1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nét đẹp trong lễ tết xíp xí của người thái trắng ở tỉnh sơn la

68 453 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó phải kể đến văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Thái Trắng ở Sơn La.. Văn hóa là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội và tồn tại dưới các hình thức như: c

Trang 2

Sinh viên thực hiện: Lò Văn Út Giới tính: Nam Dân tộc: Thái

Lò Thị Văn Giới tính: Nữ Dân tộc: Thái Trần Lệ Giang Giới tính: Nữ Dân tộc: Kinh

Lò Văn Quyển Giới tính: Nam Dân tộc: Thái Chá A Khá Giới tính: Nữ Dân tộc: Mông

Lớp: K55 ĐHGD Chính trị B Khoa: Lý luận chính trị

Năm thứ 3/ Số năm đào tạo: 4

Ngành học: Giáo dục chính trị

Sinh viên chịu trách nhiệm chính: Lò Văn Út

Người hướng dẫn: ThS Đinh Thế Thanh Tú

Sơn La, tháng 05 năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, chúng em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Lý Luận Chính Trị và các Phòng ban nhà trường đã tạo điều kiện động viên, giúp đỡ, cung cấp những thông tin cần thiết về đề tài trong quá trình nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng em xin chân thành cảm ơn ThS Đinh Thế Thanh Tú – Giảng viên hướng dẫn đề tài, người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ đạo và đóng góp nhiều bổ ích cho đề tài hoàn thành có chất lượng và hoàn thành đúng tiến độ Trong thời gian tìm hiểu, nghiên cứu đề tài, chúng em đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô, chú cán bộ Thư viện tỉnh Sơn La, Ban dân tộc tỉnh Sơn La, sở văn hóa Huyện Quỳnh Nhai đã cung cấp tài liệu, tư liệu để chúng em có được những tư liệu, tài liệu cần thiết khi thực hiện đề tài này

Trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu cùng khả năng nắm bắt tình hình của từng cá nhân còn hạn chế, nên thiếu sót trong đề tài là không thể tránh khỏi Vì vậy, em rất mong được sự ủng hộ, chỉ bảo và đóng góp ý kiến của Nhà Trường, các thầy cô và các bạn sinh viên cho đề tài của chúng em thêm hoàn thiện và dầy đủ hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5, năm 2017

Nhóm tác giả

Lò Văn Út Trần Lệ Giang Chá A Khá

Lò Thị Văn

Lò Văn Quyển

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 4

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4

5 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Cấu trúc của đề tài 5

Chương 1: ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG Ở SƠN LA 6

1.1 Lý luận chung về văn hóa 6

1.1.1 Khái niệm văn hóa 6

1.1.1.1 Quan niệm về văn hóa của các nhà nghiên cứu nước ngoài 6

1.1.1.2 Quan niệm về văn hóa của các nhà nghiên cứu Việt Nam 6

1.1.1.3 Định nghĩa văn hóa của UNESCO 7

1.1.2 Khái niệm giá trị văn hóa 8

1.1.2.1 Giá trị 8

1.1.2.2 Giá trị văn hóa 10

1.1.2.3 Văn hoá truyền thống 11

1.2 Đặc điểm người Thái ở Việt Nam 13

1.2.1 Nguồn gốc người Thái ở Việt Nam 13

1.2.2 Dân số, địa bàn cư trú và các nhóm người thái 14

1.2.2.1 Dân số, địa bàn cư trú 14

1.2.2.2 Các nhóm người Thái 15

1.3 Điều kiện tự nhiên và xã hội ở Sơn La 16

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 16

1.3.1.1 Vị trí địa lí 16

1.3.1.2 Địa hình, khí hậu Sơn La 17

1.3.1.3 Đất đai, sông ngòi 18

1.3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 18

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21

Trang 5

1.3.2.2 Đặc điểm về xã hội 22

1.3.3 Tìm hiểu về đồng bào dân tộc Thái Trắng ở tỉnh Sơn La 23

1.3.3.1 Về nguồn gốc và đặc điểm của người Thái Trắng 23

Tiểu kết chương 1 26

Chương 2: TẾT XÍP XÍ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THÁI TRẮNG TỈNH SƠN LA 27

2.1 Văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Thái Trắng 27

2.1.1 Phong tục tập quán 27

2.1.2 Cấu trúc của xã hội 29

2.1.2.1 Trong gia đình 29

2.1.2.2 Trong xã hội 30

2.1.2.3 Hệ thống tín ngưỡng 30

2.1.2.4 Về văn học nghệ thuật 31

2.2 Tết Xíp xí của đồng bào dân tộc Thái Trắng ở Tỉnh Sơn La 31

2.2.1 Nguồn gốc xuất xứ và mục đích của tục làm Tết Xíp xí 31

2.2.1.1 Mục đích của tục làmTết Xíp xí 31

2.2.1.2 Nguồn gốc xuất xứ của Tết Xíp xí 31

2.2.2 Tết Xíp xí trong đời sống văn hóa của đồng báo Thái Trắng ở Sơn La 32

2.2.2.1 Ý nghĩa Tết Xíp xí trong đời sống văn hóa 32

2.2.2.2 Quá trình chuẩn bị cho Tết Xíp xí 33

2.2.3 Tính thiêng liêng trong Tết Xíp xí 38

2.2.4 Ý nghĩa củaTết Xíp xí 39

2.3 Thực trạng và tính chất Tết Xíp xí của đồng bào dân tộc Thái Trắng 40

2.3.1 Thực trạng Tết Xíp xí của đồng bào dân tộc Thái Trắng 40

2.3.2 Tính chất Tết Xíp xí của đồng bào dân tộc Thái Trắng 42

2.4 Những biện pháp giữ gìn Tết Xíp xí của đồng bào dân tộc Thái Trắng 43

2.4.1 Trong quản lí 43

2.4.2 Trong tuyên truyền giáo dục 47

Tiểu kết chương 2 51

C KẾT LUẬN 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn hóa vốn gắn liền với toàn bộ cuộc sống và với sự phát triển của xã hội Con người ra đời cùng với văn hóa, trưởng thành nhờ văn hóa, hướng tới tương lai cũng từ văn hóa Văn hóa của một dân tộc trước hết thể hiện ở bản sắc của dân tộc ấy Bản sắc dân tộc thể hiện trong hệ giá trị của văn hóa dân tộc, nó biểu hiện và định hướng cho sự lựa chọn trong hành động của con người Những giá trị văn hóa là thước đo trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc “Một dân tộc thiểu số văn hóa chưa phải là một dân tộc thật sự hình thành, một nền văn hóa không có bản sắc dân tộc thì nền văn hóa ấy không có sức sống thật sự của nó” [34, tr.16]

Việt Nam là một quốc gia đa thành phần dân tộc được phân bố ở các vùng, miền của tổ quốc, 54 dân tộc là 54 sắc màu văn hóa tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam Do đặc điểm về điều kiện địa lí, kinh tế - xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên các vùng văn hóa khác nhau, từ đó văn hóa của các dân tộc cũng có những điểm khác biệt và mang tính chất đặc thù Mỗi dân tộc

có những đặc điểm riêng, đều sớm hình thành những nét văn hóa riêng có, độc đáo của mình

Dân tộc Thái là dân tộc có số dân đông thứ 3 trong 53 dân tộc ở nước ta Cũng như mọi dân tộc khác, người Thái đã sớm hình thành một nền văn hóa mang màu sắc riêng và hết sức đặc sắc Trong đó phải kể đến văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Thái Trắng ở Sơn La

Hiện nay do cơ chế chính sách mở cửa của nhà nước ta, việc giao lưu những nét văn hóa giữa các nước với nhau đã và đang trở thành một xu thế tất yếu Bên cạnh những mặt tích cực là làm giàu hay làm phong phú thêm cho nền văn hóa của dân tộc ta thì sự tác động của nền văn hóa bên ngoài vào nền văn hóa dân tộc sẽ nảy sinh những thời cơ và thách thức mới, những thuận lợi và khó khăn mà hệ quả là không những tác động đến nền văn hóa dân tộc mà còn tác động đến sự phát triển tương Lai của đất nước

Vì vậy, trong quá trình hội nhập chúng ta phải biết tiếp thu và phát huy những mặt tích cực, nhận biết và ngăn chặn đẩy lùi những mặt tiêu cực của nền văn hóa bên ngoài Chính vì thế, vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

Trang 7

Văn hóa không phải giá trị cố định, bất biến mà văn hóa luôn luôn phát triển Văn hóa là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội và tồn tại dưới các hình thức như: các công trình kiến trúc, vật dụng, ẩm thực, ngôn ngữ, tập quán, âm nhạc, tôn giáo… Bản sắc văn hóa dân tộc là sắc thái gốc, là những đường nét, màu sắc riêng biệt không thể trộn lẫn của một nền văn hóa Bản sắc văn hóa dân tộc làm nên cốt lõi vững chắc giúp cho nên văn hóa luôn giữ được tính duy nhất, tính nhất quán trong quá trình phát triển Mỗi cá nhân với tư cách là một chủ thể sáng tạo văn hóa luôn thống nhất cái riêng của bản thân mình và cái chung của dân tộc

Vì vậy, bản sắc văn hóa dân tộc luôn chứa đựng cả tính nhân loại, cả tính khu vực

và tính dân tộc

Thực trạng về giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

có những mặt tích cực được thể hiện ở ý thức phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Nhiều nét mới trong giá trị vǎn hóa và chuẩn mực đạo đức từng bước được hình thành Tính nǎng động và tính tích cực của công dân được phát huy, sở trường và nǎng lực cá nhân được khuyến khích Thế hệ trẻ tiếp thu nhanh những kiến thức mới và có ý chí vươn lên lập nghiệp, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và luôn luôn hướng về cội nguồn, Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị tư tưởng, học thuật và thẩm mỹ của dân tộc Thông tin đại chúng ngày càng phát huy vai trò trong đời sống tinh thần

xã hội, giao lưu vǎn hóa với nước ngoài từng bước được mở rộng Vì vậy để giữ gìn bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa là trách nhiệm của tất cả mọi người của các tổ chức, cá nhân

Để nhận thức rõ hơn về ý nghĩa nét đẹp trong lễ Tết Xíp xí và tầm quan trọng trong lễ Tết Xíp xí của người Thái Trắng ở tỉnh Sơn La, nhóm muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào mục tiêu của cả nước nói chung, và tỉnh Sơn La nói riêng,

nhóm chọn vấn đề “Nét đẹp trong lễ Tết Xíp xí của người Thái Trắng ở tỉnh Sơn

La” làm đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tính đến thời điểm hiện tại đã có nhiều đề tài nghiên cứu về giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Thái Cụ thể như:

Trang 8

“Nghệ thuật trang phục Thái”, Lê Ngọc Thắng, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội,

1990 Nghiên cứu đặc sắc về trang phục của đồng bào dân tộc Thái Những nét đẹp trong trang phục áo cóm của đồng bào dân tộc Thái Sự khác nhau giữa trang phục của người Thái Đen và Thái Trắng Đề cập đến giá trị vật chất và giá trị tinh thần trong nghệ thuật trang phục của người Thái

“Văn hóa Thái Việt Nam”, Cầm Trọng, Phan Hữu Dật, Nxb Văn hóa Dân tộc,

Hà Nội, 1995 Nghiên cứu về các lễ hội và ẩm thực của đồng bào dân tộc Thái ở Việt Nam Giá trị của nó đối với văn hóa của cả dân tộc Việt Nam

“Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam”, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội,

1996 Tìm hiểu lịch sử của người Thái gồm Thái Đen và Thái Trắng Nét đẹp trong văn hóa của dân tộc Thái

“Nghiên cứu văn hóa bản dân tộc Thái Đen, trên cơ sở đó đề xuất nội dung, giải pháp xây dựng mô hình bản văn hóa”, 1999, UBND tỉnh Sơn La Tác phẩm

cũng đã nêu ra những nét văn hóa đặc trưng, cách thức sinh hoạt của đồng bào dân tộc Thái Đen

“Tìm hiểu văn hóa vùng các đân tộc thiểu số”, Lò Giàng Páo, Nxb Văn hóa

dân tộc, Hà Nội, 1997

Vì Trọng Liên, “Vài nét về người Thái ở Sơn La”, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà

Nội, 2002 Những nét độc đáo và riêng biệt của người Thái ở Sơn La Sự giống nhau

và khác nhau giữa người Thái ở Sơn La với đồng bào dân tộc Thái trên cả nước

“Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978 Tác phẩm

đã giới thiệu chung về đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là sắc Thái văn hóa truyền thống của người Thái ở Tây Bắc Ngoài ra cũng có một số đề tài do sinh viên trường Đại học Tây Bắc cũng ngiên cứu về văn hóa người Thái:

“Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La hiện nay”, Lò Minh Thảo, luận văn Thạc sỹ, Hà Nội, 2013 “Vai trò của Đảng đối với việc bảo tồn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay”,

Lò Thị Mai, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Đại học Tây Bắc, năm 2012 Đề tài nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng thông qua những chủ trương, chính sách đúng đắn, sáng suốt nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn

La trong giai đoạn hiện nay, để khẳng định vai trò của Đảng “Kế thừa và phát huy

bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La hiện nay”, Lò Thúy Quỳnh, Khóa luận

Trang 9

tốt nghiệp, năm 2014 Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để thấy được thực trạng kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiên nay

Nhìn chung: Các công trình, tác phẩm đều đã đi sâu vào khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; văn hóa của dân tộc Thái ở nước ta Tuy nhiên, tất cả những đề tài nghiên cứu trên đây đều mới chỉ nghiên cứu về nét đẹp của đồng bào dân tộc Thái ở mức chung chung chưa đi sâu vào từng mảng cụ thể và cũng chưa có đề tài nào nghiên cứu về nét đẹp trong văn hóa truyền thống Tết Xíp xí của người Thái Trắng Sơn La Vì vậy chúng tôi chọn đề tài này để đi sâu vào nghiên cứu cụ thể: „„Nét đẹp trong Tết Xíp xí của người Thái Trắng ở tỉnh Sơn La‟‟

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Lễ Tết Xíp xí của người dân tộc Thái Trắng ở tỉnh Sơn La

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Địa bàn nghiên cứu người Thái Trắng Sơn La

Do giới hạn về thời gian, không gian nghiên cứu và khả năng thực hiện nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu cụ thể: Phù yên, Quỳnh nhai, Mộc châu

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:

Phương pháp quan sát

Phương pháp điều tra, phỏng vấn

Phương pháp phân tích

Phương pháp thu thập, phân tích xử lí tài liệu

5 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

5.1 Mục tiêu nghiên cứu

Sáng tỏ lý luận của lễ Tết Xíp xí của dân tộc Thái Trắng Sơn La

Nêu được nét đẹp của lễ Tết Xíp xí của người dân tộc Thái Trắng Sơn La

Tồn tại và giải pháp để bảo tồn những nét văn hóa của người Thái Trắng Sơn La

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ đạt ra:

Một là, làm rõ một số quan niệm, khái niệm, có liên quan đến đề tài

Trang 10

Hai là, bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La

Ba là, tìm hiểu điều kiện tự nhiên và xã hội ở Sơn La

Bốn là, tìm hiểu văn hóa truyền thống của dân tộc Thái Trắng ở tỉnh Sơn La

Năm là, tìm hiểu lễ Tết Xíp xí của dân tộc Thái Trắng ở tỉnh Sơn La

Sáu là, làm rõ vai trò và tính chất Tết Xíp xí của dân tộc Thái Trắng ở tỉnh Sơn La Bảy là, đề ra những biện pháp giữ gìn Tết Xíp xí của người Thái Trắng ở tỉnh Sơn La

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo đề tài gồm 2 chương: Chương 1: Đặc điểm văn hóa người Thái Trắng ở tỉnh Sơn La

Chương 2: Tết Xíp xí của đồng bào dân tộc Thái Trắng ở tỉnh Sơn La

Trang 11

Chương 1 ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG Ở SƠN LA

1.1 Lý luận chung về văn hóa

1.1.1 Khái niệm văn hóa

1.1.1.1 Quan niệm về văn hóa của các nhà nghiên cứu nước ngoài

Văn hóa là sản phẩm của con người; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những định nghĩa khác nhau

về Văn hóa

Tômatxơ Định nghĩa văn hóa “văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của nhóm người, các thiết chế, phong tục và phản ứng trong cách phản ứng của họ”; F Merill “văn hóa là cách ứng xử mà các thành viên xa hội học được” [51; 21]

Năm 1871, E.B Tylor đã định nghĩa trong cuốn văn học nguyên thủy (Primitive Culuture) xuất bản 1871 ở Luân Đôn: „„Văn hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực cũng như thói quen mà con người đạt được trong xã hội” [51; 21]

F Boas định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của

họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” [51; 21]

Kơlinebecgiơ định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ nếp sống được xác định bằng môi trường xã hội và thông qua các cá nhân với tư cách là một thành viên của xã hội ấy” [51; 21]

Phônxôn định nghĩa nhấn mạnh văn hóa là sản phẩm nhân tạo: “Văn hóa là tất

cả những gì do con người sản xuất ra: công cụ, biểu trưng, thiết chế, hoạt động, các quan niệm, tín ngưỡng Đó là những sản pẩm nhân tạo và được truyền đạt từ thế hệ này qua thế hệ khác [51; 21]

1.1.1.2 Quan niệm về văn hóa của các nhà nghiên cứu Việt Nam

Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,

Trang 12

tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người [37; 234 -235]

Phạm Văn Đồng cho rằng: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”.[51; 25]

Theo Nguyễn Đức Từ Chi xem văn hóa từ hai góc độ Góc độ thứ nhất là góc

độ hẹp, mà ông gọi là “góc nhìn báo chí” Theo góc nhìn này, văn hóa sẽ là kiến thức của con người và xã hội Nhưng ông không mặn mà với cách hiểu này vì hiểu như thế thì người nông dân cày ruộng giỏi nhưng không biết chữ vẫn bị xem là “không có văn hóa” do tiêu chuẩn văn hóa ở đây là tiêu chuẩn kiến thức sách vở Còn góc nhìn thứ hai là “góc nhìn dân tộc học” Với góc nhìn này, văn hóa được xem là toàn bộ cuộc sống -cả vật chất, xã hội, tinh thần của từng cộng đồng; và văn hóa của từng cộng đồng tộc người sẽ khác nhau nếu nó được hình thành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường sống khác nhau Văn hóa sẽ bị chi phối mạnh mẽ bởi

sự kiểm soát của xã hội thông qua gia đình và các tổ chức xã hội, trong đó có tôn giáo [51; 27]

1.1.1.3 Định nghĩa văn hóa của UNESCO

Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng

và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng: thì “Văn hóa là một phức hệ tổng hợp các đặc trưng diện mạo

về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ

Trang 13

thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”[51; 27 – 28]

Theo nghĩa hẹp: thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu)

chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”…[51; 27 – 28]

Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng Mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa Như định nghĩa của Tylor và của Hồ Chí Minh thì xem văn hóa là tập hợp những thành tựu mà con người đạt được trong quá trình tồn tại và phát triển, từ tri thức, tôn giáo, đạo đức, ngôn ngữ âm nhạc, pháp luật… Còn các định nghĩa của F Boas, Nguyễn Đức Từ Chi,

tổ chức UNESCO… thì xem tất cả những lĩnh vực đạt được của con người trong cuộc sống là văn hóa

Chúng tôi dựa trên các định nghĩa đã nêu để xác định một khái niệm văn hóa cho riêng mình nhằm thuận tiện cho việc thu thập và phân tích dự liệu khi nghiên cứu Chúng tôi cho rằng, văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong qua trình Lao động (từ Lao động trí óc đến Lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường (môn tự nhiên và xã hội) xung quanh và tính cách của từng tộc người Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so với các loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người

sẽ có những đặc trưng riêng

Với cách hiểu này cùng với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác; và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình Lao động nhằm mục đích sinh tồn

1.1.2 Khái niệm giá trị văn hóa

1.1.2.1 Giá trị

Như mọi người đều rõ, giá trị (Value) là một khái niệm của nhiều bộ môn khoa

học khác nhau, toán học, xã hội học, triết học, nghệ thuật, văn hoá học , do vậy trong mỗi bộ môn khoa học, khái niệm này mang những hàm nghĩa khác nhau Chúng tôi

tiếp cận khái niệm “giá trị hay giá trị văn hoá truyền thống” từ góc độ văn hoá học,

một bộ môn nghiên cứu mang tính liên ngành, do vậy giá trị được hiểu theo những ý nghĩa sau:

Trang 14

Theo quan điểm xã hội học: “Giá trị là quan niện và điều mong muốn đặc trưng hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh hưởng tới việc chọn các phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành động”.[5; 156]

Theo giáo sư Phạm Tất Dong và TS.Lê Ngọc Hùng, thuật ngữ giá trị có thể

“Quy vào những mối quan tâm, thích thú, những ưa thích, sở thích, nhũng bổn phận, trách nhiệm, những ước muốn, nhu cầu, những ác cảm, những lôi cuốn và nhiều hình Thái khác nữa của những hướng lựa chọn‟‟ [5; 175]

Hai ông còn coi “Giá trị như những quan niệm về cái đáng mong muốn ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn Trong cách nhìn rộng rãi hơn thì bất cứ cái gì tốt, xấu điều là giá trị hay giá trị là điều là quan tâm của chủ thể Như vậy,mọi giá trị dường như chứa đựng một yếu tố nhận thức Chúng có tính hướng dẫn và lựa chọn Chúng cũng gồm một số những yếu tố tình cảm, vì chúng thể hiện những gì mà chúng ta thấy cần bảo vệ Khi được nhận thức một cách công khai, đầy đủ các giá trị trở thành tiêu chuẩn cho sự yêu thích, lựa chọn và phán xét Giá trị là cái mà ta cho là đã có, mà ta thích, ta cho là quan trọng để hướng dẫn cho hành động của ta” [5; 149]

Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức đều là sản phẩm của quá trình

tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá Giá trị, giá trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh và kết tinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người Cho nên, quan điểm cho rằng văn hoá hay giá trị văn hoá chỉ là lĩnh vực đời sống tinh thần thôi thì chưa thật thoả đáng

Giá trị, trước nhất là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái gì là cần, là tốt, là hay, là đẹp, nói cách khác đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện,

mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Do vậy, giá trị văn hoá nói ở đây là giá trị xã hội, nó gắn bó mật thiết với hoạt động sống của con người, sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội

Giá trị là phạm trù riêng có của loài người, liên quan đến lợi ích vật chất cũng như tinh thần của con người Bản chất và ý nghĩa bao quát của giá trị là tính nhân văn Chức năng cơ bản nhất của giá trị là định hướng, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và cộng đồng Giá trị gắn liền với nhu cầu con người Nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng và được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau

Trang 15

Chính nhu cầu là động cơ thúc đẩy mạnh mẽ hành động của con người, giúp con người tạo nên những giá trị vật chất và tinh thần

James People và Garrick Bailey cho rằng, "Giá trị là cái ý tưởng về các loại mục đích hay các loại lối sống của một cá thể, nó được chia sẻ trong một nhóm hay trong toàn xã hội, nó được cá thể, nhóm hoặc toàn xã hội mong muốn hay được coi là có ý nghĩa Đó là phẩm chất cơ bản cần phải có để đảm bảo con đường sống, các chuẩn tối thượng chỉ đạo mọi hoàn cảnh thực tiễn Có những giá trị có thể định lượng bởi một giá, nhưng cũng có những giá trị không thể định giá - vô giá: lòng yêu nước, tình yêu,

tình bạn, các tác phẩm nghệ thuật ”[5; 150]

1.1.2.2 Giá trị văn hóa

Giá trị văn hoá (Cultural Value) do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra

trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hoá đã hình thành thì nó lại

có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người

trong các xã hội ấy Giá trị văn hoá của mỗi cộng đồng (tộc người, quốc gia ) bao

giờ cũng tạo nên một hệ thống, với ý nghĩa là các giá trị ấy nảy sinh, tồn tại trong sự

liên hệ, tác động hữu cơ với nhau

Giá trị văn hóa không phải là cái chủ quan hay bị áp đặt mà nó mang tính khách quan, gắn liền với dân tộc giai cấp và nhân loại, cho nên, giá trị văn hóa cũng mang tính phổ biến Tuy nhiên, giá trị văn hóa cũng như giá trị, nó không phải là cái cố định mà biến đổi cùng sự biến đổi của xã hội Các giá trị văn hóa biểu hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ tư tưởng, tình cảm, quan niệm, biểu tượng, đạo đức thẩm mỹ, lối sống đến những giá trị tinh thần do con người sáng tạo nên như nghệ thuật, kiến trúc, hội họa, âm nhạc Những giá trị văn hóa này hình thành và được khẳng định trong quá trình tồn tại phát triển của con người và

xã hội giá trị văn hóa luôn hiện hữu trong chương trình hành động của dân tộc, thể hiện cốt cách của một dân tộc

Những hành động của con người vì nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu trong quá trình tồn tại của mình ẩn chứa các giá trị văn hóa Khía cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát vọng nhân văn của con người biểu hiện trong hoạt động sống của cá nhân, cộng đồng, dân tộc: ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp xã hội, giáo dục, tập quán, tín ngưỡng tạo nên nét đặc trưng của giá trị văn hóa Nhu cầu của con người càng cao càng tạo điều kiện cho việc hình thành các giá trị văn hóa

Trang 16

Giá trị văn hóa là cái hình thành trong quá trình vận động của các cá nhân, nhóm

và cộng đồng xã hội vươn tới thỏa mãn nhu cầu của mình Do vậy, nói tới giá trị văn hóa là nói tới những thành tựu của một cá nhân hay một dân tộc đã đạt được trong quan hệ với thiên nhiên, với xã hội và trong sự phát triển bản thân mình; nói tới giá trị văn hóa cũng là nói tới Thái độ, trách nhiệm và những quy tắc ứng xử của mỗi người trong quan hệ của bản thân với gia đình, xã hội và thiên nhiên; nói tới giá trị văn hóa cũng là nói tới những biểu tượng cho cái chân - thiện - mỹ Cho nên, có ý kiến cho rằng, "Chỉ những hoạt động nào thể hiện được những sức mạnh bản chất của con người, những sức mạnh biểu trưng cho chân - thiện - mỹ mới hiện diện như những giá trị văn hóa"

1.1.2.3 Văn hoá truyền thống

Có thể nói văn hóa truyền thống hay văn hóa dân gian ra đời và phát triển

cùng với sự ra đời, phát triển của xã hội Dù trong xã hội nào văn hóa dân gian vẫn mang nét đặc trưng vốn có và ý nghĩa nhất định

Văn hóa dân gian có vai trò như thế nào trong đời sống hiện đại, Là đất phát tích cội nguồn dân tộc Việt Nam còn lưu giữ được nhiều di sản văn hóa độc đáo từ thời kỳ dựng nước Người ta thường nói văn hóa dân gian là “cội nguồn của văn hóa dân tộc”

là "văn hóa gốc", "văn hóa mẹ" Điều đó hàm nghĩa văn hóa dân gian gắn với lịch sử lâu đời của dân tộc, là nguồn sinh và nuôi dưỡng văn hóa dân tộc

Thời kỳ Hùng Vương, thời kỳ hình thành nền văn hóa dân tộc, thì trước hết đó là văn hóa của nhân dân lao động - họ "tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống của mình" Vì thế sự ra đời và định hình của văn hóa dân gian gắn với những giai đoạn sớm nhất của lịch sử dân tộc Đó là thời kỳ văn hóa Đông Sơn - Hùng Vương dựng nước, thời

kỳ mở đầu của lịch sử dân tộc, lịch sử Quốc gia và lịch sử văn hóa Việt Nam

Văn hóa dân gian Việt Nam với điểm đặc trưng là văn hóa tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, luôn biết ơn những người đi trước để nhân lên truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”, khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc trong mỗi người dân Việt Nam

Văn hóa dân gian Việt Nam là nền văn hóa nông nghiệp lúa nước nên phản ánh

rõ nét tinh thần cộng đồng, đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau Qua nhiều biến cố thăng trầm của thời gian và lịch sử, văn hóa dân gian tất yếu sẽ tự nó thay đổi cho phù hợp với thời đại Song, bên cạnh đó cũng cần có sự tác động của bàn

Trang 17

tay con người để văn hóa dân gian có thể phát triển một cách toàn diện hơn Như chúng ta cũng đã biết, xã hội phát triển từ hình thái thấp lên cao, kéo theo đó sẽ là sự thay đổi của văn hóa; bởi xét cho cùng văn hóa là tấm gương phản chiếu xã hội Trong quá trình phát triển xã hội, văn hóa truyền thống sẽ tự “mài dũa” để giữ lại những giá trị cốt lõi và loại bỏ những nhân tố cũ, lạc hậu không còn phù hợp để thay vào đó là những nhân tố mới, tiến bộ và ưu việt hơn Cụ thể, trên địa bàn tỉnh ta,

đã có rất nhiều nét văn hóa dân gian được thay đổi, “hiện đại hóa” theo hướng tích cực cho phù hợp với thời đại và tâm lý xã hội Lễ hội là biểu tượng đặc trưng của nền văn hóa dân gian, hiện nay, có khoảng hơn 200 lễ hội lớn nhỏ Để phù hợp với thời đại mới, trong các lễ hội trên địa bàn tỉnh, phần lễ đã được tinh giản nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ giá trị truyền thống và tâm linh; bên cạnh đó phần hội được tổ chức đặc sắc với nhiều trò chơi tập thể, lôi cuốn được nhiều người dân tham gia, giúp họ đạt mục đích tâm linh và mang lại niềm vui, sự hứng khởi

Trong mỗi dịp Giỗ Tổ Hùng Vương, nghi thức Hát Xoan luôn được chú ý và quan tâm, nhưng để tránh sự nhàm chán, ngoài nghi thức lễ bắt buộc, Hát Xoan đã được lồng ghép vào các chương trình trong lễ hội vừa đảm bảo việc giới thiệu nét văn hóa vùng Đất Tổ vừa làm phong phú hơn các hoạt động phục vụ du khách Hiện nay văn hóa Việt Nam đã và đang phấn đấu xây dựng để trở thành thành phố lễ hội về với cội nguồn, đây là không gian văn hóa - nơi có thể biểu đạt, giới thiệu đầy đủ các nét văn hóa dân gian trên cả nước Bảo tồn giá trị văn hóa dân gian trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là sự khẳng định vai trò và vị trí xứng đáng của nó trong đời sống xã hội hiện đại

Vậy chúng ta cần làm gì để bảo tồn các giá trị văn hóa dân gian đã có, Có thể nói, đến thời điểm này, đát nước đã rất chú trọng, quan tâm tới công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân gian gắn với phát triển bền vững, trong thời gian tới, chúng ta tiếp tục kiên trì, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về văn hóa dân gian, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên gắn với việc thường xuyên rà soát, điều chỉnh chính sách, cơ chế về bảo vệ di sản Đồng thời, để nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân gian trên địa bàn tỉnh, việc cần thiết và cơ bản chính là đưa những di sản văn hóa này trở lại với cộng đồng sinh hoạt văn hóa, bằng

Trang 18

cách khơi dậy tình yêu, lòng tự hào đối với truyền thống của dân tộc trong mỗi người dân tới toàn cộng đồng

Bên cạnh đó, đưa di sản văn hóa phi vật thể vào bảo quản trong các kho tư liệu, vào giảng dạy trong nhà trường, tổ chức sinh hoạt trong cộng đồng hay tại các bảo tàng và có chính sách, chế độ đãi ngộ hợp lý đối với các nghệ nhân, những “báu vật nhân văn” đã có công sức gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Bên cạnh đó, cần tìm hiểu, nghiên cứu kỹ tâm lý của từng đối tượng người dân cho phù hợp với từng hoạt động; định hướng, vận động họ tham gia vào các hoạt động cộng đồng, để họ thêm hiểu, yêu thích và bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Văn hoá truyền thống hay giá trị văn hoá truyền thống được hiểu như là văn hoá

và giá trị gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với văn hoá, giá trị văn hoá thời đại công nghiệp hoá Tất nhiên, khái niệm truyền thống (Tradition) để chỉ những cái

gì đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

1.2 Đặc điểm người Thái ở Việt Nam

1.2.1 Nguồn gốc người Thái ở Việt Nam

Dựa trên các chứng cứ về di truyền, Jerold A Edmondson cho rằng tổ tiên của các cư dân nói ngôn ngữ Tai-Kadai di cư từ Ấn Độ tới Myanmar, rồi sau đó tới Vân Nam (Trung Quốc) khoảng 20.000 - 30.000 năm trước Từ đó họ đến đông bắc Thái Lan và sau đó di cư dọc vùng duyên hải Hoa Nam lên phía bắc đến cửa sông Trường Giang, gần Thượng Hải khoảng 8-10.000 năm trước Vào thời kỳ vương quốc Nam Chiếu và Đại Lý tồn tại từ thế kỉ VIII đến thế kỉ XIII, cũng như sau đó, họ từ đó chiếm lĩnh Thái Lan và Lào

Theo David Wyatt, trong cuốn "ThaiLand: A short history (Thái quốc: Lịch sử tóm lại)", người Thái xuất xứ từ phía nam Trung Quốc, có cùng nguồn gốc với các nhóm dân ít người bây giờ như Choang, Tày, Nùng Dưới sức ép của người Hán và người Việt ở phía Đông và Bắc, người Thái dần di cư về phía Nam và Tây Nam Người Thái di cư đến Việt Nam trong thời gian từ VII đến thế kỉ XIII Trung tâm của

họ khi đó là Điện Biên Phủ (Mường Thanh) Từ đây, họ tỏa đi khắp nơi ở Đông Nam

Á bây giờ như Lào, Thái Lan, Bang Shan ở Miến Điện và một số vùng ở Đông Bắc

Ấn Độ cũng như nam Vân Nam

Trang 19

Theo sách sử Việt Nam, vào thời nhà Lý, Đạo Đà Giang, Man Ngưu Hống (tức người Thái) đến từ Vân Nam, đã triều cống lần đầu tiên vào năm 1067 Trong thế kỷ XIII, người Ngưu Hống kết hợp với người Ai Lao chống lại nhà Trần và bị đánh bại năm 1280, lãnh tụ Trịnh Giác Mật đầu hàng, xứ Ngưu Hống bị đặt dưới quyền quản

lý trực tiếp của quan quân nhà Trần Năm 1337 lãnh tụ Xa Phần bị giết chết sau một cuộc xung đột, xứ Ngưu Hống bị sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt và đổi tên thành Mương Lễ, hay Ninh Viễn (Lai Châu ngày nay) và giao cho họ Đèo cai quản Năm

1431 lãnh tụ Đèo Cát Hãn, người Thái Trắng tại Mương Lễ, nổi lên chống triều đình, chiếm hai lộ Qui Hóa (Lào Cai) và Gia Hưng (giữa sông Mã và sông Đà), tấn công Mương Mỗi (Sơn La), Đèo Mạnh Vương (con của Đèo Cát Hãn) làm tri châu Năm

1466, lãnh thổ của người Thái được tổ chức lại thành vùng (Thừa Tuyên) Hưng Hóa, gồm 3 phủ: An Tây (tức Phục Lễ), Gia Hưng và Qui Hóa, 4 huyện và 17 châu

Những lãnh tụ Thái được gọi là “Phìa tạo”, được phép cai quản một số lãnh địa

và trở thành giai cấp quý tộc của vùng đó, như dòng họ Đèo cai quản các châu Lai, Chiêu Tấn, Tuy Phụ, Hoàng Nham; dòng họ Cầm các châu Phù Hoa, Mai Sơn, Sơn

La, Tuần Giáo, Luân, Ninh Biên; dòng họ Xa cai quản châu Mộc; dòng họ Hà cai quản châu Mai, dòng họ Bạc ở châu Thuận; họ Hoàng ở châu Việt

Năm 1841, trước sự đe dọa của người Xiêm La, triều đình nhà Nguyễn kết hợp

ba châu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu bên bờ tả ngạn sông Mekong thành phủ Điện Biên Năm 1880, phó lãnh sự Pháp là Auguste Pavie nhân danh triều đình Việt Nam phong cho Đèo Văn Trị chức tri phủ cha truyền con nối tại Điện Biên; sau khi giúp người Pháp xác định khu vực biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và Lào, Đèo Văn Trị được cử làm quan của đạo Lai Châu, cai quản một lãnh thổ rộng lớn từ Điện Biên Phủ đến Phong Thổ, còn gọi là xứ Thái Tháng 3, năm 1948 lãnh thổ này được Pháp tổ chức lại thành Liên bang Thái tự trị, quy tụ tất cả các sắc tộc nói tiếng Thái chống lại Việt Minh

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, để lấy lòng các sắc tộc thiểu số miền Bắc, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập Khu tự trị Thái Mèo ngày 29 tháng

4 năm 1955, Khu tự trị Tày Nùng và vùng tự trị Lào Hạ Yên, nhưng tất cả các khu này đều bị giải tán năm 1975

1.2.2 Dân số, địa bàn cư trú và các nhóm người thái

1.2.2.1 Dân số, địa bàn cư trú

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2015, người Thái ở Việt Nam có dân

số khoảng 1.657.000 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam, có mặt trên

Trang 20

tất cả 63 tỉnh, thành phố Người Thái cư trú tập trung tại các tỉnh: Sơn La, Nghệ An, Điện Biên, Hòa Bình, Lai Châu… trong đó người Thái cư trú tập trung tại các tỉnh: Sơn La (1.372.441 người, chiếm 53,2% dân số toàn tỉnh và 36,9% tổng số người Thái tại Việt Nam), Nghệ An (595.132 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh và 19,0% tổng

số người Thái tại Việt Nam), Thanh Hóa (425.336 người, chiếm 6,6% dân số toàn tỉnh và 14,5% tổng số người Thái tại Việt Nam), Điện Biên (386.270 người, chiếm 38,0% dân số toàn tỉnh và 12,0% tổng số người Thái tại Việt Nam), Lai Châu ( Mường Lay ) (319.805 người, chiếm 32,3% dân số toàn tỉnh và 7,7% tổng số người Thái tại Việt Nam), Yên Bái (83.104 người), Hòa Bình (51.386 người), Đắk Lắk (27.135 người), Đắk Nông (15.311 người)

1.2.2.2 Các nhóm người Thái

Người Thái chia ra hai nhóm chính là Thái Đen và Thái Trắng trong đó:

Nhóm Thái Đen (Táy Đăm) cư trú ở khu vực tỉnh Sơn La và Điện Biên Các nhóm Tày Thanh, Tày Mười, Tày Khăng ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An cũng mới

từ mạn Tây Bắc chuyển xuống cách đây vài ba trăm năm và bị ảnh hưởng bởi văn hóa

và nhân chủng của cư dân địa phương và Lào Nhóm Tày Thanh từ Mường Thanh (Điện Biên) đi qua Lào vào Thanh Hóa và tới Nghệ An định cư cách đây hai, ba trăm năm, nhóm này gần gũi với nhóm Thái Yên Châu (Sơn La) và chịu ảnh hưởng văn hóa Lào

Dân số của nhóm Thái Đen tại Việt Nam năm 2015 ước tính khoảng 1.657.000 người trong tổng số 2.398.950 người Thái Đen trên toàn thế giới Ngoài ra còn có khoảng 80.000 người Thái Đen hay Tày Mười sinh sống tại tỉnh Khammouan, Lào (số liệu 2015); 10.000 người Thái Đen (một phần của dân tộc Thái theo phân loại của CHND Trung Hoa) sinh sống tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc (số liệu 2015) và 1053 người Thái Đen sinh sống tại tỉnh Loei, Thái Lan (số liệu 2015, nhóm này đến Thái Lan vào năm 1885)

Nhóm Thái Trắng (Táy Đón/Táy Khao) cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, Điện Biên và một số huyện tỉnh Sơn La (Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù Yên) Đà Bắc thuộc tỉnh Hòa Bình, có nhóm tự nhận là Táy Đón, được gọi là Thổ Ở xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, có một số Thái Trắng chịu ảnh hưởng đậm của văn hóa Tày Ở Sapa, Bắc Hà, nhiều nhóm Thái Trắng đã Tày hóa Người Thái Trắng đã có mặt dọc hữu ngạn sông Hồng và tỉnh Lai Châu, Điện Biên từ thế kỷ XIII và làm chủ

Trang 21

Mường Lay (địa bàn chính là huyện Mường Chà ngày nay) thế kỷ XIV, một bộ phận

di cư xuống Đà Bắc và Thanh Hóa thế kỷ XV Có thuyết cho rằng họ là con cháu người Bạch Y ở Trung Quốc Dân số của nhóm Thái Trắng tại Việt Nam năm 2015 ước tính khoảng 780.000 người trong tổng số 1.505.000 người Thái Trắng trên toàn thế giới Ngoài ra còn có khoảng 396.000 người Thái Trắng sinh sống tại Lào (thống

kê năm 2015); 19.000 người Thái Trắng (một phần của dân tộc Thái theo phân loại của CHND Trung Hoa) sinh sống tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc (số liệu 2015) Những đặc điểm nhận dạng dân tô ̣c Thái Trắng và Thái Đen ở miền Tây Bắc tỉnh Sơn La được phân biệt với các nhóm khác chủ yếu ở áo quần của phụ nữ Nhìn chung, phụ nữ Thái Trắng mặc áo màu trắng và có cổ hình chữ V còn người Thái Đen

là cổ đứng Khăn đô ̣i đầu có màu trắng trơn để phân biê ̣t với phu ̣ nữ Thái Đen , khăn

đô ̣i đầu của Thái Đen có trang trí công phu hơn Phụ nữ Thái Trắng mặc váy quấn , Đen trơn và có thắt lưng làm bằng cốt tông hoă ̣c tơ tằm màu xanh hoă ̣c màu tím nha ̣t Túi đeo vai của người Thái Trắng khác với Thái Đen, nó được làm bằng cốt tông trắng và pha lẫn những đường kẻ xo ̣c màu tối hê ̣p Ở các tỉnh Sơn La và Yên Bái, phụ nữ Thái Trắng cũng mă ̣c váy quấn giống như phu ̣ nữ Thái Đen Váy dài, có màu xanh chàm đậm hoặc Đen với cạp quấn màu trắng, màu xanh hoặc màu đỏ

Phụ nữ Thái Trắng sau khi lấy chồng không phải tẳng cẩu mà chỉ búi tóc lại sau gáy, khác với phụ nữ Thái Đen sau khi họ lấy chồng phải tẳng cẩu lên

Nhà sàn của Thái Đen thường có “Khau cút” giải thích về biểu tượng này có nhiều ý kiến khác nhau như: Đó là cặp sừng trâu cách điệu, biểu tượng của một nền văn minh lúa nước, hoặc đó là những búp cây guột - "cút lo ngong" có nhiều ở Tây Bắc, hay gắn với cuộc thiên di tìm miền đất hứa của người Thái, anh em luôn nhớ về nhau… Dù có cách giải thích thế nào, thì khi bắt gặp hình "khau cút" trên nóc nhà sàn, là mỗi người Thái Đen Tây Bắc lại thêm ấm lòng, nhớ về anh em, bản mường yêu dấu Còn nhà sàn của người Thái Trắng thì không có biểu tượng này

1.3 Điều kiện tự nhiên và xã hội ở Sơn La

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

1.3.1.1 Vị trí địa lí

Sơn La là tỉnh miền núi cao ở phía Tây Bắc Phía Đông giáp tỉnh Phú Thọ và Hoà Bình Phía Tây giáp tỉnh Lai Châu Phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và nước Lào Phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai Sơn La nằm trong toạ độ địa lý từ

Trang 22

20039‟ - 22002‟ vĩ độ Bắc và 103011‟ - 105002‟ kinh độ Đông Đây là một trong những tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất nước ta nhưng cũng đồng thời là trong số các tỉnh mật độ dân số thấp của cả nước Sơn La là tỉnh nằm trên trục đường quốc lộ

số 6 Hà Nội - Sơn La - Điện Biên Đây là tuyến đường giao thông huyết mạch của vùng Tây Bắc Sơn La giáp với tỉnh Hòa Bình có vị trí nằm án ngữ cửa ngõ Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, lại có đường ranh giới với Lào dài 250 km nên có một vị trí địa lí quan trọng về mặt an ninh quốc phòng

1.3.1.2 Địa hình, khí hậu Sơn La

Địa hình

Lịch sử phát triển kiến tạo địa chất đã tạo cho địa hình của tỉnh Sơn La chia thành những vùng đất có đặc trưng sinh Thái khác nhau Nhìn chung, địa hình của tỉnh mang tính chất đồi núi thấp, độ cao trung bình khoảng 600 - 700m Các hệ thống núi lớn trong tỉnh đều chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và cùng với dải Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc kẹp lấy một dải cao nguyên đá vôi ở giữa Địa hình núi cao xen lẫn cao nguyên này đã chia lãnh thổ Sơn La thành hai lưu vực sông lớn là lưu vực sông Đà và lưu vực sông Mã

Sơn La có hai cao nguyên lớn là cao nguyên Mộc Châu và cao nguyên Nà Sản Cao nguyên Mộc Châu có độ cao trung bình 1.050m so với mực nước biển, mang đặc trưng của khí hậu cận ôn đới, đất đai màu mỡ phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển cây chè, cây ăn quả và chăn nuôi bò sữa

Cao nguyên Nà Sản có độ cao trung bình 800m, chạy dài theo trục quốc lộ 6, đất đai phì nhiêu thuận lợi cho phát triển cây mía, cà phê, dâu tằm, xoài, nhãn, dứa… Sơn La có độ cao trung bình 600 - 700m so với mặt biển, địa hình chia cắt sâu

và mạnh, 97% diện tích tự nhiên thuộc lưu vực sông Đà, sông Mã, địa hình tương đối bằng phẳng

Điểm đặc biệt của địa hình Sơn La là độ dốc lớn và mức độ chia cắt sâu, chia cắt ngang mạnh.Trên 87% diện tích đất tự nhiên của tỉnh có độ dốc từ 250

trở lên Điều này làm cho các đồng ruộng của tỉnh rất nhỏ hẹp, chủ yếu là ruộng bậc thang Sơn La cũng là tỉnh có diện tích đất trống đồi trọc khá lớn

Địa hình Sơn La có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Tuy nhiên, địa hình núi phức tạp cũng gây nhiều trở ngại cho các hoạt động sản xuất và đời sống, đặc biệt đối với ngành giao thông vận tải

Trang 23

Khí hậu

Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa chí tuyến của vùng núi phía Bắc Tuy nhiên, đai khí hậu của Sơn La cũng có những nét đặc thù Nhờ dãy Hoàng Liên Sơn chắn gió nên gió mùa Đông Bắc cùng các Đông cực đới không ảnh hưởng trực tiếp đến vùng Vì vậy, đặc điểm quan trọng nhất của khí hậu Sơn La là có một mùa đông tương đối ấm và suốt mùa đều có tình trạng khô hanh điển hình của khí hậu gió mùa

Do địa hình cao nên khí hậu mang tín chất á nhiệt đới rõ rệt với nhiệt độ nóng nhất là khoảng 250C và nhiệt độ lạnh nhất khoảng 140C Nhiệt độ trung bình năm khoảng 210C Chế độ nhiệt thay đổi theo mùa và phân hoá theo độ cao Lượng mưa trung bình hàng năm 1.200 - 1.600mm, trung bình hàng năm có ngày mưa, độ ẩm không khí bình quân là 81%

Do đặc điểm địa hình nên hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu cho phép phát triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệp phong phú Tuy nhiên, tỉnh cũng thường xảy ra tình trạng sương muối, mưa đá, lũ quét Đây cũng là những nhân tố gây bất lợi cho sản xuất, đời sống

1.3.1.3 Đất đai, sông ngòi

Do địa hình phân cắt, Sơn La có mạng lưới sông, suối khá dày: 1,8 km/km2 Trên địa bàn tỉnh có 2 con sông lớn chảy qua: sông Đà và sông Mã cùng 35 con suối lớn, hàng trăm con suối nhỏ nằm trên địa hình dốc với nhiều thác nước Đây là nguồn thủy năng to lớn để xây dựng thêm nhiều trạm thủy điện vừa và nhỏ, bên cạnh công trình thủy điện Sơn La

Hiện tại, Sơn La có gần 9.000 ha mặt nước (hồ chứa của thủy điện Hòa Bình), trong đó có gần 8.000 ha có khả năng khai thác, nuôi trồng thủy sản Sau khi xây dựng xong thủy điện Sơn La, diện tích hồ chứa trên địa bàn tỉnh Sơn La sẽ đạt gần 2 vạn ha, tiềm năng lớn cho khai thác, nuôi trồng thủy sản

1.3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất

Tỉnh Sơn La có tổng diện tích tự nhiên là 1.40.5500 ha, trong đó 39,08% (549.273 ha) đang được sử dụng Đất đai màu mỡ, tầng canh tác dày với nhiều loại thổ nhưỡng khác nhau cho phép phát triển nhiều loại cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao

Trang 24

Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối là 856.227 ha, chiếm 60,92% diện tích

tự nhiên, trong đó có 734.018,29 ha phân bổ ở độ cao cần được phủ xanh bằng việc trồng cây rừng, cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày

Quỹ đất nông nghiệp rất hạn chế Diện tích bình quân đầu người là 0,2 ha, trong

đó quỹ đất dành cho sản xuất cây lương thực là 0,16 ha Quỹ đất để phát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, cây ăn quả là 23.520 ha Quỹ đất để phát triển đồng cỏ phục vụ chăn nuôi là 1.167 ha

Quỹ đất có mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản là 1.627 ha, song chưa được khai thác triệt để, và chỉ có 991 ha (60,9%) được đưa vào sử dụng Nếu công trình thuỷ điện Sơn La hoàn thành, ước tính sẽ có thêm 25.000 ha mặt nước hồ cho phát triển nuôi trồng và khai thác thuỷ sản

Tài nguyên Rừng

Sơn La là một trong những tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp lớn, chiếm 73% diện tích đất tự nhiên Đất đai phù hợp với nhiều loại cây, có điều kiện xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và tạo nhiều vùng kinh tế hàng hoá có giá trị cao Rừng có nhiều nguồn động thực vật quý hiếm, có các khu rừng đặc dụng phục vụ nghiên cứu khoa học và du lịch sinh Thái

Diện tích rừng của Sơn La là 357.000 ha, trong đó rừng trồng là 25.650 ha Độ che phủ của rừng rất thấp khoảng trên 25% (con số này của cả nước là 35,17% và của vùng miền núi trung du phía Bắc là 36,58%)

Bên cạnh diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, Sơn La còn 340.000 ha rừng sản xuất, trong đó diện tích rừng mới là 72.900 ha, trên 26.700 ha đất rừng cần được trồng, khoanh nuôi phục hồi theo hướng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến giấy các tông bao bì, bột giấy, gỗ xuất khẩu Đây là một thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội của Sơn La

Theo số liệu điều tra, rừng tự nhiên của Sơn La có trữ lượng gần 87,053 triệu m3 và 554,9 triệu cây tre nứa Rừng trồng có trữ lượng là 154,0 nghìn m3 gỗ và 221 nghìn cây tre nứa

Tài nguyên khoáng sản

Sơn La có nhiều loại khoáng sản khác nhau, nhưng chủ yếu là mỏ nhỏ, phân bổ rải rác trên khắp địa bàn tỉnh, điều kiện khai thác không thuận lợi

Trang 25

Toàn tỉnh có trên 150 mỏ và điểm khoáng sản Trong đó có những mỏ khoáng sản quý như: niken, đồng Bản Phúc – Mường Khoa (Bắc Yên); bu tan Tà Phù (Mộc Châu); manhêzit Bản Phúng (Sông Mã); than Suối Bàng (Mộc Châu), than Quỳnh Nhai và những khoáng sản quý khác như vàng, thủy ngân, sắt… có thể khai thác và phát triển công nghiệp khai khoáng trong tương Lai gần

Đặc biệt nguồn đá vôi, sét, cao Lanh trữ lượng lớn, chất lượng tốt cho phép Sơn

La có thể phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng có lợi thế như xi măng, cát chất lượng cao, đá xây dựng, gạch không nung, đá ốp lát…

Dưới đây là trữ lượng một số khoáng sản chủ yếu của Sơn La:

Than: Có đủ các loại, bao gồm than mỡ, than gầy, than bùn, than nâu với trữ lượng tiềm năng trên 40 triệu tấn, trong đó trữ lượng đã thăm dò trên 3 triệu tấn Các

mỏ than tương đối lớn là mỏ than Suối Bàng – Mộc Châu, mỏ than Quỳnh Nhai, mỏ than Hang Mon – Yên Châu, mỏ than Mường Lựm – Yên Châu, mỏ than Suối Lúa – Phù Yên Dự kiến sản lượng than khai thác trên địa bàn tỉnh Sơn La trong vài năm tới đạt 2 – 3 vạn tấn/ năm

Đá vôi và sét: Trữ lượng khá lớn, phân bổ tương đối rộng, cho phép phát triển sản xuất xi măng, gạch ngói phục vụ nhu cầu trong tỉnh và xây dựng công trình thuỷ điện Sơn La Mỏ sét xi măng Nà Pó là lớn nhất với trữ lượng 16 triệu tấn, kế tiếp là

mỏ sét xi măng Chiềng Sinh với trữ lượng 760 nghìn tấn

Ni ken đồng: Có 8 điểm quặng và mỏ là Bản Mòng, Bản Khoa, Bản Phúc, Bản Chang, Vạn Sài, Suối Ba, Suối Đơn và Hua Păng Lớn nhất là mỏ Bản Phúc (Huyện Bắc Yên) có trữ lượng 984 nghìn tấn với hàm lượng niken là 3,55% và đồng là 1,3% Vàng: Có 4 sa khoáng và 3 điểm vàng gốc thuộc loại mỏ nhỏ có triển vọng là sa khoáng vàng Pi Toong (huyện Mường La) và Mu Lu (huyện Mai Sơn)

Bu tan: Có nhiều điểm mỏ, đáng kể là mỏ Tà Phú (huyện Mộc Châu) với trữ lượng 2,3 vạn tấn có giá trị xuất khẩu và tiêu dùng trong nước

Động thực vật trên địa bàn tỉnh Sơn La

Rừng Sơn La có nhiều nguồn gen động thực vật quí hiếm và các khu rừng đặc dụng có giá trị nghiên cứu khoa học như Sốp Cộp, Xuân Nha (Mộc Châu), Tà Xùa (Bắc Yên), Co Pia (Thuận Châu)

Trang 26

Thực vật: Có 161 họ, 645 chi, 1.187 loài, bao gồm cả thực vật hạt kín, hạt trần, nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới Trong đó thực vật quí hiếm gồm có Pơ Mu, Lát hoa, Đinh hương, Nghiến,

Động vật rừng: có 101 loài thú, trong 25 họ, thuộc 8 bộ; chim có 347 loài, trong

47 họ, thuộc 17 bộ; bò sát có 64 loài, trong 15 họ thuộc 2 bộ, lưỡng thê có 28 loài, trong 5 họ, thuộc một bộ Những loài động vật quí hiếm được ghi trong sách đỏ như: voi, khỉ mặt đỏ, gấu ngựa, gà lôi, báo, hươu…

Những điều kiện trên có ảnh hưởng không ít đến nét đẹp truyền thống của các dân tộc ở Sơn La nói chung và của đồng bào dân tộc Thái Trắng ở Sơn La nói riêng

Để có đươc một phong tục truyền thống như vậy, nét đẹp đó còn có liên quan đến nhiều yếu tố Một trong những yếu tố phải kể đến là kể đến yếu tố về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội của Sơn La

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.3.2.1 Điều kiện về kinh tế

Với một cơ cấu kinh tế bao gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, khai thác nguồn lợi tự nhiên Đặc điểm của cơ cấu kinh tế đó cho thấy bản chất tự cung, tự cấp vẫn còn đậm nét Mặc dầu trồng trọt luôn đóng vai trò chính như ranh giới giữu chính và phụ thường không mấy rõ ràng Không thể nhấn mạnh vai trò của nông nghiệp mà quên đi vai trò khai thác nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là hái lượm rau rừng và thủy sản , đó là phần thức ăn quan trọng bữa cơm hang ngày của họ

Tương tự có thế so sánh với vai trò của khai thác lâm thủy sản, của chăn nuôi, nghề thủ công Tất cả tồn tại như những yếu tố chỉnh thể kinh tế truyền thống, thực hiện các chức năng hỗ trợ lẫn nhau, khuyết một trong những yếu tố đó toàn bộ đời sống sẽ trở lên mất cân đối Những yếu tố kinh tế truyền thống chậm biến đổi có thể thấy ở một số công cụ Lao động trong canh tác (như cày bừa, dao phát), trong vận chuyển (như chiếc gúi phụ) mà nguyên nhân chính là để phù hợp với điều kiện canh tác (đất đai); địa hình (đèo, dốc) và truyền thống tộc người Song trên hết đó là kiểu làm ăn chủ yếu lấy thời gian làm thước đo (làm tính theo buổi, ngày công) chứ không dung hiệu quả làm chuẩn mực; lấy lương thực, thực phẩm làm mục tiêu mà chưa lấy tiền, vàng làm đích hướng tới

Vì vậy sự tích lũy trong các gia đình của đồng bào các dân tộc ít người hiện nay

là lúa ngô, khoai, sắn, trâu, bò, lợn, gà, mà rất khan hiếm tiền mặt Hệ quả như đã

Trang 27

thấy quanh năm bận bụi với công việc mà họ vẫn sống trong cảnh nghèo nàn, có 40% gia đình thiếu ăn (tính chung cho tất cả các dân tộc ở miền núi phía bắc)

Tóm lại duy trì kinh tế truyền thống như hiên nay đang làm cho đời sống các tộc người chuyển biến chậm chạp, không thoát khỏi vòng cương tỏa của kinh tế tự cung

tự túc Vậy nguyên nhân nào làm cho kinh tế của các dân tộc ít biến đổi

Thứ nhất, về mặt lịch sử, các dân tộc ở miền núi phía bắc do điều kiện giao lưu

kém phát triển (ngoại trừ các vùng thị xã, thị trấn) lại trải qua nhiều thế kỷ trong một môi trường tương đối khép kín (điển hình ở Tây Bắc) Sau ngày giải phóng 1954 lại tiếp nối thêm gần ba chục năm trong cơ chế quan liêu bao cấp, vì vậy nếp sống kinh

tế tự cấp tự túc có điều kiện để duy trì

Thứ hai, môi trường khép kín là tiền đề cho sự phân hóa xã hội kém phát triển

Cho đến nay tính cộng đồng tộc người ở dân tộc thiểu số miền núi phía bắc rất cao,

mà một trong những biểu hiện đó là cộng đồng về kinh tế Tính cộng đồng hiển nhiên

có hai mặt Một mặt nó cản trở sự phân hóa xã hội, người ta quan hệ với nhau Mặt khác do quan hệ đó nó đã hạn chế sự phát triển kinh tế hàng hóa

Thứ ba, Do vẫn còn những điều kiện vật chất nhất định để các tộc người ở

miền núi kéo dài nếp sống kinh tế tự cấp tự túc; đó là đất đai, mặc dù ngày càng khó khăn nhưng dẫu sao vẫn còn chỗ để họ khai thác, nguồn lợi của rừng, của sống suối chưa phải cạn kiệt và chính điều kiện tự nhiên góp phần kéo dài thêm tố chất kinh tế truyền thống

Thứ tư, sự tác động của nhà nước vào vùng dân tộc trước đây chủ yếu mới ở

phương diện cơ chế chung Vì vậy, hiện nay bước vào ngưỡng cửa của kinh tế hàng hóa muốn nâng cao đời sống không còn con dường nào khác là đồng bào các dân tộc phải được đầu tư thỏa đáng để dần thoát khỏi ách trói buộc của nền kinh tế tự cấp, tự túc, chuyển dần sang con đường dẫn đến sự phân rã nền kinh tế tự cấp tự túc

Trang 28

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc là 54 sắc màu văn hóa tạo lên nền văn hóa tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, được phân bố ở các vùng, miền tổ quốc Do đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành lên các vùng văn hóa khác nhau, từ đó văn hóa các dân tộc cũng có những điểm khác biệt mang tính đặc thù Trong các vùng văn hóa ấy, vùng tây bắc nước ta gồm 6 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái Là một vùng rộng lớn có địa chính trị, kinh tế văn hóa độc đáo, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước cả về an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội bao gồm rất nhiều dân tộc thiểu số sinh sống Mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng, đều sớm hình thành những nét văn hóa riêng có, độc đáo của mình

Dân tộc Thái là dân tộc có số dân đông thứ 3 trong 54 dân tộc thiểu số ở nước

ta Cũng như mọi dân tộc khác, người Thái ở Tây Bắc đã sớm hình thành một nền văn hóa mang màu sắc riêng và hết sức đặc sắc, nền văn hóa ấy ảnh hưởng sâu xa đến từng cá nhân trong cộng đồng người Thái, giúp phần làm phong phú thêm những giá trị cho nền văn hóa đa dân tộc vùng Tây Bắc Việt Nam Người Thái ở vùng Tây Bắc nguồn thu nhâp chính của họ là làm nông quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời khiến cuộc sống còn rất khó khăn Bức tranh chung về kinh tế truyền thống của các dân tộc người ở miền núi phía Bắc đã được chúng tôi phác họa tương đối đầy đủ người Thái ở Sơn La cũng có màu sắc văn hóa gắn với vị trí địa lý và đặc điểm địa hình khu vực có nhiều nét đặc trưng riêng Người Thái ở Sơn La có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng con, bắc máng lấy nước làm ruộng Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp Người Thái ở Sơn La cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác Từng gia đình chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp, ẩm thực phong phú như cơm Lam, pa pỉnh tộp,…

1.3.3 Tìm hiểu về đồng bào dân tộc Thái Trắng ở tỉnh Sơn La

1.3.3.1 Về nguồn gốc và đặc điểm của người Thái Trắng

1.3.3.1.1.Về nguồn gốc

Thái Trắng (Táy Đón/Táy Khao), Đồng bào dân tộc Thái Trắng ở Tỉnh Sơn La cư

trú chủ yếu ở một số huyện như Huyện Quỳnh Nhai, Huyện Bắc Yên, Huyện Phù Yên.Thái Trắng có thể chia làm hai nhóm địa phương (groupe locale)

Nhóm thứ nhất, cư trú ở các Huyện Quỳnh Nhai và xã Ngọc Chiến thuộc Huyện Mường La Về đại thể, nhóm này có những đặc trưng văn hóa của một nhóm

Trang 29

địa phương thống nhất như: Cùng một vùng thổ ngữ ( trong phương ngôn Tây Bắc); cùng với một loại hình sinh hoạt, phong tục tập quán, văn hóa, nghệ thuật dân gian, tôn giáo v.v

Nhóm thứ hai, phân bố ở các Huyện Mộc Châu, Phù Yên ( trong phương ngôn Tây Bắc) Có một số Thái Trắng chịu ảnh hưởng đậm của văn hóa Tày, Có thuyết cho rằng Thái Trắng là con cháu người Bạch Y ở Trung Quốc Dân số của nhóm Thái Trắng tại Việt Nam năm 2015 ước tính khoảng 580.000 người trong tổng

số 790.000 người Thái Trắng trên toàn thế giới Ngoài ra còn có khoảng 468.000 người Thái Trắng sinh sống tại Lào (thống kê năm 2015); 30.000 người Thái Trắng (một phần của dân tộc Thái Trắng theo phân loại của CHND Trung Hoa) sinh sống tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc (số liệu 2015)

Những tục người nói tiếng Tang – Miến không có tên để gọi nhóm Trắng, nhưng vẫn có khái niệm “ khác với nhóm Đen là nhóm Trắng” Người Thái hiện cư trú ở các Huyện thuộc Tỉnh Sơn La cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc nên được họ gọi tên là người Hán đạt là Bạch tộc theo lối phát âm của từng tộc người Người Hà Nhì gọi người Thái là Pỉ trù; người Si La gọi người Thái là Pỉ Chiềng đố với họ, những tên

đó điều vô nghĩa vì nó là lối phát âm chệch của chữ “Pả Trủ” (bạch tộc) trong tiếng Hán vùng Vân Nam Như vậy lên bạch có thể do người Hán đạt ra Người Hán còn gọi người Hà Nhì là Dì Slù (Di tộc) và người Lô Lô là Pả Di (Bạch Di), Như vậy cái tên Di cũng có thể do người Hán đạt ra

Người Bồ Khô Pạ (một nhóm địa phương của miền Tây Bắc) gọi người Thái là

Jà Trong sự phân biệt theo truyện cổ của người Hà Nhì “ Hà Nhi mi chạ” cũng ghép người Hán và người Thái thành một nhóm gọi là Na – Jà là một khái niệm chỉ những khác tộc nhưng lớn hơn

Như vậy, trong nhóm bạch đã có người Thái, Hán và một tộc người thuộc hệ ngôn ngữ Tạng - Miện như Lô Lô song, có lễ chủ yếu là người Thái thuộc lớp tổ tiên trực tiếp của ngành Thái Trắng, và từ đó về sau mới có những nhóm theo sông Đà thiên di tới ở Mường Chiên (Quỳnh Nhai) và Ngọc Chiến (Mường La) Thời gian tiến hành những đợt thiên di này phải xảy ra trước khi có ngành Thái Đen tới nghĩa lộ và vùng sông Đà, sông Mã hồi thế kỷ XI –XII, vì theo “Quán lố mướng” (kể chuyện mường) của người Thái Đen thì họ tới Mường Chiên đã gặp nhóm Thái ở đây rồi

Từ những tư liệu trên có thể nhận định tổng quát về nhóm Thái Trắng ở Tỉnh Sơn

La là một trong những nhóm Thái sau khi tách khỏi nhóm tộc gốc (người Tài cổ) đã gia nhập nhóm “Bạch” gồm các tộc thiểu số, Đặc biệt là những tộc người trong nhóm ngôn

Trang 30

ngữ Tạng - Miến cư trú ở miền thượng sông Đà, sông Nâm Na Qúa trình họ đã gia nhập nhóm Bạch” cũng là quá trình mà họ di cư đến ở vùng thông lũng Mường Lay, Mường

Tè và Phong Thổ trong khoảng những năm đầu thiên niên kỷ I công nguyên

Sau khi đã ổn định nơi cư trú ở vùng thung lũng đó, có những bộ phận lai chuyển dịch theo con suối và sông Đà sâu hơn nữa xuống phía nam Tây Bắc và các vùng lân cận khác nước ta

Thái Mộc Châu là một nhóm Thái thiên di từ Lào sang khoảng thế kỷ XIV Đó là điều có thể khẳng định được sau khi nghiên cứu, so sánh ăn khớp với các nguồn tư liệu thành văn như: tập “Piết mường” (chuyện mường) của Mường Sang, tập “Quán tố mường” (chuyện bản mường) của người Thái Đen với các câu chuyện dân gian có nội dung tương tự của ngay chính đất Mường Sang

Từ Mộc Châu, một nhóm người Thái Trắng lại tổ chức những đợt thiên di sang

ở Phù Yên Đến khoảng thế kỷ XVIII, người Thái Đen ở Mường La cũng nhập vào cánh đồng Mường Tấc, Mường Pùa, thuộc Phù Yên Tiếp đến một nhóm người Thái ở Mường Ẳng (Điện Biên) cũng theo sông Đà đến cư trú ở Pá Ngà (nay là xã Pác Nga

thuộc Huyện Bắc Yên Tỉnh Sơn La)

1.3.3.1.2 Đặc điểm

Về thế giới tâm linh, người Thái có quan niệm đa thần và giữ tục cúng tổ tiên Do đời sống gắn liền với sản xuất nông nghiệp nên có tục lấy nước đêm giao thừa, lễ hội đón tiếng sấm năm mới và một số lễ hội cầu mùa khác Đối với người chết, họ quan niệm là tiếp tục “sống” ở thế giới bên kia vì vậy đám ma là lễ tiễn người chết về với

“mường trời” Người Thái có nhiều họ, mỗi họ có những qui định kiêng kỵ khác nhau, chẳng hạn: họ Lò kiêng không ăn thịt chim Táng Lò, họ Quàng kiêng con hổ…

Về văn học nghệ thuật, do người Thái có chữ viết riêng nên kho tàng văn học dân gian như truyền thuyết, ca dao, truyện thơ, văn học, dân ca… và một số luật lệ còn được lưu giữ và truyền lại khá nguyên vẹn qua các bản ghi chép trên giấy bản hoặc trên lá cây Một số tác phẩm truyện thơ nổi tiếng như “Xống chụ xon xao”, “Khun Lú, Nàng ửa”… Đồng bào Thái rất thích ca hát, đặc biệt là khắp Khắp là lối ngâm thơ hoặc hát theo lời thơ, có thể đệm đàn và múa Nhiều điệu múa như múa xòe, múa sạp, múa quạt rất độc đáo đã được trình diễn trên sân khấu trong và ngoài nước, hấp dẫn đông đảo khán giả Vào dịp lễ hội, hạn khuống và ném còn là hai trò chơi mang nét đặc trưng văn hóa nổi tiếng của người Thái

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Văn hóa vốn gắn liền với toàn bộ cuộc sống và với sự phát triển của xã hội Con người ra đời cùng với văn hóa, trưởng thành nhờ văn hóa, hướng tới tương Lai cũng từ văn hóa Văn hóa của một dân tộc trước hết thể hiện ở bản sắc của dân tộc ấy Bản sắc dân tộc thể hiện trong hệ giá trị của văn hóa dân tộc, nó biểu hiện và định hướng cho

sự lựa chọn trong hành động của con người Những giá trị văn hóa là thước đo trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc “Một dân tộc thiếu văn hóa chưa phải là một dân tộc thật sự hình thành, một nền văn hóa không có bản sắc dân tộc thì nền văn hóa ấy không có sức sống thật sự của nó” Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc là 54 sắc màu văn hóa tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, được phân bố ở các vùng, miền của Tổ quốc

Do đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên các vùng văn hóa khác nhau, từ đó văn hóa của các dân tộc cũng có những điểm khác biệt và mang tính đặc thù Trong các vùng văn hóa ấy, vùng Tây Bắc nước ta gồm 6 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái Là một vùng rộng lớn, có địa chính trị, kinh tế - văn hóa độc đáo, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước cả về an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội bao gồm rất nhiều dân tộc thiểu số sinh sống Mỗi dân tộc với những đặc điểm riêng, đều sớm hình thành những nét văn hóa riêng có, độc đáo của mình Trong

đó có đồng bào dân tộc Thái Trắng ở Sơn La

Trang 32

Chương 2 TẾT XÍP XÍ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THÁI TRẮNG

TỈNH SƠN LA 2.1 Văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Thái Trắng

2.1.1 Phong tục tập quán

- Về hôn nhân

Ngày xưa hôn nhân của người Thái Trắng là hôn nhân một vợ một chồng hoặc hôn nhân đa thê Dân tộc Thái xưa kia có tục lệ ở rể, nếu con trai lấy vợ ở dòng họ bình dân phải ở rể tám năm, còn lấy con gái quý tộc phải ở rể mười hai năm Chàng trai Thái khi đến tuổi lấy vợ sẽ tự đi tìm người con gái mà mình ưng ý, sau đó được

bố mẹ nhờ một ông mối đến nhà cô gái để làm mối Nếu gia đình cô gái ưng ý, chàng trai sẽ bắt đầu ở rể Thái Trắng sống theo kiểu gia đình nhỏ phụ quyền, đó là chế độ coi trọng vai trò của người đàn ông trong gia đình Cùng với sự phát triển của xã hội hôn nhân của người Thái Trắng hiện nay là hôn nhân một vợ một chồng và không còn tục ở rể vai trò của người chồng tuy có giảm bớt chút ít nhưng vẫn giữ vai trò chính trong gia đình

- Về ngôn ngữ

Người Thái nói các thứ tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ gốc Thái của hệ ngôn ngữ Thái – KaLai Trong nhóm này có tiêng Thái của người (Thái Lan), tiếng lào của người Lào, tiếng Shan ở Myanma và tiếng choang ở miền nam Trung Quốc Tại Việt Nam, 8 sắc tộc ít người gồm Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái Người Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Thái Trong đó người Thái Trắng được xếp vào nhóm ngôn ngữ Thái

- Về ẩm thực

Từ ngàn xưa, người Thái nói chung cũng như người Thái Trắng nói riêng đã định cư ở nhũng thung lũng lớn, màu mỡ ở ven các con sông, con suối, nơi thuận tiện cho việc làm cánh đồng lúa nước cũng như chăn nuôi, trồng trọt và đánh bắt, nuôi cá

để kiếm kế sinh nhai Vì vậy ẩm thực của họ là cơm nếp xôi, các món ăn được chế biến từ việc tự mình sản xuất ra, cùng với đó là những món rau trong rừng Tất cả món ăn của người Thái đều được chế biến từ nguồn nguyên liệu hoàn toàn tự nhiên Thịt trâu, thịt bò, cá, gà được người Thái tẩm, ướp gia vị rất cầu kỳ và cẩn thận Gia

vị để ướp là hạt "mắc khén" (một dạng hạt tiêu rừng), ớt, tỏi, gừng, muối Một nét

Trang 33

độc đáo trong các món ăn của dân tộc Thái là khi chế biến những món ăn, người Thái hoàn toàn không dùng dầu mỡ và rất chú trọng tới việc điều phối các vị đắng - cay - mặn - chát Những vị này được phối hợp hài hòa khiến thực khách cảm thấy vừa miệng, không có cảm giác ngấy, ngán khi ăn những món nướng, luộc, hấp, hun khói, Khi thưởng thức những món nướng của người Thái sẽ thấy vị đậm đà, giàu chất dinh dưỡng Các món hấp, món luộc có hương thơm đặc biệt cùng vị ngon ngọt

Những món ăn độc đáo của người Thái như pà pỉng tộp (cá nướng), khảu Lam (cơm Lam), nhứa mù khủa (thịt lợn hấp), nhứa giảng (thịt trâu hun khói), được làm rất công phu khiến người ăn nhớ mãi không quên Từng món ăn như chứa đựng cả tấm lòng của người Thái gửi gắm vào đó Chỉ riêng cách chế biến món măng của người Thái cũng thật đặc biệt và cầu kỳ Để có được một bát nước cốt măng chua,

họ sẽ ngâm măng vài ba năm để lọc lấy vị ngon lành, chua dịu nhất khi ăn cùng những món ăn khác Những ai đã từng lên vùng Tây Bắc, khi vào những ngôi nhà của người Thái, đều dễ dàng nhận thấy gia đình nào cũng có sẵn vài chum măng muối chua dành để dùng dần Mùa nào thức nấy, người Thái đãi khách bằng sản vật được miền đất Tây Bắc hoang sơ và hào phóng ban phát cho như: Nhộng ong,

cá suối, măng Lay, măng đắng, măng ngọt, cải ngồng những phương pháp chế biến món ăn của người Thái hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm từ ngàn xưa để lại và được lưu giữ từ đời này qua đời khác chứ hoàn toàn không có bất cứ trường lớp nào truyền dạy Chính điều này đã khiến cho những món ăn của người Thái không thể lẫn với bất kỳ dân tộc nào khác

- Trang phục

Từ trước tới nay, trang phục của người dân tộc Thái nói chung cũng như Thái Trắng nói riêng được ca ngợi bởi sự đơn giản, duyên dáng và thanh lịch, nhưng ít ai biết được, để có bộ trang phục “hút hồn” như vậy, người dân đã phải khéo léo kết hợp từng chi tiết để tạo nên hình ảnh những cô gái Thái rất riêng

Thường nhật, phụ nữ Thái Trắng mặc áo cánh ngắn (xửa cóm), váy màu Đen không trang trí hoa văn Áo thường là màu sáng, Trắng, cài cúc bạc tạo hình bướm,

ve, ong Phụ nữ Thái Trắng còn còn một loại trang phục truyền thống nữa là áo sở luông dài Áo sở luông dài được phụ nữ Thái Trắng mặc trong dịp lễ cưới, nhà làm lý (làm lễ) hay nhà có đám Áo sở luông có màu Đen may dài đến đến mắt cá chân Sở luông dành cho người già được may thụng không chiết eo như áo của người trẻ

Trang 34

Trong đám cưới, cô dâu khi về nhà chồng bắt buộc phải mặc áo sở luông Cô dâu trong ngày đám cưới phải mặc áo choàng Đen bên ngoài áo cóm Điều này để thấy cô dâu giản dị, không phô trương Nên những chiếc áo này mặc trong ngày lễ

Đi kèm với áo cóm, áo sở luông dài là chân váy Váy của người Thái Trắng có màu Đen, mặt trong gấu váy táp vải màu rực rỡ Mỗi bước đi chân váy thấp thoáng màu sắc, lượn sóng kín đáo mà duyên dáng Phần eo giữa váy và áo được trang trí bằng chiếc thắt lưng bằng vải gọi là Se eo thường được làm bằng vải có màu xanh, hay màu hồng còn màu vàng thì không được hợp Chỉ có màu xanh mới hợp với chiếc

áo cóm màu Trắng, váy Đen Trang phục của phụ nữ Thái Trắng tuy đơn giản nhưng duyên dáng và thanh lịch, tôn lên vẻ đẹp chân chất, khiến hình ảnh các cô gái Thái có

vẻ đẹp rất riêng của miền Sơn cước.Nói đến trang phục người Thái thì không thể không nhắc tới các đồ trang sức đeo trên người như vòng cổ, vòng tay, hoa tai, xà tích

và cả cúc bạc…

So với trang phục nữ, trang phục nam người Thái đơn giản và ít chứa đựng sắc Thái tộc người và cũng biến đổi nhanh hơn Trang phục nam giới gồm: áo, quần, thắt lưng và các loại khăn Áo nam giới có hai loại, áo cánh ngắn và áo dài Áo ngắn may bằng vải chàm, kiểu xẻ ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn, nam giới mặc áo thổ cẩm màu chàm xanh hoặc chàm Đen Khuy áo làm bằng đồng hay tết thành nút vải Áo không có trang trí hoa văn chỉ trong dịp trang trọng người ta mới thấy nam giới Thái mặc tấm áo cánh ngắn mới, lấp ló đôi quả chì ở đầu đường xẻ tà hai bên hông áo

nhưng vài chục năm gần đây nam giới đã chuyển sang mặc âu phục là chủ yếu

2.1.2 Cấu trúc của xã hội

2.1.2.1 Trong gia đình

Người Thái Trắng đă ̣c biê ̣t li ̣ch sự , lễ phép và hiếu khách Trẻ em được da ̣y dỗ phải kính trọng những người bậc trên Bâ ̣c trên thường là phu ̣ thuô ̣c vào tuổi tác nhưng nó cũng liên quan đến nghề nghiê ̣p và sự giàu sang Gia đình là ha ̣t nhân trong

xã hội của người Thái Trắng Ở các làng nông thôn, các gia đình sống gần nhau Đó là gia đình phu ̣ quyền có vợ chồng sống hoà thuận với nhau Thái Trắng được phân biệt theo sự phân chia Lao đô ̣ng công bằng cho cả hai giới Cả nam và nữ đều cấy cày , trồng tro ̣t, bắt cá, nấu nướng, chăm sóc con cái, Lau nhà cửa và giă ̣t giũ quần áo

Ngày đăng: 18/07/2017, 23:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w