Theo báo cáo của các tổ chức môi trường thế giới thì tính độc hại của nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp rác sinh hoạt là rất cao.Trong nước rác có nhiều thành phần gây độc như: ức chế, làm
Trang 1HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B i
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Trung tâm bồi dưỡng sau đại học đã đào tạo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình học tập nghiên cứu trong thời gian 2012 – 2015
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường, các bộ môn kỹ thuật môi trường đã tận tình giảng dạy và động viên tôi trong suốt quá trình học tập vừa qua
Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc của mình tới PGS.TS Đặng Xuân Hiển Thầy đã hết lòng hướng dẫn, góp ý và giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này Nhân đây tôi cũng xin được cảm ơn tập thể các anh, chị cán
bộ nhân viên phòng thí nghiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Phạm Thị Tuyết Nhung nhân viên phòng thí nghiệm đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm thí nghiệm và đo kết quả thí nghiệm trên máy AAS
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các bạn đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21 tháng 05 năm 2015
Học viên
Lê Thị Hiền
Trang 2HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ những nội dung và các số liệu trong luận văn này do tôi tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện
Hà Nội, ngày 21 tháng 05 năm 2015
Học viên
Lê Thị Hiền
Trang 3HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NƯỚC RÁC 2
1.1 Nguồn gốc, tính chất và thành phần nước rác 2
1.1.1 Nguồn gốc phát sinh nước rác 2
1.1.2 Tính chất nước rác 3
1.1.3 Thành phần nước rác 5
1.2 Tổng quan về đặc tính và thành phần nước rác trên thế giới và ở Việt Nam 8
1.2.1 Trên thế giới [8] 8
1.2.2 Ở Việt Nam 11
1.3 Tổng quan về phương pháp xử lý kim loại nặng trong nước 15
1.4 Cơ sở lý thuyết của phương pháp kết tủa hóa học 18
1.4.1 Lý thuyết về quá trình tạo thành kết tủa hóa học [2] 19
1.4.2 Cơ chế của phương pháp [2] 23
1.4.3 Qúa trình kết tủa [6] 24
1.4.3.1 Kết tủa dùng OH [6] 24
1.4.3.2 Kết tủa dùng Cacbonat [6] 25
1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình kết tủa 26
1.4.4.1 Ảnh hưởng của pH 26
1.4.4.2 Ảnh hưởng của thời gian phản ứng 26
1.4.4.3 Ảnh hưởng của liều lượng tác nhân 26
1.4.4.4 Ảnh hưởng của tốc độ lắc 26
Trang 5HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B v
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Mục đích nghiên cứu 28
2.2 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất sử dụng trong quá trình nghiên cứu 28
2.2.1 Thiết bị 28
2.2.2 Dụng cụ 28
2.2.3 Hóa chất 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu và trình tự tiến hành thí nghiệm 29
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.2 Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) 29
2.3.3.Xây dựng các đường chuẩn 32
2.3.4 Trình tự tiến hành thí nghiệm 36
3.1 Nồng độ các kim loại nặng có trong nước rác được tổng hợp từ các bãi rác nêu trên 39
3.2 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình kết tủa 39
3.2.1 Hiệu suất xử lý Cu 2+ 39
3.2.1.1 Ảnh hưởng của pH 39
3.2.1.2 Ảnh hưởng của lượng tác nhân kết tủa 41
3.2.1.3 Ảnh hưởng của thời gian lắc đến hiệu quả xử lý Cu 2+ 44
3.2.1.4 Ảnh hưởng của tốc độ lắc đến hiệu quả xử lý Cu 2+ 45
3.2.2 Hiệu suất xử lý Cd 2+ 46
3.2.2.1 Ảnh hưởng của pH đến hiệu quả xử lý Cd 2+ trong nước rỉ rác 46
3.2.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng tác nhân kết tủa 48
3.2.2.3 Ảnh hưởng của thời gian lắc 50
3.2.2.4 Ảnh hưởng của tốc độ lắc đến khả năng xử lý Cd 2+ trong nước rác 51 3.2.3 Hiệu suất xử lý Ni 2+ 52
3.2.3.1 Ảnh hưởng của pH 52
3.2.3.2 Khảo sát ảnh hưởng của liều lượng tác nhân 54
Trang 6HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B vi
3.2.3.3 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian phản ứng 56
3.2.3.4 Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ lắc 58
3.2.4 Hiệu suất xử lý Pb 2+ 60
3.2.4.1 Khảo sát ảnh hưởng của pH 60
3.2.4.2 Khảo sát ảnh hưởng của liều lượng tác nhân 62
3.2.4.3 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian lắc 64
3.2.4.4 Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ lắc 66
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 71
Trang 7HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các số liệu tiêu biểu về thành phần và tính chất nước rác từ các 6
bãi chôn lấp mới và lâu năm 6
Bảng 1.2 Thành phần nước rác của một số bãi rác ở Việt Nam [1] 7
Bảng 1.3 Thành phần nước rác ở Thái Lan 9
Bảng 1.4 Thành phần nước rác tại Trung Quốc 10
Bảng 1.5 Thành phần nước rác ở Malaysia 10
Bảng 1.6 Thành phần một số ion kim loại nặng trong nước rác của một số BCL ở Thành phố Hồ Chí Minh 11
Bảng 1.7 Thành phần một số ion kim loại nặng có trong nước rác ở BCL Đông Thạnh 12
Bảng 1.8 Hàm lượng kim loại nặng trong nước rác tại bãi chôn lấp Phước Hiệp 14
Bảng 1.9 Hàm lượng kim loại trong nước rác tại bãi rác Nam Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội 14 Bảng 1.10 Hàm lượng kim loại nặng vượt quá giới hạn cho phép của QCVN 40:2011/BTNMT 15
Bảng 1.11 : pH tại điểm bắt đầu kết tủa của các hyđroxit kim loại [6] 26
Bảng 2.1: Quan hệ độ hấp thụ với nồng độ Cu2+ 32
Bảng 2.2: Quan hệ độ hấp thụ với nồng độ Cd2+ 33
Bảng 2.3: Quan hệ độ hấp thụ với nồng độ Pb2+ 34
Bảng 2.4: Quan hệ độ hấp thụ với nồng độ Ni2+ 35
Bảng 3.1: Nồng độ kim loại nặng tổng hợp từ nước của các bãi rác 39
Bảng 3.2: Kết quả xử lý Cu2+ khi thay đổi pH với tác nhân NaOH 39
Bảng 3.3: Kết quả xử lý Cu2+ khi thay đổi pH với tác nhân Na2CO3 41
Bảng 3.4: Kết quả xử lý Cu2+ khi cố định pH và thay đổi liều lượng tác với NaOH 42
Bảng 3.5: Kết quả xử lý Cu2+ khi cố định pH và thay đổi lượng Na2CO3 43
Bảng 3.6: Hiệu suất xử lý Cu2+ của các tác nhân khi thay đổi thời gian lắc 44
Bảng 3.7: Hiệu xuất xử lý Cu2+ của các tác nhân khi thay đổi tốc độ lắc 45
Bảng 3.8: Kết quả xử lý Cd2+ khi thay đổi pH sử dụng tác nhân là NaOH 46
Trang 8HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B viii
Bảng 3.9: Kết quả xử lý Cd2+ khi thay đổi pH sử dụng tác nhân là Na2CO3 47
Bảng 3.10: Kết quả xử lý Cd2+ khi thay đổi lượng NaOH, cố định pH 48
Bảng 3.11: Kết quả xử lý Cd2+ khi cố định pH và thay đổi lượng Na2CO3 49
Bảng 3.12: Hiệu suất xử lý Cd2+ của các tác nhân khi thay đổi thời gian lắc 50
Bảng 3.13: Hiệu suất xử lý Cd2+ của các tác nhân khi thay đổi tốc độ lắc 51
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của pH tới hiệu suất xử lý Ni2+ khi dùng tác nhân kết tủa NaOH 52
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của pH đến hiệu quả xử lý Ni2+, khi dùng tác nhân Na2CO3 53
Bảng 3.16 Ảnh hưởng lượng chất kết tủa đến hiệu quả xử lý Ni2+ dùng tác nhân NaOH 54
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của lượng chất phản ứng đến hiệu quả xử lý Ni2+khi dùng tác nhân Na2CO3 55
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của thời gian lắc đến hiệu quả xử lý Ni2+ khi dùng tác nhân NaOH 56
Bảng 3.19 Ảnh hưởng của thời gian lắc đến hiệu quả xử lý Ni2+ khi dùng tác nhân Na2CO3 57
Bảng 3.20 Ảnh hưởng của tốc độ lắc đến hiệu quả xử lý Ni2+ khi dùng tác nhân NaOH 58
Bảng 3.21 Ảnh hưởng của tốc độ lắc đến hiệu quả xử lý Ni2+khi dùng tác nhân Na2CO3 59
Bảng 3.22 Ảnh hưởng của pH tới hiệu suất xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân kết tủa NaOH 60
Bảng 3.23 Ảnh hưởng của pH đến hiệu quả xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân Na2CO3 61
Bảng 3.24 Ảnh hưởng của lượng chất phản ứng đến hiệu quả xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân NaOH 63
Bảng 3.25 Ảnh hưởng của lượng chất phản ứng đến hiệu quả xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân Na2CO3 64
Bảng 3.26: Ảnh hưởng của thời gian lắc đến hiệu quả xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân NaOH 65
Trang 9HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B ix
Bảng 3.27 Ảnh hưởng của thời gian lắc đến hiệu quả xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân
Na2CO3 66 Bảng 3.28 Ảnh hưởng của tốc độ lắc đến hiệu quả xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân NaOH 67 Bảng 3.29: Ảnh hưởng của tốc độ lắc đến hiệu quả xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân Na2CO3 68
Trang 10HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B x
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Các thành phần cân bằng nước trong ô chôn lấp 2
Hình 1.2: Cân bằng nước rác của một ô chôn lấp 3
Hình 1.3 Kích thước hạt là hàm số của nồng độ (theo Weimarn) 22
Hình 1.4: Đồ thị biểu diễn khả năng hòa tan hydroxit kim loại theo pH 25
Hình 2.1 Sơ đồ nguyên tắc cấu tạo của máy quang phổ hấp thụ nguyên tử 32
Hình 2.2: Đường chuẩn của Cu2+ 33
Hình 2.3: Đường chuẩn của Cd2+ 33
Hình 2.4: Đường chuẩn của Pb2+ 34
Hình 2.5 Đường chuẩn của Ni2+ 35
Hình 3.1: Đồ thị anh hưởng của pH đến khả năng xử lý Cu2+ dưới tác nhân NaOH 40
Hình 3.2: Đồ thị ảnh hưởng của pH đến khả năng xử lý Cu2+ dưới tác nhân Na2CO3 41
Hình 3.3: Đồ thị ảnh hưởng của lượng chất tác nhân đến khả năng xử lý Cu2+ dưới 42
Hình 3.4: Đồ thị kết quả xử lý Cu2+ với ảnh hưởng của liều lượng Na2CO3 44
Hình 3.5: Hiệu suất xử lý Cu2+ của các tác nhân với ảnh hưởng của thời gian lắc 45 Hình 3.6: Đồ thị hiệu suất xử lý Cu2+ của các tác nhân khi thay đổi tốc độ lắc 46
Hình 3.7: Đồ thị kết quả xử lý Cd2+ với ảnh hưởng của pH sử dụng tác nhân NaOH 47
Hình 3.8: Đồ thị kết quả xử lý Cd2+ với ảnh hưởng của pH sử dụng tác Na2CO3 48 Hình 3.9: Đồ thị kết quả xử lý Cd2+ với ảnh hưởng của liều lượng NaOH 49
Hình 3.10: Đồ thị kết quả xử lý Cd2+ với ảnh hưởng của liều lượng Na2CO3 50
Hình 3.11: Hiệu suất xử lý Cd2+ của các tác nhân với ảnh hưởng của thời gian lắc 51
Hình 3.12: Đồ thị hiệu suất xử lý Cd2+ của các tác nhân khi thay đổi tốc độ lắc 52
Hình 3.13 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của pH đến hiệu suất xử lý Ni2+ khi dùng tác nhân kết tủa NaOH 53
Hình 3.14 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của pH đến hiệu suất xử lý Ni2+ khi dùng tác nhân kết tủa Na2CO3 54
Trang 11HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B xi
Hình 3.15 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của liều lượng NaOH đến hiệu suất xử lý Ni2+ 55 Hình 3.16 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của liều lượng Na2CO3 đến hiệu quả
xử lý Ni2+ 56 Hình 3.17 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của thời gian lắc đến hiệu quả xử lý Ni2+ khi dùng tác nhân kết tủa NaOH 57 Hình 3.18 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của thời gian lắc đến hiệu suất xử lý Ni2+khi dùng tác nhân kết tủa Na2CO3 58 Hình 3.19 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của tốc độ lắc đến hiệu quả xử lý Ni2+ khi dùng tác nhân kết tủa NaOH 59 Hình 3.20 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của tốc độ lắc khi dùng tác nhân kết tủa Na2CO3 60 Hình 3.21 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của pH đến hiệu suất xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân kết tủa NaOH 61 Hình 3.22 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của pH đến hiệu suất xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân kết tủa Na2CO3 62 Hình 3.23 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của liều lượng NaOH đến hiệu suất xử lý Pb2+ 63 Hình 3.24 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của liều lượng Na2CO3 đến hiệu quả xử
lý Pb2+ 64 Hình 3.25 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của thời gian lắc đến hiệu quả xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân kết tủa NaOH 65 Hình 3.26 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của thời gian lắc đến hiệu suất xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân kết tủa Na2CO3 66 Hình 3.27 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của tốc độ lắc đến hiệu quả xử lý Pb2+ khi dùng tác nhân kết tủa NaOH 67 Hình 3.28 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của tốc độ lắc khi dùng 68 tác nhân kết tủa Na2CO3 68
Trang 12HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B 1
MỞ ĐẦU
Cùng với sự gia tăng dân số trên thế giới hiện nay, rác thải sinh hoạt ngày càng gia tăng, gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường sống Tại Việt Nam cứ mỗi năm hàng triệu tấn rác sinh hoạt, đều được thải trực tiếp hoặc gián tiếp vào môi trường Từ
đó gây ra mùi hôi thối khó chịu và phát tán các mầm bệnh nguy hiểm gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và vật nuôi Do vậy việc xử lý rác thải là vấn đề cấp bách hiện nay
Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một khó khăn không nhỏ đó là nước rò rỉ từ bãi chôn lấp rác hay còn gọi là nước rác Hiện nay lượng nước rác ra hàng ngày tại các bãi chôn lấp rất lớn trên hàng ngàn khối, chưa kể đến lượng nước rác còn tồn đọng trong nhiều năm qua tại các bãi vẫn chưa được xử lý Lượng nước rác lớn như vậy đã gây khó khăn cho việc xử lý cũng như gây ô nhiễm môi trường xung quanh khu vực bãi chôn lấp, đặc biệt là gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Do vậy, vấn đề xử lý nước rác đang là vấn đề cần được quan tâm nhất hiện nay
Theo báo cáo của các tổ chức môi trường thế giới thì tính độc hại của nước rò rỉ
từ các bãi chôn lấp rác sinh hoạt là rất cao.Trong nước rác có nhiều thành phần gây độc như:
ức chế, làm ảnh hưởng đến hiệu suất xử lý quá trình sinh học Dựa trên cơ sở đó, đề
tài “Nghiên cứu xử lý một số ion kim loại nặng trong nước rác bằng phương pháp kết
tủa hóa học” đã hình thành với mong muốn đưa ra một phương pháp xử lý đạt hiệu
quả cao, dễ dàng thực hiện ở nhiệt độ thường, thời gian xử lý nhanh, hoá chất dễ tìm
và chi phí vận hành không quá lớn, đồng thời nhằm giảm thiểu được những tác hại của chúng đến các quá trình xử lý sinh học tiếp theo, cũng như gây ảnh hưởng ô nhiễm đến môi trường xung quanh
Trang 13HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NƯỚC RÁC 1.1 Nguồn gốc, tính chất và thành phần nước rác
1.1.1 Nguồn gốc phát sinh nước rác
Nước rác là chất lỏng thấm qua các lớp chất thải rắn trong bãi chôn lấp mang
theo các chất hòa tan hoặc các chất lơ lửng
Hầu hết các bãi chôn lấp rác bao gồm chất lỏng đi vào bãi chôn lấp từ các nguồn khác nhau như:
Hình 1.1 Các thành phần cân bằng nước trong ô chôn lấp
Mỗi quốc gia có quy trình vận hành bãi chôn lấp khác nhau, nhưng nhìn chung thành phần nước rác chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chính như sau:
Nước gia nhập
Dòng chảy mặt (RO) Nước mưa (R)
Nước trong CTR
Nước chứa trong lớp vật liệu phủ
Nước trong bùn
Nước rác (LC)
Trang 14HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B 3
- Chất thải được đưa vào chôn lấp: Loại chất thải, thành phần chất thải và tỷ trọng chất thải
- Quy trình vận hành bãi chôn lấp: Quá trình xử lý sơ bộ và chiều sâu chôn lấp
- Công nghệ chôn lấp và loại hình bãi chôn lấp
- Thời gian vận hành bãi chôn lấp
- Điều kiện khí hậu: Độ ẩm và nhiệt độ không khí lượng mưa
- Điều kiện quản lý chất thải
Các yếu tố trên ảnh hưởng rất nhiều đến đặc tính nước rác, đặc biệt là thời gian vận hành bãi chôn lấp, yếu tố này sẽ quyết định được tính chất nước rác chẳng hạn như nước rác cũ hay mới, sự tích lũy các chất hữu cơ khó hoặc không có khả năng phân hủy sinh học nhiều hay ít, hợp chất chứa nitơ sẽ thay đổi cấu trúc
Lượng nước rác hình thành có thể được tính dựa vào cân bằng nước cho bãi chôn lấp Đối với bãi chôn lấp hợp vệ sinh, có thể bỏ qua lượng nước thấm qua thành bãi, đáy bãi vào ô chôn lấp Các thành phần tạo nên cân bằng nước của một ô chôn lấp được thể hiện trong hình 1.2
Hình 1.2: Cân bằng nước rác của một ô chôn lấp
Lượng nước rác của ô chôn lấp bằng tổng lượng nước đến và lượng nước sinh
ra do phân hủy rác trừ đi lượng nước bay hơi
1.1.2 Tính chất nước rác
a) Các yếu tố vật lý [8]:
- pH: Giá trị pH của nước rác thay đổi cùng với độ tuổi của bãi rác Nước
rác tuổi cao có giá trị pH lớn pH thấp trong giai đoạn III – giai đoạn lên men
Nước thải phía trên bãi rác
Rác đã phân hủy
Nước thoát ra từ phía đáy
Trang 15HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B 4
axit, và cao trong giai đoạn IV do các axit hữu cơ và H2 bị chuyển hóa thành metan và cacbonic nên pH của nước rác tăng lên đáng kể trong khoảng từ 6,8 – 8,0
- Độ màu, độ đục: Nước rác có độ màu rất cao từ 6.900 - 8.600 Pt/Co, hàm
lượng cặn lơ lửng trong khoảng 200-1000 mg/l độ màu và độ đục của nước rác gây ra bởi các hợp chất hữu cơ có màu như axit humic, axit fuvic, ligin Một số chất vô cơ như muối, oxit, hydroxit kim loại (sắt, mangan, đồng…) cũng gây ra màu cho nước rác Chúng tồn tại ở dạng keo lơ lửng và hòa tan trong nước rác
- Mùi: Nước rác có mùi đặc trưng khó chịu của các chất gây mùi là sản phẩm
của quá trình phân hủy các chất hữu cơ: NH3, H2S, mecaptan, phenol…
- Độ kiềm: Là đại lương đặc trưng cho khả năng tiếp nhận proton của môi
trường nước Độ kiềm của nước rác gây ra bởi các gốc muối của axit vô cơ yếu (H2CO3, H2SiO3, H3PO4), các dạng tồn tại cụ thể của muối phụ thuộc vào pH của môi trường Trong quá trình phân hủy yếm khí rác thải, các axit yếu trên hình thành do các phản ứng sinh hóa dưới tác dụng của vi sinh vật trong đó Độ kiềm của nước rác rất cao nằm trong khoảng 100-10.000mg CaCO3/l
b) Các yếu tố hóa học [1]:
- Các chất hữu cơ: Các chất hữu cơ có trong nước rác là do quá trình hòa tan
các thành phần trong rác, là các sản phẩm của quá trình phân hủy rác Nồng độ chất hữu cơ được đặc trưng bởi các thông số như BOD5, COD, TOC hoặc các thông số khác nhưng thông dụng hơn là BOD và COD
- Các chất vô cơ: Na+, K+, Ca2+, Mg2+, Cl-, SO42-… có nồng độ tương đối lớn:
độ của các tác nhân tạo phức Nhìn chung khi pH tăng độ tan của kim loại giảm
- Hợp chất nitơ, photpho:
+ Hợp chất nitơ: Nitơ tồn tại trong nước rác dưới dạng nitơ hữu cơ, NH3/NH4+,
NO-2, NO3-…Nitơ hữu cơ và amoni sinh ra từ quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ
Trang 16HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B 5
chứa nitơ (protein, axitamin) Hàm lượng Nitơ hữu cơ, amoni trong nước rác khá cao
ở các bãi chôn lấp mới có thể đạt 800 mg/l trong khi ở các bãi rác cũ chỉ là 80-120 mg/l Hàm lượng nitrat tương đối thấp (5-40 mg/l) chứng tỏ vẫn còn một phần nitơ bị oxi hóa thành nitrat
+ Hợp chất photpho: Photpho tồn tại trong nước dưới dạng photpho hữu cơ,
orthophotphat (PO43-, HPO42-, H2PO4-) và polyphotphat [Na3(PO4)6] Nói chung nồng
độ photpho trong nước rác là tương đối thấp so với amoni Hàm lượng photpho tổng trong nước rác mới từ 5-100 mg/l, nước rác cũ từ 5-10 mg/l
c) Các yếu tố sinh học:
Đặc trưng về vi sinh vật trong nước rác được biết đến ít hơn so với các thành phần hóa học khác Một số lượng lớn các vi sinh vật có trong nước rác của các bãi chôn lấp chất thải đô thị Thành phần vi sinh vật có trong nước rác phụ thuộc vào giai đoạn phân hủy xảy ra trong ô chôn lấp Mỗi giai đoạn có các chủng vi sinh vật đặc trưng hoạt động và nước rác mang theo các vi sinh vật có trong rác ra ngoài
Hàm lượng vi khuẩn trong nước rác (tổng coliform, fecal coliform, fecal streptococci) thay đổi theo tuổi bãi rác và thay đổi theo thành phần hóa học của nước rác
Trang 17HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B 6
Bảng 1.1 Các số liệu tiêu biểu về thành phần và tính chất nước rác từ các
bãi chôn lấp mới và lâu năm
THÀNH PHẦN
NƯỚC RÁC Bãi mới ( dưới 2 năm)
Bãi cũ ( trên 10 năm)
Nguồn:Viện kỹ thuật nhiệt đới và Bảo vệ môi trường
Như vậy, sự hình thành khí và nước rác trong quá trình chôn lấp là những mối quan tâm lớn trong công tác vận hành và quản lý các bãi chôn lấp ở các đô thị
Thành phần của nước rác thay đổi theo các giai đoạn khác nhau của quá trình phân hủy sinh học Sau giai đoạn háo khí ngắn (một vài tuần), tiếp đến là hai giai đoạn phân hủy: Giai đoạn phân hủy yếm khí tùy tiện tạo ra axit và giai đoạn phân hủy yếm khí tuyệt đối tạo ra khí metan
Trong giai đoạn tạo axit các hợp chất đơn giản được hình thành như axit béo, amino axit và cacboxilic axit Giai đoạn axit có thể kéo dài vài năm sau khi chôn lấp, phụ thuộc vào bản chất không đồng nhất của rác Đặc trưng của nước rác trong giai đoạn này:
Trang 18- Nồng độ NH4+ và nitơ hữu cơ cao
Trong giai đoạn tạo metan, vi khuẩn tạo ra khí metan là nổi trội nhất Chúng thay thế các axit bằng các sản phẩm cuối cùng là khí metan và cacbonic Giai đoạn tạo thành khí metan có thể tiếp tục đến 100 năm hoặc lâu hơn nữa Đặc trưng chất lượng của nước rác trong giai đoạn này là:
- Nồng độ cao các axit béo dễ bay hơi rất thấp;
- Nước rác mới: thu được từ các ô đang vận hành, có thành phần chất hữu cơ cao (COD có thể tới hàng chục g/l), BOD/COD lớn (0,7 - 0,8), pH thấp do các hợp chất VFA (4 - 6), các hợp chất nitơ chủ yếu ở dạng hữu cơ
- Nước rác cũ: thu được từ bãi chôn lấp lâu năm và đã đóng, có lượng ít hơn
so với nước rác mới Do đã bị phân hủy sâu nên nước rác có pH cao (7 - 9), COD thấp và BOD/COD nhỏ (0,2 - 0,3), hầu như không còn VFA, hợp chất nitơ chủ yếu
Bãi rác
Gò cát
Bãi rác Đông Thạnh
pH 5,3 - 8,3 5,3 - 8,3 4,8 - 6,2 6 - 6.3
BOD5 2.000 - 3.0000 300 - 15.000 30.000 - 48.000 33.751 - 56.250 COD 3.000 - 45000 1.000 - 42.000 39.614 - 59.750 38.533 - 65.333 TOC 1.500 - 20.000 500 - 15.000 18.700 - 31.900 -
SS 200 - 1.000 200 - 1.000 1.760 - 4.311 1.280 - 3.270
N hữu cơ 10 - 600 10 - 600 336 - 678 196 - 470 N-NH+4 10 - 800 10 - 800 297 - 790 1445 - 1764
Trang 19SO42- 100 - 1.500 100 - 1.500 1.590 - 2.340 1.216 - 2.524 Tổng Fe 50 - 600 50 - 600 204 - 208 180 - 303
hệ thống xử lý, nếu nồng độ vượt mức cho phép thì vi sinh vật có thể không phát triển được và chết Chính vì vậy ta cần phải tiến hành xử lý triệt để hàm lượng kim loại
và bãi chôn lấp hợp vệ sinh Chất lượng của các bãi chôn lấp chất thải liên quan mật thiết với GDP Các bãi chôn lấp hợp vệ sinh thường thấy ở các nước có thu nhập cao, trong khi đó các bãi đổ hở phổ biến ở các nước đang phát triển
Mặc dù, mỗi quốc gia có quy trình vận hành bãi chôn lấp khác nhau, nhưng nhìn chung thành phần nước rác chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chính như sau:
- Chất thải được đưa vào chôn lấp: loại chất thải, thành phần chất thải và tỷ trọng chất thải;
- Quy trình vận hành BCL: quá trình xử lý sơ bộ và chiều sâu chôn lấp;
- Thời gian vận hành bãi chôn lấp;
Trang 20HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B 9
- Điều kiện khí hậu: độ ẩm và nhiệt độ không khí;
- Điều kiện quản lý chất thải
Các yếu tố trên ảnh hưởng rất nhiều đến đặc tính nước rác, đặc biệt là thời gian
vận hành bãi chôn lấp, yếu tố này sẽ quyết định được tính chất nước rác chẳng hạn
như nước rác cũ hay mới, sự tích lũy các chất hữu cơ khó hoặc không có khả năng
phân hủy sinh học nhiều hay ít, hợp chất chứa nitơ sẽ thay đổi cấu trúc Thành phần
đặc trưng của nước rác ở một số nước trên thế giới được trình bày cụ thể trong các
bảng dưới đây:
Bảng 1.3 Thành phần nước rác ở Thái Lan
Thái Lan BCL
Trang 21HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B 10
Bảng 1.4 Thành phần nước rác tại Trung Quốc
Sabak Bernam
BCL Taman Beringin
Trang 22Nước rác phát sinh từ hoạt động của bãi chôn lấp là một trong những nguồn gây
ô nhiễm lớn nhất đến môi trường Nó bốc mùi hôi nặng nề lan tỏa rộng, nước rác có thể thấm xuống tầng nước ngầm làm ô nhiễm nguồn nước ngầm và dễ dàng gây ô nhiễm nguồn nước mặt Hơn nữa, lượng nước rác có khả năng gây ô nhiễm nặng nề đến môi trường sống vì nồng độ các chất ô nhiễm có trong nước rất cao và lưu lượng đáng kể Cũng như nhiều loại nước thải khác, thành phần (pH, độ kiềm, COD, BOD, NH3, SO42-, kim loại nặng, ) và tính chất (khả năng phân hủy sinh học hiếu khí, kị khí, ) của nước rác phát sinh từ các bãi chôn lấp là một trong những thông số quan trọng dùng để xác định công nghệ xử lý, tính toán thiết kế các công trình đơn vị, lựa chọn thiết bị, xác định liều lượng hoá chất tối ưu và xây dựng qui trình vận hành thích hợp Thành phần một số ion kim loại trong nước rác của một số bãi chôn lấp tại thành phố Hồ Chí Minh được trình bày trong Bảng 1.6
Bảng 1.6 Thành phần một số ion kim loại nặng trong nước rác của một số BCL
ở Thành phố Hồ Chí Minh
QCVN40:2011/ BTNMT(CỘT B)
Trang 23[Nguồn: Số liệu Công ty Môi trường đô thị TPHCM cung cấp]
Bảng 1.7 Thành phần một số ion kim loại nặng có trong nước rác ở BCL Đông Thạnh
Trang 24HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B
14
Bảng 1.8 Hàm lượng kim loại nặng trong nước rác tại bãi chôn lấp Phước Hiệp
[Nguồn: Số liệu Công ty Môi trường đô thị TPHCM cung cấp]
Bảng 1.9 Hàm lượng kim loại trong nước rác tại bãi rác Nam Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội
Trang 25Từ các bảng số liệu đã nêu ở trên có thể khái quát được thành phần các ion kim
loại trong nước rác ở Việt Nam chủ yếu là các ion kim loại nặng như chì, niken, đồng,
cadimi, crom… vượt quá giới hạn cho phép của QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B)
Bảng 1.10 Hàm lượng kim loại nặng vượt quá giới hạn cho phép của QCVN
Bên cạch đó, ta cũng thấy rằng các bãi rác ở Việt Nam đều không xử lý các kim
loại nặng độc hại có trong nước thải Điều này càng làm cho hàm lượng kim loại nặng
tích lũy trong nước ngầm càng nhiều, gây ảnh hưởng đến sức khỏe đời sống của con
người và các sinh vật khác ngày càng trầm trọng Đồng thời nếu dùng công nghệ sinh
học để tiến hành xử lý nước rác thì hàm lượng kim loại nặng có trong nước rác sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến hệ thống xử lý, nếu nồng độ vượt mức cho phép thì VSV có thể
không phát triển được và chết Chính vì vậy ta cần phải tiến hành xử lý triệt để hàm
lượng kim loại nặng này
1.3 Tổng quan về phương pháp xử lý kim loại nặng trong nước
Do đặc thù nước thải ngành công nghiệp nặng có chứa các kim loại nặng như
crom, chì, đồng, sắt, niken, … Câc kim loại này có trong nước sẽ trực tiếp ảnh hưởng
đén sức khỏe con người như gây các bệnh viêm loét da, dạ dày, đường hô hấp, gây ung
Trang 26HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B
16
thư máu, … Các kim loại nặng lại có khả năng tích tụ trong các loại động vật sống
trong nước như cá, ốc tôm, cua, … gián tiếp tác động đến sức khỏe con người
Để xử lý nước thải công nghiệp có chứa các kim loại nặng có thể dùng nhiều
phương pháp khác nhau, phù hợp với từng loại nước thải và nồng độ chứa trong nó
Dưới đây là các phương pháp xử lý nước thải chứa kim loại nặng:
a Phương pháp kết tủa hóa học
Phương pháp này dựa trên phản ứng hóa học giữa chất đưa vào nước thải với kim
loại cần tách, ở độ pH thích hợp sẽ tạo thành hợp chất kết tủa và được tách ra khỏi
nước thải bằng phương pháp lắng
Phương pháp thường được dùng để kết tủa kim loại dưới dạng hydroxxit bằng
cách trung hòa đơn giản các chất thải axit Độ pH kết tủa cực đại của tất cả các kim
loại không trùng nhau, ta tìm một vùng tối ưu, giá trị từ 7 – 10,5 tùy theo các giá trị
cực tiểu cần tìm để loại bỏ kim loại mà không gây độc hại
Nếu trong nước thải có chứa nhiều kim loại nặng thì càng thuận tiện cho quá
trình kết tủa vì ở các giá trị pH nhất định độ hòa tan của kim loại trong dung dịch có
mặt các kim loại khác sẽ giảm, cơ sở có thể do một hay động thời cả 3 nguyên nhân
sau:
• Tạo thành chất cùng kết tủa
• Hấp thụ các hydroxit khó kết tủa vào bề mặt của các bông hydroxit dễ kết
tủa
• Tạo thành hệ nghèo nặng lượng trong mạng hydroxit do chúng bị phá hủy
mạnh bằng các ion kim loại
Như vậy đối với phương pháp kết tủa kim loại thì pH đóng vai trò rất quan trọng
khi xử lý cần chọn tác nhân trung hòa và điều chỉnh pH phù hợp Phương pháp kết tủa
hóa học rẻ tiền ứng dụng rộng nhưng hiệu quả không cao, phụ thuộc nhiều yếu tố (t0,
pH, bản chất kim loại…)
b Phương pháp trao đổi ion
Dựa trên nguyên tắc của phương pháp trao đổi ion dùng ionit là nhựa hữu cơ tổng
hợp, các chất cao phân tử có gốc hyđocacbon và các nhóm chức trao đổi ion Quá trình
trao đổi ion được tiến hành trong các cột cationit và anionit Các vật liệu nhựa này có
thể thay thế được mà không làm thay đổi tính chất vật lý của các chất trong dung dịch
và cũng không làm biến mất hoặc hòa tan Các ion dương hay âm cố định trên các gốc
này đẩy ion cùng dấu có trong dung dịch thay đổi số lượng toàn bộ có trong chất lỏng
Trang 27sau:
• Di chuyển ion A từ nhân của dòng chất lỏng tới bề mặt ngoài của lưới biên
màng chất lỏng bao quanh hạt trao đổi ion
• Khuyếch tán các ion qua lớp ngoài
• Chuyển ion đã khuyếch tán qua lớp biên giới phân pha vào hạt nhựa trao
đổi
• Khuyếch tán ion A bên trong hạt nhựa trao đổi tới các nhóm chức năng
trao đổi
• Phản ứng hóa học trao đổi ion A và B
• Khuyếch tán các ion B bên trong hạt trao đổi tới biên giới phân pha
• Chuyển các ion B qua biên giới phân pha ở bề mặt trong của màng chất
lỏng
• Khuyếch tán các ion B qua màng
• Khuyếch tán các ion B vào nhân dòng chất lỏng
Đặc tính của trao đổi ion:
• Sản phẩm không hòa tan trong điều kiện bình thường
• Sản phẩm được gia công hợp cách
• Sự thay đổi trạng thái của trao đổi ion không làm phân hủy cấu trúc vật
liệu
Phương pháp trao đổi ion có ưu điểm là tiến hành ở quy mô lớn và với nhiều loại
Kim loại khác nhau Tuy vậy lại tốn nhiều thời gian, tiến hành khá phức tạp do phải
hoàn nguyên vật liệu trao đổi, hiệu quả cũng không cao
c Phương pháp điện hóa
Dựa trên cơ sở của quá trình oxy hóa khử để tách kim loại trên các điện cực
nhúng trong nước thải chứa kim loại nặng khi cho dòng điện một chiều chạy qua Ứng
dụng sự chênh lệch điện thế giữa hai điện cực kéo dài vào bình điện phân để tạo ra một
điện trường định hướng, các ion chuyển động trong điện trường này Các cation
chuyển dịch về catốt, các anion về anốt Khi điện áp đủ lớn, phản ứng sẽ xảy ra ở mặt
phân cách chất dung dịch điện cực:
Ở catốt : oxy hóa phát ra các electron : A
→ A + e
Trang 28n : số electron dùng trong quá trình điện hóa
A0x : hoạt tính của chất oxy hóa
Ared : hoạt tính của chất khử
Ưu điểm của phương pháp này là nhanh tiện lợi hiệu quả xử lý cao, ít độc nhưng
lại quá tốn kém về điện năng
d Phương pháp hấp phụ
Dựa trên nguyên tắc của quá trình hấp phụ chủ yếu là hấp phụ vật lý tức là quá
trình di chuyển của các chất ô nhiễm (các ion kim loại) (chất bị hấp phụ) đến bề mặt
pha rắn (chất hấp phụ)
Người ta thường dùng biện pháp hấp phụ sinh học, tức là dùng các vật liệu sinh học để
tách các kim loại hay các hợp chất của nó ra khỏi nước thải Chẳng hạn như: Chitosan
- một polyme sinh học dạng glucosamin là sản phẩm deacetyl hóa chitin lấy từ vỏ tôm,
cua, một vài loại nấm và một số loài động vật giáp xác Dung lượng hấp phụ đạt
241mg Cr6+/g
e Phương pháp sinh học
Dựa trên nguyên tắc một số loài thực vật, vi sinh vật trong nước sử dụng kim loại
như chất vi lượng trong quá trình phát triển sinh khối như bèo tây, bèo tổ ong, tảo,
v.v… Với phương pháp này, nước thải phải có nồng độ kim loại nặng nhỏ hơn 60 mg/l
và bổ sung đủ chất dinh dưỡng (nitơ, photpho) và các nguyên tố vi lượng cần thiết
khác cho sự phát triển của các loài thực vật như rong tảo Phương pháp này cần diện
tích lớn và nước thải có lẫn nhiều kim loại thì hiệu quả xử lý kém
1.4 Cơ sở lý thuyết của phương pháp kết tủa hóa học
Phương pháp xử lý kim loại nặng bằng phương pháp kết tủa hóa học là phương
pháp phổ biến và thông dụng nhất ở Việt Nam hiện nay Với ưu điểm rẻ tiền, khả năng
Trang 29HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B
19
xử lý nhiều kim loại trong dòng thải cùng một lúc và hiệu quả xử lý kim loại nặng ở
mức chấp nhận được thì phương pháp này đang là lựa chọn số một cho các nhà máy
công nghiệp ở Việt Nam
1.4.1 Lý thuyết về quá trình tạo thành kết tủa hóa học [2]
Cơ chế quá trình tạo thành kết tủa là đề tài tranh luận trong nhiều năm qua Có
nhiều ý kiến rất khác nhau về vấn đề này Vì vậy, chúng ta bắt đầu có những quan sát
thực nghiệm, sau đó xem xét những giải thích lý thuyết những quan sát đó
Có thể xem thời kỳ tiếp xúc kéo dài từ lúc trộn các thuốc thử đến khi xuất hiện
kết tủa nhìn thấy được, là giai đoạn luôn xảy ra và là hiện tượng đáng chú ý nhất Thời
lượng của thời kỳ tiếp xúc thường rất khác nhau: khi kết tủa bari sunfat thời kỳ tiếp
xúc rất dài trong khi kết tủa bạc clorua giai đoạn đó lại rất ngắn Hai muối này được
nghiên cứu rất cẩn thận, vì chúng có độ tan tính theo mol gần như đồng nhất Điều đó
tạo nên mối quan tâm lớn khi nghiên cứu so sánh hai kết tủa
Nielsen đã so sánh những thời kỳ tiếp xúc của những kết tủa khác nhau theo
những dữ kiện của nhiều nhà nghiên cứu và đã rút ra được phương trình thực
Đối với các kết tủa AgCl, Ag2CrO4, CaF2, CaC2O4 và KClO4, giá trị n thu được
từ nhiều nhà nghiên cứu khá phù hợp và bằng các giá trị tương ứng 5; 4,7; 9; 3,3 và
2,6; còn đối với bari sunfat những giá trị thu được rất khác nhau
Thời lượng của thời kỳ tiếp xúc không phụ thuộc vào phương pháp quan sát
Khi quan sát trực tiếp bằng mắt cũng thu được kết quả giống như khi sử dụng các
thiết bị quang học có độ nhạy cao hoặc đo độ dẫn điện Theo các số liệu của
Johnson và O’Rourke, độ dẫn điện trong thời kỳ tiếp xúc hầu như không biến đổi
Do vậy, trong thời gian đó chỉ một phần nhỏ chất tan ở dạng cặp ion hoặc những
Trang 30HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B
20
liên hợp ion lớn hơn
Khi kết tủa bari sunfat, thời lượng của thời kỳ tiếp xúc phụ thuộc vào phương
pháp trộn thuốc thử Từ những số liệu của Lamer và Dainegar có thể rút ra kết luận,
trong trường hợp điều chế ion sunfat trong dung dịch đồng thể theo phản ứng:
S2O82- + 2S3O32- → 2SO42- + S4O62-
Khi có mặt ion Ba2+, dung dịch tạo thành ở mức độ quá bão hòa xác định không
sinh ra kết tủa trong khoảng thời gian tương đối dài so với chính dung dịch đó nhưng
được điều chế bằng cách trộn trực tiếp các thuốc thử Sử dụng phương pháp kết tủa
đồng thể, Lamer và Dinegar đã đi đến kết luận, kết tủa chỉ xuất hiện khi độ quá bão
không phụ thuộc vào nồng độ ion bari hoặc tốc độ tạo thành ion sunfat
Trong công trình muộn hơn, Collins và Leineweber chỉ rõ rằng giá trị mức độ
quá bão hòa chuẩn phụ thuộc vào độ tinh khiết của thuốc thử Khi kết tinh lại nhiều lần
và lọc các dung dịch thuốc thử, các tác giả trên đã thu được giá trị mức độ quá bão hòa
chuẩn bằng
Các tác giả đã rút ra kết luận, trong trường hợp này không tạo thành các trung
tâm kết tinh đồng thể và sự kết tinh bắt đầu trên những trung tâm lạ, có thể là lưu
huỳnh nguyên tố tồn tại trong dung dịch tiosunfat là trung tâm kết tinh Nielsen cho
rằng, khi làm sạch cẩn thận bình kết tủa bằng cách xử lý hơi trong thời gian dài, lượng
tinh thể bari sunfat trên một đơn vị thể tích giảm đi 10 lần và có thể trên 10 lần Do đó
ông ta quả quyết rằng, ở những điều kiện kết tủa bình thường, phần lớn trung tâm kết
tinh được tạo thành trên thành bình thủy tinh.Ngoài ra, nhiều bằng chứng đáng tin cậy
về sự tạo thành những trung tâm kết tinh lạ trong các dung dịch bari clorua vừa mới
được điều chế đã được công bố và sự khẳng định về giảm lượng, đồng thời tăng kích
thước hạt bari sunfat được tạo thành khi sử dụng các dung dịch bari clorua già hóa và
đã được lọc cũng đã được xác nhận Còn có một nhóm quan sát rất quan trọng khác về
sự phụ thuộc của kích thước và lượng hạt kết tủa vào nồng độ chất kết tủa Von
Weimarn đã hoàn thành công trình nghiên cứu cổ điển về sự tạo thành kết tủa: đo kích
Trang 31HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B
21
thước tinh thể bari sunfat thu được bằng cách trộn nhanh những dung dịch bari
tioxianat và mangan(II) sunfat có nồng độ phân tử bằng nhau Ở độ loãng ≈ 10-4M, nói
chung kết tủa không xuất hiện Khi tăng nồng độ trong giới hạn 10-4-10-3 M, kết tủa
được tạo thành Nhưng những biến đổi này của kết tủa xảy ra rất chậm, đến mức để tạo
thành những tinh thể hoàn chỉnh cần tới 6 tháng Kích thước của những hạt tạo thành
ban đầu tăng lên cùng với sự tăng nồng độ, ngược lại, kích thước của những tinh thể
cuối cùng giảm đi khi nồng độ ban đầu tăng Tính chất của một số kết tủa điển hình
nhất trong những khoảng thời gian khác nhau tăng từ t1 đến t5 được dẫn ra trên hình
1.3 Khi nồng độ ban đầu biến đổi từ 10–3 đến 1 M, những tinh thể mới được tạo thành
kém hoàn chỉnh, xuất hiện những tinh thể lớn có dạng hình kim và hình bộ khung; ở
nồng độ lớn hơn 1 M, ban đầu tạo thành một khối đông tụ, khối này dần dần chuyển
thành kết tủa hạt nhỏ có thể tích lớn Từ đầu thế kỷ 20, Weimarn đã khẳng định rằng,
những kết tủa được gọi là “vô định hình” về thực chất cũng chỉ là kết tủa tinh thể
nhưng bao gồm những hạt cực kỳ nhỏ ở dạng chưa hoàn chỉnh, sau đó đã được xác
nhận nhờ những nghiên cứu phổ Rơnghen Những nghiên cứu này chỉ rõ rằng, những
ảnh Debye của những kết tủa mới và những kết tủa đã được già hóa thường là đồng
nhất; sự khác nhau duy nhất là những vạch trên ảnh Debye của những kết tủa mới có
đặc tính khuếch tán hơn Weimarn đã không hình dung được một cách rõ ràng những
khác nhau giữa sự tạo thành các hạt kết tủa và những sự biến đổi tiếp theo với chúng
mà ngày nay chúng ta gọi là “hiện tượng già hóa”
Trang 32HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B
22
Hình 1.3 Kích thước hạt là hàm số của nồng độ (theo Weimarn)
Oden và Werner đo kích thước tinh thể bari sunfat bằng phương pháp trầm
tích Các tác giả đã rút ra kết luận, trong giới hạn nồng độ 10–3 – 10–1, kích thước
hạt tăng cùng với sự pha loãng và đồng thời độ đồng nhất của sự phân bố kích
thước cũng tăng lên
Mặt khác, ở những điều kiện xác định, kích thước hạt có thể tăng cùng với sự
tăng nồng độ Quy luật đó Weimarn đã phát hiện khi kết tủa từ những dung dịch rất
loãng O’Rourke và Johnson nhận thấy rằng, khi trộn nhanh các dung dịch bari clorua
và natri sunfat đủ già hóa, tổng lượng các hạt bari sunfat tạo thành không phụ thuộc
vào nồng độ đầu của bari sunfat trong giới hạn 2,5 – 25.10–4 M Fisher và
Rhinehammer chỉ rõ rằng, khi kết tủa từ dung dịch HCl ở pH = 1, kích thước hạt bari
sunfat tăng cùng với sự tăng nồng độ trong giới hạn 2,6 – 26.10–3M Các tác giả nhận
xét rằng, trong những điều kiện đó những tinh thể khá lớn (4,3 – 16 μm) được tạo
thành Ở những pH cao hơn, kích thước tinh thể tăng lên nhưng những tinh thể này là
những liên hợp lớn của những hạt nhỏ Sự tăng kích thước hạt cùng với sự tăng nồng
độ được quan sát thấy cả khi kết tủa bạc cromat, bạc tioxyanat và niken
đimetylglioximat
Đáng chú ý là những kết quả nghiên cứu kết tủa bari sunfat của Turnbull Tác giả
nghiên cứu mức độ kết tủa X như là hàm số của thời gian t sau khi trộn nhanh các
dung dịch Turnbull đưa vào “hệ số tỉ lệ” f – là hệ số tỉ lệ của thời gian để có được sự
phụ thuộc: X = F(ft) Mặc dù hệ số tỉ lệ biến đổi từ thí nghiệm này đến thí nghiệm
khác đôi khi đến 5 lần, hàm số F theo thang chuẩn thời gian vẫn được giữ không đổi
trong tất cả các thí nghiệm Hàm số F loại trừ quá trình lớn lên của hạt tinh thể, còn hệ
số tỉ lệ f loại trừ số trung tâm kết tinh, biến đổi từ thí nghiệm này đến thí nghiệm khác
Khác với bari sunfat, bạc clorua kết tủa nhanh ngay cả trong các dung dịch quá
bão hoà không lớn Davies và Jones tìm thấy giới hạn dưới của sự quá bão hoà; dưới
giới hạn dưới này, các trung tâm kết tinh có lẽ nói chung không được tạo thành
Phương pháp của hai tác giả trên là quan sát tốc độ biến đổi độ dẫn điện theo thời gian
như hàm số của nồng độ dung dịch, sau đó ngoại suy đến giá trị không của tốc độ biến
đổi Các tác giả chỉ rõ rằng, giá trị bão hoà giới hạn phụ thuộc vào tỷ số nồng độ của
Trang 33HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B
23
ion bạc và clorua và ở tỷ số bằng đơn vị, giá trị giới hạn đó đạt cực tiểu ở 1,32 Nhưng
sử dụng phương pháp ngoại suy gây nên những nghi ngờ bởi vì tốc độ biến đổi độ dẫn
điện đúng ra liên quan đến độ lớn của tinh thể chứ không phải với quá trình tạo thành
các trung tâm kết tinh Bạc clorua và bạc halogenua khác thường được gọi là “kết tủa
sữa đóng cục” (kết tủa phomat) bởi vì được tạo thành từ sự tích góp các hạt keo, còn
trái lại bari sunfat lại được tạo thành từ những tinh thể riêng biệt, bất kể lúc nào nếu
kết tủa từ các dung dịch loãng
1.4.2 Cơ chế của phương pháp [2]
Mn+ + Am- = MmAn ↓ (kết tủa)
[M]m [A]n> Tt MA Trong đó:
Mn+ : ion kim loại
Am- : tác nhân gây kết tủa
Tt : tích số tan Trong phương pháp này người ta có thể sử dụng nhiều tác nhân để tạo kết tủa
với kim loại như: S2-, OH-, CO32-, SO42-, PO43-, Cl- … nhưng trong đó S2-, OH-,
SO42-, CO32- được sử dụng nhiều nhất vì nó có thể tạo kết tủa dễ dàng với hầu hết
các kim loại, còn các ion PO43-, Cl-… chỉ tạo kết tủa với một số các ion kim loại
nhất định Do vậy, chúng chỉ được dùng khi dòng thải chứa đơn kim loại hoặc một
vài kim loại nhất định
Đối với mỗi kim loại khác nhau có pH thích hợp để kết tủa khác nhau tùy thuộc
vào khả năng tạo kết tủa của M(OH)n và tùy thuộc vào nồng độ các kim loại có trong
nước rác cần xử lý
Trong nước rác chứa kim loại thường tồn tại dưới dạng ion ở nhiều dạng khác
nhau có những hợp chất hoặc chất dễ kết tủa nhưng có những chất khó kết tủa hoặc
cực độc hại như các hợp chất của Cr6+ ta phải tiến hành xử lý biến đổi các chất đó về
dạng ít độc hơn và dễ kết tủa hơn
■ Qúa trình oxy hóa khử [6]
Như đã nói ở trên, để xử lý kim loại nặng trong nước bằng phương pháp kết tủa
có hiệu quả thì ta cần phải chuyển các kim loại khó có khả năng kết tủa với tác nhân
Trang 34M (hóa trị n) + tác nhân oxi hóa (khử) = M(hóa trị m) + chất mới (nếu có)
M : kim loại dưới dạng hợp chất hoặc ion
● Các tác nhân sử dụng phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
+ Có tính oxi hóa hoặc khử để đảm bảo có thể chuyển hóa hết được kim loại về
dạng mong muốn
+ Kim loại sau quá trình phải ở dạng phù hợp, dễ xử lý cho quá trình tiếp theo
(quá trình tạo kết tủa)
+ Các tác nhân dễ kiếm, dễ sử dụng và rẻ tiền
+ Càng tạo ra ít chất mới càng tốt
1.4.3 Qúa trình kết tủa [6]
Sau khi đã dùng phương pháp để chuyển các kim loại về dạng dễ xử lý và ít độc
hơn thì ta tiến hành phương pháp kết tủa
1.4.3.1 Kết tủa dùng OH - [6]
Ở một vùng pH nhất định (pH >7) các kim loại kết hợp với OH
tạo thành các hydroxit kim loại:
pH trong quá trình phải đảm bảo cho quá trình có thể kết tủa dễ dàng, thuận lợi,
để tạo pH > 7 ta có thể dùng các chất có tính kiềm như NaOH, KOH, … Để cho kinh
tế, người ta thường sử dụng NaOH vì chất này vừa rẻ, dễ kiếm lại cho hiệu quả tốt
Tuy nhiên, phương pháp này thường không hiệu quả đối với các kim loại kết tủa khác
Trang 35HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B
25
nhau lớn, đặc biệt là đối với các kim loại có khả năng tạo phức khi ở pH lớn Đây là
một trong những nhược điểm lớn nhất của phương pháp kết tủa dùng OH-
Hình 1.4: Đồ thị biểu diễn khả năng hòa tan hydroxit kim loại theo pH
\
Nhìn trên đồ thị ta thấy các kim loại thường kết tủa cực đại ở pH = 9 – 11 Khi
pH tăng quá khoảng này thì độ kết tủa giảm do các kim loại này chỉ có thể tạo phức
khi ở mức pH cao, tức là nồng độ kiềm cao (phức này có thể là phức của ion kim loại
với một chất khác không phải chỉ với OH-)
Zn(OH)2 + 2OH- = [Zn(OH)4]Cu(OH)2 + 2OH- = [Cu(OH)4]2-
Trang 36pH là một nhân tố quan trọng cho quá trình kết tủa các kim loại nặng, bảng dưới
đây thể hiện pH của một số kim loại khi bắt đầu kết tủa
Bảng 1.11 : pH tại điểm bắt đầu kết tủa của các hyđroxit kim loại [6]
1.4.4.2 Ảnh hưởng của thời gian phản ứng
Thời gian phản ứng kết tủa hóa học đối với nước rác có chứa các ion kim loại
nặng dao động trong khoảng 3 – 30 phút tùy thuộc vào ion kim loại cần xử lý và mục
tiêu của quá trình xử lý, có thể xử lý đến triệt để hoặc là quá trình phụ trợ cho các quá
trình khác như xử lý sinh học… Vì vậy, cần khảo sát cụ thể thời gian phản ứng đối với
từng loại tác nhân kết tủa cũng như từng ion kim loại khác nhau cho các mục đích cụ
thể, để xác định được thời gian tối ưu của từng ion kim loại nhằm hạn chế thời gian thí
nghiệm và tiết kiệm được nguyên vật liệu
1.4.4.3 Ảnh hưởng của liều lượng tác nhân
Liều lượng tác nhân cho vào quá trình kết tủa có vai trò rất quan trọng Nếu định
lượng hóa chất kết tủa không đúng sẽ dẫn đến hiệu suất kết tủa – lắng thấp, hàm lượng
chất ô nhiễm, chất độc hại đưa sang giai đoạn xử lý sinh học có thể gây sốc hoặc làm
chết vi sinh vật có trong bùn hoạt tính Rủi ro càng cao khi bất ngờ thải các chất độc
hại hay một lượng lớn chất bẩn ra hệ thống thoát nước mà không xử lý sơ bộ
1.4.4.4 Ảnh hưởng của tốc độ lắc
Tốc độ lắc rất quan trọng, nó làm nhiệm vụ phân tán đều tác nhân kết tủa trong
nước rác, tạo điều kiện cho tác nhân kết tủa tiếp xúc với các ion kim loại để tạo thành
chất kết tủa Do đó, nếu lắc chậm, phản ứng sẽ xảy ra không hoàn toàn, nếu lắc nhanh
Trang 37HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B
27 thì sẽ làm cho các chất kết tủa tạo thành chƣa kịp lắng đã bị phá vỡ thành những hạt lơ
lửng gây khó khăn cho việc lắng cặn
Trang 38HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B
28
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nước rác được pha tương ứng với dải nồng độ của ion kim loại cần xử lý có
trong nước rác
- Các ion kim loại nặng trong nước rác như: Pb2+; Ni2+; Cu2+; Cd2+
2.1.2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định ảnh hưởng của pH, liều lượng tác nhân tạo kết tủa, thời gian lắc,
tốc độ lắc đến các ion kim loại nặng có trong nước rác
- Lựa chọn tác nhân kết tủa phù hợp để xử lý nước rác ở Việt Nam
2.2 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất sử dụng trong quá trình nghiên cứu
2.2.1 Thiết bị
- Máy đo pH meter
- Máy lắc IKA® KS 260 Control
- Máy đo quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS ở phòng thí nghiệm của Viện
Khoa học và Công nghệ Môi trường - trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Trang 39HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B
29
2.3 Phương pháp nghiên cứu và trình tự tiến hành thí nghiệm
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp kế thừa: dựa vào những nghiên cứu đã công bố của các nhà khoa
học để tìm hiểu, giải thích….những vấn đề cần quan tâm
Phương pháp thực nghiệm: tiến hành thí nghiệm trong phòng thí nghiệm bằng
các máy móc thiết bị sẵn có trong phòng thí nghiệm
Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: phân tích các số liệu thu được
dựa vào tiến hành những thí nghiệm dựa trên những điều kiện sẵn có của phòng thí
nghiệm và xác định nồng độ các ion kim loại sau xử lý bằng phương pháp quang phổ
hấp thụ nguyên tử (AAS)
2.3.2 Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS)
Phương pháp hấp thụ nguyên tử là một trong những phương pháp hiện đại, được
áp dụng phổ biến trong các phòng thí nghiệm Phương pháp này xác định được hầu hết
các kim loại trong mẫu sau khi đã chuyển hóa chúng về dạng dung dịch
Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) được ứng dụng với ba kỹ thuật
là nguyên tử hóa bằng ngọn lửa (F - AAS), nguyên tử hóa không ngọn lửa (GF - AAS)
và kỹ thuật đặc biệt trong trường hợp phân tích các nguyên tố có nhiệt độ hóa hơi thấp:
Hóa hơi lạnh (Hg), hydrua hóa (As, Se, Sn…)
Phương pháp này được phát triển rất nhanh và hiện nay đang được áp dụng rất
phổ biến vì có độ nhạy rất cao (mức ppb) và độ chọn lọc cao (ứng với mỗi nguyên tố
có một đèn catod rỗng) Do đó, khi phân tích lượng chất vết kim loại trong trường hợp
không cần thiết phải làm giàu sơ bộ các nguyên tố cần phân tích, tránh được sự nhiễm
bẩn mẫu khi xử lý qua các giai đoạn phức tạp Đây là đặc tính rất ưu việt của phương
pháp này ngoài ra còn có một số điểm mạnh khác như: Khả năng phân tích được gần
60 nguyên tố hóa học, lượng mẫu tiêu tốn ít, thời gian tiến hành phân tích nhanh và
đơn giản Ngày nay trong phân tích hiện đại, phương pháp hấp thụ nguyên tử được sử
dụng rất có hiệu quả đối với nhiều lĩnh vực như y học, dược học, sinh học, phân tích
môi trường, phân tích địa chất, Đặc biệt phân tích lượng vết các nguyên tố kim loại
Phương pháp phân tích dựa trên cơ sở đo phổ hấp thụ nguyên tử của một nguyên tố
được gọi là phép đo phổ hấp thụ nguyên tử (phép đo AAS)
Trang 40HV: Lê Thị Hiền KTMT 2012B
30
Cơ sở lý thuyết của phép đo:
Đo sự hấp thụ năng lượng (bức xạ đơn sắc) của nguyên tử tự do ở trong trạng thái
hơi (khí) khi chiếu chùm tia bức xạ qua đám hơi của nguyên tố đó trong môi trường
hấp thụ
Muốn thực hiện phép đo phổ hấp thụ nguyên tử của một nguyên tố cần phải thực
hiện các quá trình sau:
1 Chọn các điều kiện và một loại trang bị phù hợp để chuyển mẫu phân tích từ
trạng thái ban đầu (rắn hay dung dịch) thành trạng thái hơi của các nguyên tử tự do Đó
chính là quá trình hóa hơi và nguyên tử hóa mẫu
2 Chiếu chùm tia bức xạ đặc trưng của nguyên tố cần phân tích qua đám hơi
nguyên tử tự do vừa được tạo ra ở trên Các nguyên tử của nguyên tố cần xác định
trong đám hơi sẽ hấp thụ những tia bức xạ nhất định và tạo ra phổ hấp thụ của nó
3 Tiếp đó, nhờ một hệ thống máy quang phổ người ta thu toàn bộ chùm sáng,
phân ly và chọn một vạch phổ hấp thụ của nguyên tố cần phân tích để đo cường độ của
nó Cường độ đó chính là tín hiệu hấp phụ Trong một giới hạn nồng độ nhất định của
nồng độ C, giá trị cường độ này phụ thuộc tuyến tính vào nồng độ C của nguyên tố ở
trong mẫu phân tích theo phương trình:
Aλ = k.Cb (*) Trong đó:
Aλ : Cường độ của vạch phổ hấp thụ
K : Hằng số thực nghiệm
C : Nồng độ của nguyên tố cần xác định trong mẫu đo phổ
b : Hằng số bản chất (0<b 1)
Hằng số thực nghiệm k phụ thuộc vào tất cả các điều kiện hóa hơi và nguyên tử
hóa mẫu nhất định đối với hệ thống máy AAS và với các điều kiện đã chọn cho mỗi
phép đo; b là hằng số bản chất, phụ thuộc vào từng vạch phổ của từng nguyên tố Gía
trị b=1 khi nồng độ C nhỏ, khi C tăng thì b nhỏ xa dần giá trị 1
Như vậy, mối quan hệ giữa Aλ và C là tuyến tính trong một khoảng nồng độ
nhất định Khoảng nồng độ này được gọi là khoảng tuyến tính phép đo Trong phép