1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Phân tích hiệu quả đầu tư dự án xử lý nước thải mỏ than cọc sáu quảng ninh

87 348 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu Qua phương pháp phân tích chi phí lợi ích, nhằm xác định tính khả thi của dự án, đồng thời cũng thấy được lợi ích mà dự án đem lại, bao gồm cả lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội

Trang 1

-

ĐOÀN THỊ OANH

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ DỰ ÁN

XỬ LÝ NƯỚC THẢI MỎ THAN CỌC 6 - QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

Trang 2

Z Y

ĐOÀN THỊ OANH

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ DỰ ÁN XỬ LÝ NƯỚC THẢI MỎ

THAN CỌC 6 – QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Quản lý môi trường

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT NGÀNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS.NGUYỄN CHÍ QUANG

Trang 3

môn Quản lý môi trường, Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, trường Đại học Bách khoa Hà Nội, vì sự nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này tôi xin cám ơn các thầy, cô thuộc Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã giảng dạy tôi rất nhiệt tình trong suốt thời gian học tập tại trường

Bên cạnh đó gia đình bố mẹ và bạn bè đã luôn là động lực, tạo mọi điều kiện và động viên tôi hoàn thành luận văn!

Hà nội, ngày 29 tháng 3 năm 2012

Trang 4

Tôi xin cam đoan nghiên cứu này hoàn toàn là do tôi thực hiện, số liệu và thông tin

có nguồn gốc rõ ràng, không vi phạm tác quyền của các nghiên cứu nào khác Kết quả nghiên cứu hoàn toàn riêng biệt, không sao chép từ bất kỳ đâu Nếu sai, tôi xin chịu mọi hình thức kỷ luật của Nhà trường

Hà Nội, ngày 29 tháng 3 năm 2012

Học viên  

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 3

2.1 Mục tiêu 3

2.2 Nhiệm vụ 3

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Các phương pháp nghiên cứu 3

5 Cấu trúc của đề tài 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH CHI PHÍ – LỢI ÍCH VÀ ÁP DỤNG CHO DỰ ÁN ĐẦU TƯ MÔI TRƯỜNG 5

1.1 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ MÔI TRƯỜNG 5

1.1.1 Dự án đầu tư 5

1.1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư 5

1.1.1.2 Hiệu quả của dự án đầu tư 6

1.1.2 Dự án đầu tư cho môi trường 8

1.1.2.1 Khái niệm 8

1.1.2.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường của dự án 8

1.1.2.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả của dự án môi trường [10] 11

1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH CHI PHÍ – LỢI ÍCH (COST AND BENEFIT – CBA) 13

Trang 6

1.2.4 Vai trò và vị trí của phân tích chi phí – lợi ích trong quá trình hình

thành, đánh giá và thực hiện dự án 15

1.2.5 Mục đích của sử dụng phân tích chi phí – lợi ích 17

1.2.5.1 Phân loại 17

1.2.5.2 Mục đích sử dụng 18

1.2.6 Lịch sử sử dụng phân tích chi phí – lợi ích 19

1.2.7 Các bước phân tích chi phí – lợi ích 20

1.2.8 Nguyên tắc của CBA 24

1.2.8.1 Phải có một đơn vị đo lường chung 24

1.2.8.2 Những đánh giá CBA phản ánh những đánh giá của người tiêu dùng và nhà sản xuất được thể hiện qua hành vi thực tế 24

1.2.8.3 Những lợi ích thường được đánh giá bởi sự lựa chọn của thị trường 25

1.2.8.4 Tổng lợi ích đối với một mức gia tăng về tiêu thụ là một miền nằm dưới đường cầu 25

1.2.8.5 Một số thước đo lợi ích đòi hỏi sự đánh giá cuộc sống con người 26

1.2.8.6 Phân tích một dự án nên bao gồm sự so sánh có đối chọi với không có 26

1.2.8.7 Phân tích chi phí – lợi ích bao gồm một lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt 26

1.2.8.8 Cần phải tránh tính 2 lần lợi ích và chi phí 27

1.2.8.9 Tiêu chuẩn quyết định đối với các dự án 27

1.2.9 Các chỉ tiêu trong phân tích CBA .28

1.2.9.1 Lựa chọn các thông số liên quan 28

1.2.9.2 Các chỉ tiêu tính toán 30

1.2.10 Hạn chế của CBA 34

1.1.10.1 Hạn chế về kỹ thuật 34

1.1.10.2 Tính phù hợp của CBA khi ra xem xét các mục tiêu khác mục tiêu hiệu quả 34

Trang 7

2.2 GIỚI THIỆU VỀ MỎ THAN CỌC 6 37

2.2.1 Vị trí địa lý 37

2.2.2 Điều kiện tự nhiên 38

2.2.2.1 Địa hình 38

2.2.2.2 Điều kiện khí tượng 39

2.2.2.3 Chế độ thủy văn 40

2.2.2.4 Đặc điểm địa chất 42

2.2.2.5 Đặc điểm tài nguyên đất rừng 43

2.2.3 Hoạt động sản xuất của mỏ 43

2.2.3 Đặc điểm hệ thống thoát nước của mỏ 45

2.2.3.1 Hệ thống thoát nước tự chảy 45

2.2.3.2 Hệ thống thoát nước cưỡng bức 46

2.3 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG MỎ THAN CỌC 6 – QUẢNG NINH .47

2.3.1 Hiện trạng môi trường không khí, tiếng ồn 48

2.3.1.1 Hàm lượng bụi 48

2.3.1.2 Tiếng ồn 50

2.3.1.3 Các khí khác (CO, SO2, CH4, NH3, H2S, NO2, CO2) 52

2.3.2 Hiện trạng môi trường nước 52

2.3.2.1 Nước mặt 52

2.3.2.2 Nước ngầm 55

2.3.2.3 Nước thải 56

2.3.2.4 Nước biển ven bờ 58

2.3.3 Hiện trạng môi trường đất 59

2.3.4 Vấn đề bãi thải và trôi lấp bãi thải 59

CHƯƠNG 3 CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI MỎ THAN CỌC 6 – QUẢNG NINH 60

Trang 8

3.2.2 Các công trình xây dựng 64

3.3 Mô tả kỹ thuật của dự án 67

3.3.1 Công suất hệ thống xử lý 67

3.3.1.1 Lượng nước chảy vào mỏ 67

3.3.1.2 Lưu lượng xử lý nước thải 68

3.3.2 Chất lượng nước xử lý 70

3.3.3 Công nghệ xử lý nước thải mỏ 70

3.3.3.1 Lựa chọn công nghệ sử dụng 70

3.3.3.2 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải 72

3.3.3.3 Quy trình công nghệ xử lý nước thải 72

3.3.4 Thông số kỹ thuật trạm xử lý nước thải 75

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ DỰ ÁN VÀ CÁC HIỆU QUẢ KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN 78

4.1 XÁC ĐỊNH CHI PHÍ LỢI ÍCH CỦA DỰ ÁN 78

4.1.1 Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá 78

4.1.2 Xác định chi phí của dự án 80

4.1.2.1 Chi phí đầu tư xây dựng công trình 80

4.1.2.2 Chi phí vận hành 90

4.1.3 Xác định lợi ích dự án đem lại 94

4.1.3.1 Doanh thu từ bán nước sạch 94

4.1.3.2 Tiết kiệm tiền nộp phí nước thải hàng năm 95

4.2 PHÂN TÍCH CHI PHÍ LỢI ÍCH CỦA TRẠM XỬ LÝ NƯỚC THẢI 100

4.2.1 Tính toán các chỉ tiêu 100

4.2.2 Phân tích độ nhạy 100

4.2.2.1 Phân tích độ nhạy với sự thay đổi của tỷ lệ chiết khấu 101

Trang 9

4.2.3.2 Hiệu quả môi trường 108

4.2.3.2 Hiệu quả xã hội 108

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110

KẾT LUẬN 110

KIẾN NGHỊ 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Tài liệu Tiếng Việt 113

Tài liệu Tiếng Anh 114

PHỤ LỤC 114

PHỤ LỤC A 115

PHỤ LỤC B 117

Trang 10

tắt

NPV Net Present Value – Giá trị hiện tại ròng

BCR Benefit Cost Rate – Tỷ lệ lợi ích chi phí

IRR Internal Rate of Return - Hệ số hoàn vốn nội bộ

CBA Cost Benefit Analysis – Phân tích chi phí lợi ích

DAS Hệ thống thu thập và xử lý số liệu

MCS Hệ thống điều khiển lượng mô phỏng

SCS Hệ thống điều khiển trình tự

CBCNV Cán bộ công nhân viên

PCCC Phòng cháy chữa cháy

TKV Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam VITE Công ty cổ phần tin học, công nghệ, môi trường Tập

đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam

Trang 11

NĐ – CP Nghị định – Chính phủ

Trang 12

Bảng 3.1 Tọa độ công trình 60 

Bảng 3.2 Khối lượng xây lắp chủ yếu 63 

Bảng 3.3 Nhu cầu nước từ các hộ tiêu thụ 68 

Bảng 3.4 Thông số kỹ thuật trạm xử lý nước thải 74 

Bảng 3.5 Các chỉ tiêu kỹ thuật chủ yếu 75 

Bảng 4.1 Tổng hợp chi phí xây dựng chính 80 

Bảng 4.2 Tổng hợp vốn lắp đặt và thiết bị 81 

Bảng 4.3 Tổng hợp chi phí tư vấn đầu tư xây dựng 83 

Bảng 4.4 Tổng hợp các khoản chi phí khác 84 

Bảng 4.5 Tổng hợp chi phí đền bù giải phóng mặt bằng 85 

Bảng 4.6 Tổng hợp vốn đầu tư xây dựng công trình 87 

Bảng 4.7 Số lượng và trình độ lao động vận hành trạm xử lý nước thải 90 

Bảng 4.8 Tổng hợp chi phí vận hành công trình 92

Bảng 4.9 Mức thu phí đối với nước thải tính theo chất gây ô nhiễm 95 

Bảng 4.10 Chất lượng nước trước xử lý 96 

Bảng 4.11 Chất lượng nước sau xử lý 97

Bảng 4.12 Danh mục các lợi ích chưa được lượng hóa 98

Bảng 4.13 Kết quả tính toán thu được 99 

Bảng 4.14 Phân tích độ nhạy với sự thay đổi của tỷ lệ chiết khấu 100 

Trang 14

Hình 2.2 Vị trí địa lý mỏ than Cọc Sáu……… 37 Hình 2.3 Khai trường mỏ than Cọc Sáu……… 38 Hình 2.4 Một số hình ảnh hoạt động sản xuất của mỏ……… ….44 Hình 3.1 Công trường xây dựng trạm xử lý nước thải mỏ than Cọc Sáu……59 Hình 3.2 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải……… 71 Hình 4.1 Sơ đồ biểu diễn sự biến thiên của NPV qua tỷ lệ chiết khấu… 101 Hình 4.2 Sơ đồ biểu diễn sự biến thiên của NPV theo giá nước………… 102 Hình 4.3 Sơ đồ biểu diễn sự biến thiên của NPV theo nhu cầu mua nước 104 

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngành than là một ngành công nghiệp mang tính toàn cầu, lượng than thương mại được khai thác tại hơn 50 quốc gia và tiêu thụ tại trên 70 nước trên toàn thế giới Hàng năm trên thế giới có khoảng hơn 4.030 triệu tấn than được khai thác, và con số này đã tăng 38% trong vòng 20 năm qua Sản lượng khai thác tăng nhanh nhất ở Châu

Á, trong khi đó Châu Âu khai thác với tốc độ giảm dần [7]

Các nước khai thác nhiều nhất không tập trung trên một châu lục mà nằm rải rác trên thế giới, trong đó năm nước khai thác lớn nhất hiện nay là: Trung Quốc, Mỹ, Ấn

Độ, Úc và Nam Phi Hầu hết các nước khai thác than cho nhu cầu tiêu dùng nội địa, chỉ

có khoảng 18% than cứng dành cho thị trường xuất khẩu [7]

Ở Việt Nam, theo thống kê của Cơ quan thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) trữ lượng than Việt Nam có 165 triệu tấn, còn tập đoàn BP thì con số này là khoảng 150 triệu tấn Cũng theo EIA, sản lượng khai thác than của Việt Nam năm 2007 là 49,14 triệu tấn, đứng thứ 6 trong các nước Châu Á và thứ 17 trên thế giới [7]

Công nghiệp khai thác than trên thế giới và Việt Nam ngày càng phát triển và là một phần không thể thiếu trong sự phát triển của toàn cầu Công nghiệp khai thác than tại Việt Nam ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, góp phần tích cực vào sự nghiệp đổi mới, tạo thêm nguồn thu cho ngân sách, việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, nâng cao đời sống văn hóa và trình độ dân trí, xứng đáng là một trong những ngành chiến lược quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Song hành cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp than, thì vấn đề môi trường từ các hoạt động khai thác than cũng là những vấn đề bức xúc Một trong những

Trang 16

vấn đề còn tồn đọng ấy là tình trạng ô nhiễm môi trường nước do nước thải ngành công nghiệp than trên toàn thế giới và toàn quốc nói chung, và do nước thải ngành công nghiệp than ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng

Quảng Ninh là một “vựa than khổng lồ” ở châu Á Hoạt động khai thác than ở đây đang diễn ra từng ngày, và kèm theo đó là sự hủy hoại môi trường nghiêm trọng

Sự quan tâm đầu tư tới vấn đề xử lý ô nhiễm ở đây là cần thiết Theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/4/2003 ban hành danh mục các

cơ sở yêu cầu phải giải quyết triệt để về mặt môi trường vùng than, trong đó có nước thải mỏ than Cọc Sáu Việc xây dựng trạm xử lý nước thải mỏ than Cọc Sáu đã được tiến hành Tuy nhiên, vấn đề xử lý nước thải mỏ than còn khá mới ở nước ta, mới chỉ

có hai hệ thống mang tính thử nghiệm (Na Dương 600m3/h, Hà Lầm 300m3/h) được nghiên cứu, xây dựng Tuy nhiên công nghệ của 02 Trạm xử lý nước thải trên khá thô

sơ, xử lý chưa triệt để, việc kiểm soát chất lượng nước thải còn thủ công, chưa có tính công nghiệp, nước sau khi xử lý thải ra môi trường không tái sử dụng Việc xây dựng Trạm xử lý nước thải mỏ than Cọc Sáu như một công trình thử nghiệm cho việc xử lý ô nhiễm môi trường kết hợp với tái sử dụng chất thải nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường trong ngành mỏ cũng như phát triển ngành kinh tế môi trường Vì vậy, việc phân tích, đánh giá hiệu quả dự án để thấy được đóng góp của dự án đối với bản thân doanh nghiệp cũng như môi trường vùng than là hết sức quan trọng Đó chính

là lý do tôi lựa chọn đề tài: “Phân tích hiệu quả đầu tư dự án xử lý nước thải mỏ

than Cọc 6 – Quảng Ninh”

Trang 17

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục tiêu

Qua phương pháp phân tích chi phí lợi ích, nhằm xác định tính khả thi của dự

án, đồng thời cũng thấy được lợi ích mà dự án đem lại, bao gồm cả lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích môi trường

2.2 Nhiệm vụ

¾ Tổng quan cơ sở lí luận về dự án đầu tư, phương pháp đánh giá hiệu quả dự

án đầu tư, đặc biệt về phương pháp phân tích chi phí lợi ích để áp dụng vào dự án nghiên cứu

¾ Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực dự án triển khai

¾ Ứng dụng phương pháp phân tích chi phí lợi ích để đánh giá hiệu quả dự án đầu tư xây dựng Trạm xử lý nước thải mỏ than Cọc 6

4 Các phương pháp nghiên cứu

¾ Phương pháp thu thập thông tin

¾ Phương pháp thực địa

¾ Phương pháp chuyên gia

¾ Phương pháp xử lí số liệu bằng các phần mềm Excel

¾ Phương pháp phân tích chi phí lợi ích

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài được trình bày trong bốn chương:

Trang 18

Chương 1: Cơ sở lý thuyết phân tích chi phí – lợi ích và áp dụng cho dự án đầu

tư môi trường

Chương 2: Mỏ than Cọc 6 – Quảng Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường

Chương 3: Công nghệ xử lý nước thải mỏ than Cọc 6 – Quảng Ninh

Chương 4: Phân tích hiệu quả đầu tư dự án và các hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường liên quan

Trang 19

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH CHI PHÍ – LỢI ÍCH

VÀ ÁP DỤNG CHO DỰ ÁN ĐẦU TƯ MÔI TRƯỜNG

1.1 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ MÔI TRƯỜNG 1.1.1 Dự án đầu tư

1.1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư

Dự án đầu tư là tế bào cơ bản của hoạt động đầu tư Đó là tập hợp các biện pháp

có căn cứ khoa học và cơ sở pháp lý được đề xuất về các mặt kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất, tài chính, kinh tế và xã hội để làm cơ sở cho việc quyết định bỏ vốn đầu

tư với hiệu quả tài chính đem lại cho doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế – xã hội đem lại cho quốc gia và xã hội lớn nhất có thể được [8]

Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ:

- Về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai

- Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư lao động, để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài

- Trên góc độ kế hoạch hóa: dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ

- Về mặt nội dung: dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai

9 Yêu cầu của một dự án đầu tư

Trang 20

Một dự án đầu tư mang tính khả thi khi nó đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau:

- Tính khoa học: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư phải có một quá trình nghiên cứu tỷ mỷ kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội dung của dự án đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ kỹ thuật Tính khoa học còn thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu tư cần có sự tư vấn của các cơ quan chuyên môn

- Tính thực tiễn: các nội dung của dự án đầu tư phải được nghiên cứu, xác định trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư

- Tính pháp lý: Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù hợp với chính sách và luật pháp của Nhà nước Muốn vậy phải nghiên cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước, các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đầu tư

- Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục đầu tư Với các dự

án đầu tư quốc tế còn phải tuân thủ quy định chung mang tính quốc tế

1.1.1.2 Hiệu quả của dự án đầu tư

Hiệu quả đầu tư là khái niệm dùng để chỉ kết quả so sánh giữa lợi ích đầu tư mang lại và chi phí đầu tư đã bỏ ra

Nguyên tắc chung xác định đúng đắn, đầy đủ các lợi ích và chi phí là so sánh giữa trạng thái có dự án đầu tư và trạng thái không có dự án đầu tư Sự chênh lệch giữa hai trạng thái không có dự án đầu tư và trước khi có dự án Để có thể dễ hiểu có thể lấy trường hợp một bệnh nhân: trạng thái trước khi uống thuốc hoàn toàn khác với trạng thái không uống thuốc Trạng thái trước khi uống thuốc là trạng thái tại một thời điểm

Trang 21

nhất định trước khi uống thuốc, còn trạng thái không uống thuốc sẽ bằng trạng thái trước khi uống thuốc cộng thêm các diễn biến của bệnh trong thời gian tiếp theo [8]

Tổng quan về các chi phí và lợi ích của một dự án đầu tư:

9 Theo phạm vi phát sinh:

Trực tiếp: Là các chi phí và lợi ích phát sinh trong phạm vi dự án

Gián tiếp: Là các chi phí và lợi ích phát sinh bên ngoài dự án, nhưng liên quan

trực tiếp đến dự án đang xem xét, gồm các chi phí và lợi ích liên quan đến đầu vào và đầu ra của dự án

9 Theo nội dung kinh tế:

Tài chính: Là các chi phí và lợi ích tài chính xét trong phạm vi doanh nghiệp Kinh tế, xã hội, môi trường: Là chi phí và lợi ích xét trên phạm vi nền kinh tế

(quốc gia), bao gồm tăng thu nhập quốc dân, tạo việc làm, công bằng xã hội, bảo vệ môi sinh, an ninh quốc phòng, nâng cao dân trí…

9 Theo thời gian: trước mắt và lâu dài

9 Theo chủ thể hưởng thụ lợi ích và chịu chi phí: các cá nhân, doanh nghiệp,địa phương, vùng lãnh thổ, quốc gia

™ Phân loại hiệu quả: Theo cách phân loại chi phí và lợi ích như trên, hiệu quả của

dự án đầu tư có thể phân loại theo các tiêu chí sau:

• Hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp

• Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội

• Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài

Trang 22

• Hiệu quả doanh nghiệp, hiệu quả vùng lãnh thổ, hiệu quả quốc gia

1.1.2 Dự án đầu tư cho môi trường

1.1.2.1 Khái niệm

Dự án đầu tư: Là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới mở rộng

hoặc cải tạo các đối tượng nhất định nhằm đạt được tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định [9]

Dự án đầu tư cho môi trường: Là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn nhằm

cải tạo môi trường, khắc phục hoặc hạn chế những tác động của hoạt động phát triển đến môi trường tự nhiên và môi trường xã hội [9]

Mục tiêu cuối cùng của bất kỳ dự án nào cũng là lợi nhuận Đối với dự án đầu tư thông thường, lợi nhuận thu được từ việc bỏ vốn đầu tư cho một quá trình sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ Đối với dự án môi trường lợi ích thu được từ việc đầu tư bảo vệ môi trường (hoặc cải thiện môi trường), thông thường những lợi ích này khó định lượng bằng tiền

1.1.2.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường của dự án

™ Hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án

Mục đích của phân tích hiệu quả kinh tế – xã hội là đánh giá sự đóng góp của dự

án vào tất cả các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Các chỉ tiêu lợi

nhuận ròng, hệ số hoàn vốn nội bộ, tỷ số lợi ích – chi phí, thời gian hoàn vốn được coi như những chỉ tiêu quan trọng để xác định ảnh hưởng của dự án đói với nền kinh tế Ngoài ra, người ta còn sử dụng một số các chỉ tiêu khác nhằm nêu được những tác

động của dự án lên các khía cạnh riêng biệt của đời sống kinh tế – xã hội trong phạm vi

mà dự án đang xem xét Chẳng hạn những tác động đến việc làm, phân phối lợi ích – chi phí, thu nhập ngoại hối, khả năng cạnh tranh quốc tế của sản phẩm…Đối với những

Trang 23

tác động mà mức độ ảnh hưởng của chúng không thể lượng hóa được, có thể sử dụng phân tích định tính thông qua những xem xét bổ sung như tác động đến kết cấu hạ tầng, trình độ công nghệ kỹ thuật, môi trường…

Khi phân tích hiệu quả kinh tế – xã hội trên giác độ kinh tế quốc dân, người ta

không sử dụng giá thị trường thực tế mà sử dụng giá điều chỉnh hay còn gọi là giá ẩn, giá mờ gần giống như giá xã hội Nguyên nhân là do trong thực tế không có những nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo và giá trị thường trong nhiều trường hợp không phản ánh đúng chi phí xã hội do có sự can thiệp của Nhà nước và tính không hoàn hảo của thị trường Tương tự, tỷ giá hối đoái chính thức cũng được thay bằng tỷ giá điều chỉnh (tỷ giá thực) và ảnh hưởng của yếu tố thời gian không được xác định bằng cách chiết khấu theo tỷ lệ lãi suất thực tế trên thị trường vốn mà theo tỷ suất chiết khấu xã

hội Tóm lại, giá cả được sử dụng trong phân tích hiệu quả kinh tế – xã hội phải phản

ánh đúng lợi ích và chi phí thực của xã hội [9]

™ Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường của dự án được đánh giá thông qua chỉ tiêu liên quan đến các chi phí và lợi ích môi trường của dự án Đó là mức độ cải thiện chất lượng môi trường, giảm suy thoái và ô nhiễm môi trường, các chỉ tiêu này thường rất khó được

lượng hóa Để đánh giá tính khả thi của dự án môi trường xét từ quan điểm kinh tế – xã

hội, phương pháp “phân tích hiệu quả của lợi ích – chi phí”, một phương pháp rất phổ biến trên thế giới sẽ được áp dụng với cơ chế khái niệm chung trong chương trình đánh giá sau:

NB = Bd + Be – Cd – Cp – Ce

Trong đó

NB: Lợi ích ròng do tiến hành kế hoạch/dự án

Trang 24

Bd: Lợi ích sinh lãi trực tiếp

Be: Lợi ích môi trường

Cd: Chi phí trực tiếp cần thiết cho việc thực hiện dự án

Cp: Chi phí cho các biện pháp phòng chống để bảo vệ môi trường, nếu được áp dụng

Ce: Chi phí hủy hoại môi trường do việc thực hiện dự án

Trong nhiều trường hợp, ở các dự án về các lĩnh vực sản xuất và cơ sở hạ tầng, lợi ích môi trường và chi phí hủy hoại môi trường do việc thực hiện dự án đều bị bỏ quên vì bị coi là “hạng mục kinh tế ngoại lai” và “những hạng mục phí kinh tế ngoại lai” Cả hai loại này đều được coi là không thể tính được bằng tiền

Trong các dự án môi trường, lợi ích sinh lãi trực tiếp tương đương với lợi ích môi trường, và chi phí cần thiết cho việc thực hiện dự án tương đương với chi phí cho các biện pháp phòng chống để bảo tồn môi trường Mục tiêu chính của các dự án môi trường trước tiên là phải bảo tồn môi trường và sau đó là nâng cao chất lượng môi trường Mặt khác chi phí hủy hoại môi trường do việc thi hành dự án khó mà có thể phát sinh từ việc thực thi các dự án môi trường Vì vậy phương trình chi phí – lợi ích hiệu quả nhất cho các dự án môi trường phải như sau:

NB=Be – Cp

Nếu như lợi ích môi trường trong dự án môi trường vẫn không được tính thì cũng không thể tiến hành bất kỳ công việc phân tích chi phí – lợi ích khi tính toán lợi ích ròng do tiến hành dự án Trong bối cảnh và bản chất các lợi ích của dự án môi trường đánh giá khâu tính tính lợi ích môi trường là khâu quan trọng nhất

Trang 25

1.1.2.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả của dự án môi trường [10]

™ Phương pháp phân tích chi phí hiệu quả

Bất kỳ một dự án nào khi đưa vào triển khai cũng cần phải được đánh giá về mặt hiệu quả và tính khả thi của dự án, bằng cách so sánh giữa lợi ích thu được và chi phí

bỏ ra để đầu tư cho dự án Các dự án đầu tư cho môi trường liên quan đến các chỉ tiêu

về cải tạo và nâng cao chất lượng môi trường, khắc phục ô nhiễm…nên thường rất khó định lượng được các lợi ích và chi phí Để khắc phục vấn đề này, người ta sử dụng phương pháp phân tích chi phí – hiệu quả Phương pháp này được áp dụng đối với các

dự án chỉ lượng hóa được chi phí mà không lượng hóa được lợi ích Chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của phương pháp này chọn phương án có chi phí thấp nhất để thu lại được một lợi ích như nhau của dự án, hoặc là chọn phương án thu được nhiều lợi ích nhất cho cùng một lượng chi phí bỏ ra

™ Phương pháp phân tích đa mục tiêu

Mỗi dự án đều có các phương án khác nhau, trong trường hợp không có phương

án nào “lấn át” các phương án khác thì phương pháp phân tích đa mục tiêu nên được sử dụng để lựa chọn phương án tối ưu nhất Để thực hiện phương pháp này, cần liệt kê các mục tiêu chung của dự án, sau đó phân tích các mục tiêu cụ thể, so sánh các mục tiêu

cụ thể có thể đạt được của mỗi phương án đưa ra (định tính hoặc định lượng) Dựa vào kết quả phân tích đa mục tiêu và “ý đồ” của nhà phân tích để có thể lựa chọn được phương án tối ưu nhất

™ Phương pháp phân tích chi phí lợi ích

Phân tích chi phí – lợi ích được sử dụng đối với các dự án ở bất cứ giai đoạn nào Đây là phương pháp phân tích kinh tế so sánh những lợi ích thu được (bao hàm lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội) với những chi phí bỏ ra khi thực hiện hoạt động phát triển Trong thực tế, nhiều lợi ích rất khó định lượng (chẳng hạn cuộc sống hoang dã, vẻ đẹp

Trang 26

tự nhiên…) trong khi đó chi phí lại được đo bằng tiền thực của dự án Chính vì lý do

đó mà các doanh nghiệp thường chỉ quan tâm đến kết quả phân tích tài chính

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, hoạt động của dự án đầu tư ngày càng tác động mạnh mẽ tới môi trường thiên nhiên theo chiều hướng tiêu cực nhiều hơn Hàng loạt các văn bản pháp luật liên quan đến môi trường ra đời nhằm điều chỉnh các hành vi tác động xấu tới môi trường Suy thoái và ô nhiễm ngày càng nhiều không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới Vấn đề ô nhiễm môi trường trở nên cấp bách hơn bao giờ hết bởi môi trường chính là tương lai của chúng ta Nhà nước bắt đầu đầu tư cho các dự

án bảo vệ môi trường Song không chỉ các dự án bảo vệ môi trường mà các dự án kinh

tế cũng cần phải tính đến các lợi ích môi trường và chi phí môi trường vì sự phát triển bền vững Như vậy việc sử dụng phân tích chi phí – lợi ích là tất yếu để có quyết định hợp lý nhằm sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên khan hiếm, làm giảm hoặc loại bỏ những tác động tiêu cực phát sinh trong hoạt động phát triển kinh tế – xã hội

Trang 27

1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH CHI PHÍ – LỢI ÍCH (COST AND BENEFIT – CBA)

1.2.1 Sự cần thiết phải phân tích chi phí – lợi ích

Xã hội phải luôn lựa chọn giữa rất nhiều mục tiêu khác nhau như xây dựng một sân bay mới, xây dựng một cao tốc, phát triển khu bảo tồn quốc gia… nhưng nguồn lực thì khan hiếm nên không thể cùng lúc đáp ứng mọi mong muốn của xã hội, nên chi phí

cơ hội sử dụng cho mục đích này phải từ bỏ cơ hội sử dụng cho mục đích khác [1] Chính vì thế, cần phải đánh giá sự đánh đổi Hay nói cách khác, cần phải thực hiện phân tích chi phí – lợi ích để cung cấp thông tin cho việc ra quyết định phân bổ nguồn lực

1.2.2 Khái niệm phân tích chi phí – lợi ích

Phân tích chi phí – lợi ích là một phương pháp/công cụ dùng để đánh giá và so sánh các phương án cạnh tranh dựa trên quan điểm xã hội nói chung nhằm cung cấp thông tin cho việc ra quyết định lựa chọn phân bổ nguồn lực hiệu quả nhất [2]

Một số cách định nghĩa khác:

- Frances Perkins đưa ra định nghĩa phân tích chi phí – lợi ích từ góc độ phân tích tài chính: “Phân tích kinh tế, còn gọi là phân tích chi phí – lợi ích, là phân tích mở rộng của phân tích tài chính,…được sử dụng chủ yếu bởi các chính phủ và các cơ quan quốc tế để xem xét một dự án hay chính sách có làm tăng phúc lợi cộng đồng hay không” (Frances Perkins, 1994)

- Tevfik F.Nas định nghĩa: “Phân tích chi phí – lợi ích là một phương pháp được dùng để nhận dạng, lượng hóa bằng tiền tất cả cái “được” và “mất” tiềm năng từ một

dự án nhất định nhằm xem xét dự án đó có đáng mong muốn hay không trên quan điểm

xã hội nói chung” (Tevfix F.Nas, 1996)

Trang 28

- Boardman định nghĩa “Phân tích chi phí – lợi ích là một phương pháp đánh giá chính sách mà phương pháp này lượng hóa bằng tiền giá trị của tất cả các kết quả của chính sách đối với tất mọi thành viên trong xã hội nói chung Lợi ích xã hội ròng (NSB

= B – C) là thước đo giá trị của chính sách” (Boardman, 2001)

- J.A Shinden định nghĩa “Phân tích chi phí – lợi ích là một phương pháp đánh giá sự mong muốn tương đối của các phương án có tính cạnh tranh lẫn nhau, trong đó

sự mong muốn được đo lường bằng giá trị kinh tế đối với xã hội nói chung” (J.A Shingden, 2003)

- Harry Campbell định nghĩa “Phân tích chi phí – lợi ích là một quá trình nhận dạng, đo lường và so sánh các lợi ích và chi phí xã hội của một dự án đầu tư hay một chương trình” (Campbell, 2003)

Nói chung, dù có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng tất cả đều đề cập đến bốn vấn đề sau đây:

9 Phân tích chi phí – lợi ích là phương pháp đánh giá để thực hiện quyết định lựa chọn

9 Phân tích chi phí – lợi ích xem xét tất cả các lợi ích chi phí (có giá thị trường và không có giá thị trường)

9 Phân tích chi phí – lợi ích quan tâm chủ yếu đến hiệu quả kinh tế

9 Phân tích chi phí – lợi ích xem xét vấn đề trên quan điểm xã hội nói chung

 

 

Trang 29

1.2.3 Phạm vi áp dụng phân tích chi phí – lợi ích [14]

9 Thẩm định các dự án tư nhân thuần túy theo quan điểm xã hội

9 Thẩm định các dự án công: các dự án cung cấp vốn vật chất như cơ sở hạ tầng (cầu, đường, thủy điện, truyền thông), phát triển nông nghiệp, các dự án làm tăng trữ lượng vốn môi trường (cải tạo đất, kiểm soát ô nhiễm, quản lý và khai thác thủy sản, xây dựng các công viên quốc gia), các dự án đầu tư phát triển vốn nhân lực như sức khỏe, giáo dục, kỹ năng, và phát triển vốn xã hội như ngăn chặn tội phạm, cai nghiện ma túy, và giảm thất nghiệp

9 Ảnh hưởng của những thay đổi chính sách, chương trình của chính phủ như bãi

bỏ quy định của ngành, chính sách phi tập trung hóa, kế hoạch đào tạo, tái định

cư, kiểm soát môi trường…

1.2.4 Vai trò và vị trí của phân tích chi phí – lợi ích trong quá trình hình thành, đánh giá và thực hiện dự án

Phân tích chi phí – lợi ích được thực hiện ở ba trong sáu giai đoạn của quá trình hình thành và đánh giá dự án (thẩm định dự án) [11]

Giai đoạn 1: Nhận dạng dự án

Ở giai đoạn này, cơ quan khởi xướng xác định các ý tưởng ban đầu của dự án và phác họa các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt tới Vấn đề chính yếu đầu tiên phải nghiên cứu tỉ mỉ là xem có cơ hội về thị trường hay không Đối với trường hợp các dịch vụ xã hội, người phân tích phải xác định nhu cầu dự kiến về sản phẩm của dự án

và lợi ích mà công chúng kỳ vọng có được từ các dịch vụ này Trong giai đoạn này cần

có một đánh giá sơ bộ về công nghệ tốt nhất có thể sẽ sử dụng, giá cả các yếu tố sản xuất ở địa phương, cũng như dự kiến quy mô và thời gian thích hợp của dự án Trong giai đoạn hình thành dự án này cần sự tham gia của chuyên gia ở nhiều lĩnh vực khác nhau như các kỹ sư, chuyên gia y tế, giáo dục, môi trường, nông nghiệp, phân tích thị trường và các nhà kinh tế

Trang 30

Giai đoạn này cung cấp ý tưởng cơ bản của dự án và thông tin nền giúp cho cơ quan chính phủ có thể tiến hành giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi

Giai đoạn 2: Phân tích tiền khả thi

Ở giai đoạn này, người phân tích thu thập những đánh giá ước chừng các thành phần chính yếu của các lợi ích và chi phí của dự án: lượng và giá các nhập lượng và xuất lượng Những ước lượng chính xác hơn về nhu cầu xuất lượng của dự án, công xuất thiết kế, chi phí nhà máy hay công nghệ dự kiến, và yêu cầu nhân sự cho dự án phải được thực hiện Trong nhiều trường hợp, các dữ liệu này do các chuyên gia kỹ thuật tham gia trong giai đoạn nhận dạng dự án cung cấp

Sử dụng các dữ liệu ban đầu này, các chuyên gia phân tích kinh tế sẽ tiến hành phân tích tài chính và phân tích kinh tế của dự án để xem liệu dự án có thể khả thi về mặt tài chính hay kinh tế hay không Một kế hoạch tài trợ sơ khởi có thể cũng được vạch ra để nhận dạng nguồn tài trợ cho dự án Nếu dự án có vẽ khả thi qua phân tích ban đầu này thi có thể tiến hành giai đoạn nghiên cứu khả thi đầy đủ

Theo Glenn P.Jenkins, trong phân tích tiền khả thi của bất kỳ dự án công nào thông thường gồm sáu lĩnh vực khác nhau như sau:

9 Nghiên cứu thị trường và xác định nhu cầu: Nhu cầu hàng hóa và dịch vụ, giá cả hay nhu cầu các dịch vụ xã hội được ước lượng, lượng hóa và giải trình

9 Kỹ thuật và công trình: Các nhập lượng của dự án được xác định chi tiết và ước lượng chi phí

9 Nhân sự và quản lý: Xác định nhu cầu nhân sự cho việc thực hiện cũng như vận hành dự án, nhận dạng và lượng hóa các nguồn nhân sự cho dự án

9 Tài chính/ ngân sách: Đánh giá thu chi tài chính cũng như đánh giá các phương pháp tài trợ dự án

Trang 31

9 Kinh tế: Thực hiện các điều chỉnh kinh tế dữ liệu tài chính và thẩm định các chi phí và lợi ích của dự án theo quan điểm nền kinh tế nói chung

9 Xã hội: Dự án được thẩm định theo quan điểm ai là người hưởng lợi và ai là người phải gánh chịu chi phí của dự án

Giai đoạn 3: Phân tích khả thi

Ở giai đoạn này nhiều dữ liệu chính xác hơn về tất cả các lợi ích và chi phí của

dự án phải được thu thập thêm, nhưng đặc biệt là thực hiện phân tích rủi ro (độ nhạy)

có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự khả thi của dự án Mức độ khả thi về tài chính

và kinh tế của dự án được đánh giá lại Nếu dự án vẫn khả thi, thì nên đi đến quyết định thực hiện giai đoạn thực hiện dự án

Giai đoạn 4: Thiết kế chi tiết dự án

Giai đoạn 5: Thực hiện

Giai đoạn 6: Đánh giá sau thực án

Giai đoạn cuối cùng của dự án rất quan trọng, nhưng thường bị lờ đi trong thẩm định và thực hiện dự án Sự đánh giá này được thiết kế để xác định đóng góp thực sự của dự án vào phúc lợi quốc gia, sau một số năm hoạt động của dự án Mục đích chủ yếu của việc đánh giá này là giúp nhận dạng các nguồn gốc chính của sự thành bại của

dự án, vì thế các dự án tương lai có thể sẽ thuận lợi hơn

Như vậy, phân tích chi phí – lợi ích được thực hiện ở các giai đoạn 2, 3, và 6

1.2.5 Mục đích của sử dụng phân tích chi phí – lợi ích

1.2.5.1 Phân loại

Mục đích chính của phân tích chi phí – lợi ích là giúp quá trình ra quyết định xã hội dễ dàng và chính xác hơn Tuy nhiên, mục đích sử dụng còn tùy thuộc vào loại phân tích chi phí – lợi ích là gì Boardman (2001), hai loại chủ yếu [3]:

Trang 32

¾ Ex ante CBA: được thực hiện khi một dự án hay chính sách đang được xem xét

Hỗ trợ việc ra quyết định liệu xem nguồn lực có nên phân bổ vào một dự án cụ thể nào đó hay không Đóng góp vào việc ra quyết định trực tiếp, kịp thời và có tính đặc thù riêng

¾ Ex post CBA: được thực hiện vào cuối dự án Đóng góp dưới dạng “thông tin”

cho những người quản lý, các chính khách và các nhà nghiên cứu để có cơ sở xem xét liệu một nhóm các dự án cụ thể có đáng giá hay không

¾ Middle CBA: được thực hiện trong quá trình thực hiện dự án

¾ So sánh ex anten CBA với ex post CBA của cùng một dự án để biết mức hiệu

quả của CBA với vai trò là một công cụ đánh giá và giúp ra quyết định chính sách

1.2.5.2 Mục đích sử dụng [3]

™ Giúp ra quyết định đối với một dự án cụ thể: Ex ante CBA rất hữu ích cho việc

quyết định xem nguồn lực có nên được phân bổ cho một dự án cụ thể đang được xem xét hay không Đối với các dự án đang được thực hiện thì inmedias res CBA có thể được sử dụng cho mục đích ra quyết định khi vẫn còn khả thi để chuyển nguồn lực vào các mục đích sử dụng khác Ex post CBA được thực hiện

ở cuối dự án nên rõ ràng là quá trễ để có thay đổi hoàn toàn quyết định phân bổ

nguồn lực đối với một dự án cụ thể

™ Cung cấp thông tin về lợi ích xã hội ròng của một dự án cụ thể: Sự không

chắc chắn về các tác động của dự án dẫn đến sự không chắc chắn về giá trị lợi ích xã hội ròng thực giảm theo thời gian khi thực hiện dự án, nên CBA được

thực hiện ở giai đoạn sau có thể ước lượng lợi ích ròng của dự án chính xác hơn

™ Cung cấp thông tin về lợi ích tiềm năng của các dự án tương tự: Ex post CBA

giúp các nhà phân tích hiện đang thực hiện các ex ante CBA của các chính sách tương tự, đóng góp thông tin cho những người ra quyết định, cũng như những người nghiên cứu chính sách để xem liệu các loại dự án cụ thể có đáng giá hay

Trang 33

không Lượng thông tin từ in media res CBA và ex post CBA phụ thuộc vào khả

năng phổ biến của một dự án cụ thể

™ Cung cấp thông tin về mức độ hiệu quả của CBA: So sánh ex ante CBA với ex

post CBA rất hữu ích vì biết được giá trị của CBA, mức độ chính xác của ex ante CBA đã được thực hiện ở giai đoạn đầu, giúp hiểu được lý do tại sao có sự khác biệt giữa giá trị các lợi ích và chi phí thực tế với các lợi ích và chi phí ước

đoán

1.2.6 Lịch sử sử dụng phân tích chi phí – lợi ích

CBA có nguồn gốc là các dự án phát triển về sông nước của Hội Kỹ sư Quân đội Hoa Kỳ Năm 1936, Quốc hội thông qua Luật kiểm soát Lũ bao gồm nội dung: Chính phủ Liên bang nên cải thiện hoặc tham gia vào việc cải thiện các vùng nước ở biển hoặc phụ lưu vì mục đích kiểm soát lũ nếu lợi ích đạt được vượt quá chi phí ước tính” Năm 1950, các nhà kinh tế phát hiện ra rằng Hội đã phát triển một hệ thống phân tích kinh tế dành cho đầu tư công cộng Họ đã cải tiến những phương pháp và việc phân tích chi phí – lợi ích đã được ứng dụng hầu hết các khu vực ra quyết định của nhà nước [2]

Để tăng hiểu biết về phương pháp này, Ngân khố Khối Thịnh vượng chung đã đưa ra mục “Phân tích đầu tư” bổ sung trong tập san Ngân khố và tháng 7/1966 Từ đó CBA đã được ứng dụng vào các chủ đề đa dạng như dự án pha Flour vào nước (Doessel, 1979), giá trị của khảo sát đất đai (Ban Giám đốc nghiên cứu thuộc Bộ môi trường, xác định địa điểm xây dựng sân bay (Abelson, 1979), xây dựng đập nước ở khu vực sông (Saddler, Bennett, Reynolds và Smith, 1980), dự án khai thác mỏ trong các công viên quốc gia (Imber, Stevénon và Wilks, 1991),…Những phân tích như đánh giá

về chương trình trồng cây gỗ mềm vào cuối những năm 1960 và đề án về hệ thống cấp giấy chứng minh cho người dân Úc vào cuối thập niên 1980,…cũng đã được chuẩn bị

để sử dụng trong nội bộ các cơ quan chính phủ [16]

Trang 34

Hiện nay, CBA được sử dụng rộng rãi, đa dạng và được bổ sung bằng những hướng dẫn cụ thể từ chính quyền các bang và từ các cơ quan khác nhau trong bộ máy chính quyền Các hướng dẫn này gồm có hướng dẫn kỹ thuật về công tác ngân khố của bang New South Wales năm 1988, và tổng quan về phân tích kinh tế cho các nhà kinh

tế ở cơ quan bảo tồn và môi trường bang Victoria (Lumley, Mouzakis và Bould, 1990)

Phân tích chi phí – lợi ích vẫn đang phát triển và chưa hoàn thiện Tuy nhiên nó được sử dụng một cách rộng rãi để giúp chính phủ lựa chọn các phương án phù hợp trong quá trình ra quyết định

1.2.7 Các bước phân tích chi phí – lợi ích [18]

Bước 1: Nhận dạng vấn đề

Trong quá trình phát triển, xã hội sẽ phải đối mặt với các vấn đề cần phải đưa ra quyết định lựa chọn Việc xác định vấn đề cần ra quyết định là bước đầu tiên trong CBA Ngoài ra cũng cần phải xác định phạm vi phân tích: địa phương, vùng, tỉnh hay quốc gia?

Một dự án đáng giá sẽ góp phần vào phúc lợi kinh tế của quốc gia, có khả năng làm cho mọi người đều được lợi (tốt hơn so với không có dự án) Tuy nhiên, thường không phải ai cũng được hưởng lợi từ dự án, mà một số người sẽ bị thiệt Hơn nữa, những nhóm người được lợi từ dự án lại không nhất thiết là những người phải gánh chịu chi phí của dự án Cho nên người phân tích phải đặt và trả lời các câu hỏi như sau:

9 Dự án sẽ có những tác động như thế nào: địa phương, vùng, tỉnh, quốc gia hay toàn cầu?

9 Nếu nguồn tài trợ cho dự án là của chính phủ thì có nên xem xét tính đến các lợi ích và chi phí phát sinh bên ngoài quốc gia hay không?

Thông thường các chính phủ thực hiện phân tích dựa trên quan điểm quốc gia, tính lợi ích và chi phí phát sinh trong một quốc gia nhất định Ngày nay với xu hướng

Trang 35

hội nhập, toàn cầu hóa và nhiều vấn đề về môi trường đang phát sinh mang tính toàn cầu, nên có ý kiến đề xuất phân tích theo quan điểm toàn cầu Tuy nhiên, thông thường việc xác định phạm vi phân tích tùy thuộc vào ai là người tài trợ chính của dự án hay chương trình cụ thể

Bước 2: Xác định các phương án

Thường mỗi dự án, chương trình hay chính sách có thể có rất nhiều phương án

để lựa chọn Có các khó khăn sau đây:

9 Xác định số lượng các phương án tùy thuộc vào số tiêu chí (đặc điểm) cần xem xét đối với mỗi dự án cụ thể Theo Boardman (2001), nếu có n tiêu chí, mỗi tiêu chí có k mức giá trị, sẽ có kn phương án

9 Xác định quy mô dự án Có một số hướng dẫn để lựa chọn quy mô tối ưu như dựa vào hiện giá thuần biên tế (MNPV) hay tỷ suất sinh lợi nội tại biên tế (MIRR)

Phân tích chi phí – lợi ích so sánh lợi ích xã hội ròng của việc đầu tư nguồn lực vào một dự án cụ thể với lợi ích xã hội ròng của một dự án giả định nào đó Thông thường dự án giả định đó gọi là hiện trạng

Bước 3: Nhận dạng các lợi ích và chi phí

Một khi dự án đã được xác định, tất cả các chuyên gia trong các lĩnh vực có liên quan sẽ giúp nhận dạng các tác động có thể có của dự án Trong bước này, tất cả các loại tác động trực tiếp hay gián tiếp, hữu hình hay vô hình đều phải được xác định Lưu

ý, “tác động” bao hàm các nhập lượng và xuất lượng hay đúng hơn là các chi phí và lợi ích có thể có của dự án Đồng thời, ta cũng xác định các đơn vị đo lường các lợi ích và chi phí đó (nếu có)

Trang 36

Trong phân tích chi phí – lợi ích, các nhà phân tích chỉ quan tâm đến các tác động có ảnh hưởng đến sự thỏa dụng của các cá nhận thuộc phạm vi quan tâm của dự

án Những tác động không có giá trị gì đối với con người thì không được tính trong phân tích chi phí – lợi ích Nói cách khác, muốn xác định một “tác động” nào đó của

dự án, người phân tích cần tìm hiểu mối quan hệ nhân – quả giữa tác động đó với sự thỏa dụng của những người thuộc phạm vi ảnh hưởng

Bước 4: Lượng hóa các lợi ích và chi phí trong suốt vòng đời dự án

Sau khi xác định được tất cả các lợi ích và chi phí có thể có của dự án cũng như đơn vị đo lường tương ứng, người phân tích phải lượng hóa được chúng cho suốt vòng đời dự án cho từng phương án

Lưu ý, một khả năng có thể chấp nhận được là nếu những tác động rất khó lượng hóa hay đo lường chính xác được như tác động về văn hóa, xã hội người phân tích có thể cung cấp các thông tin dạng mô tả về chúng Ngoài ra, cũng có những trường hợp cần đến các giả định nào đó để có thể ước lượng được

Bước 5: Quy ra giá trị bằng tiền các lợi ích và chi phí

Đây là nhiệm vụ chính của các nhà kinh tế thực hiện phân tích chi phí – lợi ích Khi có được lượng các tác động của dự án người phân tích phải gán cho chúng một giá trị bằng tiền để có thể so sánh được Thực hiện bước này đòi hỏi người phân tích phải trang bị lượng kiến thức nhất định về các phương pháp đánh giá các lợi ích và chi phí trong trường hợp có giá cả thị trường (giá ẩn = giá tài chính sau khi đã điều chỉnh biến dạng,…) và trong trường hợp không có giá thị trường hay không có thị trường (giá kinh tế = giá sẵn lòng trả, chi phí cơ hội) Đây là bước quan trọng nhất trong quy trình thực hiện phân tích chi phí – lợi ích

Bước 6: Chiết khấu các lợi ích và chi phí, tính lợi nhuận ròng NPV

Trang 37

Một dự án có các dòng lợi ích và chi phí phát sinh trong các thời điểm khác nhau không thể so sánh trực tiếp được, nên người phân tích phải tổng hợp chúng lại để

có thể so sánh được Thông thường các lợi ích và chi phí tương lai phải được chiết khấu để đưa về giá trị tương đương ở hiện tại để có cơ sở chung cho việc so sánh

Có một số tiêu chí quyết định có thể áp dụng để có thể so sánh lợi ích và chi phí của một phương án cụ thể Lợi nhuận ròng (NPV) bằng hiện giá ròng của lợi ích trừ đi hiện giá ròng của chi phí nếu lớn hơn 0 thì đó là một dự án đang giá và ngược lại Tiêu chí thứ hai là tỷ số lợi ích/ chi phí nếu lớn hơn 1 là dự án đáng giá Ngoài ra, hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR) cũng là một tiêu chí quan trọng, nếu lớn hơn xuất chiết khấu xã hội được chọn thì đó là một dự án tốt

Bước 7: Thực hiện phân tích độ nhạy

Bất kỳ phân tích chi phí – lợi ích nào cũng hàm chứa sự không chắc chắn và người phân tích thường có một số giả định nào đó về các giá trị lợi ích và chi phí Phân tích độ nhạy đòi hỏi sự nới lỏng các giả định cho chúng thay đổi ở nhiều mức độ khác nhau có thể có và tính toán lại các lợi ích và chi phí Nói cách khác, trong phân tích độ nhạy người phân tích thay đổi giá trị của một hay nhiều biến quan trọng liên quan đến dòng ngân lưu kinh tế của dự án và xem kết quả (NPV, IRR,…) thay đổi như thế nào

để có cơ sở quyết định lựa chọn

Bước 8: Đề xuất dựa trên kết quả NPV và phân tích độ nhạy

Từ kết quả trên người phân tích nên đề xuất phương án được ưa thích nhất Phương án được ưa thích nhất là phương án có lợi ích xã hội ròng lớn nhất Lưu ý rằng người phân tích đề xuất phương án tốt nhất một cách khách quan dựa vào sự tối đa hóa hiệu quả hay phúc lợi kinh tế chứ không phải phương án do mình ưa thích

Trang 38

1.2.8 Nguyên tắc của CBA

Một trong các vấn đề của CBA là việc đánh giá nhiều yếu tố trong cơ cấu lợi ích

và chi phí về bản chất là khá rõ ràng, nhưng cũng có những yếu tố khác không thể đưa

ra phương pháp đánh giá Vì vậy người ta cần đến một số nguyên tắc cơ bản như là sự chỉ dẫn [1]

1.2.8.1 Phải có một đơn vị đo lường chung

Để tiến đến một kết luận đối với một dự án – ở mọi khía cạnh – cả tích cực và tiêu cực – phải được thể hiện theo một đơn vị chung Đơn vị chung tiện lợi nhất là tiền

tệ Điều này có nghĩa là tất cả những lợi ích và chi phí của một dự án nên được tính theo giá trị bằng tiền tương đương Một chương trình có thể tạo ra những lợi ích không được biểu hiện trực tiếp bởi đồng tiền, nhưng có một số khoản tiền mà những người nhận được lợi ích sẽ quan tâm đến như những lợi ích của dự án

1.2.8.2 Những đánh giá CBA phản ánh những đánh giá của người tiêu dùng và nhà sản xuất được thể hiện qua hành vi thực tế

Sự đánh giá về lợi ích và chi phí cần phản ánh những ưu tiên được thể hiện thông qua các lựa chọn Ví dụ, những bước cải thiện trong lĩnh vực vận tải thường liên quan đến việc tiết kiệm thời gian Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để xác định giá trị bằng tiền của khoảng thời gian tiết kiệm được Giá trị này không chỉ đơn thuần là giá trị thời gian mà những người lập kế hoạch về việc vận tải cân nhắc hay thậm chí là giá trị thời gian theo đánh giá của công chúng Giá trị thời gian nên được đánh giá theo sự bày tỏ của công chúng thông qua những lựa chọn liên quan đến sự tương xứng giữa thời gian

và tiền bạc Nếu mọi người chọn cách đỗ xe gần nơi đến của họ với mức phí 50 cent hay đỗ xe ở xa hơn và phải mất hơn 5 phút để đi bộ, họ luôn lựa chọn chi tiền và tiết kiệm thời gian, công sức, vì vậy họ đã thể hiện rằng thời gian của họ có giá trị hơn 10 cent 1 phút Nếu không có sự bất đồng giữa hai lựa chọn, họ sẽ cho thấy rằng giá trị thời gian của họ chính xác là 10 cent mỗi phút Phần đặt ra thách thức lớn nhất trong CBA là tìm những lựa chọn trong quá khứ thể hiện sự tương xứng và tương đương

Trang 39

trong những vấn đề ưu tiên Ví dụ, việc đánh giá lợi ích của bầu không khí trong sạch hơn có thể được xây dựng thông qua việc tìm xem người ta trả ít hơn bao nhiêu cho nhà ở tại các khu vực ô nhiễm hơn, đồng thời tương tự về đặc điểm và vị trí nhà ở tại các khu vực ít bị ô nhiễm hơn Nhìn chung, giá trị của môi trường không khí trong lành hơn đối với con người khi được thể hiện qua những lựa chọn nghiêm khắc của thị trường có vẻ thấp hơn mức đánh giá khoa trương về một môi trường không khí trong sạch

1.2.8.3 Những lợi ích thường được đánh giá bởi sự lựa chọn của thị trường

Khi người tiêu dùng tiến hành mua ở các mức giá thị trường, họ cho rằng

những thứ họ mua ít nhất cũng đem lại lợi ích đối với họ bằng số tiền khi họ từ bỏ nó Người tiêu dùng sẽ tăng mức tiêu thụ hàng hóa tới một điểm mà tại đó 1 đơn vị tăng thêm (lợi ích cận biên) cân bằng với chi phí cận biên của đơn vị đó, theo giá trị thị trường Do đó với bất cứ người tiêu dùng nào mua một lượng hàng hóa nào đó, lợi ích cận biên cân bằng với giá thị trường Lợi ích cận biên sẽ làm giảm khối lượng tiêu thụ

vì giá thị trường phải giảm để người tiêu dùng có thể tiêu thụ một khối lượng hàng hóa lớn hơn Mối quan hệ giữa giá thị trường và khối lượng tiêu thụ được gọi là biểu cầu

Vì vậy biểu cầu cung cấp thông tin về lợi ích cận biên cần thiết để đặt một giá trị bằng tiền vào một mức gia tăng về tiêu thụ hàng hóa

1.2.8.4 Tổng lợi ích đối với một mức gia tăng về tiêu thụ là một miền nằm dưới đường cầu

Sự gia tăng về lợi ích xuất phát từ một sự gia tăng tiêu dùng là tổng lợi ích cận biên nhân với mỗi số tăng thêm trong tiêu dùng Khi số tăng thêm về tiêu dùng được xem như ngày càng nhỏ, tổng tiến dần đến miền nằm dưới đường lợi ích biên Nhưng đường lợi ích biên lại trùng với đường cầu nên mức tăng lợi ích là miền dưới đường cầu Khi mức tăng tiêu dùng nhỏ so với tổng tiêu dùng thì tổng lợi ích được tính một cách gần đúng thông qua giá thị trường của mức tiêu dùng tăng lên, như đã chỉ ra trong một phân tích về phúc lợi, nghĩa là giá thị trường nhân với mức gia tăng tiêu dùng

Trang 40

1.2.8.5 Một số thước đo lợi ích đòi hỏi sự đánh giá cuộc sống con người

Đôi khi CBA cần đánh giá lợi ích của việc cứu sống con người Có ác cảm khá lớn trong đại chúng về ý tưởng đặt 1 USD vào cuộc sống con người Các nhà kinh tế nhận ra rằng không thể đầu tư vào tất cả các dự án hứa hẹn cứu vớt một sinh mạng và một số cơ sở hợp lý cần thiết để lựa chọn xem các dự án nào có thể chấp nhận được và các dự án nào nên loại bỏ Tranh cãi đã lắng dịu khi người ta nhận ra rằng lợi ích của những dự án như vậy đang làm giảm nguy cơ dẫn đến cái chết Có nhiều trường hợp con người tự nguyện chấp nhận tính chất rủi ro tăng lên để được trả công cao hơn, như trong lĩnh vực khai thác dầu hay than đá, hay tiết kiệm thời gian với tốc độ cao hơn trong việc đi lại bằng ô tô Những sự lựa chọn này có thể được sử dụng để ước tính chi phí cá nhân mà con người đặt vào tình trạng rủi ro tăng thêm và ước tính giá trị của rủi

ro giảm đối với họ phân tích này tương ứng với việc đặt giá trị kinh tế vào số lượng dự tính những người được cứu sống

1.2.8.6 Phân tích một dự án nên bao gồm sự so sánh có đối chọi với không có

Tác động của một dự án là sự khác nhau giữa trạng thái có hoặc không có dự án trong lĩnh vực nghiên cứu Điều này nghĩa là khi một dự án đang được đánh giá, phân tích phải ước tính không chỉ tình huống đi kèm với dự án mà còn phải tính đến tình huống không có dự án kèm theo

Ví dụ cho thấy tầm quan trọng của việc xem xét các tác động của một dự án và một sự so sánh có – và – không có Giả sử một dự án tưới tiêu đề xuất để tăng cường sản xuất cotton ở Arizona Nếu Bộ Nông nghiệp Mỹ hạn chế số lượng côtton ở Mỹ bằng một hệ thống hạn ngạch, khi đó việc sản xuất cotton ở Arizzona có thể được bù đắp thông qua một sự cắt giảm trong hạn ngạch sản xuất cotton đối với Missisippi Do

đó tác động của một dự án sản xuất cotton ở Mỹ có thể bằng 0 chứ không ảnh hưởng nhiều đến các kết quả của dựa án

1.2.8.7 Phân tích chi phí – lợi ích bao gồm một lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt

Ngày đăng: 18/07/2017, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w