1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

CHUYÊN đề THỰC tập QUẢN lý tài NGUYÊN RỪNG

59 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 381,5 KB
File đính kèm quản lý rừng.rar (63 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý rừng nguyên sinh 1.1. nguyên sinh 1.1.1.Khái niệm rừng nguyên sinh. Rừng nguyên sinh là rừng trong quá trình phát sinh chưa bị tác động của con người. Rừng nguyên sinh có thể là bao gồm rộng hơn của khái niệm rừng nguyên thủy mà ở giới hạn hẹp hơn về thời gian nguồn gốc thì rừng nguyên thủy chính là những khu rừng được hình thành có lịch sử cổ đại lâu đời mà chưa từng bị tác động khai phá của con người. 1.1.2.Đặc điểm của rừng nguyên sinh. Rừng nguyên sinh nói chung chính là rừng mà chưa có sự tác động của con người, cây rừng mọc theo quy luật tự nhiên, tạo sự đa dạng hóa về sinh học, chải qua nhiều năm tháng còn giữ được vẻ hoang sơ của rừng tự nhiên. 1.1.3.Vai trò của rừng nguyên sinh đối với địa phương. Rừng có giá trị về mặt kinh tế. Rừng cho ta sản phẩm gỗ và vật liệu kiến trúc quan trọng để phục vụ trong sản xuất và đời sống. Ngoài ra rừng còn có giá trị sản phẩm ngoài gỗ như các sản phẩm động thực vật, thịt thú rừng,những cây dược liệu, những loại cỏ có hương thơm, dầu thực vật, vỏ cây quý, hoa quả có giá trị thương mại. Những sản phẩm này là nguồn thu nhập quan trọng của những người dân nông thôn ở vùng rừng núi. Ngoài ra rừng Nà Hẩu còn giữ được vẻ hoang sơ của tự nhiên, hàng năm thu hút trên 1000 du khách thập phương đến tham quan, tạo điều kiện phát triển kinh tế cho các hộ kinh doanh dịch vụ du lịch cộng đồng, giúp họ có thêm thu nhập ổn định.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

“Quản lý rừng nguyên sinh trên địa bàn xã Nà Hẩu,

huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”

PHẦN MỞ ĐẦU

- Tính cấp thiết của đề tài.

Hiện nay, rừng nguyên sinh trên địa bàn xã Nà Hẩu đang bị lấn chiếm vềdiện tích Cụ thể năm 2010 diện tích rừng nguyên sinh trên địa bàn xã Nà Hẩu làtrên 4.000ha, đến năm 2016 diện tích rừng nguyên sinh theo thống kê củaUBND xã là 3.960ha trên tổng diện tích đất tự nhiên là 5.640,36ha, điều này ảnhhưởng đến hệ sinh thái, đa dạng sinh học và biến đổi môi trường nói chung.Nhằm tăng cường hiệu quả bảo tồn và dịch vụ của các hệ sinh thái rừng tronggiảm thiểu thiên tai, bảo vệ tài nguyên nước, giảm phát thải CO2 Cùng với đómột vấn đề mà tỉnh Yên Bái đặt ra là sinh kế cho người dân tộc thiểu số thìUBND phải xây dựng kế hoạch bảo vệ rừng, tăng cường công tác kiểm tra, giámsát diện tích rừng; tuyên truyền nhân dân biết lợi ích của rừng đối với môitrường sống

Chính phủ Việt Nam đã nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa xóa đóigiảm nghèo và bảo tồn rừng, bằng việc đặt kế hoạch sẽ giảm tỉ lệ nghèo của toànquốc xuống dưới 40% và phục hồi tỉ lệ che phủ rừng tới trong tương lai Một sốtiềm năng được xác định bao gồm: (a) chi trả các dịch vụ môi trường đã đượcxem xét ở trong các chính sách Việc phát triển các cơ chế hỗ trợ người nghèothông qua việc đền đáp các dịch vụ môi trường mà họ cung cấp đang diễn ra; (b)quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) được khuyến khích phát triển dựa trênnhận định rằng cộng động chính là chủ thể quản lý đất rừng; (c) hợp tác công tưtheo định hướng thị trường trong việc trồng mới rừng, phòng tránh phá rừng vàsuy thoái rừng, tạo thu nhập thay thế đảm bảo an toàn lương thực đang được cácnhà tài trợ và chính phủ khuyến khích và hỗ trợ Đáng khuyến khích hơn, các dự

án thí điểm ở tỉnh Yên Bái đã cho thấy các cơ hội và giải pháp đôi bên cùng có

Trang 2

lợi trong việc giải quyết các vấn đề nghèo đói và môi trường, đặc biệt với cáctrường hợp rất khó giải quyết trong nhiều năm Ngoài ra, các đền đáp như mộtđộng lực cho việc quản lý môi trường đang ngày càng trở nên phổ biến dưới sựtác động và hỗ trợ của việc thực hiện các cơ chế thị trường mới và phức tạp.Quá trình thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần và chuyển hướngchiến lược lâm nghiệp, từ lâm nghiệp Nhà nước sang lâm nghiệp nhân dân đãxuất hiện nhiều nhân tố mới, đặc biệt là đa dạng hoá các phương thức quản lý tàinguyên rừng

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một trong những mô hình quản lý rừngđang thu hút sự quan tâm ở cấp Trung ương và địa phương Xét về mặt lịch sử, ởViệt Nam, rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn và tínngưỡng của các cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng Đặc biệt xã Nà Hẩu dân

cư sinh sống chủ yếu là dân tộc Mông chiếm trên 97% tổng dân số trong toànxã Xuất phát từ yêu cầu quản lý rừng, một số thôn bản đã triển khai giao đất,giao rừng cho cộng đồng (làng bản , nhóm hộ ) quản lý, sử dụng ổn định, lâudài vào mục đích lâm nghiệp, theo đó, cộng đồng với tư cách như một chủ rừng.Ngoài ra, các cộng đồng còn tham gia nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinhvà trồng mới rừng của các tổ chức Nhà nước Thực tiễn một số nơi đã chỉ rõquản lý rừng dựa vào cộng đồng địa phương sống gần rừng là mô hình quản lýrừng có tính khả thi về kinh tế - xã hội, phù hợp với tập quán sản xuất truyềnthống của nhiều dân tộc ở Việt Nam

Xã Nà Hẩu là nơi có diện tích đất rừng nguyên sinh lớn nhất của huyệnVăn Yên cùng với đó là vai trò của rừng và đất rừng đối với đồng bào dân tộcMông không chỉ đơn thuần là tư liệu sản xuất mà nó còn mang ý nghĩa về vănhóa, tâm linh; Hàng năm theo phong tục tập quán người Mông xã Nà Hẩu vàongày cuối tháng 1 Âm lịch sẽ tổ chức “Lễ hội Tết rừng”, hiện nay Lễ hội nàyđược UBND xã quan tâm tổ chức hàng năm cho các thôn bản, bên cạnh việc tổchức Lễ hội Tết rừng theo phong tục tập quán người Mông họ thờ Thần rừng,mong sẽ gặp mùa màng bội thu, có đủ ăn, đủ mặc, đoàn kết gắn bó với nhau,

Trang 3

bên cạnh đó UBND xã tuyên truyền nhân dân cần biết cách gìn giữ, chăm sóc vàbảo vệ rừng lâu dài.

Theo thống kê trong những năm gần đây Tài nguyên rừng xã Nà Hẩu đangbị lấn chiếm về diện tích, khai thác lâm sản vẫn còn sảy ra tại các thôn bản Đặcbiệt ở những vùng giáp danh các xã bên cạnh Trong khi đó lực lượng bảo vệrừng còn mỏng, sự hiểu biết của nhân dân về chăm sóc và bảo vệ rừng còn nhiềuhạn chế Điều này gây khó khăn cho cán bộ làm công tác quản lý rừng, ảnhhưởng không ít đến khả năng sinh trưởng và phát triển tự nhiên của rừng, làmmất đi sự đa dạng hóa sinh học của rừng Nà Hẩu Trong khi đó rừng đóng vaitrò hết sức quan trọng đối với đời sống của người dân xã Nà Hẩu

Đó chính là lý do Em lựa chọn đề tài:“Quản lý rừng nguyên sinh trên địa

bàn xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”

- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Qua việc nghiên cứu mô hình quản lý rừng nguyên sinh trên địa bàn xã NàHẩu, Em nhận thấy rừng tại đây là bị lấn chiếm ngày càng rộng, các diện tíchđất đồi gần rừng hàng năm người dân thường phát lân chiếm Như vậy cần phảinâng cao vai trò cộng đồng vào quản lý rừng nguyên sinh trên địa bàn xã NàHẩu, để từ đó xem xét mô hình có được triển khai hiệu quả hay không, nhữngkhó khăn trong việc áp dụng mô hình này là gì và có thể đưa ra những giải phápnhằm khắc phục những khó khăn đó

- Nhiệm vụ:

- Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộngđồng tại xã Nà Hẩu Từ đó đưa ra những khó khăn mà mô mình gặp phải vànhững giải pháp, kiến nghị để giải quyết những khó khăn đó

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

- Về không gian lãnh thổ: địa bàn nghiên cứu là rừng nguyên sinh trên địabàn xã Nà Hẩu quản lý

Trang 4

- Về giới hạn khoa học: chuyên đề chỉ đi sâu vào nghiên cứu mô hình quản

lý rừng nguyên sinh tại xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên dựa vào cộng đồng đượcthực bằng các hình thức giao đất rừng cho tổ bảo vệ, nhân dân và thôn bản phụtrách quản lý

- Bố cục của báo cáo

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý rừng nguyên sinh

Chương 2: Thực trạng quản lý rừng nguyên sinh trên địa bàn xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

Chương 3: Phương hướng và giải pháp quản lý rừng nguyên sinh trên địa bàn xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Trang 5

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý rừng nguyên sinh1.1 nguyên sinh

1.1.1.Khái niệm rừng nguyên sinh.

Rừng nguyên sinh là rừng trong quá trình phát sinh chưa bị tác động củacon người Rừng nguyên sinh có thể là bao gồm rộng hơn của khái niệm rừngnguyên thủy mà ở giới hạn hẹp hơn về thời gian nguồn gốc thì rừng nguyên thủychính là những khu rừng được hình thành có lịch sử cổ đại lâu đời mà chưa từngbị tác động khai phá của con người

1.1.2.Đặc điểm của rừng nguyên sinh.

Rừng nguyên sinh nói chung chính là rừng mà chưa có sự tác động của conngười, cây rừng mọc theo quy luật tự nhiên, tạo sự đa dạng hóa về sinh học, chảiqua nhiều năm tháng còn giữ được vẻ hoang sơ của rừng tự nhiên

1.1.3.Vai trò của rừng nguyên sinh đối với địa phương.

* Rừng có giá trị về mặt kinh tế

Rừng cho ta sản phẩm gỗ và vật liệu kiến trúc quan trọng để phục vụ trongsản xuất và đời sống Ngoài ra rừng còn có giá trị sản phẩm ngoài gỗ như cácsản phẩm động thực vật, thịt thú rừng,những cây dược liệu, những loại cỏ cóhương thơm, dầu thực vật, vỏ cây quý, hoa quả có giá trị thương mại Những sảnphẩm này là nguồn thu nhập quan trọng của những người dân nông thôn ở vùngrừng núi

Ngoài ra rừng Nà Hẩu còn giữ được vẻ hoang sơ của tự nhiên, hàng nămthu hút trên 1000 du khách thập phương đến tham quan, tạo điều kiện phát triểnkinh tế cho các hộ kinh doanh dịch vụ du lịch cộng đồng, giúp họ có thêm thunhập ổn định

* Rừng có giá trị bảo vệ môi trường

Trang 6

Rừng có vai trò giữ nước, chống xói mòn, lũ lụt, điều hoà khí hậu, chốngsự thiêu đốt của mặt trời, tạo ra môi trường sinh thái cho các loại đông thực vậtkhác nhau.

Giá trị của việc bảo vệ môi trường rất quan trọng nhưng khó định lượnghơn giá trị kinh tế Hai mặt này thường có mâu thuẫn với nhau nhưng đều rấtquan trọng trong sản xuất và đời sống của nhân dân

Như vậy có thể nói Rừng nguyên sinh xã Nà Hẩu đóng vai trò hết sức tolớn đối với đời sống của muôn loài, đặc biệt là đời sống của con người nơi đây.Rừng có vai trò ngăn gió bão, lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất, vừa là nơi cung cấplương thực, nguyên liệu cho người dân; bên cạnh đó rừng còn có vai trò quantrọng trong việc phát triển Du lịch sinh thái, Du lịch cộng đồng tại xã Nà Hẩu,đem lại khí hậu mát mẻ, trong lành, còn nguyên vẻ hoang sơ mà du khách muốnnghé thăm Rừng không chỉ điều hòa khí hậu mà còn là kho báu quý giá chonhững người lấy thuốc nam, bở rừng Nà Hẩu nơi đây còn giữ nguyên được theoquy luật rừng mọc tự nhiên, đem lài nhiều cảnh quan hùng vĩ, đẹp mãn nguyênmỗi khi ai đến du chỉ một lần còn nhớ mãi

Người dân nơi đây họ coi rừng là nguồn nguyên liệu vô giá, rừng cungcấp nguyên liệu đốt, thực dược và nhiều sản vật khác từ rừng mang lại; các loàithú quý hiếm cũng nhờ rừng còn vẻ hoang sơ tự nhiên mà phát triển nhanh thànhbầy đàn, tăng thêm phần đa dạng hóa sinh học nơi đây

* Giá trị vô hình: Là giá trị phi vật thể của rừng

- Môi trường (Khí hậu ) Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thôngqua làm giảm đáng kể lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống bề mặt trái đất do chephủ của tán rừng là rất lớn so với các loại hình sử dụng đất khác, đặc biệt là vaitrò hết sức quan trọng của rừng trong việc duy trì chu trình carbon trên trái đấtmà nhờ đó nó có tác dụng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu

- Đất đai Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất: ở vùng

có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trênđồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi

Trang 7

đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu đượcduy trì Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ Điều này thể hiện ở qui luật phổ biến:rừng tốt tạo ra đất tốt, và đất tốt nuôi lại rừng tốt Nếu rừng bị phá hủy, đất bịxói, quá trình đất mất mùn và thoái hóa dễ xảy ra rất nhanh chóng và mãnh liệt.Ước tính ở nơi rừng bị phá hoang trơ đất trống mỗi năm bị rửa trôi mất khoảng

10 tấn mùn/ ha Đồng thời các quá trình feralitic, tích tụ sắt, nhôm, hình thànhkết von, hóa đá ong, lại tăng cường lên, làm cho đất mất tính chất hóa lý, mất visinh vật, không giữ được nước, dễ bị khô hạn, thiếu chất dinh dưỡng, trở nên rấtchua, kết cứng lại, đi đến cằn cỗi, trơ sỏi đá Thể hiện một qui luật cũng khá phổbiến, đối lập hẳn hoi với qui luật trên, tức là rừng mất thì đất kiệt, và đất kiệt thìrừng cũng bị suy vong, hình thành kết von, hóa đá ong, lại tăng cường lên, làmcho đất mất tính chất hóa lý, mất vi sinh vật, không giữ được nước, dễ bị khôhạn, thiếu chất dinh dưỡng, trở nên rất chua, kết cứng lại, đi đến cằn cỗi, trơ sỏi

đá Thể hiện một qui luật cũng khá phổ biến, đối lập hẳn hoi với qui luật trên,tức là rừng mất thì đất kiệt, và đất kiệt thì rừng cũng bị suy vong

- Đa dạng sinh học Rừng nguyên sinh rất phong phú Với đặc trưng về khíhậu, đất đai Vì vậy, thảm thực vật rất phong phú Một số loài cây trở nên hiếm.Môi trường sống đa dạng và phong phú là điều kiện để động vật rừng phát triểnmà còn là nguồn dự trữ các gen quí hiếm của động thực vật rừng

- Tài nguyên khác Rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn: Rừng

có vai trò điều hòa nguồn nước giảm dòng chảy bề mặt chuyển nó vào lượngnước ngấm xuống đất và vào tầng nước ngầm Khắc phục được xói mòn đất, hạnchế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông,con suối (tăng lượng nước sông, nước suối vào mùa khô, giảm lượng nước sôngsuối vào mùa mưa)

* Giá trị hữu hình: giá trị các sản phẩm từ rừng mang tính chất hàng hóa

- Dược liệu Rừng là nguồn dược liệu vô giá Từ ngàn xưa, con người đãkhai thác các sản phẩm của rừng để làm thuốc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe Ngàynay, nhiều quốc gia đã phát triển ngành khoa học “dược liệu rừng” nhằm khai

Trang 8

thác có hiệu quả hơn nữa nguồn dược liệu vô cùng phong phú của rừng và tìmkiếm các phương thuốc chữa bệnh nan y

- Du lịch sinh thái Du lịch sinh thái là một dịch vụ của rừng cần sử dụngmột cách bền vững Nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái được hình thành Dulịch sinh thái không chỉ phục vụ nhu cầu về mặt tinh thần mà còn tăng them thunhập cho dân địa phương Thông quá đó, người dân đã gắn bó với rừng hơn,tham gia tích cực hơn trong công tác bảo vệ và xây dựng rừng Thêm một vấn đềđặt ra về môi trường bị ảnh hưởng bởi hoạt động du lịch và làm thế nào để quảnlí môi trường nói chung và của các loài động vật

- Ổn định dân cư Cùng với rừng, người dân được nhà nước hỗ trợ kinh phíđể bảo vệ rừng, hỗ trợ các biện pháp kỹ thuật, cơ sở hạ tầng để tạo nguồn thunhập cho người dân từ rừng Giúp dân thấy được lợi ích của rừng, gắn bó vớirừng hơn Từ đó người dân sẽ ổn định nơi ở, sinh sống

- Tạo nguồn thu nhập Rừng và sản phẩm từ rừng mang lại thu nhập chongười dân, hoạt động du lịch được mở rộng cũng là nguồn thu nhập mới cho dânrừng mang lại thực phẩm, dược liệu tự nhiên có giá trị cho con người

1.2.Quản lý rừng nguyên sinh

1.2.1.Khái niệm quản lý rừng nguyên sinh.

Khoa học về quản lý rừng đã được hình thành từ cuối thế kỷ thứ 18, đầu thế

kỷ 19 Ban đầu chỉ chú trọng đến khai thác, sử dụng gỗ được lâu dài, liên tục;khi gỗ có giá trị thương mại trao đổi lớn Chủ rừng muốn có nhiều lãi suất bằngcách nâng cao năng suất, sản lượng gỗ trên một đơn vị diện tích; trên cơ sở cácgiải pháp kỹ thuật tạo rừng, nuôi dưỡng, khai thác, thương mại dần dần trở thànhcác môn khoa học được nghiên cứu áp dụng Suốt thế kỷ XIX và gần hết thế kỷ

XX, khoa học quản lý rừng luôn nhằm mục tiêu sản lượng ổn định, nghĩa là nămsau không ít hơn năm trước; từ đó các lý thuyết về điều chỉnh sản lượng theodiện tích, theo cấp năng suất để hàng năm có thu hoạch gỗ, thu nhập đồng đềuđã được xây dựng, phát triển cho môn quản lý quy hoạch rừng (Forestmanagement) Việt Nam, sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Đảng và Chính

Trang 9

phủ đã chỉ đạo ngành lâm nghiệp tăng cường nghiên cứu và áp dụng các thànhtựu của khoa học quản lý rừng nhằm giữ vững sản lượng khai thác ổn định vàkhông lạm dụng vào nguồn tài nguyên rừng

Như vậy công tác quản lý rừng đã được quan tâm từ lâu Vậy khái niệm vềquản lý rừng nguyên sinh có thể được nêu ngắn gọn như sau:

Quản lý rừng nguyên sinh là công tác quản lý của các cấp, các ngành trực tiếp là của địa phương, người dân đều phải tham gia bảo vệ rừng, đưa ra các giải pháp về công tác quản lý làm sao để giữ gìn, bảo vệ, và phát triển rừng theo quy luật của tự nhiên, đảm bảo không có sự tác động của con người.

1.2.2.Mục tiêu của quản lý rừng nguyên sinh.

Mục tiêu quản lý rừng nguyên sinh tại xã Nà Hẩu là dùng mọi biện phápngăn chặn nạn phá rừng tại đây, bởi theo thống kê những năm gần đây rừng NàHẩu đang bị lâm tặc khai thác vận chuyển gỗ trái phép, một số người dân còn lợidụng đất ven rừng lấn chiếm qua năm tháng sử dụng đất có diện tích giáp danhvới rừng Điều này cần phải ngăn chặn không để đất rừng nguyên sinh bị đe dọavề diện tích

*Hiện nay rừng nguyên sinh xã Nà Hẩu được coi là tiềm năng để pháttriển du lịch cộng đồng giúp người dân nơi đây có hướng đi mới trong việcphát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo Nơi đây có nhiềuthế mạnh, tiềm năng để mở rộng mô hình du lịch cộng đồng trong tương lai,Vì hiện nay ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp bách, trong khi đó đối vớixã Nà Hẩu còn giữ gìn được rừng nên nơi đây có khí hậu trong lành, mát mẻ,

có các hang động, thác nước còn trong sạch thu hút nhiều du khách đến thămquan nghỉ mát

Người dân xã Nà Hẩu còn giữ gìn được phong tục tập quán của ngườiMông, các điệu múa, nhạc cụ dân tộc, bản sắc đặc trưng của người Mông thuhút sự quan tâm của đông đảo quần chúng Với thế mạnh như vậy rừngnguyên sinh xã Nà Hẩu phải được trông coi, giữ gìn, chăm sóc và phát triển

Trang 10

mạnh có như vậy thì nền du lịch của xã mới thực sự phát triển được rộng rãitrong tương lại.

* Đối với rừng Nà Hẩu không những chỉ có những thế mạnh về du lịch đó,còn có nhiều lợi ích khác Ở tại một số thôn bản bên cạnh rừng nguyên sinh còn

có các rừng Quế Với thế mạnh của cây Quế nơi đây có trữ lượng tinh dầu lớn,

có hiệu quả kinh tế cao, điều kiện đất đai, khí hậu nơi đây phù hợp cho cây Quếsinh trưởng và phát triển tốt Hiện nay cây Quế không chỉ có thế mạnh về khaithác đem lại nguồn thu nhập cho gia đình, mà cây Quế nơi đây còn có giá trị vềtiềm năng du lịch Số liệu thống kê số quế đến tuổi khai thác hàng năm của xãNà Hẩu trong giai đoạn 2010 – 2016 như sau:

Bảng thống kê khai thác Quế vỏ giai đoạn 2010 - 2016

Về cơ bản Mục tiêu của quản lý rừng nguyên sinh đem lại nhiều thế mạnhcho việc phát triển kinh tế - xã hội ở hiện tại và trong tương lai, nó không chỉđáp ứng nhu cầu về vật chất mà còn cả về tinh thần Bởi nơi đây đồng bào dântộc sinh sống có trên 98% là dân tộc Mông Họ có tập tục thờ cúng thần rừng.Với họ thần rừng sẽ che trở cho họ, mùa màng bội thu, chăn nuôi phát triển, concái trong dòng họ khỏe mạnh, làm ăn phát đạt

1.2.3.Nội dung quản lý rừng nguyên sinh

1.2.3.1.Lập kế hoạch quản lý rừng nguyên sinh.

Trên cơ sở xây dựng đề án “quản lý rừng nguyên sinh trên địa bàn xã NàHẩu” đã được Chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái, phòng bảo tồn tỉnh, UBND huyệnvà Hạt kiểm lâm huyện Văn Yên phê duyệt Ủy ban nhân xã Nà Hẩu đã Xâydựng kế hoạch tổ chức tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức toàn xã

Trang 11

hội về rừng, khuyến khích các hộ gia đình, cá nhân nhận và bảo vệ diện tíchrừng Các chính sách đầu tư, hỗ trợ vốn; miễn và giảm thuế cho các hộ bảo vệrừng Tiến hành giao rừng cho người dân kinh doanh và hưởng thành quả laođộng từ đất rừng được giao Nhà nước hỗ trợ về mặt kỹ thuật và áp dụng cácnghiên cứu khoa học theo các dự án; quy hoạch, kế hoạch và chính sách Nhànước để bảo vệ và phát triển rừng cũng như mang lại lợi ích cho cá nhân

- Thực hiện các chính sách cam kết để quản lý rừng Các chính sách liênquan đến quản lý rừng được hiểu là những chính sách điều tiết, chi phối trực tiếpvà có tác động đến việc quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên rừng và đất rừng

- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lýrừng bền vững Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng đảm bảo phát triển bềnvững về kinh tế - xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quyhoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của địa phương; tuân theo quy chếquản lý rừng của Ủy ban nhân dân xã

-Thường xuyên tổ chức điều tra, đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tàinguyên thiên nhiên; Bảo vệ thiên nhiên; Bảo vệ đa dạng sinh học; Bảo vệ vàphát triển cảnh quan thiên nhiên; Bảo vệ môi trường trong khảo sát, thăm dò,khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Phát triển năng lượng sạch

- Lập kế hoạch chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020: vềquản lý rừng bền vững Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp phải dựa trên nềntảng quản lý bền vững thông qua quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừngnhằm không ngừng nâng cao chất lượngrừng Phải kết hợp bảo vệ, bảo tồn vàphát triển với khai thác rừng hợp lý, đồng thời, trong Chiến lược cũng đã đề rachương trình hành động, trong đó Chương trình quản lý và phát triển rừng bềnvững là Chương trình trọng tâm và ưu tiên số một Trong Chiến lược này, nhiệmvụ được đặt ra là: Quản lý bền vững và có hiệu quả rừng sản xuất

- Hiệu quả Nhận thức về rừng của xã hội được nâng cao Hệ thống phápluật về quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản ngày càng hoàn thiện phù hợp

Trang 12

với thực tiễn, chủ trương đổi mới ; chế độ chính sách lâm nghiệp, nhất là chínhsách về đa dạng hoá các thành phần kinh tế trong lâm nghiệp, chuyển hướngphát triển lâm nghiệp sang mục tiêu “tích cực bảo vệ rừng tự nhiên hiện còn, đẩymạnh trồng rừng, khai thác sản phẩm từ rừng trồng và khai thác gỗ từ rừng tựnhiên theo hướng bền vững” Hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý rừng, nhấtlà quản lý quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng rừng, giao đất, giao rừng, kiểm

kê, thống kê rừng đã được nâng cao một bước kêu gọi đầu tư thông qua nhiềuchương trình, dự án đã làm cho công tác quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sảnngày càng chuyển biến tích cực

1.2.3.2.Tổ chức bộ máy quản lý rừng nguyên sinh.

Căn cứ kế hoạch quản lý rừng nguyên sinh của Ủy ban nhân dân xã Nà Hẩuđã được Ủy ban nhân dân huyện, Hạt kiểm lâm huyện Văn Yên phê duyệt Uỷban nhân dân xã đã giao đất, giao rừng cụ thể cho từng thôn bản, hộ gia đình,hàng tháng, Quý và năm có báo cáo cụ thể về diện tích rừng nguyên sinh, đồngthời tập trung tuyên truyền nhân dân thông qua mọi hình thức nhằm nâng caochất lượng của mô hình này

Quản lý rừng nguyên sinh cũng giống như bao cánh rừng khác Đó là cáchquản lý chung, Có điều trong Đề tài này em đi sâu về vấn đề quản lý rừngnguyên sinh dựa vào cộng đồng Nhưng để diễn đạt theo tổ chức bộ máy quản lýrừng, em xin trình bày sơ đầu tổ chức bộ máy quản lý rừng nguyên sinh nhưsau:

Trang 13

Sơ đầu tổ chức bộ máy quản lý rừng

1.2.3.3.Tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý rừng nguyên sinh.

Trước hết để thực hiện được công tác quản lý rừng nguyên sinh Đảng ủy,chính quyền địa phương phải có kế hoạch cụ thể, tuyên truyền bằng nhiều hìnhthực đồng thời có những chính sách hỗ trợ cho sự phát triển về rừng Để thựchiện được điều này Trước hết Đảng ủy, Chính quyền địa phương đã tập trungtuyên truyền nhân dân bằng nhiều hình thức:

- Hoàn thiện hệ thống các chính sách, chủ trương về phát triển rừng vànghề rừng như:

-Tuyên truyền giáo dục cho người dân thông qua phương tiện thông tin đại

-Cục khuyến nông-khuyến lâm -Cục chế biến thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối

Bộ phân NN&PTNT (DARD)

-Cán bộ lâm nghiệp -Trạm khuyến nông

Bộ phận BVR Quản lý hành chính Quản lý kỹ thuật

Trang 14

chúng như phim, ảnh, báo chí,… về tầm quan trọng của rừng và bảo vệ tàinguyên rừng

- Khuyến khích người dân, chủ sở hữu rừng,… tham gia các lớp khuyếnnông để có thêm kiến thức về trồng và bảo vệ rừng theo quy định của pháp luật

Mở các khóa đào tạo cho nhân viên làm công tác quản lý rừng Nguồn nhân lựcđược yêu cầu chi phí cao để thu hút sự quan tâm của cộng đồng Tăng cường ápdụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Nghiên cứu và đưa vào áp dụng các môhình rừng, mô hình nông lâm kết hợp nhằm nâng cao chất lượng rừng, lợi íchkinh tế,…

- Tuyên truyền vận động quần chúng và đào tạo, khuyền nông, khuyến lâm,tuyên truyền giáo dục cho người dân về quản lý tài nguyên thiên nhiên, nâng caonhận thức và kiến thức cho họ về quản lý tài nguyên thiên nhiên và tác hại củaviệc chặt phá rừng;

* Các chính sách hỗ trợ về trồng rừng tại xã Nà Hẩu

+Trong năm 2016 được sự quan tâm hỗ trợ của Phòng bảo tồn, Chi cụckiểm lâm tỉnh Yên Bái hỗ trợ cho nhân dân 38.000 cây Sa mộc để trồng phủxanh đất trồng đồi núi trọc Hiện nay cây đang trong thời kỳ sinh trưởng và pháttriển tốt Cây Sa mộc là loài cây gỗ, phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai thổnhưỡng, có nhiều tác dụng trong các lĩnh vực như làm nhà, gỗ có thể xuất khẩu,đem lại nguồn thu nhập cho nhân dân

+ Hỗ trợ tiền trông coi bảo vệ rừng

+ Tập huấn về bảo vệ và phát triển rừng

+ Hỗ trợ khoa học kỹ thuật về trồng rừng

+ Đối với rừng trồng còn được hỗ trợ cho rừng quế bảo tồn nguồn gien đểlấy giống

+ Cấp các biển báo về bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; bảo vệđộng thực vật rừng

Trang 15

Đối với huyện Văn Yên nói trung và xã Nà Hẩu nói riêng Hiện nay câyQuế cũng là một trong những cây có thế mạnh về kinh tế, phù hợp với điềukiện khí hậu, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng Ủy ban nhân dânhuyện Văn Yên đã có kế hoạch hỗ trợ cho các hộ gia đình có cây quế lâu nămđể làm cây giống, chính sách này nhằm phát huy và bảo tồn được các loại genquý hiếm của cây quế, giữ gìn được gen không để thất lạc trong tương lai Mộtsố diện tích đã các cấp, cành ngành đưa vào làm dịch vụ du lịch, bảo tồn vàphát triển, đưa cây quế là cây chủ lực cho việc phát triển kinh tế xã hội ở địaphương.

Theo số liệu thống kê năm 2016 Diện tích quế của xã Nà Hẩu là 870ha.Trong đó diện tích quế để phục vụ du lịch và duy trì giống là 20ha Tuổi trồng

có trên 20 năm Cụ thể diện tích quế các thôn bản trong xã như sau:

có các biện pháp răn đe; không nên đi sâu vào xử phạt, chủ yếu ở đây mỗi khi

có những vụ việc xảy ra đều được giải quyết theo chiều hướng tích cực, để saocho những đối tượng vi phạm họ hiểu được những điều sai trái mà cá nhân, tổchức gây ra Có như vậy biện pháp xử lý kỷ luật mới thực sự mang lại hiệu quả

Trang 16

lâu dài, mà vẫn giữ gìn được truyền thống tốt đẹp của người dân tộc Mông, đó làsự đoàn kết, sống phải dựa vào rừng.

Công tác tuyên truyền được đảy mạnh; hàng năm thực hiện kế hoạch phòngchống chữa cháy rừng, lực lượng kiểm lâm cũng thường xuyên có mặt tại cácbuổi họp thôn bản đi tuyên truyền, động viên bà con nhân dân không nên phátlương, làm rẫy trái phép, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thế hệ mai sau củachính những người sống tại vùng lõi của rừng nguyên sinh Nhìn chung qua cácbuổi tuyên truyền bà con nhân dân đã phần nào ý thức được trách nhiệm, nghĩavụ của những người dân sống gần ven rừng, đó quả là một kết quả công lao tolớn của cán bộ liên quan trực tiếp đến công tác quản lý, bảo vệ rừng

Về dòng họ, các già làng, trưởng bản cũng thường xuyên hàng năm họpdòng họ 1 lần để hỏi thăm sức khỏe, đưa những kiến thức mới phổ biến chodòng họ hiểu, biết và thực hiện những chế tài, quy định mới, chính sách mới đểcho con em trong dòng họ nắm bắt được Bởi nơi đây cuộc sống người dân cònlam lũ, vật vả, quanh năm đi làm ruộng, trồng ngô, đôi khi còn có những hộ giađình không có điện lưới quốc gia, ty vi, đài còn không có, như vậy họ khônghiểu được xã hội đang cần gì ở họ, nên việc họp dòng họ cũng mang ý nghĩa tolớn để tuyên truyền, nhắc nhở các thành viên trong dòng họ không được phátphá rừng bừa bãi

Về tình hình xử lý vi phạm các quy định về rừng trong giai đoạn 2010 –

Năm 2011 đã bắt xử lý 8 vụ và phạt hành chính 6.000.000 đồng nộp vàongân sách Trong đó:

Trang 17

- Xử lý nương rẫy 3 vụ.

+Diện tích : 600m2

+Thành tiền: 1000.000 đồng

- Vận chuyển lâm sản trái phép là 4 vụ

+Số tiền là: 5000.000 đồng

- Thu giữ lâm sản trái phép là 4 vụ:

+Khối lượng là 2m3

* Năm 2012:

-Tổng số đợt tuần tra bảo vệ rừng là: 50 đợt, với 230 công

-Xử lý các vụ vi phạm về Luật bảo vệ rừng Có 5 vụ vi phạm trong đó:+ Có 03 vụ vận chuyển lâm sản trái phép Xử phạt 3.000.000 đồng (Khốilượng gỗ là 0,98 tấc)

+Có 01 vụ săn bắn động vật rừng Xử phạt số tiền 1.400.000 đồng

+Có 01 vụ cất dấu lâm sản trái phép Xử phạt 900.000 đồng

* Năm 2013:

Kết hợp với kiểm lâm địa bàn, lực lượng Công an, dân quân tự vệ, chủrừng thường xuyên đi tuần tra bảo vệ rừng, ngăn chặn các hành vi khai thác gỗrừng trái phép, săn bắt động vật quý hiếm Tổng số đợt đi tuần tra bảo vệ rừnglà 1.220 công Phát hiện 05 vụ vi phạm xử phạt vi phạm hành chính 4.300.000đồng

* Năm 2014:

Tổng số đợt đi tuần tra 40 lượt 300 công đã phát hiện 52 vụ phát phá rừnglàm nương rẫy trái phép, 01 vụ khai thác lân sản trái phép Ra quyết định xửphạt vi phạm hành chính 47 vụ, 06 vụ xử phạt cảnh cáo, tổng số tiền75.980.000đ, trong đó đã thu được 50.850.000 đồng còn lại 25.130.000đ dongười dân còn nghèo nên chưa nộp được hết số tiền vi phạm

Trang 18

* Năm 2015:

Trong năm 2015 lực lượng tuần tra bảo vệ rừng 350 công, phát hiện 14 vụphát phá rừng làm nương rẫy trái phép, 01 vụ khai thác lâm sản trái phép, 01 vụvận chuyển lâm sản trái phép Tổng số tiền thu phạt là 30.000.000đ

* Năm 2016:

Trong 6 tháng đầu năm 2016 qua tuần tra phát hiện và xử lý 02 trường vận

chuyển lâm sản trái phép Xử phạt hành chính 3.000.000 đ (Ba triệu đồng chẵn).

Lập biên bản 05 mảnh nương, tổng diện tích là 900m2, đang tiến hành kiểm traphát hiện đối tượng

Như vậy có thể nhận thấy trong giai đoạn 2010 – 2016, công tác quản lýrừng vẫn còn lỏng, hàng năm vẫn có các trường hợp vi phạm các quy định vềchăm sóc, bảo vệ rừng, một phần do lực lượng bảo vệ rừng còn mỏng, chưalàm hết trách nhiệm được giao, phần nữa là do ý thức của người dân đối vớirừng chưa cao

1.2.4.Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rừng nguyên sinh

1.2.4.1.Nhóm yếu tố thuộc về môi trường vĩ mô.

Rừng nguyên sinh chứa đựng các hệ sinh thái căn bản cốt lõi lâu dài của hệthực vật trên cạn, nó góp phần bảo tồn và duy trì cân bằng sinh thái lâu năm, giữnước, điều hòa khí hậu, làm sạch không khí Rừng nguyên sinh chứa các hệ sinhthái tổng hợp bao gồm nhiều mạng lưới chuỗi thức ăn và tác động tương tác củanhiều loài hoang dã Rừng nguyên sinh có ý nghĩa quan trọng phục vụ nghiêncứu bảo tồn sinh học và hệ sinh thái

Mỗi năm sinh vật quang hợp trên trái đất đồng hóa khoảng 170 tỷ tấndioxitcacbon (CO2) để tạo ra khoảng 100 tỷ tấn chất hữu cơ, 115 tỷ tấn O2 tự

do Rừng cung cấp cho con người dưỡng khí, lương thực, thực phẩm Mỗi năm,mỗi người cần tới 4.000kg O2 để thở, toàn nhân loại sử dụng khoảng 0,6% sảnphẩm quang tổng hợp (tương đương 0,6 tỷ tấn) và khoảng 1 triệu tấn thực phẩm

có nguồn gốc từ rừng để phục vụ đời sống (Guering )

Rừng cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu cho nhiều ngành công nghiệp cũngnhư sinh hoạt hằng ngày Trước hết phải kể đến gỗ Gỗ để đóng tàu thuyền, để

Trang 19

đốt, làm trụ mỏ, sản xuất giấy, vải, đóng đồ dùng, các sản phẩm hóa học ngoài ra rừng là nguồn dược liệu vô giá Từ ngàn xưa, con người đã khai tháccác sản phẩm của rừng để làm thuốc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe Ngày nay,nhiều quốc gia đã phát triển ngành khoa học “dược liệu rừng” nhằm khai thác cóhiệu quả hơn nữa nguồn dược liệu vô cùng phong phú của rừng và tìm kiếm cácphương thuốc chữa bệnh.

Rừng trực tiếp ngăn gió bão, lũ lụt Hàng năm, nhiều tỷ tấn nước bốc hơi từsông, suối, hồ và đại dương tạo thành mây rồi lại mưa trở về trái đất Chính nhờthảm cây xanh và thảm thực bì của vỏ trái đất mà lượng nước khổng lồ đó đượchút vào bộ rễ để rồi bốc hơi qua tán lá, phần còn lại được ngấm từ từ vào đất tạo

ra các mạch nước ngầm Sự xói mòn, rửa trôi, các quá trình Feralite hóa, Potzonhóa không những bị hạn chế mà cùng với sự mùn hóa các phế thải hữu cơ bởicác vi sinh vật, động vật đất và nấm làm cho đất ngày càng màu mỡ, cơ sở chophát triển trồng trọt, chăn nuôi

Rừng cho ta sản phẩm gỗ và vật liệu kiến trúc quan trọng để phục vụ trongsản xuất và đời sống Ngoài ra rừng còn có giá trị sản phẩm ngoài gỗ như cácsản phẩm động thực vật, thịt thú rừng,những cây dược liệu, những loại cỏ cóhương thơm, dầu thực vật, vỏ cây quý, hoa quả có giá trị thương mại Những sảnphẩm này là nguồn thu nhập quan trọng của những người dân nông thôn ở vùngrừng núi

Rừng có vai trò giữ nước, chống xói mòn, lũ lụt, điều hoà khí hậu, chốngsự thiêu đốt của mặt trời, tạo ra môi trường sinh thái cho các loại đông thực vậtkhác nhau

Giá trị của việc bảo vệ môi trường rất quan trọng nhưng khó định lượnghơn giá trị kinh tế Hai mặt này thường có mâu thuẫn với nhau nhưng đều rấtquan trọng trong sản xuất và đời sống của nhân dân

Như vậy có thể nhận thấy rừng có tầm quan trọng trong đời sống con ngườicũng như tất cả các loài động vật Trong đó rừng Nà Hẩu được giữ theo môi

Trang 20

trường tự nhiên, cần phải quan tâm bảo vệ chăm sóc để rừng nguyên sinh nơiđây có thể sinh trưởng và phát triển một cách tốt nhất.

1.2.4.2.Nhóm yếu tố thuộc về chính quyền địa phương.

Theo quyết định số 245/1998/QĐ-TTg, ngày 21 tháng 12 năm 1998 củaThủ tướng chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp vềrừng và đất lâm nghiệp của Ủy ban nhân dân cấp xã:

Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm trước Chủ tịch ủy bannhân dân cấp huyện trong việc bảo vệ và phát triển rừng, sử dụng đất lâm nghiệptrên địa bàn xã:

Quản lý rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn xã về các mặt : Danh sách chủrừng; diện tích, ranh giới các khu rừng; các bản khế ước giao rừng; các hợpđồng giao nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh và trồng rừng giữa các tổchức, hộ gia đình và cá nhân trong xã; Chỉ đạo các thôn, bản xây dựng và thựchiện quy ước quản lý, bảo vệ, xây dựng và sử dụng các khu rừng trên địa bàn xãphù hợp với pháp luật hiện hành Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch của huyện, lậpquy hoạch, kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp,xây dựng phương án giao rừng và đất lâm nghiệp trình Hội đồng nhân dân xãthông qua trước khi trình ủy ban nhân dân cấp huyện xét duyệt; tổ chức thựchiện việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân theo sựchỉ đạo của ủy ban nhân dân huyện, xác nhận ranh giới rừng và đất lâm nghiệpcủa các chủ rừng trên thực địa Theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, biến độngđất lâm nghiệp và báo cáo cơ quan cấp huyện; thường xuyên kiểm tra việc sửdụng rừng, đất lâm nghiệp của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trên địa bànxã Phối hợp với cán bộ kiểm lâm và các lực lượng công an, quân đội trên địabàn, tổ chức lực lượng quần chúng bảo vệ rừng trên địa bàn xã, phát hiện vàngăn chặn kịp thời những hành vi xâm phạm, hủy hoại rừng Tuyên truyền, vậnđộng, hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng,huy động các lực lượng giúp chủ rừng chữa cháy rừng trên địa bàn xã Xử phạt

Trang 21

vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng theo thẩm quyền Hòagiải các tranh chấp về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn.

Rừng Nà Hẩu đang bị lấn chiếm về diện tích do rất nhiều tác động như sựgia tăng dân số, việc mở rộng đất nông nghiệp, sự thay đổi chính sách quản lýrừng đã làm cho các thể chế này ngày càng mất đi, hậu quả của sự thay đổi nàylàm cho tài nguyên rừng bị suy giảm trầm trọng không chỉ về số lượng và chấtlượng mà còn tác động tiêu cực đến sự sinh trường của muôn loài sống trongđiều kiện tự nhiên

1.2.4.3.Nhóm yếu tố thuộc về người dân, doanh nghiệp

Rừng nước ta nói chung và rừng nguyên sinh trên địa bàn xã Nà Hẩu nóiriêng đang ngày càng suy giảm về diện tích và chất lượng, tỉ lệ che phủ thực vậtdưới ngưỡng cho phép về mặt sinh thái, Tính đến năm 2016 Nà Hẩu có tổngdiện tích rừng là 3.960ha, trong đó rừng tự nhiên là 5.640.36ha Độ che phủrừng toàn xã là chiếm trên 80% Hiện nay, tình trạng phát phá rừng trái phép tạixã đến mức báo động, chủ yếu một số đối tượng khai thác để lấy gỗ Hàng năm

cứ đến ngày 30 tháng Giêng (Âm lịch), người Mông ở xã Nà Hẩu lại tưng bừngtổ chức lễ hội cúng rừng Đây là một trong những nghi lễ lớn nhất, quan trọngnhất trong năm đối với người dân Nà Hẩu Lễ hội cúng rừng của đồng bào Môngxã Nà Hẩu có từ lâu đời và là sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng dân gian gắn liềnvới triết lý đa thần của cư dân nông nghiệp Trong đời sống tâm linh của ngườiMông luôn tồn tại những truyền thuyết cổ xưa, những câu chuyện huyền bí kểvề sự linh thiêng của những khu rừng cấm, rừng thiêng của tộc người mình, họluôn tin trong rừng có Thần rừng cai quản và che chở phù hộ cho dân làngtrong cuộc sống hàng ngày, vì vậy, Thần rừng được tôn thờ, sùng kính như đốivới ông bà tổ tiên Tín ngưỡng thờ Thần rừng của người Mông như một sợi dâytâm linh truyền qua nhiều thế hệ, thế nên thôn bản nào của xã Nà Hẩu cũng cómột khu rừng cấm riêng với những qui định “bất khả xâm phạm” nằm ở địa thếđẹp nhất của thôn, nơi hội tụ đầy đủ linh khí của trời đất để thờ cúng Thầnrừng Tục cúng Thần rừng vào những ngày đầu xuân để cầu cho mưa thuận gió

Trang 22

hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, con cháu khỏe mạnh, cuộc sống no ấmyên vui, gắn với những qui định về bảo vệ rừng đã trở thành ngày hội văn hóacộng đồng độc đáo của xã Nà Hẩu, trải qua nhiều thế hệ, đến nay vẫn cònnguyên giá trị

Trong lễ hội Tết rừng của xã Nà Hẩu hàng năm, Lãnh đạo địa phương đãlồng ghép trong đó công tác tuyên truyền về bảo vệ rừng để nhân dân hiểu ýnghĩa của rừng đối với môi trường sống để từ đó nhân dân biết lợi ích của rừngđể chăm sóc và bảo vệ rừng được tốt hơn

Khu vực rừng nguyên sinh trên địa bàn xã có vai trò ý nghĩa rất to lớn đốivới đời sống của con người Hiện nay diện tích rừng nguyên sinh đang bị lấnchiếm, thu hẹp về diện tích, buộc các ngành, các cơ quan phải vào cuộc quyếtliệt, để giữ được diện tích của rừng, khôi phục lại môi trường sinh thái tự nhiênvới quy mô trên địa bàn xã Nà Hẩu

Công tác quản lý rừng tại xã Nà Hẩu được quan tâm quản lý bằng nhiềuhình thức:

* Các thành viên của cộng đồng cùng tham gia quản lý và kinh doanhnhững khu rừng thuộc quyền sử dụng chung (được Ủy ban nhân dân cấp xãgiao và trông coi theo từng tổ bảo vệ rừng) Sự quản lý này mang ý nghĩa trựctiếp

* Nhân dân cùng tham gia quản lý các khu rừng thông qua các hợp đồngkhoán Việc tham gia quản lý này có quan hệ trực tiếp đến đời sống cộng đồngnhư: tạo việc làm (có hỗ trợ 60.000đ/ha) nhân dân có thể tham gia quản lýchung đối với các khoảnh rừng được giao riêng cho từng hộ gia đình nằm trongcộng đồng để đạt được hiệu quả cao trong công tác quản lý Sự quản lý nàyđược coi là quản lý gián tiếp

Cuộc sống của người dân ở xã Nà Hẩu một xã vùng cao nhu cầu cơ bản cần phảigiải quyết là : Lương thực, chất đốt Trước đây, trong điều kiện mật độ dân sốcòn thấp, nền kinh tế còn dựa vào tự nhiên, có tính chất tự cấp tự túc, quan hệcộng đồng tồn tại ở các thôn bản miền núi có tính đồng nhất và đơn giản, các

Trang 23

thành viên của cộng đồng đều có quyền dựa vào các nguồn tài nguyên trên lãnhthổ của mình để thỏa mãn các nhu cầu đó bằng những tục lệ và quy ước của làngbản, nên không phát sinh nhiều mâu thuẫn giữa các cộng đồng với bên ngoài vềquyền sử dụng đất lâm nghiệp

Theo thời gian, quan hệ cộng đồng ở miền núi đã có nhiều thay đổi trongnhững bối cảnh lịnh sử khác nhau như:

* Nhà nước quy định toàn bộ rừng và đất lâm nghiệp thuộc quyền sở hữutoàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Trong phát triển lâm nghiệp, Nhànước đã bố trí nhiều tổ chức để quản lý các khu rừng đó ( như Kiểm lâm, cácban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ ) Theo quy định của các chính sách vềquy hoạch, quyền hạn và lợi ích của cộng đồng chưa được đề cập rõ ràng,còn chung chung trong khi đó thường nhấn mạnh bảo vệ rừng là sự nghiệpcủa toàn dân

* Thành phần và cơ cấu của các cộng đồng dân cư ở miền núi đã thay đổinhiều, như nhiều đầu dân tộc cư trú trên một địa bàn, tỷ lệ dân tộc địa bàn giảmdần nên về mặt tâm lý, làm cho các cộng đồng dân cư bản địa nhận thấy quyềnhưởng dụng của họ đối với rừng như bị tước đoạt Nay già làng chỉ trông coi vềmặt sinh hoạt và lễ hội còn việc quản lý mọi mặt đều do chính quyền, các banphụ trách Nhiều nhu cầu cơ bản của họ đối với rừng trong điều kiện thu nhậpcòn thấp, kinh tế hàng hoá chưa phát triển… nếu như không có những khu rừngmà mọi thành viên trong cộng đồng đều được hưởng lợi, thì có nhiều nhu cầutrong đời sống của người dân ở địa phương không đáp ứng được

* Theo thói quen truyền thống,những dân tộc sống gần rừng thường coitoàn bộ cơ sở nguồn tài nguyên gồm : đất, rừng, nguồn nước, sông suối… là của

họ, nay giao khoán cho mỗi hộ một diện tích đất hạn định thì việc sử dụng đấtsai mục đích là điều không thể tránh khỏi Với diện tích đất hạn hẹp, qua điềutra đất sản xuất của toàn xã Nà Hẩu có tới 26 hộ dân thiếu đất sản xuất Trongđiều kiện đất dốc vùng cao, phương thứ canh tác truyền thống làm cho ngườisân bỡ ngỡ, không biết làm gì và làm thế nào để bảo đảm cuộc sống, dẫn đến

Trang 24

tình trạng càng thiếu đói lương thực, vì vậy nạn khai thác, khai hoang đấtrừng đang bị lấn chiếm.

Trong tình hình lợi ích của cộng đồng đối với những khu rừng ở xungquanh cộng đồng gần như không có gì hoặc chưa rõ ràng thì thật khó lòng vậnđộng họ tham gia bảo vệ rừng Làm rõ quyền hưởng dụng của người cộng đồngdân cư tại địa phương có rừng là tiền đề cơ bản để phát triển du lịch sinh tháitrong thời gian tới

Giải đáp được lợi ích từ rừng đem lại cho dân cư tại địa phương trong quátrình đáp ứng các nhu cầu nói trên sẽ tạo điều kiện nâng cao đời sống của ngườidân ở các vùng rừng núi, và sẽ góp phần tích cực vào việc bảo vệ rừng Tuyêntruyền phân tích cho người dân hiểu và đưa khu rừng nguyên sinh tại xã Nà Hẩuthành khu du lịch sinh thái của huyện Văn Yên, tạo thành mũi nhọn hàng đầu vềthu nhập ổn định cuộc sống lâu dài, bền vững

Trang 25

Chương 2: Thực trạng quản lý rừng nguyên sinh trên địa bàn

xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái2.1.Giới thiệu về xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

2.1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

Khu vực Nà Hẩu như một lòng chảo được tạo nên từ thung lũng hẹp,xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi cao Địa hình ở đây bị chia cắtmạnh tạo thành nhiều khe suối và các hợp thủy Độ cao trung bình từ 600 -700m so với mặt biển Nơi cao nhất 1.788m, nơi thấp nhất 200m Nhiệt độbình quân 23,20C, lượng mưa bình quân 1.458,0 mm/năm, độ ẩm 85%.Hàng năm thường xuất hiện gió mùa Đông - Bắc vào tháng 11 và 12 kèmtheo sương muối Những ngày ít nắng, trời âm u, ở những nơi núi cao sương

mù bao phủ cả ngày, độ ẩm không khí trong rừng rất lớn Với điều kiện khíhậu như vậy rất phù hợp cho sự sinh trưởng phát triển và khả năng tái sinhtự nhiên của cây rừng, thuận lợi cho các loài thực, động vật ở đây phát triển

đa dạng và phong phú, tạo nên cấu trúc rừng rậm, nhiều tầng tán phù hợpvới tính năng phòng hộ đầu nguồn

Xã Nà Hẩu được thành lập năm 1986, được tách ra từ xã Mỏ Vàng củahuyện Văn Yên; Nà Hẩu hiện nay là một xã đặc biệt khó khăn của huyệnVăn Yên, tỉnh Yên Bái, cách trung tâm huyện Văn Yên 30km về phía Nam,xã có duy nhất một tuyến đường trục chính đi vào trung tâm xã, hiện nay đãđược bê tông hóa 13km, còn lại 7km đường dải cấp phối, giao thông đi lạicác thôn bản còn gặp nhiều khó khăn, địa hình đồi núi phức tạp, có nhiềusuối chảy qua địa bàn, dân cư tập trung không đồng đều, trình độ dân trí cònthấp, nhân dân chủ yếu phát triển kinh tế từ nông – lâm nghiệp; xã Nà Hẩu

có tổng diện tích tự nhiên là 5.640.36ha, Trong đó diện tích rừng nguyênsinh là 3.960ha, diện tích đất nông nghiệp 236,06ha, đất phi nông nghiệp là56,52ha, đất lâm nghiệp là 5330,15ha, còn lại 17,63 là đất khác Xã được

Trang 26

chia thành 5 thôn Nà Hẩu có Phía Bắc giáp xã Đại Sơn; Phía Nam giápSùng Đô (Văn Chấn); Phía Đông giáp xã Mỏ Vàng; Phía Tây giáp Phong DụThượng của huyện Văn Yên.

2.1.2.Đặc điểm kinh tế, xã hội của xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Thành phần dân tộc trên địa bàn xã chủ yếu là dân tộc Mông; tổng số

408 hộ, gồm 2083 khẩu Trong đó dân tộc Mông 406 hộ có 2077 khẩu; dân tộcKinh 01 hộ có 03 khẩu; dân tộc Tày 01 hộ có 03 khẩu cư trú rải rác ở 5 thôn Tỷlệ hộ nghèo trong toàn xã là 66,6% Hệ thống trường lớp học được kiên cố đạt30%, tỷ lệ huy động học sinh ra lớp đạt từ 94,3%; có 60% gia đình đạt chuẩnvăn hóa; Hàng năm có 100% số trẻ em nằm trong độ tuổi được tiêm chủng đầyđủ các loại vắc xin Tỷ lệ suy dinh dưỡng còn 20,5% Đào tạo nghề cho lao độngnông thôn đạt 15%

Do là một xã thuần nông, nhân dân trong xã từ lâu đời sản xuất thâm canhcây lúa nước, không có ngành nghề phụ Tuy mặt bằng trình độ dân trí còn chưađồng đều, điều kiện kinh tế của nhân dân trước sự biến động và thay đổi mạnh

mẽ theo cơ chế thị trường đang còn nhiều khó khăn nhưng với tinh thần đoàn kếtvà truyền thống, với ý chí vươn lên của chính mình, dưới sự lãnh đạo của Đảng,chính quyền địa phương đã chỉ đạo nhân dân vượt qua nhiều gian lao, thử thách

Trang 27

để đứng vững trước mọi khó khăn, góp phần nâng cao đời sống, cùng nhân dânxây dựng địa phương xóa đói giảm nghèo

Số hộ nghèo trong toàn xã tại thời điểm năm 2016 Tổng số hộ nghèo là

273, hộ, tổng số 1045 khẩu; hộ cận nghèo là 45 hộ, gồm 162 khẩu trình độ dântrí còn thấp, không đồng đều một số người dân không biết chữ, việc áp dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông lâm nghiệp còn hạn chế, canh tác chưabền vững

Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy, chính quyền địa phương, các banngành thường xuyên tuyên truyền nhân dân bảo vệ rừng nguyên sinh phục vụ dulịch sinh thái Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số đối tượng khai thác, vậnchuyển lâm sản trái phép, dẫn đến tình trạng diện tích rừng đang bị thu hẹp

2.2.Thực trạng rừng nguyên sinh trên địa bàn xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Rừng nguyên sinh trên địa bàn xã Nà Hẩu theo thống kê của Ủy ban nhândân cấp xã năm 2016 thì tổng số diện tích rừng tại 5 thôn bản trong toàn xã là3.960ha trên tổng số 5.640,36ha diện tích đất tự nhiên, tỷ lệ che phủ rừng chiếmtrên 70%; Rừng nguyên sinh ở đây còn giữ được vẻ hoang sơ của tự nhiên, chưa

có bàn tay con người tác động đến

Nguồn nước tự nhiên từ rừng còn trong sạch, người dân nơi đây dùng nướctự nhiên (nước lần) làm nước sinh hoạt hằng ngày Tuy nhiên cũng có qua bể lọcnước nhưng chủ yếu để ngăn cản những sinh vật nhỏ bé, lá cây và rác từ rừng đểnguồn nước thêm trong sạch hơn mà không cần đến một chất xử lý nước nào màkhông ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Nà Hẩu là nơi có rừng nguyên sinh còn được giữ vững, bạt ngàn xanhthẳm giữa những núi đồng rộng lớn, cây cối xanh tưới, khí hậu mát mẻ, tronglãnh, cảnh quan tươi đẹp, không có sự ô nhiễm môi trường; hàng năm thu hútnhiều du khách đến tham quan cảnh vật nơi đây Vậy mà trong những năm gầnđây cánh rừng đó đang bị tàn phá, chủ yếu là người dân lấn chiếm đất rừng, phátnương làm rẫy bừa bãi, làm diện tích rừng trong những năm qua dần bị thu hẹp

Trang 28

Đảng ủy, chính quyền địa phương đã có nhiều biện pháp tuyên truyền phổ biếncho nhân dân biết lợi ích của rừng mang lại nhưng điều đó chưa đủ để ngăn cảnnạn chặt phá rừng bừa bãi.

Đảng ủy, chính quyền địa phương đã lên kế hoạch phát triển kinh tế hộgia đình nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, ngăn nạn phá rừng nơi đây Đưa

ra các chính sách quan trọng để thực hiện, đồng thời giao đất giao rừng cho nhândân để tự họ nắm được tầm quan trọng về rừng để một số khu vực đất rừng đã bịphát tái sinh trở lại

Kết hợp với phong tục tập quán của người dân bản địa nhằm tuyên truyền,giáo dục cho các thế hệ không chặt phá rừng bừa bãi, như vậy cánh rừng Nà Hẩumới có thể mãi ngàn sanh thẳm

2.3.Thực trạng quản lý rừng nguyên sinh trên địa bàn xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

2.3.1.Lập kế hoạch quản lý rừng nguyên sinh.

Kế hoạch quản lý rừng nguyên sinh trên địa bàn xã Nà Hẩu được cán cáccấp, các ngành đặc biệt quan tâm đầu tư hỗ trỡ các khoản kinh phí để chi chocác tổ bảo vệ rừng Song lực lượng còn mỏng nên khó tránh khỏi nạn chặt phárừng bừa bãi

Đảng ủy, Chính quyền địa phương xã đã lên Kế hoạch quản lý theo từngnăm, đưa vào nghị quyết, biểu dưỡng khen thưởng các cá nhân, tổ chức dámmạnh rạn tố cáo hành vi phát phá rừng trái phép, vận chuyển lấm sản trái phépđể nhân rộng tinh thần trách nhiệm của người dân dám đứng lên tố cáo, dữ gìnbảo vệ rừng

Sau khi đề tài Quản lý rừng nguyên sinh trên địa bàn xã Nà Hẩu, huyệnVăn Yên ,tỉnh Yên Bái được triển khai, dựa theo tinh thần lấy toàn bộ đảng viên,nhân dân tham gia tích cực việc trông coi, bảo vệ; tức là theo quản lý dựa vàocộng đồng thì với mô hình này thực sự đem lại hiệu quả bước đầu, tuy nhiên bêncạnh đó còn gặp nhiều khó khăn về tiền thưởng, tiền thuê người trông coi bảo

Trang 29

vệ, nhưng qua đó đã mở ra một hướng đi mới trong công tác quản lý bảo vệrừng nguyên sinh nơi đây.

Người dân đồng tình hướng ứng, bởi trong công tác tuyên truyền nhân dânđều đã thấm nhuần, và hiểu rõ lợi ích của rừng mang lại đối với đời sống kinh tếcon người, đặc biệt trong tương lai Vấn đề xã đã tổ chức Lễ ra mắt thành công

Du lịch cộng đồng, đã có bước đi mới, cách làm mới trong việc phát triển kinhtế mà vẫn giữ gìn được rừng Người dân có thêm thu nhập ổn định, du kháchđến tham quan ngắm cảnh cũng hài lòng mỗi khi đặt chân đến đây Có bướcphát triển như vậy thì cánh rừng Nà Hẩu bạt ngàn mới có thể đứng trường tồntrải qua những năm tháng cùng với thiên nhiên, con người nơi đây

Theo thống kê về diện tích đất rừng của hạt kiểm lâm huyện Văn Yênthống kê trong giai đoạn 2010 đến năm 2016 Diện tích đất rừng tại xã Nà Hẩuđã bị lấn chiếm 40ha Trong đó chủ yếu lấn chiếm về diện tích rừng nguyênsinh Do lực lượng bảo vệ rừng của xã và cán bộ kiểm lâm tăng cường cònmỏng, ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng của người dân chưa cao, một số diện tíchbị lấn chiếm thuộc vùng giáp danh với các xã bênh cạnh Điều này khó trongcông tác quản lý Bởi hầu hết phía giáp danh không có dân cư ở nên diện tích bịkhai thác, lấn chiếm rất khó quản lý Cụ thể số liệu thống kế về diện tích rừng bịlấn chiếm trong giai đoạn 2010 – 2016 như sau:

Ngày đăng: 19/07/2017, 10:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Tài liệu Đảng ủy, HĐND - UBND xã Nà Hẩu Khác
2.Tài liệu Quản Lý Rừng Bên Vững chọn lọc - TaiLieu.VN Khác
3.Tiểu luận Thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay - TaiLieu.VN Khác
4.Chuyên đê Chứng chỉ trong quản lý rừng bên vững theo tiêu chuẩn FSC - Luận văn, đồ án, đê tài tốt nghiệp Khác
5.Giáo trinh quản lý kinh tế quốc dân I-II của trường Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội xuất bản năm 2011- 2012 Khác
6.Giáo trinh khoa học quản lý I-II trường Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội xuất bản năm 2012-2014 Khác
7.Giáo trinh chính sách kinh tế xã hội trương đại học kinh tế quốc dân xuất bản năm 2010.8 . Giáo trinh Kinh tế nông nghiệp trường Đại học kinh tế quốc dân Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê khai thác Quế vỏ giai đoạn 2010 - 2016 - CHUYÊN đề THỰC tập QUẢN lý tài NGUYÊN RỪNG
Bảng th ống kê khai thác Quế vỏ giai đoạn 2010 - 2016 (Trang 10)
Bảng thống kê diện tích đất rừng giai đoạn 2010 - 2016 - CHUYÊN đề THỰC tập QUẢN lý tài NGUYÊN RỪNG
Bảng th ống kê diện tích đất rừng giai đoạn 2010 - 2016 (Trang 30)
Bảng giao đất rừng cho các hộ trông coi bảo vệ - CHUYÊN đề THỰC tập QUẢN lý tài NGUYÊN RỪNG
Bảng giao đất rừng cho các hộ trông coi bảo vệ (Trang 31)
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý rừng - CHUYÊN đề THỰC tập QUẢN lý tài NGUYÊN RỪNG
Sơ đồ t ổ chức bộ máy quản lý rừng (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w