Sinh lý quá trình đông máu Đông máu là trạng thái tự bảo vệ của cơ thể, là chuỗi các phản ứng hóa học của các yếu tố đông máu có trong huyết tương, các mô tổn thương và tiểu cầu [25,36,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƢỢC
NGUYỄN THỊ TUYẾT TRINH
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CHỐNG ĐÔNG MÁU CỦA CÁC PHÂN ĐOẠN DỊCH CHIẾT SÂM VŨ DIỆP
(Panax bipinnatifidus Seem.) VÀ TAM THẤT HOANG
(Panax stipuleanatus H T Tsai et K M Feng)
TRÊN IN VITRO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƢỢC HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ TUYẾT TRINH
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CHỐNG ĐÔNG MÁU CỦA CÁC PHÂN ĐOẠN DỊCH CHIẾT SÂM VŨ DIỆP
(Panax bipinnatifidus Seem.) VÀ TAM THẤT HOANG
(Panax stipuleanatus H T Tsai et K M Feng)
Trang 3Em xin bày tỏ sự tri ân và lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Dương Thị Ly Hương, TS Vũ Thị Thơm, những người đã luôn tận tình hướng dẫn,
tạo điều kiện giúp em hoàn thành khóa luận Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô bộ môn Dược lý - Dược lâm sàng, thầy cô bộ môn Y - Dược học cơ
sở đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khóa luận
Em xin cảm ơn chương trình thuộc đề tài Tây Bắc: “Ứng dụng các giải
pháp khoa học công nghệ để phát triển nguồn nguyên liệu và tạo sản phẩm
từ 2 loài cây thuốc Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus Seem.) và Tam thất hoang (Panax stipuleanatus H T Tsai et K M Feng) vùng Tây Bắc”, mã
số KHCN-TB.07C/13-18 đã tài trợ kinh phí để em thực hiện được nội dung
nghiên cứu này Em cũng xin cảm ơn Khoa Xét nghiệm Huyết Học, Bệnh viện 19.8 - Bộ Công An đã giúp đỡ em thực hiện thí nghiệm
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và người thân đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Dù đã rất cố gắng, nhưng lần đầu làm nghiên cứu khó tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để khóa luận thêm hoàn thiện Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2017 Sinh viên
Nguyễn Thị Tuyết Trinh
Trang 4DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
APTT Thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa
(Activated Partial Thromboplastin Time)
DIC Đông máu nội mạc rải rác
(Disseminated Intravascular Coagulation) DMSO Dimethyl sulfoxide
IC50
Liều ức chế 50% đối tượng thử (Inhibitory Concentration 50%)
INR Chỉ số bình thường hóa quốc tế
(International Nomalized Ratio)
LD50
Liều gây chết 50% đối tượng thử (Lethal Dose 50%)
PBBt Cao chiết bằng dung môi n - butanol Sâm vũ diệp
PBEA Cao chiết bằng dung môi ethyl acetat Sâm vũ diệp
PBEt Cao chiết bằng dung môi ete Sâm vũ diệp
PBT Cao tổng chiết bằng dung môi ethanol 70% Sâm vũ diệp PSBt Cao chiết bằng dung môi n - butanol Tam thất hoang
PSnH Cao chiết bằng dung môi n - hexan Tam tất hoang
PST Cao tổng chiết bằng dung môi ethanol 70% Tam thất hoang PSW Cao chiết bằng dung môi nước Tam thất hoang
PT Thời gian Prothrombin (Prothrombin Time)
SVD Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus Seem.)
TTH Tam thất hoang (Panax stipuleanatus H.T Tsai et K.M.Feng)
v/v Thể tích/Thể tích
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1.2 Mạng lưới fibrin giam giữ hồng cầu 6 Hình 1.3 Nguyên lý của quy trình xét nghiệm đo thời gian PT 13
Hình 1.4 Nguyên lý của quy trình xét nghiệm đo thời gian
Hình 2.1 Sơ đồ chiết thu các phân đoạn SVD 25 Hình 2.2 Sơ đồ chiết thu các phân đoạn TTH 26 Hình 2.3 Ống đông máu chứa sodium citrat 3,8% 28
Hình 2.5 Máy ACL TOP500 và nguyên lý đo quang của máy
Hình 3.1 Ảnh hưởng của các phân đoạn dịch chiết SVD lên chỉ
Hình 3.2 Ảnh hưởng của các phân đoạn dịch chiết TTH lên chỉ
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của PBT trên thời gian đông máu in vitro 31
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của PBBt trên thời gian đông máu in vitro 32
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của PBEA trên thời gian đông máu in vitro 33
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của PBEt trên thời gian đông máu in vitro 33
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của PST trên thời gian đông máu in vitro 35
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của PSBt trên thời gian đông máu in vitro 35
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của PSnH trên thời gian đông máu in vitro 36
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của PSW trên thời gian đông máu in vitro 37
Trang 7MỤC LỤC DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 2
1.1 Sinh lý quá trình đông máu 2
1.1.1 Định nghĩa 2
1.1.2 Cơ chế đông máu 2
1.2 Điều hòa đông máu trong sinh lý 6
1.3 Rối loạn đông máu 7
1.3.1 Rối loạn bẩm sinh 7
1.3.2 Rối loạn mắc phải 9
1.4 Các xét nghiệm đông máu cơ bản 13
1.4.1 Thời gian Prothrombin 13
1.4.2 Thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa 15
1.4.3 Định lượng fibrinogen 16
1.5 Tổng quan về Sâm vũ diệp và Tam thất hoang 18
1.5.1 Sâm vũ diệp……….18
1.5.2 Tam thất hoang 20
CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 24
2.2 Đối tượng nghiên cứu 25
2.3 Phương pháp 27
Trang 8CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ BÀN LUẬN 31
3.1 Kết quả thực nghiệm 31
3.1.1 Sâm vũ diệp 31
3.1.2 Tam thất hoang 34
3.2 Bàn luận 38
CHƯƠNG 4 - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 43
4.1 Kết luận 43
4.2 Đề xuất 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, việc sử dụng các thuốc chống đông máu trong dự phòng và điều trị các bệnh do nguyên nhân huyết khối đóng vai trò rất quan trọng Các thuốc chống đông máu như heparin, wafarin, đều cho thấy hiệu quả điều trị tốt Tuy nhiên mặt hạn chế của các thuốc này là có thể gây nhiều tác dụng phụ như: giảm tiểu cầu, dị ứng… [16] Y- dược học thế giới và trong nước đang
có xu hướng sử dụng các thuốc có nguồn gốc thực vật để nhằm hạn chế các tác dụng không mong muốn này
Việt Nam có hai loài sâm mọc tự nhiên ở vùng núi cao phía Tây Bắc là
Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus Seem.) và Tam thất hoang (Panax
kinh nghiệm dân gian là có tác dụng giảm đau, hoạt huyết, bổ máu [13] Tuy nhiên cho đến nay các nghiên cứu về tác dụng sinh học này còn rất hạn chế
Cả 2 loài đều là những cây thuốc đặc biệt quý hiếm và đang có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta Các nghiên cứu ban đầu về thành phần hóa học của Sâm vũ diệp (SVD) và Tam thất hoang (TTH) cho thấy trong rễ và lá loài cây này có chứa saponin khung dammaran và oleanan với hàm lượng cao [50,57] Đặc
biệt, saponin trong một số cây thuộc chi Panax L đã được chứng minh là có
tác dụng trên chức năng đông máu [40,44]
Để làm rõ cơ sở khoa học và giá trị sử dụng của loài SVD và TTH, góp phần sử dụng hợp lý hóa tài nguyên thiên nhiên và áp dụng các giải pháp khoa học công nghệ nhằm phát triển dược liệu của vùng, đặc biệt là nghiên
cứu tác dụng trên quá trình đông máu, tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác dụng chống đông máu của các phân đoạn dịch chiết Sâm vũ diệp và Tam
thất hoang trên in vitro” Mục tiêu của đề tài là:
- Xây dựng mô hình đánh giá tác dụng chống đông máu trên in vitro
- Nghiên cứu tác dụng chống đông máu trên in vitro của các phân đoạn
dịch chiết SVD và TTH thông qua các chỉ số PT và APTT
Trang 10CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1 Sinh lý quá trình đông máu
Đông máu là trạng thái tự bảo vệ của cơ thể, là chuỗi các phản ứng hóa học của các yếu tố đông máu có trong huyết tương, các mô tổn thương và tiểu cầu [25,36,39] Sau khi ra khỏi lòng mạch 2 - 4 phút, máu đông lại Trong máu và trong các mô có khoảng hơn 50 chất có ảnh hưởng tới quá trình đông máu Các chất kích thích quá trình gây đông máu gọi là các chất gây đông máu Các chất ức chế quá trình gây đông máu gọi là các chất chống đông Máu có đông hay không là phụ thuộc vào sự cân bằng giữa các chất gây đông máu và các chất chống đông máu Bình thường, các chất chống đông máu chiếm ưu thế, các chất gây đông ở dạng tiền chất không có hoạt tính, vì vậy máu không đông trong quá trình lưu thông trong mạch máu Khi máu, mạch máu bị tổn thương, khi máu lấy ra ngoài cơ thể, các chất gây đông máu được hoạt hóa và trở nên ưu thế, đông máu được thực hiện [11,15,25,36]
1.1.1 Định nghĩa
Đông máu là quá trình chuyển máu ở thể lỏng sang thể đặc, mà thực chất là chuyển fibrinogen ở dạng hòa tan trong huyết tương thành fibrin ở dạng không hòa tan dưới xúc tác của thrombin [20,25]
1.1.2 Cơ chế đông máu
Lý thuyết dòng thác đông máu từ năm 1979 [15] là sự hoạt hoá theo chuỗi từ các tiền yếu tố zymogen thành dạng enzym hoạt hoá.Quá trình đông máu diễn ra qua 3 giai đoạn (Hình 1.1) [20,25,36]:
- Giai đoạn I: Hình thành phức hợp prothrombinase
- Giai đoạn II: Hình thành thrombin
- Giai đoạn III: Hình thành fibrin
1.1.2.1 Sự hình thành phức hợp prothrombinase
Khởi động cho cơ chế đông máu là sự hình thành phức hợp prothrombinase Đây là một cơ chế rất phức tạp và kéo dài nhất của quá trình đông máu Quá trình được xảy ra khi có chấn thương thành mạch và mô, khi
Trang 11có chấn thương máu, khi có sự tiếp xúc của máu với tế bào nội mạc tổn thương hoặc với sợi collagen của mạch máu, với các mô khác ngoài nội mạc hoặc với bất kỳ vật lạ nào [39,47,51] Phức hợp prothrombinase có tác dụng chuyển đổi prothrombin thành thrombin bằng sự phân cắt liên tục và đặc hiệu [25,51] Cơ chế lắp ráp và chuyển đổi prothrombin thành thrombin có tầm quan trọng đối với sức khoẻ con người, bởi vì sự phát triển thrombin không
đủ là nguyên nhân gây bệnh Hemophilia và kết quả sản xuất thrombin quá mức gây nên huyết khối [11,51,54]
Hình 1.1 Sơ đồ quá trình đông máu [15]
Sự hình thành phức hợp prothrombinase theo hai cơ chế ngoại sinh và nội sinh Cơ chế ngoại sinh xuất hiện nếu có chấn thương thành mạch hoặc các mô kế cận Cơ chế nội sinh xuất hiện nếu có chấn thương máu hoặc máu lấy ra ngoài cơ thể từ lòng mạch Các yếu tố tham gia đường đông máu nội sinh có trong lòng mạch, còn một số yếu tố tham gia đường đông máu ngoại sinh không tồn tại trong máu lưu hành trong điều kiện sinh lý bình thường Cả
2 con đường đều có sự tham gia của yếu tố X hoạt hóa (Xh), yếu tố V hoạt hóa
Trang 12(Vh), phospholipid mô, các phospholipid tiểu cầu và Ca2+ để tạo thành phức hợp prothrombinase Các yếu tố tham gia vào quá trình đông máu hầu hết được tổng hợp tại gan và giải phóng vào huyết tương dưới dạng tiền chất không hoạt động Có các yếu tố đông máu sau [25,51,54]:
- Yếu tố I: Fibrinogen
- Yếu tố II: Prothrombin
- Yếu tố III: Thromboplastin của mô
- Yếu tố IV: Ion Ca2+
- Yếu tố V: Proaccelerin
- Yếu tố VII: Proconvertin
- Yếu tố VIII: Globulin A chống ưa chảy máu (antihemophilic globin - AHG)
- Yếu tố IX: Globulin B chống ưa chảy máu (plasma thromboplastin component - PTC)
- Yếu tố X: Stuart - Prower
- Yếu tố XI: Globulin C chống ưa chảy máu (plasma thromboplastin antecedent - PTA)
- Yếu tố XII: Hageman
- Yếu tố XIII: Yếu tố ổn định fibrin (fibrin stabilizing factor - FSF)
Trước đây các tác giả thấy rằng có 12 yếu tố đông máu được đặt tên bằng số Lamã Sau này có sự thay đổi: một số yếu tố III, IV, VI không tương ứng với một protein riêng biệt nào, đồng thời lại có một số yếu tố khác được phát hiện thêm như: prekellicrein, kininogen có trọng lượng phân tử cao [21]
Sự hình thành phức hợp prothrombinase theo cơ chế ngoại sinh
Mô bị tổn thương giải phóng thromboplastin (yếu tố III) và phospholipid từ màng tế bào mô Yếu tố X được hoạt hoá (Xh) nhờ yếu tố III, yếu tố VIIh (yếu tố VII được hoạt hoá nhờ yếu tố III), ion Ca2+ và phospholipid Sự hình thành phức hợp prothrombinase từ yếu tố Xh có sự
Trang 13tham gia của yếu tố Vh (yếu tố V được hoạt hoá nhờ thrombin), ion Ca2+ và phospholipid Yếu tố Vh làm tăng hoạt tính của yếu tố Xh Phospholipid đóng vai trò là chất nền còn ion Ca2+
làm cầu nối giữa các yếu tố (Hình 1.1) [20,47,51]
Sự hình thành phức hợp prothrombinase theo cơ chế nội sinh
Máu bị chấn thương, máu tiếp xúc với collagen hoặc bề mặt vật lạ thì làm hoạt hoá yếu tố XII và giải phóng phospholipid tiểu cầu Yếu tố XIIh
chuyển yếu tố XI thành yếu tố XIh (có sự tham gia của yếu tố Fletcher và Fitzgerald) Yếu tố XIh hoạt hóa yếu tố IX thành yếu tố IXh (có sự tham gia của yếu tố tiểu cầu) Yếu tố X được hoạt hoá có sự tham gia của yếu tố VIIIh
(yếu tố VIII được hoạt hóa nhờ thrombin), yếu tố IXh, ion Ca2+ và phospholipid Sự hình thành phức hợp prothrombinase từ yếu tố Xh có sự tham gia của phospholipid, yếu tố Vh (yếu tố V được hoạt hoá nhờ thrombin)
và ion Ca2+ Sự hình thành phức hợp prothrombinase theo cơ chế nội sinh chậm hơn rất nhiều (1 - 6 phút) so với cơ chế ngoại sinh (15 giây) (Hình 1.1) [20,47,51]
1.1.2.2 Sự hình thành thrombin
Prothrombin là α2 - globulin có trong huyết tương, do gan sản xuất, trọng lượng phân tử 68700, nồng độ trong máu bình thường là 15mg/100ml máu [28,36,47] Khi phức hợp prothrombinase hình thành nó sẽ chuyển prothrombin (yếu tố II), một zymogen không hoạt động thành thrombin (yếu
tố IIh) [28,37] Giai đoạn này cũng cần sự có mặt của ion Ca2+ Sự hình thành thrombin từ prothrombin xảy ra trên bề mặt tiểu cầu và diễn ra rất nhanh, được tính bằng vài giây [11,28,37] Thrombin là enzym trung tâm trong quá trình đông máu [28,37] Số lượng thrombin được hình thành phải đủ lớn để đảm bảo cho quá trình đông máu nhưng lại không được gây huyết khối [11,37]
Ngoài vai trò kích hoạt sự hình thành cục máu đông, thrombin đóng một vai trò điều chỉnh quan trọng trong quá trình đông máu Thrombin kết hợp với thrombomodulin hiện diện trên bề mặt tế bào nội bào tạo thành một phức hợp chuyển đổi protein C thành protein Ch (protein C hoạt hóa) Protein
Trang 14đồng phân protein S và protein Ch làm suy giảm các yếu tố Vh và VIIIh, do đó hạn chế hoạt động của 2 yếu tố này trong chuỗi đông máu [28,37]
1.1.2.3 Sự hình thành fibrin
Fibrinogen là một protein hòa tan trong huyết tương do gan sản xuất, trọng lượng phân tử 340000, nồng độ trong máu bình thường là 100 - 700mg/100ml máu [36] Bình thường do kích thước phân tử lớn, fibrinogen rất khó vào dịch kẽ Khi thành mạch tăng tính thấm (mô bị viêm) thì fibrinogen vào dịch kẽ và bị đông lại do các yếu tố gây đông máu cùng vào dịch kẽ [25,47,54]
Thrombin sau khi được hình thành đã chuyển fibrinogen thành fibrin đơn phân Các fibrin đơn phân tự trùng hợp thành fibrin ở dạng sợi Một mạng lưới fibrin đã hình thành và được ổn định nhờ yếu tố XIII (yếu tố XIII tạo liên kết cộng hóa trị giữa các sợi fibrin) [25,36,47] Giai đoạn này cũng có
sự tham gia của ion Ca2+
Khi mạng lưới fibrin phát triển, các tế bào máu được giữ lại trên lưới fibrin và tạo nên cục máu đông Chính mạng lưới này dính vào vị trí tổn thương của thành mạch để ngăn cản sự chảy máu [11,25,36]
Hình 1.2 Mạng lưới fibrin giam giữ hồng cầu [37]
1.2 Điều hòa đông máu trong sinh lý
Quá trình đông máu được điều hoà hết sức nghiêm ngặt và chính xác sao cho chỉ cho một lượng rất nhỏ những zymogen - tiền yếu tố đông máu chưa hoạt động được chuyển thành dạng hoạt động làm cho nút cầm máu không thể hình thành ở bên ngoài chỗ tổn thương Sự điều hoà này rất quan
Trang 15trọng, vì mỗi 1ml máu có đủ khả năng làm đông toàn bộ fibrinogen trong cơ thể trong vòng 10 đến 15 giây [11]
Tính chất lỏng của máu được duy trì bởi chính dòng máu chảy, bởi sự hấp thu các yếu tố đông máu lên các bề mặt và do sự có mặt của hàng loạt các chất ức chế đông máu trong huyết tương Antithrombin, protein C, protein S
và chất ức chế yếu tố tổ chức TFPI (Tissue factor pathway inhibitor) là những chất ức chế quan trọng nhất Ngoài ra người ta còn nói đến vai trò của serpin trong điều hoà đông máu Một khi thiếu các chất chống đông máu dù chỉ là ở mức độ vừa phải, hoặc do một sự đột biến nào đó đều có thể làm tăng nguy cơ
huyết khối tĩnh mạch [11,37]
1.3 Rối loạn đông máu
Rối loạn đông máu là sự gián đoạn trong khả năng của cơ thể để kiểm soát đông máu Các rối loạn đông máu có thể dẫn đến xuất huyết (quá ít cục máu đông làm tăng nguy cơ chảy máu) hoặc huyết khối (đông máu quá nhiều gây tắc nghẽn máu dẫn đến cản trở lưu thông máu) Các rối loạn đông máu này phát triển tùy từng điều kiện [24,26,48]
1.3.1 Rối loạn bẩm sinh
1.3.1.1 Rối loạn do thiếu yếu tố đông máu bẩm sinh (Hemophilia)
Rối loạn đông máu (Hemophilia) là rối loạn gây ra bởi sự thiếu hụt các yếu tố đông máu Nguyên nhân trực tiếp gây bệnh là do đột biến ở gen của các yếu tố đông máu di truyền liên kết với nhiễm sắc thể giới tính X Hầu hết thường gặp ở nam, nhưng có cả ở nữ [24,26,48]
Bệnh được phân loại dựa trên yếu tố bị thiếu hụt
- Hemophilia A: Là thể bệnh hay gặp nhất, do thiếu yếu tố VIII
- Hemophilia B: Là thể bệnh hay gặp thứ hai do thiếu yếu tố IX
- Hemophilia C: Là thể bệnh do thiếu yếu tố XI, triệu chứng nói chung thường nhẹ hơn Chỉ xuất hiện ở 1% dân số
Triệu chứng
Đặc điểm lâm sàng là chảy máu khó cầm ở nhiều bộ phận của cơ thể:
Trang 16- Máu chảy khó cầm ở vết thương: đứt tay, chân, nhổ răng, bầm tụ máu khi bị ngã
- Khối máu tụ ở khớp, cơ: thường xuất hiện nhiều lần có tính lặp lại ở một cơ, một khớp
- Chảy máu ở niêm mạc: đái máu, đi ngoài ra máu, chảy máu chân răng, chảy máu mũi
Mức độ, độ tuổi bắt đầu xuất hiện chảy máu tùy theo mức độ bệnh gọi
là thể nặng nhẹ Căn bệnh này thực sự để lại nhiều hậu quả nặng nề nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời Khi bệnh nhân bị chảy máu, đặc biệt trong khớp, trong cơ, hoặc trong các nội tạng thì nhẹ nhất có thể tàn phế, nặng có thể tử vong [24,26] Ngoài ra có thể gặp thiếu yếu tố XII, prekellicrein, kininogen trọng lượng phân tử cao nhưng trường hợp này hiếm gặp và ít biểu hiện lâm sàng [24,26]
1.3.1.2 Bệnh Von Willebrand
Bệnh này được lấy tên từ một yếu tố đông máu có trong máu gọi là yếu
tố von Willebrand Rối loạn này thường là di truyền và gây chảy máu quá nhiều khi hệ số von Willebrand thấp Von Willebrand là một glycoprotein được tổng hợp chủ yếu ở các tế bào nội mô Chức năng của glycoprotein này
1.3.1.3 Rối loạn do thiếu yếu tố chống đông máu bẩm sinh
Là bệnh do bất thường về số lượng và chất lượng các yếu tố tham gia vào quá trình ức chế đông máu như protein C, protein S, antithrombin III Hầu
hết là do đột biến gen gây nên [26,48,49]
Trang 17Lâm sàng thường biểu hiện có các huyết khối và các ổ nhồi máu Định lượng các yếu tố này thấy giảm Đối với những người này, nguy cơ tắc mạch
theo họ suốt cuộc đời và thường gặp huyết khối ở tĩnh mạch [26,48,49]
1.3.2 Rối loạn mắc phải
1.3.2.1 Có kháng đông lưu hành
Có thể là kháng đông nội sinh và ngoại sinh Kháng đông lưu hành đường ngoại sinh: Kháng prothrombinase hoặc kháng đặc hiệu yếu tố đông máu Kháng đông lưu hành đường nội sinh: Kháng đặc hiệu yếu tố đông máu
hay kháng đông loại lupus [26]
Chất kháng đông lupus là một kháng thể antiphospholipid Các chất kháng đông lupus thường liên quan đến việc làm gia tăng nguy cơ huyết khối
và chất kháng đông lưu hành đặc hiệu liên quan đến nguy cơ xuất huyết [24,26]
Xét nghiệm thấy có các bất thường trên các chỉ số PT hoặc APTT Cần tiến hành định lượng các yếu tố đông máu và tìm kháng đông lưu hành
1.3.2.2 Giảm tổng hợp yếu tố đông máu
Hay gặp trong bệnh lý suy giảm chức năng gan, thiếu vitamin K gây giảm tổng hợp các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K [24,26]
Có 4 loại vitamin K:
- Vitamin K1 (phytonadion, phulloquinon) có nguồn gốc thực vật
- Vitamin K2 (menaquinon) do vi khuẩn gram âm đường ruột tổng hợp
- Vitamin K3 (menadion) và vitamin K4 có nguồn gốc tổng hợp
Vitamin K tan trong lipid, nhưng riêng vitamin K3 ở dạng muối tan trong nước vào cơ thể bị chuyển hóa thành vitamin K2 Vitamin K giúp cho gan tổng hợp các yếu tố đông máu như prothrombin (II), VII, IX, X [20]
Ở những bệnh nhân có chế độ dinh dưỡng kém, bị bệnh mạn tính, ứ mật hoặc bệnh lý đường ruột gây giảm hấp thu mỡ, uống kháng sinh kéo dài làm mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột cũng làm rối loạn hấp thu vitamin
K Ở một số trẻ sơ sinh, khi hệ vi khuẩn chí đường ruột chưa phát triển đầy đủ
Trang 18có thể bị xuất huyết nặng, người ta có thể tiêm vitamin K dự phòng tránh xuất huyết giai đoạn sơ sinh
1.3.2.3 Đông máu nội mạc rải rác
Còn gọi là đông máu nội mạch lan tỏa (Disseminated Intravascular Coagulation - DIC)
DIC được đặc trưng bởi sự kích hoạt hệ thống đông máu, hậu quả tạo
và lắng đọng fibrin, thành lập huyết khối vi mạch ở nhiều cơ quan trong cơ thể dẫn tới tình trạng nghẽn tắc mạch và xuất huyết do giảm trầm trọng các
yếu tố đông máu [24,26,49]
Nguyên nhân khởi phát là tăng quá mức hoạt tính thromboplastin trong máu làm hoạt hóa đông máu, hình thành thrombin, biến đổi fibrinogen thành các fibrin trong các tiểu động mạch Hậu quả là có sự tiệu thụ quá mức fibrinogen, prothrombin, các yếu tố V, VIII, tiểu cầu đồng thời có sự hoạt hóa yếu tố VII, IX, X, XII hơn nữa thường dễ xảy ra tiêu fibrin thứ phát do hệ thống tiêu fibrin bị hoạt hóa, tăng sản sinh fibrinogen và các sản phẩm giáng hóa của fibrin [24,26,49]
Hậu quả
DIC sẽ dẫn tới: Đông máu nội mạc → tắc vi mạch → mất nuôi dưỡng
mô → rối loạn chuyển hóa mô → suy tạng → sinh ra cytokin và TF (Tissue factor) → hoạt hóa đông máu Tạo vòng xoắn của sốc, tổn thương vi mạch và
Trang 19đông máu Gây tiêu thụ các yếu tố đông máu, chảy máu thứ phát do cạn kiệt các yếu tố đông máu
Biểu hiện trên xét nghiệm rất đa dạng tùy theo từng giai đoạn bệnh Tất
cả các thành phần tham gia đông cầm máu đều có thể bị ảnh hưởng [24,26,49]
1.3.2.4 Rối loạn đông máu do dùng thuốc chống đông
Các thuốc chống đông máu bao gồm 3 nhóm chính là: các thuốc chống đông kháng vitamin K, heparin và các thuốc chống kết tập tiểu cầu [20]
Các thuốc chống đông kháng vitamin K và heparin đều là các thuốc đã được phát hiện và sử dụng từ rất lâu trong phòng và điều trị bệnh lý về huyết khối [38] Mới đây các nhà nghiên cứu đã tìm cách phát triển những thuốc chống đông đường uống mới 2 nhóm thuốc đã được đưa vào dùng trong lâm sàng là nhóm ức chế trực tiếp thrombin [29] và nhóm ức chế trực tiếp yếu tố
X hoạt hóa (Xh) [31] Sử dụng các thuốc chống đông máu kéo dài và liều cao
có thể gây rối loạn quá trình đông máu của cơ thể kèm theo đó là các tác dụng phụ nguy hiểm [20,38]
Các thuốc chống đông kháng vitamin K
Các thuốc chống đông kháng vitamin K bao gồm dẫn chất coumarin được tìm thấy năm 1948 và sau đó là dẫn chất indandion, các thuốc này có tác dụng chống đông thông qua ức chế tổng hợp các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K [38] Các thuốc chống đông nhóm này bao gồm:
- Các dẫn xuất 4 – hydroxyl coumarin: Dicumarol, warfarin, ethyl bicoumacetate, phenprocoumon
- Các dẫn xuất indandion: Phenyl – indandion, fluorophenyl – indandion, clophenindion
Từ khi được phát hiện và đưa vào sử dụng cho đến nay, các thuốc chống đông kháng vitamin K đã và đang được sử dụng rộng rãi nhằm mục đích dự phòng và điều trị bệnh lý huyết khối gây tắc mạch Bệnh nhân được chỉ định dùng thuốc kháng vitamin K bao gồm: ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch hệ thống trong bệnh van 2 lá hậu thấp, bệnh nhân rung nhĩ, ngừa huyết
Trang 20khối van tim nhân tạo và phòng ngừa thứ phát thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc động mạch phổi) Hiệu quả trong phòng và điều trị huyết khối là rõ ràng, tuy nhiên các thuốc chống đông kháng vitamin K có tính ổn định thấp, tỷ lệ biến chứng là khá cao Các thuốc kháng vitamin K có thể gây chảy máu khi quá liều hoặc khi có tổn thương từ trước, khi mang thai có thể sảy thai, thai lưu, chảy máu ở trẻ sơ sinh Dùng lâu và liều cao có thể gây rối loạn thẩm thấu mao mạch, có thể hoại tử da vùng ngực, chi dưới … Hơn nữa thuốc có khoảng điều trị hẹp, tác dụng của thuốc bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn uống và một số thuốc khác [20,52]
Heparin
Có 2 loại heparin là [20]
- Heparin tiêu chuẩn: Còn gọi là heparin tự nhiên hay heparin chưa phân đoạn, có nguồn gốc từ tế bào mast của tổ chức liên kết Trọng lượng phân tử lớn, 10000 – 30000 dalton
- Heprain trọng lượng phân tử thấp: Là loại heparin có trọng lượng phân
tử từ 1000 - 10000 dalton
Hiện nay, heparin đã được sử dụng phổ biến trong thực hành lâm sàng với nhiều chỉ định từ phòng ngừa huyết khối, lọc máu đến điều trị các bệnh do thuyên tắc huyết khối Khoảng 1/3 bệnh nhân nhập viện có sử dụng heparin hàng năm Tuy nhiên, heparin có thể dẫn đến các tác dụng phụ nghiêm trọng như chảy máu, chảy máu các khớp, chảy máu đường tiêu hóa, dị ứng, rụng tóc… Một trong những tác dụng phụ nguy hiểm của heparin là giảm tiểu cầu Khi bệnh nhận có dấu hiệu giảm tiểu cầu do heparin cần ngưng heparin và sử
dụng các thuốc chống đông thay thế [20,35]
Các thuốc chống kết tập tiểu cầu
Điển hình trong nhóm này là asprin ngoài ra còn có các thuốc khác như clopidogrel, ticlopidin… Các thuốc chống kết tập tiểu cầu có tác dụng chống đông máu thông qua cơ chế chống kết tập tiểu cầu [20] Do cơ chế tác dụng của thuốc là tác dụng lên tiểu cầu và quá trình hình thành nút tiểu cầu nên trong nhiều trường hợp người ta tách và xét riêng nhóm thuốc này
Trang 21Khi dùng kết hợp các thuốc chống kết tập tiểu cầu với các thuốc chống đông có cơ chế khác có thể gây chảy máu nguy hiểm [20] Sử dụng kéo dài các thuốc chống kết tập tiểu cầu gây kéo dài thời gian chảy máu, giảm tiểu cầu, giảm prothrombin Hậu quả làm kéo dài thời gian đông máu, mất máu không nhìn thấy qua phân, tăng nguy cơ chảy máu Ngoài ra thuốc còn gây kích ứng đường tiêu hóa, dị ứng,… [20]
1.4 Các xét nghiệm đông máu cơ bản
1.4.1 Thời gian Prothrombin
Còn được gọi là thời gian Quick (Prothrombin Time - PT)
Nguyên lý
Máu được chống đông bằng natri citrat sẽ được phát động quá trình đông máu theo con đường ngoại sinh khi phục hồi calci và có mặt thromboplastin Dựa vào đặc tính này người ta khảo sát thời gian đông máu huyết tương sau khi cho thừa thromboplastin calci để đánh giá yếu tố đông máu đường ngoại sinh (phức hệ prothrombin: II, V, VII, X) [1,5,16]
Quy trình phân tích
- 50μL huyết tương được ủ 3 phút trong cuvet ở 37
- Thêm 100μL hóa chất PT vào mỗi ống Đo thời gian PT ở bước sóng 660nm
- Thời gian PT được xác định bằng khoảng thời gian từ khi cho hóa chất
PT vào hỗn hợp huyết tương tới khi hình thành cục máu đông và được
đo bằng máy đông máu (Hình 1.3)
Hình 1.3 Nguyên lý của quy trình xét nghiệm đo thời gian PT [1]
Kết quả
Trang 22- PT tính theo giây (PTs): Thời gian Qick bình thường khi sử dụng
thromboplastin có hoạt tính đầy đủ thường từ 11-13 giây
- PT tính theo phần trăm (PT%): Việc tính tỷ lệ % dựa vào biểu đồ do nhà sản xuất cung cấp hoặc biểu đồ được lập từ nhiều độ pha loãng khác nhau của huyết tương người bình thường (dung dịch pha loãng:
Michaelis Citrat) Giá trị bình thường trong khoảng 70 - 100%
- Hệ thống ISI/INR: (International Sentivity Index/International Nomalized Ratio) được tính theo PT bệnh/PT chứng SI là một chỉ số liên quan đến loại hoá chất sử dụng Tỷ số INR không phụ thuộc vào
hoá chất sử dụng do đó khách quan hơn [33]
Ý nghĩa
Thời gian prothrombin được gọi là kéo dài khi dài hơn thời gian chứng
ít nhất là 2 giây hoặc % tiêu thụ prothrombin giảm dưới 70% hoặc INR > 1.3 với điều kiện là lượng fibrinogen không giảm và huyết tương không chứa heparin
Thời gian Quick kéo dài trong các trường hợp rối loạn đường đông máu ngoại sinh (giảm nồng độ các yếu tố phức hệ prothrombin do: suy chức năng gan hoặc thiếu vitamin K, điều trị chống đông bằng dẫn xuất coumarin)
Xét nghiệm này nhạy nhất với sự thiếu hụt prothrombin
Nguyên nhân sai số
- Do mẫu huyết tương kiểm tra: đông dây, sai tỷ lệ chống đông (máu lấy quá ít hoặc quá nhiều)
- Do kỹ thuật: tiến hành kỹ thuật sau 4 giờ kể từ khi lấy máu với mẫu máu được bảo quản ở nhiệt độ phòng
- Do chất lượng hóa chất không đảm bảo hoặc hóa chất đã bảo quản quá lâu sau khi chuẩn bị và mang ra sử dụng
Trang 231.4.2 Thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa
Còn gọi là thời gian cephalin - kaolin (Activated partical thrombopastin time - APTT)
Nguyên lý
Thời gian phục hồi calci của huyết tương citrat hóa sau khi ủ với một lượng thừa kaolin (hoạt hóa yếu tố tiếp xúc) và cephalin (thay thế yếu tố 3 tiểu cầu) giúp đánh giá chính xác yếu tố khác của đường đông máu nội sinh Với xét nghiệm này điều kiện hoạt hóa yếu tố tiếp xúc cũng như số lượng, chất lượng tiểu cầu trong mẫu kiểm tra không ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm [2,5,16]
Quy trình phân tích
- 50μL huyết tương được ủ 1 phút trong cuvet ở 37
- Thêm 50μL hóa chất APTT vào mỗi ống
- Sau 3 phút, thêm 50μL CaCl2 25 mM vào mỗi ống Đo thời gian APTT
ở bước sóng 660nm
- Thời gian APTT được xác định bằng khoảng thời gian từ khi cho CaCl2
vào hỗn hợp huyết tương và hóa chất APTT tới khi hình thành cục máu đông và được đo bằng máy đông máu (Hình 1.4)
Hình 1.4 Nguyên lý của quy trình xét nghiệm đo thời gian APTT [2]
Kết quả
- Thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa của huyết tương bình thường thay đổi từ 30-35 giây tùy loại cephalin - kaolin, tùy kỹ thuật,
tùy điều kiện kỹ thuật mà từng phòng xét nghiệm sử dụng
- So sánh ATTP bệnh nhân và nhóm chứng ta có tỷ lệ ATTP (rATTP)
Trang 24Ý nghĩa
Nếu rATTP > 1.2 hoặc APTT kéo dài hơn chứng trên 8 giây là biểu hiện giảm đông (giảm yếu tố đông máu nội sinh) Tình trạng này do thiếu hụt yếu tố có thể bẩm sinh (Hemophilia) hay do yếu tố đông máu đã bị tiêu thụ (DIC) hoặc do suy gan nặng không tổng hợp được yếu tố, cũng có thể do trong máu có chất ức chế đông máu nội sinh, APTT kéo dài khi điều trị bằng heparin
Nếu rAPTT < 0.8 là biểu hiện tăng đông: Gặp trong DIC giai đoạn đầu
do có hiện tượng tăng đông
Nguyên nhân sai số
- Do mẫu huyết tương kiểm tra: đông dây, sai tỷ lệ chống đông (máu lấy
quá ít hoặc quá nhiều)
- Do kỹ thuật: tiến hành kỹ thuật sau 4 giờ kể từ khi lấy máu với mẫu
máu được bảo quản ở nhiệt độ phòng
- Do chất lượng hóa chất không đảm bảo hoặc hóa chất đã bảo quản quá
lâu sau khi chuẩn bị và mang ra sử dụng
1.4.3 Định lượng fibrinogen
Nguyên lý
Cho thrombin vào huyết tương, huyết tương sẽ đông và thời gian đông tuỳ thuộc vào lượng fibrinogen Dựa trên cơ sở đó người ta pha dung dịch fibrinogen chuẩn ở các nồng độ khác nhau rồi cho thêm thrombin Kết quả lần xét nghiệm này sẽ tạo được một đường cong nồng độ fibrinogen - thời gian Huyết tương bệnh nhân được pha loãng và xét nghiệm thời gian đông với
thrombin rồi đối chiếu đường cong chuẩn sẽ biết nồng độ fibrinogen [3,5,16]
Quy trình phân tích:
- Pha loãng huyết tương: 10µL huyết tương được cho thêm 90µL dung dịch đệm Owren – Koller Ủ ở 37o
C trong 3 phút
Trang 25- Thêm 50µL hóa chất Thrombin, sau đó đo thời gian hình thành fibrin ở bước sóng 660nm
- Thời gian hình thành fibrin được xác định bằng khoảng thời gian từ khi cho hóa chất Thrombin đến khi xuất hiện những sợi fibrin đầu tiên và được đo bằng máy đông máu
Khi thời gian đông quá ngắn hay quá dài phải làm lại xét nghiệm và huyết tương được pha loãng 1/20 hoặc 1/5 Tính nồng độ fibrinogen dựa vào biểu đồ mẫu tự làm với huyết tương bình thường hoặc dựa vào biểu đồ chuẩn được cung cấp kèm theo lô thuốc thử (Hình 1.5)
Hình 1.5 Nguyên lý của quy trình định lượng fibrinogen [3]
Kết quả
Kết quả bình thường từ 2 - 4g/l
Ý nghĩa
Fibrinogen tăng trong: Các bệnh nhiễm trùng cấp, các bệnh viêm mạn,
các bệnh lý khối u, nhồi máu cơ tim cấp,…
Fibrinogen giảm trong: Bệnh lý gan nặng, DIC, tình trạng tiêu fibrin tiên phát hay thứ phát do các bệnh lý huyết khối hay các thuốc tiêu fibrin, không có fibrinogen bẩm sinh,…
Nguyên nhân sai số
- Do mẫu huyết tương kiểm tra: đông dây, sai tỷ lệ chống đông
- Do kỹ thuật: tiến hành kỹ thuật sau 4 giờ kể từ khi lấy máu với mẫu máu được bảo quản ở nhiệt độ phòng
- Do chất lượng hóa chất không đảm bảo hoặc hóa chất đã bảo quản quá lâu sau khi chuẩn bị và mang ra sử dụng
Trang 261.5 Tổng quan về Sâm vũ diệp và Tam thất hoang
có vạch dọc, thường đơn độc, mọc thẳng và rỗng giữa, đường kính thân từ 0,3
- 0,6cm Lá kép chân vịt gồm 2 - 3 lá mọc vòng Lá chét từ 3 - 5, thuôn, dài từ 2,5 - 14 cm, rộng từ 1,5 - 4 cm Lá chét xẻ thùy hình lông chim rõ rệt, mép khía răng Cụm hoa tán đơn, mọc ở ngọn, cuống cụm hoa từ 5 - 10cm, mang
từ 20 - 90 hoa, cuống hoa mảnh, dài 1 - 1,5 cm Hoa màu vàng xanh, 5 lá đài nhỏ, 5 cánh hoa; 5 nhị Bầu 2 ô; đầu vòi nhụy chẻ đôi Quả hình cầu đến hình cầu dẹt, đường kính 0,6 - 1,2 cm, khi chín màu đỏ Hạt 2, hạt gần hình cầu hoặc gần giống hạt đậu, màu xám trắng, vỏ cứng, có rốn hạt Mùa hoa tháng 4
- 5, mùa quả tháng 5 - 9 [6,18]
Hình 1.6 Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus Seem.)
Bộ phận dùng
Thân rễ cây Sâm vũ diệp - Rhizoma Panax bipinnatifidus Seem
Nơi sống và thu hái
Có ở Ấn Độ, Nêpan, Trung Quốc và Việt Nam [7,50] Ở Việt Nam loài này phân bố chủ yếu ở dãy Hoàng Liên Sơn và Phía Tây Bắc Việt Nam như ở huyện Sa Pa (núi Hàm Rồng, xã Tả Phìn, xã Bản Khoang, Tả Giàng Phình),
Trang 27Bát Xát (xã Trung Lèng Hồ), tỉnh Lào Cai [6,22] ở độ cao 1900 - 2400m,
trong rừng ẩm Thu hoạch thân rễ ở những cây lâu năm Phơi hoặc sấy khô
Thành phần hóa học
Thành phần hóa học của lá và rễ cây SVD được phát hiện có nhiều saponin khung dammaran và oleanan Năm 1989, nhóm nghiên cứu Trung Quốc công bố phân lập 13 saponin khung dammaran từ lá của cây này ở Trung Quốc trong đó bao gồm một số ginseng saponin đặc trưng như ginsenoside F1, F2, F3, Rg2, Rb, Rd, Re và Rb3 [56] Gần đây, năm 2011, nhóm nghiên cứu Việt Nam - Hàn Quốc phân lập một nhóm 10 saponin
khung oleanan (1-10, hình 1.7), trong đó có 3 chất mới bifinoside A-C (1-3),
là thành phần chính của rễ cây SVD được thu hái ở núi Hoàng Liên Sơn, Việt Nam [50] Như vậy, tổng cộng có 23 hợp chất saponin đã được xác định từ các phần của cây SVD
Hình 1.7 Hợp chất saponin khung oleanan từ rễ của cây SVD [44]
Năm 2015, nhóm tác giả Viện Dược liệu đã bước đầu nghiên cứu thành phần hóa học của SVD kết quả đã phân lập được một hỗn hợp saponin (11)
Trang 28bao gồm stigmasterol-3-O-β-D-glucopyranosid (11A) và D-glucopyranosid (11B), glycosphingolipid: 1-O-(β-D-glucopyranosyl)-N-(1,3,4-trihydroxytridec-8-en-2-yl) heptacosanamid (12), dichaccarid: saccharose (13) từ phân đoạn chiết ethyl acetat rễ SVD Đây là lần đầu tiên một số hợp chất trên được công bố phân lập từ cây này [9]
β-sitosterol-3-O-β-Ngoài ra, trong SVD có sự hiện diện của các hợp chất triterpenoid, tinh dầu, acid amin, acid hữu cơ, đường khử, polyuronic và những nguyên tố vi lượng [12,13] Lần đầu tiên hợp chất polyacetylen được nhận diện trong SVD
và TTH [13] Đây là nhóm hợp chất thường có trong phân đoạn ít phân cực
của loài thuộc chi Panax nói riêng và của họ Nhân sâm nói chung Chúng
được xem là hợp chất có tác dụng chống ung thư [30,41,43,55]
Tác dụng dược lý
Liên quan đến tác dụng sinh học, một số hợp chất đước xác định là thành phần của SVD có tác dụng sinh học bao gồm kháng viêm, chống oxi hóa, chống ung thư, bảo vệ tim mạch, chống tiểu đường, bảo vệ tế bào thần kinh,…có thể phần nào giải thích cho lợi ích về mặt dược học trong việc sử dụng SVD trong y học truyền thống [27]
Công dụng
Hoạt huyết khứ ứ, tiêu đờm, giảm đau, thủng trướng tích tụ, đau gân cốt, rắn độc cắn, tâm vị khí thống, thổ huyết, đổ máu mũi, xuất huyết dạ dày [22]
1.5.2 Tam thất hoang
Tam thất hoang (Panax stipuleanatus H T Tsai et K M Feng) thuộc
bộ Apiales, họ Ngũ gia bì - Araliace, chi Nhân sâm - Panax L, hay còn gọi là
tam thất rừng, sâm tam thất [4,8,17,22]
Đặc điểm thực vật
Cây thảo sống nhiều năm, cao 25 - 75 cm Thân rễ mập, nằm ngang, có nhiều chỗ lõm do vết thân để lại; ít khi phân nhánh; đường kính 1,5 - 3 cm Mỗi khóm thường có 1 thân mang lá Thân mọc thẳng, nhẵn; đường kính 0,3 - 0,6 cm Lá kép chân vịt, gồm 1 - 3 cái, mọc vòng ở ngọn; có cuống dài 5 - 10
Trang 29cm Lá chét 5; có cuống ngắn, hình thuôn hay mác thuôn, nhọn 2 đầu, dài 5 - 13cm, rộng 2 - 4 cm; mép có răng cưa, hoặc ở một số ít cây non có thể gặp dạng xẻ lông chim nông, mép của thuỳ nông cũng khía răng cưa Cụm hoa tán đơn, mọc ở ngọn, cuống cụm hoa dài 5 - 10cm Số hoa trên một tán gồm 30 -
80 cái màu vàng xanh,cuống hoa mảnh, dài 1- 1,5 cm Hoa màu vàng xanh, 5
lá đài nhỏ; 5 cánh hoa; 5 nhị; bầu 2 ô, đầu nhụy thường chẻ đôi Quả mọng, gần hình cầu dẹt, đường kính 0,6 - 1,2 cm, khi chín màu đỏ Hạt 1 hoặc 2, gần giống hạt đậu tròn, màu xám trắng, vỏ cứng, có rốn hạt Mùa hoa tháng 4 - 5, quả tháng 5 - 9 [6,18]
Hình 1.8 Tam thất hoang (Panax stipuleanatus H T Tsai et K M Feng)
Bộ phận dùng
Thân rễ cây Tam thất hoang - Rhizoma Panax stipuleanatus H T Tsai
et K M Feng
Nơi sống và thu hái
Có ở Trung Quốc và Việt Nam Loài có phân bố hẹp ở Việt Nam Xuất hiện ở huyện Sa Pa (núi Hàm Rồng - thị trấn Sa Pa và xã Tả Phìn) và huyện Bát Xát (xã Trung Lèng Hồ), tỉnh Lào Cai Thu hoạch thân rễ ở những cây lâu
năm Phơi hoặc sấy khô [7,18,22]
Thành phần hóa học
Các kết quả nghiên cứu phân tích và tách chiết thành phần hóa học của cây TTH chỉ ra rằng phần rễ của cây này có chứa nhiều saponin khung oleanan với hàm lượng tương đối cao cùng một số saponin khung dammaran với nồng độ thấp Năm 1985, nhóm nghiên cứu Trung Quốc phân lập 2