LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực phản ánh đúng thực trạng vấn đề quản lý chất thải rắn y tế tại
Trang 2NGUYỄN ĐỨC HUY
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ YÊN BÁI VÀ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU
Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HUỲNH TRUNG HẢI
Hà Nội – Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực phản ánh đúng thực trạng vấn đề quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Yên Bái và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
Học viên
Nguyễn Đức Huy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với thầy PGS.TS Huỳnh Trung Hải, Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, góp ý và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo và tập thể bác sỹ, y tá, kỹ thuật viên tại Bệnh viện đa khoa tỉnh và Bệnh viện đa khoa thành phố Yên Bái đã giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình điều tra và thu thập số liệu hiện trạng trong viện
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể các anh chị phòng kế hoạch tổng hợp
Sở Y tế, phòng môi trường Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu thập số liệu ở tỉnh Yên Bái
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn!
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 3 năm 2014
Học viên
Nguyễn Đức Huy
Trang 5KSNK Kiểm soát nhiễm khuẩn CĐHA Chuẩn đoán hình ảnh
HCQT Hành chính quản trị VTTB Vật tư thiết bị TCKT Tài chính kế toán
Trang 6Từ viết tắt Từ đầy đủ
KT-XH Kinh tế - Xã hội TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN a LỜI CẢM ƠN b DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT c MỤC LỤC e DANH MỤC CÁC BẢNG h DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ j
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 3
1.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế 3
1.1.1 Nguồn phát sinh 3
1.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế 4
1.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế 6
1.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới 6
1.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế ở Việt Nam 7
1.3 Quản lý và xử lý chất thải rắn y tế 10
1.3.1 Quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 10
1.3.2 Quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 12
1.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế 20
1.4.1 Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng 20
1.4.2 Ảnh hưởng đến môi trường 22
1.5 Những tồn tại, khó khăn trong quản lý chất thải rắn y tế 23
CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ YÊN BÁI 25
Trang 82.1 Giới thiệu về mạng lưới y tế tỉnh Yên Bái 25
2.2 Quy hoạch phát triển y tế Yên Bái 26
2.3 Giới thiệu bệnh viện đa khoa trên địa bàn thành phố Yên Bái 27
2.3.1 Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái 27
2.3.2 Bệnh viện đa khoa thành phố Yên Bái 31
2.4 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại 2 bệnh viện đa khoa trên địa bàn thành phố Yên Bái 34
2.4.1 Nguồn phát sinh 35
2.4.2 Lượng và thành phần chất thải rắn y tế của 2 bệnh viện đa khoa 37
2.4.3 Dự báo lượng chất thải rắn y tế của thành phố Yên Bái 39
2.5 Công tác quản lý CTR trên địa bàn thành phố Yên Bái 41
2.5.1 Mô hình tổ chức quản lý chất thải của bệnh viện 41
2.5.2 Thực trạng phân loại và thu gom chất thải rắn y tế tại 2 bệnh viện đa khoa 42
2.5.3 Thực trạng lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn y tế tại 2 bệnh viện đa khoa 45
2.5.4 Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế 46
2.6 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường và sức khỏe cộng đồng 49
2.6.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường 49
2.6.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến sức khỏe con người và cộng đồng 50
2.7 Các vấn đề tồn tại trong quản lý chất thải rắn y tế tại 2 bênh viện đa khoa trên địa bàn thành phố Yên Bái 51
2.7.1 Thực trạng phương tiện, dụng cụ thu gom và vận chuyển chất thải rắn y tế tại 2 bệnh viện đa khoa 51
Trang 92.7.2 Nhận thức của cán bộ y tế về quản lý chất thải rắn y tế tại 2 bệnh viện đa
khoa trên địa bàn thành phố Yên Bái 53
CHƯƠNG III GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ GIẢM THIỂU CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ YÊN BÁI 57
3.1 Giải pháp kỹ thuật 57
3.1.1 Phân loại, thu gom và vận chuyển 57
3.1.2 Lưu chứa 61
3.1.3 Phương pháp xử lý 66
3.2 Giải pháp quản lý 69
3.2.1 Hợp đồng với nhà sản xuất, nhà cung cấp để thu hồi bao gói và các hoạt chất hết hạn sử dụng 70
3.2.2 Tái chế chất thải rắn y tế 70
3.2.3 Đào tạo, tập huấn kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế 71
3.2.4 Chương trình và giải pháp bảo vệ môi trường bệnh viện 72
3.3 Các giải pháp ngăn ngừa và giảm thiểu chất thải rắn y tế khác 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 80
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn đặc thù từ hoạt động y tế 3
Bảng 1.2 Lượng chất thải rắn y tế thay đổi theo từng quốc gia 6
Bảng 1.3 Lượng chất thải rắn tại các quốc gia trên thế giới theo tuyến bệnh viện 6
Bảng 1.4 Lượng CTR y tế phát sinh tại các đơn vị chức năng trong bệnh viện 7
Bảng 1.5 Lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 8
Bảng 1.6 Tỷ lệ phát sinh CTR y tế tại các bệnh viện đa khoa ở Việt Nam 9
Bảng 1.7 Thành phần chất thải rắn y tế trung bình ở Việt Nam 9
Bảng 1.8 Thực trạng trang thiết bị thu gom lưu giữ CTR y tế 13
Bảng 1.9 Phân loại nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế 21
Bảng 2.1 Cơ cấu tổ chức bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái 30
Bảng 2.2 Tổng hợp tình trạng khám chữa bệnh trên địa bàn TP Yên Bái 36
Bảng 2.3 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại 02 bệnh viện 37
Bảng 2.4 Thành phần và lượng chất thải rắn y tế bình quân của 2 bệnh viện 38
Bảng 2.5 Tỷ lệ phần trăm thành phần chất thải rắn của 2 bệnh viện 39
Bảng 2.6 Ước tính lượng phát sinhCTR y tế tại 02 bệnh viện năm 2015 40
Bảng 2.7 Ước tính lượng CTR y tế trên địa bàn TP Yên Bái năm 2020 40
Bảng 2.8 Dụng cụ thu gom, vận chuyển chất CTR y tế tại 2 bệnh viện đa khoa 43
Bảng 2.9 Thực trạng phân loại, thu gom chất thải rắn y tế 43
Bảng 2.10 Thực trạng lưu chứa và vận chuyển chất thải rắn y tế ở 2 bệnh viện 45
Bảng 2.11 Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế tại 2 bệnh viện đa khoa 46
Bảng 2.12 Thực trạng phương tiện, dụng cụ thu gom và vận chuyển chất thải rắn y tế tại 2 bệnh viện đa khoa 51
Bảng 2.13 Nhận thức của cán bộ y tế về quản lý chất thải rắn y tế tại 2 bệnh viện đa khoa trên địa bàn thành phố Yên Bái 53
Trang 11Bảng 3.1 Dụng cụ thu gom, vận chuyển chất CTR y tế cần đầu tư thêm tại 2 bệnh viện đa khoa tính đến năm 2015-2020 59Bảng 3.2 Kinh phí đầu tư sửa chữa cải tạo nhà kho chứa CTR y tế BVĐK tỉnh 63Bảng 3.3 Kinh phí đầu tư sửa chữa cải tạo nhà kho chứa CTR y tế BVĐK TP 65Bảng 3.4 Lượng từng thành phần chất thải rắn y tế trung bình trên địa bàn thành phố Yên Bái đến năm 2020 69
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Tổng mặt bằng bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái 28
Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái 29
Hình 2.3 Tổng mặt bằng bệnh viện đa khoa thành phố Yên Bái 32
Hình 2.4 Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa TP Yên Bái 33
Hình 2.5 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải bệnh viện 35
Hình 2.6 Mô hình tổ chức quản lý chất thải bệnh viện 41
Hình 3.1: Quy trình thu gom và vận chuyển CTR y tế 60
Hình 3.2 Mặt bằng hiện trạng nhà lưu chứa khu xử lý chất thải BVĐK tỉnh 61
Hình 3.3 Mặt bằng thiết kế nhà kho chứa khu xử lý chất thải BVĐK tỉnh 62
Hình 3.4 Mặt bằng hiện trạng nhà lưu chứa khu xử lý chất thải BVĐK TP 63
Hình 3.5 Mặt bằng thiết kế nhà lưu chứa khu xử lý chất thải BVĐK TP 64
Hình 3.6 Sơ đồ công nghệ nồi hấp chân không 68
Hình 3.7 Sơ đồ công nghệ xử lý CTR y tế nguy hại bằng nồi hấp 68
Trang 13MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá ở Việt Nam phát
triển mạnh mẽ, với sự phát triển của các ngành nghề sản xuất, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên liệu cho sản xuất và đời sống con người ngày một nâng cao Bên cạnh đó, nỗi lo về môi trường, đặc biệt là chất thải rắn như: chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế… nếu chúng không được quản lý một cách phù hợp sẽ gây ô nhiễm môi trường
Hiện nay, chất thải y tế đang trở thành vấn đề môi trường cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho cộng đồng dân cư và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Trong thành phần CTR y tế có các loại chất thải nguy hại như: chất thải lâm sàng nhóm A, B, C, D, E Các loại chất thải này đặc biệt
là chất thải nhiễm khuẩn nhóm A, chất thải phẫu thuật nhóm E có chứa nhiều mầm bệnh, vi khuẩn gây bệnh có thể thâm nhập vào cơ thể con người bằng nhiều con đường và nhiều cách khác nhau Các vật sắc nhọn như kim tiêm dễ làm trày xước da, gây nhiễm khuẩn Đồng thời, trong thành phần chất thải y tế còn có các loại hoá chất
và dược phẩm có tính độc hại như: độc tính di truyền, tính ăn mòn da, gây phản ứng đến hệ thần kinh, gây nổ
Thành phố (TP) Yên Bái là trung tâm của tỉnh Yên Bái với dân số 96.915 người
và tổng diện tích là 10.815, trên địa bàn thành phố có 27 bệnh viện và cơ sở y tế, với trên 870 giường bệnh đang đổ ra mỗi ngày lượng lớn chất thải rắn các loại trong đó lượng chất thải nguy hại chiếm khối lượng tương đối cao [10] Để quản lý lượng chất thải như vậy, TP Yên Bái đã sử dụng phương pháp đốt, lò đốt được đặt ở bệnh viện
đa khoa (BVĐK) tỉnh và BVĐK TP Yên Bái, lò đốt hàng ngày phải làm việc hết công suất để có thể tiêu hủy lượng chất thải
Cho đến nay, chương trình quản lý CTR y tế dù đã hình thành, hoạt động và được đầu tư trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng song công tác quản lý chất thải rắn
y tế trên địa bàn TP Yên Bái nói riêng và toàn tỉnh Yên Bái nói chung đang còn phải đối mặt với nhiều vấn đề chưa được giải quyết một cách triệt để, những bất cập trên
là khó tránh khỏi trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhưng cũng là vấn đề cần
các nhà quản lý phải giải quyết trong thời gian tới Chính vì vậy, đề tài “Quản lý
Trang 14chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Yên Bái và biện pháp giảm thiểu” có ý
nghĩa thực tiễn, góp phần quản lý CTR y tế TP Yên Bái một cách hiệu quả
Luận văn được thực hiện với mục tiêu:
Đánh giá hiện trạng công tác quản lý thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn tại 02 bệnh viện đa khoa trên địa bàn TP Yên Bái là: Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái và Bệnh viện đa khoa thành phố Yên Bái
Xây dựng các biện pháp phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn y tế phù hợp trong điều kiện của thành phố
Luận văn gồm những nội dung chính:
Giới thiệu tổng quan về chất thải rắn y tế
Hiện trạng về công tác quản lý CTR y tế tại 02 bệnh viện đa khoa trên địa bàn
TP Yên Bái là: Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái và Bệnh viện đa khoa thành phố Yên Bái
Xây dựng các giải pháp quản lý CTR y tế phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu trong luận văn:
Phạm vi: 02 bệnh viện đa khoa trên địa bàn TP Yên Bái là: Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái và Bệnh viện đa khoa thành phố Yên Bái
Về đối tượng: Chất thải rắn Y tế (ngoại trừ CTR y tế phóng xạ)
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp tổng hợp số liệu: Thu thập, kế thừa thông tin và số liệu từ các nhà khoa học, các cơ quan môi trường, trung tâm nghiên cứu, Sở Y tế Thành phố Yên Bái…
Phương pháp tổng hợp phân tích hệ thống: Từ các số liệu thu thập, tổng hợp được để xử lý, đưa ra số liệu chính sác nhất làm cơ sở đánh giá và giải quyết các vấn đề cần quan tâm
Phương pháp điều tra, khảo sát tình hình thực tế (Sử dụng phiếu điều tra tại bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái, bệnh viện thành phố Yên Bái…)
Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp số liệu
Trang 15CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
1.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế
Chất thải y tế (CTYT): Là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, nghiêu cứu và đào tạo về y sinh học
Theo Qui chế quản lý chất thải y tế [1], chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
Chất thải rắn y tế không nguy hại: là những loại không có khả năng gây độc,
như giấy, nhựa, thực phẩm dư thừa… Đối với loại chất thải này không cần lưu giữ
và xử lý đặc biệt; nhưng để bảo vệ môi trường và công đồng, chúng cần được thu gom và xử lý phù hợp
Chất thải rắn y tế nguy hại: Là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe
con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy nổ, dễ
ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy
an toàn [1]
1.1.1 Nguồn phát sinh
Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế chủ yếu là: bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa; các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu ; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu các loại CTR y tế có thể được liệt kê trong bảng 1.1
Bảng 1.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn đặc thù từ hoạt động y tế
Chất thải rắn sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các
loại bao gói
Chất thải rắn chứa các vi
trùng gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, cơ quan nội tạng của người sau khi mổ và của động vật sau quá trình xét nghiệm, gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân…
Trang 16Loại chất thải rắn Nguồn phát sinh
Chất thải bị nhiễm bẩn Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, chất
thải từ quá trình lau cọ sàn nhà
Chất thải đặc biệt
Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, hóa chất dược từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược…
Hầu hết các CTR y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác Các loại chất thải này nếu không được phân loại phù hợp trước khi thải chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những tác động nguy hại tới môi trường, các nguồn xả chất thải độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược
1.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế
Việc phân loại và xác định chất thải rắn y tế của đa số các nước trên thế giới,
kể các các nước trong khu vực cũng như hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới (WHO) chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm [1, 4]:
a) Nhóm chất thải lâm sàng: bao gồm 5 phân nhóm khác nhau là:
Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn: vật liệu thấm máu, dịch, băng gạc, bông băng, túi đựng dịch v.v
Nhóm B: các vật sắc nhọn: như các loại kim tiêm, lưỡi dao mổ, dao lam dùng trong y tế, ống thuốc tiêm vỡ v.v
Nhóm C: chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm như găng tay, lam kính, bệnh phẩm v.v
Nhóm D: chất thải dược phẩm bao gồm dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, thuốc gây độc tế bào kể cả lọ thuốc đã được sử dụng nhưng còn tồn lưu dư lượng và hoá chất có tính gây độc đối với tế bào
Nhóm E: bệnh phẩm bao gồm các mô và cơ quan người, động vật, một phần thi thể bị cắt bỏ do can thiệp phẫu thuật (cần lưu ý là đối với nhóm chất thải này thì ngay cả khi chúng không chứa nguồn lây nhiễm nhưng cũng vẫn có khả năng gây ra tác động tâm lý rất mạnh)
Trang 17b) Nhóm chất phóng xạ: Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn
đoán, hoá trị liệu và nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm, gạc sát khuẩn
có sử dụng hoặc bị nhiễm các đồng vị phóng xạ
c) Nhóm chất thải hoá học: Chất thải hoá học bao gồm: hoá chất có thể không gây
nguy hại như đường, axit béo, axít amin, một số loại muối v.v; hoá chất nguy hại như phóc-man-đê-hít, hoá chất quang học, dung môi, hoá chất diệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, hóa chất dùng trong khử trùng, tẩy uế, thanh trùng
v.v
d) Nhóm các bình chứa khí nén có áp suất: Nhóm này bao gồm: bình chứa khí nén
có áp suất như bình đựng oxy, CO2 bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần v.v Đa số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng qui cách
e) Nhóm chất thải sinh hoạt: Nhóm chất thải này có đặc điểm chung như chất thải
sinh hoạt thông thường từ các hộ gia đình gồm giấy loại, vải loại, vật liệu đóng gói bao gói, thức ăn còn thừa, thực phẩm thải bỏ và chất thải ngoại cảnh như lá cây, hoa quả rụng v.v
Tuy nhiên, ở các nước phát triển, việc phân loại chất thải y tế được thực hiện nghiêm ngặt hơn, ví dụ: ở Mỹ phân loại chất thải y tế được chia thành 8 loại [4]: + Chất thải cách ly: chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh
+ Chế phẩm nuôi cấy, dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan
+ Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên cứu
+ Máu và các sản phẩm của máu
+ Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể)
+ Các vật sắc nhọn không sử dụng
+ Các chất thải gây độc tế bào
+ Chất thải phóng xạ
Trang 181.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế
1.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới
Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại chất thải y tế; quản lý chất thải y tế (biện pháp giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của chất thải y tế đối với môi trường, sức khỏe; biện pháp giảm tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng
Lượng chất thải y tế phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh, chăm sóc bệnh nhân và chất thải bệnh nhân ở các khoa phòng… điều này được thể hiện cụ thể trong các bảng 1.2, 1.3 và 1.4 [2]
Bảng 1.2 Lượng chất thải rắn y tế thay đổi theo từng quốc gia
Các nước Chất thải bệnh viện nói chung
(kg/giường bệnh/ngày)
Chất thải y tế nguy hại (kg/giường bệnh/ngày)
Bảng 1.3 Lượng chất thải rắn tại các quốc gia trên thế giới theo tuyến bệnh viện
Tuyến bệnh viện Lượng chất thải rắn y tế
Trang 19Bảng 1.4 Lượng CTR y tế phát sinh tại các đơn vị chức năng trong bệnh viện
Các bộ phận khác trong bệnh viện Lượng chất thải rắn (kg/gb/ngày)
Qua số liệu trong bảng 1.2, 1.3 và 1.4 cho thấy, trên thế giới các nước phát triển hơn, thu nhập cao hơn, mức sống người dân tốt hơn thì hệ số phát thải chất thải rắn y tế lớn hơn
Một số nước trên thế giới có hệ thống y tế giống Việt Nam là có bệnh viện tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện thì hệ số phát thải chất thải rắn y tế cũng dao động khá lớn về lượng thải cũng như tỷ lệ chất thải nguy hại
1.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng (năm 2009-2010), lượng CTR phát sinh trung bình là 0,86 kg/gb/ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/gb/ngày Lượng CTR y tế trong toàn quốc khoảng 100-
140 tấn/ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại CTR y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế
Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo khảo sát năm 2009, tổng lượng CTR y tế phát sinh trong ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53kg/gb/ngày Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Trung ương và bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 với 0,01 kg/giường/ngày [3]
Lượng CTR y tế nguy hại phát sinh không đồng đều giữa các địa phương, chủ yếu tập trung ở các bệnh viện lớn, các nghiên cứu cho thấy các bệnh viện tuyến
Trang 20Trung ương và tại các thành phố lớn có tỷ lệ phát sinh CTR y tế nguy hại cao nhất Tính trong 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế, tổng lương CTR y tế nguy hại cần được xử
lý trong 1 ngày là 5.122 kg, chiếm 16,2% tổng lượng CTR y tế Trong đó, lượng CTR y tế nguy hại tính trung bình theo giường bệnh là 0,25kg/gb/ngày
Lượng CTR y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc
số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được tổng hợp trong bảng 1.5
Bảng 1.5 Lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại các khoa trong bệnh viện [3]
Khoa
Lượng CTR y tế phát sinh (kg/gb/ngày)
Lượng CTR y tế nguy hại (kg/gb/ngày)
BV
TW
BV Tỉnh
BV Huyện
Trung Bình
BV
TW
BV Tỉnh
BV Huyện
Trung Bình
- Cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm họa đột xuất
- Loại và qui mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa
- Số lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú
- Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực
- Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và chăm sóc
- Số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân
Trang 21Bên cạnh đó, chúng ta có thể ước tính sơ bộ khối lượng CTR y tế phát sinh bình quân tại các bệnh viện lấy theo tỷ lệ phát sinh CTR trung bình trong bảng 1.6
Bảng 1.6 Tỷ lệ phát sinh CTR y tế tại các bệnh viện đa khoa ở Việt Nam [6]
Tỷ lệ thành phần CTR y tế nguy hại/tổng lượng phát sinh (%) 16,2
Theo WHO (2005), thành phần điển hình của CTR y tể ở các nước đang phát triển như sau [4]:
- 80% chất thải thông thường có thể xử lý như CTR sinh hoạt
- 15% là chất thải lây nhiễm và chất thải giải phẫu;
- 1% là chất thải sắc nhọn;
- 3% là chất thải dược, chất thải hóa học;
- 1% là các chất thải khác: phóng xạ, chất gây độc tế bào, bình chứa áp suất, chất thải chứa kim loại nặng
Kết quả điều tra trên 80 bệnh viện trong phạm vi cả nước về thành phần chất thải rắn y tế được tổng hợp trong bảng 1.7
Bảng 1.7 Thành phần chất thải rắn y tế trung bình ở Việt Nam [5]
3 Đồ thủy tinh và đồ nhựa (ví dụ: lọ thuốc, bơm tiêm…) 3,2
4 Bông băng, bó bột… (Vật liệu nhiễm bẩn chất lây nhiễm) 8,8
Trang 22Hầu hết CTR y tế là chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so với các loại CTR khác CTR y tế nếu không được phân loại phù hợp trước khi thải chung với các loại CTR sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể
Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTR y tế, chưa kể 52% CTR y tế là các chất hữu cơ
Thành phần vật lý:
- Bông vải sợi: bông băng, gạc, quần áo, khăn lau, vải trải…
- Giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…
- Nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng hàng…
- Thủy tinh: Chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm…
- Kim loại: Dao kéo mổ, kim tiêm, hộp đựng…
- Bệnh phẩm tách ra từ cơ thể: Máu mủ từ băng gạc, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ…
- Rắc rưởi, lá cây…
Thành phần hóa học:
Thành phần hóa học của chất thải rắn y tế bao gồm những chất vô cơ, kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, hóa chất, thuốc thử… Những chất hữu cơ, đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể… thành phần nguyên tố gồm C, H, O, N, S, Cl và một phần tro…
Trong thành phần CTR y tế có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại
1.3 Quản lý và xử lý chất thải rắn y tế
1.3.1 Quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Trên thế giới, quản lý chất thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu.Về quản lý, một loạt những chính sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này: Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới
Trang 23Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận
chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y tế Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt
Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm
phát sinh chất thải phải chụi trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn và giữ cho môi trường trong sạch
Nguyên tắc nhanh chóng: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần
được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt, tránh tình trạng chất thải bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường
Vấn đề quản lý CTR y tế của từng nước, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, khoa học công nghệ của nước mình để xây dựng những biện pháp khác nhau, phù hợp điều kiện đất nước để xử lý loại chất thải nguy hại này
Tại các nước phát triển: Hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện,
các cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty chuyên xử lý chất thải đều có hệ thống xử lý chất thải rắn y tế, đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại phế thải từ 10000 C đến trên 14000 C Phương pháp này có ưu điểm xử lý nhanh và triệt
để CTR nói chung và CTR y tế nguy hại nói riêng, chiếm ít diện tích nhưng chi phí đầu tư cao và cần phải xử lý khí phát sinh
Ngoài ra còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được các quốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt đã gây ra nhiều bất lợi do lượng khí độc hại phát sinh thải vào không khí Do đó các nhà khoa học hiện đang áp dụng một phương pháp mới, đó là phương pháp nghiền nát CTR và xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao
để tránh việc phát sinh khí thải [36]
Dựa theo phương pháp này, CTR y tế nguy hại được chuyển qua một máy nghiền nát CTR y tế đã được nghiền xong sẽ được chuyển qua bộ phận thanh trùng bằng hơi nước tại áp suất 3,8 bar và nhiệt độ 1380C, chất thải được xử lý trong vòng
40 – 60 phút, CTR sau xử lý sẽ được chuyển đến các bãi chôn lấp thông thường vì đã đạt được tiêu chuẩn tiệt trùng Phương pháp này còn có ưu điểm là: làm giảm được
Trang 24khối lượng CTR vì được nghiền nát, chi phí đầu tư ít hơn lò đốt, cũng như không tạo
ra khí thải vào không khí, nhưng bên cạnh đó cần xử lý lượng nước phát sinh khi khử trùng
Tại các nước đang phát triển: Việc quản lý môi trường vẫn còn ít được quan
tâm, nhất là đối với chất thải bệnh viện Tuy nhiên trong khoảng 5 năm trở lại đây, các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môi trường,
và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở bệnh viện Đặc biệt ở Ấn Độ từ năm 1998, chính phủ đã ban hành luật về “Chất thải y tế: Lập thủ tục và Quản lý” Trong bộ luật này có ghi rõ ràng phương pháp tiếp nhận chất thải rắn, phân loại chất thải rắn, cùng việc xử lý và di dời đến các bãi rác… Do đó, vấn đề chất thải rắn y tế độc hại của quốc gia này đã được cải thiện rất nhiều
Hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và cuối cùng là xử lý được thực hiện nghiêm ngặt theo đúng quy định, đối với CTR y tế không nguy hại biện pháp xử lý chủ yếu là chôn lấp còn đối với CTR y tế nguy hại biện pháp xử lý thường là đốt
1.3.2 Quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
1.3.2.1 Quản lý và xử lý chất thải rắn y tế
a) Hoạt động thu gom và lưu giữ
Theo báo cáo khảo sát 834 bệnh viện và của Sở y tế các tỉnh, đa số các bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải rắn ngay từ nguồn nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế [3, 7]
Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTR được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối đi riêng để vận chuyển chất thải Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe có
Trang 25nắp đậy Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế [7]
CTR y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của Bộ
Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử
lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý CTR đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó
Phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, do vậy mua sắm phương tiện thu gom CTR đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặp khó khăn Theo báo cáo của JICA (2011) [3], các cơ sở y tế của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện
sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác Một
số khu vực lưu trữ CTR trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên ngoài được trang bị điều hoà và hệ thống thông gió theo Quy định
Các phương tiện vận chuyển CTR y tế còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyển CTR y tế nguy hại từ bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử
lý, chôn lấp hầu hết do Công ty Môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn Các phương tiện chuyên chở và vận chuyển CTR y tế tại một số bệnh viện được thống kê trong bảng 1.8
Bảng 1.8 Thực trạng trang thiết bị thu gom lưu giữ CTR y tế [3]
Loại đô
thị Thành phố
Số đơn vị trả lời phiếu điều tra
Dụng cụ thu gom tại chỗ Lưu trữ chất thải
Xe tay
Thùng
có bánh
xe Khác
Có điều hoà và thông gió
Không có điều hoà
và thông gió
Phòng chung
Không
có khu lưu trữ
Trang 26b) Vận chuyển chất thải rắn y tế
CTR y tế được thu gom phân loại và vận chuyển về khu trung chuyển tại bệnh viện Hầu hết các điểm tập trung CTR y tế được bố trí trên một khu đất bên trong khuôn viên bệnh viện thành một kho chứa CTR y tế được nhân viên của Công ty Môi trường Đô thị đến thu gom các túi chất thải tại kho chứa của bệnh viện Phần lớn nhân viên bệnh viện, nhân viên của Công Ty Môi trường Đô thị đều thiếu thông tin và hiểu biết về những nguy cơ có liên quan đến việc thu gom, vận chuyển và tiêu huỷ CTR y tế nguy hại
Đối với các bệnh viện đã phân loại, tách riêng CTR y tế và CTR sinh hoạt để
xử lý riêng, nhưng ngay ở một số địa phương Công ty Môi trường Đô thị do chưa có
hệ thống lò đốt, thiêu huỷ CTR y tế nguy hại nên đã từ chối vận chuyển và xử lý CTR y tế Chỉ có 18,75% trong tổng số các bệnh viện có CTR được vận chuyển ra khỏi bệnh viện bằng xe chuyên dụng của Công ty Môi trường Đô thị [2]
c) Tái chế chất thải rắn y tế
Hoạt động thu hồi và tái chế CTR y tế tại Việt Nam hiện đang thực hiện không theo đúng quy chế quản lý CTR y tế đã ban hành Chưa có các cơ sở chính thống thực hiện các hoạt động thu mua và tái chế các loại chất thải từ hoạt động y tế
ở Việt Nam Quy chế quản lý chất thải y tế (2007) đã bổ sung nội dung tái chế CTR
y tế không nguy hại làm căn cứ để các cơ sở y tế thực hiện Tuy nhiên, nhiều địa phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy việc quản lý tái chế các CTR y tế không nguy hại còn gặp nhiều khó khăn Một số vật liệu từ chất thải bệnh viện như: chai dịch truyền chứa dung dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung dịch acide amine, các loại muối khác; Bao gói nilon và một
số chất nhựa khác; Một số vật liệu giấy, thuỷ tinh hoàn toàn không có yếu tố nguy hại, có thể tái chế để hạn chế việc thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm
Năm 2010, đã phát hiện nhiều trường hợp đưa CTR y tế ra ngoài bán, tái chế trái phép thành các vật dụng thường ngày Việc tái sử dụng các găng tay cao su, các vật liệu nhựa đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho những người trực tiếp tham gia như nhân viên thu gom, người thu mua và người tái chế phế liệu [3]
Trang 27d) Xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn y tế
Trong CTR y tế, thành phần đáng quan tâm nhất là dạng CTR y tế nguy hại,
do nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh và hóa chất độc cho con người Khối lượng CTR y
tế nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh CTR y tế nguy hại trên toàn quốc CTR y tế xử lý không đạt chuẩn (32%) là nguyên nhân gây
ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng [3]
Hiện nay, việc xử lý CTR y tế nguy hại trên cả nước được kết hợp đồng thời giải pháp quản lý, các công nghệ xử lý CTR y tế nguy hại, tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế kỹ thuật của từng khu vực (tuyến Trung ương, tuyến huyện, tuyến địa phương), điều kiện môi trường cũng như khả năng của từng nơi Các phương pháp xử lý CTR y tế đang được áp dụng phổ biến ở nước ta: Phương pháp khử khuẩn; phương pháp đốt, phương pháp cố định và đóng rắn; phương pháp chôn lấp d1) Phương pháp khử khuẩn
Khử trùng thường là công nghệ đầu tiên khi xử lý chất thải rắn y tế nhằm hạn chế rủi do cho nhân viên thực hiện Chất thải lâm sàng có nguy cơ nhiễm khuẩn cao, phải được xử lý an toàn bằng phương pháp khử trùng ở gần nơi chất thải phát sinh sau đó cho vào túi nilon mầu vàng rồi vận chuyển tiêu hủy
Hiện nay, các phương pháp xử lý thường dùng bằng hóa chất (presep 1% hoặc Cloramin B 5%) hoặc tiệt khuẩn bằng hấp ướt tại khoa đối với các chất thải của khoa Huyết học và Sinh hóa, sau đó được nhân viên vệ sinh đem đốt bằng lò đốt tại bệnh viện
Đặc điểm của công nghệ là xử lý tốt các CTR y tế lây nhiễm (trong thành phần CTR y tế nguy hại, chất thải lây nhiễm chiếm khoảng 85%); chi phí vận hành thấp, không gây ô nhiễm môi trường thứ phát, thân thiện với môi trường; Các chất thải bằng nhựa như xylanh, dây chuyền dịch… sau khi diệt khuẩn có thể tái chế Bên cạnh đó, công nghệ khử trùng không làm giảm được khối lượng của các chất thải sau khi xử lý; Chất thải y tế lây nhiễm sau khi xử lý bằng công nghệ này vẫn phải xử lý tiếp tục như nhưng CTR thông thường khác; công nghệ này không xử lý được chất thải hóa học và chất thải phóng xạ
Trang 28d2) Công nghệ thiêu đốt chất thải rắn y tế
Hiện nay, ở nhiều tỉnh trong cả nước đã có lò đốt CTR y tế đã được lắp đặt và đưa vào khai thác vận hành tại Việt Nam Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTR
y tế nguy hại tập trung tại khu xử lý chung của thành phố Tỷ lệ lò đốt CTR y tế phân tán được vận hành tốt chỉ chiếm khoảng xấp xỉ 50% số lò được trang bị, có vùng chỉ đạt 20% Nếu xét mức độ xử lý của các cơ sở y tế theo tuyến trung ương và địa phương, các sở sở trực thuộc Bộ Y tế có mức độ đầu tư xử lý CTR y tế nguy hại cao hơn hẳn các cơ sở tuyến địa phương Bên cạnh lí do về công nghệ và trình độ quản
lý, thì thiếu kinh phí vận hành là yếu tố quan trọng dẫn đến các lò đốt hoạt động phân tán không đạt hiệu quả [3]
Hà Nội sử dụng lò đốt chất thải y tế DEL-MONEGO công suất 200 kg/h ở Cầu Diễn do Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Môi trường đô thị (URENCO) quản lý để xử lý chất thải y tế trong địa bàn Hà Nội Tại Đà Nẵng, sử dụng lò đốt HOVAL công suất 200 kg/h ở khu xử lý chất thải rắn Khánh Sơn do Công ty Môi trường đô thị quản lý để xử lý chất thải y tế trong địa bàn thành phố (CITENCO) Tp Hồ Chí Minh sử dụng hai lò đốt HO-VAL công suất 150 kg/h và
300 kg/h đặt tại Nhà máy xử lý chất thải rắn y tế và công nghiệp do Công ty Môi trường thành phố quản lý để xử lý chất thải y tế nguy hại cho các cơ sở y tế trong và
ngoài thành phố (Nguồn: Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường, TCMT,
2010) [3]
Một số bệnh viện tuy đã lắp đặt lò đốt hiện đại nhưng hoạt động không hiệu quả vì vị trí đặt lò đốt gần nhà dân và vận hành không đúng kỹ thuật gây ô nhiễm không khí, gây cảm giác khó chịu nên bị nhân dân phản đối Do vậy, không vận hành được hoặc một vài thiết bị tạm dừng khai thác do bị hỏng chưa có phụ tùng thay thế như ở bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội và bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An [3]
Xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp đốt thường có chi phí đầu tư, hiệu suất vận hành, chi phí xử lý khí thải lớn Giá nhiên liệu quá cao dẫn đến nhiều cơ sở không đốt hoặc đốt không đảm bảo Thiếu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất đốt, nhiên liệu đốt, thời gian đốt và chất thải (khí, tro, nước thải từ bồn ngưng tụ xử lý khí) Nếu phân loại CTR y tế không đúng sẽ gây tốn kém khi đốt cả
Trang 29CTR thông thường, không kiểm soát được khí thải lò đốt, dẫn đến phí xử lý khí thải lớn
Bên cạch đó, xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp đốt lại có ưu điểm tốt nhất mà các giải pháp khác không có được như: xử lý triệt để các nguy cơ lây lan mầm bệnh, thể tích lượng tro xỉ phải chôn lấp ít, có thể tái sử dụng nhiệt v.v nên vẫn được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới Đối với nước ta, lò đốt mới chỉ được áp dụng trong phạm vi rất hạn hẹp để đốt CTR y tế Mặc dù số lượng lò đốt chất thải chưa nhiều nhưng khá đa dạng về nguồn gốc xuất xứ, công xuất đốt và khả năng xử
lý khói thải của lò đốt
Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu thống kê cụ thể nào về các lò đốt hiện đang hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của các lò thiết
kế và chế tạo trong nước Một vấn đề mà các nhà môi trường quan tâm là ô nhiễm thứ cấp tạo ra trong quá trình đốt chất thải rắn y tế nguy hại cần được quan tâm nghiên cứu
Hiện nay có hai loại công nghệ thân thiện với môi trường chủ yếu được lựa chọn thay thế các lò đốt CTR y tế là công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm (autoclave)
và công nghệ có sử dụng vi sóng Trong đó, công nghệ sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa là công nghệ tiên tiến nhất hiện nay bởi có hiệu quả khử khuẩn cao, thời gian xử lý nhanh và hiện đang được áp dụng tại Trung tâm y tế Vietsopetro Vũng Tàu Định hướng trong tương lai sẽ hạn chế việc sử dụng các lò đốt để xử lý chất thải y tế nguy hại, từng bước thay thế chúng bằng các thiết bị sử dụng công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ướt, vi sóng hoặc các phương pháp tiên tiến khác [33] d3) Phương pháp cố định và đóng rắn
Phương pháp xử lý là CTR nguy hại được trộn với phụ gia hoặc bê tông để đóng rắn chất thải nhằm “cố định” chất thải không cho các thành phần ô nhiễm lan truyền ra ngoài Các chất kết dính vô cơ thường dùng là: vôi, xi măng porland, bentonite, pizzolan, thạnh cao, silicat Chất kết dính hữu cơ thường dùng là: epoxy, polyeste, nhựa asphalt, polyolefin, ure formaldehyt
Theo quy chế quản lý chất thải y tế kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế, việc cô lập các nhóm chất thải này có thể
Trang 30được dựa trên tính nguy hại của chất thải, đặc biệt với nhóm chất thải lây nhiễm, bao gồm cả chất thải loại A, B, C, D và vật sắc nhọn (nhóm B) Theo quy chế, tỷ lệ các chất pha trộn như sau: 65% chất thải dược phẩm, hóa học, 15% vôi, 15% xi măng và 5% nước, sau khi tạo thành một khối đồng nhất thì đem đi chôn
Phương pháp cố định và đóng rắn có ưu điểm là công nghệ đơn giản, dễ thực hiện, chi phí thấp, nhưng nhược điểm của nó là không thể áp dụng cho nhiều loại CTR y tế
d4) Chôn lấp chất thải y tế
Đây là phương pháp tiêu hủy cuối cùng để chôn lấp CTR y tế, các CTR y tế nguy hại sau khi đã qua khử trùng, tro của lò đốt CTR y tế nguy hại và sản phẩm sau khi đóng rắn được mang đi chôn lấp tại các bãi chôn lấp theo quy định
Chất thải rắn y tế nguy hại chỉ được phép chôn lấp tại các khu vực đã được quy định, bãi chôn lấp chất thải y tế nguy hại phải đáp ứng các chỉ tiêu môi trường, các yêu cầu kỹ thuật và được thiết kế theo tiêu chuẩn TCXDVN 320:2004
Bên cạnh đó, đối với các loại CTR như vật sắc nhọn, bao bì đựng hóa chất…được chôn lấp cùng với CTR y tế khác tại khu đất bệnh viện hay tại bãi rác cộng đồng Hiện nay, ở một số bệnh viện vẫn còn hiện tượng chất thải nhiễm khuẩn nhóm A được thải lẫn với chất thải sinh hoạt và được vận chuyển ra bãi rác của thành phố, do vậy chất thải nhiễm khuẩn không có xử lý đặc biệt gì trước khi tiêu huỷ chung, đó là tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất và nguồn nước ngầm; là nguồn ủ cho các bệnh truyền nhiễm và gây ra các dịch bệnh cho xã hội
Vì vậy, xu thế quản lý CTR y tế hiện nay tại các bệnh viện, cơ sở y tế đang khuyến khích tăng tỷ lệ chất thải tái chế, tái sử dụng và giảm lượng CTR y tế mang
Trang 31Luật Bảo vệ môi trường, các thông tư nghị định hướng dẫn thực hiện luật: Điều 39 – Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã đưa ra các quy định về bảo vệ môi trường trong bệnh viện và các cơ sở y tế
Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ quy định về việc quản lý chất thải rắn;
Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường;
Thông tư số: 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ Tài nguyên Môi trường, Quy định về quản lý chất thải nguy hại Thông tư này thay thế Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề,
mã số quản lý chất thải nguy hại
Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường ban hành danh mục chất thải nguy hại
Quyết định số: 64/2003/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng"
Quyết định số 58/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Hỗ trợ có mục tiêu kinh phí từ ngân sách Nhà nước nhằm xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu thiểu suy thoái môi trường cho một số đối tượng thuộc khu vực công ích;
Quyết định số: 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế, V/v Ban hành quy chế quản lý chất thải y tế
Quyết định số: 170/QĐ-TTg ngày 08/2/2012 của Thủ tướng, V/v phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025
Quyết định số: 1216/QĐ-TTg ngày 5/9/2012 của Thủ tướng V/v Phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Ngoài ra còn nhiều văn bản quy định, QCVN, hướng dẫn khác đối với công tác quản lý CTYT như: QCVN 02:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế; QCVN 02:2012/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế; QCVN 07:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc
Trang 32gia về ngưỡng chất thải nguy hại; TCVN 6696 : 2000: Chất thải rắn – Bãi chôn lấp hợp vệ sinh – Yêu cầu chung về bảo vệ môi trường…
Đến nay, những ảnh hưởng xấu tác động từ CTR y tế đến môi trường, sức khỏe con người và cộng động là rất lớn, chính vì đó việc hoàn thiện và bổ sung đầy
đủ các văn bản pháp lý, chế tài, quy chuẩn kỹ thuật và hưỡng dẫn về quản lý CTR y
tế ngày một hoàn thiện, đầy đủ là rất cần thiết cho quản lý CTR y tế, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội
1.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế
1.4.1 Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Chất thải y tế là môi trường có khả năng chứa đựng các loại vi sinh vật gây bệnh, các chất độc hại như hóa chất, chất gây độc tế bào, chất phóng xạ… Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đã chứng minh, các chất thải bệnh viện có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cán bộ, nhân viên y tế, cộng đồng dân cư nếu chất thải y tế không được quản lý đúng cách Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể con người: Qua các vết da bị xây xước hoặc bị thương, qua đường hô hấp, qua đường tiêu hóa, tác động gián tiếp do ô nhiễm môi trường, hoặc tiếp xúc với các tác nhân trung gian như ruồi, muỗi, chuột…
Các loại hình rủi ro:
Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương, khả năng gây rủi ro từ chất thải y tế có thể do một hoặc nhiều đặc trưng cơ bản sau:
- Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm là tác nhân nguy hại có trong chất thải y tế;
- Hóa chất dược phẩm có thành phần gây độc tế bào;
- Vật sắc nhọn có thể gây tổn thương;
- Chất thải có yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội
Những đối tượng có thể tiếp xúc:
Tất cả cá nhân tiếp xúc với CTR y tế nguy hại là người có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm trong các cơ sở y tế, người làm nhiệm vụ vận chuyển các CTR y tế và người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự bất cẩn, tắc trách trong khâu quản lý và kiểm soát chất thải
Trang 33Nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:
Các vật thể trong thành phần CTR y tế chứa đựng một lượng lớn các tác nhân
vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B Các tác nhân này có thể thâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:
- Qua da, qua vết thương, trày xước hoặc vết cắn trên da do vật sắc nhọn gây tổn thương;
- Qua niêm mạc, màng nhày;
- Qua đường hô hấp do hít phải;
- Qua đường tiêu hóa do nuốt, ăn phải
Tổng hợp phân loại nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với CTR y tế và các loại
vi sinh vật gây bệnh được thống kê trong bảng 1.9
Bảng 1.9 Phân loại nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế [9]
Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh Dạng chất thải y tế
Nhiễm khuẩn tiêu hóa
Nhóm enterobacteri: salmonella, shigella spp, vibrio cholerac, các loại giun sán
Phân hoặc chất nôn
Nhiễm khuẩn hô hấp Vk lao, virut sởi, streptococcus
pneumoniac Các loại dịch tiết, đờm Nhiễm khuẩn mắt Virus herpes Dịch tiết của mắt
Nhiễm khuẩn sinh dục Neiserreria gonorrhoeac, virus
Bệnh than Bacillus antharacis Chất tiết của da (mồ
hôi, chất nhờn) Viêm mang não Não mô cầu (neisseria
Sốt xuất huyết Các virus: junin, lassa, ebola,
Marburg
Tất cả các sản phẩm máu và dịch tiết
Nhiễm khuẩn huyết Staphylococcus spp Máu
Viêm gan B, C Virus viêm gan B, C Máu, dịch thể
Nguy cơ từ các chất thải gây độc tế bào:
Đối với nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lý loại chất thải gây độc tế bào mà mức độ ảnh hưởng và chịu tác động từ các rủi ro tiềm tàng sẽ
Trang 34phụ thuộc vào các yếu tố như tính chất, liều lượng gây độc của chất độc và khoảng thời gian tiếp xúc Quá trình tiếp xúc với các chất độc có trong công tác y tế có thể xảy ra: trong lúc chuẩn bị, trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng phương pháp hóa trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải hóa chất có tính nhiễm độc ở dạng bụi hoặc hơi qua đường hô hấp, bị hấp thụ qua da do tiếp xúc trực tiếp, qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc
Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình tổng hợp AND hoặc quá trình phân bào nguyên phân, nhiều loại thuốc có độc tính cao gây nên hậu quả hủy hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da, chúng cũng có thể gây ra chóng mặt buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da
Tính nhạy cảm xã hội:
Bên cạnh việc lo ngại đối với những mối nguy cơ gây bệnh của CTR y tế tác động lên sức khỏe, cộng đồng thường cũng rất nhạy cảm với những ấn tượng tâm lý ghê sợ, đặc biệt là khi nhìn thấy loại chất thải thuộc về giải phẫu, các bộ phận cơ thể
bị cắt bỏ trong phẫu thuật như chi, dạ dày, các loại khối u, rau thai, bào thai, máu…
1.4.2 Ảnh hưởng đến môi trường
Các nghiên cứu đã cho thấy ô nhiễm môi trường diễn ra trong cả 3 hình thái: môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí [8, 12]
Các vi khuẩn có trong chất thải y tế, được phát thải ra môi trường, có thời gian tồn lưu ngoài môi trường trong điều kiện tự nhiên Thời gian tồn lưu là tác nhân gây bệnh ngoài môi trường có giới hạn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là yếu tố lý học, hoá học môi trường như nhiệt độ môi trường, hoạt độ nước, tia cực tím, pH của môi trường, oxi tự do v.v
Virus viêm gan B khá bền vững trong điều kiện không khí khô và có thể tồn lưu trong nhiều tuần lễ trên một số các bề mặt vật ô nhiễm, loại tác nhân này có thể vẫn tồn lưu trong dung dịch sát khuẩn 70% cồn ethanol hay tồn tại tới 10 giờ trong nhiệt độ 600C Hiệp hội nghiên cứu về chất thải cho biết, tác nhân virus viêm gan B
và C có thể tồn tại cả tuần lễ trong các giọt máu còn lưu lại trong kim tiêm
Trang 35Virus HIV có thời gian tồn lưu ngắn hơn, chúng có thể tồn tại không quá 15 phút khi bị tác động của cồn ethanol 70% hoặc là chỉ có thể tồn lưu từ 3-7 ngày trong điều kiện nhiệt độ ngoại cảnh và chúng bị bất hoạt nhanh chóng tại nhiệt độ 560C
Khi chất thải y tế được chôn lấp không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại có thể ngấm vào đất gây nhiễm độc đất làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn… Bên cạnh đó, nên quan tâm cao tới sự lan truyền tác nhân gây bệnh như loài gián, loài ăn chất thối rữa, chuột, các loại côn trùng như ruồi, nhất
là ở những nơi việc cô lập chất thải chưa được thực hiện đúng quy cách
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra tác động xấu đến môi trường không khí: Khi phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại HC, NOx, đioxin, furan… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S… từ bãi chôn lấp, các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh
Nước rỉ rác từ CTR y tế chứa nhiều hóa chất độc hại, phóng xạ, tác nhân gây bệnh có khả năng lây nhiễm cao như Samonella, coliform, tụ cầu, liên cầu… Nếu không được xử lý trước khi thải bỏ vào hệ thống thoát nước chung của thành phố thì
có thể gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước
Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh, đặc biệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm
1.5 Những tồn tại, khó khăn trong quản lý chất thải rắn y tế
Hiện nay, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường, xã hội cấp bách, hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn bệnh viện kém hiệu quả đang gây dư luận trong cộng đồng, đặt ra nhiều thách thức đối với nhiều cấp, ngành, đặt biệt là ngành y tế, tuy nhiên để giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều, vì chúng ta đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, bất cập và nhất là thiếu đồng bộ trong quản lý CTR y tế
Những khó khăn chủ yếu là:
Trang 36Nguồn kinh phí đầu tư cho chất thải rắn y tế lớn, cho toàn bộ chương trình đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải rắn, lỏng và khí, phương tiện thu gom, vận chuyển, kinh phí vận hành và bảo trì Vốn đầu tư cần được huy động từ các nguồn ngân sách Nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức Quốc tế, nguồn giúp đỡ của Chính phủ
và tổ chức phi Chính phủ Hiện nay, các bệnh viện có lò đốt nhưng kinh phí để chi trả cho năng lượng vận hành, xử lý tro, trả lương cho nhân công còn chưa được quy định sẽ lấy từ đâu, bệnh viện không thể tự tiện nâng giá khám bệnh để bù vào chi phí
xử lý chất thải của mình, có bệnh viện tuy đã trang bị lò đốt CTR y tế nhưng vẫn không vận hành vì không có đủ kinh phí [3]
Nhận thức về thực hành xử lý CTR y tế trong cán bộ y tế, nhân viên trực tiếp làm công tác xử lý chất thải bệnh viện vẫn còn chưa cao, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả phân loại, thu gom và vận chuyển, tiêu huỷ chất thải Một số lãnh đạo bệnh viện chưa thực sự quan tâm đến việc xử lý chất thải, việc tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng vẫn chưa sâu rộng, đôi khi dư luận qua báo chí làm người dân hoang mang, gây tâm lý lo sợ đối với chất thải bệnh viện từ đó gây sức ép không đáng có đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành
Môi trường thực hiện pháp chế chưa thuận lợi mặc dù đã có luật bảo vệ môi trường, qui chế quản lý chất thải nguy hại do Thủ tướng Chính phủ ban hành và quy chế quản lý chất thải y tế do Bộ trưởng Bộ y tế ban hành nhưng các văn bản pháp quy này chưa thực sự thấm sâu vào đới sống, việc thực hiện đúng quy chế quản lý CTR y tế mới chỉ có ở một số ít bệnh viện, nhiều nơi chính quyền, lãnh đạo bệnh viện vẫn chưa quan tâm đầu tư kinh phí và phương tiện để thực hiện quản lý chất thải theo đúng quy chế đã ban hành
Các giải pháp quản lý chất thải chưa thực sự đồng bộ, sự phối hợp liên ngành còn kém hiệu quả trong mọi công đoạn xử lý chất thải, nhiều nơi bệnh viện đã phân loại CTR y tế và CTR sinh hoạt nhưng do Công ty Công trình Đô thị chưa có lò đốt nên đã từ chối vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế
Trang 37CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y
TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ YÊN BÁI 2.1 Giới thiệu về mạng lưới y tế tỉnh Yên Bái
Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, là một trong 13 tỉnh vùng núi phía Bắc, nằm giữa 2 vùng Đông Bắc và Tây Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và phía Tây giáp tỉnh Sơn La Yên Bái có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, thị (1 thành phố, 1 thị
xã và 7 huyện) với tổng số 180 xã, phường, thị trấn; trong đó có 70 xã vùng cao và
70 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước (Bản đồ phụ lục 1) Yên Bái nằm trên các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ từ Hải Phòng, Hà Nội lên cửa khẩu Lào Cai, là một lợi thế trong việc giao lưu với các tỉnh bạn, với các thị trường lớn trong và ngoài nước [32]
Thành phố (TP) Yên Bái là một TP trẻ trực thuộc tỉnh Yên Bái, được thành lập theo Nghị định số 05/2002/NĐ-CP ngày 11/1/2002 của Chính phủ, phía Bắc và phía Đông giáp huyện Yên Bình, phía Tây và phía Nam giáp huyện Trấn Yên của tỉnh, có diện tích tự nhiên là 10.815 ha; dân số 96.915 người; với 17 đơn vị hành chính trong
đó có 7 phường và 10 xã (Bản đồ phụ lục 2) TP Yên Bái là trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh, đồng thời nằm ở vị trí trên tuyến giao thông nối liền giữa Đông Bắc và Tây Bắc, giữa cửa khẩu Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai và đang ngày càng khẳng định vị trí trung tâm của mình trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh cũng như các tỉnh miền núi, trung du Bắc Bộ [32]
Theo báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2012, tổ chức bộ máy ngành y tế và
hệ thống cơ sở khám bệnh trong tỉnh gồm [10]:
Tuyến tỉnh: 02 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh: 610 giường bệnh; 4 bệnh viện chuyên khoa: 240 giường; 2 trung tâm: 13 giường; 1 khu điều trị phong: 6 giường
Tuyến huyện - xã: 9 trung tâm y tế huyện, thị xã, thành phố, 7 BVĐK huyện
và 1 BVĐK thành phố gồm 790 giường; 9 trung tâm dân số KHHGĐ huyện, thị xã, thành phố, 180 trạm y tế xã có 993 giường; 9 phòng y tế trực thuộc UBND huyện, thị
xã, thành phố
Trang 38Hệ thống y tế các ngành và y tế ngoài công lập: 2 bệnh viện, 2 bệnh xá, 3 trạm y tế công nông lâm trường, xí nghiệp các ngành đóng trên địa bàn tỉnh tổng số:
200 giường bệnh Hệ thống y tế ngoài công lập gồm: 1 bệnh viện đa khoa 30 giường bệnh, 198 cơ sở khám chữa bệnh
Tổng hợp báo cáo thống kê lao động y tế năm 2012: Tổng số: 3.229 cán bộ, trong đó: 565 bác sỹ (19 bác sỹ chuyên khoa cấp II; 51 bác sỹ chuyên khoa cấp I, 21 thạc sỹ, 374 bác sỹ) đạt tỷ lệ 7,31 bác sỹ/1 vạn dân; 34 dược sỹ đại học (01 DSCKII,
01 thạc sỹ dược, 05 dược sỹ chuyên khoa cấp I, 27 dược sỹ đại học) đạt tỷ lệ 0,44 DSĐH/1 vạn dân Tổng số xã có bác sỹ (không kể PKĐK khu vực lồng ghép): 89 xã, đạt tỷ lệ 49,44% Bình quân cán bộ y tế của một trạm y tế xã là 5,5 người Tổng số nhân viên y tế thôn bản: 1.918 người, tỷ lệ thôn, bản, tổ dân phố có NVYT hoạt động: 99,17%
2.2 Quy hoạch phát triển y tế Yên Bái
Căn cứ Quyết định 153/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống Y tế Việt Nam giai đoạn 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 Quyết định số 509/ QĐ-UBND ngày 14/4/2011 của UBND tỉnh Yên Bái về việc Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển sự nghiệp Y tế, Bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011-2020
và tầm nhìn 2025
Quy hoạch phát triển hệ thống y tế Yên Bái đến 2015 với mục tiêu [11]: Tuyến tỉnh: Tăng quy mô giường bệnh cho các bệnh viện, nâng cấp các bệnh viện tuyến tỉnh để bảo đảm chất lượng khám chữa bệnh, phát triển chuyên môn kỹ thuật cao, hạn chế bệnh nhân chuyển tuyến
Xây mới bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh 500 giường bệnh, xây dựng mới bệnh viện chuyên khoa Lao quy mô 100 giường bệnh tại địa điểm mới Cải tạo nâng cấp BVĐK tỉnh hiện nay, bệnh viện Y học cổ truyền 120 giường bệnh, bệnh viện Nội tiết 50 giường bệnh, Chuyên khoa sản nhi quy mô 200, Trung tâm Phục hồi chức năng 150 giường
Tuyến huyện: Triển khai thực hiện có hiệu quả đề án nâng cấp trang thiết bị bệnh viện huyện, bệnh viện khu vực, phòng khám đa khoa khu vực, tăng số giường
Trang 39bệnh lên 894 giường Duy trì 8 cơ sở y tế các ngành: công, nông, lâm trường với 200
giường bệnh
Đa dạng hóa các hình thức khám chữa bệnh, khuyến khích và có cơ chế phát triển hệ thống y tế ngoài công lập, cho phép mở thêm các phòng khám tư nhân, các dịch vụ điều trị tại nhà: Năm 2011 - 2015 cho phép có từ 1-3 bệnh viện tư nhân có từ
50 - 80 giường bệnh
Về nhân lực: Bố trí đủ đội ngũ cán bộ Y tế với cơ cấu cứ 1 bác sỹ có 3 đến 3,5 điều dưỡng ở các cơ sở khám chữa bệnh; tỷ lệ 8 bác sỹ/ vạn dân; 0,7 dược sỹ đại học/vạn dân Bổ sung bác sỹ về công tác tại xã để đến năm 2015 đạt 70% xã có bác
sỹ, 100% trạm y tế có nữ hộ sinh trung học hoặc y sỹ sản nhi Bảo đảm tối thiểu có
từ 5 cán bộ y tế theo chức danh do Bộ Y tế quy định cho 1 trạm y tế xã; 100% thôn bản có từ 1 đến 2 nhân viên y tế có trình độ trung cấp
2.3 Giới thiệu bệnh viện đa khoa trên địa bàn thành phố Yên Bái
Để nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng phát sinh CTR y tế, công tác quản lý CTR y tế trên địa bàn TP Yên Bái Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng phát sinh và quản lý CTR y tế tại 02 bệnh viện lớn trên địa bàn TP Yên Bái là bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh Yên Bái và BVĐK TP Yên Bái
2.3.1 Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái
2.3.1.1 Giới thiệu chung về bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái
BVĐK tỉnh Yên Bái là BVĐK tuyến tỉnh hạng II, là cơ sở khám chữa bệnh chuyên môn cao nhất, chịu trách nhiệm chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân các dân tộc trong tỉnh Trong tình hình giai đoạn cách mạng mới, kinh tế xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng cao đòi hỏi BVĐK tỉnh Yên Bái phải có đủ nguồn nhân lực để đảm bảo dây truyền hoạt động cho bệnh viện, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao của nhân dân, đồng thời từng bước đưa Yên Bái trở thành trung tâm dịch
vụ y tế chất lượng cao của khu vực Tây Bắc theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ lần thứ XV [22]
Trang 40Sơ đồ bố trí tổng mặt bằng bệnh viện, các khoa/phòng chức năng và các công trình phụ trợ trên hình 2.1
Hình 2.1 Tổng mặt bằng bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái
Địa chỉ : Số 519 đường Yên Ninh, phường Minh Tân, TP Yên Bái, tỉnh Yên Bái (Phụ lục 3)
KHOA XÉT NGHIỆM
HUYẾT HỌC - SINH HÓA,
- VI SINH
KHOA UNG BƯỚU
NHÀ GIẶT
KHOA X.QUANG
KHOA
NHI
P VẬT TƯ, T.BỊ Y TẾ
CỔNG CHÍNH
CỔNG
PHỤ
KHU XỬ LÝ CHẤT THẢI BỆNH VIÊN