1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của học sinh bằng thang đo SDQ tại 2 trường THCS huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc năm học 2015 2016

101 976 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giúp các em tăng cường cảsức khỏe thể chất và SKTT, đảm bảo học tập và vui chơi một cách lành mạnh, tích cực, chúng tôi thực hiện: “Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của học sinh bằng than

Trang 1

VIỆN ĐÀO TẠO Y HỌC DỰ PHÒNG VÀ Y TẾ CÔNG CỘNG

HOÀNG QUỲNH LIÊN

NGHIÊN CỨU SỨC KHỎE TÂM THẦN HỌC SINH

BẰNG THANG ĐO SDQ TẠI HAI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC NĂM HỌC 2015 - 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

VIỆN ĐÀO TẠO Y HỌC DỰ PHÒNG VÀ Y TẾ CÔNG CỘNG

HOÀNG QUỲNH LIÊN

NGHIÊN CỨU SỨC KHỎE TÂM THẦN HỌC SINH

BẰNG THANG ĐO SDQ TẠI HAI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC NĂM HỌC 2015 - 2016

Chuyên ngành : Y tế công cộng

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:

TS VŨ DIỄN

Trang 3

Để hoàn thành bài luận văn này, em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắccủa mình tới: Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội, Viện Đào tạo Y học dự phòng

và y tế công cộng, Bộ môn Sức khỏe môi trường, các phòng ban chức năng, các thầy

cô trường Đại học Y Hà Nội và đặc biệt là TS Vũ Diễn – người thầy đã trực tiếphướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành bài luận văn này

Em xin trân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng xét duyệt để cương, hộiđồng chấm luận văn tốt nghiệp đã góp ý, sửa chữa để em hoàn thiện được nghiêncứu này

Em xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu Sức khỏe tâmthần học sinh THCS” và lãnh đạo, cán bộ Bộ môn Sức khỏe môi trường đã giúp đỡ

em rất nhiều trong quá trình làm nghiên cứu viết luận văn tốt nghiệp

Em cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, thầy cô giáo, các bậc phụhuynh và các em học sinh của 2 trường THCS Hương Canh và THCS Thanh Lãngcủa huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình hợp táccho chúng em tiến hành điều tra thu thập số liệu

Cuối cùng em xin cảm ơn các thành viên trong gia đình em, bạn bè đã tạo mọiđiều kiện về vật chất và tinh thần để em hoàn thành nhiệm vụ học tập này

Học Viên

Hoàng Quỳnh Liên

Trang 4

Kính gửi: Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội

Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng

Phòng đào tạo Sau đại học

Bộ môn Sức khỏe môi trường

Tên em là Hoàng Quỳnh Liên, học viên lớp cao học Y tế công cộng – 24 – ViệnĐào tạo y học dự phòng và Y tế công cộng – Trường Đại học Y Hà Nội

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu mà em đã tự thu thập số liệu,nhập và phân tích số liệu, các số liệu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực,khách quan và chưa từng được đăng trên bất kì tài liệu khoa học nào

Hà Nội , ngày 20 tháng 6 năm 2017

Học Viên

Hoàng Quỳnh Liên

Trang 5

CANS-MH: Child and adolesdent Needs and Strengths – Mental health (Bảng

hỏi nhu cầu sức khỏe tâm thần trẻ em và vị thành niên)CBCL: Child behavior checklist (Bảng kiểm hành vi)

RTCCD: Research and Trainning Center for Community Development

(Trung tâm nghiên cứu và Đào tạo phát triển cộng đồng)SDQ: Strength and Difficult questionaire (Bộ câu hỏi sàng lọc về sức

WHO: World heallth organization (Tổ chức y tế thế giới)

YSR: Youth self report (Bảng tự thuật)

Trang 6

DANH MỤC BẢNG 7

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

BÀN LUẬN 56

KẾT LUẬN 72

KHUYẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 3.1 Một số đặc điểm học sinh 32

Bảng 3.2 Điều kiện hoàn cảnh gia đình của học sinh 34

Bảng 3.3 Tự nhận xét của học sinh về nhà trường 35

Bảng 3.4.Các biểu hiện của vấn đề SKTT theo khối lớp 40

Bảng 3.5.Tỷ lệ các biểu hiện vấn đề SKTT theo giới 40

Bảng 3.6 Vấn đề SKTT của học sinh theo đặc trưng của học sinh 41

Bảng 3.7 Liên quan giữa tình trạng SKTT và các yếu tố đặc trưng học sinh .41 Khối 41

Bảng 3.8 Vấn đề SKTT theo kết quả và điều kiện học tập của học sinh 43

Bảng 3.9 Liên quan giữa vấn đề SKTT học sinh và các yếu tố kết quả 43

và điều kiện học tập 43

Bảng 3.10 Vấn đề SKTT học sinh theo yếu tố gia đình 45

Bảng 3.11 Liên quan giữa vấn đề SKTT học sinh và các yếu tố môi trường gia đình 46

Bảng 3.12 Vấn đề SKTT học sinh theo yếu tố nhà trường, xã hội 48

Bảng 3.13 Liên quan giữa vấn đề SKTT và các yếu tố môi trường nhà trường, xã hội 48

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Với xã hội ngày càng phát triển, cùng với đó là con người gặp rất nhiều áplực trong cuộc sống, không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn ảnh hưởngđến sức khỏe tinh thần Theo báo cáo năm 2011 của Tổ chức Y tế Thế giới, trên25% dân số thế giới có vấn đề về sức khỏe tâm thần (SKTT) và hành vi tại một thờiđiểm nào đó trong cuộc đời [1] Tỷ lệ vị thành niên có các dấu hiêu trầm cảm và rốiloạn cảm xúc vào khoảng 13-15% [1] Trong hơn 20 năm qua, các nghiên cứu trênthế giới đã quan sát và ghi nhận được sự gia tăng các vấn đề sức khỏe tâm thần baogồm chứng trầm cảm, tự gây thương tích và tự tử Tự tử ở thanh thiếu niên là mốiquan tâm về sức khỏe hàng đầu tại các nước New Zealand, Australia, Hà Lan vàNhật Bản từ những năm 90 Nhưng ở Việt Nam, vấn đề sức khỏe tâm thần vẫn ítđược quan tâm Nước ta ghi nhận trong giai đoạn 2001-2010, SKTT là một trong sốnguyên nhân chính trong gánh nặng bệnh tật, khi ở nam giới là 14% và ở nữ giới là22% [2] Một dự án năm 2013 của PGS.TS Đặng Hoàng Minh chỉ ra rằng có gần2,7 triệu trẻ em đang có những biểu hiện và nguy cơ có vấn đề về SKTT [3] Sứckhỏe tâm thần của trẻ nếu không được quan tâm đúng mực sẽ dẫn đến hậu quảnghiêm trọng đối với cá nhân trẻ và gia đình Một trọng những hậu quả nghiêmtrọng là trẻ có ý định và thực hiện hành vi tự tử Điều tra toàn quốc vị thành niên vàthanh thiếu niên lần thứ 2, Việt Nam có 2,8% thanh thiếu niên đã tự gây thương tíchcho bản thân và có 3,4% trả lời là đã từng có ý định tự tử [4]

Sức khỏe tâm thần của học sinh ở cả học sinh nam và nữ có mối liên quanđến nhiều yếu tố khác nhau Gắn kết tốt với nhà trường và được bố mẹ quan tâm,thân thiện đối với bạn bè, trẻ sẽ luôn có tinh thần khỏe mạnh Ngược lại, bị bạn bèbắt nạt/ trêu ghẹo hay sự quan tâm quá mức hoặc vô tâm của cha mẹ và nhà trường

có thể làm trẻ dẫn đến các vấn đề về SKTT [2, 3, 5]

Sức khỏe tâm thần đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển khả năng trítuệ và phát triển về mặt xã hội, tạo sự cân bằng về tâm lý tình cảm, giúp xây dựng,hình thành một nhân cách lành mạnh, sáng tạo và chủ động Để giúp lứa tuổi vịthành niên được phát triển toàn diện các em cần được chăm sóc về cả thể chất lẫn

Trang 10

tinh thần Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở hay lứa tuổi vị thành niên giai đoạn đầu

là lứa tuổi có nhiều biến đổi, đang phát triển mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần đểdần hoàn thiện Không những thế tuổi dậy thì của VTN đang ngày càng sớm, sựbiến đối về tinh thần đối với những yếu tố xung quanh đã tác động mạnh hơn vàsớm hơn Trước những tác động không thuận lợi của môi trường trẻ chưa dần thíchnghi được, dễ dẫn đến phản ứng, cảm xúc, hành vi lệch lạc [6]

Huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đang ngày càng phát triển về kinh tế - xãhội Huyện có trên 400 công ty, doanh nghiệp lớn nhỏ đóng trên địa bàn, giao thôngthuận tiện có đường quốc lộ 2 chạy qua gần sân bay Nội Bài, cách thủ đô Hà Nội 40

km Năm 2016, huyện đạt chuẩn nông thôn mới tuyến huyện, Bình Xuyên được tỉnhVĩnh Phúc xác định là đơn vị trọng điểm phát triển về công nghiệp và đô thị, phấnđấu đến năm 2020 huyện Bình Xuyên trở thành đô thị loại IV Cùng với điều kiệnkinh tế gia đình ngày càng cao là sự kì vọng lớn từ phía gia đình và nhà trường đốivới các em trong học tập và ứng xử Đòi hỏi sự trưởng thành sớm về cả thể chất lẫntinh thần Như vậy, SKTT đang là vấn đề cần được quan tâm, chăm sóc ở lứa tuổi vịthành niên, nhất là ở học sinh trung học cơ sở tại huyện Bình Xuyên Chúng tôi đãchọn huyện Bình Xuyên vào nghiên cứu để nói lên được thực trạng SKTT của họcsinh tại một vùng nông thôn đang trên đà phát triển Để giúp các em tăng cường cảsức khỏe thể chất và SKTT, đảm bảo học tập và vui chơi một cách lành mạnh, tích

cực, chúng tôi thực hiện: “Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của học sinh bằng

thang đo SDQ tại 2 trường THCS huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc năm học

2015 - 2016” Chúng tôi thực hiện nghiên cứu với những mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh bằng thang đo SDQ tại 2 trường trung học cơ sở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc năm học 2015 - 2016

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của học sinh tại 2 trường trung học cơ sở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc năm học 2015 - 2016

Trang 11

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niện liên quan đến sức khỏe tâm thần

1.1.1 Sức khỏe và sức khỏe tâm thần

Theo tuyên ngôn của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1982 tại Alma Ata: “Sứckhỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứkhông chỉ là tình trạng không có bệnh hay thương tật” Sức khỏe toàn diện trongmỗi con người đều bao gồm 3 thành phần: khỏe về thể chất, khỏe về tâm thần vàkhỏe về xã hội

Sức khỏe thể chất

Sức khỏe thể chất được biểu hiện ở thể lực khỏe mạnh, có thể làm việc mangvác nặng, đi lại nhanh nhẹn thoải mái, có tính dẻo dai, bền bỉ không cảm thấy mệtmỏi Sức khỏe thể chất còn thể hiện khi không có bệnh tật, không ốm đau, hay cósức đề kháng tốt, khi ốm thì có thể nhanh hồi phục hoặc có thể chống đỡ được môitrường khắc nghiệt hoặc thời tiết thay đổi đột ngột

Sức khỏe tâm thần

Sức khỏe tâm thần là một trạng thái không chỉ không có rối loạn hay dị tậttâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, vui tươi yêu đời Sứckhoẻ tâm thần là sự biểu hiện nếp sống lành mạnh, văn minh Cơ sở của sức khoẻ làtrạng thái thăng bằng và hài hoà giữa lý trí và tình cảm SKTT còn là một cuộc sốngnăng động có khả năng chống đỡ được những thử thách trong cuộc sống [7]

Trang 12

1.1.2 Vị thành niên và những biến đổi tâm sinh lý ở vị thành niên

1.1.2.1 Vị thành niên

Vị thành niên: từ này trong tiếng Anh “adolescence” có nghĩa là "lớn lên"hay "phát triển" Tuổi vị thành niên là giai đoạn phát triển đặc biệt mạnh mẽ vàphức tạp nhất của cuộc đời mỗi con người Là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sangngười lớn đáp ứng nhu cầu và nhiệm vụ phát triển Có sự thay đổi đồng lọat từ đơngiản đến phức tạp bao gồm: sự biến đổi điều chỉnh về tâm lý và các quan hệ xã hội,

sự phát triển mạnh mẽ về thể chất, bước đầu hình thành nhân cách nên nảy sinhnhiều rối nhiễu về tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác Cá nhân phải có những thayđổi để thích nghi VTN có rất nhiều những mâu thuẫn, những sự kiện xã hội liênquan đến nhu cầu và nhiệm vụ phát triển đòi hỏi đứa trẻ phải đáp ứng như: chúngvừa muốn là trẻ con (muốn nũng nịu, muốn được bố mẹ quan tâm, muốn được nhậnquà…) vừa muốn là người lớn (đòi thoát khỏi sự kiểm soát chặt chẽ của bố mẹ, đòiđược quyền tự quyết định, đòi được tôn trọng các vấn đề riêng tư, đòi mọi ngườiphải đối xử với mình như người lớn…) Các em thường hay có ý nghĩ cực đoan chorằng mình đã là người lớn có quyền và có thể làm được mọi việc như người lớn,nhưng mặt khác các em cũng thấy rõ một thực tế rằng mình vẫn chưa thực sự đượcthừa nhận là người lớn Để giải quyết mâu thuẫn này, thiếu niên lớn thường môphỏng bắt chước những hành vi được các em gán cho là của người lớn Tuổi vịthành niên trải nghiệm những lớp hành vi hay các điều kiện xã hội liên quan đến sựchín muồi xã hội ở lứa tuổi này, là giai đoạn có những mối quan hệ khác giới, nhucầu giao tiếp với xã hội bạn bè nhiều hơn, các em có xu hướng theo bạn bè hơn làcha mẹ Những hành vi này không những thay đổi tùy theo giới tính và sự trưởngthành về thể lực, trí tuệ và những quan hệ xã hội của các cá nhân VTN mà còn tùythuộc vào môi trường xã hội, văn hóa, chính trị, vật chất, kinh tế nơi họ sống Theokết quả tổng điều tra dân số năm 2012 ở Việt Nam, trẻ VTN có khoảng 23.165.631trẻ, chiếm khoảng 26,2% dân số cả nước

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi từ 10 -19 tuổi là tuổi vị thànhniên Ở Việt Nam vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi Tuổi vị thành niên chia

Trang 13

làm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu từ 10-14 tuổi, giai đoạn 2 từ 15-19 tuổi, phù hợp với

sự phát triển thể chất và tâm lý xã hội từng thời kỳ, sự phân chia này cũng chỉ cótính chất tương đối Vì trong thực tế, yếu tố tâm sinh lý, phát triển thể lực của mỗi

em có những đặc điểm riêng biệt không hoàn toàn theo đúng như sự phân định

1.1.2.2 Những biến đổi về thể chất, tâm lý, xã hội ở tuổi vị thành niên

∗ Biến đổi về thể chất

Dậy thì là giai đoạn quan trọng ở lứa tuổi vị thành niên, dùng để xác định sựchín muồi rõ nét về mặt cơ thể Sự chín muồi sinh học này xảy ra trên hầu hết các

hệ thống cơ thể ở cả nam lẫn nữ và thường bắt đầu ở khoảng 10-11 tuổi và kết thúc

ở khoảng 15-17 tuổi Ở tuổi dậy thì không phải tất cả các em cùng tuổi hoặc cùnggiới đều phát triển như nhau Có một số em biểu hiện thay đổi sớm hơn một số emkhác và một số em biểu hiện thay đổi chậm hơn các em khác

Ở em gái ngay khi bước vào tuổi dậy thì (khoảng 13 tuổi), cơ thể các em bắtđầu phát triển nhanh hơn mức bình thường Các em gái cao rất nhanh và khi 18 tuổicác em có thể cao bằng một người phụ nữ trưởng thành Ngoài thay đổi về cânnặng, chiều cao, vú bắt đầu phát triển, mọc lông ở bộ phận sinh dục, thay đổi giọngnói, tăng cường hoạt động của các tuyến mồ hôi và xuất hiện mụn trứng cá ởmặt Thay đổi hình dạng cơ thể từ thon mảnh của đứa trẻ sang dáng vẻ duyên dángcủa phụ nữ Giai đoạn dậy thì chính thức được đánh dấu bằng lần hành kinh đầutiên, báo hiệu trứng đã bắt đầu rụng và có khả năng có thai Giai đoạn này diễn ranhững biến đổi quan trọng cho việc chuẩn bị làm mẹ sau này: Tử cung lớn và dàyhơn, tuyến vú phát triển, xương hông rộng ra [10]

Ở em trai bước vào tuổi dậy thì (khoảng 15-17 tuổi), đặc điểm rõ rệt nhất là

sự phát triển mạnh mẽ về cân nặng, chiều cao và đến 17- 18 tuổi hầu hết các em đã đạtchiều cao tối đa Cùng với sự phát triển chiều cao, dần dần xuất hiện lông mu, ria mép

và mọc mụn trứng cá, tăng cường hoạt động của các tuyến mồ hôi Đồng thời dươngvật và tinh hoàn cũng bắt đầu phát triển về kích thước, xuất hiện phóng tinh không chủđích Thanh quản mở rộng, vỡ giọng nói Tiếp đó là sự phát triển của các cơ bắp ởngực, vai và đùi, bắt đầu có hình dáng đặc trưng của nam giới [10]

Trang 14

∗ Những nhạy cảm về giới và cảm xúc giới tính

Dậy thì là sự báo hiệu chuyển giai đoạn, được xem như là cái mốc khởi đầutuổi vị thành niên, những trẻ gái bắt đầu và kết thúc dậy thì sớm hơn trẻ trai khoảng1-2 năm Trong giai đoạn phát triển này, những thay đổi của các yếu tố sinh học cóảnh hưởng đến các yếu tố tâm lý Và ngược lại, các sự kiện xã hội, sự trải nghiệmtâm lý đến lượt nó cũng ảnh hưởng lên hệ thống sinh học Trẻ dễ bị kích động và cónhững cảm xúc hỗn loạn [10] Nhu cầu về tình bạn trở nên quan trọng và dễ chịuảnh hưởng của nhóm bạn đó, đặc biệt chú ý đến người bạn khác giới và dễ nhầm lẫntình bạn với tình yêu Các em thường muốn tìm hiểu về khả năng hoạt động tìnhdục của mình Cơ thể và chức năng sinh lý của các bộ phận trong cơ thể các em đãgần như hoàn chỉnh Việc tăng cường hoạt động của hệ thống tiết các hoocmon tìnhdục (tuổi dậy thì) đã kích thích các ý nghĩ tình dục, tạo ra sự lơ đãng mơ màng, nảysinh nhu cầu hấp dẫn quyến rũ tình dục ở hầu hết thiếu niên lớn Ảo tưởng tình dụccũng thường thấy ở lứa tuổi này Các em nam trong giấc ngủ có thể mơ thấy nhữngchuyện ân ái và tự tiết tinh dịch, đây là điều hoàn toàn bình thường Cả nam và nữ ởtuổi thiếu niên lớn đều trải nghiệm hứng thú tình dục Xúc cảm giới tính hay nhữngrung động đầu đời thường dễ xảy ra và đơn giản là với những ai gây cho chúng ấntượng, những người gần gũi, những người hay giúp đỡ quan tâm, những người cóbiểu hiện bên ngoài hấp dẫn… Đại bộ phận các em ở tuổi thiếu niên lớn không hiểuđược rằng những cảm xúc này chỉ là những tình cảm mang bản chất tình dục màchúng thường lầm tưởng là tình yêu

∗ Biến đổi về tâm lý

Vị thành niên là những người không còn là trẻ con nhưng cũng chưa phải làngười lớn dù là con trai hay con gái, diễn biến tình cảm và tâm lý cũng có nhữngđiểm giống nhau do lứa tuổi, tất nhiên ở mỗi giới có thể có các biểu hiện ít nhiềukhác nhau Về mặt tâm lý và tình cảm, các em bắt đầu có tư duy trìu tượng, các em

ý thức được mình không còn là trẻ con nữa Trong hành động, các em muốn thử sứcmình và muốn khám phá những điều mới lạ Các em thường quan tâm, đến nhữngthay đổi của cơ thể, nhất là các em gái Do những biến đổi sinh học đã tạo nên sự

Trang 15

mất cân bằng tạm thời về tâm lý Trong giai đoạn phát triển này các em có nhữngthay đổi thường xuyên về tâm tư Sự quan tâm thái quá đến hình ảnh cơ thể, sựkhông hài lòng về những đặc điểm nào đó của cơ thể có thể biến thành nỗi khổ tâm,

sự khó ở… và những tình cảm này có thể gây stress tiêu cực cho trẻ làm nảy sinh sự

lo âu, trầm cảm và cả những ý nghĩ tự sát

Ở tuổi này có tính không ổn định về mặt xúc cảm, tình cảm – thoắt vui, thoắtbuồn, kém hài lòng về hình ảnh cơ thể, dễ thân mật mà cũng dễ giận dữ… Hiệntượng dễ xúc động, dễ tổn thương, dễ bị kích động, hay khóc hay tự ái, tủi thân vìnhững chuyện nhỏ nhặt, dễ băn khoăn, lo lắng, buồn rầu về những nhược điểm ở cơthể mình khi so sánh với các bạn cùng lứa là những hiện tượng thường xảy ra, đặcbiệt ở các em gái Các em cũng bắt đầu quan tâm đến bè bạn, muốn tách khỏi sựbảo hộ của bố mẹ, tuy nhiên các em vẫn còn quá trẻ, chưa có kinh nghiệm và vẫnphụ thuộc vào bố mẹ và gia đình Các em phát triển mạnh tính độc lập, muốn táchkhỏi sự quản lý, kiểm soát của gia đình, phát triển mạnh cá tính và muốn tìm kiếmnhững mối quan hệ bạn bè cùng lứa Phát triển mạnh về tư duy trìu tượng, tuy vậycác em lại thường thay đổi tình cảm một cách dễ dàng, khi vui, khi buồn Khi mongmuốn điều gì, các em muốn được thoả mãn nhu cầu ngay và có thể hành động bấtchấp hậu quả, trong khi về mặt tư duy các em chưa phát triển đầy đủ khả năng tựphê phán [10]

∗ Biến đổi về xã hội

Trẻ vị thành niên thường tò mò khám phá môi trường bên ngoài, các em cóhiểu biết về môi trường xã hội rộng lớn hơn so với môi trường gia đình và trườnghọc, vì vậy việc hình thành các mối quan hệ xã hội luôn thôi thúc các em phát triểncác kỹ năng giao tiếp, ứng xử mới theo cách riêng, theo trào lưu của bạn bè, để hòanhập với môi trường xã hội rộng lớn hơn [10] Trong xã hội hiên đại các em đượctiếp cận với xã hội một cách dễ dàng thông qua các phương tiện thông tin đại chúngnhư: sách báo, internet, phim ảnh, điện thoại di động

Trang 16

1.1.3 Những rối loạn liên quan đến sức khỏe tâm thần

1.1.3.1 Rối loạn cảm xúc

Do biến đổi đặc điểm sinh lý ở lứa tuổi dậy thì nên trẻ VTN thường có nhữngrối loạn cảm xúc, mất cân bằng tâm lý, các biểu hiện như tim đập nhanh, chóng mặt,hoa mắt, dễ nổi nóng, khó hiểu thậm chí còn không hiểu được chính cả bản thân Córất nhiều biểu hiện của rối loạn cảm xúc: rối loạn lo âu như sợ hãi một cái gì đó quámức hoặc lo lắng những vấn đề không có thật Các em có biểu hiện hoang mang, lolắng triền miên mà không biết lý do hoặc suy nghĩ viển vông tưởng tượng ra những câuchuyện ám ảnh không có thật rồi tự đặt mình vào tình huống rồi lại đau khổ Ngoài rathì những sang chấn hay những sự kiện xảy đến với các em khiến tâm thần luôn bịhoảng loạn như tai nạn, lạm dụng tình dục, bị bạo lực…Rối loạn cảm xúc còn có biểuhiện như trầm cảm hay buồn rầu khóc lóc, tự ti, chán nản, biểu hiện chán ăn, hay quên,không chăm sóc đến bản thân như trước, học tập giảm sút, hoạt động chậm chạp Đặcbiệt hơn rối loạn cảm xúc lưỡng cực khá phổ biến với tỷ lệ 0,5% dân số Đây là mộtbệnh tâm thần nội sinh xuất hiện có tính chất chu kỳ với các cơn hưng cảm và trầmcảm xen lẫn Theo BS Nguyễn Văn Dũng - Viện Tâm thần Quốc gia (Bệnh viện BạchMai) cho hay: tuổi teen là độ tuổi phát bệnh rối loạn cảm xúc cao nhất trong tổng số camắc chứng bệnh này Trẻ có lúc thì lầm lì, buồn rầu, ức chế chán nản, bi quan, tuyệtvọng, dễ mủi lòng khóc lóc, than vãn rên rỉ, lúc lại hưng cảm đọc thơ ca, ví von hómhỉnh, nói luôn miệng, tự đánh giá cao bản thân, thậm chí coi thường người khác Bệnhmang tính chu kỳ tức là người bệnh có thể chuyển từ cảm xúc hưng phấn (vui vẻ tộtđộ) sang cảm xúc ức chế (trầm cảm) và ngược lại một cách nhanh chóng

1.1.3.2 Rối loạn hành vi

Những dấu hiệu cho thấy trẻ rối loạn hành vi như càn quấy, cư xử hung hãnđối với người khác hoặc động vật, phá hoại tài sản, nói dối, ăn cắp vặt, bỏ học, hỗnláo với người lớn, bỏ nhà đi

1.1.3.3 Rối loạn tăng động

Đặc trưng cơ bản của bệnh rối loạn tăng động là kém tập trung, giảm chú ý,tăng động Theo Bác sĩ Ngô Văn Lương, Khoa Tâm thần, Bệnh viện trung ương

Trang 17

Huế: đặc trưng của rối loạn tăng động là sự kết hợp của một hành vi hoạt động quámức, thiếu kiềm chế với giảm chú ý, thiếu kiên trì trong mọi công việc

− Ngoài ra còn có các biểu hiện: nói dối, ăn cắp, trốn học, gây gổ…

1.2 Thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần ở vị thành niên

1.2.1 Phương pháp đo lường vấn đề sức khỏe tâm thần ở cộng đồng

Có nhiều thang đo để đánh giá SKTT ở trẻ em như Bảng kiểm hành vi trẻ emCBCL, Bảng hỏi YSR, Bảng hỏi CANS_MH, Bảng hỏi SDQ 25

Một trong những công cụ đánh giá các vấn đề SKTT trẻ em được biết đếnnhiều là Bảng kiểm hành vi trẻ em CBCL (Child and Adolescent Needs andStrengths-Mental Health) do Thomas Achenbach nghiên cứu và phát triển từ nhữngnăm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ 20 và được báo cáo lần đầu tiên trong mộtnghiên cứu về sự phát triển của trẻ em năm 1965 Trên thế giới, đã có nhiều tác giảnghiên cứu về tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần sử dụng Bảng kiểm hành vitrẻ em CBCL ở nhiều phiên bản khác nhau, như là một công cụ đánh giá tốt nhất đểsàng lọc các vấn đề sức khỏe tâm thần dùng để đánh giá hành hành vi trẻ em ở cáclứa tuổi (1,5 -5 tuổi, 6 -18 tuổi), dành cho cha mẹ tự điền [13]

Bảng YSR (Youth Self Report) của Thomas Achenbach được việt hóa và thíchnghi ở Việt Nam Bảng hỏi YSR dành cho trẻ từ 11 đến 18 tuổi YSR được thiết kế

để trẻ có khả năng đọc hiểu từ lớp 5 trở lên tự báo cáo về khả năng cũng như cácvấn đề của bản thân Phần đầu của YSR ghi lại những thông tin về khả năng thíchứng của trẻ trong các mặt khác nhau: thể thao, sở thích, bạn bè, công việc nhà, họctập Trẻ cũng tự đánh giá các năng lực và kết quả học tập cũng như quan hệ giađình, bạn bè của trẻ Phần thứ hai của YSR bao gồm 112 vấn đề xuất hiện trongvòng 6 tháng đến thời điểm hiện tại Các vấn đề này được phân thành 8 trục hội

Trang 18

chứng chính của các hành vi và cảm xúc thường gặp ở trẻ em và vị thành niên (theoBảng phân loại bệnh lần thứ 4 của Hoa kỳ - DSM-IV) là thu mình, biểu hiện loâu/trầm cảm, các vấn đề xã hội, vấn đề về suy nghĩ/tư duy, các vấn đề về sự hiếuđộng, hành vi hung bạo, hành vi sai phạm Mỗi biểu hiện này được đánh giá ở 3mức độ (0= hoàn toàn không có, 1= phần nào hoặc thỉnh thoảng có, 2= hoàn toànhoặc thường xuyên có) Trên cơ sở tự đánh giá của trẻ, sẽ tính tổng điểm chung,điểm từng hội chứng, tổng điểm của nhóm hướng nội (các triệu chứng thu mình-nétránh; Lo âu- trầm cảm; rối loạn dạng cơ thể), nhóm hướng ngoại (các triệu chứngcủa hành vi hung bạo, các hành vi sai phạm, sự hiếu động giảm chú ý) Sau đó, sosánh với thang điểm chuẩn quốc tế mà tác giả thang đo đã xây dựng để xác địnhtừng trẻ có vấn đề gì và ở mức độ nào: bình thường, ở mức ranh giới, mức bệnh lý(có dấu hiệu lâm sàng) [13].

Bảng TRF (Teacher’s Report Form-TRF) dành cho giáo viên, được thiết kế đểghi lại những báo cáo của giáo viên về việc học tập, khả năng thích ứng và các vấn

đề hành vi/cảm xúc của một học sinh TRF cũng gồm 2 phần Ở phần 1, giáo viênđưa ra nhận xét của mình về học tập của trẻ Giáo viên đánh giá học tập của trẻ ởtừng môn theo 5 mức độ 1 (kém xa so với mức độ yêu cầu của lớp) đến 5 (tốt hơnmức yêu cầu) Về khả năng thích ứng, giáo viên dùng 7 mức độ để đánh giá trẻ sovới một đứa trẻ phát triển bình thường ở độ tuổi đó: trẻ chăm chỉ, chú tâm như thếnào, hành xử như thế nào, học tập như thế nào, cảm xúc như thế nào Phần 2 có 112biểu hiện vấn đề trong đó có 93 biểu hiện giống như ở bảng YSR Các biểu hiện cònlại quan tâm đến các hành vi ở trường mà cha mẹ khó có thể quan sát được ví dụnhư trêu chọc bạn, khó làm theo hướng dẫn, phá kỉ luật, v.v [13]

Bảng hỏi CANS – MH (Child and Adolescent Needs and Strengths – MentalHealth) của John Lyons đánh giá toàn diện các yếu tố tâm lý và xã hội để sử dụngtrong kế hoạch điều trị Bảng hỏi gồm 41 câu hỏi với các lĩnh vực bao gồm tâm lýchung, các hành vi nguy cơ, mối liên quan giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân vớigia đình Bảng hỏi được thiết kế để hỗ trợ trường lập kế hoạch và đánh giá các hệthống dịch vụ [14]

Trang 19

Bảng hỏi SDQ25 (Strengths and Difficulties Questionnaire 25 items) do tácgiả Robert Goodman thuộc Viện tâm thần London đưa ra vào thập niên 90, SDQ25

là một bảng hỏi khoa học dùng cho phát hiện có vấn đề về SKTT ở trẻ từ 4-16 tuổi,

có tỷ lệ phát hiện bệnh đúng và tỷ lệ loại trừ bệnh đúng đạt từ 70 đến 95% khi sosánh với kết quả khám chuẩn của chuyên gia tâm thần nhi khoa quốc tế SDQ25gồm 25 câu hỏi sàng lọc và đánh giá vấn đề SKTT thuộc 5 vấn đề: vấn đề về cảmxúc, vấn đề về hành vi, vấn đề về sự hiếu động, vấn đề về quan hệ bạn bè, vấn đề vềquan hệ xã hội Các câu hỏi được thiết kế và cấu trúc theo dạng thích hợp cho hìnhthức phỏng vấn hoặc để bố mẹ, thầy cô giáo của học sinh tự điền trong khoảng thờigian 5 phút Hệ thống điểm được xác định cho từng câu hỏi, ở ba trạng thái trả lời

chính: Không đúng, Đúng một phần, và Chắc chắn đúng [15] Cụ thể, điểm tính cho

mỗi câu hỏi như sau: Các câu 7, 11, 14, 21, 25 điền “Không đúng”: 2 điểm, “Đúngmột phần”: 1 điểm, và “Chắc chắn đúng”: 0 điểm Các câu còn lại “Không đúng”: 0điểm, “Đúng một phần”: 1 điểm, và “Chắc chắn đúng”: 2 điểm

Bảng hỏi SDQ25 đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu dịch tễ học trên thếgiới và Việt Nam Nghiên cứu sử dụng SDQ cùng với các cuộc phỏng vấn nghiên cứu vàxếp hạng lâm sàng đã chỉ ra rằng SDQ nhạy cảm với hiệu quả điều trị [16]

Tại Ý năm 2008 Achenbach và cộng sự đã sử dụng bảng hỏi SDQ để thực hiệnnghiên cứu thí điểm SKTT trên 1394 trẻ em trong độ tuổi 8-10 [17]

Nghiên cứu tại Anh với 101 em và ở Bangladesh có 89 em là những bệnh nhânđến khám SKTT đã được áp dụng bảng hỏi SDQ25, kết quả dự đoán của SDQ25 vàchẩn đoán lâm sàng độc lập rất có ý nghĩa [18]

Tổng điểm để xét các ngưỡng sàng lọc: trẻ bình thường, nghi ngờ có vấn đềSKTT và bệnh thay đổi theo hình thức thu thập thông tin (trẻ tự điền hoặc đánh giácủa bố mẹ, thầy cô giáo) Ngưỡng để đánh giá một trẻ bị nghi ngờ có vấn đề SKTTtrong điều kiện của Việt Nam khi sử dụng bộ câu hỏi này là: tổng điểm từ 16 trở lênđối với thầy cô giáo và 20 điểm trở lên đối với học sinh hoặc cha mẹ điền

Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo, việc theo dõi phát hiện các vấn đề SKTT ởlứa tuổi học đường phải được bắt đầu từ gia đình và trường học Trước những biểu

Trang 20

hiện bất thường về hành vi ứng xử, tâm lý, tình cảm, thói quen sinh hoạt hoặc kếtquả học tập của trẻ sút kém, cha mẹ, thầy cô giáo cần bình tĩnh theo dõi và tâm sựvới trẻ, cùng phân tích tìm căn nguyên Khi không có lý do hay giải thích xác đángnào được đưa ra, phải nghĩ đến có vấn đề về SKTT và sử dụng bộ công cụ sàng lọcSDQ25.

Khảo sát về sức khỏe tâm thần ở học sinh của Bệnh viện Tâm thần ban ngàyMai Hương trên địa bàn Hà Nội bằng bộ công cụ SDQ Tổ chức Y tế Thế giới ở

1202 học sinh tiểu học và trung học cơ sở (10-16 tuổi) cho thấy tỷ lệ học sinh có cácvấn đề về sức khỏe tâm thần chung là 19,46% [7], không khác biệt về nam, nữ, họcsinh tiểu học hay trung học cơ sở

Nghiên cứu của Lê Thu Phương cũng có sử dụng bộ công cụ SDQ trên 506học sinh ở hai trường THPT Kim Liên, Hà Nội và THPT Ba Vì, huyện Ba Vì chothấy tỷ lệ có vấn đề SKTT là 6,1% [19]

Do vậy trong nghiên cứu này, bảng hỏi SDQ được sử dụng cho thầy cô giáođiền và xác định học sinh có vấn đề về SKTT ngưỡng điểm >16

Ở Việt Nam, trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng đã tiếnhành dịch thuật và đưa vào đánh giá thử nghiệm trên cộng đồng Trên các kết quảnghiên cứu đã khuyến cáo rằng sử dụng bộ công cụ SDQ-25 sẽ nhanh chóng giúpcác bậc cha mẹ hoặc nhà trường định hướng tình trạng SKTT của trẻ Nếu trẻ có sốđiểm trên ngưỡng, cần đưa trẻ đến khám tư vấn ở phòng khám về dự phòng vàchống các vấn đề SKTT Tại đó, một nhóm các nhà tâm thần học, tâm lý học, bác sĩnhi khoa sẽ tiến hành phối hợp đánh giá để đưa ra chẩn đoán chắc chắn và cùng giađình, nhà trường phân tích, xác định yếu tố nguy cơ gây các vấn đề SKTT cho trẻ,

từ đó tìm biện pháp khắc phục [20]

1.2.2 Thực trạng sức khỏe tâm thần ở vị thành niên thế giới

Nhiều năm qua, trên thế giới vấn đề trẻ bị mắc các biểu hiện của vấn đề SKTTnhư: Tự kỷ, sự hiếu động giảm tập trung, giảm chú ý đang trở thành một vấn nạn.Những năm gần đây vấn đề SKTT trẻ em đang được quan tâm chú trọng đặc biệt.Theo WHO có khoảng 20% trẻ em và thanh thiếu niên đang gặp các vấn đề về

Trang 21

SKTT như: các vấn đề về cảm xúc, stress, rối loạn ứng xử [21] Nhiều nghiên cứucho thấy, chỉ có khoảng 30% trẻ này có thể hòa nhập xã hội, 70% còn lại không hòanhập được xã hội và có nguy cơ cao trở thành người tâm thần.

Ở Anh, nghiên cứu của Howard Meltzer và cộng sự năm 2000 trên 12.529 trẻ

từ 5-15 tuổi cho thấy có 10 % trẻ em có một rối loạn tâm thần; 5% có rối loạn hành

vi lâm sàng; 4% được đánh giá là có rối loạn cảm xúc - sự lo lắng, trầm cảm và 1%hiếu động Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng có sự khác biệt về SKTT giữa các giới

ở nhóm tuổi từ 11-15 tuổi, tỷ lệ trẻ em có vấn đề SKTT là 13% cho nam và 10%cho nữ.[3, 4]

Sức khỏe tâm thần ở trẻ em là một vấn đề y tế công cộng quan trọng vì sự ảnhhưởng nghiêm trọng đến trẻ em, gia đình và cộng đồng Có tổng cộng 13% - 20%trẻ em đang sống tại Hoa Kỳ trải qua một vấn đề SKTT trong một năm [22, 23, 21]

Tự tử, có thể là kết quả của sự kết hợp của vấn đề SKTT và các yếu tố khác, lànguyên nhân thứ hai dẫn đến tử vong ở trẻ em tuổi từ 12-17 tuổi trong năm 2010[24] Tại Hoa Kỳ, các chi phí (bao gồm chăm sóc y tế, sử dụng các dịch vụ giáo dụcđặc biệt) của vấn đề SKTT ở những người trong độ tuổi < 24 ước đạt 24,7 tỉ USDmỗi năm [22, 25, 26] Năm 2006, có vấn đề về sức khỏe tâm thần là một trong sốcác chi phí tốn kém nhất để điều trị ở trẻ em [27]

Theo một nghiên cứu SKTT của trẻ em ở Mỹ từ 2005-2011 cho thấy kết quả:biểu hiện hiếu động (6,8%) đã được cha mẹ chẩn đoán hiện tại và báo cáo ở trẻ emtuổi từ 3-17, tiếp theo là biểu hiện vấn đề về hành vi bất thường (3,5%), biểu hiệncảm xúc bất thường (3,0%), trầm cảm (2,1%), tự kỷ (1,1%) Ước tính có khoảng4,7% số thanh thiếu niên từ 12-17 tuổi báo cáo có sử dụng ma túy bất hợp pháptrong các năm qua, 4,2% có lạm dụng rượu trong năm qua và 2,8% có sự phụ thuộcthuốc lá trong tháng vừa qua Tỷ lệ tự tử tổng thể cho những người từ 10-19 tuổi là4,5 vụ tự tử/100.000 người trong năm 2010 Khoảng 8% thanh thiếu niên trong độtuổi 12-17 tuổi báo cáo ≥ 14 ngày tinh thần lành mạnh trong tháng qua [28]

Ở các nước phát triển, mặc dù có hệ thống cơ sở hỗ trợ tâm lý và chăm sóc sứckhoẻ thể chất và tâm thần lâu đời và phong phú, nhưng hầu hết các trẻ em có nhu

Trang 22

cầu hỗ trợ SKTT đều không được đáp ứng thoả đáng Trong số những trẻ được đápứng thì phần lớn là thông qua hệ thống trường học Lý do là: 1/3 thời gian trongngày của trẻ diễn ra ở nhà trường Nhà trường vốn từ trước đến nay luôn thực hiệnvai trò nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, tức là đảm bảo cho trẻ một sự phát triển toàn diện

và hoàn thiện nhân cách Do vậy, nhà trường luôn sẵn sàng tổ chức các hoạt độngtrợ giúp, hỗ trợ các em khi gặp những khó khăn Trên thực tế, trẻ cũng có thể đếncác phòng khám, trung tâm tư vấn để nhận được sự hỗ trợ này nhưng thông thườngkhi đó, những khó khăn đã trở nên trầm trọng hơn, có thể đã trở thành bệnh lý vànhiều người rất ngại đến các phòng khám chăm sóc SKTT vì sợ bị định kiến, kỳ thị.Ngoài ra, lợi thế trường học là khi thực hiện các hoạt động này cũng dễ dàng tiếpcận đến số đông Chính vì thế, ở nhiều nước, chính sách tăng cường cung cấp cácdịch vụ hỗ trợ SKTT đã quan tâm đến việc chuyển dịch và hướng các hình thứcchăm sóc, hỗ trợ truyền thống vào cơ cấu nhà trường

1.2.3 Thực trạng sực khỏe tâm thần ở vị thành niên ở Việt Nam

Sức khỏe tâm thần ở VTN đang là vấn đề được quan tâm ở Việt Nam, khi màcác em đang ngày càng có những biểu hiện từ khá sớm Dựa trên những nghiên cứutrước đây tỷ lệ thanh thiếu niên có vấn đề SKTT dao động từ 10-20% Việt Nam códân số xấp xỉ 78 triệu người, trong đó trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 50% Tuy nhiêngia đình và nhà trường lại chưa có sự quan tâm rõ rệt đến chăm sóc SKTT của trẻVTN nên tỷ lệ này có xu hướng tăng cao Theo nghiên cứu “Sức khỏe tinh thần củatrẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu tố nguy cơ” của nhóm tác giả: PGS.TSĐặng Hoàng Minh, Trường ĐH Giáo dục, Ths Nguyễn Cao Minh, Phòng Tâm lýhọc lâm sàng, Viện Tâm lý học, có từ 12 - 13% trẻ em Việt Nam (trong độ tuổi 6 -16), tức là có khoảng 2,7 triệu trẻ em và vị thành niên trên toàn quốc có những biểuhiện về sức khỏe tinh thần một cách rõ rệt [3] Tại tỉnh Lâm Đồng của Nguyễn ĐìnhChắt năm 2015, nghiên cứu về rối loạn sức khỏe tinh thần ảnh hưởng đến vi phạmnội qui của trường học trên đối tượng nghiên cứu là học sinh trung học từ lớp 8 - 12năm 2015, có kết quả 28,2% các em có vấn đề về SKTT và 17,3% các em có nguy

cơ có vấn đề về SKTT [29] Nguyễn Văn Thọ và cộng sự (2000) báo cáo tỉ lệ học

Trang 23

sinh 6-14 tuổi có vấn đề về SKTT ở các dạng khác nhau là từ 10,38% đến 24,29%trên 1.166 học sinh THCS tại tỉnh Đồng Nai [30] Nghiên cứu của TS.BS.Lê ThịKim Dung, PGS.Nguyễn Võ Kỳ Anh, TS.BSCKII.Lã Thị Bưởi và cộng sự đã chỉ rathực trạng SKTT ở các tỉnh Miền Bắc, nghiên cứu trên 2549 đối tượng là học sinhtrung học cơ sở tuổi từ 11-15 (48% nam và 52% nữ), được lựa chọn ngẫu nhiên ở

08 trường THCS đại diện cho các nền văn hóa, mức phát triển xã hội và kinh tếkhác nhau [31] Các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần có tỷ lệ giao động từ4,2% - 12,3% Thành phố Thái Nguyên năm 2009 của Đàm Thị Bảo Hoa có tỷ lệ là26,73% học sinh THCS có nghi ngờ mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần đượcsàng lọc bằng thang đo SDQ-25 [32]

Hà Nội là một trong 2 thành phố lớn nhất của nước ta, đứng thứ 2 về thànhphố phát triển kinh tế nhanh nhất Học sinh thuộc các thành phố lớn luôn bị ảnhhưởng bởi nhiều tác động đến tâm lý, đối mặt với những áp lực lớn hơn từ phía nhàtrường Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện tại Hà Nội, tỷ lệ VTN có các vấn đề vềSKTT khá cao, giao động từ 15-25% theo các quận/ huyện của thành phố Nhưnghiên cứu của Mc.Kelvay và cộng sự (1999) sử dụng thang đo đánh giá hành vicủa Thomas Achenbach (CBCL) điều tra 1500 trẻ tuổi từ 4-18 tại cộng đồng 2phường Đống Đa và Trung Tự ở Hà nội năm 1997, cho tỷ lệ trẻ có biểu hiện có vấn

tỷ lệ học sinh được điều tra có biểu hiện có vấn đề tâm thần khó khăn là 25,76%trong đó có 10,94% là ở mức độ có rối nhiễu, bệnh lý lâm sàng [33]

Trang 24

Khảo sát về sức khỏe tâm thần ở học sinh trên địa bàn Hà Nội bằng bộ công

cụ SDQ của Tổ chức Y tế Thế giới ở 1202 học sinh tiểu học và trung học cơ sở

(10-16 tuổi) cho thấy tỷ lệ học sinh có các vấn đề về sức khỏe tâm thần chung là19,46%, không khác biệt về nam, nữ, học sinh tiểu học hay trung học cơ sở [34].Những khó khăn về ứng xử của học sinh trong nghiên cứu của Bệnh viện MaiHương chiếm 9,23% Lứa tuổi từ 10-11 có tỷ lệ cao nhất từ 42 - 46% gặp khó khăn

về ứng xử Đặc biệt có sự chênh lệch rất lớn về khó khăn trong ứng xử giữa họcsinh nam (84.6%) và học sinh nữ (15,4%) [7]

Theo Lâm sàng, Nghiên cứu của Cao Vũ Hùng năm 2010 trên 80 trẻ vị thànhniên (từ 10-19 tuổi) tại khoa thần kinh bệnh viên nhi trung ương chỉ ra rằng: Tuổitrung bình mắc bệnh là 14,15±1,74, nữ gặp nhiều hơn nam Cho thấy rằng đoạn đầucủa tuổi VTN (từ 10-14 tuổi) là giai đoạn tâm lý các em bị ảnh hưởng nhiều nhất kể

cả từ khía cạnh gia đình đến xã hội của nước ta Việt Nam đang trong giai đoạnthuận lợi phát triển mạnh mẽ về cả kinh tế - văn hóa – xã hội, nên việc CSSK kể cả

về thể chất lẫn tâm thần cho người dân cần được chú ý với thực trạng tỷ lệ SKTTtrên gắp cả nước đang ngày càng tăng cao

1.2.4 Các biểu hiện hình thái các vấn đề sức khỏe tâm thần ở vị thành niên

Do kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, tuổi dậy thì ngày càng sớm ở trẻ em,các vấn đề về SKTT của VTN không còn là vấn đê hiếm gặp Các áp lực từ gia đình

và nhà trường khiến các em thường có những biểu hiện cáu giận, chán nản, ít nói,thiếu tự tin Nhiều khi biểu hiện dẫn đến tiêu cực như cãi lời cha mẹ, giáo viên,đánh bạn, nói dối Sức khỏe tâm thần ở VTN đươc biểu hiện qua rất nhiêu hình tháikhác nhau, cũng thùy thuộc vào đặc điểm của bản thân từng trẻ Theo thang đoSDQ, các biểu hiện vấn đề SKTT ở VTN được chia ra là năm nhóm chính Qua cácnghiên cứu trong nước và quốc tế, ta có thể thấy biểu hiện hay gặp ở VTN là gặpcác vấn đề rối loạn về cảm xúc Các em có biểu hiện ra bên ngoài như hay lo lắng,thiếu tự tin, buồn rầu, thường có xu hường ngại giao tiếp, ít nói chiếm 85,2% theonghiên cứu tại Thành phố Thái Nguyên năm 2009 của Đàm Thị Bảo Hoa [32], Cao

Vũ Hùng trên 80 trẻ có biểu hiện bệnh lý là 63,75% [35], tại tỉnh Lâm Đồng là

Trang 25

47,5% của Nguyễn Đình Chắt năm 2015 [29] Các vấn đề rối loạn về hành vi thường

có các biểu hiện ra bên ngoài như không tuân thủ nguyên tắc xã hội, hay nổi cáu khôngnghe lời người lớn, hay nói dối có khi là quậy phá đồ đạc Tỷ lệ này là từ 8,9% - 47,3%trên tổng số các em có vấn đề về SKTT tùy từng nghiên cứu [32,29] Hiếu động giảmchú ý là các biểu hiện về trẻ có dấu hiệu hay bồn chồn, không thể ngồi yên, không tậptrung làm việc hay học tập thường không thể hoàn thành hết các công việc được yêucầu, thường làm người khác mệt mỏi Biểu hiện này thường gặp ở trẻ nam nhiều hơntrẻ nữ Trên nhiều nghiên cứu tỷ lệ chiếm từ 16,2% - 28,1% Biểu hiện rối loạn trongquan hệ bạn bè cũng rất phổ biến, như trẻ thường có xu hướng thích làm một mình,không tham gia vào các hoạt động chung, ít bạn thân, hoặc có khi thích chơi với ngườihơn tuổi, ít chơi với người bằng tuổi, theo nghiên cứu của Bệnh viện Mai Hương tỷ lệnày là 42-46% [7] Biểu hiện này cũng chiếm cao nhất trong nghiên cứu ở Lâm Đồng(59%) [29] Biểu hiện giao tiếp xã hội thường là các biểu hiện trong đối xử với mọingười xung quanh như ích kỉ, không thích chia sẻ đồ, không thường tự nguyện giúp đỡ

ai Tỷ lệ biểu hiện này qua từng nghiên cứu dao động là 37% [29]

Ngoài ra còn các biểu hiện khác như có ý tưởng và thực hiện tự sát chiếm42,5% hay rối loạn giấc ngủ, ngủ không ngon giấc, mất ngủ chiếm 93,75% trên trẻ

có vấn đề về SKTT [35], một số em có các biểu hiện ám ảnh sợ hãi là 2,2% [32]

1.3 Một số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần học sinh

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng nhanh, vị thành niên là lứatuổi chịu nhiều tác động trong cộng đồng Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến rốinhiễu tâm trí của trẻ em, nhưng vẫn chịu sự tác động đến từ 3 yếu tố chính là giađình - xã hội (nhà trường) – bản thân trẻ Điều đó đã được chứng minh trong nghiêncứu của Nguyễn Thanh Hương và cộng sư năm 2007, nghiên cứu về mối nguy cơ vàbảo vệ về vấn đề trầm cảm, lo âu của 974 học sinh [5] Sự gắn kết gia đình và nhàtrường là yếu tố bảo vệ làm giảm sự lo âu trầm cảm của trẻ em Trong đó sự quantâm của cha có ảnh hưởng nhiều đến các em nam và sự quan tâm của mẹ có ảnhhưởng đến các em nữ Ngoài ra nghiên cứu cũng chứng minh được các em học sinh

có sự gắn kết với nhà trường có sức khỏe tâm thần khỏe mạnh

Trang 26

Nghiên cứu của Đàm Thị Bảo Hoa tại 2 trường THCS của tỉnh Thái Nguyêncũng đưa ra kết quả của các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần gồm: Cácsang chấn tâm lý liên quan đến học tập chiếm tỷ lệ cao (bị bố mẹ đánh mắng do họckém: 54,9%; Bị thầy cô phạt: 41,5 %; Bị điểm kém: 73,2%) Các sang chấn như bịngười khác dọa nạt; có người thân mất hoặc bị bệnh nặng; bản thân bị bệnh daođộng từ 14,6% - 19,5% [32]

Nghiên cứu của Lê Thị Kim Dung năm 2005 chỉ ra các yếu tố gia đình, nhàtrường, xã hội ảnh hưởng đến SKTT trẻ em như: Kém hoà đồng, khó kết bạn, ít bạn(47,4%); Quan tâm không đúng mức của gia đình (46,6%); Số học sinh nhóm đốitượng nghiên cứu không sống cùng bố mẹ đẻ (12,1%); Cha mẹ đã kỳ vọng vào con cáiquá nhiều, nguyện vọng của bố mẹ quá mức về thành tích học tập 88,9% đạt loại khágiỏi [31] Ngoài ra còn các yếu tố liên quan đến học tập tại nhà trường như: Thời gianhọc thêm: 100%; Sự học tập gây căng thẳng về tâm thần (84,7%); Bị áp lực của việchọc thi học nhiều (61%); 60,3% số học sinh gặp khó khăn trong học tập

Nghiên cứu của Cao Vũ Hùng trên lâm sàng chứng minh được các yếu tố cánhân có liên quan đến vấn đề SKTT ở trẻ vị thành niên [35] Những trẻ có xu hướngtính cách hướng nội: sống khép kín, nội tâm, chi li, quá cẩn thận, cầu toàn gặp rốiloạn nhiều hơn (có ý nghĩa thống kê với p=0,001) hay trẻ có tiền sử mắc các bệnhtâm thần, thần kinh, các bệnh cơ thể nặng, mãn tính làm tăng nguy cơ mắc trầm cảmgấp 3,63 lần so với trẻ khỏe mạnh Các vấn đề gia đình xã hội cũng được đưa ratrong nghiên cứu như: Tiền sử gia đình có người mắc các bệnh tâm thần; Trẻ VTNtrong gia đình có cấu trúc không hoàn thiện; Những thất bại, xung đột trong các mốiquan hệ với bạn bè, người thân; học tập căng thẳng, thất bại trong thi cử, chuyểnmôi trường học

Sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội với tốc độ nhanh chóng đã làm nảy sinhnhiều tác động lớn và làm tổn thương SKTT trẻ em, dẫn đến các rối loạn stress,trầm cảm, tự tử, hành vi chống đối (như bỏ nhà, trốn học, trộm cắp, hung dữ, tànbạo, đánh nhau, phá vỡ các quy tắc xã hội…), nghiện hút, mại dâm… Các hiệntượng trên ngày một gia tăng, thậm chí đến mức báo động… và đã trở thành mối lo

Trang 27

ngại chung cho từng gia đình, tổ chức, nhà nước của nhiều quốc gia trên thế giới ỞViệt Nam, với sự biến đổi của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hoá, mở rộng giaolưu văn hoá liên quốc gia, mỗi người dân nói chung và trẻ em nói riêng đòi hỏi phảitheo kịp sự phát triển của xã hội Nảy sinh gia tăng mâu thuẫn quan điểm giữa các thế

hệ, mâu thuẫn giữa nhu cầu bản thân và sự đáp ứng của xã hội, gia đình; cấu trúc giađình bị phá vỡ, chuẩn mực xã hội thay đổi… Đây là những stress tâm lý xã hội tácđộng không nhỏ đến tâm lý và gây tổn thương SKTT của trẻ vị thành niên

Các vấn đề sức khoẻ tâm thần ở tuổi vị thành niên nếu không được quan tâmphòng ngừa và can thiệp phù hợp sẽ để lại nhiều hậu quả cho cá nhân, gia đình và

xã hội Một trong những hậu quả nghiêm trọng của vấn đề là trẻ có thể có ý định tự

tử và thực hiện hành vi tự tử Vấn đề sức khỏe tâm thần cũng có ảnh hưởng lớn tớimối quan hệ của cá nhân với các thành viên trong gia đình, với bạn bè, ảnh hưởngđến kết quả học tập tại trường, năng suất lao động cũng như sự phát triển cá nhânnói chung Vì vậy việc nhận thức đúng đắn, xác định rõ ràng vấn đề SKTT vàphòng ngừa, chăm sóc, điều trị sức khoẻ tâm thần cho lứa tuổi học sinh có tầm quantrọng và ý nghĩa to lớn

1.3.1 Yếu tố cá nhân

Yếu tố di truyền: vấn đề di truyền có ảnh hưởng xấu đến một số vấn đề SKTT

nhưng không phải là tuyệt đối Có khi các vấn đề SKTT phát sinh trong một thànhviên của gia đình mà không thấy trong các thành viên khác, có trường hợp cha mẹđều có bệnh mà con cháu vẫn khỏe mạnh bình thường Cũng có trường hợp nhân tố

di truyền không tác động vào thế hệ tiếp theo mà vào thế hệ sau nữa

Những nguyên nhân liên quan khi sinh: trường hợp sinh khó để lại di chứng

trong sự phát triển của bộ não

Những nguyên nhân do nuôi dưỡng: chế độ ăn uống không hợp lý đẫn đến suy

dinh dưỡng, ảnh đến sức khỏe thể lực cũng như SKTT

Nhân cách bao gồm: thích thú, khuynh hướng, năng lực, tính cách, khí

chất… Nhân cách mạnh, bền vững là một nhân tố chống lại sự phát sinh các vấn

đề về SKTT, nhất là các bệnh do căn nguyên tâm lý Khi mắc các vấn đề về SKTT

Trang 28

thì người có nhân cách vững bị nhẹ hơn và hồi phục nhanh hơn Nhân cách yếu,không bền vững là một yếu tố thuận lợi cho vấn đề SKTT phát sinh, khi mắc thì sẽhồi phục khó khăn và chậm.

1.3.2 Yếu tố nhà trường

Giáo dục ở nhà trường cũng có thể gây nên những tổn thương tâm thần cho trẻ

em Đó là cách giáo dục áp đặt làm cho trẻ em thiếu tự tin Nội dung chương trìnhquá tải, áp lực thi cử nặng nề làm cho trẻ em lúc nào cũng căng thẳng, lo sợ, dẫn đếnnhững vấn đề về cả thế xác lẫn tâm thần Vấn đề học thêm với chính thầy cô ởtrường, trẻ phải học ngày học đêm nên không có thời gian nghỉ ngơi, giải trí, luyệntập thân thể Điều này dẫn đến những hành vi bất thường, tác hại lâu dài đến tư duysáng tạo học hỏi của trẻ

1.3.3 Yếu tố gia đình

Gia đình là nền tảng của xã hội, gia đình hạnh phúc, con cái trưởng thành, sẽđóng góp một phần cho sự phát triển một xã hội tốt đẹp, một đất nước văn minh vàgiàu mạnh Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực như sự tốt đẹp của mỗi giađình, sự hạnh phúc của cha mẹ, sự trưởng thành của con cái, thì vẫn có những vấn

đề mà mỗi chúng ta đều phải nhìn nhận một cách xác đáng Đặc biệt là trẻ VTNsống trong gia đình có những hoàn cảnh không may như gia đình ly tán, cha mẹthường xuyên xung đột, có người uống rượu, thường xuyên dùng bạo lực, trẻ bị bạohành, bị đối xử bất công, bị xúc phạm, giáo dục lệch lạc dễ bị ảnh hưởng đến hành

vi, ứng xử Những gia đình có bố mẹ quá bận rộn với công việc không có thời gianchăm sóc gần gũi con cái sẽ khiến cho trẻ bị lôi cuốn bởi những tác động xấu từ xãhội, từ phim ảnh, internet [31]

Những áp đặt của bố mẹ, thiếu tin tưởng, thiếu công bằng cũng dẫn đến hiệntượng có vấn đề về SKTT ở tuổi VTN hiện nay

Trong giai đoạn hiện nay, dưới sức ép của một nền kinh tế phát triển nhanh,tiếp nhận một lượng thông tin quá lớn trong thời đại bùng nổ tin học, có nhiều tácnhân gây stress ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em như: nhiều gia đình có nguyện vọngcho con em học thêm nhiều để nâng cao tri thức, khối lượng học ở trường nhiều,

Trang 29

học thêm nhiều, vì vậy thời gian vui chơi giải trí và vận động tích cực buộc phải thuhẹp lại Cha mẹ bận rộn nhiều, ít có thời gian quan tâm, chăm sóc con cái.

Xã hội hiện đại đang tạo ra những con người năng động trong nhiều lĩnh vực

Sự đòi hỏi khắt khe của xã hội cùng với những kỳ vọng của cha mẹ vào con cái đều

có thể là nguyên nhân gây áp lực tâm thần cho các em khi mà năng lực của các emkhông đáp ứng được

1.3.4 Quan hệ thầy trò, bạn bè

Mối quan hệ bạn bè, thầy cô cũng là vấn đề rất quan trọng trong những ứng xửcủa trẻ Trong trường học thường hình thành những nhóm trẻ chơi với nhau do hợptính cách nhưng cũng có những nhóm trẻ con nhà giàu có điều kiện thì chơi vớinhau, đua nhau những vật dụng cá nhân, ăn mặc, tiêu xài… Sự phân nhóm này dẫnđến tình trạng phân biệt giàu nghèo khiến các bạn con nhà nghèo thường mặc cảm

tự ti, không dám tiếp xúc hoặc có xu hướng đua đòi dẫn đến những hành vi xấu,lệch lạc Mối quan hệ giữa học sinh và thầy cô có sự cách biệt, thầy giảng, trò nghe,chép không có sự khuyến khích sáng tạo, trao đổi thảo luận để trẻ có thể bộc lộ cáccảm xúc của mình, điều này dẫn đến tình trạng học sinh chây ì, không phát huyđược khả năng mà luôn thụ động dựa vào bài giảng của giáo viên

1.4.Một số đặc điểm KT-VH-XH huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

Bình Xuyên là một huyện có cả ba địa hình là: đồng bằng, trung du và miềnnúi, có vị trí nằm gần trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phúc, cách thành phố VĩnhYên 7 km dọc theo quốc lộ 2, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 50km theo hướng Tây –Tây Bắc Phía Bắc giáp huyện Tam Đảo và tỉnh Thái Nguyên, phía Đông giáp thị xãPhúc Yên và huyện Mê Linh (thuộc Thủ đô Hà Nội), phía Nam giáp huyện YênLạc, phía Tây giáp huyện Tam Dương, Yên Lạc và TP Vĩnh Yên

Vị trí địa lý có nhiều thuận tiện cho sự giao lưu hàng hóa và phát triển dịch vụ.Bình Xuyên là huyện trọng điểm phát triển khu công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc,cách không xa các khu công nghiệp tập trung như: Bắc Thăng Long - Nội Bài; khucông nghiệp Sài Đồng, cảng hàng không Nội Bài (Hà Nội); nằm giữa hai trung tâmkinh tế – chính trị lớn của tỉnh là Vĩnh Yên và Phúc Yên; có đường sắt Hà Nội –

Trang 30

Lào Cai, Quốc lộ 2 và đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai chạy qua là những điều kiệnrất thuận lợi để huyện phát triển một nền kinh tế đa dạng (công nghiệp – dịch vụ vànông lâm nghiệp) và hình thành các khu công nghiệp, các trung tâm dịch vụ Với bathị trấn trên địa bàn huyện, gồm: Hương Canh – huyện lỵ và hai thị trấn ThanhLãng và Gia Khánh, lại nằm ở vị trí giữa hai đô thị lớn của tỉnh Vĩnh Phúc, BìnhXuyên cũng gặp không ít khó khăn hạn chế.

Mật độ dân số năm 2010 là 768 người/km2, bằng 84,5% mật độ dân số trungbình toàn tỉnh Về phân bố dân cư: do đặc điểm tự nhiên, dân cư tập trung chủ yếu ởcác xã, thị trấn đồng bằng, điều kiện sinh sống và đi lại dễ dàng Những đơn vị hànhchính có mật độ dân số cao là: Thị trấn Hương Canh: 1.457 người/km2; xã Thanh Lãngđứng thứ hai với 1.396 người/km2 Về mức độ đô thị hóa: Tỷ lệ dân số thành thị củahuyện ngày một tăng cao do sự phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Dân số trong độ tuổi lao động năm 2010 là 59,437 nghìn người, chiếm 53,42%dân số toàn huyện Hiện tại, số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân

là khoảng 56,87 nghìn người, chiếm 95,86% lao động trong độ tuổi, trong đó khuvực nông - lâm nghiệp chỉ chiếm khoảng 5,5% tổng lao động trong độ tuổi, khu vựcphi nông nghiệp chiếm khoảng 90%

Toàn huyện có 54 trường (01 trường tư thục), trong đó 21 trường Mầm non, 19trường Tiểu học và 14 trường THCS Đến nay, toàn huyện có 784 phòng học, trong

đó phòng học kiên cố là 604 đạt 77%, phòng bán kiên cố là 180 chiếm 23% Sốphòng học bộ môn 112 và 100% các trường Tiểu học, THCS có phòng thư viện,thiết bị Số phòng học tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức học 2 buổi/ngày, học bán trú và giảm tình trạng quá tải số học sinh/lớp Chất lượng giáo dụctoàn diện đã có những chuyển biến tích cực và vững chắc Năm 2012 – 2013, đãhuy động được 56% các cháu trong độ tuổi ra nhà trẻ; 99,1% ra mẫu giáo; 100% trẻ

5 tuổi ra lớp học Học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học 100%, học sinh đượccông nhận tốt nghiệp THCS đạt 98,9% Nâng tầm sự nghiệp giáo dục-đào tạo theohướng nâng cao chất lượng toàn diện, ổn định bền vững, nhân rộng mô hình trườngchuẩn quốc gia là mục tiêu ưu tiên trong những năm tới của phòng giáo dục huyện

Trang 31

Bình Xuyên Theo đó, chăm lo phát triển giáo dục mầm non; đảm bảo sự ổn địnhbền vững phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi; duy trì có hiệu quả phổ cậpTHCS, phấn đấu đạt phổ cập THPT vào năm 2015; đổi mới công tác quản lí giáodục, phương pháp dạy học; tăng cường công tác thanh tra, kiểm định chất lượng ởtất cả các cấp học, ngành học; đẩy mạnh các hoạt động giáo dục toàn diện nhằmnâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, chú trọng nâng cao chất lượng học sinh giỏi

ở các cấp

Trang 32

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.5 Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu

1.5.1 Địa điểm

Hai trường THCS Hương Canh tại thị trấn Hương Canh và THCS Thanh Lãng tại xã Thanh Lãng của huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

1.5.2 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu định lượng

- Học sinh THCS tại các trường được lựa chọn vào nghiên cứu

- Thầy hoặc cô giáo chủ nhiệm của lớp có học sinh được chọn vào nghiên cứu

Nghiên cứu định tính

- Đại diện cha hoặc mẹ học sinh tham gia vào nghiên cứu

- Đại diện giáo viên

- Đại diện Ban giám hiệu nhà trường, đại diện lãnh đạo trung tâm y tế dựphòng huyện và đại diện lãnh đạo phòng giáo dục huyện

Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

Học sinh: Học sinh trung học cơ sở đang đi học tại 2 trường THCS Hương

Canh và THCS Thanh Lãng

Tiêu chuẩn loại trừ học sinh không tham gia vào nghiên cứu

Học sinh không đồng ý tham gia nghiên cứu

Những học sinh đã được xác định có mắc bệnh tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ

1.6 Thời gian nghiên cứu

Tháng 1 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017

1.7 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích, có nghiên cứu định lượng với nghiên cứu định tính

Trang 33

− Nghiên cứu định lượng nhằm xác định tỷ lệ hiện mắc các vấn đề sức khoẻtâm thần quan trọng ở học sinh trung học cơ sở và phân tích mối liên quangiữa các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình đến vấn đề sức khoẻ này

− Nghiên cứu định tính nhằm thăm dò quan niệm và các cách xử trí của cha mẹhọc sinh và giáo viên về vấn đề SKTT ở học sinh trung học cơ sở cũng nhưcác ý kiến đề xuất về mô hình can thiệp tại gia đình và nhà trường nhằmnâng cao sức khỏe tâm thần của học sinh

1.8 Cỡ mẫu và chọn mẫu

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ trong quần thể

pq n= Z2

(1- α /2) - x DE (Ɛp)2

Với p=0,15 là tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT, theo nghiên cứu của Lê ThịKim Dung (2007) [35];

α=0,05; Z1-α/2=1,96 với CI= 95%;

Ɛ: Mức sai lệch tương đối mong muốn = 0,3;

DE: Hiệu lực thiết kế, với nghiên cứu chọn DE=2

Thêm 10% tỷ lệ số học sinh bỏ cuộc

Cỡ mẫu cuối cùng cho mỗi trường là 520 học sinh, thực tế có 556 học sinhtham gia vào nghiên cứu

2 trường là 16 lớp vào nghiên cứu

Chọn học sinh: chọn tòan bộ các học sinh của các lớp đã được chọn đảm bảo cómặt tại thời điểm vào tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

Trang 34

Chọn giáo viên: tất cả giáo viên chủ nhiệm của các lớp đã được chọn của 2trường, ngoài ra các giáo viên dạy môn Giáo dục công dân và môn Sinh học cũng đượcmời dự thảo luận nhóm với GVCN

Chọn Phụ huynh học sinh: PHHS do Ban giám hiệu nhà trường triệu tập.Mỗi trường chọn 2 nhóm đại diện PHHS: Nhóm 1: Đại diện cha mẹ có con học tốt(lớp đầu khối); nhóm 2: đại diện cha mẹ có con học yếu (lớp cuối khối)

1.9 Các biến số và các chỉ số

1.9.1 Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng sức khỏe tâm thần học sinh THCS tại 2

trường THCS huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc bằng thang đo SDQ năm học 2015-2016.

Các đặc trưng cơ bản của học sinh: tuổi, giới, học lực, hạnh kiểm, dân tộc

Tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần/nghi ngờ/ không có vấn đề

+ Tỷ lệ học sinh tại 2 trường THCS có vấn đề SKTT

+ Tỷ lệ vấn đề SKTT học sinh theo giới

+ Tỷ lệ vấn đề SKTT học sinh theo khối lớp

Tỷ lệ các biểu hiện vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh: vấn đề về cảm xúc, vấn đề về hành vi, quan hệ bạn bè, quan hệ xã hội, sự hiếu động

+ Tỷ lệ các biểu hiện vấn đề SKTT học sinh tại 2 trường THCS

+ Tỷ lệ các biểu hiện vấn đề SKTT học sinh theo giới

+ Tỷ lệ các biểu hiện vấn đề SKTT học sinh theo khối lớp

1.9.2 Mục tiêu 2: Mô tả một số yếu tố liên quan sức khỏe tâm thần học sinh

THCS tại 2 trường THCS huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc bằng thang

đo SDQ năm học 2015-2016

−Các yếu tố cá nhân

Các yếu tố liên quan đến đặc trưng cá nhân: tuổi, lớp, giới

Các yếu tố liên quan đến kết quả và điều kiện học tập: học lực, hạnh kiểm, chơi thể thao, chơi máy tính, học thêm

−Các yếu tố gia đình: Bố mẹ xa nhà hoặc đã mất; Gia đình có người bị bệnh, tàn tật; Bố mẹ hoặc người nhà cãi nhau; Bố mẹ hoặc người nhà đánh nhau; Bố mẹ phạt khi bị điểm kém (phân tích theo đơn biến, OR 95%CI)

Trang 35

−Các yếu tố trường học: Không thích đi học, không thấy trường mình đẹp, không thích hoạt động ngoại khóa, Bị bạn bè bắt nạt, Bị thầy cô giáo phạt làm việc quá sức, Bị thầy cô giáo mắng, Bị thầy cô giáo đánh (phân tích theo đơn biến, OR 95%CI).

Kết quả định tính:

−Thực trạng sức khỏe tâm thần học sinh hiện nay

−Nhận thức về các biểu hiện và các dấu hiệu bất thường về sức khỏe tâm thần học sinh

−Nguyên nhân của vấn đề SKTT ở học sinh

−Các biện pháp giảm thiểu nguyên nhân, ngăn ngừa vấn đề sức khỏe tâm thần

ở học sinh

1.10 Phương pháp thu thập số liệu

1.10.1.Thu thập thông tin định lượng

Đối tượng học sinh

− Tất cả các cuộc điều tra học sinh được tiến hành tại lớp học của các em

− Học sinh được điều tra viên phổ biến mục đích, yêu cầu của cuộc khảo sát

− Học sinh tự trả lời theo bộ câu hỏi tự điền về thông tin chung (Phụ luc 1) gồmcác câu hỏi về thông tin cá nhân, các câu hỏi về yếu tố gia đình và yếu tố nhàtrường

− Các điều tra viên giám sát chặt chẽ quá trình học sinh điền phiếu trung thực,chính xác, không để học sinh hỏi nhau và chép của nhau

− Kiểm tra lại phiếu phỏng vấn của từng học sinh sau mỗi lần, ĐTV đảm bảocác thông tin trong bộ câu hỏi được điền đầy đủ

Đối tượng giáo viên

- Tất cả giáo viên được điều tra viên phổ biến mục đích, yêu cầu của cuộckhảo sát

− Giáo viên chủ nhiệm sử dụng bộ câu hỏi SDQ – 25 đánh giá từng học sinhtrong lớp mình chủ nhiệm (Phụ lục 2) đánh giá thực trạng SKTT của họcsinh lớp mình (yêu cầu giáo viên chủ nhiệm đã phụ trách lớp ít nhất một học

kì trước đó)

Trang 36

− Sau khi thu phiếu tự điền lại, các ĐTV sẽ kiểm tra lại đảm bảo các thông tin được cung cấp đầy đủ, nếu có thiếu sót thông tin, xin gặp lại các GVCN đó

đề nghị bổ sung cho đầy đủ

1.10.2.Thu thập thông tin định tính

1.10.2.1 Thảo luận nhóm

− Thời gian cho mỗi cuộc thảo luận nhóm khoảng 60 phút

− Số lượng cuộc thảo luận nhóm: có 3 cuộc thảo luận nhóm mỗi trường, 2trường là 6 cuộc thảo luận nhóm

+ Thảo luận nhóm giáo viên hỗn hợp: giáo viên chủ nhiệm của các lớp đượcchọn, giáo viên dạy GDCD và giáo viên dạy môn sinh học (Theo hướng dẫnthảo luận nhóm phụ lục 3)

+ Thảo luận nhóm PHHS: nhóm 1 là nhóm phụ huynh có con học lớp đầukhối; nhóm 2 là nhóm phụ huynh có con học lớp cuối khối (Theo hướng dẫnthảo luận nhóm phụ lục 4)

2 Các yếu tố liên quan/ nguyên nhân (tập trung theo nhóm: do bản thân học sinh,điều kiện gia đình và môi trường giáo dục nhà trường, công tác y tế trường học

và môi trường xã hội)

3 Các ý kiến đề xuất của đối tượng về các biện pháp ngăn ngừa nguy cơ giảmthiểu tình trạng mắc SKTT học sinh

Trang 37

1.10.2.2 Phỏng vấn sâu:

− Đối tượng phỏng vấn sâu: Đại diện ban giám hiệu 2 trường (hướng dẫnphỏng vấn sâu phụ lục 5), trung tâm y tế huyện và phòng giáo dục huyện (hướngdẫn phỏng vấn sâu phụ lục 6)

−Nội dung của phỏng vấn sâu là tập trung vào câc vấn đề sau

4 Các ý kiến đề xuất của đối tượng về các biện pháp phát hiện, theo dõi, ngăn ngừanguy cơ giảm thiểu tình trạng mắc SKTT học sinh

− Biểu hiện cảm xúc: buồn rầu, thất vọng, cáu gắt, tức giận, suy nhược, sợhãi, lo lắng, mất quan tâm thích thú, ngại giao tiếp bạn bè

− Biểu hiện hành vi: mất tự chủ, mất trật tự, vi phạm nội quy, bỏ học, gây hấn

− Sự hiếu động của trẻ: căng thẳng, bồn chồn, luôn ngọ nguậy, hấp tấp,không thể tập trung chú ý để làm một việc gì đến nơi đến chốn

− Quan hệ bạn bè: cách biệt, thích một mình, ít giao tiếp, thiếu hòa hợp, khôngđược các bạn yêu mến

− Quan hệ xã hội: không thân ái thân thiện, không tình nguyện, không chia

sẻ, không giúp đỡ mọi người, bàng quan vô cảm với xung quuanh

Trang 38

Tiêu chí đánh giá: Đánh giá kết quả theo thang điểm SDQ có 3 cách lựa chọn:

Không đúng = 0 điểm; Đúng một phần = 1 điểm; Chắc chắn đúng = 2 điểm Đánh giá sức khỏe tâm thần: tính tổng điểm 20 câu, không tính điểm giao tiếp

xã hội Tổng điểm được chia làm 3 mức (Phụ lục 7):

− Bình thường: không gặp khó khăn về SKTT

− Nghi ngờ: nghi ngờ, chưa chắc chắn

− Có vấn đề SKTT: có khó khăn về SKTT

Xác định các yếu tố liên quan đến thực trạng SKTT được phân tích theo đơn/

đa biến logistic theo nhóm yếu tố liên quan: Cá nhân học sinh, điều kiện gia đình,môi trường học tập và các yếu tố khác bằng tỷ suất chênh OR 95% CI (ConfidentInterval: khoảng tin cậy) dùng để đo lường sự khác biệt ở 2 nhóm so sánh

1.11.2.Số liệu định tính

- Tiến hành gỡ băng ghi âm, ghi chép lại bằng văn bản Word một cách trungthực và được mã hóa theo các chủ đề: tình trạng mắc, xu thế, các biểu hiện thườnggặp, quyết định xử trí của gia đình, học sinh và trường học với trường hợp học sinh

có vấn đề về SKTT và các đề xuất can thiệp thực trạng SKTT ở học sinh

- Trích dẫn những thông tin, kiến nghị, đề xuất của các đối tượng tham giaphỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

1.12 Sai số và không chế sai số

Sai số trong quá trình thu thập thông tin: Công cụ nghiên cứu chỉ dựa vào bộcâu hỏi được thiết kế sẵn phát cho đối tượng nghiên cứu mà không được trực tiếpkhai thác, nên các thông tin thu được phụ thuộc nhiều vào sự trả lời tích cực của đốitượng được nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu có thể trả lời không đúng như cáchành vi hoạt động, ứng xử hoặc suy nghĩ thực tế Điều đó có thể dẫn đến đánh giákhông chính xác mức độ của vấn đề, có thể dẫn đến sai số

Đối tượng nghiên cứu có thể hiểu vấn đề không chính xác, dẫn đến đưa ra cáccâu trả lời không đúng

Cách khắc phục

Trang 39

− Bộ phiếu được thiết kế dễ hiểu, rõ ràng để đạt được tối đa thông tin trungthực nhất.

− Đã tiến hành điều tra thử một lần để chỉnh sửa bộ câu hỏi cho phù hợp

− Trước khi phát bộ phiếu, điều tra viên phổ biến, giải thích cho học sinh vềmục đích của nghiên cứu và nội dung của phiếu tự điền, giải thích một số cụm từ

mà học sinh chưa rõ, đồng thời hướng dẫn cách điền bộ câu hỏi rõ ràng để tránhnhầm lẫn của học sinh

− Kiểm tra phiếu trước khi nhập, những phiếu thiếu sót nhiều thông tin thì loại bỏ

1.13 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm mục đích thu thập thông tin về tình hình SKTT của học sinh từ

đó đề xuất giải pháp phù hợp nâng cao sức khoẻ và cải thiện thực trạng SKTT ở học sinh

Thông tin thu được được bảo mật, đảm tính riêng tư và không định danh đốitượng nghiên cứu

Nghiên cứu được sự đồng ý của các trường tham gia nghiên cứu cũng nhưphụ huynh học sinh tham gia vào nghiên cứu

Học sinh và các đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu và có quyền từ chối tham gia vào nghiên cứu bất cứ khi nào mà không phải chịu bất cứ chi phí nhằm phục vụ nâng cao sức khỏe cộng đồng, phòng chống các vấn đề về SKTT

Trang 40

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1.14 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Trong tổng số 556 học sinh, có 51,1% học sinh nam và 48,9% học

sinh nữ; có 68,2% học sinh có học lực giỏi và khá và 31,8% học lực trung bình vàyếu; có 92,6% hạnh kiểm tốt/ khá và 7,4% hạnh kiểm trung bình/ yếu; có 98,7% dântộc kinh và 1,3% là dân tộc khác Trong đó có 6,1% các em có nghề nghiệp bố làcán bộ; 22,8% là nông dân; 11,7% là công nhân, 34,9% là thợ thủ công và 24,5% lànghề nghiệp khác như lá xe, buôn bán, … Nghề nghiệp của mẹ có 11% là cán bộ;40,3% là nông dân; 26,8% là công nhân; 3,6% là thơ may, thợ thủ công… 18,3% là

có nghề nghiệp khác

Ngày đăng: 19/07/2017, 16:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Khoa Y tế công cộng - Trường Đại học Y Hà Nội (2004), Sức khỏe lứa tuổi.Hà Nội. NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe lứa tuổi
Tác giả: Khoa Y tế công cộng - Trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2004
12. Lê thị Thanh Xuân và cộng sự (2006), "Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản và phòng chống HIV/AIDS của vị thành niên trong và ngoài trường học tại các vùng dự án do Plan hỗ trợ. Báo cáo kết quả năm 2006", tr. 105 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kiến thức, thái độ, thựchành về sức khỏe sinh sản và phòng chống HIV/AIDS của vị thành niêntrong và ngoài trường học tại các vùng dự án do Plan hỗ trợ. Báo cáo kếtquả năm 2006
Tác giả: Lê thị Thanh Xuân và cộng sự
Năm: 2006
13. Achenbach, Integrative guide of CBCL/4-18, YSR and TRF profiles Burlington: Department of Psychiatry. 1991, University of Vermont Sách, tạp chí
Tiêu đề: Integrative guide of CBCL/4-18, YSR and TRF profilesBurlington: Department of Psychiatry
14. John S. Lyons, An Information Integration Tool for Children and Adolescents with Mental Health Challeengens CANS – MH, Child and Adolescent needs &amp; Strengths. 2008, University of Ottawa Children’s Hospital of Eastern Ontario Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Information Integration Tool for Children andAdolescents with Mental Health Challeengens CANS – MH, Child andAdolescent needs & Strengths
15. Robert Goodman, Scoring the Sefl-Report Strengths and Difficulties Questionnaire. 1997, Institute of Psychiatry London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scoring the Sefl-Report Strengths and DifficultiesQuestionnaire
17. Achenbach et al (2008), “Multicultural assessment of child and adolescent psychopathology with YRS, and SDQ instrucments: research findings, application, and future directions”, “Journal of child Psychology and Psychiatry. 49(3): p.251-275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multicultural assessment of child and adolescentpsychopathology with YRS, and SDQ instrucments: research findings,application, and future directions”, “"Journal of child Psychology andPsychiatry
Tác giả: Achenbach et al
Năm: 2008
19. Lê Thu Phương (2014), Nghiên cứu sức khỏe tâm thần học sinh bằng thang SDQ tại hai trường THPT công lập Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sức khỏe tâm thần học sinh bằng thangSDQ tại hai trường THPT công lập Hà Nội
Tác giả: Lê Thu Phương
Năm: 2014
20. Trung tâm nghiên cứu đào tạo và Phát triển cộng đồng, Báo cáo kết quả nghiên cứu thí điểm sử dụng bộ công cụ sàng lọc Rối nhiều tâm trí học sinh SDQ tại các trường phổ thông của Hà Nội. 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quảnghiên cứu thí điểm sử dụng bộ công cụ sàng lọc Rối nhiều tâm trí học sinhSDQ tại các trường phổ thông của Hà Nội
21. World Health Organization. Mental health: a state of well-being. Geneva, Switzerland: World Health Organization; 2011. Available at http://www.who.int/features/factfiles/mental_health/en/index.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mental health: a state of well-being
22. National Research Council and Institute of Medicine. Preventing mental, emotional, and behavioral disorders among young people: progress and possibilities. Washington, DC: The National Academic Press; 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preventing mental,emotional, and behavioral disorders among young people: progress andpossibilities
23. Angold A, Erkanli A, Farmer EM, et al. Psychiatric disorder, impairment, and service use in rural African American and white youth. Arch Gen Psychiatry 2002;59:893–901 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychiatric disorder, impairment,and service use in rural African American and white youth
25. Eisenberg D, Neighbors K, Economic and policy issues in preventing mental disorders and substance abuse among young people: presentation for the IOM, Committee on the Prevention of Mental Disorders and Substance Abuse, October 31st, 2007: Department of Health Management and Policy School of Public Health, University of Michigan; 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic and policy issues in preventing mentaldisorders and substance abuse among young people: presentation for theIOM
26. Kogan MD, Strickland BB, Blumberg SJ, Singh GK, Perrin JM, van Dyck PC, A national profile of the health care experiences and family impact of autism spectrum disorder among children in the United States, 2005–2006.Pediatrics 2008;122:e1149–58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A national profile of the health care experiences and family impact ofautism spectrum disorder among children in the United States, 2005–2006
28. Ruth Perou et al, PhD, National Center on Birth Defects and Developmental Disabilities. Mental Health Surveillance Among Children — United States, 2005– Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mental Health Surveillance Among Children — United States
31. Lê Thị Kim Dung, Lã Thị Bưởi, Đinh Đăng Hòe và cs (2007), Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của học sinh ở một số trường THCS, Hội thảo "Can thiệp và phòng ngừa các vấn đề sức khỏe tinh thần trẻ em Việt Nam", Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can thiệp và phòng ngừa các vấn đề sức khỏe tinh thần trẻ em ViệtNam
Tác giả: Lê Thị Kim Dung, Lã Thị Bưởi, Đinh Đăng Hòe và cs
Năm: 2007
32. Đàm Thị Bảo Hoa, Nguyễn Văn Tư (2013), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến rồi loạn tâm thần- hành vi của học sinh thành phố Thái Nguyên, Tạp chí Y học dư phòng (875)-số 7/2013; 14-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liênquan đến rồi loạn tâm thần- hành vi của học sinh thành phố Thái Nguyên
Tác giả: Đàm Thị Bảo Hoa, Nguyễn Văn Tư
Năm: 2013
33. Đặng Hoàng Minh và Hoàng Cẩm Tú (2009), Thực trạng SKTT ở học sinh THCS ở Hà nội và nhu cầu tham vấn SKTT học đường, Tạp trí Khoa học xã hội và Nhân văn, 2009; 25(1S); 106-112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng SKTT ở học sinhTHCS ở Hà nội và nhu cầu tham vấn SKTT học đường
Tác giả: Đặng Hoàng Minh và Hoàng Cẩm Tú
Năm: 2009
35. Cao Vũ Hùng (2010), Nghiên cứu rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên điều trị tại bệnh viện nhi Trung ương, Luận án tiến sĩ, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên điềutrị tại bệnh viện nhi Trung ương
Tác giả: Cao Vũ Hùng
Năm: 2010
36. Lê Thị Thanh Xuân và cộng sự (2004), Thực trạng hoạt động y tế trường học và định hướng xây dựng thực hành nâng cao sức khỏe trường học. Báo cáo kết quả năm 2004, Plan tại Việt nam hỗ trợ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hoạt động y tế trườnghọc và định hướng xây dựng thực hành nâng cao sức khỏe trường học
Tác giả: Lê Thị Thanh Xuân và cộng sự
Năm: 2004
24. CDC. Web-Based Injury Statistics Query and Reporting System(WISQARS). Atlanta, GA; 2011. Available athttp://www.cdc.gov/injury/wisqars/index.html Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Một số đặc điểm học sinh - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của học sinh bằng thang đo SDQ tại 2 trường THCS huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc năm học 2015   2016
Bảng 3.1. Một số đặc điểm học sinh (Trang 40)
Bảng 3.2. Điều kiện hoàn cảnh gia đình của học sinh - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của học sinh bằng thang đo SDQ tại 2 trường THCS huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc năm học 2015   2016
Bảng 3.2. Điều kiện hoàn cảnh gia đình của học sinh (Trang 42)
Bảng 3.3. Tự nhận xét của học sinh về nhà trường - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của học sinh bằng thang đo SDQ tại 2 trường THCS huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc năm học 2015   2016
Bảng 3.3. Tự nhận xét của học sinh về nhà trường (Trang 43)
Bảng 3.4.Các biểu hiện của vấn đề SKTT theo khối lớp - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của học sinh bằng thang đo SDQ tại 2 trường THCS huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc năm học 2015   2016
Bảng 3.4. Các biểu hiện của vấn đề SKTT theo khối lớp (Trang 48)
Bảng 3.6. Vấn đề SKTT của học sinh theo đặc trưng của học sinh - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của học sinh bằng thang đo SDQ tại 2 trường THCS huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc năm học 2015   2016
Bảng 3.6. Vấn đề SKTT của học sinh theo đặc trưng của học sinh (Trang 49)
Bảng 3.7. Liên quan giữa tình trạng SKTT và các yếu tố đặc trưng học sinh - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của học sinh bằng thang đo SDQ tại 2 trường THCS huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc năm học 2015   2016
Bảng 3.7. Liên quan giữa tình trạng SKTT và các yếu tố đặc trưng học sinh (Trang 49)
Bảng 3.8. Vấn đề SKTT theo kết quả và điều kiện học tập của học sinh - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của học sinh bằng thang đo SDQ tại 2 trường THCS huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc năm học 2015   2016
Bảng 3.8. Vấn đề SKTT theo kết quả và điều kiện học tập của học sinh (Trang 51)
Bảng 3.12. Vấn đề SKTT học sinh theo yếu tố nhà trường, xã hội - Nghiên cứu sức khỏe tâm thần của học sinh bằng thang đo SDQ tại 2 trường THCS huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc năm học 2015   2016
Bảng 3.12. Vấn đề SKTT học sinh theo yếu tố nhà trường, xã hội (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w