DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1: Tổ chức công tác quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường Hình 2 : Quy trình cơ bản xây dựng kế hoạch Hình 3: Quy trình xây dựng kế hoạch của Bộ Giao thông vận tải
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu, đề xuất quy trình quản lý các nhiệm
vụ, dự án bảo vệ môi trường trong ngành Công an” do TS Nguyễn Thị Ánh
Tuyết hướng dẫn là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2013
Học viên
Lê Bích Vân
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng quản lý môi trường - Cục quản lý Khoa học công nghệ và Môi trường - Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật - Bộ Công an và các đơn vị, địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất và động viên tinh thần, giúp đỡ tôi thu thập số liệu, thông tin để nghiên cứu nội dung của đề tài
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và đồng nghiệp, đồng môn đã có những ý kiến góp ý cho tôi hoàn chỉnh luận văn, ủng hộ tôi về mặt tinh thần và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2013
Học viên
Lê Bích Vân
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: BNNPTNT
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Tổ chức công tác quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường
Hình 2 : Quy trình cơ bản xây dựng kế hoạch
Hình 3: Quy trình xây dựng kế hoạch của Bộ Giao thông vận tải
Hình 4: Quy trình xây dựng kế hoạch của Bộ Công thương
Hình 5: Quy trình xây dựng kế hoạch
Hình 6: Quy trình triển khai các nhiệm vụ, dự án BVMT của Bộ GTVT
Hình 7: Quy trình triển khai các nhiệm vụ, dự án BVMT của Bộ Công thương Hình 8: Quy trình triển khai các nhiệm vụ, dự án BVMT đang áp dụng tại Bộ Công an Hình 9: Quy trình đề xuất xây dựng kế hoạch BVMT ngành Công an
Hình 10: Quy trình đề xuất triển khai, thực hiện các nhiệm vụ, dự án BVMT ngành Công an
Hình 11: Ý kiến của cán bộ địa phương đối với quy trình xây dựng kế hoạch
Hình 12: Quy chế phối hợp của các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ BVMT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: So sánh quy trình xây dựng kế hoạch BVMT của Bộ GTVT và Bộ CT Bảng 2: So sánh quy trình triển khai nhiệm vụ, dự án BVMT của Bộ GTVT và Bộ CT Bảng 3: Tóm tắt nguyên tắc có tính đặc thù liên quan đến công tác BVMT trong CAND
Bảng 4: Tổng hợp thời gian xây dựng kế hoạch theo quy trình thử nghiệm năm KH
2013
Bảng 5: Tổng hợp thời gian xây dựng kế hoạch theo quy trình thử nghiệm năm KH
2014
Bảng 6: Tổng hợp thời gian triển khai nhiệm vụ theo quy trình thử nghiệm
Bảng 7: Tổng hợp chi phí thẩm định hồ sơ BCKTKT và dự toán nhiệm vụ
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết thực hiện đề tài:
Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại Nhận thức đúng đắn về vấn đề môi trường trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã sớm quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường song hành với phát triển kinh tế-xã hội Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là sự cụ thể hóa quan điểm phát triển kinh tế xã hội đi đôi với công tác bảo vệ môi trường của Đảng
Trong những năm vừa qua, với nhiều nỗ lực cố gắng, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực Hệ thống văn bản pháp quy từng bước được xây dựng và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho công tác bảo
vệ môi trường trong các cấp, các ngành và nhân dân
Tuy nhiên công tác bảo vệ môi trường ở nước ta đang đứng trước nhiều thách thức đáng quan tâm như: thách thức giữa yêu cầu bảo vệ môi trường với lợi ích kinh tế trước mắt; thách thức giữa cơ sở hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường lạc hậu và khối lượng chất thải đang ngày càng tăng lên; thách thức giữa nhu cầu ngày càng cao về vốn đầu tư vào môi trường với khả năng có hạn của ngân sách nhà nước; thách thức giữa tổ chức và năng lực quản lý môi trường còn nhiều bất cập với những đòi hỏi phải nhanh chóng đưa công tác quản lý môi trường vào nề nếp …
Nhận rõ tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường và trách nhiệm của lực lượng CAND đối với công tác bảo vệ môi trường, ngày 22/11/2000 Bộ trưởng
Bộ Công an đã có Chỉ thị số 04/2000/CT-BCA(E11) về việc tăng cường thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường và đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường Mặc dù công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong lực lượng CAND đã đạt được một số kết quả ban đầu song vẫn còn nhiều bất cập Kinh phí ngân sách nhà nước chi sự nghiệp môi trường cấp cho Bộ Công an hàng năm rất hạn chế, trong khi nhu cầu sử dụng nguồn kinh phí này ngày một lớn do môi trường ngày càng xuống cấp nghiêm trọng Mặt khác, với đặc thù của lực lượng vũ trang đảm
Trang 7bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, hàng năm Bộ Công an tiếp nhận một
số lượng lớn can phạm nhân đã hoặc chưa thành án để giam giữ, cải tạo, do đó vấn
đề môi trường cho các cơ sở giam giữ và cơ sở y tế, các đơn vị đóng quân vùng đồi núi, vùng sâu, vùng xa… cần phải được quan tâm đúng mức, kịp thời Bài toán đặt
ra là làm sao để sử dụng nguồn ngân sách chi sự nghiệp môi trường cấp cho ngành Công an một cách khoa học, hiệu quả Điều này rất cần phải có những quy định cụ thể, được Bộ Công an ban hành thành văn bản pháp quy và được triển khai sâu rộng trong toàn lực lượng
Vì vậy, công tác nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý các nhiệm vụ, dự án BVMT ngành Công an sao cho kinh phí môi trường được sử dụng tốt hơn, đúng nơi đúng lúc và tiết kiệm là một yêu cầu cần thiết, là nền tảng xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật của ngành Công an về lĩnh vực này Thông qua việc thống nhất quy trình quản lý các nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường trong toàn ngành, cơ quan quản lý sẽ triển khai công tác được giao một cách suôn sẻ, rõ ràng, nâng cao vai trò,
vị trí của một cơ quan tham mưu cấp Bộ, thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường toàn ngành Đồng thời kết quả nghiên cứu còn giúp Công an các đơn vị địa phương nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, từng bước thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong công tác giữ gìn và bảo vệ môi trường
Trong quá trình công tác tại đơn vị, với chức năng nhiệm vụ được giao, tác giả có điều kiện tiếp xúc với cán bộ làm công tác quản lý môi trường của Công an rất nhiều đơn vị, địa phương Một số đồng chí đã chia sẻ với tác giả những khó khăn, vướng mắc, hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ trong quá trình triển khai công tác bảo vệ môi trường trong ngành Một số đồng chí khác lại trao đổi những ý kiến đóng góp trong quá trình thực hiện, những đề xuất của một đơn vị địa phương đối với cơ quan cấp Bộ Sau 5 năm đảm nhận nhiệm vụ hướng dẫn Công an các đơn vị địa phương trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong ngành, tác giả luôn trăn trở về một quy trình quản lý các nhiệm vụ được giao để Công an các đơn vị, địa phương thực hiện một cách hiệu quả
Trang 8Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của công việc mà bản thân được giao phụ
trách, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý các nhiệm vụ, dự án Bảo vệ môi trường trong ngành Công an” làm đề tài nghiên
cứu trong luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu và các nội dung chính của luận văn:
2.1 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu:
- Đánh giá và phân tích những thuận lợi và khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý, triển khai thực hiện các nhiệm vụ, dự án trong ngành Công an, tìm ra nguyên nhân của bất cập trong công tác quản lý, triển khai thực hiện và những nguyên tắc có tính đặc thù của ngành Công an trong công tác này
- Từ những đánh giá phân tích trong công tác quản lý và triển khai các nhiệm
vụ môi trường trên, đề xuất quy trình mới quản lý các nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường trong Công an nhân dân
- Đánh giá khả năng thực hiện và những cải thiện trong thực tế khi đưa quy trình vào áp dụng trong ngành Công an
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu công tác quản lý các nhiệm vụ về bảo vệ môi trường trong nội
bộ lực lượng CAND, tại các đơn vị quản lý hành chính theo cấp Bộ, Sở và Công an các huyện
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: là phương pháp nghiên cứu sử dụng kỹ năng thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài từ đó có nghiên cứu, đánh giá và
đề xuất những điểm mới Nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài ngành về công tác quản lý các nhiệm vụ, dự án BVMT, đưa ra những ưu nhược điểm của từng ngành, những tồn tại hạn chế cũng như rút ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó, từ đó đưa ra giải pháp
- Phương pháp đối chiếu - so sánh: là phương pháp nghiên cứu sử dụng kỹ năng phân tích các sự vật hiện tượng có tính tương đồng, tìm ra những điểm khác
Trang 9biệt, đặt trong hoàn cảnh cụ thể để đối chiếu, so sánh với nhau nhằm tìm ra điểm chung - riêng của từng sự vật, hiện tượng Sử dụng những thông tin thu thập được đem so sánh, đối chiếu, đưa ra nhận xét đánh giá với từng quy trình quản lý của từng Bộ, ngành so với quy trình quản lý của Bộ Công an, so sánh quy trình quản lý của Bộ Công an hiện đang được áp dụng với quy trình đề xuất
- Phương pháp khảo sát thực tế: là phương pháp trực tiếp quan sát sự vật hiện tượng trong một không gian và tại một thời điểm xác định để ghi nhận thực trạng của sự vật hiện tượng Trong nghiên cứu đề tài này, phương pháp này bao gồm các
kỹ năng quan sát, kiểm tra, ghi hình hiện trạng công tác quản lý nhà nước về BVMT trong CAND
2.4 Nội dung chính của luận văn:
Với mục đích đánh giá được hiện trạng công tác quản lý các nhiệm vụ bảo vệ môi trường quốc gia nói chung và trong ngành Công an nói riêng làm cơ sở cho những nghiên cứu đề xuất quy trình mới quản lý các nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong ngành Công an, tác giả chia nội dung luận văn làm 04 chương có thể tóm tắt như sau:
Trong chương I, luận văn sẽ giới thiệu những nét tổng quan về công tác quản
lý nhà nước trong Bảo vệ môi trường của nước ta, những đường hướng chính sách
và công cụ quản lý môi trường đang áp dụng tại Việt Nam, đặc biệt tập trung những nội dung công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong Công an nhân dân, trong đó có 2 vấn đề cần quan tâm:
+ Công tác xây dựng kế hoạch Bảo vệ môi trường hàng năm
+ Công tác triển khai các nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường hàng năm Tại chương này, luận văn cũng sẽ chỉ ra những nguyên tắc có tính đặc thù của ngành Công an và những bất cập trong công tác quản lý môi trường trong ngành, là cơ sở cho các phân tích và đề xuất tại các chương tiếp theo
Trong chương 2, luận văn sẽ giới thiệu quy trình cơ bản quản lý một kế hoạch cho các Bộ, ngành, đồng thời lựa chọn quy trình quản lý nhiệm vụ, dự án
Trang 10BVMT của 02 Bộ, ngành đã ban hành, đó là Bộ Công thương, Bộ Giao thông vận tải để phân tích, so sánh với quy trình quản lý nhiệm vụ, dự án BVMT của Bộ Công an, qua đó nêu bật những bất cập trong quy trình quản lý các nhiệm vụ, dự án BVMT đang áp dụng hiện nay trong CAND, chỉ ra những nguyên nhân của bất cập
đó
Trong chương 3, căn cứ các yêu cầu công tác quản lý môi trường của ngành Công an, nhằm giải quyết những khúc mắc, bất cập trong công tác quản lý môi trường của ngành đã phân tích tại chương trước, tác giả đề xuất 02 quy trình quản lý các nhiệm vụ, dự án BVMT mới để triển khai thực hiện trong ngành Công an Tác giả sẽ có so sánh đối chiếu quy trình đang áp dụng và quy trình mới đề xuất, phân tích giải trình tính hợp lý của các bước đề xuất trong quy trình mới
Trong chương 4, luận văn trình bày phương pháp thực hiện các bước cụ thể trong quy trình đề xuất sao cho hợp lý nhất, đánh giá tính khả thi của quy trình khi đưa vào thực hiện, tổ chức áp dụng thử nghiệm tại Công an một số đơn vị, địa phương, từ đó rút ra những hiệu quả thực tế của quy trình mới
Tại phần kết luận, tác giả đã đối chiếu kết quả nghiên cứu với mục đích đề
ra, từ đó đánh giá kết quả nghiên cứu của mình và đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo cho đề tài này
3 Lịch sử nghiên cứu:
3.1 Các nghiên cứu tại các Bộ, ngành khác:
Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường luôn là một trong những công tác trọng tâm trong Nghị quyết của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ năm 2005 đến nay, công tác này không ngừng đổi mới cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế và
xã hội của đất nước Nhằm đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, nhiều Bộ, ngành đã quan tâm và đầu tư nghiên cứu phương pháp, quy trình quản lý các nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường, có sử dụng ngân sách nhà nước chi
sự nghiệp môi trường hoặc các nguồn kinh phí khác nhưng thực hiện chiến lược,
Trang 11chương trình, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu,
sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Bộ Tài nguyên và Môi trường với chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường quốc gia hiện nay vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, chỉnh sửa Dự thảo văn bản quy định và hướng dẫn thi hành các quy định về quản lý các nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường
Tính đến thời điểm tháng 08/2013 đã có một số văn bản chính thức được ban hành có liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau:
- Thông tư số 76/2009/TT-BNNPTNT ngày 04/12/2009 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn hướng dẫn quản lý các nhiệm vụ bảo vệ môi trường thuộc
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Thông tư số 13/2010/TT-BGTVT ngày 07/06/2010 của Bộ Giao thông vận
tải quy định về quản lý các nhiệm vụ môi trường trong ngành giao thông vận tải sử dụng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước
- Thông tư số 36/2011/TT-BCT ngày 28/09/2011 quy định quản lý các nhiệm
vụ, dự án bảo vệ môi trường ngành Công thương
3.2 Các nghiên cứu trong ngành Công an:
Hiện nay Bộ Công an chưa ban hành văn bản chính thức nào về quy trình quản lý và triển khai các nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường trong ngành Năm
2005, Bộ Công an đã phê chuẩn dự án “Điều tra cơ bản thực trạng môi trường, công tác bảo vệ môi trường và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường trong lực lượng CAND”, trong đó có 02 chuyên đề đã đề cập đến vấn đề quản lý môi trường trong CAND:
- Chuyên đề “Giải pháp tăng cường năng lực, nâng cao công tác quản lý môi trường trong Công an nhân dân”, nhóm tác giả Nguyễn Thế Sự, Lê Bích Vân
- Chuyên đề “Công tác quản lý môi trường tại Công an các đơn vị, địa phương”, nhóm tác giả Nguyễn Thế Sự, Phạm Mạnh Cường
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG I.1 Các khái niệm và công cụ quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường:
I.1.1 Các khái niệm cơ bản:
1 Phát triển bền vững:
“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của bản thân họ”[5]
2 Quản lý môi trường:
“Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh
tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia” [10]
3 Chính sách môi trường:
“Chính sách môi trường là những chủ trương, biện pháp mang tính chiến lược, thời đoạn, nhằm giải quyết một nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ thể nào đó, trong một giai đoạn nhất định” [5]
4 Công cụ quản lý môi trường:
“Các công cụ quản lý môi trường là các phương pháp và kỹ thuật dùng để nâng cao chất lượng của việc ra quyết định hay quản lý thông tin hay tác động đến những thay đổi trong hành vi của những người khác nhằm mục đích chung là nâng cao kết quả thực hiện các yêu cầu môi trường” [5]
5 Tiêu chuẩn môi trường:
Là chuẩn mực, giới hạn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường, bao gồm tiêu chuẩn về chất lượng môi trường, tiêu chuẩn về chất thải.[10]
Trang 13I.1.2 Mục tiêu cơ bản của quản lý môi trường:
Mục tiêu cơ bản của quản lý môi trường là phát triển bền vững, nhằm đảm bảo giữ cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Hay nói cách khác, phát triển kinh tế - xã hội tạo ra các tiềm lực kinh tế để bảo vệ môi trường, còn bảo vệ môi trường tạo ra các tiềm năng về tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai
Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mục tiêu cơ bản của bảo vệ môi trường ở nước ta là:
“Hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục tình trạng suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường; giải quyết một bước cơ bản tình trạng suy thoái môi trường ở các khu công nghiệp, các khu dân cư đông đúc ở các thành phố lớn và một
số vùng nông thôn; cải tạo và xử lý ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, hồ ao, kênh mương Nâng cao khả năng phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, của sự biến động khí hậu bất lợi đối với môi trường; ứng cứu và khắc phục có hiệu quả sự cố ô nhiễm môi trường do thiên tai gây ra Khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cân bằng sinh thái ở mức cao, bảo tồn thiên nhiên và giữ gìn đa dạnh sinh học Chủ động thực hiện và đáp ứng các yêu cầu về môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế, hạn chế các ảnh hưởng xấu của quá trình toàn cầu hoá tác động đến môi trường trong nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm phát triển bền vững đất nước”.[12]
Mục tiêu QLMT có thể thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng đối với mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế -xã hội, hệ thống pháp lý
I.1.3 Các nguyên tắc chung trong quản lý môi trường:
Có thể nêu lên các nguyên tắc chính yếu của công tác quản lý môi trường nói chung như sau:
- Hướng tới sự phát triển bền vững
Trang 14Nguyên tắc này yêu cầu phải xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, pháp luật và chính sách Nhà nước, ngành và địa phương theo hướng phát triển bền vững, nghĩa là phát triển phải đảm bảo hài hòa các yếu tố phúc lợi kinh tế, phúc lợi
xã hội và phúc lợi sinh thái
- Kết hợp các mục tiêu quốc gia - quốc tế - Vùng lãnh thổ và cộng đồng dân
cư địa phương trong việc quản lý môi trường
Môi trường không có ranh giới và sự chia cắt rạch ròi giữa các vùng địa lý,
do đó vấn đề ô nhiễm môi trường là vấn đề có tính chất quốc gia, quốc tế vì nó không chỉ ảnh hưởng đến con người, sinh vật trên quốc gia, lãnh thổ riêng biệt nào
mà còn ảnh hưởng đến các quốc gia, vùng lãnh thổ xung quanh Để thực hiện được nguyên tắc này, cần tham gia vào công ước, hiệp định quốc tế về môi trường đồng thời ban hành các văn bản quốc gia về pháp luật, tiêu chuẩn, quy định cũng như xây dựng và ban hành quy chế bảo vệ môi trường địa phương
- Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm hệ thống và cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp
Thành phần môi trường của khu vực cần được bảo vệ thường rất đa dạng, do vậy các công cụ và biện pháp bảo vệ môi trường cũng phải đa dạng và áp dụng thích hợp cho từng loại đối tượng cần được bảo vệ khác nhau
- Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên
Phòng ngừa là biện pháp ít tốn kém hơn nếu xảy ra ô nhiễm Do hậu quả của
sự ô nhiễm là rất to lớn và không dự tính hết được, chi phí cho công việc xử lý thường rất lớn và chưa chắc đã loại bỏ hết các chất độc hại ra khỏi môi trường nên cần có biện pháp phòng ngừa để chúng không phát tán
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền:
Nguyên tắc này là cơ sở để xây dựng các quy định về thuế, phí, lệ phí và các quy định xử phạt hành chính đối với các vi phạm về quản lý môi trường Đối tượng nào có hành động gây ô nhiễm, tổn hại đến môi trường phải trả kinh phí và có trách nhiệm phục hồi chất lượng môi trường
Trang 15Nguyên tắc này cần phối hợp với nguyên tắc người sử dụng trả tiền như các loại phí rác thải, phí nước thải [7]
I.1.4 Công cụ quản lý môi trường
Công cụ QLMT là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau
Công cụ QLMT có thể phân loại theo chức năng gồm: Công cụ điều chỉnh vĩ
mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ Công cụ điều chỉnh vĩ mô là luật pháp và chính sách Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định xử phạt v.v và công cụ kinh tế Công cụ hành động là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường trong công tác bảo vệ môi trường Thuộc về loại này có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi trường Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau:
- Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương
- Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường
- Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, minitoring môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào.[7]
Trang 16I.2 Tổng quan công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở Việt Nam I.2.1 Chính sách về bảo vệ môi trường của nước ta:
Chính sách bảo vệ môi trường quốc gia được chia làm 9 nhóm như sau:
1 Khuyến khích, tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia bảo vệ môi trường
2 Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế…
3 Sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, tái tạo và đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng chất thải
4 Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, tập trung xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và phục hồi môi trường khu vực bị ô nhiễm, chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư
5 Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển, đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường, bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hàng năm
6 Ưu đãi cho các hoạt động bảo vệ môi trường: đất đai, thuế, tài chính…
7 Đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu, áp dụng và chuyển giao công nghệ
về bảo vệ môi trường, hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường
8 Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế: thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về môi trường và khuyến khích tổ chức, cá nhân hợp tác quốc tế về bảo
vệ môi trường
9 Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường, tăng cường và nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi trường [9]
I.2.2 Các nội dung quản lý môi trường:
Các nội dung của công tác quản lý môi trường tại Việt Nam được Bộ tài nguyên và Môi trường quy định:
- Nước sạch và vệ sinh môi trường
- Quản lý môi trường đô thị
- Quản lý môi trường đất ngập nước
Trang 17- Quản lý môi trường các điểm du lịch
- Quản lý chất thải rắn
- Quản lý chất thải nguy hại
- Quản lý hóa chất bảo vệ thực vật
- Kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm
- Bảo vệ đa dạng sinh học
- Quản lý môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi
- Kiểm soát tác động môi trường của các dự án nhỏ do cấp cơ sở cấp phép
- Quản lý môi trường các cơ sở nuôi thủy sản
- Quản lý môi trường đối với các cơ sở chế biến, buôn bán thủy sản
- Quản lý môi trường các làng nghề thủ công
- Quản lý môi trường các hoạt động tận thu khoáng sản
- Quản lý môi trường với lò giết mổ gia súc
- Quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở hành nghề y tế tư nhân
- Quản lý môi trường tại những nơi ở không chính thức trong đô thị
- Quản lý môi trường trong và sau thiên tai
- Quản lý môi trường ở các khu vực tiền đô thị
- Hoạt động bảo vệ môi trường tại nơi công cộng
- Hoạt động bảo vệ môi trường tại nhà
- Quản lý môi trường các dự án di dân nội bộ
- Lồng ghép vấn đề dân số vào chính sách môi trường và phát triển của địa phương
- Lồng ghép mục tiêu giới vào các dự án phát triển
- Bảo vệ đa dạng văn hóa
- Tổ chức sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường
- Kế hoạch hóa công tác bảo vệ môi trường
- Thực hiện và điều hành công tác bảo vệ môi trường
Trang 18- Giáo dục môi trường
- Truyền thông môi trường
- Hòa giải các tranh chấp môi trường.[7]
I.2.3 Công cụ quản lý môi trường tại Việt Nam:
I.2.3.1 Các công cụ pháp lý:
Một số văn bản pháp lý trong công tác quản lý môi trường đã được ban hành:
- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nghị quyết số 27NQ-CP về một số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg Ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Nghị định số 81/2007/NĐ-CP ngày 23/5/2007 của Chính phủ về quy định
tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường tại cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước
- Thông tư liên tịch số 45/2010/TTLT-BTC-TNMT ngày 30/03/2010 của Liên tịch Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và môi trường về hướng dẫn việc quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường
- Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT ngày 06/09/2007 của Liên tịch Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và môi trường về sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-TNMT ngày 18/12/2003 của liên Bộ Tài chính -
Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.[7]
Thông tư liên tịch 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ban hành ngày 15/7/2003
Trang 19Chỉ thị 17/2008/CT-TTg Về một số giải pháp cấp bách đẩy mạnh công tác
xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ
Chỉ thị số 24/2008/CT-TTg về việc tăng cường công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong thời kỳ hội nhập
I.2.3.2 Các công cụ kinh tế
Quan điểm về áp dụng công cụ kinh tế (CCKT) trong quản lý môi trường đã được nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng và thể chế hóa trong Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản dưới luật Đặc biệt là, ngày 02 tháng 12 năm 2009, Ban cán
sự Đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Nghị quyết số BCSĐBTNMT về việc tăng cường chủ trương kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường
27/NQ Thuế và phí môi trường
Thuật ngữ thuế và phí môi trường thường được sử dụng để chỉ khoản thu với hai mục đích: Tạo động lực giảm phát thải ô nhiễm và tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Có hai loại thuế/phí môi trường chính: Thuế đánh vào đơn vị ô nhiễm xả thải ra môi trường (thuế Pigovian), và thuế nguyên liệu/sản phẩm (hay còn gọi là thuế gián tiếp)
Hiện tại ở Việt Nam, loại thuế/phí đánh vào đơn vị ô nhiễm xả thải ra môi trường đang được áp dụng dưới hình thức phí BVMT đối với nước thải, đối với chất thải rắn và khai thác khoáng sản
Phí BVMT đối với nước thải được quy định tại Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 Tuy nhiên, sau hơn 6 năm thực hiện, phí BVMT đối với nước thải vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập Các cơ quan quản lý còn lúng túng trong cách thu và tính phí Các doanh nghiệp còn tìm cách trốn tránh và nợ phí Kết quả là tỷ lệ thu phí nước thải công nghiệp còn thấp Phí BVMT đối với chất thải rắn thông thường
và chất thải rắn nguy hại được quy định trong nghị định 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 Ngoài ra, phí vệ sinh được áp dụng 2003 theo quy định tại Thông tư số 71/2003/TT-BTC ngày 30/7/2003 của Bộ Tài chính Tuy nhiên, khoản thu từ các
Trang 20khoản phí này không đủ bù đắp chi phí thu gom, xử lý chất thải rắn Ngoài ra, các văn bản hiện tại không quy định rõ trách nhiệm thu phí của các đơn vị, tổ chức nên việc thu phí ở các địa phương còn gặp nhiều khó khăn
Phí BVMT đối với khai thác khoáng sản được thực hiện theo Nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 của Chính phủ Tuy nhiên, việc thu phí còn gặp nhiều khó khăn do đối tượng phải nộp phí chưa tự giác thực hiện nghĩa vụ này Còn tình trạng doanh nghiệp kê khai sản lượng khai thác thấp hơn thực tế để giảm số phí phải nộp
Ngoài ba loại phí thuộc nhóm thuế/phí nêu trên còn có Luật Thuế BVMT mới được thông qua và sẽ có hiệu lực từ tháng 7/2011 Đây là quy định thuế đánh vào nguyên liệu/sản phẩm, bao gồm 8 nhóm sản phẩm: xăng dầu, than, môi chất làm sạch chứa HCFC, túi nhựa xốp (túi nilon) và nhóm hạn chế sử dụng như: thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ mối và thuốc khử trùng kho Một điểm đáng lưu ý là thuế BVMT được định nghĩa là “loại thuế giãn thu, thu vào một số sản phẩm, hàng hóa gây tác động xấu đến môi trường” Định nghĩa này là định nghĩa hẹp của thuế BVMT vì mới đề cập đến loại thuế nguyên liệu/sản phẩm chứ chưa bao hàm loại thuế đánh vào đơn vị ô nhiễm xả thải ra môi trường Ưu điểm của việc
áp dụng thuế BVMT đối với nguyên liệu/sản phẩm là dễ tính toán và dễ áp dụng Nhược điểm, loại thuế này chỉ khuyến khích gây ô nhiễm mà không khuyến khích đầu tư xử lý ô nhiễm trong quá trình sản xuất ra sản phẩm đó Vì vậy, tác động giảm
ô nhiễm của loại thuế này chỉ là tác động gián tiếp (thông qua việc sản xuất ít đi) chứ không phải tác động trực tiếp vào quá trình phát thải ô nhiễm Đối với những hàng hóa thuộc loại xa xỉ thì loại thuế này có tác dụng nhiều trong việc hạn chế ô nhiễm (thông qua hạn chế tiêu dùng/sản xuất) nhưng với hàng hóa thiết yếu thì loại thuế này ít có tác dụng giảm ô nhiễm
- Ký quỹ trong hoạt động khai thác khoáng sản theo Quyết định số
71/2008/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ Ký quỹ môi trường đã đem lại những kết quả bước đầu đáng khích lệ trong công tác kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động khai thác khoáng sản Tuy nhiên, việc áp dụng công cụ này trên
Trang 21thực tế chỉ mới dừng lại các dự án quy mô nhỏ hoặc còn ở giai đoạn thử nghiệm do công thức dự toán chi phí cải tạo, phục hồi môi trường, chưa cụ thể, khó thực hiện
Cơ chế hỗ trợ tài chính cho các các hoạt động BVMT được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/1/2009 Ngoài ra, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có những điều khoản ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ, thiết bị và công nghệ môi trường Mặc dù đã có cơ chế hỗ trợ tài chính song chưa có nhiều doanh nghiệp tham gia các hoạt động này vì nhu cầu đầu tư cho môi trường chưa cao Nói cách khác, "cầu" cho hoạt động BVMT chưa đủ cao để kích thích các hoạt động
"cung"
- Quỹ Môi trường đã được hình thành nhằm hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp
đầu tư BVMT như: Quỹ Môi trường cấp quốc gia (Quỹ BVMT Việt Nam, Quỹ Bảo tồn Việt Nam), Quỹ BVMT các tỉnh/TP, Quỹ Môi trường ngành Sau một thời gian hoạt động, các quỹ môi trường đã góp phần đưa nguồn vốn của Nhà nước để thực hiện dự án môi trường hiệu quả; bước đầu huy động được một phần nguồn lực từ trong và ngoài nước cho các hoạt động BVMT Tuy nhiên các quỹ này chưa phát huy hết hiệu quả do nguồn vốn chưa đủ, các doanh nghiệp chưa có nhiều thông tin
về các thủ tục vay cũng như chưa có áp lực cần vay vốn đầu tư BVMT
Công cụ công khai hóa thông tin hoạt động môi trường của doanh nghiệp nhằm tạo áp lực từ cộng đồng và người tiêu dùng đến việc doanh nghiệp tuân thủ các qui định môi trường cũng đã được áp dụng nhưng mới chỉ ở quy mô nhỏ trong khuôn khổ một số dự án thử nghiệm tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bắc Ninh và Quảng Nam Chương trình cấp Nhãn sinh thái đã được Bộ TN&MT phê duyệt năm
2009 nhằm khuyến khích các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thân thiện với môi trường Đặt cọc hoàn trả, mặc dù chưa có quy định của nhà nước nhưng cũng đã được áp dụng có tính tự phát ở một số lĩnh vực như đặt cọc vỏ chai
Có thể nói một số lượng đáng kể các công cụ kinh tế trong quản lý ô nhiễm
đã được triển khai ở Việt Nam Tuy nhiên, hiệu quả của các công cụ này còn chưa
Trang 22được như mong đợi do các quy định còn bất cập, năng lực thực hiện còn hạn chế đặc biệt là các chế tài chưa đủ mạnh để tạo động lực tuân thủ các quy định này
- Thuế tài nguyên: Pháp lệnh Thuế Tài nguyên ra đời ngày 30/3/1990 và
được sửa đổi năm 1998 Ngày 25/11/2009, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế tài nguyên Trong Luật thuế Tài nguyên, các nhóm đối tượng chịu thuế có liên quan đến ĐDSH bao gồm: các sản phẩm của rừng tự nhiên (thực vật và các loại sản phẩm khác của rừng tự nhiên trừ động vật); hải sản tự nhiên (gồm các loại động vật và thực vật ở biển) và yến sào thiên nhiên Thống kê cho thấy, số tiền thu thuế tài nguyên theo Pháp lệnh Thuế Tài nguyên bình quân trong giai đoạn 2005 - 2008, mỗi năm trên 23.200 tỷ đồng, chiếm khoảng 15% tổng thu ngân sách nhà nước
- Chi trả cho dịch vụ môi trường (PES) cho phép những người tạo và duy trì
các dịch vụ sinh thái được nhận những khoản chi trả từ những người sử dụng dịch
vụ PES đã được thực hiện tại một số nước Nam Mỹ, Inđônêxia, Philippin, Trung Quốc, Ấn Độ và Nepal Tại Việt Nam, đã bắt đầu triển khai thử nghiệm chi trả dịch
vụ môi trường rừng theo Quyết định số 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/4/2008 về Chính sách thử nghiệm chi trả dịch vụ môi trường rừng và gần đây là Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ngày 24/9/2010
- Nhãn sinh thái: Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam
phải hội nhập và tuân thủ những giá trị kinh doanh chung của thế giới, trong đó có các giá trị về BVMT Các ngành tiêu biểu gồm, lâm sản xuất khẩu và thủy sản
Một số công cụ có thể áp dụng trong thời gian tới
Ngoài việc tiếp tục rà soát, chỉnh sửa nhằm nâng cao hiệu quả của các công
cụ kinh tế ở trên, trong thời gian tới có thể nghiên cứu áp dụng một số công cụ kinh
tế khác sau đây
- Giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng (tradable permits): kiểm soát
mức độ phát thải qua việc xác định tổng số giấy phép hoặc hạn ngạch thích ứng với khả năng tiêu huỷ chất thải của môi trường Các chủ nguồn thải có thể trao đổi hạn ngạch phát thải sao cho chi phí phát thải ở mức thấp nhất Công cụ này có tiềm
Trang 23năng áp dụng cho những khu vực các nguồn ô nhiễm và phạm vi tác động tương đối
dễ xác định, ví dụ như các khu công nghiệp
- Phí BVMT với khí thải: tương tự như phí BVMT đối với nước thải, loại phí
này đánh vào các đơn vị gây ô nhiễm trong khí thải như bụi, NOx, SOx, vì vậy tạo động lực làm giảm phát thải các chất ô nhiễm vào không khí Cần lưu ý là loại phí này sẽ tương đối khó áp dụng vì quan trắc các thông số ô nhiễm là công việc phức tạp Ngoài ra, cũng không dễ xác định đối tượng phát thải Kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc xác định phí khí thải căn cứ nguyên liệu đầu vào thường thuận lợi hơn phương án xác định dựa vào việc đo kiểm đầu ra
- Bồi thường thiệt hại môi trường: trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi
trường tạo động lực để đối tượng gây ô nhiễm điều chỉnh hành vi để phòng tránh việc phải chi trả tiền bồi thường thiệt hại và trong một số trường hợp là trách nhiệm hình sự do hành vi ô nhiễm gây thiệt hại môi trường nghiêm trọng Hiện tại Bộ TN&MT đang thực hiện một số nghiên cứu nhằm ban hành hướng dẫn cho công tác bồi thường thiệt hại môi trường
Với lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học, phí có thể khuyến khích việc tiêu dùng bền vững và cung cấp nguồn tài chính cho các hoạt động bảo tồn Các loại phí phù hợp phụ thuộc vào bản chất của khu vực cần bảo tồn Đối với các khu bảo tồn, phí có thể dưới hình thức phí vào cửa Để bảo vệ ĐDSH trong nông nghiệp, có thể
áp dụng phí tính trên đơn vị thuốc trừ sâu và phân bón
- Hỗ trợ tín dụng là những khoản vay ưu đối với mức lãi suất thấp để hỗ trợ
các hoạt động bảo tồn của cá nhân và cộng đồng, có thể áp dụng cho du lịch sinh thái, sản xuất nông sản hữu cơ, khai thác bền vững rừng, bảo vệ các giống loài có nguy cơ tuyệt chủng
- Quyền phát triển có thể mua bán trao đổi (tradable development rights) là
những quyền được trao cho người sở hữu đất nằm trong vùng cần bảo tồn ĐDSH Những quyền này có thể được bán lại cho những nhà đầu tư dự định đầu tư cho các
dự án phát triển ở các khu đất khác nhưng theo yêu cầu của pháp luật phải có được một số lượng nhất định các giấy phép bảo tồn thì mới được tiến hành các hoạt động
Trang 24đầu tư Kết quả là các nhà đầu tư cần tìm mua giấy phép này từ những người thực hiện các hoạt động bảo tồn
- Cơ chế phát triển xanh (Green Development Mechanism) là một hình thức
đang được các nhà khoa học quốc tế nghiên cứu và đề xuất Cơ chế phát triển xanh
sẽ tạo lập thị trường trao đổi các hạn ngạch các hoạt động phát triển kinh tế có ảnh hưởng đến ĐDSH Theo đó, sẽ có một số lượng hạn ngạch các hoạt động phát triển nhất định được đặt ra cho một khu vực hoặc toàn cầu Nếu quốc gia nào muốn phát triển kinh tế quá hạn mức này sẽ phải mua lại quyền của các quốc gia khác Thông qua việc tạo lập thị trường này, ĐDSH sẽ được gắn một “giá cả” như một loại hàng hóa và nhờ vậy sẽ được gìn giữ và bảo tồn tốt hơn Khái niệm này gần giống với Quyền phát triển có thể mua bán trao đổi song khác ở chỗ phạm vi áp dụng ở quy
mô rộng hơn: khu vực và toàn cầu
I.2.3.3 Các công cụ kỹ thuật
Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, minitoring môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào
I.2.3.4 Cơ quan giám sát và thực thi:
- Với các vi phạm trong lĩnh vực hành chính, cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và thực thi là Thanh tra Tài nguyên và Môi trường (theo Nghị định số 35/2009/NĐ-CP ngày 07/04/2009 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thanh tra Tài nguyên và Môi trường)
- Với tội phạm và các vi phạm pháp luật khác về bảo vệ môi trường, cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và thực thi là Cảnh sát môi trường (theo Nghị định số 72/2010/NĐ-CP ngày 08/7/2010 của Chính phủ quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường
Trang 25I.2.4 Phân cấp quản lý môi trường tại Việt Nam:
Từ khi ra đời đến nay, nước ta đều lấy cấp xã làm đơn vị hành chính lãnh thổ nhỏ nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp:
sự phân công và chỉ đạo của chính quyền cấp huyện, cấp xã là nơi gần dân nhất, là cầu nối giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân, mọi hoạt động của các cơ quan cấp
xã đều liên quan trực tiếp đến nhân dân Xã hội hóa bảo vệ môi trường cũng như các mặt hoạt động khác đều liên quan trực tiếp với chính quyền cấp cơ sở Để công tác quản lý môi trường được nâng cao thì cần chú trọng đến việc kiện toàn và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thực thi các nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường tại cấp cơ sở Tổ chức công tác quản lý nhà nước về BVMT như sau:
Hình 1 : Tổ chức công tác quản lý nhà nước về BVMT
Trang 26Thông tư liên tịch 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ban hành ngày 15/7/2003 đã quy định rõ:
“Cán bộ địa chính cấp xã giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước
về tài nguyên và môi trường trong phạm vi xã, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra
về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường và cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường”
Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ địa chính xã liên quan tới bảo vệ môi trường:
- Tham gia hòa giải, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về tài nguyên và môi trường theo quy định của pháp luật, phát hiện các trường hợp vi phạm pháp luật về quản lý tài nguyên và môi trường, kiến nghị với Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan có thẩm quyền xử lý;
- Tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường; tổ chức các hoạt động vệ sinh môi trường trên địa bàn;
- Báo cáo định kỳ và đột xuất tình hình về các lĩnh vực công tác được giao cho UBND cấp huyện và cơ quan chuyên môn giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
Mặc dù cán bộ địa chính cấp xã thuộc biên chế của UBND cấp xã nhưng về mặt chuyên môn thì chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của Sở Tài nguyên và Môi trường và của UBND cấp huyện quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường Nhiệm vụ về môi trường được cơ quan quản lý môi trường cấp huyện hướng dẫn cụ thể [7]
I.3 Tổng quan công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong CAND: I.3.1 Các khái niệm dùng trong quản lý môi trường trong CAND:
1 Nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường: Là các nhiệm vụ, dự án sử dụng nguồn
kinh phí chi sự nghiệp môi trường do Bộ Công an quản lý, được xây dựng với các nội
Trang 27dung cụ thể như tên, mục tiêu, nội dung, dự kiến sản phẩm, kinh phí và thời gian thực hiện
Nhiệm vụ bảo vệ môi trường bao gồm:
- Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT trong ngành Công an
- Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về BVMT, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về BVMT trong ngành Công an
- Thực hiện phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường quốc gia, xử lý ô nhiễm môi trường do thiên tai cho những đơn vị bị ảnh hưởng
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho CBCS về môi trường; tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ về bảo vệ môi trường
- Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện, tuân thủ các qui định pháp luật về bảo vệ môi trường
- Thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, xác định cam kết bảo vệ môi trường
Dự án bảo vệ môi trường là những dự án hỗ trợ xử lý nước thải, khí thải, chất thải, nâng cấp cải tạo môi trường cho Công an các đơn vị, địa phương
2 Kế hoạch bảo vệ môi trường: l
Tập hợp các nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường nhằm giải quyết một hoặc một
số vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ môi trường ngành Công an trong khoảng thời gian xác định
3 Cơ quan quản lý: là Cục quản lý khoa học công nghệ và Môi trường - Bộ
Công an
4 Cơ quan quyết định đầu tư: là Tổng cục Hậu cầnv- Kỹ thuật - Bộ Công an
5 Cơ quan chủ trì: là Công an các đơn vị, địa phương được giao thực hiện
nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường [1]
I.3.2 Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của quản lý môi trường trong CAND:
Chương trình hành động bảo vệ môi trường trong Công an nhân dân giai đoạn 2006-2010 do Bộ Công an ban hành theo Quyết định số 1869/2005/QĐ-
Trang 28BCA(E11) ngày 19/12/2005 nêu rõ, mục tiêu của công tác bảo vệ môi trường trong Công an nhân dân là:
- Đấu tranh phòng, chống có hiệu quả các loại tội phạm và các vi phạm pháp luật về BVMT
- Nắm tình hình, diễn biến an ninh môi trường thế giới, khu vực tác động gây mất an ninh môi trường trong nước để kịp thời đề xuất những giải pháp đấu tranh phòng, chống có hiệu quả, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội
- Tiến hành các biện pháp quản lý, nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường trong các cơ sở, địa bàn thuộc phạm vi quản lý của Công an nhân dân.[1]
Đối với ngành Công an, Quy chế bảo vệ môi trường trong Công an nhân dân
do Bộ Công an ban hành theo Quyết định số 2044/2006/QĐ-BCA(E11) ngày 28/12/2006 nêu rõ, nguyên tắc cơ bản của công tác bảo vệ môi trường trong Công
an nhân dân là:
- BVMT là trách nhiệm, nghĩa vụ của đơn vị và cán bộ chiến sĩ CAND
- Kết hợp chặt chẽ giữa các hoạt động Công an với công tác BVMT, tích cực phòng ngừa, xử lý vi phạm và đấu tranh phòng chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác về môi trường
- Chủ động phòng ngừa, hạn chế tác động xấu ảnh hưởng đến môi trường, ứng cứu khắc phục sự cố, ô nhiễm, suy thoái môi trường và nâng cao chất lượng môi trường trong các hoạt động, công tác của ngành Công an [1]
I.3.3 Đặc điểm và nội dung quản lý môi trường trong CAND:
Trong Quy chế các hoạt động bảo vệ môi trường của ngành Công an, công tác quản lý nhà nước về BVMT trong CAND gồm 14 nội dung sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách, qui hoạch, kế hoạch, nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo qui định của pháp luật về BVMT và của Bộ trưởng Bộ Công an
Trang 29- Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản qui phạm pháp luật
về BVMT, tiêu chuẩn môi trường
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho cán bộ, chiến sĩ
- Tổ chức xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường của các cấp Công an
- Tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án, đơn vị,
cơ sở đang hoạt động theo qui định
- Tổ chức đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường
- Quản lý chất thải, quản lý hoạt động giám sát, quan trắc môi trường
- Tổ chức xây dựng, quản lý các công trình BVMT
- Quản lý các hoạt động ứng cứu, khắc phục ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường
- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ trong lĩnh vực BVMT
- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BVMT
- Nghiên cứu các giải pháp phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm
và các vi phạm pháp luật về BVMT
- Tổ chức và quản lý hoạt động hợp tác trong nước, ngoài nước về BVMT
- Hàng năm lập dự toán ngân sách về BVMT trong CAND [1]
I.3.4 Phân cấp quản lý môi trường và một số văn bản pháp lý trong công tác bảo
vệ môi trường ngành Công an:
Công tác quản lý nhà nước về BVMT được thực hiện theo nguyên tắc chỉ đạo tập trung, thống nhất và phân cấp quản lý Tổ chức bộ máy làm công tác quản
lý nhà nước về BVMT trong CAND như sau:
- Ở Bộ: có Phòng Quản lý môi trường thuộc Cục quản lý Khoa học công nghệ và Môi trường - Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật
Trang 30- Đối với Công an các tỉnh, thành phố, Bệnh viện, Trại giam, Cơ sở giáo dục, Trường giáo dưỡng, Cơ sở sản xuất bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác bảo vệ môi trường thuộc Phòng Hậu cần - Kỹ thuật
Như vậy, đội ngũ cán bộ chiến sĩ làm công tác quản lý môi trường trong Công an nhân dân mới chỉ có 2 cấp và hiện nay phần lớn số cán bộ này cũng đang kiêm nhiệm công tác môi trường chứ chưa có cán bộ chuyên trách về quản lý môi trường trong đơn vị [1]
Một số văn bản pháp lý trong công tác bảo vệ môi trường ngành Công an:
- Quyết định số 1869/2005/QĐ-BCA(E11) ngày 19/12/2005 của Bộ trưởng
Bộ Công an về ban hành Chương trình hành động bảo vệ môi trường của Công an nhân dân giai đoạn 2006 - 2010
- Quyết định số 2044/2006/QĐ-BCA(E11) ngày 28/12/2006 của Bộ trưởng
Bộ Công an ban hành “Quy chế bảo vệ môi trường trong Công an nhân dân”
- Thông tư số 29/2007/TT-BCA(E11) ngày 07/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Công an về hướng dẫn kiểm tra, thanh tra công tác bảo vệ môi trường trong Công
an nhân dân
- Thông tư số 15/2011/TT-BCA(H11) ngày 18/06/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường trong Công an nhân dân [1]
I.3.5 Một số khó khăn có tính đặc thù của công tác quản lý môi trường trong CAND:
Thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về tăng cường công tác Bảo vệ môi trường thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện Quyết định số 1869/2005/QĐ-BCA(E11) ngày 19/12/2005 của Bộ Công an về ban hành Chương trình hành động bảo vệ môi trường của Công an nhân dân giai đoạn 2006 - 2010, công tác bảo vệ môi trường trong CAND đã có những chuyển biến tích cực Trong 10 năm triển khai công tác
Trang 31bảo vệ môi trường trong CAND, thực tế đã cho thấy còn nhiều khó khăn bất cập trong quá trình thực hiện nhiệm vụ này, cụ thể như sau:
- Hệ thống văn bản pháp quy, cơ chế, chính sách về Bảo vệ môi trường trong Công an nhân dân còn nhiều thiếu sót cần sửa đổi, bổ sung và từng bước hoàn thiện
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong CAND vẫn chưa hoàn thiện từ trung ương đến địa phương
- Môi trường chung đang thoái hóa xuống cấp nhanh chóng, có lúc có nơi đáng báo động, chất lượng đất đai, nước mặt và nước ngầm cũng như không khí ở nhiều khu vực bị ô nhiễm nặng gây ảnh hưởng đến công tác và chiến đấu của lực lượng CAND
- Công tác tuyên truyền, giáo dục về nhận thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng nói chung, trong lực lượng CAND nói riêng còn nhiều bất cập chưa thực sự phát huy hiệu quả sâu rộng
- Công tác nghiên cứu khoa học ứng dụng trong giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi trường và ứng phó với sự cố môi trường còn nhiều hạn chế
Một số nguyên tắc có tính đặc thù của ngành Công an có liên quan đến công tác xây dựng và triển khai kế hoạch bảo vệ môi trường:
- Tính trực chiến: Với trách nhiệm đảm bảo an ninh trật tự, CAND có cơ cấu tổ
chức đến cấp xã, phường, phạm vi hoạt động trên toàn lãnh thổ Hệ thống tổ chức Công
an các cấp nhất là ở cơ sở cùng với chức năng đảm bảo an ninh trật tự còn có tiềm năng đóng góp to lớn vào công cuộc bảo vệ tài nguyên và môi trường của đất nước Bên cạnh các hoạt động chung để giữ gìn và bảo vệ môi trường trong ngành, với đặc thù là lực lượng chiến đấu, CAND còn là lực lượng tại chỗ, sẵn sàng có mặt trước, trong và ngay sau khi thiên tai, sự cố môi trường xảy ra, tại bất cứ đâu, vào bất cứ thời điểm nào, sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo đảm ANTT và tham gia cứu nạn, cứu hộ, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường Điều này yêu cầu công tác quản
lý môi trường trong CAND luôn phải sẵn sàng lực lượng, phương tiện, trang thiết bị để thực hiện nhiệm vụ được giao
Trang 32- Tính đột xuất: Với trách nhiệm đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội,
hàng năm Bộ Công an đều phải tiếp nhận, quản lý, cải tạo một lượng lớn can phạm nhân tại các cơ sở giam giữ của ngành Trong các hệ thống trại giam và trại tạm giam thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công an đóng trên địa bàn các tỉnh, thành phố cả nước thường nằm cách xa trung tâm tỉnh, thành phố, nhiều trại ở vùng sâu, vùng xa là nơi tập trung đông người, bao gồm phạm nhân và CBCS làm nhiệm vụ quản lý trại giam Số lượng can phạm nhân có thể đột xuất vượt quá mức quy mô giam giữ của các cơ sở Nhiều phạm nhân vào trại mang theo các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy , các loại bệnh nguy hiểm dễ lây lan như HIV/AIDS, lao phổi, viêm gan siêu vi trùng Do đó môi trường trong các đơn vị này có nhiều vấn đề phát sinh đáng lo ngại như: thiếu nước sinh hoạt, nước không đảm bảo vệ sinh, rác thải y tế và rác thải sinh hoạt tăng cả
về lượng và mức độ nguy hại Điều này đòi hỏi công tác quản lý môi trường trong CAND phải có kế hoạch bố trí kinh phí và phương án hỗ trợ kịp thời khi có yêu cầu
- Tính bảo mật: Do tính chất đặc thù của Ngành đối với yêu cầu bảo mật, Luật
BVMT quy định: Công an, Quân đội chịu trách nhiệm tổ chức lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường đối với dự án; tổ chức lập, thẩm định đề án BVMT đối với các cơ sở đã đi vào hoạt động; công tác kiểm tra bảo vệ môi trường với các đơn vị trong ngành đòi hỏi ngành Công an phải nhanh chóng tăng cường năng lực quản lý môi trường đáp ứng yêu cầu công tác BVMT trong ngành, phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng, chống các vi phạm pháp luật về BVMT
- Nguyên tắc chỉ đạo tập trung, thống nhất: Theo quy định của Ngành, công tác
quản lý môi trường cũng như các mặt công tác khác của ngành đều phải tuân thủ nguyên tắc cấp dưới phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của cấp trên, triển khai thống nhất
từ cấp trung ương đến địa phương do đó trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cần có quy trình triển khai cụ thể, rõ ràng và được thống nhất thực hiện trong toàn lực lượng
- Tính nhạy cảm về chính trị: Xuất phát từ trách nhiệm đảm bảo an ninh chính
trị và trật tự xã hội của ngành Công an, trong phạm vi quản lý của ngành Công an có khối các cơ sở giam giữ mang tính đặc thù nhạy cảm về chính trị Các thế lực thù địch trong và ngoài nước không ngừng lợi dụng để thổi phồng, xuyên tạc, vu cáo chế độ ta
Trang 33vi phạm nhân quyền, không đảm bảo môi trường giam giữ, cải tạo cho can phạm nhân trong các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ Điều này gây rất nhiều khó khăn trong công tác khảo sát đơn vị ô nhiễm nghiêm trọng, xác định các điểm môi trường xuống cấp, chi phối nhiều đến công tác lập và triển khai kế hoạch BVMT trong ngành Điều này đòi hỏi công tác quản lý càng phải quan tâm hơn trong đề xuất nhiệm vụ, dự án và triển khai nhiệm vụ, dự án trong nhóm các cơ sở cải tạo, giam giữ
Trang 34CHƯƠNG II QUY TRÌNH QUẢN LÝ NHIỆM VỤ VÀ DỰ ÁN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Tại chương I, luận văn đã đề cập đến những vấn đề chung về công tác quản
lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại Việt Nam nói chung và trong ngành Công an nói riêng như mục tiêu, nguyên tắc chung của công tác quản lý môi trường, các chính sách của nhà nước về công tác bảo vệ môi trường, nội dung và các công cụ quản lý môi trường trong đó đặc biệt nhấn mạnh các nguyên tắc có tính đặc thù có liên quan đến công tác quản lý các nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường chỉ có trong ngành Công an
Để tiếp tục làm rõ những vấn đề cần quan tâm trong công tác quản lý các nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong ngành Công an, chương II sẽ giới thiệu một số quy trình quản lý nhiệm vụ bảo vệ môi trường và so sánh, đối chiếu với quy trình quản lý tương ứng đang áp dụng tại Bộ Công an, từ đó chỉ ra những bất cập đang tồn tại và nguyên nhân của những bất cập đó
Trong các nội dung của công tác quản lý các nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong ngành Công an, có 02 nội dung trọng yếu và được tập trung nghiên cứu trong luận văn này, đó là công tác xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường hàng năm và công tác triển khai các nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường trong kế hoạch Với mong muốn làm rõ thực trạng công tác xây dựng kế hoạch và triển khai các nhiệm
vụ bảo vệ môi trường trong ngành Công an, Chương II gồm 2 phần sẽ lần lượt nghiên cứu từng quy trình thực hiện 02 nội dung đã đề cập trên
II.1 Quy trình Xây dựng Kế hoạch BVMT:
Xây dựng kế hoạch hàng năm là nhiệm vụ quan trọng và khởi đầu cho tất cả các nhiệm vụ tiếp theo của năm Chất lượng của kế hoạch sẽ góp phần quyết định đến sự thành công của chương trình công tác trong toàn đơn vị nói chung Để xây dựng kế hoạch một cách khoa học, hiệu quả cần có một quy trình thực hiện cụ thể, hợp lý cho nhiệm vụ này
Trang 35II.1.1 Quy trình cơ bản xây dựng kế hoạch:
Quy trình cơ bản xây dựng một kế hoạch như sau:
Hình 2: Quy trình cơ bản xây dựng một kế hoạch
Quy trình cơ bản xây dựng một kế hoạch gồm có 4 bước và được biểu diễn theo một chu trình khép kín:
Bước 1: Đề xuất nội dung kế hoạch:
Cơ quan xây dựng kế hoạch căn cứ các yêu cầu đề ra trong hướng dẫn xây dựng kế hoạch, các mục tiêu, yêu cầu của công tác, chiến lược, kế hoạch, quy hoạch dài hạn của đơn vị và thời gian thực hiện để lập danh mục các nhiệm vụ phù hợp đưa vào khung kế hoạch
Bước 2: Xây dựng kế hoạch:
Căn cứ danh mục các nhiệm vụ đã được lập, xây dựng khung kế hoạch với các tiêu chí: nội dung thực hiện, cá nhân/tổ chức chủ trì thực hiện, kinh phí thực hiện, thời gian bắt đầu/thời gian hoàn thành, cơ quan/tổ chức phối hợp thực hiện
Đề xuất nội dung
kế hoạch
Xây dựng khung
kế hoạch
Tổng hợp các nội dung, trình phê duyệt
Kiểm tra, thẩm định, đối chiếu
Trang 36Bước 3: Kiểm tra, thẩm định, đối chiếu các quy định:
Để kế hoạch đạt yêu cầu đề ra, bắt buộc các quy trình đều phải thực hiện bước thẩm định, kiểm tra, đối chiếu với các mục tiêu ban đầu Có thể thực hiện quá trình phân loại nhiệm vụ ngay từ bước này trước khi chính thức đưa vào kế hoạch Nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết sẽ được ưu tiên đưa vào kế hoạch trước, sau đó sẽ đến các nhiệm vụ tiếp theo Tổ chức thẩm định nội dung và kinh phí của các nhiệm
vụ đề xuất trước khi chính thức đưa vào kế hoạch trình duyệt
Bước 4: Tổng hợp các nội dung, trình phê duyệt:
Xây dựng kế hoạch hoàn chỉnh trên cơ sở lựa chọn các nhiệm vụ đã kiểm tra, thẩm định, phân loại từ bước 3 Kế hoạch sau phê duyệt được đưa vào thực hiện, các nhiệm vụ còn lại chưa được đưa vào kế hoạch năm hiện tại sẽ tiếp tục quay lại bước 1 để thực hiện chu trình cho kế hoạch năm tiếp theo
Trên cơ sở quy trình cơ bản đã nêu, hiện nay, có rất nhiều Bộ, ngành đã ban hành các quy định về sử dụng nguồn kinh phí chi sự nghiệp môi trường cũng như quy định về công tác quản lý các nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi trường như: Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài nguyên Môi trường
Tác giả đề xuất chọn 02 đơn vị: Bộ Công thương và Bộ Giao thông vận tải
để nghiên cứu các quy trình quản lý nhiệm vụ, dự án BVMT và đối chiếu với quy trình quản lý nhiệm vụ, dự án BVMT trong Bộ Công an Các nhiệm vụ, dự án bảo
vệ môi trường của các Bộ, ngành này đều sử dụng một nguồn kinh phí duy nhất là ngân sách nhà nước chi sự nghiệp môi trường do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý, do đó cùng tuân theo một hệ thống văn bản pháp quy trong xây dựng kế hoạch và triển khai các nhiệm vụ, dự án BVMT
Trang 37II.1.2 Quy trình Xây dựng Kế hoạch BVMT của Bộ Giao thông vận tải:
Quy trình Xây dựng Kế hoạch BVMT của Bộ Giao thông vận tải gồm 04 bước, được thể hiện ở hình 3 dưới đây:
Hình 3: Quy trình xây dựng kế hoạch BVMT của Bộ Giao thông vận tải
Quy trình có các bước cụ thể như sau:
Bước 1: Đăng ký nhiệm vụ môi trường:
Hàng năm, Bộ Giao thông vận tải căn cứ vào chương trình, kế hoạch và yêu cầu phục vụ công tác quản lý nhà nước sẽ ban hành văn bản hướng dẫn để các tổ chức tiến hành đăng ký nhiệm vụ bảo vệ môi trường Các đơn vị có nhiệm vụ sẽ tiến hành gửi phiếu đề xuất về cơ quan quản lý trước ngày 15 tháng 5 của năm trước năm kế hoạch
Bước 2: Xây dựng Kế hoạch:
- Thành lập Hội đồng tư vấn tuyển chọn nhiệm vụ môi trường
- Tổng hợp các nhiệm vụ, trình Hội đồng xem xét cho ý kiến
- Tổng hợp các ý kiến của Hội đồng trình Lãnh đạo Bộ phê duyệt danh mục nhiệm vụ bảo vệ môi trường cần thực hiện trong năm kế hoạch
- Thời gian quy định hoàn thành trước ngày 31 tháng 5 của năm trước năm
kế hoạch
Đăng ký nhiệm vụ môi trường
Xây dựng kế hoạch
Thẩm định thuyết minh đề cương, dự toán nhiệm vụ
Tổng hợp kế hoạch ngân sách
Trang 38Bước 3: Lập, thẩm định thuyết minh đề cương, dự toán nhiệm vụ môi trường
- Căn cứ danh mục nhiệm vụ môi trường đã được phê duyệt, cơ quan quản lý thông báo để cơ quan chủ trì lập thuyết minh đề cương và dự toán chi tiết nhiệm vụ môi trường (đối với các nhiệm vụ trực tiếp, cơ quan quản lý chỉ lấy ý kiến của chuyên gia và tổ chức họp thẩm định nội bộ)
- Tổ chức Hội đồng thẩm định đề cương và dự toán chi tiết nhiệm vụ môi trường
- Cơ quan chủ trì xem xét ý kiến Hội đồng thẩm định để hoàn chỉnh thuyết minh đề cương và dự toán nhiệm vụ gửi về Bộ trước ngày 15 tháng 7 của năm trước năm kế hoạch
Bước 4: Tổng hợp kế hoạch ngân sách:
Cơ quan quản lý tổng hợp danh mục và dự toán các nhiệm vụ môi trường đã được thẩm định gửi cơ quan tài chính để dự kiến cân đối, trình Lãnh đạo Bộ ký gửi
Bộ Tài chính trước ngày 20 tháng 7 năm trước năm kế hoạch.[3]
II.1.3 Quy trình Xây dựng Kế hoạch BVMT của Bộ Công thương:
Quy trình Xây dựng Kế hoạch BVMT của Bộ Công thương gồm 04 bước được thể hiện ở hình 4 dưới đây:
Hình 4: Quy trình xây dựng kế hoạch BVMT của Bộ Công thương
Xây dựng danh mục nhiệm vụ môi trường
Xây dựng kế hoạch
Thẩm định thuyết minh đề cương, dự toán nhiệm vụ
Tổng hợp
kế hoạch ngân sách
Trang 39Quy trình với các bước cụ thể như sau:
Bước 1: Xây dựng danh mục nhiệm vụ môi trường
Bộ Công thương bắt đầu công tác thống kê nhiệm vụ vào tháng 1 hàng năm Căn cứ vào chương trình, kế hoạch và yêu cầu phục vụ công tác quản lý nhà nước của ngành, Bộ Công thương ban hành văn bản hướng dẫn để các đơn vị tiến hành đăng ký nhiệm vụ bảo vệ môi trường và gửi về cơ quan quản lý trước ngày 15 tháng
5 của năm trước năm kế hoạch
Do đặc thù ngành, Bộ Công thương còn có các nhiệm vụ đặt hàng, do đó ngoài văn bản hướng dẫn ban hành nội bộ còn có thông báo trên trang thông tin điện tử của Bộ và Báo Công thương để tuyển chọn đơn vị chủ trì thực hiện
Bước 2: Xây dựng Kế hoạch
Bộ Công thương không tổ chức Hội đồng tuyển chọn như Bộ GTVT mà cơ quan quản lý căn cứ các hồ sơ đề xuất nhiệm vụ và hồ sơ tham gia tuyển chọn nhiệm vụ đặt hàng sẽ tổ chức rà soát nội dung, sản phẩm dự kiến và xây dựng danh mục các nhiệm vụ bảo vệ môi trường
Bước 3: Thẩm định thuyết minh đề cương, dự toán nhiệm vụ môi trường
- Căn cứ danh mục nhiệm vụ môi trường đã xây dựng, cơ quan quản lý thành lập Hội đồng thẩm định thuyết minh đề cương và dự toán chi tiết nhiệm vụ môi trường
- Tổ chức Hội đồng thẩm định bằng hình thức cho ý kiến/chấm điểm
Bước 4: Tổng hợp kế hoạch ngân sách:
Căn cứ kết quả đánh giá, thẩm định của Hội đồng, Bộ Công thương tổng hợp
kế hoạch bảo vệ môi trường để gửi đến các Bộ ngành liên quan trước ngày 10 tháng
7 của năm trước năm kế hoạch [2]
Trang 40Nhận xét, đánh giá: Quy trình xây dựng kế hoạch BVMT của Bộ GTVT và Bộ
Công thương được so sánh như sau:
Bảng 1: So sánh quy trình xây dựng Kế hoạch BVMT của Bộ GTVT và BCT
- Quy trình của cả hai Bộ, ngành đều gồm 04 bước: Đăng ký nhiệm vụ
Xây dựng kế hoạch Thẩm định Tổng hợp kế hoạch ngân sách
- Thời gian hoàn thành kế hoạch trước tháng 7 năm trước năm kế hoạch
- Hội đồng thẩm định
Chỉ gồm 01 Hội đồng thẩm định
II.1.4 Quy trình xây dựng kế hoạch BVMT đang áp dụng tại Bộ Công an:
Quy trình xây dựng kế hoạch BVMT đang áp dụng tại Bộ Công an gồm 06 bước được thể hiện ở hình 5 dưới đây:
Hình 5 : Quy trình xây dựng kế hoạch BVMT đang áp dụng tại Bộ Công an
Tổng kết các nhiệm vụ
đã thực hiện
Hướng dẫn xây dựng kế
hoạch Tập hợp các ý kiến
Dự thảo kế hoạch
Xây dựng kế hoạch, trình phê duyệt
Các nhiệm vụ chưa đưa vào kế hoạch