Xuất phát từ thực trạng môi trường và những yêu cầu cấp bách nêu trên, đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thu gom xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn tại xã Thạch Long, h
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
- Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn tài liệu trích dẫn
Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Anh Đức
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự vươn lên trong học tập và nghiên cứu cũng như những trải nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy giáo cô giáo, các phòng ban và các đơn vị trong và ngoài trường Bên cạnh đó, tôi còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình, những góp
ý quý báu của bạn bè đồng môn, đồng nghiệp và những người đi trước Nhất là sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của cô giáo TS Trần Thanh Chi đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong toàn bộ thời gian thực hiện đề tài
Trước hết, cho phép tôi gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Viện Khoa học
và Công nghệ môi trường, Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Bách Khoa
Hà Nội đã dẫn dắt, dạy bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo và các đồng nghiệp thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Tĩnh nơi tôi đang công tác; lãnh đạo xã Thạch Long, nhân dân các thôn Nam Giang, Đông Hà 1, Gia Ngãi 1 đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và thu thập thông tin, tài liệu nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo hướng dẫn TS Trần Thanh Chi, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn này./
Hà Tĩnh, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Anh Đức
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ TN &MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt
TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC BẢNG 6
DANH MỤC HÌNH VẼ 7
1 Sự cần thiết 8
2 Mục đích, ý nghĩa, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 9
3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 10
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 14
1.1 Một số khái niệm liên quan 14
1.1.1 Khái niệm rác thải sinh hoạt 14
1.1.2 Hoạt động quản lý chất thải rắn 14
1.1.3 Xử lý chất thải 14
1.1.4 Thành phần rác thải [5] 14
1.1.5 Phân loại rác thải [12] 15
1.2 Sơ lược về tình hình quản lý rác thải trên thế giới 16
1.2.1 Phát sinh rác thải trên thế giới 16
1.2.2 Quản lý, xử lý rác thải trên thế giới 19
1.3 Thực trạng quản lý, thu gom và xử lý rác thải ở nông thôn Việt Nam 23
1.3.1 Khối lượng và thành phần rác thải 23
1.3.2 Hiện trạng quản lý, thu gom và xử lý rác thải ở nông thôn Việt Nam 24
1.3.3 Một số vấn đề về quản lý, thu gom CTR tại Hà Tĩnh 29
Chương 2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ, THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI TẠI XÃ THẠCH LONG 33
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 33
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
Trang 52.2 Hiện trạng quản lý, thu gom và xử lý rác thải tại xã Thạch Long 42
2.2.1 Hiện trạng quản lý và thu gom 42
2.2.2 Các mô hình quản lý rác thải đã áp dụng 51
2.2.3 Các biện pháp thu gom, xử lý rác thải đã áp dụng 52
Chương 3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ, THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI TẠI XÃ THẠCH LONG 53
3.1 Mô hình quản lý, thu gom 53
3.1.1 Nhiệm vụ của Ban chỉ đạo cấp xã 54
3.1.2 Trách nhiệm của HTX dịch vụ và VSMT 55
3.1.3 Trách nhiệm của các cá nhân, hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh 55
3.2 Mô hình xử lý rác thải 55
3.2.1 Giải pháp về công nghệ 55
3.2.2 Giải pháp về nhân lực 61
3.2.3 Giải pháp thiết bị, xây dựng 62
3.2.4 Giải pháp tài chính 63
3.3 Kết quả thảo luận đề xuất mô hình quản lý, thu gom và xử lý rác thải tại khu vực nông thôn 65
3.3.1 Đề xuất quy trình thu gom và xử lý rác thải tại khu vực nông thôn 65
3.3.2 Đề xuất các biện pháp, thể chế trong tổ chức quản lý rác thải ở nông thôn 69 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phát sinh CTR đô thị ở một số nước Châu Á [12] 18
Bảng 1.2 Thành phần và tỷ lệ rác thải ở Mỹ [12] 19
Bảng 1.3 Các phương pháp xử lý CTR một số nước Châu Á [12] 22
Bảng 1.4 Lượng CTR phát sinh tại Việt Nam năm 2003 và năm 2008 [3] 24
Bảng 2.1 Tổng hợp biến trình nhiệt độ qua các năm tại trạm Hà Tĩnh 36
Bảng 2.2 Tổng hợp độ ẩm không khí qua các năm tại trạm Hà Tĩnh 36
Bảng 2.3 Tổng hợp lượng mưa, bốc hơi qua các năm tại trạm Hà Tĩnh 37
Bảng 2.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật 42
Bảng 2.5 Lượng rác thải thu gom được từ thôn Gia Ngãi 1 44
Bảng 2.6 Lượng rác thải thu gom được từ thôn Nam Giang 45
Bảng 2.7 Lượng rác thải thu gom được từ thôn Đông Hà 1 46
Bảng 2.8 Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ngoài khu dân cư 48
Bảng 2.9 Thành phần rác thải sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu 49
Bảng 2.10 Thành phần rác thải sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu theo khả năng cháy của vật liệu 50
Bảng 3.1 Một số công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt đã áp dụng cho cấp xã, phường tại Hà Tĩnh 56
Bảng 3.2 Danh mục các thiết bị chính cho khu xử lý rác xã Thạch Long 63
Bảng 3.3 Bảng tổng hợp chi phí vận hành, quản lý mô hình xử lý 64
Bảng 3.4 Bảng cân đối thu chi cho 1 năm hoạt động 65
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các vùng nông thôn Việt Nam năm 2007 [3] 23 Hình 2.1 Mối tương quan giữa khu vực nghiên cứu với các địa phương lân cận 34 Hình 2.2 Nguồn phát sinh rác thải tại xã Thạch Long 42 Hình 2.3 Dự báo phát sinh rác thải từ khu vực dân cư tại xã Thạch Long 47 Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức của HTX dịch vụ và VSMT đề xuất cho xã Thạch Long 53 Hình 3.2 Quy trình xử lý rác đề xuất cho xã Thạch Long 57 Hình 3.3 Sơ đồ công nghệ lò đốt rác thải sinh hoạt 58 Hình 3.4 Sơ đồ cấu tạo lò đốt 60
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết
Việt Nam là nước có trên 70% dân số sống ở khu vực nông thôn, nhưng trong những năm qua việc thu gom, xử lý rác thải mới chỉ được triển khai ở các thành phố lớn, các khu đô thị, thị xã Công tác quản lý rác thải ở nông thôn chưa được quan tâm thoả đáng còn thả nổi và mang tính tự phát nên vấn đề rác thải gây ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi trong khu vực nông thôn đã ở mức báo động Rác thải sau khi thu gom, không qua xử lý được đổ bừa bãi ra ven đường, kênh mương,
ao hồ hay ngay tại nơi công cộng Ô nhiễm môi trường do rác thải ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và cảnh quan khu vực
Nhiều địa phương cũng đã bước đầu triển khai công tác thu gom, quản lý rác thải Tuy nhiên, do chưa định hướng được công tác quản lý rác thải, nên các địa phương gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức, lựa chọn công nghệ, thiết bị thu gom, xử lý
Xã Thạch Long thuộc huyện Thạch Hà là một địa phương nằm ở cửa ngõ phía Bắc của thị trấn Thạch Hà cũng như thành phố Hà Tĩnh, nơi có đường giao thông thuận lợi, lại tiếp giáp với thành phố nên các cơ sở sản xuất, dịch vụ ngày càng được mở rộng thu hút một lượng lớn lao động từ các địa phương khác Việc gia tăng dân số cơ học cũng như nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày một tăng kèm theo các dịch vụ phục vụ người dân cũng ngày càng phong phú và đa dạng dẫn
đến lượng rác thải tăng lên rất nhiều Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây là chưa
có một giải pháp cụ thể nào về việc xử lý các nguồn rác thải phát sinh này Việc xử
lý chát thải rắn chưa có quy hoạch tổng thể, công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn chưa chưa được thực hiện Rác thải sinh hoạt phát sinh trong quá trình
ăn, ở, tiêu dùng của con người, được thải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường dẫn đến môi trường bị ô nhiễm Ô nhiễm môi trường không chỉ làm mất cảnh quan gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, ảnh hưởng đến an toàn vệ sinh, thực phẩm mà còn là nguyên nhân làm cho tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp gây thiệt hại về kinh tế, sản xuất nông
nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội
Trang 9Xuất phát từ thực trạng môi trường và những yêu cầu cấp bách nêu trên, đề
tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thu gom xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn tại xã Thạch Long, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ” sẽ là cơ sở đề xuất
các giải pháp quản lý rác thải cho xã Thạch Long nói riêng và khu vực nông thôn Việt Nam nói chung
2 Mục đích, ý nghĩa, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Rác thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, cơ quan,
trường học, chợ và các khu công cộng tại vùng nông thôn tại xã Thạch Long
- Phạm vi nghiên cứu: Quy hoạch quản lý, thu gom, xử lý rác thải theo quy
mô cấp xã tại xã Thạch Long
Trang 103 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
a Nội dung nghiên cứu
* Nghiên cứu tổng quan về quản lý rác thải nông thôn
Trên cơ sở xem xét thực trạng quản lý CTR nông thôn ở nước ta để tìm ra các bất cập cũng như mô hình tốt có thể nhân rộng
* Hiện trạng quản lý, thu gom và xử lý rác thải tại xã Thạch Long
- Nghiên cứu hiện trạng thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng, xử lý CTR nhằm đưa ra được bức tranh tổng quan về thực trạng phát sinh, phát thải, thành phần CTRSH trên địa bàn xã Thạch Long huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, đánh giá hiện trạng các điều kiện vệ sinh môi trường khu vực xử lý CTR
- Nghiên cứu vai trò của các cấp trong công tác quản lý, vai trò và sự tham gia của người dân vào công tác quản lý, thu gom và xử lý CTRSH nông thôn
- Xác định các tồn tại, bất cập trong quản lý CTR trên địa bàn xã Thạch Long, đánh giá sơ bộ các biện pháp quản lý, thu gom và xử lý CTR đang áp dụng
* Xây dựng mô hình quản lý, thu gom và xử lý rác thải tại xã Thạch Long
Từ thực trạng công tác quản lý, thu gom và xử lý rác thải tại địa phương kết hợp với các yếu tố tự nhiên, xã hội, con người để xây dựng mô hình quản lý, xử lý phù hợp nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
Đánh giá sơ bộ các ưu điểm, nhược điểm của mô hình quản lý, thu gom và
xử lý rác thải đề xuất tại xã Thạch Long để có đề xuất cho vấn đề quản lý CTR ở nông thôn nước ta hiện nay
b Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp kế thừa số liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, một số tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội được kế thừa từ Niên giám thống kê của tỉnh và báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của địa phương Ngoài ra một số liệu được thu thập từ các sở, ban, ngành tỉnh Hà Tĩnh, như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương, Đài Khí tượng thủy văn Hà Tĩnh Các số liệu được sử dụng trong luận văn là những số liệu mới cập nhật trong khoảng thời
Trang 11gian từ 2010 - 2014
* Phương pháp điều tra xã hội học
- Điều tra, khảo sát hiện trường, đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA)
- Điều tra, khảo sát tình hình phát sinh, thu gom, vận chuyển, xử lý CTR nông thôn trên địa bàn xã Thạch Long;
- Khảo sát thực tế hiện trạng thu gom, xử lý rác thải tại một số hộ gia đình
- Phỏng vấn trực tiếp người dân, các thành viên tổ đội vệ sinh môi trường tự quản, cán bộ thôn, xã
* Phương pháp xác suất, thống kê
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình lấy mẫu, phân tích thành phần rác thải và thu thập, xử lý số liệu về điều kiện khí tượng, thuỷ văn, kinh tế - xã hội ở địa phương nhằm để chỉnh lý tài liệu và phân tích, đánh giá logic cho từng nội dung cũng như đối tượng nghiên cứu
- Lựa chọn khu vực nghiên cứu:
Xã Thạch Long là xã có vị trí địa lý nằm ở cửa ngõ của thành phố Hà Tĩnh vì vậy chịu khá nhiều áp lực của vấn đề đô thị hóa (trong đó có vấn đề RTSH) đồng thời là địa phương có các đặc trưng của nông thôn Hà Tĩnh, như: Có diện tích nhỏ, đang tiến hành xây dựng nông thôn mới, dân cư sinh sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, có nghề thủ công truyền thống v.v
Xã Thạch Long gồm có 9 thôn là: Gia Ngãi 1, Gia Ngãi 2, Đông Hà 1, Đông
Hà 2, Hội Cát, Nam Giang, Đại Đồng, Cồn Mưng và Đan Trung Do thời gian và khuôn khổ đề tài có hạn nên đề tài lựa chọn 3 thôn với các đặc trưng sau:
+ Thôn Gia Ngãi 1: Có 212 hộ, đây là thôn có số lượng người dân tham gia các hoạt động thương mại, dịch vụ, làm việc ở các cơ quan công sở, công ty, số lượng người hưởng lương hưu và cũng là thôn có thu nhập bình quân đầu người cao nhất toàn xã
+ Thôn Nam Giang: Có 115 hộ, là thôn có số hộ tham gia sản xuất nông nghiệp và làm nghề thủ công truyền thống (đan mây, tre) cao nhất toàn xã
Trang 12+ Thôn Đông Hà 1: Gồm 104 hộ, là thôn có 100% giáo dân, có số hộ tham gia nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và cũng là thôn có mật độ dân số cao nhất toàn xã
- Lựa chọn hộ thu mẫu (rác thải sinh hoạt):
Trên cơ sở danh sách các hộ gia đình thuộc 3 thôn nói trên do UBND xã và cán bộ thôn cung cấp, do thời gian nghiên cứu có hạn đề tài lựa chọn cách thu mẫu như sau: Cứ 20 hộ sẽ tiến hành thu mẫu một hộ và hộ cuối cùng trong danh sách Kết quả từ 3 thôn, số lượng hộ sẽ tiến hành thu mẫu là 26 hộ Đây cũng là các hộ được lựa chọn để phỏng vấn và điều tra sâu
- Thời gian và tần suất thu mẫu:
+ Tại 26 hộ gia đình được chọn, phát túi nilông cho các hộ gia đình từ 16h30÷17h chiều ngày hôm trước, chiều ngày hôm sau 16h30÷17h đến cân lượng chất thải và ghi chép đầy đủ số liệu vào các bảng điều tra
+ Lượng chất thải rắn phát sinh của các hộ gia đình sau khi phân loại để tái
sử dụng cho mục đích chăn nuôi và các mục đích khác,… được thu gom chung vào dụng cụ chứa chất thải, tiến hành cân toàn bộ lượng chất thải rắn mà hộ gia đình thải ra trong ngày (24giờ), khảo sát về lượng và thành phần chất thải được tiến hành
4 tháng một lần, tổng số lần thu mẫu là 4 lần Quá trình thu mẫu đề tài đã nhận được
sự hỗ trợ, giúp đỡ của 3 trưởng thôn thuộc khu vực nghiên cứu
- Cách xác định khối lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt
+ Xác định khối lượng bằng cân đo trực tiếp tại hiện trường:
+ Lượng chất thải phát sinh tại khu vực dân cư:
GCTR
g = - = kg/người.ngày
n
Trong đó: g: Lượng phát thải bình quân đầu người (kg/người.ngày)
GCTR: Khối lượng CTR thu được trong ngày từ 1 hộ (kg)
n: Tổng số người của 1 hộ (người)
+ Xác định thành phần rác thải: Từ lượng rác thải thu được của 26 hộ lựa chọn, tiến hành phân loại
Trang 13* Phương pháp tư vấn chuyên gia
Thông qua các buổi gặp gỡ, trao đổi và thảo luận với các chuyên gia xin ý kiến đóng góp cho nội dung của luận văn nhằm hoàn thiện nội dung của luận văn, đáp ứng mục đích nghiên cứu
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt ( chất thải sinh hoạt ) là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại… RTSH có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, thực phẩm dư thừa,
gỗ, lôn, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau củ quả v.v…[5 ]
1.1.2 Hoạt động quản lý chất thải rắn
Hoạt động quản lý CTR: Bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư
xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người.[8]
1.1.3 Xử lý chất thải
Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải và không làm ảnh hưởng tới môi trường; tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế
1.1.4 Thành phần rác thải [5]
Khác với rác thải, phế thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt là một tập hợp không đồng nhất Tính không đồng nhất biểu hiện ngay ở sự không kiểm soát được các nguyên liệu ban đầu dùng cho thương mại và sinh hoạt Sự không đồng nhất này tạo nên một số đặc tính rất khác biệt trong các thành phần của rác thải sinh hoạt
Thành phần cơ học: Thành phần chất thải sinh hoạt có thể bao gồm:
- Các chất dễ phân hủy sinh học: Thực phẩm thừa, cuộng, lá rau, lá cây, xác động vật chết, vỏ hoa quả…
- Các chất khó bị phân hủy sinh học: Gỗ, cành cây, cao su, túi nylon
- Các chất hoàn toàn không bị phân hủy sinh học: Kim loại, thủy tinh, mảnh sành, gạch, ngói, vôi, vữa khô, đá, sỏi, cát, vỏ ốc hến…
Trang 15Thành phần hóa học: Trong các chất hữu cơ của rác thải sinh hoạt, thành phần hóa học của chúng chủ yếu là H,O,N,S và các chất tro
1.1.5 Phân loại rác thải [12]
Phân loại theo nguồn phát sinh
- Chất thải sinh hoạt: phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân cư, các trung tâm dịch vụ, công viên
- Chất thải công nghiệp: phát sinh từ trong quá trình sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí)
- Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra
- Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch
Phân loại theo mức độ nguy hại
- Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng Các chất thải này tiềm ẩn nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe doạ sức khoẻ con người và sự phát triển của động thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí
- Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất và các hợp chất có các tính chất nguy hại Thường là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia đình, đô thị…
Phân loại theo thành phần
- Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ như tro, bụi, xỉ, vật liệu xây dựng như gạch, vữa, thuỷ tinh, gốm sứ, một số loại phân bón, đồ dùng thải bỏ gia đình
- Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ như thực phẩm thừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ và các loại thuốc bảo vệ thực vật
Trang 16 Phân loại theo trạng thái chất thải: Phân loại theo các trạng thái rắn,
lỏng, khí
- Chất thải trạng thái rắn: bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải từ các cơ sở chế tạo máy, xây dựng ( kim loại, da, hoá chất sơn , nhựa, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng…)
- Chất thải ở trạng thái lỏng: phân bùn từ cống rãnh, bể phốt, nước thải từ nhà máy lọc dầu, rượu bia, nước từ nhà máy sản xuất giấy, dệt nhuộm và vệ sinh công nghiệp…
- Chất thải ở trạng thái khí: bao gồm các khí thải các động cơ đốt trong các máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hoả, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu…
1.2 Sơ lƣợc về tình hình quản lý rác thải trên thế giới
1.2.1 Phát sinh rác thải trên thế giới
Nhìn chung, lượng RTSH ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng của người dân nước đó Tỷ
lệ phát sinh rác thải tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầu người Tỷ
lệ phát sinh rác thải theo đầu người ở một số thành phố trên thế giới: Băng Cốc 1,6kg/người/ngày, Singapo 2kg/người/ngày; Hồng Kông là 2,2kg/người/ngày; NewYork (Mỹ) là 2,65kg/người/ngày
Tỷ lệ RTSH trong dòng CTR đô thị rất khác nhau giữa các nước Theo ước tính, tỷ lệ chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc (Gao et al.2002); chiếm 78% ở Hồng Kông; 48% ở Philipin và 37% ở Nhật Bản, chiếm 80% ở nước ta Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, nước có thu nhập cao chỉ có khoảng 25-35% chất thải sinh
hoạt trong toàn bộ dòng CTR đô thị [12]
- Ở Anh : Số liệu thống kê tổng lượng chất thải ở Anh cho thấy hàng năm Liên hiệp Anh tạo ra 307 triệu tấn chất thải, trong đó ước tính 46,6 triệu tấn chất thải sinh học và chất thải dạng tương tự phát sinh ở Anh, trong đó 60% chôn lấp, 34% được tái chế và 6% được thiêu đốt Chỉ tính riêng rác thải thực phẩm, theo dự
án khảo sát được thực hiện từ tháng 10/2006-3/2008, chất thải thực phẩm từ hộ gia
Trang 17đình nhiều hơn tới hàng tấn so với chất thải bao bì chiếm 19% chất thải đô thị Hàng năm, hộ gia đình ở Anh phát sinh 6,7 triệu tấn chất thải thực phẩm, ở Anh là 5,5 triệu tấn, trong đó 4,1 triệu tấn là thực phẩm có thể sử dụng được Trung bình mỗi
hộ gia đình thải ra 276 kg chất thải thực phẩm/năm hay 5,3 kg/tuần, trong đó 3,2 kg vẫn có thể sử dụng được [12]
- Nhật Bản : Theo số liệu thống kê của Bộ Môi trường Nhật Bản, hàng năm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác công nghiệp (397 triệu tấn) Trong tổng số rác thải trên, có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế Số còn lại được xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác Với rác thải sinh hoạt của các gia đình, khoảng 70% được tái chế thành phân bón hữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón [12]
- Ở Singapore : Mỗi ngày thải ra khoảng 16.000 tấn rác Rác ở Singapore được phân loại tại nguồn (nghĩa là nhà dân, nhà máy, xí nghiệp ) Nhờ vậy 56% số rác thải ra mỗi ngày (9.000 tấn) quay lại các nhà máy để tái chế Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt thành tro Mỗi ngày chừng 1.500 tấn tro rác cùng với 500 tấn rác không thể đốt được sẽ lên sà lan trực chỉ Semakau Landfill Như vậy khối lượng từ 16.000 tấn rác mỗi ngày, sau khi đốt rác Singapore chỉ cần bãi đổ rác cho hơn 10% lượng rác đó, xấp xỉ 2.000 tấn Trong khi
đó, ở Việt Nam đặc biệt là TP.HCM thải ra khoảng 8.000 tấn rác (bằng 1/2 Singapore) nhưng phải tìm chỗ chôn lấp cho ngần ấy số rác (gấp bốn lần Singapore).Chưa hết, nhiệt năng sinh ra trong khi đốt rác được dùng để chạy máy phát điện đủ cung cấp 3% tổng nhu cầu điện của Singapore [12]
- Ở Nga: Mỗi người bình quân thải ra môi trường 300 kg/người/năm rác thải Tương đương một năm nước này thải ra môi trường khoảng 50 triệu tấn rác, riêng thủ đô Matxcova là 5 triệu tấn/năm [12]
Theo Ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị Đến năm 2025, dự tính con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày
Trang 18Bảng 1.1 Phát sinh CTR đô thị ở một số nước Châu Á [12]
Quốc gia Năm Dân số
(triệu người)
GDP/n gười
Lượng phát sinh CTRĐT (nghìn tấn/năm)
Tỷ lệ phát sinh MSW/
người/
ngày
Lượng RTSH (nghìn tấn/ năm)
Tỷ lệ phát sinh RTSH (kg/người/ ngày) Trung Quốc 2000 1267,4 856 130320 1,701 781933 1,023
Thành phần rác ở các nước trên thế giới là khác nhau tùy thuộc vào thu nhập
và mức sống của mỗi nước Nước có nền công nghiệp phát triển thì thành phần các chất vô cơ trong rác thải phát sinh chiếm đa số, lượng rác này là nguyên liệu cho ngành công nghiệp tái chế Hàng năm nước Mỹ phát sinh một khối lượng rác lên tới
10 tỷ tấn Trong đó, rác thải từ quá trình khai thác dầu mỏ chiếm 75%, hoạt động nông nghiệp chiếm 13%; hoạt động công nghiệp chiếm 9,5%; rác thải từ cặn cống thoát nước chiếm 1%; rác thải sinh hoạt chiếm 1,5% [12]
Trang 19Bảng 1.2 Thành phần và tỷ lệ rác thải ở Mỹ [12]
Thành phần Tỷ lệ % các loại rác theo các nguồn khác nhau
Tại bãi rác Colombia Theo EPA Trung bình cả nước
1.2.2 Quản lý, xử lý rác thải trên thế giới
Hiện nay vấn đề quản lý, xử lý rác thải ở các nước trên thế giới ngày càng được quan tâm Đặc biệt các nước phát triển, công việc này được tiến hành chặt chẽ,
từ ý thức thải bỏ rác thải của người dân, quá trình phân loại tại nguồn, thu gom, tập kết rác thải tới các trang thiết bị thu gom, vận chuyển theo từng loại Quy định đối với việc thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải được quy định chặt chẽ, rõ ràng, đầy đủ trang thiết bị phù hợp hiện đại Một khác biệt trong công tác quản lý, xử lý rác thải giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển là ở các nước phát triển có sự tham gia của cộng đồng
- Tại Đức: Có thể nói, ngành tái chế rác ở Đức đang dẫn đầu trên thế giới hiện nay Việc phân loại rác đã được thực hiện nghiêm túc ở Đức từ năm 1991 Rác bao bì gồm hộp đựng thức ăn, lon nước hoa quả, máy móc bằng nhựa, kim loại hay các tông được gom vào thùng màu vàng, thùng xanh dương cho giấy, thùng xanh lá cây cho rác sinh học, thùng đen cho thủy tinh Những lò đốt rác hiện đại của nước Đức hầu như không thải khí độc ra môi trường Das Duele System Deutschland (DSD) - “Hệ thống hai chiều của nước Đức” - được các nhà máy tái chế sử dụng để
xử lý các loại rác thải, các nhà máy này đã chi khoản phí gần 1,2 tỷ USD để sử dụng công nghệ trên Tại các dây chuyền phân loại, các camera hồng ngoại hoạt động với tốc độ 300.000km/s để phân loại 10 tấn vật liệu mỗi giờ Ống hơi nén được điều
Trang 20khiển bằng máy tính đặt ở các băng chuyền có nhiệm vụ tách riêng từng loại vật liệu Sau đó rác thải sẽ được rửa sạch, nghiền nhỏ và nấu chảy Quá trình trên sẽ cho
ra granulat là một nguyên liệu thay thế dầu thô trong công nghiệp hoặc làm chất phụ gia
Giáo dục ý thức BVMT cho trẻ nhỏ bắt đầu từ việc phân loại rác là một trong những phương pháp mà những nhà quản lý tại Đức đã áp dụng Rác được phân loại triệt để là điều kiện để tái chế, xử lý rác trở nên thuận lợi và dễ dàng Từ đó, khái niệm về rác thải dần được thay thế bằng nguồn tài sản tiềm năng, mang lại lợi nhuận đáng kể với những ai biết đầu tư vào việc cải tiến công nghệ
- Tại Nhật Bản: Chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng nguyên liệu xử lý theo một hướng sang chu trình xử lý nguyên liệu theo mô hình 3R Về thu gom CTRSH, các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại:
+ Rác hữu cơ dễ phân hủy được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost;
+ Loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao, nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng;
+ Rác có thể tái chế thì được đưa các nhà máy tái chế
Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ quy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư Công ty vệ sinh thành phố sẽ cho ô tô đến đem các túi rác đó đi Nếu gia đình nào không phân loại rác, để lẫn lộn vào một túi thì ban giám sát sẽ báo lại với Công ty và ngay hôm sau gia đình đó sẽ
bị công ty vệ sinh gửi giấy báo đến phạt tiền Với các loại rác cồng kềnh như tivi, tủ lạnh, máy giặt, thì quy định vào ngày 15 hàng tháng đem đặt trước cổng đợi ô tô đến chở đi, không được tuỳ tiện bỏ những thứ đó ở hè phố Sau khi thu gom rác vào nơi quy định, công ty vệ sinh đưa loại rác cháy được vào lò đốt để tận dụng nguồn năng lượng cho máy phát điện Rác không cháy được cho vào máy ép nhỏ rồi đem chôn sâu trong lòng đất Cách xử lý rác thải như vậy vừa tận dụng được rác vừa chống được ô nhiễm môi trường Túi đựng rác là do các gia đình bỏ tiền mua ở cửa
Cơ quan trường học
Trang 21hàng Việc thu gom rác ở Nhật Bản không giống như ở Việt Nam Rác thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệm quản lý của Nhà nước, còn từ các công ty, nhà máy cho tư nhân đấu thầu hoặc các công ty do chính quyền địa phương chỉ định Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về lượng rác thải công nghiệp của
họ và điều này được quy định bằng các điều luật về BVMT
- Ở Trung Quốc: Mức phát sinh trung bình lượng CTR ở Trung Quốc là 0,4 kg/người/ngày, ở các thành phố mức phát sinh cao hơn là 0,9 kg/người/ngày, so với Nhật Bản tương ứng là 1,1 kg/người/ngày và 2,1 kg/người/ngày Tuy nhiên, do mức sống tăng, mức phát sinh CTR trung bình vào năm 2030 dự báo sẽ vượt 1kg/người/ngày Điều này làm cho tốc độ phát sinh CTR của Trung Quốc sẽ tăng lên nhanh chóng Hiện nay, trong lĩnh vực quản lý chất thải đã có nhiều cải tiến đáng kể Chẳng hạn, hầu hết các thành phố lớn đang chuyển dần sang áp dụng biện pháp chôn lấp hợp vệ sinh như là biện pháp xử lý chủ yếu Các biện pháp chôn lấp cải tiến và lợi ích ngày càng tăng phù hợp với nhu cầu quản lý chất thải cực kỳ cấp thiết của Trung Quốc Mặc dù tốc độ cải tiến quản lý CTR là đáng kể, song Trung Quốc không có khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ chất thải ngày càng tăng, yêu cầu đối với các hệ thống xử lý an toàn cho môi trường và hợp lý về hiệu quả - chi phí trong cung cấp dịch vụ
Các phương thức quản lý chất thải của Trung Quốc hiện có tác động tới toàn cầu Ví dụ, hiện nay, nhu cầu về nguyên liệu của Trung Quốc gây ảnh hưởng tới giá nguyên liệu thứ cấp ở Hoa Kỳ Mục tiêu tăng tỷ lệ thiêu đốt chất thải lên 30 % (hiện nay hơn 1 %) của Bộ Xây dựng (MOC) Trung Quốc sẽ làm tăng ít nhất hai lần mức dioxin trong môi trường toàn cầu Trong 25 năm tới, các thành phố của Trung Quốc có thể sẽ cần thêm 1400 bãi chôn lấp chất thải
+Tại Singapore : Nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom rác rất
hiệu quả Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà thầu Công
ty trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác trên một địa bàn cụ thể trong thời hạn 7 năm Singapore có 9 khu vực thu gom rác RTSH được đưa về một khu vực bãi chứa lớn Công ty thu gom rác sẽ cung cấp dịch vụ “từ cửa đến cửa”, rác thải tái
Trang 22chế được thu gom và xử lý theo chương trình Tái chế Quốc Gia Có thể nói Singapore được xem là một quốc gia có môi trường xanh - sạch đẹp của thế giới, Chính phủ rất coi trọng việc BVMT Cụ thể là pháp luật về môi trường được thực hiện một cách toàn diện là công cụ hữu hiệu nhất để đảm bảo cho môi trường sạch đẹp của Singapore Thời gian đầu Chính phủ tổ chức giáo dục ý thức để người dân quen dần sau đó phạt nhẹ nhắc nhở và hiện nay các biện pháp được áp dụng mạnh
mẽ là phạt tiền, phạt tù, bắt bồi thường với những vi phạm nhỏ thì phạt cải tạo lao động bắt buộc Ở Singapore vứt rác, hút thuốc không đúng nơi quy định bị phạt tiền
từ 500 đô la Sing trở lên
Đối với các nước Châu Á chôn lấp chất thải vẫn là phương pháp phổ biến để
xử lý chất thải vì chi phí rẻ Các bãi chôn lấp chất thải được chia thành 3 loại: Bãi lộ thiên, bãi chôn lấp bán vệ sinh (chỉ đổ đất phủ) và bãi chôn lấp hợp sinh Chất lượng của các bãi chôn lấp liên quan mật thiết với GDP Các bãi chôn lấp hợp vệ sinh thường thấy ở các nước phát triển, trong khi đó các bãi rác lộ thiên thấy phổ biến ở các nước đang phát triển Tuy vậy, các nước đang phát triển đã có nỗ lực cải thiện chất lượng các bãi chôn lấp như Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ đã hạn chế chôn lấp các loại chất thải khó phân hủy sinh học, chất thải trơ, các loại chất thải có thể tái chế
Thiêu đốt Chế biến
phân compost
Phương pháp khác
Trang 231.3 Thực trạng quản lý, thu gom và xử lý rác thải ở nông thôn Việt Nam
1.3.1 Khối lượng và thành phần rác thải
Dân số ngày càng tăng, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao rõ rệt, nhu cầu và sức tiêu dùng của người dân ở các vùng nông thôn cũng tăng nhanh Đây cũng là nguyên nhân chính làm gia tăng thành phần và tải lượng rác thải sinh hoạt nông thôn
Hình 1.1 Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các vùng nông thôn Việt Nam năm 2007 [3]
Rác thải phát sinh từ các nguồn: Hộ gia đình, chợ, nhà kho, trường học, trạm
xá, cơ quan hành chính…Chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn có tỷ lệ chất hữu cơ khá cao, chủ yếu là từ thực phẩm thải, chất thải vườn và phần lớn đều là chất hữu cơ dễ phân huỷ (tỷ lệ các thành phần dễ phân huỷ chiếm tới 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn)
Hiện nay, số liệu về phát sinh CTR mới chủ yếu được thống kê tại khu vực
đô thị và các KCN; ở khu vực nông thôn, hầu như số liệu về CTR chưa được thống
kê một cách đầy đủ (chẳng hạn như lượng rơm, rạ thải bỏ từ sản xuất nông nghiệp) Trên phạm vi toàn quốc, từ năm 2003 đến năm 2008, lượng CTR phát sinh trung bình tăng từ 150 - 200%, CTR sinh hoạt đô thị tăng trên 200%, CTR công nghiệp tăng 181%, và còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới Dự báo của Bộ Xây dựng và
Trang 24Bộ TN&MT, đến năm 2015, khối lượng CTR phát sinh ước đạt khoảng 44 triệu tấn/năm, phát sinh CTR nhiều nhất là ở các đô thị và khu vực công nghiệp [3]
Với dân số trên 60,703 triệu người sống ở khu vực nông thôn (năm 2010), lượng phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn khoảng 0,3kg/người/ngày, ta có thể ước tính lượng rác thải sinh hoạt phát sinh khoảng 18.210,9 tấn/ngày, tương đương trên 6,6 triệu tấn/năm [3]
Bảng 1.4 Lƣợng CTR phát sinh tại Việt Nam năm 2003 và năm 2008 [3]
1.3.2 Hiện trạng quản lý, thu gom và xử lý rác thải ở nông thôn Việt Nam
Việc phân loại CTR sinh hoạt nông thôn được tiến hành ngay tại hộ gia đình đối với một số loại chất thải như giấy, các tông, kim loại được gom lại bán đồng nát; thức ăn thừa, lá rau,…được tận dụng sử dụng cho chăn nuôi Các CTR sinh hoạt khác không sử dụng được hầu hết không được phân loại mà để lẫn lộn, bao gồm cả các loại rác có khả năng phân huỷ và khó phân huỷ như túi nilon, thuỷ tinh, cành cây, lá cây, hoa quả ôi thối, xác động vật chết…
Hiện nay, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn vào khoảng 40
- 55% Theo thống kê có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ; trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản Việc thu gom rác còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến
Nhiều xã không có quy hoạch các bãi rác tập trung, không có bãi rác công cộng, không quy định chỗ tập trung rác, không có người và phương tiện chuyên chở rác Do đó, các bãi rác tự phát đã hình thành ở rất nhiều nơi, làm cho tình trạng CTR sinh hoạt nông thôn trở thành vấn đề nan giải khó quản lý Một số huyện, xã
Trang 25mặc dù đã có quy hoạch bãi rác, nhưng vẫn chưa có các cơ quan quản lý, biện pháp
xử lý đúng kỹ thuật và người dân vẫn chưa có ý thức đổ rác theo quy định
1.3.2.1 Tái sử dụng, tái chế CTR nông thôn ở Việt Nam
a- Phân compost (phân hữu cơ)
Sản xuất phân hữu cơ (compost) trên cơ sở quá trình phân huỷ hiếu khí tự nhiên của các vi sinh vật biến rác thành mùn và chất dinh dưỡng cho cây trồng Hiện nay, ở Việt Nam sản xuất phân compost đã được thực hiện ở một số nhà máy được xây dựng gần các đô thị, nơi cung cấp chính các loại chất thải hữu cơ làm nguyên liệu đầu vào Mặt khác chưa có nhà máy nào được xây dựng để phục vụ xử
lý rác thải nông thôn Rất khó để đánh giá được hiệu quả của việc áp dụng làm phân compost ở quy mô nhỏ lẻ, từng hộ gia đình, vì vậy tại khu vực nông thôn công nghệ này chưa được áp dụng phổ biến
b- Khí sinh học (Biogas)
Chăn nuôi ở Việt Nam phổ biến vẫn ở quy mô hộ gia đình, chất thải chăn nuôi của các hộ này chủ yếu được xử lý bằng các hình thức: Hầm biogas, tận dụng nuôi thuỷ sản, làm phân ủ bón ruộng Có khoảng 19% chất thải chăn nuôi không được xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường xung quanh
Hiện nay, trên cả nước có khoảng 150.000 công trình khí sinh học đã được xây dựng [3]
c- Phục vụ chế biến thức ăn nuôi trồng thuỷ sản
Hiện nay, phân gia súc, gia cầm được sử dụng khá đa dạng cho quá trình chế biến thức ăn nuôi trồng thuỷ sản
- Nuôi giun quế làm thức ăn nuôi trồng thuỷ sản: Phân trâu bò, phân lợn và chất độn như cỏ, rơm rạ, bèo, dây lang, thân cây lạc…được sử dụng làm chất nền để nuôi giun quế Ngoài ra, phân tươi của gia súc ăn cỏ là có thể cho giun ăn trực tiếp, hoặc có thể ngâm phân tươi với phân chuồng đã ủ hoại làm thức ăn cho giun
- Sử dụng phân gà ủ với chế phẩm men sinh học để thay thế một phần thức
ăn nuôi trồng thuỷ sản Tuy nhiên, các đơn vị thu mua phân gia súc, gia cầm thường mua tại các địa điểm có quy mô chăn nuôi lớn, đối với các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ thì phương pháp phù hợp vẫn là xây hầm Biogas
Trang 26d- Sản xuất nhiên liệu
- Sản xuất nhiên liệu từ trấu: ngày nay, than trấu, củi trấu là một sự lựa chọn tối ưu để thay thế nhiên liệu hoá thạch Việt Nam là một nước sản xuất lúa gạo hàng đầu Châu á, vì vậy việc sản xuất than trấu rất có lợi cho kinh tế và môi trường 1kg trấu sẽ sản xuất được 0,9kg than (không chứa khí lưu huỳnh nên không gây ô nhiễm môi trường) Theo tính toán để có được 1 tấn hơi bão hoà, nếu sử dụng dầu F.O phải tốn 632.000 đồng, than đá là 478.000 đồng, than cám là 282.000 đồng, còn than trấu chỉ tốn 250.000 đồng (giảm được khoảng 20 – 25%) Hiện nay, công nghệ này đang dần dần được phổ biến rộng rãi tại Việt Nam [3]
- Làm nguyên liệu sản xuất than tổ ong: than tổ ong và than viên được sản xuất chứa 60% chất thải hữu cơ làng nghề chế biến nông sản thực phẩm (là các chất hữu cơ, tinh bột thất thoát từ các quá trình làm bún, miến…), 40% còn lại là than cám thông thường Nhiệt lượng do than này cung cấp cao hơn than bình thường 10 - 20%, thời gian cháy lâu hơn, trong khi giá thành lại rẻ hơn 25 - 35% Như vậy vừa tiết kiệm được nguồn than bùn mà lại ít ô nhiễm môi trường vì chất hữu cơ trộn lẫn làm cháy 100% than bùn, ít khói hơn thông thường Đặc biệt là viên than hữu cơ khi
đã cháy hết có thể tái tạo sử dụng làm phân bón
1.3.2.2 Xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn nông thôn ở Việt Nam
Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn chủ yếu được xử lý bằng phương pháp chôn lấp Tuy nhiên, toàn quốc chỉ có 12 trên tổng số 63 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương có bãi chôn lấp hợp vệ sinh hoặc đúng kỹ thuật ở nông thôn và phần lớn được xây dựng trong vòng 10 năm qua Hầu hết các bãi chôn lấp chất thải nông thôn là các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, chủ yếu là bãi rác hở và để phân huỷ tự nhiên
Hiện tại, các phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt đang được áp dụng ở khu vực nông thôn Việt Nam chủ yếu vẫn là các hình thức sau:
Chôn lấp không hợp vệ sinh: Chất thải chôn lấp không có kiểm soát, không
quản lý và không có biện pháp xử lý sau chôn lấp, tận dụng các khu vực trũng hay
ao hồ để đổ trực tiếp và không cần chi phí đầu tư ban đầu, thường gọi là các bãi chất thải
lộ thiên
Trang 27Chôn lấp hợp vệ sinh: Việc chôn lấp chất thải được thực hiện tại các bãi
được chuẩn bị trước (có thể được lót thành và đáy bằng các loại vật liệu như sét, chất dẻo), có sự kiểm soát của đơn vị tư nhân hoặc tổ vệ sinh/xí nghiệp môi trường của xã hoặc huyện, CTR sau khi chôn lấp được xử lý bằng chế phẩm sinh học và được lớp đất che phủ
Đốt: Xử lý đơn giản, chi phí thấp Biện pháp này áp dụng rất hiệu quả đối với
CTR nông thôn có nhiều chất cháy được và ít độc hại Tuy nhiên, hiện nay trong CTR nông thôn ngày càng có nhiều chất độc hại và khi xử lý bằng biện pháp đốt thủ công rất dễ gây ô nhiễm môi trường không khí Vì vậy để biện pháp này được
áp dụng phổ biến trong thực tế thì chất thải cần được phân loại tại nguồn trước khi đem đốt
Ngoài ra, các biện pháp khác như phương pháp làm phân hữu cơ (đã nêu ở mục trước), đốt chất thải thu năng lượng, v.v cần được tiếp tục nghiên cứu và mở rộng, tuy nhiên chưa phù hợp cho áp dụng rộng rãi tại khu vực nông thôn Việt Nam
Tại khu vực nông thôn, lượng chất thải phát sinh tính theo đầu người chỉ bằng một nửa đô thị nhưng chất thải rắn nông thôn có ảnh hưởng to lớn tới môi trường sống trên diện rộng Nhà nước đã có khung pháp lý phù hợp cho các hoạt động bảo vệ môi trường, trong đó có các hướng dẫn về quản lý và xử lý chất thải rắn nhưng thiếu các văn bản hướng dẫn về tiêu chuẩn thu gom, xử lý chất thải cho các vùng nông thôn, các quy định về sử dụng đất để chôn lấp và xây dựng các công trình xử lý chất thải rắn nông thôn Các địa phương chưa dành ngân sách cho việc thu gom, xử lý chất thải; chưa phân công trách nhiệm giữa các cấp trong quản lý môi trường và thu gom Cho nên việc thu gom, xử lý chất thải ở nông thôn hầu hết mang tính tự phát, không có quy hoạch Việc nhanh chóng xây dựng các mô hình thu gom, xử lý chất thải cho khu vực nông thôn vì thế trở nên cấp bách và cần thiết
1.3.2.3 Công tác quản lý thải rắn sinh hoạt nông thôn ở Việt Nam
Hiện nay, chất thải rắn nông thôn đã và đang trở thành vấn đề nổi cộm Lượng CTR nông thôn phát sinh ngày càng nhiều, đa dạng về thành phần và tính chất độc hại Thực tế cho thấy, công tác thu gom và xử lý còn manh mún, lạc hậu,
Trang 28thô sơ, không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, vệ sinh an toàn môi trường Công tác quản lý còn nhiều bất cập thể hiện rõ nét qua sự chồng chéo trong việc phân công nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý
Ước tính, lượng CTR sinh hoạt nông thôn phát sinh khoảng 18,21 tấn/ngày tương đương với 6,6 triệu tấn/năm Tuy nhiên, việc thu gom CTR tại nông thôn chưa được coi trọng, nhiều thôn, xã, chưa có các đơn vị chuyên trách trong việc thu gom CTR nông thôn Một số địa phương đã áp dụng các biện pháp thu gom rác thải sinh hoạt nhưng với quy mô nhỏ, phần lớn do hợp tác xã tự tổ chức thu gom, phương tiện thu gom còn rất thô sơ với các xe cải tiến chuyên chở về nơi tập trung rác Mặt khác, hoạt động thu gom này không được diễn ra thường xuyên mà kết hợp với các đợt nạo vét kênh mương do xã phát động Theo thống kê có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ, trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn mới đạt khoảng 40 - 55% Do tỷ lệ thu gom chưa đáp ứng nhu cầu, nên rác vẫn tràn ngập khắp nơi công cộng, ao, hồ [1]
Công tác quản lý chất thải nông thôn hiện nay tại các địa phương đang trong tình trạng nơi do Sở TN&MT quản lý, nơi lại do Sở NN&PTNT chịu trách nhiệm, đối với CTR sinh hoạt ở vùng nông thôn và CTR làng nghề vẫn chưa xác định thuộc quyền quản lý của Bộ Xây dựng, Bộ NN&PTNT hay Bộ Công thương Hiện tượng chồng chéo trong quản lý giữa các cơ quan có trách nhiệm khiến công tác này bị bỏ ngỏ Chính vì, sự phân công, phân nhiệm của các Bộ/ngành trong quản lý CTR nông thôn còn chưa được rõ ràng nên chưa thấy được vai trò của các cấp trong hệ thống quản lý và chồng chéo khi triển khai thực hiện [1]
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế đất nước, kinh tế nông thôn cũng đang trong giai đoạn chuyển mình để phát triển Sự phát triển đó đã tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường Do vậy, vấn đề CTR nông thôn đang rất cần đến sự quan tâm đúng mức của các cấp quản lý trong việc chỉ đạo thu gom, quy hoạch các trạm trung chuyển CTR của từng địa phương Bên cạnh đó, cũng rất cần đầu tư kinh phí cho công nghệ xử lý CTR nông thôn đảm bảo vệ sinh an toàn cho môi trường và con người
Trang 291.3.3 Một số vấn đề về quản lý, thu gom CTR tại Hà Tĩnh
1.3.3.1 Về tổ chức hoạt động các Hợp tác xã, đội Vệ sinh môi trường
Sau khi UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch BVMT, Hà Tĩnh đã triển khai nhiều nội dung để thực hiện quy hoạch và đã đạt được một số kết quả chính như sau:
- Hoàn thành quy hoạch các khu xử lý chất thải rắn cho các đô thị tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 3531/QĐ-UBND ngày 09/12/2008 Quy hoạch này đã được điều chỉnh, bổ sung và đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 418/QĐ-UBND ngày 04/2/2013 Triển khai quy hoạch, tỉnh đã đầu tư nhà máy xử lý chất thải rắn tại
xã Cẩm Quan với công suất 200 tấn/ngày, xây dựng và vận hành 04 bãi chôn lấp đảm bảo tiêu chuẩn TCXDVN 261:2001 Tính đến tháng 10/2014, trên địa bàn tỉnh
đã và đang triển khai 10 dự án đầu tư các khu xử lý chất thải rắn trong đó có: 01 dự
án nhà máy xử lý chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt tại Kỳ Tân, Kỳ Anh; đang triển khai dự án cải tạo nâng cấp bãi rác thị trấn Kỳ Anh; Đang làm thủ tục đầu tư các dự án đầu tư xây mới tại huyện Hương Khê, Can Lộc, Lộc Hà, Đức Thọ Xây dựng mô hình xử lý rác thải sinh hoạt bằng lò đốt Sankyo, công nghệ Nhật Bản, sản xuất tại Thái Lan, công suất 10 tấn/ngày tại Kỳ Anh, đang vận hành thử để nhân rộng mô hình tại các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh [14]
- Cùng với các Công ty môi trường đô thị hoạt động ở các thành phố, thị xã thì mô hình HTX MT, tổ đội VSMT là mô hình phù hợp trong giai đoạn hiện nay cho công tác thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các thị trấn, thị tứ, các khu du lịch và khu vực nông thôn Các HTX, tổ đội vệ sinh môi trường tổ chức hoạt động
có hiệu quả, là hạt nhân cơ bản trong việc thu gom xử lý rác thải ở các địa phương Trong thời gian qua, việc xây dựng, củng cố, phát triển các HTX, tổ đội VSMT môi trường hoạt động theo mô hình tập thể luôn được các địa phương quan tâm thực hiện Sau 04 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 122/2010/NQ-HĐND và Nghị quyết số 132/2010/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh, các địa phương đã thành lập thêm được 132 HTX, tổ đội VSMT, nâng tổng số Công ty, HTX tổ đội vệ
Trang 30sinh môi trường trên toàn tỉnh lên 166 đơn vị, trong đó có những mô hình mới như HTX MT Thanh niên Phù Việt (huyện Thạch Hà); HTX MT Thanh niên thị trấn Vũ Quang (huyện Vũ Quang); HTX MT và dịch vụ sinh thái biển Thiên Cầm, HTX
MT và Dịch vụ Cẩm Hòa (huyện Cẩm Xuyên); HTX TTCN-Dịch vụ môi trường Sơn Trà (Thạch Trị, huyện Thạch Hà), HTX nước sạch và VSMT xã Yên Hồ (huyện Đức Thọ); xã Khánh Lộc, xã Tiến Lộc (huyện Can Lộc),… Đến nay cùng với các Công ty môi trường đô thị ở Thành phố Hà Tĩnh, Thị xã Hồng Lĩnh và thị trấn Kỳ Anh, trên địa bàn toàn tỉnh đã hình thành một mạng lưới các HTX, đội VSMT rộng khắp hoạt động thu gom rác thải tại tất cả các thị trấn, thị tứ, các khu
du lịch và các xã có tốc độ đô thị hóa cao Các Công ty, HTX, tổ đội VSMT tổ chức hoạt động thu gom và xử lý rác thải trên địa bàn 12/12 huyện, thị xã, thành phố hoạt động theo 03 dạng mô hình gồm: mô hình "HTX MT "hoạt động theo Luật hợp tác
xã, Điều lệ HTX; mô hình "tổ, đội VSMT" hoạt động theo hình thức tự quản; mô hình "Công ty TNHH" hoạt động theo luật doanh nghiệp gồm 04 Công ty quản lý công trình đô thị, 131 HTX môi trường, 31 Tổ, Đội vệ sinh môi trường [13]
- Hiện nay, tỉnh đang tập trung quy hoạch, xây dựng các cơ sở xử lý chất thải rắn tại các đô thị và khu nông thôn phục vụ Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới Hầu hết các xã khi phê duyệt quy hoạch nông thôn mới đã quy hoạch địa điểm cho các trạm trung chuyển, hoặc bãi xử lý của xã Đến nay toàn tỉnh
bố trí được 304 trạm trung chuyển trong quy hoạch, tuy nhiên, việc triển khai xây dựng mới chỉ được 20 trạm, chiếm tỷ lệ 6,58% [14]
1.3.3.2 Về nhân lực [13]
Trong số 166 tổ chức thu gom và xử lý rác thải nêu trên có tổng số 2.031 lao động (tăng 761 lao động so với năm 2012), trong đó các HTX, Đội VSMT có 1.656 lao động, các Công ty môi trường có 375 người Các HTX MT có Ban quản lý HTX còn các đội, tổ vệ sinh môi trường thường có 01 người phụ trách là đại diện của cán
bộ UBND phường, xã hoặc cán bộ phụ nữ xã phụ trách
1.3.3.3 Về cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc [13]
Năm 2012, các HTX, tổ đội VSMT và Công ty đã được trang bị 1.025 xe đẩy
Trang 31tay, 27 xe tải các loại, 18 xe ép rác chuyên dụng, một số dụng cụ thô sơ (cuốc, xẻng, cào, đồ bảo hộ lao động, ), đến hết năm 2014 các HTX, tổ đội VSMT và Công ty
đã được trang bị 1.613 xe đẩy tay, 1.408 thùng đựng rác, 66 xe tải các loại, 26 xe ép rác chuyên dụng Nhìn chung phương tiện hoạt động của HTX, tổ, đội vệ sinh môi trường và các công ty đến nay được đầu tư tăng cả về số lượng và chất lượng hơn so với trước
1.3.3.4 Một số khó khăn, tồn tại trong quá trình hoạt động của các HTX, tổ đội VSMT [14]
Quá trình tổ chức hoạt động thu gom, xử lý rác thải của các HTX, tổ đội VSMT tại các địa phương còn có những khó khăn tồn tại cơ bản là:
- Nhiều địa phương chưa có bãi chôn lấp, xử lý rác thải, hoặc có thì hầu hết chưa được đầu tư xây dựng và vận hành đúng quy trình; một số địa phương thành lập các HTX, tổ đội VSMT hoạt động thu gom rác thải nhưng chưa có nơi để tập trung xử lý Hiện nay toàn tỉnh mới chỉ có 7 bãi rác được đầu tư xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh, gồm thị trấn Thiên Cầm, xã Cẩm Quan (Cẩm Xuyên), khu du lịch Xuân Thành (Nghi Xuân), thị xã Hồng Lĩnh, thị trấn Tây Sơn (Hương Sơn), thị trấn Nghèn (Can Lộc) và xã Hồng Lộc (Lộc Hà) còn tất cả các bãi rác ở các đô thị khác đều đang trong tình trạng tạm bợ, chủ yếu là nơi đổ rác chưa được đầu tư công nghệ
xử lý chôn lấp hợp vệ sinh vì vậy tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường rất lớn
- Việc đầu tư xây dựng bãi xử lý rác thải chưa tương xứng với tốc độ thành lập và hoạt động của các HTX môi trường tại các địa phương, đến nay đã có 50% số
xã trong toàn tỉnh có HTX môi trường hoạt động nhưng toàn tỉnh mới chỉ có 01 nhà máy chế biến rác và 04 bãi chôn lấp đảm bảo đúng quy trình còn lại là các bãi đổ rác tạm vì vậy xảy ra tình trạng đổ rác thải ven đường quốc lộ, tỉnh lộ, ven đê,… gây ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan Ý thức BVMT của một bộ phận dân cư còn thấp nên tình trạng vất rác bừa bãi còn xảy ra Tỷ lệ thu gom xử lý rác thải chỉ mới đạt 55 - 60%, nơi cao nhất 80 - 85%
- Hoạt động của HTX, đội VSMT môi trường là hoạt động mang tính công ích không vì lợi nhuận, nhưng trong quá trình thành lập và hoạt động, hầu hết chưa
Trang 32được hỗ trợ đầu tư kinh phí mua sắm phương tiện, trang thiết bị từ nguồn kinh phí
sự nghiệp môi trường của địa phương
- Xã viên của các HTX môi trường hầu hết là các hộ nghèo không có vốn để đầu tư sản xuất, nguồn thu nhập chủ yếu là từ thu phí vệ sinh, mức phí vệ sinh theo quy định hiện so với mặt bằng chung còn thấp, tỷ lệ thu nộp chưa cao vì vậy đời sống của người lao động còn rất khó khăn Mức thu nhập bình quân của người lao động từ 800.000 đồng đến 2.500.000 đồng/người/tháng chưa đảm bảo cuộc sống cho người lao động
- Việc thành lập và hoạt động của các HTX, đội VSMT còn chưa có hướng dẫn thống nhất vì vậy dẫn đến có nhiều loại hình, thủ tục thành lập HTX, đội VSMT Việc nhân rộng mô hình HTX, thành lập mới HTX, tổ đội VSMT tại một số địa phương còn chậm, hoạt động của một số HTX, tổ đội VSMT hiệu quả chưa cao
- Hầu hết các HTX, tổ đội VSMT đều chưa có trụ sở làm việc, toàn tỉnh mới có 15 Công ty, HTX, VSMT đã có trụ sở để làm việc, còn lại các HTX, tổ đội VSMT khác chưa có trụ sở làm việc mà mượn trụ sở UBND xã, hội quán thôn hoặc nhà riêng làm văn phòng giao dịch, điều hành hoạt động
Trang 33Chương 2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ, THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI
TẠI XÃ THẠCH LONG
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý, kinh tế - xã hội
Nằm ở vùng đồng bằng tỉnh Hà Tĩnh, là xã cửa ngõ phía Bắc của thị trấn Thạch Hà, Thạch Long có giới hạn như sau:
- Phía Nam: Giáp Thị trấn Thạch Hà;
- Phía Bắc: Giáp xã Thạch Sơn và xã Phù Việt huyện Thạch Hà;
- Phía Đông: Giáp xã Hộ Độ huyện Lộc Hà;
- Phía Tây: Giáp xã Thạch Thanh huyện Thạch Hà;
Xã Thạch Long cách thị trấn Thạch Hà 2 km về phía Nam; Cách thành phố
Hà Tĩnh 10 km về phía Tây Bắc; Cách thành phố Vinh 40 km về phía Đông Nam
Có quốc lộ 1A, tỉnh lộ 20, đường tránh thành phố Hà Tĩnh chạy qua Là nơi giao lộ, đấu nối của các tuyến đường quan trọng đó là Quốc lộ 1A, đường tránh thành phố
Hà Tĩnh và đường xuống mỏ sắt Thạch Khê; Các tuyến đường đi qua địa bàn xã, nối Thạch Long với các trung tâm kinh tế, chính trị trong khu vực như thị trấn Thạch Hà, thị xã Hồng Lĩnh, thành phố Hà Tĩnh, thành phố Vinh, khu công nghiệp
mỏ sắt Thạch Khê Cách trung tâm huyện lỵ Lộc Hà, lạch Cửa Sót, bãi tắm Thạch Bằng bình quân 15km Như vậy, có thể khẳng định Thạch Long là xã có lợi thế về mặt vị trí để phát triển kinh tế - xã hội
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Thạch Long thuộc vùng đồng bằng Bắc Trung Bộ, mặc dù không có đồi núi nhưng đồng bằng ở đây lại có kiểu địa hình khá phức tạp
Địa hình thấp dần về phía Tây Nam và Tây Bắc Mặc dù địa hình ít bị chia cắt bởi các sông rạch (hói), độ chênh cao không lớn nhưng cao độ các vùng biến động khá lớn, trên các cánh đồng sản xuất nông nghiệp các vàm đất cao trồng màu diện tích nhỏ xen kẽ trên vùng đất hai vụ lúa, ngay trên đất chuyên lúa địa hình vẫn
có sự chênh lệch độ cao tương đối lớn
Trang 34x· Th¹ ch L-u
x· Th¹ch Xu©n x· B¾ c S¬n
x· Th ¹ch VÞnh
x· Th ¹ch Thanh x· Th ¹ch TiÕn
x· Th ¹ch TrÞ x· Th¹ch L¹c
x· Th¹ ch Khª
x· Th¹ch H¶i x· Th ¹ch §Ønh
Trang 35- Đất cát biển chua glây sâu: Diện tích 159 ha chiếm 27,8% diện tích đất tự nhiên phân bố chủ yếu ở thôn Đan Trung, Gia Ngãi 2, Đại Đồng Để nâng cao hiệu quả kinh tế trên loại đất này nên trồng các loại như lạc, đậu và một số rau màu
- Đất cồn cát trắng vàng chua: Diện tích 90 ha phân bố trên phần đất cao các thôn Nam Giang, Hội Cát; loại đất này có phản ứng chua toàn phẫu diện, chất hữu
cơ và đạm nghèo; chiếm 15,74% diện tích đất tự nhiên
- Đất phèn hoạt động mặn trung bình và ít: 28 ha chiếm 4,9% diện tích đất tự nhiên, phân bố ở thôn Đan Trung Để sử dụng loại đất này có hiệu quả cần phải đầu
tư hệ thống thuỷ lợi để cung cấp nước đầy đủ đảm bảo cho việc ém phèn
- Đất cát Glây nông 16 ha phân bố một phần của thôn Gia Ngãi 1 Đất cát biển chua glây nông 10 ha phân bố chủ yếu ở thôn Đại Đồng, loại đất này có phản ứng chua toàn phẫu diện, các chất hữu cơ trong đất nghèo
2.1.1.4 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
a Khí hậu
Thạch Long là khu vực nhỏ thuộc vùng Bắc Trung Bộ nên về khí hậu mang nét chung của vùng là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm khắc nghiệt Nhiệt độ chênh lệch lớn giữ các mùa
* Nhiệt độ không khí:
Nhiệt độ trung bình của khu vực nghiên cứu năm 2014 là 24,95oC, tương đương với tổng nhiệt năm là 299,4o
C
- Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau, khí hậu khô nóng nhất là
từ tháng 5 đến tháng 7, nhiệt độ trung bình đạt 29,2 -30,3oC Mùa này thường nóng
Trang 36bức, nhiệt độ tối cao tuyệt đối thường vượt quá 35o
C
- Mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, nhiệt độ trung bình tháng từ 14,2oC (tháng 1) đến 23,9oC (tháng 11) Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thể xuống tới
10oC trong mùa Đông (tháng 10)
Bảng 2.1 Tổng hợp biến trình nhiệt độ qua các năm tại trạm Hà Tĩnh
(Nguồn: Đài Khí tượng thủy văn Hà Tĩnh)
Từ năm 2008 đến năm 2014, nhiệt độ trung bình trong khu vực giao động không lớn (từ 23,270
C 25,120C) Biên độ giao động nhiệt trung bình của mỗi năm giao động từ 11,5oC 16,43oC; qua đó cho thấy nền nhiệt tại khu vực nghiên cứu tương đối ổn định
* Độ ẩm không khí:
Độ ẩm không khí khu vực nghiên cứu tương đối cao, độ ẩm trung bình đạt 78,9- 83,7% Trong năm, độ ẩm trung bình đạt giá trị cao nhất vào các tháng I, II, III do ảnh hưởng của thời tiết mưa phùn ẩm, độ ẩm tương đối trung bình đạt giá trị lớn nhất 90 - 94% Vào thời kỳ khô nóng, chịu ảnh hưởng của gió Lào (tháng VI - VII) độ ẩm trung bình đạt giá trị thấp nhất khoảng 71-74%
Bảng 2.2 Tổng hợp độ ẩm không khí qua các năm tại trạm Hà Tĩnh Đặc trƣng 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
Trang 37* Gió:
Hà Tĩnh nói chung và xã Thạch Long nói riêng là khu vực chịu tác động hoàn lưu gió mùa rõ rệt, đó là gió mùa mùa Đông và gió mùa mùa Hạ Bao gồm các đặc điểm sau:
- Gió mùa mùa Đông: Trong các tháng (12, 1, 2) hướng gió thịnh hành là Đông Bắc, thời kỳ cuối Đông từ tháng 3 trở đi hướng gió dịch chuyển dần từ Đông Bắc
Hạ thường xảy ra khô hạn
Bảng 2.3 Tổng hợp lƣợng mƣa, bốc hơi qua các năm tại trạm Hà Tĩnh Đặc trƣng 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ văn của sông Vách Nam
và sông Rào Trẻn, đây là hai sông chính tiêu thoát nước và cấp nước cho sản xuất nông nghiệp Do thiếu nước nguồn bổ sung, lòng sông cạn do bị bồi lắng nên hai sông này thường cạn kiệt vào mùa Hạ
Nguồn nước ngầm nằm ở vùng bồi tích phù sa sông, độ sâu mực nước ngầm
Trang 38bình quân 8 - 10 m, mặc dù không có các chất độc hại quá mức cho phép, nhưng nước ngầm bị nhiễm Sắt nên phải xử lý lắng lọc bằng thủ công trước khi sử dụng
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Cơ cấu kinh tế
Những năm gần đây Thạch Long có tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế khá nhanh từ nông nghiệp sang Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại Năm 2014, tổng giá trị thu nhập toàn xã 68,56 tỷ đồng, thể hiện trên các lĩnh vực:
- Giá trị sản xuất Nông, lâm, thủy sản năm 2014 toàn xã đạt 16,56 tỷ đồng, chiếm 24,16% tổng giá trị sản xuất Trong đó: Giá trị sản xuất trồng trọt đạt 9,70 tỷ đồng, chiếm 58,6%; chăn nuôi đạt 2,97 tỷ đồng, chiếm 17,9%; nuôi trồng thuỷ sản đạt 3,89 tỷ đồng, chiếm 23,5% tổng giá trị sản xuất trong trồng trọt
- Tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản: 25 tỷ đồng, chiếm 36,46% tổng giá trị sản xuất;
- Thương mại - Dịch vụ đạt: 27 tỷ đồng, chiếm 39,38%
2.1.2.2 Thu nhập
- Thu nhập GDP bình quân đầu người năm 2014 đạt 22,4 triệu đồng /người/năm;
- Tổng số hộ nghèo theo tiêu chí mới: 196 hộ, chiếm 14,8%
- Tổng số hộ cận nghèo năm 2014: 194 hộ, chiếm 14,7%
So với thu nhập bình quân khu vực nông thôn của tỉnh Hà Tĩnh, mức thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã ước đạt 1,03 lần
ha đất canh tác
- Cây lương thực: Diện tích trồng lúa cả năm 2014 là 185 ha, trong đó vụ Đông Xuân 135 ha, vụ Hè Thu 50 ha Tổng sản lượng lúa cả năm đạt 782 tấn, trong đó: sản lượng lúa Đông Xuân đạt 607 tấn với năng suất bình quân 4,5 tấn/ha, sản
Trang 39lượng lúa hè thu 175 tấn năng suất bình quân 3,5 tấn/ha
- Cây lạc: Diện tích trồng năm 2014 là 30 ha, năng suất 2,0 tấn/ha đạt sản lượng đạt 60 tấn
- Rau màu: Diện tích rau, bầu bí các loại là 20 ha với sản lượng đạt 120 tấn
- Những năm gần đây đã bắt đầu du nhập nghề trồng cây cảnh, tuy diện tích còn ít (khoảng 3 ha) đang sử dụng đất trồng cây lâu năm, vườn tạp trong vườn hộ để trồng; tập trung tại các thôn Gia Ngãi 1, Gia Ngãi 2, Hội Cát Tuy quy mô còn nhỏ,
số hộ tham gia chưa nhiều nhưng theo đánh giá ban đầu đây là nghề đòi hỏi lao động có chuyên môn cao nhưng cho hiệu quả kinh tế lớn gấp nhiều lần so với các ngành trồng trọt khác
* Chăn nuôi:
Tổng số đàn trâu, bò là 400 con; lợn 1.200 con, trong đó lợn nái 35 con, trọng lượng xuất bán 70 tấn; gia cầm 20.000 con Chăn nuôi còn nhỏ lẻ chủ yếu ở các hộ gia đình, chưa có trang trại chăn nuôi tập trung Các hộ gia đình chăn dắt Trâu, Bò chủ yếu để làm sức kéo trong trồng trọt; việc chăn nuôi gia súc, gia cầm đang theo kiểu truyền thống, công tác giống chưa được quan tâm đúng mức Nhìn chung chăn nuôi trên địa bàn xã chưa theo hướng đầu tư kinh doanh nên hiệu quả kinh tế còn thấp, tỷ trọng của chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp không đáng kể
* Ngư nghiệp:
Thôn Đông Hà 1 và Đông Hà 2 là hai thôn sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt thủy, hải sản Trước đây hầu hết toàn bộ số hộ gia đình và lao động nam làm nghề đánh bắt khai thác thủy hải sản với sản lượng đánh bắt hàng năm tương đối lớn, giá trị thu nhập cao đem lại cuộc sống sung túc cho nhân dân trong vùng Những năm gần đây việc đánh bắt khai thác hải sản gặp nhiều khó khăn nên một bộ phận khá lớn ngư phủ đã chuyển hướng sang làm các ngành nghề khác như đóng tàu thuyền,
Trang 40nuôi trồng thủy sản, mộc dân dụng, cơ khí, kinh doanh buôn bán và đặc biệt là xuất khẩu lao động Hiện tại chỉ có 147 hộ với 220 lao động (chiếm 34% số lao động của hai thôn) với 60 tàu thuyền làm nghề đánh bắt
* Lâm nghiệp:
Toàn xã có 5,51 ha rừng trồng với các loài cây chủ yếu Bạch đàn, Keo, Phi lao và một ít rừng Tràm tự nhiên Phân bố rải rác gần các khu dân cư ở thôn Nam Giang, Rừng phát triển trên các cồn cát đất chua nghèo dinh dưỡng nên cây sinh trưởng kém, trữ sản lượng rừng thấp, hiệu quả kinh tế không đáng kể Diện tích này hiện đang do các hộ gia đình quản lý khai thác lâm sản chủ yếu làm chất đốt phục
vụ tại chổ
Công nghiệp, TTCN, thương mại và dịch vụ
* Chế biến nông, lâm, thuỷ sản:
Có 8 hộ gia đình hoạt động chế biến nông, thuỷ sản; sản phẩm chế biến nông sản chủ yếu là bún và bánh đa; chế biến thủy sản có ruốc (mắm tôm), nước mắm, cá khô Nghề này chủ yếu tập trung ở 2 thôn Đông Hà I và Đông Hà II; thu hút 16 lao động; cho giá trị thu nhập khoảng 560 triệu đồng/năm Toàn xã đã có 20 cơ sở xay xát, chủ yếu phục vụ người dân trên địa bàn xã
* Tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn, làng nghề:
- Toàn xã có 8 cơ sở làm mộc dân dụng, 2 cơ sở đóng tàu thuyền, 8 cơ sở chế biến hải sản, 14 cơ sở cơ khí; 3 xưởng sửa chữa động cơ, máy móc các loại, 18 tổ thợ nề, 20 ô tô vận tải
- Có 12 cơ sở hoạt động theo hình thức Công ty TNHH, bình quân mỗi đơn vị
có 5 - 10 lao động; số cơ sở còn lại hoạt động kinh danh buôn bán, sản xuất nhỏ lẻ theo từng hộ gia đình
- Các cơ sở cơ khí, tiểu thủ công nghiệp và hoạt động dịch vụ thương mại phân bố tập trung ở ven Quốc lộ 1A, đường liên xã LX01 và vùng chợ Trẻn
Thạch Long có nghề đan lát và đóng tàu thuyền truyền thống đã hàng trăm năm nay, trong đó:
Nghề đan lát sản xuất theo hình thức hộ gia đình ở các thôn Nam Giang, Hội Cát, Đan Trung Trước thập niên 70 nghề Đan phát triển mạnh ở hầu hết các thôn trong xã và đem lại nguồn thu đáng kể cho các hộ gia đình Hiện nay do nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng đã thay đổi nhưng các sản phẩm của làng nghề vẫn theo