1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tìm hiểu một số vấn đề về liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử ở việt nam

68 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử Việt Nam ra đời nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu, đào tạo, giảng dạy và học tập của Việt Nam thông qua việc bổ sung các nguồn tin điện tử ch

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 2

5 Bố cục Niên luận 2

PHẦN 2 NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LIÊN HỢP THƯ VIỆN 3

1.1 Khái niệm Liên hợp thư viện 3

1.2 Lịch sử phát triển Liên hợp thư viện 5

1.3 Tình hình phát triển Liên hợp thư viện và mô hình Liên hợp thư viện trên Thế giới 7

1.3.1 Tình hình phát triển Liên hợp thư viện trên Thế giới 7

1.3.1.1 Tình hình phát triển Liên hợp thư viện ở Châu Mỹ 7

1.3.1.2 Tình hình phát triển Liên hợp thư viện ở châu Âu 9

1.3.1.3 Tình hình phát triển Liên hợp thư viện ở Châu Á 13

1.3.1 4 Tình hình phát triển Liên hợp thư viện ở Nam Phi 17

1.3.2 Mô hình Liên hợp thư viện trên Thế giới 19

1.3.2.1 Cộng hòa Liên bang Đức 21

1.3.2.2 Ấn Độ 22

1.3.2.3 Croatia 23

1.3.2.4 Hàn Quốc 24

CHƯƠNG 2: LIÊN HỢP THƯ VIỆN VỀ CÁC NGUỒN TIN ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 26

2.1 Lịch sử hình thành 26

Trang 2

2.2 Nguồn tin điện tử của Liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử 30

2.2.1 Cơ sở dữ liệu EBSCO 30

2.2.2 Cơ sở dữ liệu Blackwells 35

2.2.3 Cơ sở dữ liệu Proquest Central 39

2.2.4 Tạp chí Khoa học Việt Nam trực tuyến 47

2.2.5 Các CSDL miễn phí khác 48

2.3 Những kết quả hoạt động của Liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử 50

2.3.1 Tìm kiếm đối tác tài trợ phát triển Liên hiệp 51

2.3.2 Phát triển nguồn tin điện tử thông qua bổ sung các CSDL và tạp chí điện tử 51

2.3.3 Đào tạo, nâng cao năng lực khai thác thông tin 52

2.3.4 Nâng cao năng lực xuất bản và quản lý các tạp chí khoa học

trong nước 53

2.3.5 Điều kiện học tập, nghiên cứu của người dùng tin của Liên hiệp thư viện được cải thiện nhờ tăng cường năng lực phục vụ người dùng tin của thành viên Liên hiệp 54

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ GIẢI PHÁP 58

3.1 Một số nhận xét, đánh giá về tình hình hoạt động của Liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử 58

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử 60

3.2.1 Tiếp tục đảm bảo sự bảo trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ 60

3.2.2 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ trong Liên hợp 61

Trang 3

3.3.3 Đầu tư phát triển nguồn tin điện tử 62 3.3.4 Tăng cường marketing các hoạt động và dịch vụ của Liên

hợp 62 3.2.5 Mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức trong nước và ngoài nước 62

PHẦN 3 KẾT LUẬN 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHẦN 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hoạt động thông tin – thư viện, nguồn tin có vai trò hết sức quan trọng Cùng bối cảnh giá cả nguồn tin tăng liên tục mỗi năm việc đảm bảo bổ sung nguồn tin là một việc rất khó khăn và tốn kém Hiện nay với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT), nguồn tin điện tử, đặc biệt

là tạp chí điện tử phát triển mạnh mẽ Vì thế việc chia sẻ thông tin giữa các thư viện trong những năm trở lại đây đã được chú ý

Ở nhiều nước trên Thế giới việc nghiên cứu xây dựng các Liên hợp Thư viện (Library Consortium) đã trở thành phổ biến Với tiêu chí “Hợp tác – Liên thông – Chia sẻ nghiệp vụ và Tài nguyên thông tin” Liên hợp thư viện ra đời để đáp ứng một cách đầy đủ nhất nguồn thông tin cho người dùng tin trong điều kiện kinh phí nhất định

Liên hợp thư viện trên Thế giới ra đời từ rất lâu nhưng tại Việt Nam vấn

đề này còn tương đối mới mẻ và mới chỉ được nhắc đến trong một vài năm trở lại đây Những nghiên cứu tiếp cận vấn đề này ở Việt Nam còn rất ít, chủ yếu là

Trang 4

của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực thông tin – thư viện và mới chủ yếu

đề cập đến khái niệm, vai trò của Liên hợp thư viện Các nghiên cứu tiếp cận trong nước mới bước đầu phác thảo những nét căn bản về Liên hợp thư viện, các

xu thế phát triển và xem xét tính khả thi của Liên hợp thư viện

Trong những năm qua, các cơ quan thông tin – thư viện của Việt Nam đã tiến hành thành lập các liên hợp và Hội thư viện tại Việt Nam Các loại hình tổ chức này được thành lập với những mục tiêu, mô hình và cơ chế quản lý hoạt động khác nhau Liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử Việt Nam ra đời nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu, đào tạo, giảng dạy và học tập của Việt

Nam thông qua việc bổ sung các nguồn tin điện tử cho các thư viện ở Việt Nam

Để có một cái nhìn tổng quát nhất về nguồn tin điện tử cũng như các hoạt động của Liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử tại Việt Nam tôi đã

mạnh dạn tìm hiểu đề tài “Tìm hiểu một số vấn đề về Liên hợp thư viện về các

nguồn tin điện tử ở Việt Nam” làm khóa luận

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài gồm 2 nội dung chính sau:

+ Đề tài đi sâu tìm hiểu về Liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử Việt Nam;

+ Từ đó đưa ra kết luận và kiến nghị nhằm xây dựng Liên hợp thư viện

về các nguồn tin điện tử ở Việt Nam thành công

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là Liên hợp thư viện về nguồn tin điện tử Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là một số nguồn tin điện tử của Liên hợp thư viện về nguồn tin điện tử Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trang 5

Để thực hiện Khóa luận này tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp tài liệu

5 Bố cục Niên luận

Ngoài phần danh mục viết tắt, phần mục lục, phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về Liên hợp Thư viện

Chương 2: Liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử Việt Nam

Chương 3: Nhận xét và kiến nghị

Trang 6

PHẦN 2 NỘI DUNG

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ LIÊN HỢP THƯ VIỆN

1.1 Khái niệm Liên hợp thư viện

Các tài liệu xuất bản trong lĩnh vực khoa học thư viện đã chứng minh là khái niệm “Liên hợp Thư viện” không phải là mới Tuy nhiên, các Thư viện đã không sử dụng chúng rộng rãi cho đến những năm 1980

Liên hợp thư viện là một nhóm của hai hoặc nhiều thư viện đồng ý hợp tác để thực hiện cùng một mục tiêu nào đó, thông thường là chia sẻ tài nguyên Liên hợp thư viện có liên quan đến hợp tác, phối hợp và cộng tác giữa, và trong

số các thư viện với mục đích để chia sẻ thông tin

Theo tác giả Kumbar M.F thì về cơ bản: “Liên hợp thư viện có nghĩa là một nhóm các thư viện cùng nhau với mối quan tâm chung để thành lập Liên hợp”

Theo American Heritage Dictionary: Liên hợp thư viện được hiểu là

“Thỏa thuận hợp tác giữa các nhóm hoặc các cơ quan” hoặc “một hội hoặc đoàn thể”

Theo tác giả Sharon L Bostick thì “Liên hợp thư viện là một nhóm của hai hoặc nhiều hơn các thư viện đồng ý cộng tác với nhau để thực hiện những mục tiêu nào đó, thông thường là chia sẻ nguồn tin”

Còn theo tác giả Kumba T.S thì có những yếu tố cùng ảnh hưởng đến các thư viện và khởi xướng hoạt động hợp tác giữa các thư viện Một số các yếu

tố bao gồm:

+ Lượng tài liệu xuất bản tăng lên dẫn đến bùng nổ thông tin

+ Số lượng người sử dụng các dịch vụ của thư viện phát triển không ngừng với tốc độ cao, đặc biệt trong các cơ quan nghiên cứu và trường đại học

Trang 7

+ Sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin và những ứng dụng của công nghệ thông tin để tăng cường khả năng truy cập và lưu trữ…

Trong từ điển khoa học TT-TV “Liên hợp thư viện” được xác định:

“Một số tổ chức, thường là trong một khu vực địa lý cụ thể với thỏa thuận về các mục tiêu và mục đích chung”

Theo định nghĩa của Lemke D.H thì một Consortium sẽ bao gồm ít nhất

là ba hoặc nhiều hơn ba thành viên: “Một tổ chức chính thức của ba hoặc nhiều hơn ba các cơ quan thành viên thực hiện một số các chương trình và với yêu cầu hàng năm đóng góp hoặc các bằng chứng xác thực khác về những cam kết trong một thời gian dài của các cơ quan thành viên”

Năm 1992, hai tác giả Twiest D.H và Badke W.B đã đưa ra một định nghĩa đơn giản về Consortium: “Sự liên kết, sự kết hợp hoặc sự cộng tác”

Còn theo định nghĩa của Namibia Library and Information Council (NLIC) thì “Liên hợp thư viện là sự hợp tác (chính thức hoặc không chính thức) giữa các thư viện để chia sẻ tài nguyên, hệ thống và mạng máy tính, phát triển các bộ sưu tập và chia sẻ các biểu ghi thư mục”

Tác giả Jalloh B đã đưa ra một định nghĩa toàn diện hơn về “Liên hợp Thư viện” vào năm 2000: “Sự hợp tác chính thức của các thư viện, nhưng thường bị giới hạn cho một vùng địa lý, một số các thư viện, các loại tài liệu, hoặc một chủ đề quan tâm, được thiết lập để phát triển và thực hiện chia sẻ tài nguyên giữa các thành viên”

Còn đối với cộng đồng thông tin thư viện Việt Nam, trong những năm gần đây cũng đã có những khái niệm về từ Consortium: “Consortium có nghĩa là liên kết, liên hợp lại để tạo ra một tổ hợp các đối tác có cùng mục đích hoạt động” Khái niệm Liên hợp thư viện cũng được đưa ra: “Liên hợp thư viện là hình thức liên kết giữa các thư viện để mua tài liệu điện tử theo cách thức số kinh phí đóng góp để mua tài liệu của từng thành viên giảm đáng kể so với mua

Trang 8

riêng rẽ, số đầu tên tài liệu tăng, đồng thời tránh được sự trùng lặp khi mua tài liệu gây lãng phí”

Những nhân tố dẫn đến sự hình thành các Liên hợp

- Sự cạnh tranh về kinh tế

- Sự thay đổi trong phương thức truy cập và cung cấp thông tin

- Sự phát triển của công nghệ thông tin

- Tăng cường chất lượng

Nói tóm lại, có thể có nhiều định nghĩa khác nhau về Liên hợp thư viện xuất phát từ những khía cạnh khác nhau khi xem xét vấn đề Định nghĩa về Liên hợp thư viện của Ủy ban Viễn thông Liên bang Mỹ có thể sử dụng làm việc:

“Liên hợp thư viện là sự hợp tác của các thư viện ở một địa phương, một vùng hoặc một quốc gia để cung cấp một cách hệ thống và có hiệu quả các nguồn tài nguyên của các thư viện công cộng, trường học và các thư viện đặc biệt khác và các trung tâm thông tin, để tăng cường các dịch vụ cho khách hàng của các thư viện”

1.2 Lịch sử phát triển Liên hợp thư viện

Hoa Kỳ có thể được biết đến như là nơi sinh ra “Liên hợp Thư viện” và đứng đầu thế giới về hình thành các Liên hợp Có truyền thống về sự hợp tác và chia sẻ tài nguyên giữa các thư viện

“Liên hợp thư viện” sớm nhất là Triangle Research Libraries Network, được thành lập năm 1933 bởi Hiệu trưởng các trường Đại học Bắc Carolina (University of North Carolina) và trường Đại học Duke (Duke University)

Theo cuốn sách của Ruth patrick “Nguyên tắc chỉ đạo hợp tác: Phát triển Liên hợp thư viện trường đại học – Guideline for Library Cooperation: Development of Academic Library Consortium” xác nhận 125 “Liên hợp thư viện trường đại học” (khoảng 90%) đã được thành lập sau năm 1960

Trang 9

Trong những năm từ 1960-1970, động cơ thúc đẩy phát triển các “Liên hợp thư viện” ở Hoa Kỳ là sự xuất hiện của máy tính và việc tăng cường tự động hóa của các thư viện Kết quả là việc chia sẻ nguồn tài nguyên có thể thực hiện được và là động cơ thúc đẩy việc thành lập các Liên hợp

Theo nghiên cứu của Hawthorn M cho thấy giữa những năm 1996-1998 thì sự phát triển liên hợp thư viện diễn ra ở khắp Bắc Mỹ Những năm 90 là

“Năm của Liên hợp thư viện" (The Consortium fat year)

Hầu hết (khoảng 90%) các liên hợp thư viện đều được hình thành sau năm 1960 Patrick cũng mô tả là sau những năm 1960 và đầu năm 1970 bắt đầu hình thành các liên hợp thư viện do quá trình tự động hóa thư viện

Trong những năm 1960 và 1970, liên hợp thư viện bắt đầu phát triển thịnh vượng ở Hoa Kỳ Trong giai đoạn này, tập trung vào việc truy cập đến các nguồn tài liệu khác nhau Trong những năm cuối 1960 và trong những năm 1970 thì tự động hóa là nhân tố chủ đạo

Các liên hợp thư viện có thể được thành lập với nhiều lý do khác nhau nhưng tất cả đều có mục tiêu chung là lợi ích kinh tế Mục tiêu này vẫn được duy trì cho đến ngày nay Nhiều liên hợp không có bộ phận quản lý chính thức và tin cậy vào các hội viên để cung cấp tất cả các dịch vụ kinh doanh nhưng có liên hợp thư viện, đặc biệt là thư viện lớn thường có văn phòng, giám đốc điều hành

và nhân viên

Ngày nay, các liên hợp thư viện vẫn chia sẻ khả năng truy cập vào các

bộ sưu tập với những hình thức khác nhau Các Liên hợp vẫn kết hợp sức mua của các thành viên để có giá tốt nhất và có thể mở rộng bao gồm mua tài nguyên điện tử Một vài liên hợp vẫn chỉ là “hội mua bán – buying clubs” thông thường Đúng hơn là họ có những mục tiêu khác nhau

1.3 Tình hình phát triển liên hợp thư viện và mô hình liên hợp thư viện trên Thế giới

Trang 10

1.3.1 Tình hình phát triển liên hợp thư viện trên Thế giới

1.3.1.1 Tình hình phát triển liên hợp thư viện ở Châu Mỹ

Hoa Kỳ

Liên hợp thư viện đã xuất hiện ở Hoa Kỳ từ khi thực tế cần thiết việc chia sẻ nguồn tin khi mà nguồn tin và nguồn tài chính để mua thông tin bị hạn chế Ngày nay sau hơn 100 năm qua kể từ khi mà một Liên hợp thư viện được hình thành lần đầu tiên ở Hoa Kỳ, Liên hợp thư viện tiếp tục phát triển và đóng vai trò quan trọng trong nghề thư viện Đến nay, ở Mỹ hiện có khoảng vài trăm Liên hợp thư viện đang hoạt động với quy mô, tổ chức và hoạt động khác nhau

- Lịch sử hình thành

Liên hợp thư viện đã tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau Giai đoạn đầu tiên vào khoảng cuối thế kỷ 19, khi đó Hiệp hội thư viện châu Mỹ thành lập Ủy ban hợp tác, sau đó được đổi tên thành Ủy ban điều phối Liên hợp thư viện trường đại học sớm nhất là Mạng thư viện nghiên cứu Triangle (Triangle Research Libraries Network – TRLN) TRLN được biết vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay

Ở Hoa Kỳ, động lực thúc đẩy sự phát triển Liên hợp thư viện chính thức xuất hiện sau năm 1960 khi quá trình tự động hóa thư viện trở nên có triển vọng Đến cuối năm 1960, Liên hợp thư viện được hình thành một cách cụ thể và đạt được các sản phẩm tự động hóa cho các thư viện thành viên Cũng như mô hình Liên hợp thư viện của những năm 1960, hợp tác để mua hệ thống thư viện tích hợp, tự động hóa vẫn là lý do chủ đạo để hợp tác, nhưng việc xác định rõ lý do

đã được mở rộng bao gồm các nguồn tin điện tử khác nhau

- Liên hợp thư viện ngày nay

Ngày nay, Liên hợp thư viện rất phổ biến ở nước Hoa Kỳ và trên thế giới Có nhiều hình thức Liên hợp thư viện tồn tại dưới dạng riêng biệt của thư viện, trong khi đó có nhiều hình thức bao gồm nhiều loại thư viện kết hợp với

Trang 11

nhau, như thư viện trường đại học và thư viện công cộng, được gọi là “Liên hợp thư viện kiểu hỗn hợp” Thư viện Alberta là một hình thức của Liên hợp thư viện được phát triển bao gồm tất cả các loại thư viện, từ thư viện trường học và thư viện thành phố Sự chuyển biến của các Liên hợp thư viện đã kéo dài trong nhiều năm và đã giữ lại triết lý gốc về chia sẻ nguồn tin và tăng cường số lượng, trong khi luôn luôn xác định những định hướng mới về hợp tác thư viện

Để hỗ trợ cho chương trình li-xăng, CRKN đã chủ động tham gia đàm phán li-xăng nội dung dựa trên yêu cầu chính xác của cộng đồng nghiên cứu khoa học tại các trường đại học Canada Phương pháp đánh giá và những chương trình của CRKN đã được thiết kế và thực hiện để xác định tác động của những hoạt động này đến công tác nghiên cứu và đổi mới ở các trường đại học Canada

- Liên hợp thông tin y học Toronto

Liên hợp thông tin y học Torono thành lập năm 1990 với mục tiêu tăng cường mối quan hệ giữa thư viện trường đại học Toronto với thư viện các cơ quan y tế liên kết với các khoa y học của các trường đại học khác Hiện nay, Liên hợp bao gồm các thư viện và trung tâm thông tin của hơn 30 đơn vị trong

Trang 12

vùng Greater Toronto Nhiệm vụ của Liên hợp là các thành viên sẽ kết hợp để thúc đẩy những tiến bộ trong lĩnh vực y tế nhờ sử dụng tối ưu các nguồn thông tin, công nghệ và các chuyên môn trong ngành

Những mục tiêu của Liên hợp thông tin y học Toronto: Đảm bảo truy cập tối ưu tới các nguồn tài liệu dạng in và dạng số hóa; Thuận tiện và hiệu quả cho khách hàng trong sử dụng nguồn thông tin tri thức,… Năm 1999, Liên hợp

đã tiến hành đàm phán về Li-xăng giữa các thành viên để đạt được một thỏa thuận quan trọng đối với tất cả các thành viên

- Liên hợp thư viện NEOS

Liên hợp thư viện NEOS được thành lập năm 1994 bao gồm 19 thư viện của các trường đại học, cao đẳng, bệnh viện và chính quyền ở vùng Alberta Các thư viện thành viên của NEOS đã cam kết trong nhiều hoạt động như tạo ra và duy trì hệ thống thư viện tích hợp trực tuyến; chia sẻ các CSDL,… Nhiệm vụ của Liên hợp là cung cấp khả năng truy cập tới các nguồn thông tin với giá rẻ; chia

sẻ các nguồn tài liệu khác; chia sẻ về công nghệ, các bộ sưu tập và các chuyên gia

Ngoài ra, ở Canada còn nhiều Liên hợp thư viện khác nhau như Liên hợp DAISY Canada, Liên hợp thư viện Manitoba, Mạng thư viện điện tử BC, Liên hợp thư viện Ontario, Hiệp hội thư viện trường đại học Prairie và Pacific, Liên hợp bổ sung tài liệu giáo dục…

1.3.1.2 Tình hình phát triển Liên hợp thư viện ở châu Âu

Châu Âu cũng hình thành nhiều liên hợp thư viện Dưới đây là tình hình liên hợp thư viện ở một số nước

Phần Lan

Chương trình Thư viện điện tử Quốc gia của Phần Lan về bản chất là một Liên hợp thư viện Đến năm 2005, Liên hợp thư viện bao gồm 108 thành viên Tất cả các trường đại học, trường kỹ thuật và thư viện công cộng, cũng như

Trang 13

36 viện nghiên cứu đã tham gia vào Liên hợp thư viện FinELib FinELib là một chương trình được tổ chức chặt chẽ để điều phối những hoạt động hợp tác liên quan đến các thành viên của Liên hợp

Năm 2005, FinELib được cấp ngân sách trực tiếp để bổ sung nguồn thông tin điện tử chất lượng cao, cũng như phát triển cổng thông tin quốc gia Ngân sách được cấp bao gồm cả chi phí cho nhân viên và đào tạo nhân viên Tổng ngân sách được cấp cho năm 2005 khoảng 12 triệu euro, bao gồm ngân sách tập trung và ngân sách của các tổ chức, số nhân viên của Liên hợp là 12 người, FinELib đã ký thỏa thuận Li-xăng bao gồm 19500 tạp chí điện tử; 230 cơ

sở dữ liệu; 25000 sách điện tử, từ điển, sách tra cứu…

Vì vậy, kết quả quan trọng nhất của chương trình FinELib là tạo ra và tăng cường những dịch vụ nội dung chất lượng cao trên Internet Tài liệu điện tử

có thể được sử dụng để cung cấp cho các nhà nghiên cứu, giáo viện và sinh viên được tăng cường đáng kể so với trước đây, và hơn nữa là có thể truy cập trong toàn đất nước

Hy Lạp

HEAL-Link (Hellenic Academic Libraries Link) được bắt đầu hình thành và hoạt động theo một dự án được cấp kinh phí từ Bộ Giáo dục Hy Lạp dưới sự bảo trợ của European Union Structural Funding

Năm 1998 với bản ký kết thỏa thuận với nhà xuất bản Elsevier về quyền truy cập các tạp chí điện tử Sicencedirect Tiếp theo là nhiều thỏa thuận khác được ký kết trong năm 1999 và kết quả đạt được là các thành viên có thể truy cập 3500 tạp chí toàn văn của các nhà xuất bản khác nhau

Trong giai đoạn 3 năm đầu tiên vận hành, các thành viên HEAL-Link đã cam kết vẫn đăng ký mua tài liệu trên giấy, trong khi dự án phải cộng thêm giá thành liên quan đến thỏa thuận Li-xăng

Trang 14

Bắt đầu từ năm 2003, HEAL-Link đã thỏa thuận với 11 nhà xuất bản để các thành viên là có thể truy cập tới 7500 tạp chí toàn văn Tháng 11/2004, Bộ Giáo dục cam kết tiếp tục cấp ngân sách tập trung cho 5 năm tới đến năm 2009

Năm 2005, Link có 60 thành viên Các thành viên của Link bao gồm tất cả các trường đại học được cấp kinh phí từ Bộ Giáo dục, cộng thêm với số cơ quan nghiên cứu thuộc Bộ phát triển

HEAL-Mục tiêu chính của HEAL-Link là cung cấp cho toàn bộ cộng đồng trường đại học và nghiên cứu ở Hy Lạp có thể truy cập vào các tạp chí toàn văn

ở dạng điện tử Sự chấp nhận và sử dụng các tạp chí điện tử HEAL-Link đã vượt quá sự mong đợi Số liệu thống kê từ các nhà xuất bản cho thấy là tần suất sử dụng cao và phát triển liên tục trong nhiều năm qua

ổn định số lượng người sử dụng thông tin điện tử

Năm 2002, người tham gia dự án eIFL Direct chỉ có duy nhất một vài cơ

sở dữ liệu của EBSCO, bao gồm khoảng 3000 tạp chí Năm 2004, theo thỏa thuận li-xăng được ký kết với các nhà cung cấp: EBSCO Publishing, Cambridge University Press, Oxford University Press, LexisNexis,… và một vài hãng cung

Trang 15

cấp tài liệu tiếng Nga Số lượng tạp chí có thể truy cập qua hợp đồng của NEICON khoảng 10.000 tạp chí Số cơ quan, tổ chức đăng ký vào các cơ sở dữ liệu EBSCO trong năm 2002 là 65, nhưng bây giờ thì NEICON có 181 thành viên

Anh

Theo các tài liệu cho thấy ở nước Anh hiện tại cũng có rất nhiều các Liên hợp Thư viện khác nhau như: Liên hợp thư viện trường đại học M25, Liên hợp thư viện nghiên cứu CURL, Liên hợp thư viện số hóa Scôtlen, Liên hợp thư viện trường đại học Tây Bắc (NoWAL),…

Nước Anh có nhiều loại hình Liên hợp thư viện khác nhau từ Liên hợp thư viện cấp vùng, Liên hợp thư viện trên cơ sở tự chủ đến Liên hợp thư viện cấp quốc gia về tài nguyên điện tử Các Liên hợp thư viện được thành lập và được quản lý theo nhiều phương thức khác nhau

Ví dụ: Mua tài nguyên cho thư viện, đào tạo và phát triển nhân viên, thỏa thuận truy cập vào các nguồn thông tin lẫn nhau Các dạng Liên hợp thư viện khác – trong đó có Liên hợp thư viện quốc gia – có thể được cho là Liên hợp thư viện để đàm phán với các hãng cung cấp trên cơ sở mức độ quốc gia; các thư viện chọn lựa nguồn thông tin tài nguyên mà họ yêu cầu

Cộng hòa Liên bang Đức

Đức có hệ thống thư viện được tổ chức rõ ràng nhưng lại không tuân theo chính sách quốc gia về bổ sung tài liệu điện tử Mỗi bang (ở Đức có 16 bang) đều có chính sách khác nhau và có những mức độ đàm phán khác nhau về hợp đồng Li-xăng với các công ty Đến nay, chỉ có 12 bang tham gia vào Liên hợp để đàm phán với các hãng cung cấp điện tử

Liên hợp thư viện trường đại học là mô hình tiêu biểu để bổ sung tài liệu điện tử trong bang khác nhau của Đức Trong nhiều bang, các thư viện của trường đại học lớn đã trải qua nhiều thời gian trong công việc đàm phán cho các

Trang 16

thư viện của mình hoặc cho vùng Trong từng bang, việc thành lập Liên hợp thư viện có tác động đòn bẩy trong đàm phán cấu trúc giá mới cho các tạp chí điện

tử Sự hình thành Liên hợp thư viện ở Đức và các dự án nghiên cứu về sử dụng

và sự chấp nhận các nguồn tài liệu điện tử tại các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu ở Đức được tiến hành song song

1.3.1.3 Tình hình phát triển Liên hợp thư viện ở Châu Á

Hàn Quốc

Các thư viện ở Hàn Quốc đang có nhiều thay đổi và dịch chuyển mô hình hoạt động Quyền sở hữu về tài liệu giấy được thay thế bởi quyền truy cập trực tuyến vào các CSDL, các bộ sưu tập Bổ sung cân bằng giữa tài liệu giấy và tài liệu điện tử đang là mối quan tâm chính của các thư viện ở Hàn Quốc Vấn đề chính của các thư viện trường đại học khi đăng ký mua tài liệu mới, dễ sử dụng

và đánh giá hiệu quả của khai thác trực tuyến tài liệu điện tử Vì thế mà Liên hợp thư viện là mô hình cho các thư viện và các dịch vụ thông tin giáo dục và nghiên cứu (KERIS) thành lập và đã đóng vai trọng ở Hàn Quốc

KERIS được thành lập năm 1999, là cơ quan của Bộ Giáo dục và Phát triển Nguồn nhân lực KERIS được hình thành từ hai cơ quan là KMEC và KRIC Đến tháng 5/1998, hệ thống dịch vụ thông tin nghiên cứu (RISS) được thành lập

Đến tháng 3/2001, KERIS được chỉ định là “Trung tâm Thông tin Giáo dục và Nghiên cứu Quốc gia” của Bộ Thông tin và Viễn thông Đến tháng 1/2003 thì 100% các trường đại học và cơ quan nghiên cứu ở Hàn Quốc đã kết nối với RISS Hiện tại, KERIS đang thực hiện hai mô hình Liên hợp quốc gia:

mô hình Li-xăng quốc gia cho các trường đại học và mô hình hợp tác mua sắm

Chiến lược trợ cấp cho các trường đại học là khác nhau phụ thuộc vào tốc

độ sử dụng của những năm trước, đánh giá chia sẻ tài nguyên giữa các trường đại học Liên quan đến tỷ lệ trợ cấp, KERIS thông báo tỷ lệ hạn chế trong khoảng

Trang 17

25-30% tổng lệ phí Li-xăng cho Liên hợp và 50-100% được sử dụng cho tài liệu trực tuyến Với Liên hợp sách điện tử, KERIS trợ cấp cho thư viện trường đại học xấp xỉ 40% tổng lệ phí Li-xăng Thống kê năm 2005, ngân quỹ năm để mua tài liệu trực tuyến cho thư viện các trường đại học ở Hàn Quốc là 210.000 USD

Ấn Độ

Ấn Độ cho thấy việc hình thành liên hợp thư viện là cần thiết Các trường

đại học ở Ấn Độ đang tìm một giải pháp để duy trì mua các tạp chí quan trọng trong khi mà giá mua các tạp chí tăng lên và ngân quỹ cho bổ sung tài liệu lại giảm xuống Số tạp chí quốc tế trung bình được đăng ký mua của các trường Đại học ở Ấn Độ là < 500 tên; trong khi đó số trung bình của các trường đại học ở

Mỹ là > 4000 tên

Tại Ấn Độ, mục tiêu của Liên hợp là: Tăng cường lợi ích kinh tế khi mua

tài liệu; Thúc đẩy việc sử dụng ngân quỹ hợp lý; Phát triển khả năng kỹ thuật của

nhân viên trong vận hành và sử dụng các CSDL xuất bản điện tử

Bộ phát triển nguồn nhân lực (MHRD) đã thành lập Liên hợp về các nguồn tin điện tử cho hệ thống Giáo dục kỹ thuật ở Ấn Độ Liên hợp có tên là

“Liên hợp thư viện số hóa Quốc gia về Khoa học và Công nghệ - Indian National Digital Library in Science and Technology (INDEST) Consortium

Mục tiêu là chia sẻ đăng ký hoặc đăng ký trên cơ sở một Liên hợp về các nguồn tin điện tử thông qua một Liên hợp thư viện MHRD đã cung cấp ngân sách theo đề nghị của Liên hợp thư viện để đăng ký li-xăng các nguồn tin điện tử cho IISc, IITs, NITs,… và một vài cơ quan khác Ngân sách để đăng ký Li-xăng các nguồn tài liệu điện tử được các cơ quan lựa chọn dưới hình thức Liên hợp sẽ được cấp từ MHRD

Đài Loan

Liên hợp đầu tiên với quy mô không đáng kể được thành lập năm 1998 là Liên hợp các nguồn tin điện tử quan trọng ở Đài Loan (Consortium on Core

Trang 18

Electronic Resources in Taiwan – CONCERT), là do sự phát triển nhanh các nguồn tin điện tử CONCERT đã được cấp kinh phí từ Hội đồng Khoa học Quốc gia và Bộ giáo dục

Tuy nhiên, CONCERT cũng gặp phải một số vấn đề là mô hình để vận hành của Liên hợp, cộng tác phát triển bộ sưu tập, chương trình đào tạo thích hợp cho các thư viện viên…Vì thế, để giải quyết những vấn đề trên và sự xuất hiện của sách điện tử (e-book), Taiwan e-Book NET (TEBNET) đã được thành lập năm 2001 như là một liên hợp sách điện tử quy mô lớn ở Đài Loan với mục tiêu là tích lũy khối lượng sách điện tử với một nhóm các thư viện trường đại học

để được lợi về việc giảm giá và chia sẻ tài nguyên chung

Bảng 1 Tóm lược bổ sung của các thư viện thành viên TEBNET

Số lượng sách điện tử Chi tiêu mua sách điện

Nguồn: Báo cáo tổng quan của TEBNET

Chi phí hoạt động: Trong giai đoạn này, việc thành lập tổ chức và những hoạt động điều phối đã chi phí tổng cộng xấp xỉ 45.000 USD Tuy nhiên, khi mà TEBNET được tổ chức trên cơ sở tự nguyện của mỗi thành viên thì chi phí cho phần cứng như mua thiết bị sẽ không bao gồm trong chi phí giai đoạn đầu

Bảng 2 Chi phí ban đầu của TEBNET

Trang 19

STT Nhiệm vụ Chi phí (USD) Tỷ lệ (%)

Nguồn: Báo cáo tổng quan của TEBNET

Philipin

Liên hợp thư viện đã được thành lập và phát triển trong nhiều năm qua ở Philipin Các Liên hợp thư viện được thành lập với những mục tiêu cụ thể phù hợp với điều kiện của các thành viên Một số Liên hợp thư viện tiêu biểu được thành lập ở Philipin bao gồm:

 Liên hợp thư viện các cơ quan IIC

Được thành lập năm 1972 do năm cơ quan khởi sướng IIC được quản lý bởi ban quản trị Ngân sách được nhà nước tài trợ và tiền thu từ lệ phí các thành

viên Những thành tựu đạt được của Liên hợp IIC: Hợp tác phát triển catalog,

bảng chỉ dẫn tài liệu giữa các thành viên; phối hợp xây dựng các cơ sở dữ liệu;

số hóa các tài liệu quý hiếm của Philipin;…

 Hiệp hội hệ thống bổ sung sách thư viện các trường đại học (ALBASA)

Được thành lập năm 1973 với 13 cơ quan/tổ chức tham gia ALBASA đợc khởi sướng bởi Quỹ Ford và Quỹ Châu Á Liên hợp được quản trị bởi Ban Giám Đốc với mục tiêu là hợp tác bổ sung sách Những thành tựu đạt được của ALBASA: hợp tác bổ sung sách, giảm giá thành trong công tác bổ sung, tổ chức triển lãm, hội chợ sách; phát triển kỹ năng nghề nghiệp

Trang 20

 Liên hợp thư viện DOST-ESEP

Thành lập năm 1989 với 8 cơ quan/tổ chức thành viên, được sự bảo trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ, ngân quỹ được cấp từ World Bank Mục tiêu là tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và giáo dục khoa học Chiến lược mục tiêu: Phát triển bộ sưu tập, tự động hóa thư viện, phát triển nguồn nhân lực các cấp, tài nguyên vật lý Với kế hoạch: Tiếp tục bổ sung các bộ sưu tập, thử nghiệm các modum kiểm soát tài liệu, nâng cấp hệ thống, thiết bị phương tiện,

mở rộng mạng lưới liên kết, thực hiện đầy đủ các dịch vụ cung cấp tài liệu và mượn liên thư viện

Ngoài ra ở Philipin còn có một số Liên hợp thư viện khác nữa: Liên hợp Mendiola; Liên hợp Nghiên cứu Châu Âu; Liên hợp Orrtigas; Liên hợp Intramuros; Liên hợp PAARLNET và Liên hợp MINDANET

1.3.1 4 Tình hình phát triển Liên hợp thư viện ở Nam Phi (Châu Phi)

Liên hợp thư viện đầu tiên ở Nam Phi được thành lập đầu tiên năm 1992 Đến nay, sau hơn 10 năm hoạt động đã có nhiều thay đổi và đã mang lại nhiều lợi ích trong quá trình cùng hợp tác

Năm 1992, song song với quá trình chuyển đổi về chính trị, xã hội và kinh

tế ở Nam Phi, thì động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi trong lĩnh vực dịch vụ TT-TV của đất nước với sự thành lập của Liên hợp thư viện đầu tiên Trong thời gian 6 năm, 5 Liên hợp thư viện đã được thành lập và hoạt động thành công Liên hợp thư viện Nam phi có tổ chức và cấu trúc quản trị khác nhau phụ thuộc vào mục tiêu của Liên hợp trong các vùng khác nhau

Những năm đầu tiên của Liên hợp thư viện tập trung vào những chức năng truyền thống của Liên hợp thư viện: mua một hệ thống thư viện trung, chia sẻ tài nguyên, liên kết mua những nguồn thông tin và những thỏa thuận li-xăng ở cấp vùng và phát triển đội ngũ nhân viên

Trang 21

Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 1992-1998: Liên hợp thư viện vùng được thành lập ở khắp đất nước; nhận được sự tài trợ từ các quỹ để thúc đẩy hệ thống thư viện chung; các tổ chức mới thành lập được hỗ trợ phát triển tốt với sự bảo trợ và cộng tác của đối tác quốc tế; Liên kết mua các nguồn thông tin điện tử để giảm sự trùng lặp,…

Trong giai đoạn 1998-2003 Liên hợp thư viện đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận như đã được củng cố vai trò và trong nhiều trường hợp đã tăng cường số lượng các thư viện thành viên Sự liên kết cấp quốc gia đã hình thành để chỉ đạo và trực tiếp phát triển các Liên hợp thư viện và li-xăng cấp quốc gia đã được thực hiện

Tuy nhiên, trong thời kỳ này thách thức kinh tế cũng như sự chuyển đổi nhanh và gay gắt Tác động đến xuất nhập khẩu là rất lớn và có khả năng mua của các thư viện đã giảm đi 47%, đồng thời ngân sách hỗ trợ cho dự án cũng bị tác động mạnh Cuối cùng Bộ Giáo dục đã thực hiện lệnh của Chính Phủ về

“chiến lược quy mô và hình thức” trong Kế hoạch Quốc Gia về giáo dục đại học (NPHE) trong giai đoạn 2004-2005, và giảm từ 36 trường xuống còn 21 trường đại học

Giai đoạn này, Liên hợp thư viện đạt được những thành tựu rõ rệt: Sử dụng thuận tiện và hỗ trợ của các hệ thống thư viện chung; chia sẻ tài nguyên trong vùng và ngoài vùng nhờ hệ thống ARIEL được mở rộng; giảm trùng lặp các tài liệu khi bổ sung tài liệu; khởi xướng phát triển quỹ trong Liên hợp; Quản

lý hiệu quả của tổ chức thông qua cơ sở hạ tầng 4/5 Liên hợp

1.3.2 Mô hình Liên hợp thư viện trên Thế giới

Hoa Kỳ là nước dẫn đầu thế giới về số lượng Liên hợp thư viện Theo American Library Directory, hơn 12.700 thư viện ở Hoa Kỳ và Canada đã liên kết thành hơn 500 Liên hợp và mạng lưới Các Liên hợp khác nhau về hình thức,

Trang 22

quy mô và không có mô hình hoặc hình thức “Liên hợp thư viện” nào được cho

là tốt nhất Điều này rất khó để phân loại mô hình Liên hợp thư viện

Tác giả Hurtt J đã sử dụng hai tiêu chí để xếp các mô hình liên hợp thư viện :

- Địa lý: Tất cả các thư viện của một bang, thành phố hoặc một nước nào

đó Phạm vi địa lý thường được quan tâm đến khi thành lập Liên hợp thư viện

- Loại hình cơ quan: như một nhóm các thư viện trường đại học, các thư viện cơ quan nghiên cứu, các thư viện ngành luật hoặc các thư viện ngành y

Các tác giả Allen B.M và Hirshon A cho rằng có 4 mô hình Liên hợp thư viện Mỗi mô hình có những giá trị, mục tiêu và tình hình khác nhau:

- Liên hợp liên kết lỏng lẻo: Liên hợp thư viện vùng hoặc địa phương được thành lập ở mức bình thường, được quản trị bởi các thư viện thành viên và không có nhân viên chính thức và cũng không có quỹ tập trung Những mô hình Liên hợp thư viện này rất linh hoạt và tổng chi phí thấp nên đưa ra lợi ích mức thấp và có độ rủi ro nhỏ

- Liên hợp thư viện đa hình thức, đa trạng thái: thường có nhân viên chính thức, nhưng sự hợp tác là tự nguyện, kết quả hợp tác chỉ ở mức thấp bởi vì quyền lợi chung là nhỏ

- Liên hợp thư viện liên kết chặt chẽ: Liên hợp thư viện liên kết chặt chẽ phải có cơ quan bảo trợ và phải có các hội viên trọng tâm hoặc có đặc điểm chung Liên hợp thư viện phải dựa vào ngân sách các cơ quan, hoặc phải cung ứng các nguồn tài nguyên của mình ra bên ngoài

- Liên hợp thư viện quốc gia, quỹ tập trung: có các cơ quan bảo trợ và thường phân chia nguồn ngân sách Cơ quan trung tâm thường bảo đảm các hợp đồng và chi trả phần lớn hoặc toàn bộ các khoản thanh toán của Liên hợp thư viện, ví dụ như đăng ký mua các cơ sở dữ liệu

Trang 23

Tác giả Kennington D phân nhóm theo tiêu chí hoạt động hợp tác ở Anh

- Liên hợp thư viện sẽ được tổ chức để theo đuổi những mục tiêu và những hoạt động sẽ mang lại những lợi ích cho các thành viên trường đại học

1.3.2.1 Cộng hòa Liên bang Đức

Hiện nay, ở Đức có 4 loại mô hình Liên hợp được đề cập như sau:

 Liên hợp Thư viện các trường Đại học trong vùng

Trang 24

Liên hợp thư viện trường đại học là mô hình tiêu biểu bổ sung tài liệu điện

tử trong các bang khác nhau của Đức Trong từng bang sự thành lập Liên hợp thư viện có tác động đòn bẩy trong đàm phán cấu trúc giá mới cho các tạp chí điện tử North Rhime-Westphalia là bang đầu tiên đàm phán về hợp đồng li-xăng cho tất cả các trường đại học và các thư viện cơ quan nghiên cứu của bang Ở Bavaria, một thỏa thuận hợp đồng đã được tiến hành có thể áp dụng cho toàn bộ các cơ quan nghiên cứu và thư viện trường đại học của bang

 Liên hợp thư viện liên vùng

Liên hợp thư viện Berlin-Brandenburg là một Liên hợp thư viện đa cơ quan, đa dạng và liên vùng Liên hợp này được hình thành từ nhóm các thư viện vật lý Berlin năm 1997 và không lâu sau được mở rộng cho các thư viện trường đại học, cũng như các thư viện nhỏ của các cơ quan nghiên cứu trong vùng Berlin và Potsdam

Mặc dù chỉ là một bang nhỏ ở Đức, nhưng bang Saarland đã đàm phán thành lập thử nghiệm một hợp đồng về các tạp chí điện tử Springer trong một năm 1999-2000 cho tất cả các thư viện công trong bang Trong vùng Rhineland-Palatinate, 19 thư viện trường đại học, cao đẳng và thư viện của các cơ quan nghiên cứu khác đã thành lập thử nghiệm để đàm phán hợp đồng đăng ký 190 tạp chí điện tử của nhà xuất bản Springer trong năm 2000

 Liên hợp thư viện của các thư viện cơ quan nghiên cứu

Max Planck Society đã tiến hành một nghiên cứu cơ bản trong tất cả 81 thư viện cơ quan nghiên cứu Trong nhiều trường hợp, các thư viện cơ quan nghiên cứu hay liên kết với liên hợp vùng tương ứng về thỏa thuận hợp đồng li-xăng các tạp chí điện tử nơi mà các thư viện này nằm trong khu vực đó Các thư viện này có lợi ích như các hội viên trong Liên hợp thư viện vùng, được phép truy cập vào các CSDL tên các bài báo cơ bản, tên của các tài liệu mô tả khác

Trang 25

Tương tự, các thư viện và các cơ quan dịch vụ cung cấp thông tin ở Fraunhofer Society (FHG) đã bắt đầu quá trình đàm phán tập trung về tài liệu điện tử, nhưng cũng quan tâm đến việc liên kết với hai hội nghiên cứu khác với mục đích để chia sẻ li-xăng truy cập những nguồn tài liệu điện tử FHG bao gồm

14 cơ quan nghiên cứu ứng dụng gần như đầy đủ các thư viện và trang bị nghiên cứu thông tin

 Liên hợp thư viện các cơ quan nghiên cứu đa dạng, nhiều vùng

Liên hợp thư viện của các thư viên “same-type” – những thư viện cần bổ sung các bộ sưu tập tương tự nhau – đã hình thành với mục đích đàm phán thỏa thuận hợp đồng li-xăng đầy đủ về các tạp chí điện tử cho một nhóm khách hàng đặc biệt Ở Đức, đây là Liên hợp thư viện chủ yếu trong các cơ quan nghiên cứu

có ngân sách Liên bang

Điểm nổi bật của Liên hợp thư viện FORSA: các tạp chí của Liên hợp đã được đàm phán theo một chủ đề rất tập trung; nhà xuất bản rất tiện lợi cho đàm phán với các thành viên thông qua các đại lý bởi hóa đơn bán hàng sẽ do đại lý cung cấp cho các thành viên riêng lẻ Vấn đề tồn tại: khái niệm Liên hợp vẫn mới với Ấn Độ nên không có những nguyên tắc chỉ đạo và không có những mô hình mẫu để trợ giúp cho thành lập Liên hợp thư viện…

 Mô hình 2: Đăng ký tên tạp chí phổ biến (Common title subscription)

Liên hợp thư viện này đã quyết định thỏa thuận để truy cập các tạp chí quan trọng Mô hình này cho phép các thư viện/cơ quan có mối quan tâm lẫn

Trang 26

nhau, và trong cùng một thời về một hoặc vài các tạp chí cần được bổ sung Hiện tại có 6 thành viên đã cam kết chia sẻ lệ phí li-xăng để truy cập tạp chí điện tử Nature

Đặc điểm của mô hình: không có những điều kiện đặt trước về mua tạp chí trên giấy từ các thành viên; hóa đơn thanh toán độc lập cho từng thành viên của Liên hợp được gửi trực tiếp từ nhà xuất bản… Tồn tại của Liên hợp: các thành viên không thể tự do tham gia vào Liên hợp vào bất kỳ thời gian nào trong năm

để truy cập các tạp chí điện tử, ngay cả khi họ sẵn sàng có thể đăng ký mua tạp chí in trên giấy

 Mô hình 3: Trả thanh toán theo cơ quan chủ quản (Payment by a Parent

organization)

Viện nghiên cứu Cơ bản Tata (Tata Institute of Fundamental Research – TIFR) là tổ chức nghiên cứu khoa học hàng đầu của Ấn Độ, có năm chi nhánh trong cả nước Họ đã tiến hành đàm phán với một nhà xuất bản chính về hợp đồng li-xăng các tạp chí của nhà xuất bản Thư viện chính của TIFR đóng tại Mumbai, đóng vai trò như tổ chức chính để thanh toán cho các chi nhánh Các thành viên cũng như người sử dụng hài lòng với những thỏa thuận về truy cập bộ sưu tập các tạp chí điện tử mà họ quan tâm

1.3.2.3 Croatia

Các mô hình Liên hợp thư viện Croatia bao gồm:

 Mô hình mức quốc gia

Ở Croatia, CARNet (Croatia Academic and Research Network) đã bắt đầu triển khai với dự án bổ sung với các CSDL Các CSDL gồm: Medline, Current, Contents, Ovid Core Medical Collection,… Các CSDL được cài đặt trên máy chủ cục bộ tại Viện Ruer Boskovi và tất cả các thành viên có thể truy cập thông qua CARNet Bổ sung và bảo trì dịch vụ này được Bộ Khoa học và Công nghệ cung cấp ngân quỹ

Trang 27

Một nguồn thông tin khác có khả năng sử dụng ở cấp quốc gia đó là máy chủ EBSCO với những nguồn thông tin điện tử: Acadamic Search Elite, Bussiness Source Premier, Newpaper Source,… Truy cập đến nguồn thông tin là truy cập trực tuyến thông qua Internet với đăng ký theo mật khẩu Ngân quỹ để mua những nguồn thông tin này được hỗ trợ từ Bộ Khoa học và Công nghệ, và

từ OSI (Open Society Institute)

 Mô hình Liên hợp thư viện các cơ quan

Hiện tại, Croatia chỉ có một Liên hợp thư viện các cơ quan cùng quan tâm theo chủ đề/lĩnh vực tại trường đại học Zagreb và thực tế là tại Khoa Nông học của trường Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp đã mua CSDL CAB (từ 1973-2000), Pestbank and Biological Abstract (năm 2000) trên phần mềm của SilverPlatter để cài đặt tại Khoa Nông học của trường đại học Zagred Đến năm 2001, đã có thỏa thuận đàm phán để thành lập một Liên hợp với 7 khoa kinh tế và lĩnh vực liên quan trong đó thư viện trường Đại học Quốc gia (NUL) nắm vai trò chủ trì

1.3.2.4 Hàn Quốc

KERIS được thành lập năm 1999, là cơ quan của Bộ Giáo dục và Phát triển Nguồn nhân lực (MOEHRD) KERIS được hình thành từ hai cơ quan là KMEC và KRIC Đến tháng 3/2001, KERIS được chỉ định là “Trung tâm Thông tin Giáo dục và Nghiên cứu Quốc gia” của Bộ Thông tin và Viễn thông Đến tháng 1/2003 thì 100% các trường đại học và cơ quan nghiên cứu ở Hàn Quốc đã kết nối với RISS Hoạt động chính của RISS là mở rộng Li-xăng quốc gia về nguồn thông tin trực tuyến của nước ngoài và thúc đẩy liên kết chia sẻ giữa các thư viện trường đại học

Hiện tại, KERIS đang thực hiện hai mô hình Liên hợp quốc gia: mô hình Li-xăng quốc gia cho các trường đại học và mô hình hợp tác mua sắm Bắt đầu

từ liên hợp các CSDL trên Web, KERIS đã phát triển tạo ra mô hình Liên hợp sách điện tử

Trang 28

Như vậy có thể thấy rằng mô hình Liên hợp thư viện của các nước được thành lập với các tiêu chí khác nhau và cũng khác nhau về quy mô, tổ chức, quản trị…Tuy nhiên có thể kết luận về mô hình Liên hợp thư viện được phân nhóm như sau:

Phân loại theo địa lý:

+ Liên hợp thư viện Quốc gia

+ Liên hợp thư viện vùng/miền

+ Liên hợp thư viện tỉnh/thành phố

 Phân loại theo loại hình cơ quan

+ Liên hợp thư viện các trường đại học

+ Liên hợp thư viện các cơ quan nghiên cứu

+ Liên hợp thư viện công cộng

+ Liên hợp thư viện hỗn hợp

 Phân loại theo tổ chức

+ Liên hợp thư viện liên kết lỏng lẻo

+ Liên hợp thư viện đa trạng thái/hình thức

+ Liên hợp thư viện liên kết chặt chẽ

+ Liên hợp thư viện quốc gia

Trang 29

CHƯƠNG 2:

LIÊN HỢP THƯ VIỆN VỀ CÁC NGUỒN TIN ĐIỆN TỬ

Ở VIỆT NAM 2.1 Lịch sử hình thành

Liên hợp Thư viện (Library Consortium) là một mô hình đã được các nước trên thế giới áp dụng từ lâu Một trong những liên hợp thư viện lớn nhất thế giới là Trung tâm Thư viện Máy tính Trực tuyến (Online Computer Library Center, viết tắt là OCLC), thành lập năm 1967 hay CONCERT (Liên hợp Thư viện các trường đại học và viện nghiên cứu của Đài Loan, thành lập năm 1998)

Nhằm tăng cường hiệu quả việc bổ sung tài liệu, tăng cường nguồn tài liệu

và sử dụng hiệu quả kinh phí, năm 1997, 5 thư viện tại Hà Nội là: Thư viện Khoa học và Kỹ thuật Trung ương, Thư viện Trường Đại học Bách khoa, Thư viện Đại học Quốc gia, Viện Thông tin Khoa học Xã hội và Viện Thông tin Khoa học (Trung tâm KH&CN Quốc gia) đã họp tại Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia (nay là Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ) thống nhất tăng cường công tác phối hợp bổ sung tài liệu và cuộc họp đã thành lập một Hội đồng phối hợp bổ sung tài liệu

Tháng 11 năm 2003, Mạng Ấn phẩm Khoa học Quốc tế, viết tắt là INASP (International Network for Availability of Scientific Publications), đã tổ chức một buổi thuyết trình về mục đích, hoạt động, dịch vụ của INASP và Chương trình Tăng cường Thông tin Nghiên cứu (PERI) của INASP cho đông đảo các cán bộ thư viện của các tỉnh phía Bắc ở Hà Nội và thư viện các tỉnh ở phía Nam tại Thư viện Đại học Cần Thơ Mục đích của INASP/PERI là hỗ trợ xây dựng năng lực nghiên cứu của các nước đang phát triển thông qua tăng cường việc tạo

ra, truy cập và phổ biến thông tin và tri thức Mục tiêu cụ thể của PERI là:

- Hỗ trợ bổ sung các nguồn thông tin nghiên cứu trong nước và quốc tế;

Trang 30

- Nâng cao khả năng truy cập vào các nguồn thông tin nghiên cứu trong nước thông qua việc cải thiện năng lực xuất bản và quản lý tạp chí khoa học trong nước;

- Hỗ trợ đào tạo về kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và đánh giá, quản lý các nguồn tin điện tử

Các chuyên gia của INASP cũng giới thiệu các nguồn tin (CSDL trực tuyến) truy cập miễn phí thông qua INASP/PERI và kinh nghiệm của mình trong việc giúp và hỗ trợ các nước đang phát triển ở châu Phi và châu Á đàm phán, đặt mua tạp chí điện tử với giá ưu đãi

Các nguồn tin chính đặt mua thông qua PERI là:

 EBSCO – http://www.epnet.com gồm trên 15,000 tạp chí toàn văn trong 8 CSDL bao trùm hầu hết các ngành khoa học công nghệ, xã hội nhân văn, giáo dục, kinh tế, y học

 Blackwells – http://www.blackwell-synergy.com gồm trên 800 tạp chí toàn văn đã được thẩm định, bao gồm các lĩnh vực khoa học sự sống, sinh thái học, y học, luật học, kinh tế, kế toán, nghiên cứu văn hóa, lịch

sử

 Và một số nguồn khác

Nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu, đào tạo, giảng dạy và học tập của Việt Nam thông qua việc bổ sung các nguồn tin điện tử cho các thư viện ở Việt Nam, tăng cường việc chia sẻ nguồn lực, sử dụng hiệu quả kinh phí bổ sung tài liệu và tập hợp trong một tổ chức để đàm phán với các nhà xuất bản, nhà phân phối CSDL, tháng 4 năm 2004 tại TP Hồ Chí Minh, một số tổ chức thông tin và thư viện lớn ở Việt Nam gồm: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (nay là Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia), Thư viện

Trang 31

Khoa học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Trung tâm Thông tin-Thư viện Đại học Quốc gia Việt Nam, Thư viện Đại học Quốc gia TP HCM, Thư viện Đại học

Cần Thơ đã thống nhất thành lập một liên hợp thư viện lấy tên là "Liên hợp thư viện Việt Nam về các nguồn tin điện tử" (tiếng Anh là Vietnam Library

1 Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia

2 Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh

3 Trung tâm Học liệu Đại học Đà Nẵng

4 Thư viện Trường Đại học Hoa Sen

5 Trung tâm Thông tin KH&CN Tp HCM

6 Thư viện Trường Đại học Nông nghiệp 1, Hà Nội

7 Thư viện Trường Đại học An Giang

8 Thư viện Trường Đại học Hà Nội

9 Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ

10 Thư viện trường Đại học Lâm Nghiệp

11 Thư viện trường Cao đẳng Hóa chất

12 Trung tâm Học liệu Đại học Huế

13 Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

Trang 32

14 Trung tâm Thông tin-Thư viện, Học viện Công nghệ Bưu chính viễn

thông

15 Thư viện Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh

16 Trung tâm Thông tin Tư liệu, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

17 Trung tâm Thông tin-Thư viện, Đại học Quốc gia Việt Nam

18 Trường Đại học Nha Trang

19 Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên

20 Trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Dân lập Hải Phòng

21 Trung tâm Thông tin-Thư viện trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

22 Thư viện Quốc gia Việt Nam

23 Trung tâm Thông tin Thư viện, Trường Đại học Vinh

24 Trung tâm Thông tin-Tư liệu trường Đại học Hàng hải

25 Thư viện Trường Đại học Nông lâm Tp Hồ Chí Minh

26 Thư viện Trường Đại học Tây Nguyên

Trong các cuộc họp tiếp sau đó, các thành viên của Liên hợp thư viện đã bầu ra Ban thường trực lâm thời và nhất trí đề nghị Cục Thông tin KH&CN Quốc gia là cơ quan điều phối của Liên hợp

Để đảm bảo sự phát triển và hoạt động hiệu quả của Liên hợp, trong Điều

lệ về tổ chức và hoạt động của Cục Thông tin KH&CN Quốc gia ban hành kèm theo Quyết định số 116/QĐ-BKHCN ngày 28/1/2010 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia có nhiệm vụ:

Trang 33

“ 7 Tổ chức và phát triển Thư viện khoa học và công nghệ Quốc gia và Liên hợp thư viện Việt Nam về các nguồn thông tin KH&CN (Vietnam Library Consortium); Chủ trì cập nhật, bổ sung và phát triển nguồn thông tin

Liên hợp thƣ viện đã xây dựng đƣợc quy chế hoạt động của mình, trong

đó nhấn mạnh “Liên hợp hoạt động theo tinh thần của Luật Khoa học và Công nghệ và Nghị định 159-2004/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ, trên cơ sở tự nguyện và sự đồng thuận của các thành viên tham gia” Quy chế có đày đủ các quy định về việc điều hành Liên hợp, quyền

và nghĩa vụ của các đơn vị tham gia, chia sẻ tài chính…

2.2 Nguồn tin điện tử của Liên hợp thƣ viện về các nguồn tin điện tử

Liên hợp thƣ viện đã phát triển đƣợc nguồn tin điện tử thông qua bổ sung các CSDL và tạp chí điện tử Sau đây là một số nguồn tin điện tử chủ yếu của Liên hợp thƣ viện về các nguồn tin điện tử:

2.2.1 Cơ sở dữ liệu EBSCO

EBSCO là một bộ cơ sở dữ liệu bao gồm gồm trên 15.000 tạp chí toàn văn trong 8 CSDL bao trùm hầu hết các ngành khoa học công nghệ, xã hội nhân văn, giáo dục, kinh tế, y học CSDL EBSCO cung cấp một nguồn tài nguyên điện tử toàn văn phong phú, có giá trị và đáng tin cậy để hỗ trợ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu

Địa chỉ truy cập: http://www.epnet.com

Tình hình khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu EBSCO:

Năm 2007 có 52 đơn vị đăng ký tham gia PERI Việt Nam, trong đó có 22

đơn vị đăng ký sử dụng EBSCO

Kết quả khai thác nguồn tin điện tử đƣợc trình bày trong các biểu đồ 1, 2

và 3 (Nguồn: Số liệu thống kê tình hình sử dụng CSDL EBSCO)

Trang 34

Tháng 1-6/06 Tháng 7-12/06 Tháng 1-5/07

Biểu đồ 1 Số lần truy cập vào CSDL EBSCO theo các khoảng thời gian

Trung bình mỗi lần truy cập là 54,8 phút

Tháng 1-6/06 Tháng 7-12/06 Tháng 1-5/07

Biểu đồ 2 Số lần tìn tin trong CSDL EBSCO

Ngày đăng: 19/07/2017, 18:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Minh Kiểm, Đào Mạnh Thắng (2010). Liên hợp thư viện Việt Nam về các nguồn tin điện tử - Một số kết quả hoạt động và nguồn tin phục vụ nghiên cứu và đào tạo về luật. Báo cáo trình bày tại Hội thảo “Thƣ viện Luật Việt Nam – Hợp tác và phát triển”, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên hợp thư viện Việt Nam về các nguồn tin điện tử - Một số kết quả hoạt động và nguồn tin phục vụ nghiên cứu và đào tạo về luật". Báo cáo trình bày tại Hội thảo “Thƣ viện Luật Việt Nam – Hợp tác và phát triển
Tác giả: Cao Minh Kiểm, Đào Mạnh Thắng
Năm: 2010
4. Nguyễn Viết Nghĩa (2002). Nghiên cứu các giải pháp bổ sung và khai thác nguồn tin điện tử tại Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Kỷ yếu Hội nghị ngành Thông tin Khoa học và công nghệ.-Lần thứ V; 2005, 33-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các giải pháp bổ sung và khai thác nguồn tin điện tử tại Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia
Tác giả: Nguyễn Viết Nghĩa
Năm: 2002
5. Nguyễn Viết Nghĩa (2005). Consortium - Hình thức có hiệu quả để bổ sung nguồn tin điện tử. Trong "Kỷ yếu Hội nghị ngành Thông tin Khoa học và công nghệ - Lần thứ V" . Hà Nội : Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia , 2005. . - tr. 33-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị ngành Thông tin Khoa học và công nghệ - Lần thứ V
Tác giả: Nguyễn Viết Nghĩa
Năm: 2005
8. Trần Thu Lan, Đào Mạnh Thắng (2007). Liên hiệp thư viện các nguồn tin điện tử: một số hoạt động và việc khai thác các nguồn tin điện tử của Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tiếp cận xây dựng thƣ viện số ở Việt Nam: Hiện trạng và vấn đề”. Hà Nội: Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc Gia, 2007,.-tr.41-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên hiệp thư viện các nguồn tin điện tử: một số hoạt động và việc khai thác các nguồn tin điện tử của Việt Nam". Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tiếp cận xây dựng thƣ viện số ở Việt Nam: Hiện trạng và vấn đề
Tác giả: Trần Thu Lan, Đào Mạnh Thắng
Năm: 2007
9. Vũ Anh Tuấn, Đặng Xuân Chế, Đào Mạnh Thắng. Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng và phát triển Liên hợp thư viện Việt Nam để chia sẻ nguồn tin KH&amp;CN (VietNam Library consortium on STI Resource). Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu cấp Bộ. Hà Nội: Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc Gia, 2007, 143 tr.B. Tài liệu trực tuyến Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng và phát triển Liên hợp thư viện Việt Nam để chia sẻ nguồn tin KH&CN (VietNam Library consortium on STI Resource)
6. Số liệu thống kê tình hình sử dụng CSDL EBSCO, 5/2007 7. Số liệu thống kê tình hình sử dụng CSDL Blackwells, 5/2007 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Chi phí ban đầu của TEBNET - Tìm hiểu một số vấn đề về liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử ở việt nam
Bảng 2. Chi phí ban đầu của TEBNET (Trang 18)
Bảng 1. Tóm lược bổ sung của các thư viện thành viên TEBNET - Tìm hiểu một số vấn đề về liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử ở việt nam
Bảng 1. Tóm lược bổ sung của các thư viện thành viên TEBNET (Trang 18)
Bảng 3: Danh sách thành viên Liên hợp Thư viện về các nguồn tin điện tử - Tìm hiểu một số vấn đề về liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử ở việt nam
Bảng 3 Danh sách thành viên Liên hợp Thư viện về các nguồn tin điện tử (Trang 31)
Năm  2006  AP đóng góp 35.000  Bảng  chiếm  19,5%  còn  NACESTI  đóng - Tìm hiểu một số vấn đề về liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử ở việt nam
m 2006 AP đóng góp 35.000 Bảng chiếm 19,5% còn NACESTI đóng (Trang 41)
Bảng 4: Tình hình sử dụng CSDL Proquest – 01/2009 – 7/2009 - Tìm hiểu một số vấn đề về liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử ở việt nam
Bảng 4 Tình hình sử dụng CSDL Proquest – 01/2009 – 7/2009 (Trang 43)
Bảng 6. Thoả thuận đóng góp kinh phí mua CSDL Proquest Central năm - Tìm hiểu một số vấn đề về liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử ở việt nam
Bảng 6. Thoả thuận đóng góp kinh phí mua CSDL Proquest Central năm (Trang 45)
Bảng 7: Tình hình sử dụng CSDL Proquest năm 2010 - Tìm hiểu một số vấn đề về liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử ở việt nam
Bảng 7 Tình hình sử dụng CSDL Proquest năm 2010 (Trang 48)
Bảng 8. Kinh phí đóng góp mua CSDL của Liên hợp thư viện - Tìm hiểu một số vấn đề về liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử ở việt nam
Bảng 8. Kinh phí đóng góp mua CSDL của Liên hợp thư viện (Trang 54)
Bảng 9. Tình hình khai thác một số CSDL của Liên hợp thư viện - Tìm hiểu một số vấn đề về liên hợp thư viện về các nguồn tin điện tử ở việt nam
Bảng 9. Tình hình khai thác một số CSDL của Liên hợp thư viện (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w