1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh

89 547 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài - Mục đích: Đề xuất được mô hình quản lý môi trường phù hợp cho làng nghề tái chế giấy xã Phong Khê, Bắc Ninh để cải thiện tình trạn

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn cho xuất

khẩu với giá trị lớn

Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề là vấn đề môi trường và sức khỏe của người dân Tuy nhiên hoạt động sản xuất của làng nghề đang làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường không những của làng nghề

mà của các khu vực xung quanh, đặc biệt là ô nhiễm bởi nước thải, sau đó là khí thải và rác thải Có rất nhiều các giải pháp xử lý môi trường được áp dụng tại làng nghề nhưng chưa giúp cải thiện được tình trạng ô nhiễm bởi thiếu tính đồng bộ và biện pháp quản lý môi trường

Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Nhà nước cũng như các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền vững các làng nghề Đã có nhiều làng nghề thay đổi phương thức sản xuất cũng như quản lý môi trường và thu được hiệu quả đáng kể Bên cạnh đó, đối với không ít làng nghề, sản xuất vẫn đang tăng về quy mô, còn môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng

Phong Khê là một trong những làng nghề tái chế giấy nổi tiếng tại khu vực miền Bắc, sự phát triển của làng nghề đem lại sự thay đổi đáng kể cho người dân trong vùng Song ô nhiễm môi trường tại đây ngày càng nghiêm trọng ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ của người dân và hệ thống kênh mương thuỷ lợi trong vùng bị ô nhiễm không còn khả năng phục vụ hoạt động nông nghiệp của xã Tuy một số các giải pháp khắc phục ô nhiễm đã được triển khai nhưng hiệu quả còn rất thấp, để vấn

đề môi trường được cải thiện thì cần có những giải pháp quản lý phù hợp và lâu dài

Bởi vậy học viên đã chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi

Trang 2

trường cho làng nghề tái chế giấy xã Phong Khê, Bắc Ninh” làm đề tài cho luận văn

tốt nghiệp

2 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Mục đích: Đề xuất được mô hình quản lý môi trường phù hợp cho làng nghề tái chế giấy xã Phong Khê, Bắc Ninh để cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của làng nghề đồng thời phù hợp với mục tiêu chung về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường của địa phương và nhà nước

- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

+ Vấn đề ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí và các công nghệ sản xuất, hiện trạng kinh tế xã hội trong làng nghề

+ Đề xuất mô hình quản lý môi trường phù hợp nhất

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

-Ý nghĩa khoa học của đề tài:

 Lựa chọn được mô hình quản lý môi trường tiên tiến, hiệu quả để áp dụng vào thực tế cho một làng nghề tại Việt Nam

 Đưa những kiến thức lý thuyết về quản lý môi trường áp dụng vào những hành động cụ thể, thực tế

 Mở ra hướng đi mới trong việc cải thiện chất lượng môi trường làng nghề tại Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Xã Phong Khê (TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) là một trong các làng nghề tái chế giấy lâu đời tại miền Bắc Với đặc trưng chính của sản xuất là tái chế giấy thải tạo ra các thành phẩm là vỏ bao xi măng, bìa, giấy vàng mã, giấy vệ sinh, giấy ăn, hiện nay ở Phong Khê có khoảng 234 cơ sở sản xuất Với quy trình sản xuất lâu năm, chưa có hệ thống xử lý chất thải dẫn đến vấn đề môi trường ở làng nghề này trở nên rất nghiêm trọng Nguồn nước thải từ sản xuất chứa chứa nhiều chất ô nhiễm không qua xử lý thải thẳng ra cống rãnh, cánh đồng, và hệ thống sông Ngũ

Trang 3

Huyện Khê gây ô nhiễm đất, nước mặt nghiêm trọng Khí thải từ quá trình nấu, tẩy nguyên liệu mang nhiều hóa chất độc hại thải trực tiếp môi trường Rác thải từ sản xuất, sinh hoạt không được thu gom, xử lý triệt để tràn lan đường làng và các khu sản xuất tập trung Vấn đề ô nhiễm môi trường gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân, cũng như dẫn đến nhiều thiệt hại về kinh tế do phải chi phí cho việc tổn thất nhiên, nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất, chi phí xử lý chất thải không hiệu quả

Mặc dù UBND Thành phố Bắc Ninh, xã Phong Khê quan tâm và có định hướng để giải quyết vấn đề môi trường cho làng nghề tuy nhiên đến nay vấn đề ô nhiễm môi trường không được cải thiện Chính vì vậy việc xây dựng một mô hình quản lý môi trường hợp lý cho làng nghề tái chế giấy Phong Khê là rất cần thiết và

là vấn đề cấp bách không phải chỉ đối với làng nghề tái chế giấy Phong Khê mà là vấn đề đối với các làng nghề sản xuất trong cả nước

Trang 4

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ, Ô NHIỄM VÀ

QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ 1.1.Tổng quan phát triển làng nghề và ô nhiễm môi trường làng nghề

Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam, làng nghề đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Trên cả nước, làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tại Đồng Bằng Sông Hồng (chiếm khoảng 60%), còn lại ở miền Trung (chiếm khoảng 30%), và miền Nam (khoảng 10%) [1] Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường, nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm làng nghề nước ta chia thành

6 nhóm ngành chính:

Hình 1.1: Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất [1]

Quy mô sản xuất tại nhiều làng nghề hiện nay vẫn là quy mô nhỏ (hộ gia đình hoặc cụm hộ gia đình), với trình độ kỹ thuật lạc hậu chủ yếu là thủ công, bán

cơ khí, chưa có làng nghề nào áp dụng tự động hoá (bảng 1.1) Quy mô nhỏ và công nghệ sản xuất lạc hậu là một trong những nguyên nhân dẫn đến vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề nghiêm trọng hiện nay

Dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc

da (17%)

Các nghề khác (15%) Vật liệu xây

dựng, khai

thác đá (5%)

Chế biến lương thực, chăn nuôi, giết mổ (20%)

Tái chế phế liệu (4%) Thủ công mỹ

nghệ (39%)

Trang 5

Bảng 1.1: Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề [1]

Đơn vị tính: %

Trình độ kỹ thuật Chế biên

nông, lâm thuỷ sản

Thủ công mỹ nghệ và vật liệu xây dựng

Các ngành dịch vụ

Các ngành khác

Bảng 1.2 Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề [1]

TT

Loại hình sản

xuất

Các dạng chất thải Khí thải Nước thải Chất thải

rắn

Các dạng ô nhiễm khác

Xỉ than, CTR

từ nguyên liệu

Ô nhiễm nhiệt, độ ẩm

BOD5, COD,

SS, tổng N, hoá chất, thuốc tẩy,

Cr6+(thuộc da)

Xỉ than, tơ sợi, vải vụn, cặn, bao bì hoá chất

Ô nhiễm nhiệt, độ ẩm, tiếng ồn

Zn, Cr, Pb

BOD5, COD,

SS, độ màu, dầu mỡ công nghiệp

Xỉ than, phế phẩm, cặn, hoá chất

Ô nhiễm nhiệt (gốm sứ)

Trang 6

-Bụi, CO, hơi axit, Pb,

Zn, HF, HCL, THC -Bụi , CO,

Cl2, HCl, THC, hơi dung môi

-pH, BOD5, COD, SS, độ màu, tổng N, tổng P

-COD, SS, dầu mỡ, CN-, kim loại

-Nhãn mác, tạp không tái sinh, chi tiết kim loại, cao

su

Ô nhiễm nhiệt

Nhiều nghiên cứu cho thấy tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc Thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2008 cho biết, tại các làng sản xuất kim loại, tỉ lệ người mắc các bệnh liên quan đến thần kinh, hô hấp, ngoài da, điếc và ung thư chiếm tới 60% dân số Đối với các làng tái chế giấy, cho thấy 16% - 53,7% dân số bị mắc bệnh phổi, ngoài da, thần kinh do chịu sức ép từ khói bụi, tiếng ồn, ô nhiễm không khí, hóa chất và các khí độc như Cl2, H2S Tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, tỉ lệ người mắc các bệnh về đường ruột với 58,8% dân số, đường hô hấp là 44,4% dân số [1] Cùng với sự gia tăng ô nhiễm của

Trang 7

phát triển làng nghề thì vấn đề ô nhiễm môi trường và các giải pháp khắc phục ô nhiễm cũng đã được quan tâm tuy nhiên cần phải có chiến lược quản lý môi trường làng nghề cụ thể, bền vững và phù hợp với thực tế của từng loại hình làng nghề

1.2 Quản lý môi trường làng nghề ở Việt Nam

1.2.1 Quản lý môi trường

Mục tiêu của quản lý môi trường là phát triển bền vững giữ cho được hài hoà giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Hay nói cách khác phát triển kinh tế

để tạo ra kinh phí và tiềm lực để bảo vệ môi trường tạo ra các tiềm năng tự nhiên và

xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế trong tương lai

Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, giáo dục Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tuỳ vào điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, xã, cơ sở sản xuất, hộ gia đình

Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường bao gồm:

 Hướng công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển bền vững kinh tế

xã hội đất nước, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường

 Kết hợp mục tiêu quản lý môi trường, quản lý lưu vực, vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường

 Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp thích hợp

 Phòng chống, ngăn ngừa tai biến và suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử lý, hồi phục môi trường nếu để gây ra ô nhiễm môi trường

 Người gây ô nhiễm phải trả tiền cho các tổn thất do ô nhiễm môi trường gây

ra và các chi phí xử lý, hồi phục môi trường bị ô nhiễm Người sử dụng các thành phần môi trường phải trả tiền cho việc sử dụng gây ra ô nhiễm đó

Trang 8

 Luật pháp và các chính sách hiện hành về phát triển làng nghề bền vững Quan điểm phát triển bền vững làng nghề cũng là quan điểm chung đối với mọi sự phát triển của nước ta

 Giải pháp quy hoạch phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo vệ môi trường

1.2.2 Quản lý môi trường làng nghề

Bên cạnh đóng góp tích cực về mặt kinh tế, sự phát triển của làng nghề làm gia tăng vấn đề ô nhiễm môi trường Những tồn tại trong quá trình phát triển làng nghề đang trở thành các thách thức đối với việc bảo vệ môi trường, phát triển bền vững cho nông thôn Chính vì thế bảo vệ môi trường làng nghề càng cần phải quan tâm

và có những giải pháp quản lý phù hợp

Những việc đã làm được trong quản lý môi trường làng nghề như: ban hành các văn hản về phát triển bền vững và BVMT làng nghề; một số địa phương đã xây dựng và triển khai quy hoạch tập trung cho làng nghề với BVMT; bước đầu triển khai một số công cụ quản lý trong BVMT làng nghề như: áp dụng công cụ kinh tế bằng các hình thức thuế, phí BVMT, quan trắc giám sát chất lượng các thành phần môi trường, công khai phổ biến thông tin về hiện trạng môi trường Những năm gần đây nhà nước ta đã quan tâm hơn đến vấn đề môi trường làng nghề, năm 2011 Bộ Tài nguyên Môi trường đã ban hành thông tư số 46/2011/TT-BTNMT quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, đây là văn bản mới nhất chỉ rõ phân cấp trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh, huyện, xã về vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề Giúp công cụ quản lý môi trường các cấp trở nên hiệu quả hơn

Nhiều biện pháp BVMT làng nghề đã được triển khai, nhưng môi trường tại các làng nghề vẫn tiếp tục suy thoái Tuy đã có quy hoạch nhưng các khu/cụm công nghiệp của làng nghề vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chưa có hệ thống quản lý môi trường chung, việc triển khai các công cụ quản lý còn nhiều yếu kém; nhân lực và tài chính cho BVMT làng nghề còn thiếu, công tác xã hội hóa BVMT làng nghề chưa được triển khai cụ thể, chưa huy động được nguồn lực xã hội cho BVMT làng nghề

Trang 9

Một số các dự án thử nghiệm về công nghệ và quản lý phù hợp để BVMT làng nghề như sau:

 Ở làng nghề chế biến bún Khắc Niệm - Bắc Ninh: xây dựng hệ thống thu gom nước thải và ứng dụng thử nghiệm công nghệ DEWAT để xử lý nước thải chế biến bún Tổ chức mô hình quản lý dưới hình thức tổ dịch vụ tổng hợp, chi phí quản lý vận hành được lấy từ quỹ của UBND xã

 Ở làng nghề tơ lụa Vọng Nguyệt - Bắc Ninh: xây dựng đồng bộ hệ thống cấp nước sạch và hệ thống thu gom & xử lý nước thải kéo sợi dệt lụa Mô hình tổ chức quản lý khai thác do thôn tự tổ chức và trang trải kinh phí

 Ở làng nghề chế biến tinh bột Tân Hoà - Quốc Oai – Hà Nội: tổ chức thu gom và xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học kỵ khí, xử lý – tái sử dụng

bã dong giềng làm cơ chất nuôi nấm, ủ với phân chuồng để làm phân bón hữu cơ, sử dụng công nghệ biogas để xử lý chất thải chăn nuôi

 Mô hình quản lý môi trường cho làng chế biến tinh bột Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang: thành lập tổ thu gom những giải pháp về việc lập quy hoạch hệ thống thu gom và xử lý chất thải cũng như hệ thống quản lý môi trường cho

xã Vân Hà Và để giảm thiểu và khắc phục ô nhiễm môi trường làng nghề, ngoài việc phát động phong trào quần chúng tham gia vệ sinh môi trường thôn xóm, thành lập tổ thu gom rác thải và quy hoạch khu rác thải tập trung, chính quyền xã Vân Hà cần có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ các hộ

và cơ sở sản xuất có những đầu tư cải thiện môi trường và áp dụng các giải pháp sản xuất sạch, khuyến khích các hộ gia đình vào khu làng nghề tập trung do xã quy hoạch

Các mô hình như đã nêu trên có các nội dung thực hiện phong phú, đã đề cập

và giải quyết cho hầu hết các đối tượng chất thải phát sinh trong khu vực các làng nghề Tuy vậy, vì những hạn chế về không gian, thời gian và điều kiện tài chính nên các mô hình này chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ là các mô hình triển khai ứng dụng các công nghệ phù hợp, có thể nhân rộng cho các địa bàn làng nghề tương tự mà

Trang 10

chưa tiếp cận được một cách toàn diện trên quan điểm QLMT (tức là phải đi từ khâu quy hoạch đến thiết kế từng giải pháp xử lý vấn đề ô nhiễm, lập kế hoạch, đầu

tư xây dựng và quản lý các nội dung quy hoạch đã được đề ra, triển khai các hoạt động bảo vê môi trường một cách đầy đủ và toàn diện)

1.3 Kinh nghiệm quản lý môi trường nông thôn ở một số nước trên thế giới

1.3.1 Kinh nghiệm Trung Quốc [11]

QLMT nông thôn ở Trung quốc được tập trung chủ yếu cho nước sạch & VSMT, được bắt đầu tư những năm 80 của thế kỷ trước Sau khóa họp lần thứ 35 của WHO đến nay, Trung Quốc đã liên tục tổ chức thực hiện các kế hoạch 05 năm Trong đó kế hoạch 05 năm 2000 - 2005 đã xác định vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường lồng ghép với phát triển kinh tế và là tiền đề cho việc xây dựng kế hoạch 05 năm tiếp theo (2006 - 2010) Chìa khóa thành công của Trung Quốc chính

là quá trình lập kế hoạch, xác định trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền, các ngành từ TW đến địa phương Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, sau khi lập

kế hoạch việc đảm bảo nguồn tài chính là rất quan trọng Chiến lược huy động vốn

từ 03 nguồn: Nguồn TW và địa phương, huy động quyên góp từ các tổ chức, giới kinh doanh và đóng góp của người hưởng lợi từ những chương trình này

Năm 1980, trong quá trình thực hiện kế hoạch 05 năm, mỗi giai đoạn đều có

tỷ lệ đầu tư về vốn khác nhau Hiện nay, trong giai đoạn lồng ghép NS-VSMT với phát triển kinh tế thì số lượng vốn từ phía Nhà nước phải nhiều hơn Ví dụ: Trong

VSMT nông thôn: Tình trạng VSMT nông thôn ở Trung Quốc chưa được

khả quan, còn nhiều lạc hậu so với các nước phát triển Nguyên nhân của sự chậm tiến đó là do: Nếp sống văn hóa của từng địa phương, nhiều gia đình có nhà rất lớn,

Trang 11

nhưng do tập quán nên nhiều nhà tiêu vẫn bố trí bên ngoài nhà ở và chưa hợp vệ sinh… Tuy vậy, Trung Quốc vẫn phấn đấu năm 2000 có 50% hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh (so với điều tra đánh giá năm 1993 con số này chỉ có 7,5%)

Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng cơ chế khuyến khích và

hỗ trợ thay đổi hành vi vệ sinh cá nhân và VSMT Các cấp lãnh đạo từ TW cho tới các cấp nhỏ nhất và người dân đều đã hiểu được tầm quan trọng của vấn đề NS và VSMT; Vụ giáo dục vệ sinh đã thực hiện rất tốt công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, việc giáo dục, nâng cao kiến thức được chia làm các giai đoạn Bên cạnh đó chính quyền địa phương cũng có những khoản đầu tư nhất định cho xây dựng và phát triển nhà tiêu hợp vệ sinh Có cơ chế đầu tư xây dựng phần âm (bể chứa) do Chính phủ đầu tư, phần dương do người thụ hưởng chi trả

Về hỗ trợ kỹ thuật: Trung Quốc đã xây dựng 02 tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn nhà

tiêu hợp vệ sinh và tiêu chuẩn xử lý rác thải (lò đốt rác) Ban hành thiết kế chuẩn cho nhà tiêu nông thôn gồm các loại sau: Biogas, tự hoại 3 bể, tự hoại 2 bể, nhà tiêu khô sinh thái, nhà tiêu tự hoại nối với hệ thống nước thải chung Các loại hình nhà tiêu này rất quan trọng đối với Trung Quốc do người dân có thói quen sử dụng phân người và gia súc làm phân bón cây trồng

Điều phối và phối hợp liên ngành trong việc cấp nước sạch và VSMT nông thôn: Lĩnh vực môi trường nông thôn và đặc biệt là nhà tiêu nông thôn không thể

chỉ do một cơ quan, tổ chức thực hiện được Trung Quốc đã lập Ủy ban phát triển y

tế với mục tiêu đẩy truyền thông đi trước một bước, Ủy ban này có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và 02 tổ chức lớn nhất ở Trung Quốc là Thanh niên

và Phụ nữ Các địa phương cũng có mô hình tổ chức và hợp tác tương tự như TW,

họ hợp tác theo cấp (Y tế - Nông nghiệp - Thanh niên - Phụ nữ)

Nước sạch và vệ sinh trong nhà trường: Trung Quốc không có một chương

trình, hay dự án riêng về lĩnh vực này Nhưng các can thiệp đầu tiên về lĩnh vực NS-VSMT là ở trường học Các hoạt động trong trường học rất có lợi cho học sinh, vừa là đối tượng được truyền thông, vừa là truyền thông viên cho cộng đồng

Trang 12

Trường học là nơi tập trung đông người, nếu các điều kiện về vệ sinh không đảm bảo sẽ xẩy ra dịch bệnh và lan truyền nhanh chóng do đó cần quan tâm và phối hợp nghiên cứu để đưa ra thiết kế NS-VSMT trong trường học

Xử lý rác thải nilon: Ở Trung Quốc có thể nói là có và không có vấn đề rác

thải là nilon Các thành phố có hệ thống thu gom và nhà máy chế biến rác Ở nông thôn, nhiều nơi rác thải nilon cũng là vấn đề, đặc biệt là dùng nilon trong trồng trọt sau đó thải ra môi trường, biện pháp xử lý rác thải hiện đang thực hiện ở các vùng nông thôn là chôn lấp

Bài học kinh nghiệm về quản lý nước sạch và VSMT nông thôn cho thấy, chỉ

có thể thành công khi có chiến lược và quy hoạch phù hợp với điều kiện và tập quán của nhân dân, công tác truyền thông thông qua các chiến dịch phải được duy trì thường xuyên và rộng rãi, kết hợp giữa các Bộ, các cấp chính quyền và các tổ chức

xã hội đặc biệt là thanh niên, phụ nữ

Những kinh nghiệm có thể vận dụng ở Việt Nam

 Xác định quy hoạch và xây dựng kế hoạch: Công tác lập quy hoạch, kế hoạch tổng thể và kế hoạch giai đoạn của Trung Quốc được coi là một trong những thành công trong quá trình thực hiện mục tiêu NSVSMT nông thôn Mỗi giai đoạn thực hiện đều có mục tiêu và phương án khác nhau, về cách thức huy động vốn, định mức tài chính, phương pháp tiến hành, mô hình quản lý… tùy theo điều kiện cụ thể Kinh nghiệm của Trung Quốc đã chỉ rõ đi đôi với việc xây dựng kế hoạch phải đảm bảo nguồn tài chính nhằm thực hiện hoàn chỉnh các kế hoạch đã đề ra

 Cần có cơ chế, chính sách linh hoạt nhằm tận dụng triệt để vốn hỗ trợ của các

tổ chức quốc tế, như: WB, ADB, NGOs… huy động các nguồn tài chính đa dạng cho công tác nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

 Ban hành các tiêu chuẩn về NS VSMT và cùng với nó là các giải pháp kỹ thuật, công nghệ hỗ trợ cụ thể cho những vùng nông thôn khác nhau Bên

Trang 13

cạnh đó, Chính phủ có các cam kết về NS VSMTNT với quốc tế

 Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân đối với vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên các phương tiện thông tin đại chúng Vấn đề NS VSMT được biên soạn thành một trong những nội dung của chương trình giảng dạy ở các cấp học phổ thông, công tác truyền thông thông qua các chiến dịch phải được duy trì thường xuyên và rộng rãi, có

sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan

1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước khác [11]

Về công tác quản lý nguồn rác thải có thể kể đến kinh nghiệm về giải pháp

và cơ chế chính sách của một số nước như:

Ở Pháp: vận động người dân tự nguyện đưa đến địa điểm như: bỏ vào các công-ten-nơ, xưởng ô tô, nơi bán pin, quầy thu mua vỏ chai hay mang đến những nơi chứa đồ thải đối với các đồ thải cồng kềnh, độc hại

Ở Thái Lan: áp dụng thu gom rác thải tại nhà kết hợp phân loại và đã tăng nguồn nguyên liệu có thể tái chế từ rác thải sinh hoạt lên khoảng khoảng 11% (trong tổng số 20 triệu tấn chất thải )

Để giảm thiểu lượng rác thải phát sinh, cũng như tăng cường khả năng tái chế chất vô cơ, nhiều nước đã có các cơ chế chính sách khác nhau như:

 Ở Phần Lan, thực hiện giảm lãi suất các khoản vay để tài trợ cho các chương trình đầu tư cho tái chế rác thải

 Ở Ba Lan, nếu sử dụng rác thải hoặc vật liệu chất lượng thấp để sản xuất sản phẩm phụ thì sẽ được giảm 20% thuế thu nhập

 Ở Mỹ, Đan Mạch, Phần Lan, Thuỵ Điển bắt buộc thực hiện ký quĩ hoàn trả đối với các vỏ bao bì, các vỏ chai nước ngọt, nước giải khát, vỏ xe ôtô hỏng…

 Tại Ailen, mỗi người mua hàng sẽ bị đánh thuế 0,15 Euro cho một túi nhựa

Trang 14

sử dụng Ở Bănglađét, Chính phủ đã ban hành việc cấm sử dụng túi nhựa tại Thủ đô của nước này

 Ở Ấn Độ, việc áp dụng các nguyên tắc, chủ trương và các công cụ kinh tế trong QLMT quốc gia đã được chú ý tới Các chính sách đang được áp dụng là “người gây ô nhiễm phải trả tiền và chi phí giảm thiểu”

1.4 Cơ sở lý thuyết áp dụng để xây dựng mô hình quản lý môi trường (mô hình DPSIR)

Phương pháp đánh giá tổng hợp DPSIR được đánh giá là hiệu quả trong việc xác định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân - kết quả về môi trường tại Việt Nam hiện nay Phương pháp này được Bộ Tài Nguyên và Môi trường quy định trong việc xây dựng Báo cáo môi trường quốc gia, Báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực và Báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh [14] Phương pháp này cũng được xác định là có hiệu quả cao trong lĩnh vực quản lý môi trường

Phương pháp đánh giá tổng hợp DPSIR (mô hình DPSIR) do tổ chức Môi trường Châu Âu (EEA) xây dựng vào năm 1999 là một mô hình nhận thức dùng để xác định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân - kết quả: Nguyên nhân gây ra các vấn đề môi trường, hậu quả của chúng và các biện pháp ứng phó cần thiết Cấu trúc của mô hình bao gồm các thông số chỉ thị về điều kiện tự nhiên - kinh

tế - xã hội của vùng nghiên cứu, dựa vào đặc điểm và bản chất, các thông số này được chia thành 5 hợp phần (Hình 1.2):

Trang 15

Hình 1.2 Sơ đồ mô hình DPSIR [21]

- Các thông số thể hiện các động lực chi phối đặc điểm và chất lượng môi trường vùng (DRIVER indicatos): Các động lực này thường là một số yếu tố đặc trưng cho địa hình, hình thái, thuỷ văn, khí hậu,… cũng như các hoạt động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội chính diễn ra trong vùng như cở sở hạ tầng, nông nghiệp, công nghiệp, vận tải thuỷ, phát điện, du lịch,…

- Các thông số thể hiện áp lực (PRESSURE indicators) Ví dụ, các thông số

áp lực thường cung cấp các thông tin định tính và định lượng về nước thải của các nhà máy, khu đô thị, diện tích canh tác, lượng phân bón thuốc trừ sâu được sử dụng, sản lượng đánh bắt cá, lượng khách du lịch hàng năm,… Rõ ràng là cường

độ của các áp lực này sẽ làm thay đổi đáng kể điều kiện tự nhiên vật lý và sinh thái vốn có của vùng Hơn nữa, phần lớn các thay đổi đó diễn ra theo chiều hướng tiêu cực

- Các thông số về hiện trạng chất lượng môi trường (STATE indicators) Các thông số hiện trạng chất lượng môi trường giúp cung cấp thông tin định tính và định lượng về đặc điểm và tính chất của các yếu tố vật lý, hoá học và sinh thái các thành phần môi trường vùng (đất, nước, không khí, rừng, động thực vật hoang dã,

Trang 16

hệ sinh thái thuỷ sinh) Chất lượng môi trường bị suy giảm dần và ảnh hưởng xấu tới cộng đồng và hệ sinh thái tự nhiên trong vùng

- Các thông số phản ánh các tác động tiêu cực tới đa dạng sinh học, tới sức khoẻ và sự ổn định, phồn vinh của cộng đồng (IMPACT indicators)

- Các thông số thể hiện các biện pháp đối phó với các hậu quả môi trường và xã hội (RESPONSE indicators)

Mô hình DPSIR minh hoạ cả những hoạt động xã hội ảnh hưởng đến hiện trạng môi trường và những đáp ứng từ hiện trạng môi trường tới xã hội dưới hình thức những động thái về chính sách môi trường cho từng lĩnh vực riêng (nông nghiệp, giao thông, công nghiệp,…)Những đáp ứng này bao gồm những mục tiêu, biện pháp mà xã hội đặt ra để chống lại những thay đổi không mong muốn về tình trạng môi trường và tác động tiêu cực của những thay đổi này lên hệ sinh thái cũng như điều kiện sống của con người

Hiện trạng môi trường thường được miêu tả theo hiện trạng vật lý và hoá học cũng như hiện trạng sinh học của môi trường Hiện trạng vật lý gồm những vấn đề thuỷ văn, khí tượng học, thuỷ lực học, cảnh quan thiên nhiên và dự trữ tài nguyên thiên nhiên Hiện trạng hoá học gồm chất lượng không khí, nước và đất tính theo thành phần và nồng độ nhiều chất khác nhau trong các môi trường này Hiện trạng môi trường bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố, cụ thể ở Việt Nam là những thảm hoạ môi trường có tính định kỳ Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, trọng tâm của chúng

ta là tập trung vào số lượng lớn những áp lực do con người gây ra có tác động tới môi trường, mà trước hết là các chất thải khí, nước thải và việc tích tụ rác thải Tuy nhiên, việc sử dụng tài nguyên cũng như những mô hình sử dụng đất khác nhau của cong người và những rủi ro khi ứng dụng các công nghệ, ví dụ đưa vào môi trường các loài sinh vật biến đổi gien cũng cần được coi là những áp lực quan trọng

Những áp lực này tạo ra bởi những hoạt động của con người Do đó, các hoạt động của con người như là sản xuất và tiêu dùng chính là những động lực đằng sau những áp lực này Những động lực này thường liên hệ với các ngành kinh tế xủa xã

Trang 17

hội như là nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng Một loại áp lực có thể sinh ra từ một ngành cụ thể của xã hội hoặc từ nhiều ngành Tương tự, các hoạt động trong một ngành cụ thể có thể tạo ra 1 vài hoặc một chuỗi các áp lực khác nhau vì thế ảnh hưởng tới 1 vài hoặc nhiều vấn đề/chủ đề môi trường Mức độ

áp lực do các hoạt động của một ngành cụ thể gây ra tuỳ thuộc vào mức độ và loại hình hoạt động, công nghệ áp dụng khi tiến hành hoạt động cũng như hành vi môi trường của những người đang thực hiện các hoạt động đó 3 yếu tố: hoạt động, công nghệ ứng dụng và hành vi chính là các điểm trọng tâm của các chính sách, biện pháp mà xã hội có thể áp dụng nhằm giảm các áp lực đối với môi trường

Mặc dù làm giảm áp lực có thể là mục đích trước mắt của nhiều chính sách

về môi trường, tuy nhiên đó không phải là lý do cơ bản của các chính sách này Lý

do cơ bản chính là hạn chế những tác động không mong muốn mà một môi trường đang bị suy thoái có thể tạo ra Những tác động này có thể được mô tả như những tác động và 3 nguồn lực cơ bản: cụ thể là thiên nhiên, con người và các nguồn nhân lực nhân tạo Những tác động vào tự nhiên có thể là làm suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm suy yếu các chức năng các hệ sinh thái khác nhau hoặc nói theo một cách khác là giảm tính đa dạng sinh học Những tác động này cũng bao gồm việc làm cạn kiệt hoạch phá huỷ nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất nông nghiệp Những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ do những vấn đề môi trường gây ra là một khía cạnh quan trọng của những tác động tới con người, hoặc thậm chí là trong một

số trường hợp còn có khả năng đe doạ tới mọi sinh kế của con người Tác động lên nguồn lực nhân tạo gồm rất nhiều loại tổn thất khác nhau làm giảm thời gian tồn tại

và chức năng của nguồn lực này Những nguồn lực khác nhau này tự bản thân chúng vốn gĩ là những tài sản rất quý giá Nhưng quan trọng hơn là việc gìn giữ chúng ở mức bền vững sẽ là một điều kiện tiên quyết cho sự phát triển sản xuất cũng như mức sống của con người trong tương lai

Trên cơ sở những đánh giá về các tác động không mong muốn, mô tả một cách hệ thống bức tranh cũng như tổng quan về những tác động tương hỗ giữa chất lượng môi trường, các áp lực và các hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau mà

Trang 18

khung hoạt động DPSIR đưa ra, xã hội sẽ đưa ra các biện pháp đáp ứng để chống lại những tác động không mong muốn này Việc áp dụng các biện pháp đáp ứng này hàm chứa việc đưa ra những vấn đề ưu tiên, đặt ra những mục tiêu về môi trường và xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp về môi trường (hoặc những điều chỉnh hợp lý các chính sách ngành) Những chính sách và biện pháp này có thể bao gồm

cả những biện pháp về pháp lý và những biện pháp tài chính, những biện pháp thuyết phục, đầu tư và các hoạt động công cộng, hướng dẫn và tư vấn, thông tin…Tất cả các yếu tố ưu tiên như:

- Đặt ra các mục tiêu;

- Thiết kế, thực hiện và đánh giá các chính sách;

- Theo sát chiến lược;

- Nâng cao nhận thức và cung cấp thông tin;

- Đảm bảo đầy đủ nguồn lực tài chính, nhân lực và công nghệ cho những quá trình này

Chính là những gì chứa đựng trong cụm từ “quản lý môi trường” Các chỉ thị cần được xem như những công cụ hữu hiệu để quản lý môi trường

Mô hình DPSIR rất hữu dụng trong việc mô tả các mối quan hệ giữa nguồn gốc (nguyên nhân) và hậu quả trong các vấn đề môi trường Tuy nhiên để hiểu được động lực chính của những tương tác này việc xem xét mối liên hệ giữa các yếu tố trong mô hình DPSIR cũng rất hữu ích Ví dụ như mối quan hệ giữa các yếu tố “D”,

“P” trong các hoạt động kinh tế chính là hàm để tính hiệu quả về mặt môi trường của công nghệ và các hệ thống có liên quan khác đang được sử dụng Tính hiệu quả

về mặt môi trường của công nghệ càng cao, sẽ càng giảm được áp lực (P) là kết quả của sự gia tăng các yếu tố động lực (D) Cũng tương tự như vậy, mối liên hệ giữa các ảnh hưởng đối với con người hay hệ sinh thái và hiện trạng (S) phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và mức ngưỡng của các hệ thống này Việc xã hội liệu có đáp ứng (R) lại các ảnh hưởng này còn phụ thuộc vào cách thức và đánh giá các ảnh hưởng này và các kết quả của R đối với D phụ thuộc rất nhiều vào tính hiệu quả của

Trang 19

R

Nhìn vào hợp phần có mối quan hệ tương tác qua lại theo hai chiều: chiều thuận và chiều phản hồi Với cách xây dựng mô hình nhận thức theo chuỗi như vậy, DPSIR là một công cụ hiệu quả để xác định, phân tích và đánh giá các mối quan hệ rất phức tạp của hệ thống môi trường tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội Vì vậy, phương pháp này thường được áp dụng cho xây dựng quy hoạch và chiến lược quản

lý môi trường vùng và quốc gia nhằm đảm báo phát triển bền vững (Lê Thạc Cán, 2005) [15]

Dựa trên những kinh nghiệm đã có về quản lý môi trường làng nghề nông thôn ở các nước trên thế giới cũng như các mô hình cụ thể ở Việt Nam, dựa trên những yêu cầu cụ thể về việc nâng cao chất lượng môi trường sống cho người dân nông thôn, khắc phục các ô nhiễm nghiêm trọng hệ có, việc xây dựng được những

mô hình quản lý môi trường hiệu quả cho làng nghề là có thể thực hiện được Tuy nhiên cần các ngành, các cấp, chính quyền địa phương, những đối tượng gây ô nhiễm chính tham gia nhiệt tình và cùng duy trì các mô hình quản lý như vậy một cách bền vững và lâu dài

Một trong những loại làng nghề gây ô nhiễm nghiêm trọng đó là làng nghề tái chế giấy, vì vậy việc xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy là cần thiết và mang nhiều hiệu quả về môi trường, kinh tế, xã hội Mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy trong đề tài được nghiên cứu cụ thể tại làng nghề tái chế giấy xã Phong Khê, Thành Phố Bắc Ninh Mô hình quản lý môi trường được xây dựng trên cơ sở hiện trạng môi trường và quản lý môi trường

đã có tại địa phương, sử dụng phương pháp mô hình DPSIR và quy hoạch môi trường để xây dựng nên mô hình quản lý môi trường mới hoàn thiện và có hiệu quả hơn

Trang 20

CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ GIẤY

PHONG KHÊ, BẮC NINH 2.1 Điều kiện tự nhiên xã Phong Khê [3]

2.1.1 Vị trí địa lý

Xã Phong Khê có vị trí nằm về phía Tây của thành phố Bắc Ninh, cách trung

tâm thành phố khoảng 3 km, cụ thể như sau:

- Phía Bắc: Giáp phường Vạn An thành phố Bắc Ninh, xã Đông Phong

- Phía Nam: Giáp phường Võ Cường thành phố Bắc Ninh và thị trấn Lim

- Phía Đông: Giáp phường Võ Cường và xã Khúc Xuyên

thành phố Bắc Ninh

- Phía Tây: Giáp xã Phú Lâm huyện Tiên Du và xã Đông Phong huyện

Vị trí xã Phong Khê được mô tả trong hình 2.1 như sau:

Hình 2.1: Vị trí địa lý xã Phong Khê, TP Bắc Ninh

Trang 21

2.1.2 Địa hình

Đây là một xã thuộc đồng bằng với nhiều đồng cạn xen lẫn đồng trũng, gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp như hạn, úng Diện tích vàn thấp, trũng chiếm khoảng 60-70% diện tích canh tác

Xã Phong Khê bị chia cắt bởi sông Ngũ Huyện Khê vì vậy cao độ có sự chênh lệch rất lớn

+ Khu vực đất canh tác có cao độ trung bình từ 3,20m - 3.80m

+ Đường đê song Ngũ Huyện Khê có cao độ trung bình từ 6,5m - 8,0m

+ Khu dân cư hiện trạng có cao độ trung bình từ 3,45m - 5,50m

+ Trục đường QL 18 có cao độ trung bình từ 7,50m – 8,45m

2.1.3 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn

Khu vực xã Phong Khê có sông Ngũ Huyện Khê chảy qua và hệ thống các mương tưới tiêu lớn, nhỏ đan xen trong khu vực quanh xã Đây là nơi cung cấp nguồn nước chủ yếu cho canh tác nông nghiệp của xã Hiện nay chế độ thuỷ văn của sông Ngũ Huyện Khê hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ mưa đồng bằng và khả năng tiêu thoát nước của các công trình thuỷ lợi Nước mặt trên địa bàn chủ yếu là nước mưa, nước ngầm có trữ lượng và chất lượng khá

Khí hậu của khu vực mang đặc tính khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa hè nóng

ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh mưa ít Thời tiết trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô

Nhiệt độ không khí: trung bình năm 22,7 -23,80C, nhiệt độ trung bình cao nhất 28,6 – 30,00C, nhiệt độ trung bình thấp nhất 15,2 -17,20C

Lượng mưa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10: Thời tiết nóng ẩm, Nhiệt độ trung bình 26,2o-30,7oC Lượng mưa lớn chiếm 93,18% lượng mưa cả năm, lượng mưa/tháng từ 106mm (tháng 10) đến 614,4mm ( tháng 6) Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau: Lượng mưa ít, có thời kỳ khô hạn 15-20 ngày, làm nhiều diện tích

Trang 22

ao hồ, diện tích canh tác bị khô hạn Nhiệt độ trung bình 17o - 24oC Lượng mưa/tháng từ 2,5mm đến 32,9mm

Độ ẩm: độ ẩm không khí trung bình năm là 78%, trong đó độ ẩm không khí lớn nhất 86% (tháng 3), độ ẩm không khí thấp nhất 70% (tháng 12) Tổng số giờ nắng dao động từ 1.530-1.776 giờ Tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 7, thấp nhất

là tháng 1

2.1.4 Thổ nhưỡng

- Đất đai chủ yếu là phù sa sông Ngũ Huyện không được bồi hàng năm, hàm lượng dinh dưỡng từ trung bình đến khá, song đã có hiện tượng bạc màu hoá (Tầng loang lổ và kết von) do quá trình canh tác độc canh cây lúa và chế độ nước chưa đảm bảo tưới tiêu chủ động Đất phù sa sông Ngũ Huyện Khê ảnh hưởng xã Phong Khê được phân thành 2 loại chính như sau:

+ Đất phù sa bị giây thường phân bố ở các chân vàn, vàn thấp có thành phần cơ giới

là thịt trung bình và thịt nặng, hàm lượng dinh dưỡng khá song khó tan, đất có phản ứng chua nhẹ đến chua

+ Đất có tầng loang lổ và kết von phân bố ở chân vàn cao, thành phần cơ giới thịt nhẹ thích hợp cho các loại cây rau màu, nhưng hàm lượng dinh dưỡng thấp do có hiện tượng rửa trôi và bạc màu hoá Nhìn chung đất đai Phong Khê thích hợp cho trồng lúa và thâm canh lúa

2.1.5 Địa chất

Địa chất của vùng ổn định, các tầng sâu của đất tương đối ổn định, có thể xây dựng những công trình lớn, cao tầng

* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên:

Phong Khê là xã có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp làng nghề và dịch vụ thương mại Xã có vị trí cách trung tâm thành phố Bắc Ninh khoảng 4,0 km, gần tuyến đường TL 295B đi Hà nội – Lạng Sơn ngoài ra

Trang 23

Phong Khê cong có tuyến đường QL.18 ( tuyến Hạ Long-Nội Bài) đi qua rất thuận tiện cho việc giao lưu thương mại hàng hoá

I Tổng diện tích đất các dự án đang triển khai trên

II Tổng diện tích đất nông nghiệp 206,75 37,7

III Tổng diện tích đất phi nông nghiệp 284,13 51,8

Trang 24

2.2 Phân tích hiện trạng kinh tế xã hội làng nghề tái chế giấy Phong Khê (D)

2.2.1 Các chỉ tiêu kinh tế xã hội chính

Bảng 2.2: Bảng cơ cấu kinh tế kỹ thuật [3]

Cơ cấu kinh tế Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011

2.2.3 Xã hội

Dân số:

- Theo thống kê dân số tính đến năm Năm 2013 dân số toàn xã là 10.215 người người được phân chia cho 4 thôn (Ngô Khê, Đào Xá, Dương Ổ, Châm Khê ) Trong đó:

Trang 25

+ Dân số thường trực: 10.215 nhân khẩu

+ Dân số phi nông nghiệp chiếm 84,1 % tổng dân số

Lao động:

Phong Khê cơ bản là một xã công nghiệp làng nghề tái chế giấy truyền thống, lao động tập trung chủ yếu sản xuất công nghiệp, có tỷ lệ nhỏ buôn bán thương mại dịch vụ và sản xuất nông nghiệp

2.2.5 Hiện trạng sản xuất tái chế giấy tại xã Phong Khê

Làng nghề tái chế giấy Phong Khê là một loại hình làng nghề tái chế giấy điển hình tại miền Bắc, điển hình về mặt quy mô sản xuất, trình độ công nghệ trang thiết bị và tiềm lực lao động Xã Phong Khê có 4 thôn là Dương Ổ, Châu Khê, Ngô Khê, Đào Xá, trong đó các hộ, doanh nghiệp sản xuất và tái chế giấy tập trung chủ yếu ở thông Dương Ổ, Đào Xá và 2 cụm Công nghiệp của xã

Hiện nay, số lượng các hộ gia đình làm giấy thủ công đã giảm đi và số lượng nhà xưởng với công nghệ thiết bị máy móc tăng lên Tổng sản lượng giấy năm 2013 ước đạt 195.000 tấn/năm Sản xuất giấy công nghiệp và thủ công nghiệp

ở Phong Khê mỗi năm một tăng Bảng tổng hợp sau đây thể hiện sự phân bố các cơ

sở sản xuất tại Phong Khê:

Bảng 2.3: Phân bố các cơ sở sản xuất

STT Thôn Số máy hiện có Số máy vận hành

Trang 26

4 Châm Khê 8 8

(Số liệu điều tra thực tế tại UBND xã Phong Khê, 12/2013)

Tại Cụm công nghiệp 1 (CCN1) được quy hoạch 12,7 ha, hiện nay có 60

hộ với 58 hộ tham gia sản xuất giấy và 2 hộ nấu bột giấy Cụn công nghiệp 2 (CCN 2) được quy hoạch với diện tích 27 ha, hiện nay đang có 17 doanh nghiệp sản xuất giấy, dự kiến sẽ thu hút các hộ sản xuất từ các thôn chuyển ra CCN2 để phát triển sản xuất Mặc dù số hộ sản xuất ở CCN chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với các hộ trong khu dân cư (chiếm 36,1% tổng số hộ sản xuất trong xã) nhưng sản lượng sản xuất tại CCN1 chiếm trên 50% sản lượng giấy hàng năm của toàn xã

Nguyên liệu chủ yếu sản xuất giấy của làng nghề là giấy vụn, giấy đã qua

sử dụng được thu gom từ nhiều nơi trong cả nước Sản phẩm chủ yếu là giấy dó, giấy vệ sinh, giấy ăn, giấy vàng mã, giấy vở học sinh và bìa cactong, giấy Kraft (giấy bìa, giấy bao xi măng, giấy Duplex, giấy lót kính…)

Sản xuất tái chế giấy tại Phong Khê qua 4 khâu chính:

Các loại nguyên liệu sẽ được đem gia công chế biến, sau đó được đem đến khu gia công nguyên liệu, tại đây nguyên liệu được ngâm trong bể lớn, hóa chất sẽ được sử dụng để tách mực và sử dụng thiết bị nghiền thủy lực để làm mịn giấy Khi bột giấy

đã được nghiền mịn, bột giấy sẽ được làm đặc sệt (có sử dụng hóa chất) Sau đó bột giấy sẽ được đem đến hệ thống tạo tờ, đây là công đoạn xeo giấy để tạo tờ, tùy thuộc vào loại giấy và chất lượng giấy theo yêu cầu mà giấy sẽ được xeo khác nhau Giấy sau xeo sẽ được đem đến công đoạn gia công giấy, tại đây giấy được cắt xén theo yêu cầu, giấy được đóng gói và được xuất ra thị trường

Chế biến

nguyên liệu

Gia công nguyên liệu sau chế biến

Hệ thống máy tạo tờ

Gia công sau tạo tờ

Trang 27

Sơ đồ công nghệ sản xuất kèm dòng thải :

Hình 2.2: Sơ đồ công nghệ tái chế giấy kèm nguồn thải [4]

CTR: băng keo, ghim, bìa nilong, đất cát…

Tiếng ồn

Hóa chất: Nhựa thông, phèn, tinh bột biến đổi, phẩm màu

CTR: sợi NT: TSS, màu, mùi, BOD, COD cao

Bể thu hồi tuần

hoàn nước thải

Trang 28

2.3 Áp lực (P) tác động đến môi trường của làng nghề Phong Khê

Áp lực có tác động đến môi trường của làng nghề Phong Khê hiện nay chính là: nước thải, khí thải, chất thải rắn từ quá trình sản xuất tái chế giấy và sinh hoạt của người dân địa phương Trong đó các áp lực sinh ra từ hoạt động sản xuất tái chế giấy đóng vai trò ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến hiện trạng môi trường của làng nghề, và nước thải là áp lực chính gây ra hiện trạng ô nhiễm môi trường như hiện nay

Bảng 2.4: Dòng thải phát sinh từ quá trình sản xuất STT Công đoạn sản xuất Phát sinh chất thải Môi trường bị ảnh hưởng

3 Tẩy trắng NT: BOD, COD, độ màu

4 Nghiền thủy lực CTR: bột cặn dư thừa KT: tiếng ồn Đất, nước, không khí

5 Bể trộn

NT: COD, BOD cao (nước và hóa chất rơi vãi trong quá trình trộn) Đất, nước, không khí

KT: tiếng ồn Đất, nước, không khí

Tiêu thụ nước cho sản xuất 1 tấn sản phẩm là 8,2 m3

, Với sản lượng giấy trung bình hàng năm vào khoảng 200.000 tấn/năm (555 tấn/ngày), tương đương lượng nước thải sản xuất trung bình là 4.555 m3/ ngày

Ngoài ra còn một lượng nước thải sinh hoạt ước tính khoảng 500 m3/ngày đêm góp phần làm tăng áp lực lên môi trường nước của địa phương

 Chất thải rắn

Trang 29

- Chất thải rắn từ hộ sản xuất: đây là làng nghề sản xuất giấy tái chế nên những chất thải rắn như giấy vụn được tận dụng một cách tối đa Loại chất thải rắn từ các hộ sản xuất chủ yếu bao gồm vỏ bao nilon các loại, sắt thép lẫn trong giấy, giây buộc, giấy nhựa, bao kiện, bao bì bằng kim loại trung bình mỗi cơ sở sản xuất thải ra 45 - 50 kg/ngày và loại có khối lượng lớn hơn cả là xỉ than.Theo số liệu điều tra cho thấy, với mức sử dụng than khoảng 0,8 - 1 tấn than/1 tấn giấy thành phẩm thì lượng than được sử dụng của làng giấy Phong Khê khoảng 18.000 - 20.000 tấn than/năm và tạo ra khoảng 4.000 – 5.000 tấn

xỉ than/năm Lượng xỉ than này được dân trong thôn vận chuyển đi đắp nền nhà hoặc lấp ao hồ trong xã

- Theo báo cáo của cán bộ địa phương, cứ khoảng 3 tháng lại nạo vét hệ thống cống rãnh một lần và mỗi lần thu được 100 tấn chất thải rắn Như vậy, trung bình mỗi ngày chất thải rắn có nguồn gốc từ hệ thống thoát nước thải khoảng 1.100 kg (360 tấn/năm)

- Chất thải rắn từ sinh hoạt: bao gồm rác thải trong hoạt động sống của con người như rác thải chợ, rác thải từ các vật dụng gia đình hỏng vỡ Lượng này ước tính khoảng 0,3 kg/người ngày Năm 2013 dân số toàn xã là 10.215 người,

dự kiến năm 2015 là 11.497 người, năm 2020 là 13.328 người Tổng lượng chất thải rắn từ sinh hoạt được tính toán đến năm 2020 với số lượng được trình bày trong bảng 2.7:

Bảng 2.5: Lƣợng chất thải rắn từ sinh hoạt

Như vậy, ước tính sơ bộ, tổng lượng chất thải rắn của cả hoạt động sản xuất

và sinh hoạt ở Phong Khê khoảng 17,86 tấn/ngày (tương đương 6.518 tấn/năm)

 Khí thải

Trang 30

Khí thải từ quá trình sản xuất là áp lực chủ yếu tác động đến môi trường, thành phần khí thải chủ yếu như sau:

- Bụi và các chất khí độc phát sinh từ công nghệ sản xuất giấy của xã, chủ yếu tại thôn Dương Ổ và thôn Đào Xá và CCN Phong Khê

- Bụi và các khí độc phát sinh từ các phương tiện giao thông trong khu vực, đặc biệt là khí độc sinh ra trong môi trường kỵ khí tại hệ thống kênh, mương thoát nước thải trong xã Hầu hết lượng khí phát sinh từ quá trình đốt củi, than, … chưa qua xử lý vượt quá tiêu chuẩn khí thải cho phép theo QCVN 05:2013/BTNMT Trong đó gần 99% các sản phẩm của quá trình cháy là các chất như nitơ, hơi nước,

CO2,…bên cạnh đó trong quá trình đốt sinh ra một hàm lượng lớn muội than, tro

bụi và một số loại khí độc hại gây tác động trực tiếp cho sức khỏe con người và sinh

NO chiếm 90 – 95% và phần còn lại là NO2

o SOx: Hầu hết các lọai nhiên liệu lỏng đều có chứa lưu huỳnh trong dầu đốt khi cháy thành phần lưu huỳnh trong nhiên liệu phản ứng với oxy tạo thành khí oxit lưu huỳnh, trong đó khoảng 99% là khí sunfu đioxit SO2

2.4 Hiện trạng môi trường (S) của làng nghề Phong Khê

Sự phát triển về sản xuất làm gia tăng về lượng và chất của chất thải, nước thải và khí thải vào môi trường Sự gia tăng về sản lượng, thu nhập dẫn đến sự gia tăng chất thải sinh hoạt Bên cạnh đó không có các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm và quản lý môi trường phù hợp dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở tất cả các

Trang 31

dạng ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất bởi nước thải, chất thải rắn và khí thải phát sinh từ quá trình sản xuất tái chế giấy

Việc thải bỏ chất thải bừa bãi, với một khối lượng lớn và liên tục, không có quy hoạch đã làm mất khả năng đồng hóa tự nhiên của môi trường đối với các chất thải sinh học và hóa học Hiện nay, rất ít các cơ sở sản xuất tại làng nghề có thể đảm bảo tốt các điều kiện về môi trường Các công đoạn sản xuất tái chế giấy và chất thải phát sinh bao gồm:

 Ô nhiễm bởi nước thải:

Trong quá trình sản xuất, người dân còn dùng các loại hóa chất như phèn, sút, hóa chất tẩy trắng, nhựa thông, phẩm màu các loại…Sau khi dùng xong họ thải trực tiếp ra cống rãnh, mương thủy lợi, sông Ngũ Huyện Khê, đổ tràn vào các cánh đồng xung quanh gây nên ô nhiễm đất, nước dùng cho sinh hoạt và thủy lợi Đặc trưng thành phần ô nhiễm nước thải do sản xuất tái chế giấy tại Phong Khê như sau:

Bảng 2.6 : Phân tích nước thải tại một số điểm ô nhiễm điển hình xã Phong Khê [19]

STT Thông

12:2008/BTNMT cột B

Ghi chú: M1: Nước thải tại kênh trong CCN Phong Khê

M2: Nước thải tại kênh thu gom thôn Dương Ổ (Khu vực Đồng Lũng) M3: Nước thải tại cống xả trên sông Ngũ Huyện Khê

Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại một số kênh dẫn nước thải cho thấy các thông số vẫn ở mức cao, vượt quy chuẩn cho phép (QCVN

Trang 32

12:2008/BTNMT cột B – tiêu chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy) rất nhiều lần như: Độ màu cao gấp 2-5 lần quy chuẩn, ô nhiễm chất hưu cơ cao BOD5 vượt 8-9 lần, COD vượt 10-13 lần, chất rắn tổng số vượt 8-

12 lần, hàm lượng Clo dư vượt 12-15 lần Toàn bộ lượng nước thải trong xã đều đổ thẳng ra sông Ngũ Huyện Khê

 Ô nhiễm không khí bởi khí thải

Để đánh giá mức độ ô nhiễm không khí, việc quan trắc lấy mẫu không khí xung quanh trong địa bàn xã là rất cần thiết và được lấy mẫu theo định kỳ 2 đợt/năm với hai điểm lấy mẫu để có kết quả đánh giá như trong bảng sau:

Bảng 2.7: Kết quả phân tích môi trường không khí tại xã Phong Khê [18]

05:2013/ BTNMT

Ghi chú: K1: Thôn Dương Ổ - Phong Khê (Cạnh nhà ông Nguyễn Văn Nhã);

K2: CCN Phong Khê (Cổng xí nghiệp Giấy Hải Hà)

Quan trắc mẫu không khí trên được tiến hành vào hai đợt, đợt 1 tháng 3, đợt

2 vào tháng 9 Kết quả thử nghiệm mẫu không khí tại các điểm lấy mẫu của làng nghề Phong Khê cho thấy: Hàm lượng bụi cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,19 - 1,27 lần; Các chỉ tiêu phân tích khác và đo tại hiện trường có giá trị nằm trong giới hạn cho phép QCVN 05:2013/BTNMT, nhiệt độ đo được cao hơn so với nhiệt độ môi trường xung quanh chứng tỏ quá trình sản xuất thải ra khí nóng làm tăng nhiệt độ không khí ngoài trời, một phần ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân trong làng

Trang 33

Ngoài ra các làng nghề tái sinh giấy còn bị ô nhiễm bởi hơi kiềm do quá trình ngâm phế liệu, nhưng chỉ ở mức độ cục bộ tại các hộ sản xuất

 Ô nhiễm bởi chất thải rắn

Các nguồn phát sinh chất thải rắn chính của xã Phong Khê bao gồm:

- Chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt

- Chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sản xuất giấy: tại các hộ sản xuất thôn Đào Xá, Dương Ổ và CCN, ngoài ra lượng bùn lớn từ các bể lắng, kênh mương, hệ thống thu gom

- Ngoài ra còn có chất thải rắn từ xây dựng, nông nghiệp nhưng lượng này không đáng kể

Chất thải rắn từ hệ thống thoát nước thải: các chất rắn lơ lửng trong hệ thống nước thải tồn đọng lâu ngày sẽ có 2 khuynh hướng: thứ nhất, nếu được keo tụ thành khối

có trọng lượng lớn thì bị chìm xuống đáy cống rãnh tạo nên bùn, thứ hai có thể ở điều kiện yếm khí, sự phân huỷ các chất hữu cơ ở dưới hệ thống cống rãnh tạo nên các bọt khí nhỏ thoát lên bề mặt nước và kéo theo các chất lơ lửng (dạng tuyển nổi)

và các chất này nổi trên bề mặt cống rãnh gây mất cảnh quan môi trường

2.5 Tác động (I) đối với môi trường và xã hội

 Suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước phục vụ tưới tiêu nông nghiệp trên hệ thống thuỷ lợi Ngũ Huyện Khê và nội đồng

Nước sông bị ô nhiễm nghiêm trọng và chất lượng nước không thay đổi nhiều qua các năm Ô nhiễm bởi COD là ô nhiễm điển hình trên sông NHK được

mô tả trong hình sau:

Trang 34

Hình 2.3: Diễn biến hàm lượng COD trên sông NHK năm 2007-2011 [2]

Sông Ngũ Huyện Khê chảy qua 5 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm: Đông Anh trên địa bàn Hà Nội; thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong, huyện Tiên Du và thành phố Bắc Ninh trên địa bàn Bắc Ninh Sông này được dùng tiêu thoát nước về mùa mưa, lấy nước phục vụ bà con nông dân sản xuất nông nghiệp về mùa khô Nhìn vào hình 2.3 ta thấy trên dọc các điểm lấy mẫu trên sông NHK, thì điểm lấy mẫu tại cầu Đào Xá thuộc xã Phong Khê bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất luôn gấp từ 8-10 lần quy chuẩn cho phép (QCVN 08:2008 Quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước mặt) Với mức độ ô nhiễm cao, tải lượng lớn không qua hệ thống xử lý mà trực tiếp thải

bỏ ra môi trường gây nên ô nhiễm nặng nề đến nguồn nước, đất phục vụ sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân trong vùng

 Suy giảm chất lượng đất

Do phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải, chất thải rắn nên hệ sinh thái đất nông nghiệp trong xã suy giảm nghiêm trọng khiến không còn khả năng canh tác nông nghiệp, hiện nay các ruộng trên địa bàn xã bỏ hoang hoặc là bị úng ngập bởi nước thải chưa qua xử lý

 Giảm chất lượng môi trường sống người dân địa phương

Trang 35

Trong địa bàn xã Phong Khê, đâu cũng thấy nước thải, rác thải ứ đọng trong hệ thống kênh mương, ven đường làm, mùi nước thải, khí thải bốc lên làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến người dân địa phương, nhiều bệnh tật đã xuất hiện với tần xuất cao như đau mắt, tiêu chảy, bệnh dịch…Cảnh quan môi trường bị ô nhiễm khiến người dân luôn cảm thấy bức bối, khó chịu, căng thẳng vì phải sống chung với mức

độ ô nhiễm nghiêm trọng Không gian sống bị thu hẹp lại để nhường chỗ cho sản xuất, cho khu vực chứa chất thải

 Suy giảm sức khoẻ của người dân

Do môi trường ô nhiễm nên nhiều người dân làng giấy Phong Khê (Bắc Ninh) đã bị nhiễm độc, phát bệnh Số người mắc bệnh hô hấp, ngoài da, đường ruột tăng nhanh, hiện đã cao gấp đôi so với 3 năm trước

Theo báo cáo của Trạm y tế xã Phong Khê, tỷ lệ người mắc bệnh hô hấp, ngoài da, đường ruột năm nào cũng tăng Nếu như năm 2001 mới chỉ có khoảng 200 người thì năm 2004 đã là gần 400 người mắc

 Mất sinh kế

Do đất nông nghiệp, nước trong hệ thống kênh mương thuỷ lợi bị ô nhiễm nên nông nghiệp của địa phương gần như không phát triển mà còn suy giảm nghiêm trọng dẫn đến người dân lao động trong lĩnh vực nông nghiệp không có việc làm, phải tìm các việc mới trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của địa phương hoặc các vùng lân cận

2.6 Đáp ứng (R) của địa phương

2.6.1 Quản lý môi trường tại Phong Khê

Hiện nay xã Phong Khê chưa có hệ thống quản lý môi trường toàn diện mà chỉ đang có tổ vệ sinh môi trường mang tính chất đơn giản Tổ vệ sinh môi trường bao gồm các cựu chiến binh trong xã đứng ra tổ chức thu gom rác thải, nạo vét kênh mương theo định kỳ 3 tháng/lần, tổ bầu cử ra một người làm tổ trưởng có trách nhiệm tính toán chi phí duy trì tổ, từ đó tính ra mức thu đối với các hộ sản xuất

Trang 36

trong làng (400-500 nghìn/ tháng /hộ sản xuất, tuỳ vào công suất và sản lượng sản phẩm của các hộ gia đình), khi có sự cố về môi trường, quá tải về lượng rác mà tổ không thể hoàn thành thu gom được thì UBND xã Phong Khê sẽ tăng cường thêm người của UBND ra để can thiệp và trợ giúp tổ vệ sinh môi trường

Tuy nhiên hiệu quả của tổ vệ sinh môi trường này còn chưa cao, hoạt động của tổ còn nhiều khó khăn như:

- Mang tính chất tự phát, tính pháp lý với các cơ sở không cao từ đó dẫn đến việc thu gom phí bảo vệ môi trường hàng tháng gặp nhiều khó khăn

- Nhân công của tổ thu gom không được đào tạo về vấn đề vệ sinh môi trường, quản lý môi trường, hệ thống thu gom, bảo hộ lao động, độc hại sản xuất…Dẫn đến hệ thống thu gom hoạt động không chuyên nghiệp, hiệu quả không cao Số lượng nhân lực quá ít so với thải lượng chất thải rắn hàng ngày

- Tổ vệ sinh môi trường chỉ giải quyết được một phần ô nhiễm từ chất thải rắn, bên cạnh đó ô nhiễm bởi nước thải, khí thải gần như không có hướng giải quyết

- Lưu lượng thải của nước thải, chất thải rắn quá lớn vượt quá khả năng kiểm soát của tổ vệ sinh môi trường

Việc quan trắc chất lượng môi trường không khí, nước hàng năm trên sông Ngũ Huyện Khê, tại làng nghề Phong Khê vẫn được sở Tài nguyên Môi trường Bắc Ninh thực hiện theo định kỳ hàng năm để lập báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bắc Ninh Song các con số thống kê này chưa đủ để thể hiện mức độ ô nhiễm của làng nghề ô nhiễm trầm trọng như Phong Khê Vì thể cần có hệ thống quan trắc dầy số liệu hơn để giúp cho chính quyền địa phương có kế hoạch bảo vệ môi trường xã Phong Khê cụ thể và hiệu quả hơn

2.6.2 Hệ thống thu gom và xử lý nước thải

Hệ thống thu gom nước thải trong CCN 1 tương đối hoàn thiện theo cơ sở hạ tầng trong quá trình quy hoạch CCN, còn lại nước thải sản xuất tại thôn Dương Ổ, Đào Xá chủ yếu là đổ chung vào kênh mương thủy lợi, cống dẫn nước thải sinh hoạt rồi đổ vào hầu hết những thửa ruộng biến các thửa ruộng thành các ao tù chứa nước

Trang 37

thải với nồng độ đậm đặc, các hộ sản xuất ven sông Ngũ Huyện Khê thì chứa lại trong các bể lắng rồi bơm ra sông Ngũ Huyện Khê

Hiện nay trên địa bàn xã đang đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải 5.000

m3/ngày do UBND tỉnh Bắc Ninh làm chủ đầu tư, dự kiến năm 2014 đi vào hoạt động, xong hiện nay mới chỉ thi công xong một số hạng mục hồ điều hoà, hồ xử lý sinh học, hồ lắng

Bên cạnh đó trong xã cũng có một số công trình xử lý nước thải đơn lẻ, công suất nhỏ như:

- Công trình xử lý nước thải làng nghề sản xuất giấy Phong Khê

Năm 2000, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thực hiện Dự án đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung làng nghề sản xuất giấy Phong Khê bằng công nghệ hồ sinh học, với tổng vốn đầu tư 1.400.000 đồng Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hỗ trợ 770.000 đồng đầu tư xây dựng hệ thống cống thoát nước và hồ sinh học Nhưng đến nay, công trình không hoạt động được do thiếu kinh phí, do bồi lắng hồ mà không được nạo vét định kỳ

- Mô hình xử lý nước thải tại Xí nghiệp giấy Hiền Hòa, xã Phong Khê

Từ năm 1999 đến 2001, Viện Cơ học đã đầu tư mô hình xử lý nước thải tại Xí nghiệp giấy Hiền Hòa bằng công nghệ hóa lý kết hợp lọc sinh học, công suất 150 m3/ngày đêm Mô hình xử lý đã được đầu tư đúng yêu cầu kỹ thuật, nước thải sau khi xử lý đạt Quy chuẩn môi trường Việt Nam đối với nước thải công nghiệp Tuy nhiên đến nay công trình đã hư hỏng không vận hành được

- Mô hình xử lý nước thải sản xuất giấy tái chế thôn Đào Xá, xã Phong Khê

Dự án đầu tư cải thiện môi trường làng nghề do tổ chức Quỹ hỗ trợ phát triển Cộng hoà Czech và CIDA-Canada phối hợp với Viện Khoa học Thuỷ lợi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong chương trình hợp tác ba bên giữa Việt Nam, Czech và Canada từ năm 2005 nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng môi trường tiến tới phát triển bền vững, với công suất 120 m3/ngày đêm bằng công nghệ tuyển nổi

Trang 38

Tuy nhiên, hiện nay hệ thống xử lý đã không hoạt động do không có kinh phí vận hành

- Xí nghiệp giấy Minh Quân có công suất 2.000 tấn/năm, hệ thống xử lý nước thải dùng công nghệ ly tâm để xử lý nước thải sản xuất Hệ thống được xây dựng với sự tài trợ của Viện Khoa học Công nghệ các chất thiên nhiên Tổng kinh phí gần 300 triệu đồng – cơ sở bỏ kinh phí 10% Hiệu quả xử lý chưa cao do công suất xử lý thấp

- Xí nghiệp giấy Hợp Tiến sản xuất giấy trắng, giấy in, giấy Kraft với tổng công suất 25 tấn sản phẩm/ ngày Công nghệ sử dụng để xử lý nước thải là công nghệ lắng và lọc qua hệ thống xử lý yếm khí, lọc sinh học với công suất xử lý 150

m3/ngày với tổng kinh phí đầu tư 300-500 triệu đồng, hiệu quả xử lý khá tốt

- Tại cơ sở sản xuất giấy của ông Nguyễn Văn Toàn (thôn Ngô Khê) đã sử dụng một phần diện tích đất để xử lý nước thải sản xuất bằng hệ thống thực vật, cỏ theo

mô hình bãi lọc trồng cây Tuy nhiên trong bãi lọc còn một lượng lớn bột giấy chưa được thu hồi nên hiệu quả xử lý không hiệu quả

2.6.3 Hệ thống thu gom, xử lý CTR

Hiện nay, trong xã có một tổ thu gom do hội Cựu chiến Binh xã đứng ra tổ chức, hàng tuần thu gom rác sinh hoạt, sản xuất và nạo vét bùn trên một số tuyến kênh chính Toàn bộ rác thải thu gom được đổ vào bãi rác Quai Lải rộng 1,23 ha tại thôn Dương Ổ Bãi rác Quai Lải được vốn là một hồ cạn, quy hoạch 10 năm để trở thành bãi rác chung, với diện tích hơn 1ha, rác thải và bùn thải được thu gom và đổ tại bãi rác này nhưng không được quản lý mà đổ thải bừa bãi gây mất vệ sinh môi trường xung quanh, về lâu dài gây ô nhiễm môi trường đất và nước ngầm

Vấn đề khó khăn trong quản lý chất thải nữa là thiếu công cụ và chế tài xử lý vi phạm, nhiều hộ sản xuất khẳng định tự thu gom và đổ rác ra bãi chung để không đóng tiền vệ sinh, song rác thải, bùn thải vẫn được vất khắp đường làng vì thế các

hộ đóng tiền cũng tìm cách để hạn chế việc phải đóng tiền cho đội thu gom vì đó là việc làm không bắt buộc

Trang 39

2.7 Đánh giá hiện trạng môi trường và quản lý môi trường tại Phong Khê bằng mô hình DPSIR

Các động lực chi phối chuỗi đánh giá quản lý môi trường DPSIR của làng nghề tái chế giấy tại Phong Khê gồm có: Phát triển dân số, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (tái chế giấy), nông nghiệp, thương mại và dịch vụ, trình độ dân trí Trong đó phát triển công nghiệp tái chế giấy là động lực mạnh mẽ nhất tri phối gần như toàn bộ hiện trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề, tiếp đó đến thương mại và dịch vụ, trình độ dân trí Phát triển dân số và nông nghiệp có thể được coi là mức độ ảnh hưởng rất nhẹ so với các động lực khác Phân tích ảnh hưởng của các động lực chính theo mô hình DPSIR như sau:

Trang 40

STATE (HIỆN TRẠNG)

IMPACT (TÁC ĐỘNG)

PRESSURE ( ÁP LỰC)

DRIVER ( ĐỘNG LỰC) Chú giải

Hình 2.4 : Sơ đồ phân tích chuỗi DPSI cho động lực chi phối “ Công

nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tái chế giấy

Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất

Đất

Suy giảm đa dạng sinh học

Xói mòn đất

Khai thác, vận chuyển vật liệu xây dựng

Chiếm dụng HST

tự nhiên

Nước thải,rác thải

Cụm công nghiệp

Giảm diện tích đất nông nghiệp Lưu lượng lớn

Ảnh hưởng đến sức khỏe con người và vật nuôi, cảnh quan,

cơ sở hạ tầng

Xây dựng cơ sở vật chất

Thiếu lương thực

Bụi, tiếng ồn, khí ô nhiễm

Ngày đăng: 18/07/2017, 22:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Môi trường làng nghề Việt Nam, Báo cáo Môi trường Quốc gia 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường làng nghề Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo môi trường nước mặt, Báo cáo Môi trường Quốc gia 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường nước mặt
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2012
3. Ban quản lý dự án quy hoạch trên địa bàn TP Bắc Ninh (2013), Thuyết minh quy hoạch phân khu xã Phong Khê – TP Bắc Ninh, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuyết minh quy hoạch phân khu xã Phong Khê – TP Bắc Ninh
Tác giả: Ban quản lý dự án quy hoạch trên địa bàn TP Bắc Ninh
Năm: 2013
4.Tổng cục Môi trường (2011), Tài liệu kỹ thuật “Hướng dẫn đánh giá sự phù hợp của công nghệ xử lý nước thải và giới thiệu một số công nghệ xử lý nước thải đối với ngành chế biến thuỷ sản, dệt may, giấy và bột giấy”, tr 91-124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn đánh giá sự phù hợp của công nghệ xử lý nước thải và giới thiệu một số công nghệ xử lý nước thải đối với ngành chế biến thuỷ sản, dệt may, giấy và bột giấy
Tác giả: Tổng cục Môi trường
Năm: 2011
5.Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Trung Tâm sản xuất sạch Việt Nam“Tài liệu hướng dẫn Sản xuất sạch hơn trong ngành giấy và bột giấy” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn Sản xuất sạch hơn trong ngành giấy và bột giấy
6.UBND Tỉnh Bắc Ninh (2011) “Quyết định phê duyệt đề án xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề sản xuất giấy Phong Khê theo quyết định số 64/2003/QĐ- TTG của thủ tướng chính phủ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định phê duyệt đề án xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề sản xuất giấy Phong Khê theo quyết định số 64/2003/QĐ-TTG của thủ tướng chính phủ
7.Nguyễn Thị Thắm (2011), “Đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước tại một số làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm”Luận văn thạc sĩ , Trường Đại học khoa học tự nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước tại một số làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm
Tác giả: Nguyễn Thị Thắm
Năm: 2011
8.Lê Xuân Tâm, Nguyễn Tất Thắng “Phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới”Tạp chí Khoa học và Phát triển 2013, tập 11 số:1214-1222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới
9.Viện Địa chất và Môi trường (2010-2012)“Đánh giá ảnh hưởng của hiện trạng ô nhiễm đất, nước và không khí tới sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề thuộc tỉnh Bắc Ninh. Đề xuất giải pháp khắc phục”, Đề tài KHCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá ảnh hưởng của hiện trạng ô nhiễm đất, nước và không khí tới sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề thuộc tỉnh Bắc Ninh. Đề xuất giải pháp khắc phục”
10.Nguyễn Xuân Nguyên, Trương Quang Hải, Phạm Thị Tố Oanh (2008) “Ứng dụng mô hình toán lập các phương án sản xuất tối ưu gắn với định mức chi phí xử lý môi trường làng nghề Bắc Ninh”, Tạp chí khoa học và Công nghệ, tập 46, số 3, tr 71-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ứng dụng mô hình toán lập các phương án sản xuất tối ưu gắn với định mức chi phí xử lý môi trường làng nghề Bắc Ninh”
11.Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam, Viện Nước, tưới tiêu và Môi trường (2009- 2010) “Thử nghiệm mô hình quản lý môi trường làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang”, Báo cáo tổng kết nhiệm vụ Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) “Thử nghiệm mô hình quản lý môi trường làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang”
12.Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh (2008) “Dự án cải thiện chất lượng môi trường lưu vực sông Ngũ Huyện Khê”, Thuyết minh thiết kế cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dự án cải thiện chất lượng môi trường lưu vực sông Ngũ Huyện Khê”
13. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), “Thông tư Quy định về xây dựng và quản lý chỉ thị môi trường Quốc gia số 09/2009/TT – BTNMT” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thông tư Quy định về xây dựng và quản lý chỉ thị môi trường Quốc gia số 09/2009/TT – BTNMT
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
14. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), “Thông tư quy định việc xây dựng Báo cáo môi trường Quốc gia, Báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực và Báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh số 08/2010/TT – BTNMT” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thông tư quy định việc xây dựng Báo cáo môi trường Quốc gia, Báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực và Báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh số 08/2010/TT – BTNMT
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2010
15. Lê Thạc Cán (2005), “Tổng quan về ứng dụng mô hình DPSIR trong xây dựng chỉ thị môi trường”, Viện Môi trường và Phát triển bền vững Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổng quan về ứng dụng mô hình DPSIR trong xây dựng chỉ thị môi trường”
Tác giả: Lê Thạc Cán
Năm: 2005
16. UBND xã Phong Khê (2013), ”Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2013, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2013, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013
Tác giả: UBND xã Phong Khê
Năm: 2013
17. Trịnh Thành (2011), “Quy hoạch môi trường”, Bài giảng kỹ sư quản lý Môi trường, Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Đại học Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy hoạch môi trường”
Tác giả: Trịnh Thành
Năm: 2011
18. Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2007), “Báo cáo hiện trạng môi trường Bắc Ninh 2007” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo hiện trạng môi trường Bắc Ninh 2007
Tác giả: Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh
Năm: 2007
19. Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam, Viện Nước, tưới tiêu và Môi trường (2008), “Báo cáo chính dự án đầu tư, tiểu dự án hệ thống xử lý nước thải tập trung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam, Viện Nước, tưới tiêu và Môi trường (2008)
Tác giả: Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam, Viện Nước, tưới tiêu và Môi trường
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Sơ đồ mô hình DPSIR [21] - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Hình 1.2. Sơ đồ mô hình DPSIR [21] (Trang 15)
Hình 2.1: Vị trí địa lý xã Phong Khê, TP Bắc Ninh - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Hình 2.1 Vị trí địa lý xã Phong Khê, TP Bắc Ninh (Trang 20)
Bảng 2.3: Phân bố các cơ sở sản xuất - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Bảng 2.3 Phân bố các cơ sở sản xuất (Trang 25)
Sơ đồ công nghệ sản xuất kèm dòng thải : - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Sơ đồ c ông nghệ sản xuất kèm dòng thải : (Trang 27)
Bảng 2.4: Dòng thải phát sinh từ quá trình sản xuất  STT  Công đoạn sản xuất  Phát sinh chất thải  Môi trường bị ảnh hưởng - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Bảng 2.4 Dòng thải phát sinh từ quá trình sản xuất STT Công đoạn sản xuất Phát sinh chất thải Môi trường bị ảnh hưởng (Trang 28)
Bảng 2.5: Lƣợng chất thải rắn từ sinh hoạt - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Bảng 2.5 Lƣợng chất thải rắn từ sinh hoạt (Trang 29)
Bảng 2.6 : Phân tích nước thải tại một số điểm ô nhiễm điển hình xã Phong Khê [19] - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Bảng 2.6 Phân tích nước thải tại một số điểm ô nhiễm điển hình xã Phong Khê [19] (Trang 31)
Bảng 2.7: Kết quả phân tích môi trường không khí tại xã Phong Khê [18] - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Bảng 2.7 Kết quả phân tích môi trường không khí tại xã Phong Khê [18] (Trang 32)
Hình 2.3: Diễn biến hàm lƣợng COD trên sông NHK năm 2007-2011 [2] - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Hình 2.3 Diễn biến hàm lƣợng COD trên sông NHK năm 2007-2011 [2] (Trang 34)
Hình 2.4 : Sơ đồ phân tích chuỗi  DPSI cho động lực chi phối “ Công - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Hình 2.4 Sơ đồ phân tích chuỗi DPSI cho động lực chi phối “ Công (Trang 40)
Hình 2.5 : Sơ đồ phân tích chuỗi  DPSI cho động lực chi phối “ Trình - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Hình 2.5 Sơ đồ phân tích chuỗi DPSI cho động lực chi phối “ Trình (Trang 41)
Hình 2.6 : Sơ đồ phân tích chuỗi  DPSI cho động lực chi phối “ Thương - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Hình 2.6 Sơ đồ phân tích chuỗi DPSI cho động lực chi phối “ Thương (Trang 42)
Hình 3.1: Mô hình (DPSIR) quản lý môi trường xã Phong Khê - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Hình 3.1 Mô hình (DPSIR) quản lý môi trường xã Phong Khê (Trang 44)
Bảng 3.3: Tổng hợp phát thải khí thải từ quá trình đốt lò hơi - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Bảng 3.3 Tổng hợp phát thải khí thải từ quá trình đốt lò hơi (Trang 48)
Bảng 3.5: Thông số bể trộn hóa chất - Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý môi trường cho làng nghề tái chế giấy xã phong khê, bắc ninh
Bảng 3.5 Thông số bể trộn hóa chất (Trang 54)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm