không có khả năng hoàn trả các khoản vay nợ nước ngoài trong bối cảnh khủng hoảng tiền

tệ Đồng nội tệ mất giá trị khiến các khoản nợ nước ngoài tăng giá, gây thêm áp lực cho các nền kinh tế các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á vốn đang gặp nhiều khó khăn Nợ nước ngoài đang đe dọa đến đà phục hồi và sự ổn định vĩ

Trang 9

mô của các nền kinh tế trên thế giới, bức tranh của cuộc tái suy thoái toàn cầu đang được đặt ra Do đó, các nhà kinh tế học đã có rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Theo thời gian, các nghiên cứu khác nhau đã cố gắng khám phá mối quan hệ này bằng cách sử dụng những

bộ dữ liệu và phương pháp nghiên cứu khác nhau Một số các nghiên cứu đã nhận định về tác động tiêu cực của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế, trong khi một số nghiên cứu khác thì ngược lại

Để tìm hiểu sâu hơn và bổ sung về vấn đề này, tác giả quyết định chọn đề

tài “Tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu trường hợp các quốc gia Đông Nam Á” làm đề tài nghiên cứu của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu mối quan hệ tác động giữa nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế tại các nước Đông Nam Á

Tiếp theo, tác giả xem xét mức độ tác động giữa nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế tại các nước và ước lượng nó thế nào Từ đó, tác giả rút ra các nhận xét và đề xuất một số giải pháp an toàn nợ nước ngoài

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Dựa vào mục tiêu trên, luận văn tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Nợ nước ngoài có tác động đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia Đông Nam Á hay không?

- Mức độ tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia như thế nào?

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu như đã nêu ở phần trên, luận văn tập trung hướng đến phân tích định lượng mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ nước ngoài trên

Trang 10

GDP, cân đối ngân sách so với GDP với tốc độ tăng trưởng kinh tế tại các nước trong khu vực Đông Nam Á giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2014

Luận văn không xem xét giá trị và đặc điểm của từng khoản nợ vay nước ngoài cụ thể, mà tiếp cận tổng thể ở dạng vĩ mô về toàn bộ nợ nước ngoài và mức độ nợ nước ngoài mà tại đó tác động của nó đối với tăng trưởng kinh tế

1.5 Khung nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết về nợ nước ngoài và tổng hợp các nghiên cứu về nợ nước ngoài ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Bước tiếp theo là thu thập dữ liệu để phục vụ cho các biến kinh tế Từ dữ liệu nghiên cứu, đề tài tiến hành xây dựng mô hình, định lượng và phân tích nghiên cứu Cách thức thực hiện được tác giả tóm tắt qua các bước như sau:

Trang 11

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn nghiên cứu sẽ kiểm chứng tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế và hơn nữa, thông qua dạng phương trình bậc hai - dạng phi tuyến giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2014 để tìm ra mức độ nợ nước ngoài

Luận văn với đề tài đề tài “Tác động của nợ nước ngoài đối với tăng

trưởng kinh tế: Nghiên cứu trường hợp các quốc gia Đông Nam Á” khi đạt được

những mục tiêu nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học và thiết thực để tham khảo trong quá trình phân tích và đề ra chính sách về vay nợ nước ngoài nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô và phát triển một cách bền vững

Cơ sở lý thuyết về nợ nước ngoài và

tăng trưởng kinh tế

Các nghiên cứu có liên quan

Thu thập và đánh giá dữ liệu

nghiên cứu

Xây dựng mô hình nghiên cứu

Phân tích mô hình hồi

quy

Kiểm định một số giả

thuyết

Phân tích kết quả nghiên cứu

Đưa ra kết luận và các hàm ý chính sách

Trang 12

1.7 Bố cục luận văn

Luận văn bao gồm các chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Phần mở đầu

Chương 2: Tổng quan nghiên cứu

Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Nợ nước ngoài

2.1.1 Khái niệm

- Theo IMF định nghĩa: “Tổng nợ nước ngoài, tại bất kỳ thời điểm nào là tổng dư nợ của các nghĩa vụ nợ thực tế hiện thời chưa thanh toán, không bao gồm các nghĩa vụ nợ dự phòng, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán nợ gốc và/hoặc lãi tại một (hoặc một vài) thời điểm trong tương lai, và đây là khoản nợ của người cư trú nợ người không cư trú”

Tóm lại, nợ nước ngoài là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ,

nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay theo phương thức tự vay, tự trả

2.1.2 Vai trò của nguồn vốn vay nước ngoài

Thứ nhất, tạo ra nguồn vốn bổ sung cho quá trình tăng trưởng và phát

triển kinh tế Đối với các nước đang phát triển đang trong quá trình công nghiệp hóa và thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo thì việc vay nợ nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đó Hơn nữa, việc vay vốn còn có ý nghĩa đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia Việc huy động vốn đúng thời điểm sẽ giảm bớt được tình trạng căng thẳng về nguồn vốn đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn

Thứ hai, góp phần hỗ trợ cho các nước vay nợ tiếp thu được công nghệ

tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý của các nhà tài trợ nước ngoài Do trình độ phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục - khoa học ở các nước đang phát triển rất thấp cho nên các nước này ít có khả năng nhập khẩu công nghệ mới Ngoài ra, khả năng nhập khẩu công nghệ, tri thức quản lý của các nước này cũng rất thấp kém Trong điều kiện đó, các nguồn công nghệ hiện đại được đưa vào

Trang 14

thông qua nguồn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đóng vai trò quan trọng Khi cung cấp các khoản cho vay này, các nhà tài trợ đặc biệt quan tâm và ưu tiên đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực Các nguồn nhân lực được đào tạo này là nền tảng để tạo ra các loại công nghệ mới, tạo nền tảng để đất nước tiến kịp với tốc độ phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới

Thứ ba, tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước, góp

phần thu hút, mở rộng các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển Phần lớn các nguồn vốn vay nợ nước ngoài được đầu tư để xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng, hoàn thiện hệ thống luật pháp và các chính sách kinh tế của các nước đi vay, tăng cường năng lực quản lý, do đó góp phần làm tăng mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư ở nước con nợ Đối với các nước đang phát triển, do tỷ lệ tích lũy ở trong nước thấp cho nên nguồn vốn sử dụng cho hoạt động xây dựng cơ bản, hoàn thiện khung pháp lý chủ yếu dựa vào nguồn hỗ trợ từ bên ngoài

Thứ tư, góp phần chuyển đổi, hoàn thiện cơ cấu kinh tế, đưa nền kinh tế

tham gia tích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế và góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế Việc vay nợ thường được tập trung vào việc giải quyết những vấn đề cấp bách đặt ra cho nền kinh tế đặc biệt là việc phát triển các ngành công nghệ cao, các ngành cần vốn đầu tư lớn, hình thành nền tảng cho việc phát triển những ngành mũi nhọn, các ngành có lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh quốc tế theo chiều sâu Hơn nữa, đối với các nước đang phát triển, tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán thường rất lớn, việc vay vốn nước ngoài thường sử dụng vào việc bù đắp sự thâm hụt trong cán cân này nhằm đảm bảo cân bằng đối ngoại của các quốc gia

Tuy nhiên, nguồn vốn vay nước ngoài có thể gây ra hạn chế nếu như ta quản lý không tốt, cụ thể như:

Trang 15

Thứ nhất, có thể làm tăng gánh nặng nợ nần cho đất nước trong tương lai

Một nền kinh tế phát triển hướng ngoại đến mức phụ thuộc rất lớn vào các nguồn lực bên ngoài sẽ không được coi là một nền kinh tế phát triển bền vững Nếu đầu

tư không có hiệu quả thì không những hoạt động đầu tư đó không mang lại hiệu quả theo mục đích định trước mà còn mất thêm cả phần của cải mà xã hội sẽ tạo

ra Hậu quả là nợ nước ngoài sẽ làm cho mức sống của dân cư nước con nợ vốn

đã thấp lại càng thấp hơn và uy tín của quốc gia sẽ bị giảm sút trong các quan hệ quốc tế Hơn nữa, nếu tỷ lệ nợ nước ngoài quá cao sẽ làm giảm lòng tin của các nước cho vay vào khả năng quản lý của nước đi vay

Thứ hai, nguy cơ làm giảm trách nhiệm của chính phủ và dân cư Khi xuất

hiện nhu cầu về vay vốn nước ngoài, thay vì việc khai thác các nguồn nội lực, các Chính phủ đi vay sẽ dễ dàng chọn phương án dựa vào các nguồn ngoại lực Ngoài ra, sau khi vay được nguồn vốn nước ngoài, các nước đang phát triển và kém phát triển lại chi tiêu một cách lãng phí Điều này làm cho các nước rơi vào tình trạng khủng hoảng không thể vượt qua được Nếu là các khoản nợ trong nước, chính phủ có thể tuyên bố là luôn có khả năng trả hết nợ vì chính phủ có thể in tiền vô hạn để trả nợ

Còn các khoản nợ nước ngoài do phải trả bằng vàng hoặc ngoại tệ nên đã

có nhiều trường hợp Chính phủ phải tuyên bố vỡ nợ Chính phủ được lợi là thoái thác trách nhiệm trả nợ Nhưng Chính phủ sẽ chịu nhiều bất lợi từ cộng đồng tài chính quốc tế như: bị ngăn cấm không được tham gia vào hoạt động kinh tế quốc

tế, đặc biệt là thương mại quốc tế; bị tịch biên tài sản ở nước ngoài, kể cả tài sản của Chính phủ và tài sản của công dân quốc gia đó; hầu như bị cắt hết các khoản tài trợ quốc tế kể cả vay nợ, viện trợ và đầu tư nước ngoài (Đinh Trọng Thịnh,

2006, trang 152)

Thứ ba, gây ra sự phụ thuộc của nước con nợ vào nước chủ nợ Các khoản

nợ nước ngoài nhất là các khoản vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) luôn

Trang 16

kèm theo những điều kiện ràng buộc về mục đích sử dụng, nguồn cung ứng, thời hạn… Nhiều nước công nghiệp hiện đang áp dụng biện pháp này để đạt đến các mục tiêu về chính trị đối với các nước đang phát triển Vì vậy các chính phủ phải

có kế hoạch vay trả nợ hợp lý để tránh tình trạng quá phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài

Thứ tư, hủy hoại các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước Nguồn

vốn đi vay nếu được sử dụng không có hiệu quả có thể dẫn đến tình trạng sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên và còn gây ra tình trạng nợ nần trong tương lai Như vậy, việc vay nợ tràn lan sẽ làm cho các nước đang và kém phát triển phá hủy nguồn tài nguyên hữu hạn của mình, đánh mất lợi thế vốn có khi tham gia vào phân công lao động quốc tế

2.1.3 Tiêu chí đánh giá mức độ an toàn nợ nước ngoài

Các chỉ số đánh giá mức độ an toàn về nợ nước ngoài được xây dựng thành hệ thống nhằm xác định mức độ nghiêm trọng của nợ nước ngoài đối với

an ninh tài chính quốc gia Cũng cần phải xác định lại là các chỉ tiêu đánh giá chung về nợ nước ngoài, trong đó nợ nước ngoài của Chính phủ là chủ yếu, còn

nợ của khu vực tư nhân hầu như không đáng kể

Theo quan điểm của IMF thì tiêu chí đánh giá an toàn nợ nước ngoài đối

với các quốc gia có thu nhập thấp dựa vào hiện giá thuần của nợ và dịch vụ nợ (nghĩa vụ trả nợ), một chính sách nợ yếu đồng nghĩa an toàn về nợ và một chính sách nợ mạnh đồng nghĩa với kém an toàn về nợ, thể hiện qua bảng sau:

Trang 17

Bảng 2.1: Tiêu chí đánh giá an toàn nợ theo IMF Gánh nặng nợ theo tiêu chí DSF

Hiện giá của nợ so với (%) Dịch vụ nợ so với (%) Xuất khẩu

(X)

sách (DBR)

Xuất khẩu (%)

Thu ngân sách (DBR)

(Nguồn: IMF Debt Sustainability Framework)

Tỷ lệ NPV của nợ/xuất khẩu (NPV/X): đo lường hiện giá thuần của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia từ nguồn thu xuất khẩu;

Tỷ lệ NPV của nợ/thu ngân sách nhà nước (NPV/DBR): đo lường hiện giá thuần của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn thu ngân sách nhà nước

Tuy nhiên, chỉ tiêu thứ hai chỉ được sử dụng nếu như đáp ứng hai điều kiện: (i) tỷ lệ xuất khẩu/GDP (X/GDP) phải lớn hoặc bằng 30% và (ii) tỷ lệ thu ngân sách nhà nước/GDP (DBR/GDP) phải lớn hơn 15% Một quốc gia được xem là an toàn nếu như NPV/X nhỏ hơn 150%; NPV/DBR nhỏ hơn 250%

Tỷ lệ NPV của nợ/GDP (NPV/GDP): đo lường hiện giá thuần của nợ nước ngoài trên tổng thu nhập quốc nội; Dịch vụ nợ/xuất khẩu (TDS/X) và dịch

vụ nợ/nguồn thu ngân sách (TDS/DBR): là những chỉ tiêu đo lường thanh khoản được Ngân hàng Thế giới và IMF đưa vào để đánh giá mức độ bền vững nợ công TDS/X đo lường khả năng thanh toán dịch vụ nợ từ nguồn thu xuất khẩu Còn TDS/DBR đo lường khả năng thanh toán dịch vụ nợ từ thu ngân sách nhà nước Một quốc gia đảm bảo thanh khoản, TDS/X phải thấp hơn 15% và TDS/DBR thấp hơn 10%

Tiêu chí của Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá mức độ nợ của các quốc gia vay nợ

Trang 18

Để xếp loại các con nợ theo mức độ nợ, Ngân hàng thế giới sử dụng các chỉ số đánh giá mức độ nợ nần của các quốc gia vay nợ như ở bảng sau

Bảng 2.2: Tiêu chí đánh giá an toàn nợ theo WB

lãi so với kim ngạch

xuất khẩu hàng hóa và

dịch vụ

(Nguồn: www.worldbank.org)

Dựa vào các chỉ số trên, các tổ chức tài chính quốc tế có thể đánh giá mức

độ nợ nần và khả năng tài trợ cho các nước thành viên Các chỉ số này cũng là căn cứ để các quốc gia vay nợ tham khảo, xác định tình trạng nợ để hoạch định chiến lược vay nợ cho quốc gia

Quy mô nợ và trả nợ, trả lãi so với nguồn thu trực tiếp và gián tiếp để trả

nợ thường được dùng để đánh giá mức độ nợ Mức độ nợ cũng ngầm cho biết khả năng trả nợ của các quốc gia trong trung và dài hạn Các chỉ tiêu thường dùng:

Trang 19

* Khả năng hoàn trả nợ vay nước ngoài (EDT/XGS)

Tổng nợ/Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa dịch vụ: Chỉ tiêu này biểu diễn tỷ lệ nợ nước ngoài bao gồm nợ tư nhân, nợ được chính phủ bảo lãnh trên thu nhập xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ Ý tưởng sử dụng chỉ tiêu này là nhằm phản ánh nguồn thu xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ là phương tiện mà một quốc gia có thể sử dụng để trả nợ nước ngoài

* Tỷ lệ nợ nước ngoài so với tổng sản phẩm quốc nội (EDT/GDP)

Nợ/GDP: Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ thông qua tổng sản phẩm quốc nội được tạo ra Hay nói cách khác, nó phản ánh khả năng hấp thụ vốn vay nước ngoài Thông thường các nước đang phát triển thường đánh giá cao giá trị đồng nội tệ hoặc sử dụng chế độ đa tỷ giá dẫn tới làm giảm tình trạng trầm trọng của nợ Do vậy, tình trạng nợ có thể không được đánh giá đúng mức

- Đánh giá tính ổn định nợ nước ngoài của VN theo mức ngưỡng của HIPCs:

Đánh giá tính bền vững của nợ công được thực hiện qua các chỉ tiêu sau:

+ Tỷ lệ NPV của nợ/xuất khẩu (NPV/X): đo lường hiện giá thuần của

nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia từ nguồn thu xuất khẩu;

+ Tỷ lệ NPV của nợ/thu ngân sách nhà nước (NPV/DBR): đo lường

hiện giá thuần của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn thu ngân sách nhà nước

Tuy nhiên, chỉ tiêu thứ hai chỉ được sử dụng nếu như đáp ứng hai điều

kiện: (i) tỷ lệ xuất khẩu/GDP (X/GDP) phải lớn hoặc bằng 30% và (ii) tỷ lệ

thu ngân sách nhà nước/GDP ( DBR/GDP) phải lớn hơn 15% Một quốc gia được xem là an toàn nếu như NPV/GDP nhỏ hơn 150%; NPV/DBR nhỏ hơn

Trang 20

Bảng 2.3: Ngưỡng nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn HIPCs

NPV của nợ/thu ngân sách trừ các khoản hỗ

giới và IMF đưa vào để đánh giá mức độ bền vững nợ công TDS/X đo lường khả năng thanh toán dịch vụ nợ từ nguồn thu xuất khẩu Còn TDS/DBR đo lường khả năng thanh toán dịch vụ nợ từ thu ngân sách nhà nước Một quốc gia đảm bảo thanh khoản, TDS/X phải thấp hơn 15% và TDS/DBR thấp hơn 10%

– Đánh giá sức mạnh thể chế và chất lượng chính sách quản lý nợ nước ngoài

Sự ổn định nợ được đánh giá dựa trên các ngưỡng chỉ tiêu nợ được tính toán dựa vào kinh nghiệm lịch sử của các nước HIPCs, nhằm hướng đến ngăn ngừa các cú sốc liên quan đến nợ Tuy vậy, trong vài năm gần đây, một cách tiếp cận mới mà Ngân hàng Thế giới đưa vào để đánh giá chất lượng quản lý

Trang 21

nợ công đó là dựa vào chất lượng chính sách và thể chế Các quốc gia có chính sách và thể chế tốt thì có thể chống đỡ được mức nợ cao hơn so với mức ổn định nợ cơ bản

Bảng 2.4: Mức ngƣỡng phụ thuộc vào chính sách và thể chế

Đánh giá sức mạnh thể chế và chất lượng chính sách Mức ngưỡng

(%)

Kém CPIA ≤3

Vừa 3< CPIA <3.9

Mạnh CPIA ≥ 3.9

(Nguồn: Ngân hàng Thế giới (2005))

Cách tiếp cận này đưa ra giá trị mức ngưỡng dựa vào tỷ lệ nợ truyền thống để làm cơ sở đánh giá thể chế và chính sách của quốc gia Dựa vào giá trị ngưỡng, Ngân hàng Thế giới phân loại 3 mức thực hiện chính sách: kém, vừa và mạnh Trong quá trình đánh giá chính sách, quản lý được xem là có trọng số lớn nhất Bảng trên cho thấy, quốc gia thực hiện chính sách mạnh có chỉ số CPIA ≥ 3,9 được xem là có gánh nặng nợ ổn định nếu như tỷ lệ NPV của nợ/GDP ở dưới mức thấp hơn 60%, tỷ lệ NPV của nợ/xuất khẩu thấp hơn

Trang 22

300%, tỷ lệ NPV/thu ngân sách (trừ đi các khoản hỗ trợ) thấp hơn 350%; tỷ lệ dịch vụ nợ/xuất khẩu thấp hơn 35% tỷ lệ dịch vụ nợ/thu ngân sách (trừ đi các khoản hỗ trợ) thấp hơn 40% Cách tiếp cận này hiện vẫn còn nhiều tranh luận

về tính chính xác của nó

Theo cách tiếp cận mới và với số liệu của VN về NPV của nợ ở bảng 1, cho thấy thể chế và chính sách quản lý nợ nước ngoài của VN xếp vào chỉ số CPIA ≤ 3, tức là ở mức kém

2.2 Tăng trưởng kinh tế

2.2.1 Khái niệm

Tăng trưởng kinh tế là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở rộng quy mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nhưng trong khuôn khổ giữ nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng Hay Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

Tăng trưởng kinh tế được phản ánh ở nhiều chỉ tiêu nhưng chỉ tiêu thường được sử dụng là Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), tăng trưởng vốn, lao động, sự gia tăng dung lượng thị trường Sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành GDP như tiêu dùng nội địa, đầu tư, chi tiêu chính phủ và cán cân thương mại sẽ làm thay đổi tốc độ tăng trưởng kinh tế

Quá trình tăng trưởng thể hiện các nguồn lực tăng trưởng như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ, quản lý, quan hệ, thị trường được khai thác và sử dụng có hiệu quả cao nhất Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài hạn Nhiều công trình nghiên cứu trong ngoài nước đã lượng hoá tác động của

Trang 23

các nguồn lực tăng trưởng đến chất lượng và động thái tăng trưởng thông qua các mô hình như mô hình tái sản xuất giản đơn của Các Mác, tái sản xuất mở rộng của V.I Lênin, mô hình các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của W.Rostow hoặc Solow hoặc hàm sản xuất Cob Douglas

Quá trình tăng trưởng kinh tế có thể có nhiều mô hình khác nhau như tăng trưởng kinh tế hướng nội, tăng trưởng kinh tế hướng ngoại hoặc sự kết hợp của

cả hai mô hình này tùy điều kiện và sự lựa chọn chiến lược của các quốc gia Như vậy, tăng trưởng kinh tế là quá trình tích lũy giá trị gia tăng của một nền kinh tế từ các nguồn lực trong và ngoài nước và nó phải được thúc đẩy bằng những động lực đủ mạnh của chính sách, lòng tự hào dân tộc hoặc những yếu tố khác trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

2.2.2 Một số mô hình tăng trưởng kinh tế

a Mô hình tăng trưởng ngoại sinh

Mô hình tăng trưởng Solow là một mô hình thuyết minh về cơ chế tăng trưởng kinh tế do Robert Solow và Trevor Swan xây dựng rồi được các học giả kinh tế khác bổ sung Solow đã nhận được giải Nobel về kinh tế năm 1987 nhờ cống hiến này Mô hình này còn gọi là Mô hình tăng trưởng tân cổ điển vì một

số giả thiết của mô hình dựa theo lý luận của kinh tế học tân cổ điển Mô hình này còn có cách gọi khác, đó là Mô hình tăng trưởng ngoại sinh, bởi vì không liên quan đến các nhân tố bên trong, rốt cục tăng trưởng của một nền kinh tế sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định ở trạng thái bền vững Chỉ các yếu tố bên ngoài,

đó là công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động mới thay đổi được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững

Các ký hiệu: Y là sản lượng thực tế (hoặc thu nhập thực tế)

K là lượng tư bản đem đầu tư

L là lượng lao động

Trang 24

y là sản lượng trên đầu lao động

k là lượng tư bản trên đầu lao động

S là tiết kiệm của cả nền kinh tế

s là tỷ lệ tiết kiệm

I là đầu tư

i là đầu tư trên đầu lao động

C là tiêu dùng cá nhân trong nền kinh tế

c là tiêu dùng cá nhân trên đầu lao động

δ là tỷ lệ khấu hao vốn tư bản

Δ là lượng vốn tư bản tăng thêm ròng

n là tốc độ tăng dân số, đồng thời là tốc độ tăng lực lượng lao động

Mô hình Solow-Swan nguyên mẫu được thiết lập trong một thế giới với thời gian liên tục, không có sự tham gia của chính phủ hay thương mại quốc tế Một hàng hóa (đầu ra) duy nhất được sản xuất từ hai yếu tố sản xuất là lao động (L)

và vốn (K) trong một hàm tổng sản xuất thỏa mãn điều kiện Inada, ám chỉ rằng

độ co giãn của sự thay thế phải tiệm cận bằng 1

 Y(t) =K(t)α(A(t)L(t))1-α

Với thời gian ký hiệu là t, 0<α<1 là sự co giãn của sản lượng đầu ra với vốn,

và Y(t) là tổng sản lượng A là công nghệ nâng cao hiệu quả lao động, hay “kiến thức”, do đó AL là lao động hiệu quả Mọi yếu tố sản xuất đều được toàn dụng,

và các giá trị khởi đầu A(0), K(0), L(0) được cho sẵn Dân số (lao động) và công nghệ tăng trưởng ngoại sinh với tốc độ tương ứng là n và g

L(t) = L(0)ent

A(t) = A(0)egt

Trang 25

Số lượng của đơn vị lao động hiệu quả, A(t) L(t), do đó sẽ tăng trưởng với tốc độ (n+g) Trong khi đó, mức khấu hao không đổi qua tất cả các thời kì là δ Tuy nhiên, chỉ có một phần của sản lượng đầu ra (cY(t)) với 0 < c < 1 là được tiêu thụ, để lại một phần tỷ lệ tiết kiệm s = 1 - c dành cho đầu tư

K‟(t) = s Y(t) – δ K(t) với K‟(t) là ký hiệu của dK(t)/dt , đạo hàm của vốn theo thời gian Đạo hàm theo thời gian có nghĩa nó là sự thay đổi về trữ lượng vốn - phần sản lượng mà không được tiêu thụ hay bù vào phần khấu hao là khoản đầu tư ròng

Bởi vì hàm sản xuất Y(K, AL) có hiệu suất không đổi theo quy mô nên nó có thể được viết dưới dạng sản lượng trên mỗi đơn vị lao động hiệu quả:

Y(t) = = k(t)α

Điểm mấu chốt chính của mô hình là k, nguồn vốn trên mỗi đơn vị lao động hiệu quả Đạo hàm của nó theo thời gian được cho bởi phương trình sau đây trong mô hình Solow-Swan:

k‟ (t) = sk (t)α – (n + g + δ) k(t) Phần đầu sk (t)α = sy (t) là lượng đầu tư thực tế tính trên mỗi đơn vị lao đông hiệu quả: ký hiệu s phần của sản lượng trên mỗi đơn vị lao động hiệu quả y(t) được giữ lại để đầu tư và tiết kiệm (n + g +δ)k(t) là điểm đầu tư hòa vốn (break-even investment): là lượng tư bản cần đầu tư mới để giữ cho k không bị giảm do khấu hao Phương trình này ám chỉ rằng k(t) hội tụ về trạng thái dừng với giá trị k*, xác định bởi phương trình: sk (t)α

= (n + g+ δ) k(t), tại đó không tăng cũng không giảm

Trang 26

Tại đó, trữ lượng vốn K và lao động hiệu quả AL tăng trưởng với tốc độ (n + g) Với giả định hiệu suất không đổi theo quy mô, sản lượng Y cũng tăng với tốc độ đấy Về bản chất, mô hình Solow-Swan dự đoán rằng nền kinh tế sẽ hội tụ về một trạng thái cân bằng tăng trưởng, bất kể điểm khởi đầu của nó ở đâu.Trong trường hợp này, sự tăng trưởng của sản lượng trên mỗi đơn vị nhân công được xác định duy nhất bởi tốc độ tăng trưởng của tiến bộ công nghệ

Bởi vì, bằng cách định nghĩa = k(t)1-α,

tại điểm cân bằng k* ta có:

Hình 2.1: Điểm cân bằng của Mô hình tăng trưởng nội sinh

Do vậy, tại điểm cân bằng, tỷ lệ vốn trên đầu ra chỉ phụ thuộc vào tiết kiệm, tăng trưởng và tỷ lệ khấu hao Đây là phiên bản mô hình Solow-Swan với

tỷ lệ tiết kiệm vàng

Vì α < 1 nên tại bất kì thời điểm t nào thì sản phẩm cận biên của vốn K(t) trong mô hình Solow-Swan cũng tỷ lệ nghịch với tỷ lệ vốn trên lao động

Trang 27

Nếu năng suất A là giống nhau ở các quốc gia, thì các quốc gia với tỷ lệ vốn trên lao động K/L thấp hơn sẽ có sản phẩm cận biên cao hơn, dẫn đếnlợi nhuận trên vốn đầu tư sẽ cao hơn Như một hệ quả, mô hình dự đoán rằng trong thế giới với các nền kinh tế thị trường mở và vốn tài chính toàn cầu, dòng vốn đầu tư sẽ chảy từ các quốc gia giàu đến các nước nghèo hơn, đơn vị vốn trên lao động K/L và thu nhập trên lao động Y/L sẽ bằng nhau ở tất cả các quốc gia

Sản phẩm cận biên của nguồn vốn ở các quốc gia nghèo không cao hơn so với các quốc gia giàu, điều này ám chỉ rằng năng suất ở các quốc gia nghèo kém hơn Mô hình Solow cơ bản không thể giải thích được điều trên Lucas đã cho rằng nguồn nhân lực trình độ thấp ở các quốc gia nghèo là lí do vì sao năng suất lao động ở các quốc gia này thấp

Nếu cho sản phẩm cận biên của vốn bằng với tỷ suất lợi tức r (thường được sử dụng trong kinh tế học tân cổ điển), thì

Do đó α là phần thu nhập chiếm dụng vốn Như vậy, Solow-Swan mô hình giả định ngay từ đầu rằng sự phân chia lao động vốn của thu nhập vẫn không đổi

b Mô hình tăng trưởng nội sinh

Trong thập niên1980, một câu trả lời mới và cấp tiến hơn được đề xuất trong tài liệu chuyên ngành Những nhà kinh tế này ghi nhận các vấn đề đi kèm với mô hình Solow như đã nói ở trên Các nước nghèo đã không tăng trưởng nhanh hơn các nước giàu, và những khác biệt trong suất sinh lợi trên vốn không lớn như mô hình dự báo Vốn không chảy vào thế giới đang phát triển để tận

Trang 28

dụng suất sinh lợi to lớn như Solow và sau này là Mankiw, Romer và Weil (Lucas1988) dự báo Họ đề xuất rằng các nước đầu tư thu nhập quốc gia với tỷ

lệ lớn hơn vào vốn vật chất và con người sẽ không chỉ đạt được thu nhập ở trạng thái dừng cao hơn như trong mô hình Solow, mà còn tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn Điều này có nghĩa là tốc độ tăng trưởng dài hạn là nội sinh đối với mô hình, nói cách khác, tốc độ tăng trưởng không đơn thuần là hình ảnh phản chiếu của các yếu tố bên ngoài như tăng trưởng lực lượng lao động và tốc độ thay đổi công nghệ toàn cầu

Ý tưởng chính của lý thuyết tăng trưởng nội sinh là thay đổi công nghệ ngăn chặn suất sinh lợi theo vốn giảm dần xảy ra khi trữ lượng vốn tăng lên Không có suất sinh lợi giảm dần thì không có trạng thái dừng, và do đó chúng ta không còn kỳ vọng sự hội tụ thu nhập giữa nước giàu và nước nghèo Có nhiều

mô hình đã được đề xuất để trình bày về khái niệm cơ bản này

Romer (1986) dựa mô hình của mình vào quan sát cho rằng một số loại tri thức là không có tính tranh giành, nghĩa là chúng không thể bị sử dụng hết như hàng hóa và dịch vụ thông thường Khi bạn uống một tách cà phê,thì tách cà phê không còn để người khác uống (hoặc cũng không còn để bạn uống sau đó) Không giống như tách cà phê, ý tưởng có thể được nhiều người sử dụng đồng thời hoặc trong tương lai xa Ví dụ, động cơ hơi nước nguyên thủy được phát triển vào thế kỷ 18 chỉ đơn giản là thiết bị dùng để bơm nước ra khỏi các mỏ than Theo thời gian, các nhà phát minh cải tiến những thiết kế ban đầu này để chế tạo ra những cỗ máy mạnh hơn, bền và hiệu quả nhiên liệu hơn, cuối cùng đã giúp cho việc cơ giới hóa các nhà máy thành công và tăng trưởng năng suất bùng

nổ trong cuộc cách mạng công nghiệp Do đó chi phí cố định của sự phát minh được tưởng thưởng dưới hình thức năng suất cao hơn Ta có thể thấy tác động năng suất của phát minh gốc kéo dài vào tương lai, và hiện hữu trong nhiều hoạt động không liên quan gì đến việc bơm nước ra khỏi hầm mỏ

Trang 29

Bản chất không tranh giành của ý tưởng có nghĩa là suất sinh lợi từ một số hoạt động đổi mới sáng tạo không hoàn toàn thuộc về người làm ra nó (hay công

ty tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển) Tri thức lan tỏa từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác đều có giá trị kinh tế, thực tế là rất nhiều giá trị vì mặc dù suất sinh lợi trên vốn có thể giảm dần cho mỗi doanh nghiệp, nhưng tính tổng nền kinh tế thì nó lại không đổi hoặc tăng dần Việc tích lũy các phát minh sẽ tốn kém thời gian và tiền bạc, nhưng những đổi mới sáng tạo này mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, không chỉ cho những người đưa ra ý tưởng ban đầu Do đó phát minh là một dạng ngoại tác tích cực Khi tri thức lan tỏa, các công ty và cá nhân phát minh sẽ tận dụng để tạo ra sản phẩm mới, cải thiện sản phẩm cũ, hoặc nâng hiệu quả sản xuất Giả định suất sinh lợi không đổi theo quy

mô của mô hình Solow có thể không phải là mô tả chính xác các mối quan hệ giữa lượng vốn và lao động sử dụng với năng suất lao động Hơn nữa khác với

mô hình Solow, tốc độ thay đổi công nghệ tác động lên tốc độ tăng trưởng, không chỉ mức thu nhập ở trạng thái dừng (không có trạng thái dừng)

Chính thức thì Romer giả định rằng năng suất lao động do trữ lượng tri thức quyết định, sao cho sản lượng gộp được xác định bởi:

Y = f(K,L,E)=KaL1-aEn, x 14

Trong đó η<1 Một hàm ý quan trọng của mô hình Romer là các doanh

nghiệp có thể đầu tư không đủ vào nghiên cứu và phát triển vì họ không thể nắm bắt toàn bộ lợi ích từ đổi mới sáng tạo Điều này gợi ý rằng các chính sách khuyến khích nghiên cứu và phát triển như miễn thuế cho chi tiêu R & D hoặc các nghiên cứu do chính phủ tài trợ, có thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng

Một cách tiếp cận khác là bỏ hẳn lao động ra khỏi mô hình và giả định rằng vốn, gồm vốn vật chất và vốn con người, nhận tất cả thu nhập quốc gia Điều này có thể là những chi phí cho yếu tố sản xuất được trả cho công nghệ bao hàm trong vốn và cho kỹ năng bao hàm trong lao động, chứ không phải bản thân

Trang 30

lao động Mô hình „AK‟ (Rebelo 1992) giả định rằng tiến bộ công nghệ là suất sinh lợi không đổi theo vốn vật chất và vốn con người (α=1) và không có tăng trưởng dân số, trong đó:

Y=AF(K)=AK x15 Miễn là đầu tư lớn hơn khấu hao, thì tăng trưởng là một hàm tăng dần theo tốc độ đầu tư Tăng trưởng dài hạn là nội sinh trong mô hình này vì nó không còn phụ thuộc vào số dư không xác định Đầu tư tác động trực tiếp lên tăng trưởng, không chỉ mức thu nhập dài hạn như trong mô hình Solow Hàm ý chính sách quan trọng từ mô hình này là bất kỳ điều gì làm giảm tốc độ tích tụ vốn thì sẽ có tác động trực tiếp và lớn lên tốc độ tăng trưởng Ví dụ, chính sách thuế không khuyến khích đầu tư sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng và mức thu nhập trong dài hạn

Những phiên bản khác cũng được đề xuất Tiếc thay chúng ta không có cách nào để kiểm chứng những mô hình này về mặt thực nghiệm vì chúng dựa nhiều vào những biến số mơ hồ, không quan sát được như tổng tri thức và tiến

bộ công nghệ Nhớ lại rằng mô hình Solow không bao giờ đo lường thay đổi công nghệ, nhưng thay vào đó giả định rằng số dư không giải thích được (nghĩa

là những thứ khác ngoài vốn và lao động) là thước đo khái quát về sự tiến bộ

Một vấn đề khác với các mô hình tăng trưởng nội sinh là chúng ám chỉ quá nhiều sự phân kỳ thu nhập theo thời gian Như Solow đã chỉ ra, ngay cả một

ít suất sinh lợi theo quy mô ở tốc độ đầu tư vừa phải cũng tạo ra sản lượng quốc gia vô hạn trong khoảng thời gian ngắn cỡ 200 năm (Solow, 1994) Mặc dù mô hình AK tránh được vấn đề này nhờ suất sinh lợi không đổi theo quy mô, nhưng cũng không rõ tại sao suất sinh lợi trên vốn có thể chính xác bằng 1 Bất kỳ sự chuyển dịch nào đến suất sinh lợi giảm dần hay tăng dần theo quy mô đều hoàn toàn triệt tiêu được các kết luận của mô hình này

2.3 Giá trị tới hạn của nợ nước ngoài với tăng trưởng kinh tế

Trang 31

Nợ công đã tăng lên đáng kể ở hầu hết các nước đã và đang phát triển hiện nay, đây là hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 Và sự gia tăng nợ công đã dấy lên lo ngại liệu nó đang bắt đầu đạt đến mức độ mà tại đó

nó có thể làm chậm tăng trưởng kinh tế Có một "đỉnh điểm" tồn tại? Làm thế nào tác động tăng trưởng mạnh mẽ được nếu nợ đã vượt qua ngưỡng? Điều gì sẽ xảy ra nếu nợ vẫn ở mức cao trong một thời gian dài?

Theo nghiên cứu của Reinhart và Rogoff (2010), sử dụng biểu đồ tổng hợp từ 44 quốc gia phát triển và đang phát triển, họ tìm thấy một ngưỡng nợ của chính phủ trên GDP 90%, nếu vượt qúa mốc này tốc độ tăng trưởng thực tế giảm Ngưỡng này được xem là "điểm tới hạn" hay “ngưỡng nợ”

Theo nghiên cứu của Mehmet Caner, Thomas Grennes và Koehler Geib, các chuyên gia kinh tế của World bank (2010) bằng lý thuyết và thực nghiệm trên mẫu là 101 quốc gia (75 quốc gia đang phát triển và 26 quốc gia phát triển), trong đó có Việt Nam, về mối quan hệ trong dài hạn giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, giai đoạn 1980-2008, phân tích này cung cấp một nền tảng cho sự phát triển các nghiên cứu chứng minh sự tồn tại ngưỡng nợ và ước tính ngưỡng nợ (nợ công trên GDP) cho từng quốc gia, từ đó có những chính sách phù hợp đối phó với nguy cơ khủng hoảng nợ đang đe dọa các nước có nợ nước ngoài cao hiện nay Và kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tồn tại ngưỡng nợ (Debt threshold), mức ngưỡng của tỷ lệ nợ công trung bình dài hạn so với GDP

Fritzi-là 77 % cho các nhóm mẫu chung (gồm các quốc gia đã phát triển và đang phát triển) và 64% cho các các nước đang phát triển

Nếu nợ công vượt qua mức 77%, mỗi điểm phần trăm tăng thêm trong tỷ

lệ nợ công trên GDP của nền kinh tế làm mất 0,0174 điểm phần trăm tăng trưởng thực trung bình hàng năm Hiệu ứng này là rất quan trọng Dưới ngưỡng này, mỗi điểm phần trăm tăng thêm trong tỷ lệ nợ công trên GDP của nền kinh tế làm

Trang 32

tăng 0,065 điểm phần trăm tăng trưởng thực trung bình hàng năm Như vậy, có

sự tồn tại ngưỡng nợ, đây là giá trị tới hạn

2.4.Tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế

Các lý thuyết kinh tế cho rằng mức vay nợ hợp lý ở các nước đang phát triển sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế Các quốc gia ở giai đoạn phát triển đầu với dung lượng vốn nhỏ hơn sẽ có những cơ hội đầu tư với tỷ suất hoàn vốn cao hơn so với các nền kinh tế phát triển Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao mức nợ tích lũy cao quá mức hợp lý lại có thể dẫn tới tăng trưởng kinh tế thấp hơn Sự lý giải tốt nhất có thể xuất phát từ lý thuyết “debt overhang” Krugman (1988) định nghĩa “debt overhang” là tình trạng trong đó số tiền dự kiến chi trả nợ nước ngoài sẽ giảm dần khi dung lượng nợ tăng lên

Lý thuyết “debt overhang” cho rằng nếu như nợ trong tương lai vượt quá khả năng trả nợ của một nước thì các chi phí dự tính chi trả cho các khoản nợ sẽ kìm hãm đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, từ đó ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng Các nhà đầu tư tiềm năng sẽ lo sợ rằng khi quốc gia đó sản xuất càng nhiều, họ sẽ bị các nước “chủ nợ” “đánh thuế” nặng hơn để chi trả cho các khoản

nợ nước ngoài, do đó các nhà đầu tư sẽ khó có thể bỏ các chi phí đầu tư hiện tại

để thu về sản lượng cao hơn trong tương lai Lý thuyết “debt overhang” còn đi đến một kết quả rộng hơn, đó là mức nợ nước ngoài quá cao sẽ làm giảm các ưu đãi của chính phủ cho các hoạt động cải tổ cơ cấu và tài khóa do việc củng cố tinh hình tài khóa quốc gia có thể làm tăng áp lực trả nợ cho nước ngoài Những bất lợi này đối với công cuộc cải tổ đang là mối quan ngại lớn ở các nước có thu nhập thấp, nơi mà việc cải cách cơ cấu là cần thiết để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế “Debt overhang” cũng đồng thời kìm hãm đầu tư và tăng trưởng do gây

ra “sự không chắc chắn” về các quyết định của Chính phủ Khi quy mô nợ công tăng lên, khó có thể chắc chắc rằng chính phủ sẽ viện tới những chính sách gì để giải quyết các khoản nợ phải trả Trên thực tế, ngưới ta cho rằng rằng chính phủ

Trang 33

có thể dùng các công cụ “bóp méo” đầu tư để chi trả cho các khoản nợ (theo Agenor và Montiel 1996)

Lập luận này có thể được xem xét trong đường cong Laffer về nợ, cho thấy rằng tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm Trên phần dốc lên của đường cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng sẽ đi cùng với khả năng trả nợ cũng tăng lên Trên phần dốc xuống của đường cong, giá trị hiện tại của

nợ càng tăng lại đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm

Trang 34

Khả năng trả nợ dự kiến

Hình 2.2: Đường cong Laffer về nợ

Đỉnh đường cong Laffer về nợ là điểm mà tại đó sự tăng lên trong tổng nợ bắt đầu tạo ra gánh nặng cho đầu tư, cải tổ kinh tế và các hoạt động khác, điểm này có thể liên quan đến điểm mà tại đó nợ bắt đầu ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng Do vậy, ở mức nợ hợp lí, vay nợ tăng lên sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng Ngược lại, tổng nợ tích lũy lớn sẽ có thể cản trở tăng trưởng

Dung lượng nợ lớn có thể ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng do tác động xấu đến tích lũy vốn sản xuất và tăng trưởng năng suất các nhân tổ tổng hợp Bên cạnh đó, môi trường chính sách của Chính phủ cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa nợ và tăng trưởng

Mặc dù mô hình “debt overhang” không trực tiếp phân tích ảnh hưởng của

nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế nhưng lại gợi ý rằng tổng nợ lớn sẽ kìm hãm tăng trưởng do góp phần giảm đầu tư Do vậy, ở mức nợ hợp lý, vay nợ tăng lên sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng Ngoài ra, tổng nợ tích lũy lớn

sẽ có thể cản trở tăng trưởng Từ đó, có thể kết luận rằng nợ và tăng trưởng có mối liên hệ phi tuyến Mặc dù các lý thuyết “debt overhang” không trực tiếp giải thích ảnh hưởng của nợ đến tăng trưởng nhưng ta có thể mở rộng và áp dụng đường cong Laffer về nợ để mô tả đường cong Laffer về ảnh hưởng của nợ đến

Debt

Dung lượng nợ

Trang 35

tăng trưởng Do đỉnh đường cong Laffer về nợ là điểm mà tại đó sự tăng lên trong tổng nợ bắt đầu tạo ra gánh nặng cho đầu tư, cải tổ kinh tế và các hoạt động khác, điểm này có thể liên quan đến điểm mà tại đó nợ bắt đầu ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng

2.5 Tổng quan các nghiên cứu về tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế

* Các nghiên cứu nước ngoài:

Nghiên cứu của tác giả Frimpong, J M and Oteng-Abayi, E F., đăng trong Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Vol 26 No.3, 12/2006 “The Impact Of External Debt On Economic Growth In Ghana: A Cointegration Analysis” Trọng tâm của nghiên cứu này là đánh giá tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của Ghana Tác giả đã sử dụng bộ dữ liệu thời gian từ năm 1970-

1999 và phương pháp Augmented Dickey-Fuller (ADF), Phillips-Perron (PP) và KPSS để kiểm nghiệm đơn vị và tiếp tục sử dụng phương pháp phân tích đồng tích hợp (Co-integration) của Johansen-Juselius để đo lường các mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến (quan hệ đồng liên kết), để tiến hành các bước thực nghiệm Cuối cùng, tác giả sử dụng mô hình điều chỉnh sai số VECM (Vector Error Correction Model) để thực hiện khảo sát mối quan hệ động trong ngắn hạn giữa các biến vĩ mô Kết quả thực nghiệm có sự tồn tại của một phương trình tăng trưởng dài hạn tại Ghana Trong dài hạn, dòng nợ nước ngoài (EDT), dịch

vụ nợ (TDS) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP Sự gia tăng dòng vốn nợ nước ngoài có tác dụng tích cực đối với tăng trưởng GDP Tuy nhiên, sự gia tăng dịch vụ nợ nước ngoài giảm tăng trưởng kinh tế và có bằng chứng cho sự tồn tại của "hiệu ứng lấn át“ ở Ghana Bên cạnh đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có ảnh hưởng tích cực và đáng

kể đến tăng trưởng GDP Đầu tư nội địa (INV) đã bất ngờ tác động tiêu cực và đáng kể vào sự tăng trưởng

Trang 36

Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng nợ nước ngoài sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng cho đến một ngưỡng nợ nhất định, gọi là “threshold level” Tuy nhiên, khi vượt qua ngưỡng này, nợ bắt đầy tác động ngược chiều đến tăng trưởng Theo Cohen (1993), mối quan hệ giữa giá trị của nợ và đầu tư có thể được mô tả tương tự với đường cong Laffer: Khi tổng nợ tăng cao hơn mức

“threshold level”, các khoản chi trả thực tế cho nợ nước ngoài sẽ giảm như đã trình bày ở trên Điều này ngầm ý rằng sự tăng lên trong giá trị của nợ sẽ làm cho số tiền chi trả cho nợ tăng lên cho đến mức “threshold level”, tức là ở phía bên trái đường cong Laffer Ngược lại, giá trị nợ tăng lên thì số tiền thực dùng cho việc trả nợ của quốc gia đó giảm đi tương đối Từ đó, người ta dự đoán một đường cong Laffer mô tả mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh

tế

Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra đó chính là mối liên hệ “threshold effect” giữa mức nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Cụ thể, nợ nước ngoài có mối liên hệ hình chữ U ngược với tăng trưởng kinh tế Khi các nước bắt đầu vay nợ, các khoản nợ này có xu hướng tác động tích cực đến tăng trưởng (chuyển từ mức nợ 0 đến điểm A) Khi tỷ lệ nợ tăng lên quá điểm A, việc vay nợ gia tăng

sẽ cản trở tăng trưởng mặc dù nợ đóng góp dương trong tăng trưởng Do đó, điểm A được coi là điểm biểu diễn “mức nợ tối đa hóa tăng trưởng” Khi nợ tiến đến điểm B, nợ bắt đầu ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng, tình hình của nền kinh tế lúc này sẽ tồi tệ hơn trước khi nước đó vay nợ

Trang 37

Hình 2.3: Mối liên hệ “threshold effect” giữa nợ và tăng trưởng

Ở các nước có thu nhập trung bình, Warner (1992) kết luận rằng khủng hoảng nợ không ảnh hưởng đến đầu tư, trong khi Greene và Vilanueva (1991),Serven và Solimano (1993), Elbadawi, Ndulu và Ndungu (1997), Deshpande (1997) và Chowdhury (2001) lại tìm ra các bằng chứng chứng ủng

hộ cho lý thuyết “debt overhang” Fosu (1999) trong bài nghiên cứu cho 55 nước châu Phi cũng đã chứng minh sự tồn tại của lý thuyết “debt overhang” Tuy nhiên, Hansen (2001) trong nghiên cứu mẫu gồm 54 nước đang phát triển (trong đó bao gồm 14 nước nghèo có dung lượng nợ rất cao – HIPC), đi đến kết quả là việc đưa thêm một số biến vào mô hình như lạm phát, độ mở cửa, tình trạng ngân sách thì lại loại bỏ tác động ngược chiều của nơ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Tượng tự, Savvides (1992) tìm ra rằng tỷ lệ nợ trên GNP không

có ảnh hưởng nào có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng Djikstra và Hermes (2001) đã tóm lược một số nghiên cứu về lý thuyết “debt overhang” và kết luận rằng các bằng chứng thực nghiệm vể vấn đề này là chưa nhất quán Hơn nữa, cũng có một số nghiên cứu tìm ra tỷ lệ nợ trên GNP mà tại đó bắt đầu xuất hiện vấn đề “debt overhang”

Đóng góp của nợ

vào tăng trưởng

sản lượng bình

quân đầu người

Giá trị hiện tại của tỷ lệ nợ trên xuất khẩu (%)

A

B

Trang 38

Một nghiên cứu gần đây lại tìm ra các kết quả cho thấy mối quan hệ phi tuyến dạng đường cong Laffer như mối liên hệ “threshold level” giữa dung lượng nợ nước ngoài và tăng trưởng Sử dụng bộ dữ liệu cho 93 nước đang phát triển trong giai đoạn 1969-1998, Pattillo (2002) đã chứng minh rằng ảnh hưởng của nợ nước ngoài tác động ngược chiều đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người tại tỷ lệ giá trị hiện tại của nợ trên xuất khẩu là 160-170% và trên GDP là 35-40%

Dung lượng nợ lớn có thể ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng do tác động xấu đến tích lũy vốn sản xuất và tăng trưởng năng suất các nhân tốtổng hợp Trong một nghiên cứu gần đây, Pattillo (2003) đã áp dụng mô hình tăng trưởng cho 61 nướcđang phát triển ở châu Phi, châu Á, châu Mĩ Latinh và Trung Đông trong giai đoạn 1969-1998 Kết quả cho thấy khi nợ tăng gấp đôi thì sẽ làm giảm 1% tăng trưởng vốn sản xuất bình quân đầu người và tăng trưởng năng suất các nhân tốtổng hợp Thêm vào đó, môi trường chính sách của Chính phủ cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa nợ và tăng trưởng

Nợ phải trả (khác với tổng dung lượng nợ) có thể làm suy giảm đầu tư tư nhân và thay đổi cơ cấu chi tiêu công Nợ phải trả cao hơn có thể làm tăng các khoản chi tiêu của Chính phủ, gây ra thâm hụt ngân sách, giảm tiết kiệm công và

do đó sẽ làm tăng lãi suất hoặc cắt giảm các khoản tín dụng cho đầu tư tư nhân, cuối cùng sẽ tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế Nợ phải trả cao cũng có thể

có ảnh hưởng không tốt đến cơ cấu chi tiêu công thông qua kìm hãm các nguồn lực dành cho cơ sở hạ tầng và vốn nhân lực, từ đó cũng cản trở tăng trưởng kinh

tế Tóm lại, theo quan điểm của một số tổ chức phi chính phủ (NGOs), nợ phải trả cao là một trong những trở ngại lớn nhất trong việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người dân ở các nước đang phát triển

Một vài nghiên cứu thực nghiệm đã đi vào đánh giá ảnh hưởng của nợ phải trả tới đầu tư tư nhân hoặc tới kết cấu chi tiêu công Greene và Villanueva

Ngày đăng: 19/07/2017, 20:48

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm