1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhu cầu tin của người dùng tin và mức độ đáp ứng tại trung tâm thông tin thư viện trường đại học sư phạm hà nội

85 296 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhu cầu thông tin để đáp ứng kịp thời đầy đủ và chính xác nhu cầu tin của người dùng tin là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các trung tâm thông tin - thư viện nói chun

Trang 1

Lời cảm ơn!

Với tấm lòng chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn cùng lời chúc tốt đẹp nhất đến PGS.TS Trần Thị Quý – Người đã tận tình hướng dẫn, dạy bảo tôi trong quá trình học tập tại trường và hoàn thành khóa luận này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong, ngoài khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn

và Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ thủ thư tại Trung tâm Thông tin- Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo để tôi hoàn thành khóa luận

Mặc dù đã nỗ lực cố gắng nhưng với thời gian hoàn thành khóa luận tốt nghiệp ngắn cộng với trình độ và khả năng có hạn của một sinh viên chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế về trình độ kiến thức

và kinh nghiệm thực tiễn Kính mong thầy cô giáo, các cán bộ thư viện, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm tới đề tài này đóng góp để khóa luận này được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, năm 2012 Sinh viên

Lê Thị Ngọc Anh

Trang 2

BẢNG DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

1 Từ viết tắt tiếng Việt

7 TT – TV Thông tin – Thƣ viện

8 TT TT – TV Trung tâm Thông tin – Thƣ viện

2 Từ viết tắt tiếng Anh

1 LIBOL Phần mềm quản trị thƣ viện tích hợp Cán bộ

giảng dạy

2 OPAC Online Publich Access (Mục lục truy cập

công cộng trực tuyến)

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xã hội hiện đại giáo dục đại học gắn liền với việc chuyển giao tri thức và nghiên cứu khoa học Đầu ra của hệ thống này là đội ngũ trí thức – nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội quốc gia Một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng quyết định chất lượng giáo dục đại học chính là khả năng cung cấp nguồn tin của các trung tâm thông tin – thư viện (TT – TV) và khả năng thúc đẩy việc tự học và tự nghiên cứu trong sinh viên ( Đào tạo theo phương thức tín chỉ) Bên cạnh

đó, vấn đề đón đầu và tranh thủ các thành tựu khoa học công nghệ của thế giới trong tiến trình xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước ta cũng đặt

ra cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam những thách thức đáng kể Các trung tâm thông tin – thư viện phải luôn đổi mới cả chất lượng và số lượng, đặc biệt là tăng cường hiệu quả phục vụ nhu cầu tin ngày càng cao của người dùng tin (NDT)

Hệ thống thư viện phải được tin học hóa Các trường nối mạng, liên kết khai thác tài liệu với nhau Thường xuyên cập nhật các tài liệu mới; có biện pháp khuyến khích người học, giảng viên, cán bộ quản lý khai thác Thống kê độc giả đến hằng năm trên tổng số người học và giảng viên của trường đạt tỉ lệ cao Có quan hệ trao đổi, hợp tác, khai thác, sử dụng thông tin - tư liệu với các thư viện đại học lớn trên thế giới Đảm bảo có đủ các chủng loại trang thiết bị và phương tiện học tập để hỗ trợ cho các hoạt động dạy, học và nghiên cứu khoa học, đáp ứng các yêu cầu của các ngành đào tạo, đổi mới và nâng cao chất lượng phục vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dùng tin

Trang 4

thông tin – thư viện Nghiên cứu nhu cầu thông tin để đáp ứng kịp thời đầy

đủ và chính xác nhu cầu tin của người dùng tin là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các trung tâm thông tin - thư viện nói chung và của Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Gọi tắt là Trung

tâm) nói riêng

Giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục hiện nay,Trung tâm luôn là môi trường quan trọng không thể thiếu để tạo điều kiện cho cán bộ, giảng viên, sinh viên nghiên cứu, học tập, nâng cao trình độ cũng như để giải trí sau những giờ học căng thẳng Với tầm quan trọng của mình, Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhận thấy cần phải thay đổi nhận thức trong tiếp cận người dùng tin, cần tìm hiểu nhu cầu tin của họ để đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả phục vụ nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm Do đó, trong những năm gần đây Trung tâm luôn luôn đổi mới và có nhiều thay đổi tích cực về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, hiệu quả phục vụ, luôn phấn đấu để đáp ứng tốt nhất nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm

Vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài: “ Nhu cầu tin của người dùng tin

và mức độ đáp ứng tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Tìm hiểu nhu cầu tin và mức độ đáp ứng của Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; góp phần đổi mới, nâng cao hiệu quả phục vụ đáp ứng nhu cầu tin của NDT tại Trung tâm

Đưa ra được những nhận xét, đánh giá hiệu quả và mức độ đáp ứng của của Trung tâm

Đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả phục vụ nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm

Trang 5

Nhiệm vụ

 Cơ sở lý luận về nhu cầu tin và mức độ đáp ứng của Trung tâm

Thông tin - Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

 Tìm hiểu khái quát về Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

 Tìm hiểu thực trạng nhu cầu tin của người dùng tin và mức độ đáp ứng của Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

 Đưa ra một số nhận xét và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả

phục vụ nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng

Nhu cầu tin của người dùng tin và mức độ đáp ứng của Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

* Phạm vi nghiên cứu

Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

- Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác Thư viện và Giáo dục - Đào tạo

- Dựa trên cơ sở lý luận của ngành Thư viện học và Thông tin học

- Tìm hiểu qua các đề tài nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin

* Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp:

+ Phương pháp khảo sát thực tế tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

+ Phương pháp quan sát

+ Phương pháp tham khảo, thống kê, phân tích và tổng hợp thông tin

từ các nguồn tài liệu khác nhau

Trang 6

+ Phương pháp điều tra nhu cầu tin bằng bảng hỏi

Đóng góp về mặt thực tiễn

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin, tìm hiểu mức độ đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội để xác định nguyên nhân và đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm

Trang 7

1.1 Nội hàm các khái niệm

1.1.1 Khái niệm nhu cầu và nhu cầu tin

 Khái niệm nhu cầu

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý nằm trong cấu trúc tâm lý chung của

con người Là đòi hỏi khách quan của con người với một đối tượng nhất

định, trong những điều kiện nhất định, đảm bảo duy trì cho sự sống và sự

phát triển của con người

Ai cũng có những nhu cầu nhất định trong suốt cuộc đời mình, trong

những thời điểm nhất định thì mỗi người lại có những nhu cầu khác nhau,

tạo nên một hệ thống nhu cầu Hệ thống nhu cầu của mỗi người luôn biến đổi

theo hoàn cảnh sống và tác động của xã hội Nhu cầu tồn tại trong mỗi người

nhưng tùy vào hoàn cảnh, điều kiện, tuổi tác, nghề nghiệp… mà nhu cầu nào

quan trọng, cấp thiết định hướng và chi phối các nhu cầu khác

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê Nin cho rằng: Nhu cầu là

đòi hỏi khách quan của con người với một đối tượng nhất định, trong những

điều kiện nhất định, đảm bảo duy trì cho sự sống và sự phát triển của con

người

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “ Nhu cầu là sự phản ánh một

cách khách quan các đòi hỏi về vật chất, tinh thần, xã hội của đời sống con

người phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kì Nhu

cầu hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Mức độ nhu cầu và

phương thức thỏa mãn nhu cầu về cơ bản phụ thuộc vào trình độ phát triển

của xã hội, trước hết là trình độ phát triển kinh tế”

Trang 8

 Khái niệm nhu cầu tin

Theo quan điểm của tâm lý học Mác xít, có thể coi nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người( cá nhân, nhóm, xã hội) đối với việc tiếp nhận

và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của con người Khi đòi hỏi thông tin trở nên cấp thiết thì nhu cầu tin xuất hiện

Nhu cầu tin là một dạng của nhu cầu tinh thần, nhu cầu bậc cao của con người Nhu cầu nảy sinh trong quá trình thực hiện các loại hoạt động khác nhau của con người Thông tin về đối tượng hoạt động, về môi trường

và phương tiện hoạt động là yếu tố quan trọng tạo nên hiệu quả hoạt động của con người Bất cứ hoạt động nào muốn có kết quả tốt đẹp cần phải có thông tin đầy đủ Hoạt động càng phức tạp bao nhiêu thì nhu cầu được cung cấp thông tin càng cao bấy nhiêu

Có thể nói, nhu cầu tin là yếu tố quan trọng để tạo nên động cơ của hoạt động thông tin và thư viện Vì thế có thể coi nhu cầu tin là nguồn gốc tạo ra hoạt động thông tin

Nhu cầu tin có vai trò định hướng cho hoạt động thông tin – thư viện, đồng thời luôn biến đổi, phát triển dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đặc biệt ảnh hưởng của môi trường sống và nghề nghiệp của người dùng tin Nhu cầu tin còn phản ánh sự cần thiết thông tin của một cá nhân, tập thể trong quá trình thực hiện một hoạt động nào đó Nhu cầu tin có thể thay đổi tùy theo công việc và nhiệm vụ mà người dùng tin phải thực hiện Vì thế nắm vững nhu cầu tin sẽ góp phần định hướng công tác xây dựng và phát triển nguồn tin, nâng cao chất lượng phục vụ

Trong thông tin học, người ta chia nhu cầu tin ra thành ba nhóm chủ yếu, đó là: Nhu cầu tin cá nhân, nhu cầu tin tập thể và nhu cầu tin cộng đồng Nhu cầu tin cá nhân là sự phản ánh một phần cụ thể của nhu cầu tin tập thể

và nhu cầu tin cộng đồng Nhu cầu tin tập thể và nhu cầu tin cộng đồng không tồn tại bên ngoài hoặc bên cạnh nhu cầu tin cá nhân

Trang 9

Như vậy, từ những quan điểm nêu trên có thể thấy rằng: Nhu cầu tin là loại nhu cầu tinh thần đặc biệt mang tính khách quan, không phụ thuộc vào

ý thức chủ quan của con người và là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Các nhu cầu tin của người dùng tin thường nảy sinh khi họ nắm bắt được những kết quả của một lĩnh vực mà họ tâm, khi họ cần nắm bắt được các thông tin dữ kiện, những số liệu, phương pháp cần cho công việc của họ Các nhu cầu tin này thay đổi tùy theo bản chất công việc và nhiệm vụ mà họ phải hoàn thành

1.1.2 Khái niệm yêu cầu tin và sở thích tin

 Yêu cầu tin

Yêu cầu tin là sự thể hiện bằng lời hoặc bằng văn bản một phần nhu cầu tin của NDT đối với hệ thống thông tin tại thời điểm nhất định Hay nói cách khác đi, yêu cầu tin là sự biểu hiện cụ thể của nhu cầu tin dưới dạng một loại thông tin nhất định

Trong công tác phục vụ thông tin, chu trình “ Nhu cầu tin – Yêu cầu tin” xảy ra hai trường hợp:

- Nhu cầu tin trùng khớp với yêu cầu tin Nghĩa là người dùng tin có khả năng diễn đạt yêu cầu tin trong nhu cầu tin

- Yêu cầu tin chỉ phản ánh một phần Nghĩa là người dùng tin không có khả năng diễn đạt hết nhu cầu tin của mình Thường trong trường hợp này người dùng tin phải nhờ sự hỗ trợ của cán bộ

- Trong nhiều trường hợp, nhu cầu tin của người dùng tin cụ thể thường được thể hiện qua các yêu cầu tin cụ thể Có 4 loại yêu cầu tin chủ yếu:

+ Thư mục: Yêu cầu cung cấp chỉ dẫn các tài liệu về một vấn đề nào

đó

+ Tài liệu: Yêu cầu liên quan đến nội dung tài liệu

+ Dữ kiện: Yêu cầu cung cấp những số liệu về những dữ kiện cụ thể

+ Kỹ thuật: yêu cầu tư vấn, môi giới…

Trang 10

Trong hoàn cảnh khách quan và chủ quan của mỗi con người mối quan hệ giữa nhu cầu tin và sở thích tin cũng có thể xảy ra hai trường hợp:

+ Nhu cầu tin trùng với sở thích tin

+ Sở thích tin chỉ trùng một phần với nhu cầu tin

Như vậy, có thể thấy rằng: Con người có sở thích tin chắc chắn sẽ có nhu cầu tin, nhưng con người có nhu cầu tin chưa chắc đã có sở thích tin

1.1.3 Khái niệm người dùng tin

Người dùng tin là khái niệm phổ biến thay cho khách hàng, bạn đọc Người dùng tin là cá nhân, nhóm cá nhân, tập thể, cơ quan, tổ chức sử dụng tài liệu và các dịch vụ của thư viện nhằm mục đích học tập nghiên cứu hoặc giải trí

Người dùng tin là người sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu của mình Người dùng tin là người có nhu cầu tin và chủ thể nhu cầu tin

Người dùng tin trước hết phải là người có nhu cầu tin, là chủ thể của nhu cầu tin Người dùng tin là một thực thể xã hội, nhu cầu tin của họ nảy sinh và tồn tại trong quá trình họ thực hiện các hoạt động sống và các quan

hệ xã hội khác

Trang 11

Người dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin Đó là đối tượng phục vụ của công tác thông tin tư liệu Người dùng tin vừa là khách hàng của các dịch vụ thông tin, đồng thời họ cũng sản sinh ra thông tin mới

Người dùng tin giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống thông tin Họ như là yếu tố tương tác hai chiều với các đơn vị thông tin Người dùng tin luôn là cơ sở để định hướng các hoạt động của đơn vị thông tin Người dùng tin tham gia vào hầu hết các công đoạn của dây chuyền thông tin Trong hoạt động Thông tin – Thư viện, chính sách bổ sung phụ thuộc vào yêu cầu của người dùng tin

1.1.4 Khái niệm mức độ đáp ứng nhu cầu tin

Hoạt động TT – TV có vai trò hết sức quan trọng trong bối cảnh nguồn thông tin gia tăng mạnh mẽ như hiện nay Nó không những phục vụ nhu cầu tra cứu của các nhà khoa học, những người quan tâm mà còn đảm nhiệm vai trò lưu trữ và bảo tồn các giá trị văn hoá của dân tộc và thế giới

Ở các thư viện nói chung, Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nói riêng thì việc nghiên cứu nhu cầu tin và đáp ứng nhu cầu tin của NDT có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhờ đó nó thúc đẩy

sự phát triển của Trung tâm và việc đáp ứng nhu cầu tin sẽ trở nên dễ dàng, phục vụ sẽ hiệu quả hơn

Mức độ đáp ứng nhu cầu TT – TV được hiểu là việc thỏa mãn nhu cầu, yêu cầu thông tin của người dùng tin tại trung tâm, thư viện đó tới đâu

và phương thức thỏa mãn như thế nào? khả năng đáp ứng thông tin và nhu cầu sử dụng thông tin của NDT là bao nhiêu?

Ở mỗi trung tâm, thư viện thì mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin là khác nhau Tùy vào hiệu quả hoạt động, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn lực thông tin, đội ngũ cán bộ, các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện…mà các thư viện có thể đáp ứng nhu cầu của người dùng tin tới đâu,

có thể thỏa mãn tối đa nhu cầu tin của người dùng tin hay chỉ thỏa mãn một phần nhu cầu tin và không thỏa mãn được nhu cầu tin của NDT

Trang 12

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tin của người dùng tin

1.2.1 Môi trường kinh tế - xã hội

Nhu cầu tin được hình thành và phát triển trong quá trình phát triển của nền kinh tế và xã hội, chịu ảnh hưởng của điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể Hoàn cảnh lịch sử - xã hội thể hiện trên hai phương diện cụ thể là chế độ chính trị - xã hội và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật

Hiện nay khoa học kỹ thuật ngày càng phong phú thì nhu cầu tin ngày càng phong phú, đa dạng, đòi hỏi ngày một cao hơn Tài liệu điện tử ngày càng phổ biến, thay thế tài liệu truyền thống, mạng internet và công nghệ thông tin ngày càng phổ biến…bên cạnh đó sản xuất phát triển làm cho đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao đã ảnh hưởng lớn tới các hoạt động sống và nhu cầu tin của con người Các thông tin được cung cấp phải chuyên sâu hơn, rộng hơn, bao quát hơn Để đáp ứng nhu cầu tin này đòi hỏi người cung cấp thông tin phải có trình độ chuyên môn sâu, kỹ thuật cao và hiểu biết rộng, am hiểu và tinh thông nhiều vấn đề

Xã hội ngày càng phát triển, nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhiều lĩnh vực mới và nhiều người quan tâm và họ sẽ cần nhiều thông tin liên quan tới các lĩnh vực đó, nhu cầu tin từ đó sẽ phát sinh theo và cần được đáp ứng những thông tin cụ thể và thiết thực, kịp thời

Xã hội phát triển, các quan hệ xã hội lành mạnh, hài hòa, chế độ dân chủ cũng góp phần làm cho con người sống thoải mái, tự do hơn, phong phú hơn, kích thích nhu cầu tin phát triển

1.2.2 Yếu tố nghề nghiệp

Hoạt động lao động, nghề nghiệp là hoạt động chủ đạo trong một giai đoạn rất dài của cuộc đời, từ khi con người đến tuổi lao động đến lúc già yếu không đi làm được nữa Lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất nuôi sống con người mà lao động còn giúp con người trở nên minh mẫn, sáng tạo, năng động, thông minh, tiến hóa hơn Vì vậy tính chất hoạt động lao động nghề

Trang 13

nghiệp ảnh hưởng lớn tới xu thế phát triển của con người, ảnh hưởng tới mọi hoạt động sống và hệ thống nhu cầu của con người, trong đó có nhu cầu tin

Nghề nghiệp là một từ dùng để chỉ những hoạt động lao động khác nhau của mỗi người khác nhau Mỗi người thì có mỗi lĩnh vực lao động khác nhau hay nói cách khác mỗi người có những nghề nghiệp khác nhau Ở những nghề nghiệp khác nhau thì họ lại có những nhu cầu, yêu cầu tin khác nhau phù hợp với lĩnh vực, nghề nghiệp của họ

Nghề nghiệp khác nhau thì nhu cầu thông tin, tập quán, thói quen sử dụng thông tin của họ cũng sẽ khác nhau

Ví dụ: Nếu người dùng tin đó là giáo viên thì nhu cầu tin của họ sẽ thiên nhiều về lĩnh vực giáo dục, các tài liệu giảng dạy, nghiên cứu Người dùng tin là kỹ sư thì nhu cầu tin của họ chủ yếu là các tài liệu về kỹ thuật, khoa học tự nhiên Người dùng tin là bác sỹ thì nhu cầu tin của họ chủ yếu là các tài liệu về y học,…

1.2.3 Trình độ học vấn

Trình độ học vấn ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu tin của người dùng tin Người hiểu biết càng cao thì nhu cầu đọc, nhu cầu tin càng lớn, càng sâu rộng Người có học vấn thấp thường có nhu cầu tin đơn giản hơn, thông tin ít hơn, thông tin cung cấp cần dễ hiểu và có nội dung đơn giản hơn

1.2.4 Yếu tố lứa tuổi

Mỗi giai đoạn lứa tuổi trong cuộc đời con người có những đặc điểm tâm sinh lý riêng do hoạt động chủ đạo chi phối Tâm lý học phân chia cuộc đời con người thành bốn giai đoạn lứa tuổi tương ứng những hoạt động chủ đạo có tính chất khác nhau: giai đoạn trước tuổi học, giai đoạn học tập, giai đoạn tham gia lao động sản xuất, giai đoạn nghỉ lao động Các đặc điểm tâm

lý lứa tuổi ảnh hưởng khá rõ rệt đến nhu cầu tin, nội dung và phương thức

thỏa mãn nhu cầu tin của người dùng tin

Tuổi tác có ảnh hưởng đến tâm lý, nhận thức của con người, do đó ảnh hưởng đến nhu cầu tin của người dùng tin Tuổi tác càng cao thì nhu cầu tin

Trang 14

chủ yếu về chuyên sâu hơn, người dùng tin trẻ thường có nhu cầu tin mang tính khám phá khoa học, nhiều thông tin hơn

1.2.5 Yếu tố giới tính

Đặc điểm giới tính được hình thành bởi các yếu tố: cấu trúc sinh lý, năng lực, tâm lý Những đặc điểm đó ảnh hưởng đến nhu cầu tin của con người

Ở nam giới có tính cách mạnh mẽ, tự tin, phóng khoáng, thích cái mới

và tìm tòi cái mới, có đầu óc sáng tạo, tư duy logic…nên nhu cầu tin của họ cũng khác với nữ giới có tính cách mềm mại, dịu dàng, không thích sự xê dịch, tính cách bảo thủ hơn…

Các đặc điểm giới tính cũng được biểu thị trong sắc thái nội dung và cách thức thỏa mãn nhu cầu tin của mỗi người

1.2.6 Yếu tố sở thích cá nhân

Sự tác động của môi trường, xã hội, hoàn cảnh sống đến mỗi người là không giống nhau Mỗi người đều có những nhu cầu, sở thích, tính cách khác nhau, không ai giống nhau, do đó nhu cầu tin của mỗi người cũng khác nhau Sở thích cá nhân khác nhau nên nhu cầu nói chung và nhu cầu tin là khác nhau

1.3 Trường Đại học Sư phạm Hà Nội với sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học

1.3.1 Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (gọi tắt là Trường hay ĐHSPHN) chính thức được thành lập ngày 11/10/1951 theo Nghị định của Bộ Quốc gia Giáo dục Song quá trình hình thành và phát triển của Nhà trường lại được bắt đầu từ một sự kiện quan trọng, đó là ngày 10 tháng 10 năm 1945, tức là

chỉ hơn một tháng sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Ban Đại học Văn khoa tại Hà Nội, trong đó nhiệm vụ đầu tiên là đào tạo giáo viên Văn khoa Trung học Một một năm sau đó, ngày 8 tháng 10 năm

Trang 15

1946, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh số 194/SL thành lập ngành học Sư phạm, đào tạo giáo viên cho các bậc học cơ bản, trung học phổ thông, trung học chuyên khoa, thực nghiệm và chuyên nghiệp trong toàn quốc

Sự kiện thành lập Ban Đại học Văn khoa - tổ chức tiền thân của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội mở đầu cho quá trình hình thành và phát triển của ngành sư phạm cách mạng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt và tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục Sau này, nhà trường còn có vinh dự được hai lần đón Bác về thăm (năm 1960 và năm 1964) Lời căn dặn của Người đã trở thành niềm tự hào và mục tiêu phấn đấu không biết mệt mỏi của lớp lớp các thế hệ cán bộ và sinh viên Nhà trường

trong suốt quá trình xây dựng và phát triển Người nói: "Làm thế nào để Nhà trường này chẳng những là trường sư phạm mà còn là trường mô phạm của

cả nước” và "Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất Dù tên tuổi không được đăng trên báo, không được thưởng Huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh”

Trong quá trình phát triển, dù đã nhiều lần đổi tên: Trường Sư phạm Cao cấp, Trường ĐHSP Hà Nội 1, Trường ĐHSP-ĐHQG Hà Nội và Trường ĐHSP Hà Nội như ngày nay, Nhà trường vẫn luôn đứng ở vị trí là trường ĐHSP đầu ngành, trọng điểm, cái nôi, cái máy cái của ngành sư phạm cả nước Hàng chục vạn giáo viên các cấp, các chuyên gia giáo dục, trong đó có nhiều nhà hoạt động chính trị có uy tín, nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, mà tên tuổi của họ mãi làm rạng danh nền học vấn nước nhà Đó là các giáo sư Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Trần Văn Giàu, Cao Xuân Huy, Phạm Huy Thông, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Lân hay nhà văn Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ Phạm Tiến Duật … tất cả đã cống hiến và trưởng thành từ mái trường này Nhiều giảng viên của Trường là những chuyên gia đầu ngành có uy tín không chỉ trong

Trang 16

nước, mà cả trong khu vực và trên thế giới Đến nay, trường đã có 70 giảng

viên được phong học hàm Giáo sư, hơn 350 Phó Giáo sư, 33 Nhà giáo Nhân dân và 118 Nhà giáo Ưu tú

Không chỉ trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, sự cống hiến của Nhà trường còn thể hiện trong những năm tháng đấu tranh quật cường của đất nước Trong kháng chiến Chống Mỹ cứu nước, ĐHSPHN là một trong những cái nôi của “Phong trào Ba sẵn sàng”; là nơi hàng nghìn sinh viên và cán bộ ưu tú đã "xếp bút nghiên lên đường ra trận”, hàng trăm giáo viên và sinh viên đã “vượt Trường Sơn” vào miền Nam xây dựng nền giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng

Trải qua hơn 60 năm thành lập, Trường ĐHSPHN luôn là Trường trọng điểm của nền giáo dục đào tạo, nền Đại học Việt Nam; đầu ngành trong hệ thống các trường sư phạm, là Trung tâm lớn về đào tạo giáo viên và nghiên cứu khoa học tạo nên nhiều nhân tài , nhiều nhà khoa học danh tiếng không chỉ trong nước mà còn cả trên thế giới

Với những thành tích đã đạt được, Nhà trường đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Lao động hạng Ba năm 1961, Huân chương Lao động hạng Nhì năm 1962, Huân chương Lao động hạng Nhất năm 1981, Huân chương Độc lập hạng Nhì năm

1986, Huân chương Độc lập hạng Nhất năm 1996, Huân chương Hồ Chí Minh năm 2001 và danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lao động thời kì đổi mới năm 2004 Năm 2010 trường ĐHSP Hà Nội đã được đề nghị Nhà nước tặng thưởng Huân chương Bảo vệ tổ quốc

1.3.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Trường

Dưới sự điều hành của Ban giám hiệu, Đảng ủy Trường ĐHSPHN hiện

có 23 khoa đào tạo và 2 bộ môn trực thuộc, bao gồm các khoa: Toán - Tin, Công nghệ Thông tin, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Sư phạm Kĩ thuật, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Việt Nam học, Giáo dục Chính trị, Tâm lí - Giáo dục, Quản lí Giáo dục, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non, Giáo dục Thể chất, Giáo

Trang 17

dục Quốc phòng, Giáo dục Đặc biệt, Sư phạm Âm nhạc - Mĩ thuật, Tiếng Anh, Tiếng Pháp, Khoa Triếc học, Khoa Công tác Xã hội; các Bộ môn Tiếng Nga và bộ môn Tiếng Trung Quốc Trường có 2 trường THPT trực thuộc: Trường THPT Chuyên và Trường THPT Nguyễn Tất Thành; có 2 viện nghiên cứu là Viện Nghiên cứu Sư phạm và Viện Khoa học Xã hội; hơn 20 trung tâm nghiên cứu và chuyển giao KHCN và khoa học giáo dục trực thuộc

Nhà trường có đội ngũ giảng viên hùng hậu với trên 1.300 cán bộ; trong đó cán bộ, giảng dạy, nghiên cứu của Trường có nhiều người có học hàm Giáo sư, phó giáo sư, học vị Tiến sĩ khoa học…Nhà trường luôn chú trọng đến bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kế cận để đáp ứng những nhu cầu mới Nhà trường với thế mạnh về đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu có thể xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình chất lượng cao phục vụ yêu cầu đào tạo của Trường và cung cấp cho ngành sư phạm Nhà trường rất chú trọng chương trình đổi mới và phương pháp dạy và học, sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình sử dụng và quản lý

Đến nay, Nhà trường đã đào tạo được hơn 81.000 cử nhân khoa học, hơn 9.000 thạc sỹ và trên 830 tiến sĩ Nhà trường hiện nay còn là một trung tâm nghiên cứu khoa học lớn Trường có quan hệ hợp tác với hơn 100 trường đại học và các tổ chức giáo dục thuộc 34 quốc gia trên thế giới

1.3.3 Chức năng và nhiệm vụ của Trường

Trường ĐHSPHN là trường trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống các trường sư phạm, là trung tâm lớn nhất về đào tạo giáo viên, nghiên cứu khoa học - đặc biệt là khoa học giáo dục của cả nước Sứ mạng của Trường là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ đại học và trên đại học, bồi dưỡng nhân tài cho hệ thống giáo dục quốc dân và xã hội; NCKH cơ bản, khoa học giáo dục và khoa học ứng dụng đạt trình độ tiên tiến; cung cấp dịch

vụ giáo dục và khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế Trường có vai trò nòng cốt cho hệ

Trang 18

thống các trường sư phạm trong việc đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và cán

bộ quản lí giáo dục, phát triển các chương trình đào tạo, biên soạn chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, cho các bậc học, tư vấn các cấp quản lý xây dựng chính sách giáo dục

1.4 Trung tâm Thông tin – Thư viện với nhiệm vụ chính trị của Trường

1.4.1 Quá trình hình thành và phát triển

Lịch sử hình thành và phát triển của Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học sư phạm Hà Nội luôn gắn với quá trình hình thành và phát triển của Nhà trường 60 năm qua

Khi mới thành lập Thư viện mới chỉ là một tổ chuyên môn phục vụ đào tạo, vốn tài liệu nghèo nàn , thiếu thốn Từ sau năm 1975, hòa bình lặp lại đất nước bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế Thời gian này Thư viện cũng phát triển nhanh chóng với các tài liệu đa dạng, số lượng cán bộ có chuyên môn tăng lên, cơ sở vật chất được cải thiện, đầy đủ hơn

Năm 1999 Đại học Sư phạm Hà Nội tách ra khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện trường cũng tách ra, từ đây Thư viện có tên chính thức là Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội Năm 2004, Trung tâm đã có một cơ ngơi khang trang là tòa nhà 4 tầng khép kín đã hoàn thành và đi vào sử dụng với 5000m2, trang thiết bị hiện đại với đội ngũ cán

bộ đa số được đào tạo đúng chuyên ngành, có năng lực đáp ứng cơ bản cho yêu cầu hoạt động của Trung tâm

Với lịch sử hơn 60 năm xây dựng và phát triển, đến nay Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường ĐHSPHN đã và đang khẳng định mình về mọi mặt, đã trở thành một trong những trung tâm thông tin – thư viện đại học lớn, đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu tin, đặc biệt là nhu cầu giáo dục đào tạo của nhà trường nói riêng và của cả nước nói chung

1.4.2 Chức năng và nhiệm vụ

Với lịch sử hơn 60 năm hình thành và phát triển, Trường ĐHSPHN luôn là nơi đào tạo đội ngũ cán bộ giáo viên lớn nhất cả nước, là lực lượng

Trang 19

quan trọng, không thể thiếu trong việc truyền bá những tri thức cho các thế

hệ Đặc biệt Trung tâm có chức năng nhiệm vụ vô cùng quan trọng

- Chia sẻ nguồn tài liệu đối với các trường đại học khác phục vụ tốt nhất nhu cầu học tập và nghiên cứu của cán bộ, sinh viên, giảng viên trong

và ngoài Nhà trường

Nhiệm vụ

+ Tham mưu, lập kế hoạch dài hạn, ngắn hạn cho Ban giám hiệu về công tác thông tin tư liệu phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu, phát triển trong từng giai đoạn của Nhà trường

+ Thu thập, bổ sung, xử lý và cung cấp tài liệu, thông tin về các lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học giáo dục và các khoa học khác nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, giảng dạy và nghiên cứu của cán bộ, giảng viên, sinh viên trong và ngoài Nhà trường

+ Tổ chức sắp xếp, lưu trữ, lưu chiểu thông tin, ấn phẩm do Nhà trường xuất bản, các tài liệu nội sinh, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại trường và các cơ quan khác

+ Xây dựng hệ thống tra cứu tìm tin theo phương pháp truyền thống

và hiện đại nhằm phục vụ nhu cầu tra cứu và phổ biến thông tin

+ Nghiên cứu khoa học thông tin thư viện, ứng dụng thành tựu kỹ thuật mới vào việc xử lý và phục vụ nhu cầu của bạn đọc

+ Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ quản

lý Thông tin Thư viện của các cán bộ thư viện và kỹ năng, thao tác sử dụng thư viện của người dùng tin

Trang 20

+ Duy trì và phát triển các mối quan hệ nhằm trao đổi và chia sẻ nguồn lực thông tin với các cơ quan TT – TV của các trường Đại học, các Tổ chức khoa học trong và ngoài nước như Liên hiệp Thư viện Việt Nam, Liên hiệp Thư viện quốc tế…

+ Xây dựng quy chế hoạt động, các nội quy của Trung tâm nhằm quản

lý tốt vốn tài liệu

+ Đảm bảo cung cấp thông tin cho NDT một cách đầy đủ, chính xác, đúng đối tượng, điều tra, đánh giá đúng nhu cầu thông tin của cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên trong trường Từ đó có thể tổ chức và hoàn thiện hoạt động, tạo điều kiện để cung cấp thông tin một cách chính xác, phù hợp với nhu cầu tin của NDT

P Đọc sách (Kho đóng)

P Tra cứu (Kho mở)

P Đọc Báo, tạp chí, LA (Kho đóng)

P Đọc Báo, tạp chí (Kho đóng)

TỔ TIN HỌC

P Máy chủ

Phòng Internet 1

Phòng Internet 2

Phòng Multimedi

a

TỔ BẢO VỆ

VÀ VỆ SINH

Trang 21

- Ban giám đốc gồm có 04 người: 01 Giám đốc, 03 Phó giám đốc phụ trách công tác chuyên môn và phục vụ bạn đọc

- Trung tâm được tổ chức thành 04 nhóm phòng chính là:

+ Nhóm phòng nghiệp vụ gồm các bộ phận bổ sung – trao đổi, biên mục, xử lý nghiệp vụ và làm thẻ, quản lý bạn đọc trong suốt quá trình sử dụng tài liệu tại Trung tâm Đây là nơi tiếp nhận tài liệu và tài liệu và thực hiện chu trình đường đi của tài liệu tại Trung tâm

+ Nhóm phòng mượn có 03 phòng: phòng mượn giáo trình (101 và 110), phòng mượn tài liệu tham khảo ( Phòng 201)

+ Nhóm phòng đọc có 04 phòng: Phòng đọc sách( kho đóng, Phòng 301), Phòng đọc sách tra cứu( Kho mở, Phòng 302), Phòng đọc báo – tạp chí( Kho mở, Phòng 203), Phòng đọc luận án, báo, tạp chí ( Kho đóng, Phòng 401)

+ Nhóm phòng tin học gồm 04 phòng: Phòng máy chủ (P403), Phòng

đa phương tiện (P402), Phòng khai thác Internet ( P.404, P.405)

Mỗi nhóm phòng là một bộ phận hữu cơ, không thể thiếu của Trung tâm, liên kết với nhau tạo nên hoạt động liên tục của Trung tâm Tuy ở mỗi phòng lại có những chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng các phòng luôn luôn hỗ trợ nhau và tạo nên một dây chuyền thông tin tư liệu khép kín, hoạt động hiệu quả cao nhất và phục vụ bạn đọc – người dùng tin một cách tốt nhất

1.4.4 Đội ngũ cán bộ

Hiện nay Trung tâm gồm 33 cán bộ làm công tác thư viện, trong đó có: 08 cán bộ trình độ thạc sỹ chuyên ngành Thông tin Thư viện, 25 cán bộ trình độ cử nhân đại học chuyên ngành Thông tin Thư viện, lịch sử, tin học,

kế toán…

Ngoài ra cón có 08 cán bộ làm công tác vệ sinh kho sách, các phòng thư viện và bảo vệ

Trang 22

Đội ngũ cán bộ tại Trung tâm còn rất trẻ, năng động, nhiệt tình, có độ tuổi từ 25 – 40 tuổi, có trình độ chuyên môn tốt có thể đáp ứng tốt yêu cầu và nhiệm vụ phát triển của Trung tâm, phục vu tốt nhất nhu cầu của Người dùng tin (NDT) tại Trung tâm

Trung tâm luôn luôn tạo điều kiện cho các cán bộ được đi học bồi dưỡng nghiệp vụ Thư viện, thăm quan học tập, giao lưu học hỏi tại các Trung tâm Thông tin – Thư viện, các viện nghiên cứu ở trong và ngoài nước như Thái Lan, Trung Quốc, Úc

1.4.5 Cơ sở vật chất

Giữ vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo của đất nước, được sự đầu tư của Nhà trường qua dự án của Ngân hàng thế giới và chương trình “ Dự án giáo dục”, Trung tâm đã có một cơ ngơi khang trang vơi tòa nhà 4 tầng, diện tích sử dụng trên 5000m2, trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện đại: bàn ghế, tủ phích mục lục được trang bị mới phù hợp, tiện ích, đồng bộ; các phòng tiện ích, đầy đủ chỗ ngồi, ánh sáng, thoáng mát : Phòng đọc tổng hợp; phòng luận án, tạp chí; phòng đọc mở; phòng đọc báo, tạp chí Hệ thống các phòng được bố trí như sau:

+ Tầng 1: Phòng Giám đốc( Phòng 105), Phòng Phó Giám đốc(

Phòng 102, 106), Phòng nghiệp vụ ( Phòng 103), Phòng làm thẻ( Phòng 104), Phòng mượn sách giáo trình( Phòng 101), Phòng bảo vệ và các phòng dịch vụ khác

+ Tầng 2: Phòng mượn sách tham khảo( Phòng 201), Phòng đọc báo,

tạp chí mở( Phòng 203); Phòng hội thảo( Phòng 204)

+ Tầng 3: Phòng đọc sách kho đóng ( Phòng 301), Phòng đọc sách

kho mở ( Phòng 302)

+ Tầng 4: Phòng đọc báo, tạp chí, luận án, luận văn kho đóng (Phòng

401); Phòng khai thác internet, Phòng đọc đa phương tiện

Trang 23

Cơ sở vật chất khang trang, môi trường, khuôn viên xanh – sạch – đẹp

là điều kiện thuận lợi để Thư viện phát triển thành Trung tâm văn hóa, giáo dục của Nhà trường và đất nước nói chung

Nhằm hiện đại hóa cho việc tra cứu, tìm kiếm thông tin, hiện đại các hoạt động thư viện, Trung tâm đã trang bị được trang thiết bị hiện đại:

- Máy tính: Toàn bộ hệ thống máy tính phục vụ các chức năng cơ bản như quản lý CSDL, tra tìm tài liệu và phục vụ bạn đọc qua hệ thống phương tiện nghe, nhìn hiện đại Hiện nay, Thư viện có 150 máy tính nối mạng, 04 máy chủ với bộ lưu điện, chống sét

- Hệ thống máy in mạng: 08 máy

- Máy in lazer độc lập: 08 máy

- Máy quét: 08 máy ( Trong đó 04 máy A3, 04 máy A4)

- Máy ảnh kỹ thuật số: 01 máy

- Máy chiếu: 02 máy

Trang 24

đọc, Ấn phẩm định kỳ, Quản lý hệ thống Số lượng CSDL được quản trị trên phần mềm này gồm:

+ CSDL tài liệu: 74.529 biểu ghi

+ CSDL bạn đọc: 12.872 biểu ghi

Trung tâm đã tin học hóa gần hết các hoạt động quản lý và phục vụ bạn đọc: Quản lý công tác bổ sung, biên mục tự động, xây dựng cơ sở dữ liệu, phục vụ bạn đọc tra cứu và tìm kiếm thông tin qua mạng, quản lý bạn đọc, thống kê bạn đọc, thống kê tài liệu, tạo ra các sản phẩm thông tin: Thư mục giới thiệu tài liệu mới, các loại báo cáo…

Các trang thiết bị và cơ sở vật chất của Trung tâm hiện nay đã có thể

đủ điều kiện để vận hành được theo một mô hình thư viện hiện đại Đây chính là điều kiện cơ bản để Trung tâm luôn đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của NDT một cách nhanh chóng, phù hợp và chính xác

1.5 Đặc điểm vốn tài liệu của Trung tâm

Nhận thấy được vai trò, vị trí quan trọng của thư viện đối với hoạt động của nhà trường nói chung, đối với việc nâng cao chất lượng giảng dạy

và học tập nói riêng, hơn 60 năm xây dựng và phát triển, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Nhà trường luôn dành cho Thư viện sự quan tâm đầy đủ về mọi mặt Để không ngừng nâng cao chất lượng công tác phục vụ bạn đọc, đáp ứng nhu cầu của đông đảo người dùng tin, phục vụ tốt mục tiêu đào tạo

và nghiên cứu khoa học của nhà trường, Trung tâm đã có nhiều cố gắng đạt được những thành tích nhất định trên các hoạt động, đặc biệt Trung tâm đã xây dựng được một nguồn lực thông tin có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu nghiên cứu, học tập của đông đảo sinh viên, giảng viên, cán bộ trong và ngoài nhà trường

Hiện nay, Trung tâm có một vốn tài liệu vô cùng đa dạng, phong phú, đầy đủ về nội dung và đa dạng về hình thức: sách, báo, tạp chí, luận án, luận văn, cơ sở dữ liệu…Tính đến tháng 03/2011 có khoảng 90.000 tên với hơn 350.000 cuốn

Trang 25

1.5.1 Đặc điểm vốn tài liệu truyền thống

Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường ĐHSPHN hiện đang lưu giữ một khối lượng lớn tài liệu được hình thành trong hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu của Nhà trường Trong đó, ước tính nguồn tin nội sinh của Thư viện có khoảng 90.000 cuốn, chiếm 25% tổng số vốn tài liệu Nguồn tài liệu này bao gồm các loại hình: Luận án, luận văn, giáo trình, tài liệu dịch, xuất bản phẩm định kỳ (tạp chí, bản tin), báo cáo, kỷ yếu hội nghị khoa học,

đề tài nghiên cứu khoa học…

+ Sách: 45.841 tên sách, tương ứng với 226.664 cuốn sách

+ Luận án, Luận văn: 10.237 tên, tương ứng 12.833 cuốn

+ Báo: có trên 40 tên báo nhập theo hàng ngày, tháng, quý, nhiều loại được lưu trữ từ những năm 1954

+ Tạp chí: Trên 935 tên tạp chí ( Tiếng Việt, Latinh, Nga) tương ứng với gần 50.000 cuốn

+ Tài liệu tra cứu: 35.000 cuốn

1.5.2 Đặc điểm vốn tài liệu hiện đại

- CSDL: Có trên 74.529 biểu ghi, trong đó sách có trên 45.841 biểu ghi; bài trích, tạp chí 15.498 biểu ghi; luận án, luận văn 10.237 biểu ghi; tạp chí 935 biểu ghi; đề tài nghiên cứu các loại gần 2000 biểu ghi

- Băng video: 87 băng

- Băng cassette: 157 băng

- Đĩa CD-ROM: 1.259 đĩa

Ngoài ra Trung tâm đã mua các phần mềm, CSDL phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập:

+ CSDL Tạp chí tiếng Việt

+ CSDL Đề tài nghiên cứu cấp Bộ và cấp Nhà nước từ 1984 – 2008

+ CSDL Tạp chí điện tử trực tuyến của Viện vật lý Mỹ (IOP)

+ CSDL Tạp chí khoa học, giáo dục Anh – Mỹ (1983 – 2007)

+ Phần mềm học tiếng Anh

Trang 26

+ CSDL Tạp chí điện tử trực tuyến của Hội hóa học Hoàng gia Anh( RSC)

1.6 Vai trò của việc nghiên cứu nhu cầu tin nói chung và tại Trung tâm nói riêng

1.6.1 Vai trò của nghiên cứu nhu cầu tin nói chung

Hệ thống thông tin muốn đạt được hiệu quả kinh tế và khoa học thì phải nghiên cứu kỹ nhu cầu thông tin của người dùng tin Việc nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin nói chung có ý nghĩa vai trò hết sức quan trọng:

+ Nghiên cứu nhu cầu tin để các thư viện tổ chức xây dựng các sản phẩm thông tin, thiết kế mối quan hệ thông tin, các dịch vụ thông tin, hệ thống thông tin và xây dựng các công cụ thông tin tương ứng phù hợp với từng đối tượng người dùng tin để đảm bảo cho hệ thống thông tin đạt kết quả cao

+ Việc nghiên cứu nhu cầu tin còn giúp thư viện xây dựng chương trình đào tạo người dùng tin, đảm bảo cho họ có những kiến thức sâu rộng về thông tin và sử dụng thành thạo các phương tiện hiện đại

+ Nghiên cứu nhu cầu tin giúp các thư viện tạo ra nguồn tin phù hợp với từng đối tượng người dùng tin, từng mức độ người dùng tin

1.6.2 Vai trò của nghiên cứu nhu cầu tin tại Trung tâm nói riêng

Người dùng tin là thành phần không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động của một cơ quan thông tin – thư viện nào Người dùng tin và nhu cầu tin của

họ là cơ sở để định hướng cho toàn bộ hoạt động thông tin của một cơ quan

TT – TV nói chung và Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nói riêng

Nghiên cứu nhu cầu thông tin để đáp ứng kịp thời đầy đủ và chính xác nhu cầu tin của người dùng tin là một trong những nhiệm vụ quan trọng của thư viện nói chung và của các trung tâm thông tin – thư viện trường đại học nói riêng

Trang 27

Người dùng tin tại Trung tâm khá đa dạng và phong phú, mỗi nhóm người dùng tin đều có sở thích, nhu cầu tin khác nhau song đều có điểm chung: Họ vừa là người khai thác sử dụng, vừa là người cung cấp thông tin

Do đó việc nghiên cứu nhu cầu tin của họ để biết được họ cần những gì? Trung tâm đã đáp ứng nhu cầu tin của họ đến đâu? Những tồn tại và hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin….từ đó Trung tâm sẽ có những kế hoạch, những hoạt động, phương pháp phù hợp; xây dựng các sản phẩm, cải tiến, đổi mới các dịch vụ…phục vụ hiệu quả nhu cầu tin của người dùng tin

Việc nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin còn giúp Trung tâm xây dựng chương trình đào tạo người dùng tin, giúp họ nắm bắt các kỹ năng khai thác thông tin, học hỏi được nhiều hơn, mở mang trình độ, khai thác triệt để nguồn lực thông tin quý báu tại Trung tâm

Như vậy, nghiên cứu nhu cầu tin là vô cùng quan trọng và cần thiết, không thể thiếu để giúp thư viện nắm bắt được nhu cầu tin của người dùng tin, xem họ cần những thông tin gì, những tài liệu và vấn đề thuộc lĩnh vực nào… từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thông tin – thư viện, đáp ứng tốt nhất nhu cầu tin của người dùng tin Và quan trọng hơn, giúp thư viện trở thành giảng đường thứ hai của người dùng tin

Trang 28

Chương 2 THỰC TRẠNG NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI DÙNG TIN VÀ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

2.1 Đặc điểm các nhóm người dùng tin tại Trung tâm

Người dùng tin giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống thông tin Họ như là yếu tố tương tác hai chiều với các đơn vị thông tin Người dùng tin luôn là cơ sở để định hướng các hoạt động của đơn vị thông tin Người dùng tin tham gia vào hầu hết các công đoạn của dây chuyền thông tin Trong hoạt động thông tin – thư viện, chính sách bổ sung phụ thuộc vào yêu cầu của người dùng tin

Người dùng tin là thành phần không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động của một cơ quan thông tin – thư viện nào Người dùng tin và nhu cầu tin của

họ là cơ sở để định hướng cho toàn bộ hoạt động thông tin của một cơ quan thông tin - thư viện Nắm vững nhu cầu thông tin đáp ứng kịp thời đầy đủ và chính xác nhu cầu tin của người dùng tin là một trong những nhiệm vụ quan trọng của thư viện nói chung và của trung tâm thông tin – thư viện các trường Đại học nói riêng

Người dùng tin tại Trung tâm TT - TV Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là toàn thể cán bộ quản lý, giảng viên, cán bộ nghiên cứu khoa học, học sinh phổ thông chuyên, sinh viên các hệ đào tạo tại chức, từ xa, chuyên tu trong trường và một số lượng lớn là bạn đọc ngoài trường

Mỗi nhóm người dùng tin đều có sở thích, nhu cầu tin khác nhau song đều có điểm chung: Họ vừa là người khai thác sử dụng, vừa là người cung cấp thông tin Để thỏa mãn nhu cầu thông tin ngày càng cao của họ, Trung tâm cần phát triển nhiều dịch vụ nhằm đem lại hiệu quả cao cho người dùng tin

Căn cứ vào vai trò, nhiệm vụ, trình độ học vấn của NDT tại Trung tâm

có thể phân chia NDT ở đây thành 03 nhóm NDT như sau:

Trang 29

2.1.1 Người dùng tin là cán bộ quản lý (CBQL), cán bộ giảng dạy (CBGD)

Nhóm người dùng tin là cán bộ quản lý chỉ chiếm 7.1% trong tổng số người dùng tin nhưng có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của trường,của ngành giáo dục Người dùng tin thuộc nhóm này vừa làm công tác quản lý vừa tham gia nghiên cứu khoa học và đồng thời tham gia công tác giảng dạy

ở nhiều nơi Đó là cán bộ quản lý ở các trường đại học, các trường thuộc hệ thống Giáo dục quốc gia nói chung và cán bộ quản lý thuộc cơ sở Giáo dục, phòng Giáo dục ở địa phương

Cán bộ quản lý đến Trung tâm là những người có trình độ học vấn cao Trong đó số người có học hàm: PGS.GS chiếm 20%; TS chiếm 30%, Th.S chiếm 20% và số còn lại đều tốt nghiệp đại học

Cán bộ giảng dạy là những người có vai trò quan trọng đối với chất lượng giáo dục đào tạo của cả hệ thống giáo dục.Nhóm người dùng tin này

có trình độ chuyên môn cao Họ là những người có ảnh hưởng tích cực tới công cuộc đổi mới giáo dục của đất nước,họ vừa là người tiếp cận thông tin (Nghiên cứu viết các đề tài khoa học,soạn giáo trình,…) vừa là người chuyển giao thông tin thông qua công tác giảng dạy Nhóm này chiếm 19.1% trong tổng số người dùng tin tại Trung tâm Phần lớn họ có trình độ thạc sĩ (Chiếm 77.8%) đang tiến hành nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ Số còn lại đã tốt nghiệp đại học

Người dùng tin thuộc nhóm này vừa làm công tác quản lý vừa tham gia nghiên cứu khoa học và đồng thời tham gia công tác giảng dạy ở nhiều nơi Nhu cầu tin của họ khá đa dạng và phong phú, nhu cầu tin của họ cũng

mở rộng thêm ở lĩnh vực nghiên cứu giáo dục, giảng dạy chuyên môn…Họ chính là đối tượng người dùng tin có khả năng sản sinh ra những thông tin mới có giá trị nên cán bộ thư viện cần khai thác triệt để nguồn thông tin đó bằng cách trao đổi, xin ý kiến nhằm tăng cường nguồn thông tin cho Trung tâm

Trang 30

Hình thức phục vụ thông tin cho người dùng tin thuộc nhóm người dùng tin này thường là các thông tin chuyên đề, tổng quan, tổng luận, ấn phẩm thông tin, bản tin…phương pháp phục vụ chủ yếu là phục vụ từ xa với

cá nhân theo những yêu cầu cụ thể mà họ gửi tới

2.1.2 Nhóm người dùng tin là học viên cao học, nghiên cứu sinh

Nhóm NDT này chiếm khoảng 21.9% số lượng NDT thường xuyên tại Trung tâm Nhóm này thường là những cử nhân đã tốt nghiệp Đại học về sư phạm, giáo dục hoặc chuyên ngành khác, phần lớn đã có thời gian làm việc tại cơ quan, trường học ở khắp các nơi trên nước về đây để học tập và nghiên cứu lên cao

Họ đến với Trung tâm để tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu chuyên sâu của mình Nguồn thông tin, tài liệu mà

họ yêu cầu và nhu cầu tin của học chủ yếu mang tính chất chuyên sâu, tính tổng hợp cao, tính chi tiết, cụ thể về các dữ liệu, số liệu, thống kê, phân tích sâu…

Hình thức phục vụ nhóm NDT này thường là các thông tin chuyên đề, thư mục chuyên đề, các thông tin chọn lọc có giá trị về các ngành khoa học

cơ bản và khoa học sư phạm giáo dục Các tài liệu họ thường mượn là các loại sách, giáo trình, tài liệu nghiên cứu, các loại báo, tạp chí, báo trích tạp chí, luận án, luận văn

2.1.3 Sinh viên và học sinh Trung học phổ thông

Đây là nhóm người dùng tin đông nhất ( 68,9% ), bao gồm sinh viên các khóa, các khoa, các hệ đào tạo hiện có tại Nhà trường và có nhu cầu thông tin đa dạng và phong phú

Hiện nay với phương thức đào tạo mới “ Người học tự học, tự nghiên cứu” học trên giảng đường là chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu học hỏi của sinh viên và học sinh, do đó nhu cầu đến thư viện để tìm tài liệu phục vụ học tập

là vô cùng quan trọng và không thể thiếu Sinh viên sẽ cần đến những tài liệu

Trang 31

liên quan đến nhiều lĩnh vực tự nhiên, lịch sử, xã hội chuyên ngành…để phục vụ nhu cầu hiểu biết và nhu cầu học tập theo trương trình đào tạo, thời khóa biểu của Nhà trường Nhu cầu thông tin của họ gắn với chương trình học tập hàng năm, nhóm người dùng tin này luôn chiếm ưu thế tại Trung tâm Đặc biệt trong vài năm trở lại đây, cùng với những điều kiện thuận lợi

về cơ sở vật chất cũng như yêu cầu về nội dung và phương pháp giảng dạy, nhóm người dùng tin này đã tăng lên đáng kể Tuy họ có quỹ thời gian tương đối lớn nhưng phần lớn chưa có khả năng cao trong khai thác thông tin khái quát tổng hợp và sử dụng các tài liệu hiệu quả

Nhu cầu thông tin tài liệu của nhóm NDT này chủ yếu là các loại tài liệu mang tính chất giáo khoa, giáo trình, các tài liệu có tính chất tham khảo

về mọi lĩnh vực và phục vụ cao cho nhu cầu học thức cơ bản dưới dạng sách giáo khoa, giáo trình, sách tham khảo hoặc một số lượng nhỏ các bài viết trong các tạp chí khoa học, đời sống; những luận án, luận văn có tính chất cụ thể, trực tiếp phục vụ cho nhu cầu về môn học và chuyên ngành học về sư phạm, giáo dục mà họ chưa được đào tạo tại trường

Ngoài ra tại Trung tâm hiện nay còn phục vụ nhu cầu sử dụng thư viện của đối tượng là học sinh Trung học phổ thông chuyên và Trung học phổ thông Nguyễn Tất Thành thuộc ĐHSPHN Đối tượng này chiếm khoảng 6.5% tỷ lệ NDT tại Trung tâm Nhu cầu sử dụng tài liệu và Thư viện của đối tượng này không lớn và khá đơn giản Họ thường sử dụng thư viện vào việc học tập và giải trí (92%), việc nghiên cứu của họ rất hạn chế, số lượng đối tượng này lên sử dụng thư viện cũng rất hạn chế

Mặt khác, phương thức đào tạo mới trong giáo dục đã tác động tới

hoạt động của các thư viện: nhu cầu về nguồn tin,sản phẩm thông tin, dịch

vụ thông tin thư viện càng cao và kéo theo sự ra đời của các dịch vụ thông tin thư viện mới, đặc biệt là các dịch vụ như: thư điện tử, phổ biến thông tin

có chọn lọc,mượn liên thư viện, tra tìm tài liệu trực tuyến…nhu cầu ngày

Trang 32

càng cao đòi hỏi các dịch vụ ngày càng cao nên kéo theo sự phát triển của các dịch vụ thông tin thư viện trên cơ sở nguồn tin điện tử

2.2 Nhu cầu thông tin của người dùng tin

Nhu cầu tin và nhu cầu trao đổi thông tin thuộc nhóm nhu cầu tinh thần Có nhu cầu chỉ cần ở mức giúp người sử dụng trao đổi được thông tin, trong khi đó, có nhu cầu ngoài việc trao đổi thông tin, người sử dụng còn cần được cung cấp những thông tin cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của họ

Nắm vững nhu cầu tin, đáp ứng kịp thời, đầy đủ, chính xác là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan và Trung tâm TT – TV trong các trường đại học Nó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục – đào tạo, nghiên cứu trong các trường đại học Chất lượng của việc đáp ứng nhu cầu tin phụ thuộc rất lớn vào việc nắm bắt những đặc điểm của những nhu cầu thông tin Nhu cầu thông tin càng rõ ràng thì việc đáp ứng nhu cầu càng nhanh chóng và hiệu quả cao Nếu không nắm chắc được nhu cầu thông tin

sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình hoạt động của cơ quan thông tin thư viện, từ khâu bổ sung đến khâu phục vụ, gây lãng phí tiền của của Nhà nước

và công sức phục vụ của cán bộ thư viện

Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, kinh tế tri thức, nhu cầu thông tin của con người ngày một cao và đòi hỏi cần được đáp ứng kịp thời, chính xác và khách quan Việc cung cấp thông tin, đáp ứng đầy đủ thông tin là một trong những nhiệm vụ quan trọng và hàng đầu của các cơ quan, trung tâm thông tin – thư viện nói chung, Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường ĐHSPHN nói riêng

Để tìm hiểu thực trạng nhu cầu tin của NDT tại Trung tâm TT- TV Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tôi đã tiến hành điều tra xã hội học bằng việc phát phiếu hỏi tới ba nhóm NDT kể trên Để quá trình nghiên cứu nhu cầu tin đảm bảo độ chính xác, khách quan 200 phiếu điều tra được phát cho NDT đến thư viện Kết quả thu được 200 phiếu chiếm tỉ lệ 100% Phiếu có các câu hỏi chính như sau:

- Anh/ Chị thường sử dụng Thư viện vào mục đích gì?

- Anh/ Chị thường quan tâm đến lĩnh vực khoa học nào?

Trang 33

- Loại hình tài liệu Anh/ Chị thường sử dụng?

- Khi mượn tài liệu tai thư viện Anh/ Chị bị từ chối lần nào chưa?

- Anh/ Chị thấy chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ tại thư viện

đã đáp ứng được nhu cầu của Anh/ Chị hay chưa?

- Thái độ của cán bộ thư viện ảnh hưởng như thế nào tới nhu cầu tin

và hứng thú của Anh/ Chị ?

- Anh/ Chị thường sử dụng tài liệu thuộc ngôn ngữ nào?

- Anh/ Chị đã từng sử dụng các sản phẩm nào sau đây tại Trung tâm

và đã cảm thấy hài lòng về các sản phẩm này chưa?

- Khi lên thư viện Anh/ Chị có tìm được tài liệu theo đúng nhu cầu của mình không?

2.2.1 Nhu cầu tin về các lĩnh vực tri thức

Trường ĐHSPHN là trường trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống các trường sư phạm, là trung tâm lớn nhất về đào tạo giáo viên, nghiên cứu khoa học – đặc biệt là khoa học giáo dục của cả nước Trường đào tạo theo nhiều chuyên ngành học nên người dùng tin đến với Trung tâm rất đa dạng và phong phú, lĩnh vực khoa học họ quan tâm cũng vì thế mà rất đa dạng và phong phú ở tất cả mọi lĩnh vực nhưng chủ yếu là các lĩnh vực theo ngành học của họ Ngoài ra họ còn quan tâm đến một số lĩnh vực tài liệu giúp họ giải trí, trau dồi kiến thức, nâng cao năng lực bản thân

Bảng 1 Nhu cầu tin về các lĩnh vực tri thức của người dùng tin

tại Trung tâm Nhóm

LVKH

Tổng

số phiếu

CBQL CBGD

HVCH NCS

Trang 34

Biểu đồ 1 Nhu cầu tin về các lĩnh vực tri thức tại Trung tâm

Như vậy ta có thể thấy NDT quan tâm nhiều nhất là lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn 53%, sau đó là khoa học tự nhiên 28.5%, khoa học ứng dụng 14.5% Trong ba nhóm NDT thì NDT là sinh viên, học sinh chiếm tỉ lệ lớn nhất, khoa học xã hội nhân văn chiếm 45.6%, khoa học tự nhiên 45.3%, khoa học ứng dụng 34.5%

Ở mỗi nhóm NDT lại quan tâm tới các lĩnh vực khoa học khác nhau Nhóm 1 (CBQL, CBGD) quan tâm nhiều nhất là lĩnh vực khoa học ứng dụng 34.5%, khoa học tự nhiên 24.6%, khoa học xã hội nhân văn 20.8% Nhóm 2 (Học viên cao học, nghiên cứu sinh) quan tâm lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn 33,9%, khoa học ứng dụng 31%, khoa học tự nhiên 29.8% Nhóm 3( Sinh viên, học sinh) quan tâm nhiều nhất là lĩnh vực khoa học tự nhiên 45.6%, lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn 45.3%, khoa học ứng dụng 34.5%

Do đặc trưng của Trường đòa tạo theo nhiều lĩnh vực khoa học nên hầu như nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội có sự dàn chải, ở hầu hết các lĩnh vực đều rất cao và ngang nhau Các lĩnh vực khác có sự quan tâm nhưng còn ít Thông thường NDT đến với Trung tâm lĩnh vực mà họ quan tâm thường liên quan và chủ yếu phục vụ cho công việc và ngành nghề của họ và một số NDT tìm hiểu thêm một số lĩnh vực khác nhằm phục vụ cho nhu cầu giải trí,

mở mang đầu óc, nâng cao, mở rộng thêm hiểu biết của họ nhưng số lượng này không đáng kể

Khi nghiên cứu nhu cầu tin của NDT tại Trung tâm, ở mỗi nhóm NDT lại có nhu cầu tin khác nhau, điều này cũng dễ hiểu vì mỗi nhóm NDT ở

Trang 35

những độ tuổi khác nhau, họ đảm nhiệm những công việc và nhiệm vụ khác

nhau, năng lực, trình độ khác nhau Ở nhóm người dùng tin Trung học phổ

thông họ quan tâm đến các lĩnh vực có các tài liệu thuộc phân ban mà họ

theo học, các tài liệu khác rất ít quan tâm hoặc không quan tâm Sinh viên

quan tâm nhiều nhất tới các tài liệu ở các lĩnh vực theo ngành học của họ và

các tài liệu liên quan đến ngành học của họ Cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên

cứu, học viên cao học, nghiên cứu sinh lại quan tâm nhiều đến các tài liệu

mang tính chất lý luận, chỉ đạo, nghiên cứu chuyên sâu hơn

2.2.2 Nhu cầu tin về loại hình tài liệu

Tại Trung tâm các loại hình tài liệu khá đa dạng và phong phú, đầy đủ

Các loại hình tài liệu được người dùng tin sử dụng thường xuyên, trong đó

tập trung 100% sự quan tâm của NDT là tài liệu Tiếng Việt, tài liệu ngoại

văn ít người dùng tin quan tâm đặc biệt là nhóm NDT là học sinh, sinh viên

rất ít quan tâm tới tài liệu ngoại văn

Bảng 2 Mức độ sử dụng các loại hình tài liệu của người dùng tin

tại Trung tâm

Luận án, Luận văn 156 78 33 16,5 78 39 45 22,5

Trang 36

Biểu đồ 2 Nhu cầu tin về các loại hình tài liệu tại Trung tâm

Luận văn

Tài liệu điện tử

Loại hình tài liệu khác

Sinh viên, học sinh

Các loại hình tài liệu tại Trung tâm rất đa dạng và phong phú và được người dùng tin thường xuyên sử dụng Trong đó NDT quan tâm nhiều nhất là báo 78%, tạp chí Viêt 87.5%, Luận án – Luận văn 78%, tài liệu điện tử 64% Bên cạnh đó một số loại hình tài liệu ít được NDT quan tâm, sử dụng như sách ngoại văn 10% NDT sử dụng, tạp chí ngoại 14.5% Đây là một tình trạng đáng báo động đối với Trung tâm vì tài liệu mà không được NDT quan tâm và sử dụng thường xuyên thì tài liệu đó coi như tài liệu chết

Trong mỗi nhóm NDT thì mức độ sử dụng các loại hình tài liệu là khác nhau:

* Nhóm NDT là cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy nhu cầu lớn về luận

án, luận văn 16.5%, sách tiếng Việt 10%, tạp chí Việt 12%, báo 9.5% Các loại hình ít được nhóm NDT này quan tâm là sách ngoại văn 2%, tạp chí ngoại 4.5%, tài liệu điện tử 6%

* Nhóm NDT là học viên cao học, nghiên cứu sinh có nhu cầu tin nhiều nhất là loại hình tài liệu về luận án, luận văn 39%, sách tiếng Việt 35%, tạp chí Việt 21.5%, tài liệu điện tử 22% Các loại hình tài liệu ít được nhóm NDT này quan tâm là sách ngoại văn 3.5%, tạp chí ngoại 6%

* Nhóm người dùng tin là học sinh, sinh viên có nhu cầu tin nhiều nhất là loại hình tài liệu sách tiếng Việt 55%, tạo chí Việt 54%, tài liệu điện

tử 36%, luận án, luận văn 22.5% Các loại hình tài liệu ít được nhóm người dùng tin này sử dụng và quan tâm là sách ngoại văn 4.5%, tạp chí ngoại 4%

Trang 37

Người dùng tin quan tâm nhiều tới tài liệu là sách tiếng Việt bởi từ trước tới nay sách được xem là một vật mang tin truyền thống đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi con người và ở mỗi quốc gia, dân tộc lại có những ngôn ngữ chính – tiếng mẹ đẻ riêng nên việc người dùng tin quan tâm nhiều

về sách tiếng Việt là điều tất nhiên

Người dùng tin là học sinh, sinh viên thì sách tiếng Việt được quan tâm hàng đầu bởi lẽ họ chủ yếu có nhu cầu tin về các loại hình tài liệu gắn với chương trình đào tạo, với chuyên ngành học của họ mà sách giáo trình, giáo khoa của họ chủ yếu là sách tiếng Việt Sách luôn là người bạn đồng hành tin cậy cao phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của NDT

Báo, tạp chí Việt là những tài liệu chứa đựng nhiều thông tin về thời

sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục…các thông tin có tính mới, tính thời

sự, có tính giải trí đáp ứng nhu cầu giải trí, thư giãn và những thông tin mới

mẻ, nóng hổi cho người dùng tin Đọc báo, tạp chí là nhu cầu tin cần thiết của người dùng tin

Luận án, luận văn là những công trình nghiên cứu mệt mài, tổng hợp kiến thức hay và quan trọng, mới mẻ trong đó nên đây cũng là loại hình tài liệu được người dùng tin quan tâm sử dụng nhiều Nhu cầu tin về loại hình tài liệu này khá lớn 78% Các tài liệu này phản ánh những hướng nghiên cứu mới, giúp người dùng tin trang bị những kiến thức để nâng cao chất lượng giảng dạy, cải tiến phương pháp giảng dạy, các kinh nghiệm, bài học…đồng thời cũng định hướng cho NDT lựa chọ đề tài làm nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ…

Các tài liệu ngoại văn như sách ngoại văn, tạp chí ngoại thì NDT không mấy quan tâm Nguyên nhân phải kể đến đó là trình độ ngoại ngữ của người dùng tin đang còn thấp, chủ yếu người dùng tin học chuyên ngành về ngoại ngữ nào thì mới quan tâm tới tài liệu ngoại văn đó Các tài liệu ngoại văn này chủ yếu được viết theo chuyên ngành khoa học, chuyên sâu, các thuật ngữ chuyên ngành được sử dụng nhiều mà trình độ ngoại ngữ của người dùng tin có hạn nên việc quan tâm sử dụng tài liệu này rất ít

Trang 38

2.2.3 Nhu cầu tin về ngôn ngữ tài liệu

Xã hội ngày càng phát triển và hiện đại thì nhu cầu thông tin càng lớn,

xu thế hội nhập, giao lưu học hỏi là một xu thế tất yếu và cần thiết, một

nhiệm vụ quan trọng Muốn làm tốt và thành công nhiệm vụ này, con người

phải không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ và chuyên môn của mình và

quan trọng hơn là nâng cao trình độ ngoại ngữ của bản thân Đặc biệt trong

bối cảnh hội nhập nói chung, gia nhập WTO của nước ta thì việc nâng cao

trình độ ngoại ngữ chính là yếu tố then chốt, công cụ quan trọng đưa nước ta

tiếp cận tới tri thức, khoa học tiến bộ, mở rộng quan hệ giao lưu hợp tác đưa

nước ta phát triển toàn diện, hiện đại

Trình độ ngoại ngữ của người dùng tin đang còn thấp cho nên một số

lượng tài liệu ngoại văn chưa được khai thác triệt để, NDT không chú trọng

lắm tới nguồn tài liệu quý giá này

Nhưng nhìn chung nhu cầu tin về ngôn ngữ tài liệu tại Trung tâm là rất

phong phú và đa dạng, được thể hiện theo số liệu thống kê dưới đây:

Bảng 3 Nhu cầu tin về ngôn ngữ tài liệu của người dùng tin

tại Trung tâm

Trang 39

Biểu đồ 3 Nhu cầu tin về ngôn ngữ tài liệu của người

dùng tin tại Trung tâm

Ngôn ngữ khác

Kết quả điều tra cho thấy, 100% NDT đều có nhu cầu tin về ngôn ngữ tiếng Việt, điều này cũng dễ hiểu vì tiếng Việt là ngôn ngữ chính – tiếng mẹ

đẻ của nước ta, tất cả mọi hoạt động giao tiếp hàng ngày và sách giáo khoa, giáo trình chủ yếu là sách tiếng Việt 90% NDT có nhu cầu tin về ngôn ngữ tiếng Anh, 28% NDT có nhu cầu tin về ngôn ngữ tiếng Trung, 24% NDT có nhu cầu tin về ngôn ngữ tiếng Nga, 22% tiếng Pháp, 14% ngôn ngữ khác

Trong mỗi nhóm người dùng tin thì nhu cầu tin về ngôn ngữ tài liệu lại khác nhau Ở nhóm người dùng tin là cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy ngoài ngôn ngữ tiếng Việt thì các tài liệu bằng tiếng Anh, Trung Nga, Pháp đều được quan tâm sử dụng trong đó: nhu cầu tin về ngôn ngữ tiếng Việt là 20%, tiếng Anh là 12.5%, tiếng Nga là 6%, tiếng Trung 3%, tiếng Pháp 2%, ngôn ngữ khác 4% Ở nhóm NDT là học viên cao học, nghiên cứu sinh thì nhu cầu tin về ngôn ngữ tiếng Việt là 35%, tiếng Anh 27.5%, tiếng Pháp là 6.5%, tiếng Nga 5.5%, tiếng Trung 4.5%, ngôn ngữ khác 3.5% Nhóm NDT là học sinh, sinh viên nhu cầu về ngôn ngữ tiếng Anh là 50%, tiếng Việt là 45%,

Trang 40

tiếng Trung 20.5%, tiếng Pháp 13.5%, tiếng Nga 12.5%, ngôn ngữ khác 6.5%

Người dùng tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội khi được hỏi có tới 90% NDT có nhu cầu sử dụng tài liệu ngoại văn, trong đó tập trung chủ yếu vào tiếng Anh, sau đó là tiếng Trung, Pháp, Nga Tiếng Anh ngày nay là ngôn ngữ thông dụng nhất, là ngôn ngữ giao dịch chung của quốc tế, trong tất cả các trường đại học hầu như trường nào cũng lấy tiếng Anh là môn học ngoại ngữ bắt buộc đối với sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh, cán bộ lãnh đạo, quản lý, giảng dạy nên nhu cầu tin về ngôn ngữ này là rất lớn trong những năm gần đây, Trung Quốc là một quốc gia khá phát triển nên ngôn ngữ của nước này cũng đang được quan tâm và nhu cầu tin về tiếng Trung ngày càng lớn, tuy nhiên tiếng Anh vẫn chiếm ưu thế hơn hẳn

Qua kết quả điều tra nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu ở ba nhóm người dùng tin chính cho thấy, cả ba nhóm người dùng tin này tập trung chủ yếu vào tài liệu ngôn ngữ tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ, NDT đều quan tâm đến các tài liệu ngôn ngữ tiếng nước ngoài; trong đó tập trung nhất là ngôn ngữ tiếng Anh 90%, tiếng Trung 24%, tiếng Pháp 22%, tiếng Nga 24%, các ngôn ngữ khác được người dùng tin quan tâm sử dụng rất ít Nguyên nhân chủ yếu là

do các ngôn ngữ đó ở Việt Nam là không thông dụng và chỉ những người dùng tin nào theo chuyên ngành học hay làm việc liên quan tới ngôn ngữ đó thì mới có nhu cầu sử dụng, còn những người dùng tin khác không quan tâm tới

2.2.4 Nhu cầu về thói quen tra cứu

Ở mỗi cơ quan hay Trung tâm thông tin – thư viện thì hình thức tra cứu tin trước đây chủ yếu là tra cứu truyền thống, ngày nay khi mà công nghệ thông tin ngày càng len lỏi, xâm nhập và tác động chi phố thì tra cứu tìm tin có thêm hình thức tra cứu hiện đại Hình thức tra cứu hiện đại dường như được NDT quan tâm sử dụng nhiều hơn và ngày càng có vai trò quan

Ngày đăng: 19/07/2017, 18:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ngô Thị Hồng (2007), Nghiên cứu nhu cầu sử dụng tài liệu của bạn đọc tại phòng đọc báo, tạp chí Khoa học xã hội nhân văn và Khoa học tự nhiên ( Khu vực Thượng Đình), Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu sử dụng tài liệu của bạn đọc tại phòng đọc báo, tạp chí Khoa học xã hội nhân văn và Khoa học tự nhiên ( Khu vực Thượng Đình)
Tác giả: Ngô Thị Hồng
Năm: 2007
4. Phạm Thị Mai Lan (2007), Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phục vụ bạn đọc của phòng phục vụ bạn đọc Đại học Ngoại ngữ, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phục vụ bạn đọc của phòng phục vụ bạn đọc Đại học Ngoại ngữ
Tác giả: Phạm Thị Mai Lan
Năm: 2007
5. Đỗ Thị Thanh Lương (2007), Nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin cho người dùng tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin cho người dùng tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Tác giả: Đỗ Thị Thanh Lương
Năm: 2007
6. Đinh Thị Nhàn (2008), Nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin cho người dùng tin tại Thư viện Viện kinh tế và Chính trị thế giới, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin cho người dùng tin tại Thư viện Viện kinh tế và Chính trị thế giới
Tác giả: Đinh Thị Nhàn
Năm: 2008
7. Nguyễn Thị Minh Nguyệt/ Người dùng tin và nhu cầu tin (Tập bài giảng) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người dùng tin và nhu cầu tin
8. Trần Thị Quý (2007), Liên thông chia sẻ nguồn lực thông tin – Yếu tố quan trọng để các Trung tâm Thông tin – Thư viện đại học Việt Nam phát triển bền vững, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên thông chia sẻ nguồn lực thông tin – Yếu tố quan trọng để các Trung tâm Thông tin – Thư viện đại học Việt Nam phát triển bền vững
Tác giả: Trần Thị Quý
Năm: 2007
9. Đoàn Phan Tân (2001), Thông tin học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin học
Tác giả: Đoàn Phan Tân
Năm: 2001
10. Bùi Loan Thùy (2000), Những đòi hỏi mới đối với cán bộ quản lý thư viện và cơ quan thông tin trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Thông tin - Tư liệu, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đòi hỏi mới đối với cán bộ quản lý thư viện và cơ quan thông tin trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Bùi Loan Thùy
Năm: 2000
11. Bùi Loan Thùy (2001), Thư viện học đại cương, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư viện học đại cương
Tác giả: Bùi Loan Thùy
Năm: 2001
12. Trần Mạnh Tuấn (1998), Sản phẩm và dịch vụ Thông tin – Thư viện, Trung tâm Thông tin khoa học và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản phẩm và dịch vụ Thông tin – Thư viện
Tác giả: Trần Mạnh Tuấn
Năm: 1998
13. Phan Văn (1978), Thư viện học đại cương, Đại học Tổng hợp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư viện học đại cương
Tác giả: Phan Văn
Năm: 1978
14. Trần Thị Thanh Vân (2010), Công tác phục vụ người dùng tin trong hoạt động Thông tin – Thư viện (Đề cương bài giảng) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác phục vụ người dùng tin trong hoạt động Thông tin – Thư viện
Tác giả: Trần Thị Thanh Vân
Năm: 2010
15. Lê Văn Viết (2000), Cẩm nang nghề thư viện, Văn hóa thông tin, Hà Nội. Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghề thư viện
Tác giả: Lê Văn Viết
Năm: 2000
1. Báo cáo chuyên đề giới thiệu Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
2. Báo cáo tổng kết nhiệm vụ năm học 2010 – 2011 và phương hướng hoạt động năm học 2011 – 2012, Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đaị học Sư phạm Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT - Nhu cầu tin của người dùng tin và mức độ đáp ứng tại trung tâm thông tin   thư viện trường đại học sư phạm hà nội
BẢNG DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT (Trang 2)
Bảng  1. Nhu cầu tin về các lĩnh vực tri thức của người dùng tin - Nhu cầu tin của người dùng tin và mức độ đáp ứng tại trung tâm thông tin   thư viện trường đại học sư phạm hà nội
ng 1. Nhu cầu tin về các lĩnh vực tri thức của người dùng tin (Trang 33)
Bảng 2. Mức độ sử dụng các loại hình tài liệu của người dùng tin - Nhu cầu tin của người dùng tin và mức độ đáp ứng tại trung tâm thông tin   thư viện trường đại học sư phạm hà nội
Bảng 2. Mức độ sử dụng các loại hình tài liệu của người dùng tin (Trang 35)
Bảng 3. Nhu cầu tin về ngôn ngữ tài liệu của người dùng tin - Nhu cầu tin của người dùng tin và mức độ đáp ứng tại trung tâm thông tin   thư viện trường đại học sư phạm hà nội
Bảng 3. Nhu cầu tin về ngôn ngữ tài liệu của người dùng tin (Trang 38)
Bảng 4. Nhu cầu về hình thức tra cứu tìm tin tại Trung tâm - Nhu cầu tin của người dùng tin và mức độ đáp ứng tại trung tâm thông tin   thư viện trường đại học sư phạm hà nội
Bảng 4. Nhu cầu về hình thức tra cứu tìm tin tại Trung tâm (Trang 42)
Bảng 7. Mức độ đáp ứng tài liệu tại Trung tâm - Nhu cầu tin của người dùng tin và mức độ đáp ứng tại trung tâm thông tin   thư viện trường đại học sư phạm hà nội
Bảng 7. Mức độ đáp ứng tài liệu tại Trung tâm (Trang 48)
Bảng 9. Đánh giá tinh thần, thái độ của cán bộ thƣ viện - Nhu cầu tin của người dùng tin và mức độ đáp ứng tại trung tâm thông tin   thư viện trường đại học sư phạm hà nội
Bảng 9. Đánh giá tinh thần, thái độ của cán bộ thƣ viện (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w