Cùng với sự lớn mạnh của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng một mặt đóng góp vào sự phát triển kinh tế của tỉ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Kể từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, Vĩnh Phúc là một tỉnh phát triển nhanh và
đã có những tiến bộ rõ rệt Từ một tỉnh thuần nông vươn lên đứng thứ nhất miền Bắc, thứ ba cả nước về giá trị sản xuất công nghiệp Trong quy hoạch Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 thì phát triển công nghiệp là nền tảng
và là nền kinh tế mũi nhọn để đưa Vĩnh Phúc thành tỉnh công nghiệp trước năm
2020 Cùng với sự lớn mạnh của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng một mặt đóng góp vào sự phát triển kinh tế của tỉnh mặt khác lại tạo ra một lượng chất thải rắn bao gồm: chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng….trong đó có một lượng đáng kể CTNH đã và đang là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường từ quy mô nhỏ đến quy mô rộng lớn và tác động xấu đến sức khỏe, đời sống con người và chất lượng môi trường xung quanh Hiện tại Vĩnh Phúc chưa có khu xử lý chất thải nguy hại và các kho chứa đủ tiêu chuẩn để lưu giữ các chất thải trước khi xử lý Ngoài ra, các đối tượng hành nghề vận chuyển CTNH chưa có các hướng dẫn kỹ thuật đầy đủ liên quan đến các phương tiện, thiết bị chuyên dụng cho việc hành nghề vận chuyển và xử lý CTNH Đồng thời các quy định/ quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến hoạt động hành nghề vận chuyển và xử lý CTNH tuy đã được ban hành nhưng còn thiếu và chưa đầy đủ Thực tế cho thấy lượng CTNH được xử lý trên địa bàn tỉnh chiếm một tỷ lệ rất nhỏ
so với lượng phát sinh Vì vậy vấn đề lập kế hoạch quản lý CTNH trở nên vô cùng cần thiết và cấp bách Trên sơ sở các hoạt động về quản lý CTNH còn manh mún
và chưa đồng bộ, việc đề xuất lập kế hoạch quản lý CTNH là nhiệm vụ cấp thiết giúp cho hoạt động quản lý của Tỉnh Vĩnh Phúc đối với vấn đề này đạt hiệu quả
Trang 2giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với môi trường và sức khỏe con người
Xuất phát từ vấn đề trên, được sự nhất trí của nhà trường, dưới sự hướng dẫn
của T.S Đỗ Trọng Mùi, đề tài : “ Nghiên cứu lập kế hoạch quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” đã được thực hiện.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát và phân tích hiện trạng, dự báo được lượng CTNH phát sinh trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;
- Thiết lập khung lập kế hoạch;
- Thiết lập các nhóm giải pháp thu gom, vận chuyển, trung chuyển phù hợp với điều kiện của tỉnh
3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu lập kế hoạch quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
4 Phương pháp nghiên cứu
- Tổ chức đi thực địa khảo sát hiện trạng khu vực nghiên cứu, làm việc với các
cơ quan phối hợp nghiên cứu và các cơ quan hữu quan tại địa phương Thu thập số liệu, tài liệu, các nghiên cứu khoa học
- Từ các số liệu, tài liệu và các thông tin có được, tổng hợp và phân tích đưa ra các đánh giá về ảnh hưởng của chất thải rắn, trong quá trình nghiên cứu có kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó trong khu vực nghiên cứu
5 Nội dung của luận văn
Bài luận văn gồm những nội dung sau
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về chất thải nguy hại
Chương 2: Hiện trạng quản lý chất thải nguy hại của tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Đề xuất kế hoạch quản lý chất thải nguy hại của tỉnh Vĩnh Phúc Kết luận và kiến nghị
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI
1.1 Khái niệm về chất thải nguy hại
*) Theo UNEP
Chất thải độc hại là những chất thải( không kể chất thải phóng xạ) có hoạt tính hóa học có tính độc hại, cháy nổ, ăn mòn, gây nguy hiểm đến sức khỏe hoặc môi trường khi hình thành hoặc tiếp xúc với các chất thải khác Chất thải không bao gồm trong định nghĩa trên:
- Chất thải phóng xạ được xem là chất thải độc hại nhưng không bao gồm trong định nghĩa này bởi vì hầu hết các quốc gia quản lý và kiểm soát chất phóng xạ theo quy ước, điều khoản, quy định riêng
- Chất thải rắn sinh hoạt có thể gây ô nhiễm môi trường do chứa một ít chất thải nguy hại tuy nhiên nó được quản lý theo hệ thống chất thải riêng Ở một số quốc gia đã sử dụng thu gom tách riêng chất thải nguy hại trong rác sinh hoạt
*) Theo Luật khôi phục và bảo vệ tài nguyên của Mỹ (RCRA)
CTNH là chất rắn hoặc hỗn hợp chất rắn có khối lượng, nồng độ, hoặc các tính chất vật lý, hóa học, lây nhiễm mà khi xử lý, vận chuyển, thải bỏ, hoặc bằng những cách quản lý khác nó có thể: Gây ra nguy hiểm hoặc tiếp tục tăng nguy hiểm hoặc làm tăng đáng kể số tử vong, làm mất khả năng hồi phục sức khỏe của người bệnh; làm phát sinh hiểm họa lớn cho con người hoặc môi trường ở hiện tại hoặc tương lai
*)Việt Nam
Theo luật bảo vệ môi trường 2005: “ CTNH là chất chứa yếu tố độc hại, phóng
xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác” [13]
Trang 4nhau, giống với định nghĩa của các nước và tổ chức trên thế giới đó là nêu đặc tính
gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng
Một số chất thải nguy hại dưới đây tại Việt Nam cần phải có sự giám sát đặc biệt được liệt kê tại bảng 1.1
Bảng 1.1: Các loại CTNH ở Việt Nam cần được giám sát đặc biệt [1]
Sơn và các loại nhựa tính nhân tạo Độc hại
Rác thải hữu cơ có khả năng thối rữa Sinh học
1.2.Phân loại chất thải nguy hại
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều cách phân loại chất thải nguy hại: theo tính
Trang 5chất, cách quản lý, mức độ độc hại….Tuy nhiên để áp dụng cách phân loại nào thì còn phụ thuộc và mỗi quốc gia do các yếu tố xã hội – kinh tế, môi trường và sức khỏe cộng đồng
*) Theo TCVN 6707- 2009
Tiêu chuẩn này quy định hình dạng, kích thước, màu sắc và nội dung của dấu
hiệu cảnh báo, phòng ngừa và sử dụng trong quản lý chất thải nguy hại nhằm phòng tránh các tác động bất lợi của từng loại chất thải nguy hại
*)Phân loại theo nguồn phát sinh
Nguồn chất thải từ sản xuất công nghiệp:
+ Kim loại đen
+ Công nghiệp sản xuất giấy
* )Phân loại theo đặc điểm chất thải nguy hại
1.1 Phân loại dựa vào dạng hoặc pha phân bố (rắn, lỏng, khí )
1.2 Chất hữu cơ hay chất vô cơ
Trang 6*) Phân loại theo mức độ độc hại
Dựa vào giá trị liều gây chết 50% số động vật thực nghiệm (LD50) Tổ chức
Y tế thế giới phân loại theo bảng dưới đây:
Bảng 1.2: Phân loại CTNH qua tính độc
Cấp độc
LD50 đối với chuột lang (mg/kg cân nặng)
Dạng rắn Dạng lỏng Dang rắn Dạng lỏng 1A (rất độc )
I B (độc cao)
II(độctrung bình)
III (ít độc )
<5 5-20 50-500
>500
<20 20-200 200-2000
>2000
<10 10-100 100-1000
>1000
<40 40-400 400-4000
>4000
*)Phân loại theo mức độ gây hại
Cách phân loại này dựa vào thành phần, nồng độ, độ linh động, khả năng toàn lưu, lan truyền, con đường tiếp xúc, và liều lượng chất thải
*)Hệ thống phân loại kĩ thuật
Phân loại theo hệ thống này đơn giản nhưng có hiệu quả đối với các mục đích
kĩ thuật Bảng 1.3 trình bày các loại chất thải cơ bản của hệ thống Hệ thống này
thường được sử dụng trong nhiều trường hợp nghiên cứu để xác định các phương
tiện xử lý, tiêu huỷ phù hợp
Trang 7Bảng 1.3: Các loại chất thải nguy hại [20]
Nước thải chứa
chất vô cơ
Thành phần chính là nước nhưng có chứa kiềm/axit
và các chất vô cơ độc hại
Axit sunphuric thải từ mạ kim loại Dung dịch amoniac trong sản xuất linh kiện điện tử Nước bể
cơ nguy hại
Bùn xử lý nước thải có chứa kim loại nặng Bụi từ quá trình xử lý khí thải của nhà máy sản xuất sắt thép và nấu chảy kim loại Bùn thải từ lò nung vôi Bụi từ bộ phận đốt trong công nghệ chế tạo KL
Chất rắn/bùn hữu
cơ
Bùn,chất rắn và các chất hữu cơ không ở dạng lỏng
Bùn từ khâu sơn Hắc ín từ SX thuốc nhuộm Hắc ín trong tháp hấp thụ phenol Chất rắn trong quá trình hút chất thải nguy hại đổ tràn
CR chứa nhũ tương dạng dầu
* )Hệ thống phân loại theo danh sách
US-EPA (Cục Bảo vệ môi trường Mỹ) đã liệt kê theo danh mục hơn 450 chất thải
được xem là chất thải nguy hại Trong các danh mục này, mỗi chất thải được ấn định bởi một kí hiệu nguy hại của US-EPA bao gồm một chữ cái và ba chữ số đi
kèm Các chất thải được chia theo bốn danh mục: F,K, P,U
Trang 8Danh mục được phân chia như sau:
Danh mục F- Chất thải nguy hại thuộc các nguồn không đặc trưng Đó là các
chất được tạo ra từ sản xuất và các qui trình công nghệ Ví dụ halogen từ các quá trình tẩy nhờn và bùn từ quá trình xử lý nước thải của ngành mạ điện
Danh mục K- chất thải từ nguồn đặc trưng Đó là chất thải từ các nghành
công nghiệp tạo ra sản phẩm độc hại như: Sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật, chế biến gỗ, sản xuất hoá chất Có hơn 100 chất được liệt kê trong danh sách này Ví dụ cặn từ đáy tháp chưng cất aniliene, dung dịch ngâm thép từ nhà máy sản xuất thép, bụi lắng trong tháp xử lý khí thải, bùn từ nhà máy xử lý nước thải…
Danh mục P và U: Chất thải và các hoá chất thương phẩm nguy hại Nhóm
này bao gồm các hoá chất như clo, các loại axit, bazơ, các loại hoá chất bảo vệ thực vật…
1.3.Ảnh hưởng cuả chất thải nguy hại
Do đặc tính dễ cháy, dễ nổ, ăn mòn, phản ứng mà chất thải nguy hại có thể tác động xấu đến sức khỏe con người, các sinh vật, gây nguy hiểm cho các công trình xây dựng và phá hủy môi trường sống tự nhiên Những chuyến khảo sát điều tra về chất thải nguy hại, xem xét những tài liệu đã công bố và thảo luận với cơ quan Nhà nước khác nhau đã cho thấy rằng ở Việt Nam đang có nhiều mối quan tâm về ô nhiễm nước mặt và nước ngầm do công nghiệp Không thể phân lập chất thải nguy hại đã làm trầm trọng hơn vấn đề quản lý chất thải rắn và nước thải vốn đã khá trầm trọng, đồng thời cũng làm cho việc quản lý chất thải rắn khó khăn hơn do thiếu những hệ thống quản lý chất thải rắn
Trang 9Môi trường khí
môi trường,…
Hình 1.1: Tác hại của chất thải nguy hại
Trang 101.4 Nguồn phát sinh chất thải nguy hại tại Việt Nam
1.4.1 Nguồn thải từ hoạt động công nghiệp
Báo cáo môi trường quốc gia (2011) cho thấy, “CTNH chiếm khoảng 15% - 20% lượng CTR công nghiệp Đây là nguồn ô nhiễm tiềm tàng rất đáng lo ngại cho môi trường và sức khỏe của cộng đồng CTNH phát sinh từ các KCN của khu vực phía Nam khoảng 82.000 - 134.000 tấn/năm, gấp 3 lần miền Bắc và khoảng 20 lần miền Trung” [2] Thực tế lượng phát sinh CTNH này có thể lớn hơn, do chưa được quản lý đúng cách và thống kê đầy đủ, nhiều loại CTNH được thu gom cùng rác thải sinh hoạt rồi đổ tập trung tại các bãi rác công cộng.Gần một nửa số chất thải công nghiệp phát sinh ở các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam như thành phố
Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Đồng Nai, Bình Dương… Chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh chủ yếu tại các KCN, các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ nằm ngoài KCN cũng là nguồn phát sinh CTNH không nhỏ
Mức độ phát sinh CTNH công nghiệp trong các KCN tùy thuộc vào loại hình sản xuất chủ yếu Nghiên cứu năm 2009 tại vùng KTTĐ phía Nam cho thấy ngành sản xuất và dịch vụ sửa chữa phương tiện giao thông phát sinh lượng CTNH lớn nhất.Việc thống kê phát thải CTNH từ các hoạt động sản xuất công nghiệp hiện nay chủ yếu dưạ vào đăng ký các chủ nguồn thải Tuy nhiên, tỷ lệ các cơ sở đăng ký chủ nguồn thải CTNH còn thấp Đặc biệt đối với các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ và
hộ gia đình, nhất là tại các làng nghề Do đó, trên thực tế tổng lượng CTNH phát sinh lớn hơn nhiều lần so với số lượng thống kê
1.4.2.Nguồn thải nguy hại tại làng nghề
Hiện nay, cả nước có 1.324 làng nghề được công nhận và 3.221 làng có nghề Hoạt động sản xuất ở làng nghề đã tạo ra việc làm cho 11 triệu lao động, thu hút khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn, đặc biệt có những địa phương đã thu hút được hơn 60% của cả làng, đã và đang có nhiều đóng góp cho ổn định đời sống
Trang 11nông dân, góp phần phát triển kinh tế nông thôn .Làng nghề phân bố không đồng
đều giữa các vùng, miền( miền Bắc khoảng 60%, miền Trung 30%, miền Nam 10%) Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn( trên 70% ) Vì vậy, đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường tại các làng nghề [2]
Chất thải làng nghề gồm nhiều chủng loại khác nhau phụ thuộc vào nhiều nguồn phát sinh Cùng với sự gia tăng về số lượng, chất thải làng nghề ngày càng đa dạng
và phức tạp về thành phần, có thể thấy rằng chất thải làng nghề bao gồm những thành phần chính như: chai lọ thủy tinh, nhựa, nilon, vỏ bao bì đựng nguyên vật liệu, gốm sứ, gỗ , kim loại
Thống kê năm 2008 của Tổng cục Môi trường cho thấy, các làng nghề miền Bắc phát sinh nhiều chất thải nguy hại nhất, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại, đúc đồng, phát sinh khoảng 1-7 tấn/ngày gồm các chất thải chủ yếu là bụi kim loại, phôi, rỉ sắt Riêng ở tỉnh Bắc Ninh, làng nghề đúc đồng Đại Bái mỗi năm thải ra 1.150 tấn chất thải rắn, trong đó chất thải rắn nguy hại chiếm 45%; làng nghề tái chế giấy Dương Ô thải ra 4,5 tấn CTR/ngày; làng nghề tái chế nhựa Trung Văn và Triều Khúc thải 1.123/tấn/năm Các nhóm làng nghề khác như làng nghề may gia công, da giày cũng thải ra 2-5 tấn/ngày, chủ yếu là các loại CTR khó phân hủy [2]
1.4.3 Nguồn thải nguy hại phát sinh từ hoạt động y tế
Lượng CTNH y tế phát sinh không đồng đều tại các địa phương, chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn Tính trong 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế tổng lượng CTNH
y tế cần được xử lý trong 1 ngày là 5.122kg, chiếm khoảng 16,2% tổng lượng CTR
y tế.Trong đó, lượng CTNH y tế tính trung bình theo giường bệnh là 0,25kg/giường/ngày Chỉ có 4 bệnh viện có chất thải phóng xạ là bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế, bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên và bệnh viện K
Trang 12Theo số liệu điều tra của Cục Khám chữa bệnh- Bộ y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn- Bộ Xây dựng thực hiện năm 2009-2010, cũng như số liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới về thành phần CTR y tế tại các nước đang phát triển thì lượng CTR y tế nguy hại chiếm 22,5%, trong đó phần lớn là CTR lây nhiễm Do đó, phải xác định định hướng xử lý chính là loại bỏ được tính lây nhiễm của chất thải
1.4.4.Nguồn thải nguy hại phát sinh từ hoạt động nông nghiệp
Theo số liệu thống kê mỗi năm ở Việt nam sử dụng khoảng 35.000 đến 37.000
tấn hóa chất bảo vệ thực vật Đến năm 2006 tăng đột biến lên tới 71.345 tấn và đến năm 2008 xấp xỉ là 110.000 tấn.Thông thường lượng bao bì chiếm khoảng 10% tổng số thuốc tiêu thụ, như vậy năm 2008 đã thải ra môi trường khoảng 11.000 tấn bao bì các loại Những năm gần đây, số lượng bao bì, vỏ đựng thuốc bảo vệ thực vật lên tới hơn chục nghìn tấn mỗi năm Lượng phân bón hóa học sử dụng bình quân từ 80 kg đến 90 kg/ha, riêng cho lúa là từ 150 kg đến 180 kg/ha, đã làm phát sinh bao bì, túi đựng Bình quân tổng lượng phân bón vô cơ các loại sử dụng là vào khoảng 2,4 triệu tấn/năm, mỗi năm thải ra môi trường khoảng 240 tấn rác thải rắn nguy hại là bao bì, vỏ hộp thuốc các loại [2]. Tuy nhiên việc thu gom xử lý chất thải từ bao bì chai lọ, hóa chất thuốc BVTV thường bị vứt bừa bãi tại ruộng, góc vườn hoặc nguy hiểm hơn là vứt ở ngay đầu nguồn nước sinh hoạt
Bảng 1.4: Tổng hợp lượng chất thải rắn nông nghiệp
phát sinh năm 2008 ,2010 [2]
Chất thải rắn chăn nuôi Tấn/năm 80.450.000 2008
Trang 131.4.5.Nguồn thải nguy hại phát sinh từ chất thải sinh hoạt
CTNH trong sinh hoạt thường là: pin, ắc quy, đèn tuýp, nhiệt kế thủy ngân vỡ, bao bì chất tẩy rửa, vỏ hộp sơn, vecny, vỏ hộp thuốc nhuộm tóc, lọ sơn móng tay,
… Hiện tại CTNH trong sinh hoạt vẫn chưa được thu gom và xử lý riêng biệt mà vẫn thu gom lẫn với CTR sinh hoạt để đưa đến bãi chôn lấp Việc chôn lấp và xử lý chung sẽ gây ra nhiều tác hại cho những người tiếp xúc trực tiếp với rác, ảnh hưởng tới quá trình phân hủy rác và hòa tan các chất nguy hại vào nước
1.5.Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTNH ở Việt Nam
*)Thu gom CTNH công nghiệp
Việc thu gom CTNH ở Việt Nam chủ yếu do các Công ty môi trường đô thị cấp tỉnh thực hiện Công ty Môi trường đô thị Hà Nội ( URENCO), Huế, Đà Nẵng và CITENCO Hồ Chí Minh đã được cấp phép để thu gom và vận chuyển chất thải công nghiệp nguy hại Lượng CTNH còn lại do các công ty, doanh nghiệp tư nhân được cấp phép đảm trách việc thu gom, vận chuyển.Trong tổng số 23 công ty được
Bộ TN&MT cấp phép tại Thành phố HCM có 16 công ty hành nghề vận chuyển CTNH và 20 công ty hành nghề xử lý CTNH Hiện chưa có số liệu đầy đủ về tỷ lệ thu gom CTNH công nghiệp ở từng thành phố của Việt Nam Tỷ lệ thu gom tại các KCN tương đối cao hơn so với bên ngoài KCN
*)Thu gom CTNH y tế
Bộ Y tế đã thống kê được có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải y
tế và 90,9% bệnh viện thực hiện thu gom hàng ngày Cũng theo kết quả điều tra của
Bộ Y tế cho thấy có 53% bệnh viện có xe vận chuyển chất thải y tế có nắp là đạt yêu cầu theo quy chế Đối với công tác thu gom chất thải y tế, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa có bánh hoặc xe tay để thu gom và vận chuyển chất thải tại chỗ [2] Theo khảo sát của JICA đối với 172 bệnh viện trong cả nước năm 2010 cho thấy chỉ có 1/3 các bệnh viện có khu vực lưu giữ được trang bị điều hòa và hệ
Trang 14thống thông gió theo quy định, 31 bệnh viện sử dụng phòng chung để lưu giữ chất thải tạm thời và 45 bệnh viện sử dụng phòng không có hệ thống điều hòa và thông gió
*)Thu gom CTNH nông nghiệp
Trong thời gian qua tại một số tỉnh, thành trong cả nước đã triển khai mô hình thu gom vỏ bao bì hóa chất BVTV như : Vĩnh Phúc, Nghệ An, Tuyên Quang Việc triển khai này đã bước đầu hạn chế ảnh hưởng tác hại của hóa chất BVTV tồn lưu trong vỏ bao bì tới sức khỏe con người và môi trường xung quanh Tuy nhiên các biện pháp thu gom bao bì thuốc BVTV được áp dụng với quy mô nhỏ, phần lớn do hợp tác xã tự tổ chức thu gom, chủ yếu là gom vào thùng chứa Thùng chứa các bao
bì hóa chất BVTV được sử dụng thường là thùng phuy Nhưng số lượng còn ít do giới hạn về kinh phí, một số ít địa phương đã xây bể xi măng cố định Ngày 21/10/2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 1946 về việc phê duyệt kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên phạm vi cả nước Sau 3 năm triển khai, cơ chế chính sách từng bước được xây dựng và hoàn thiện
*)Xử lý chất thải công nghiệp nguy hại
Năng lực quản lý CTNH ở Việt Nam còn rất nhiều hạn chế, các chất thải rắn nguy hại công nghiệp phát sinh và tập trung chủ yếu ở các khu vực kinh tế trọng điểm và phần lớn đang được lưu giữ tạm thời chờ xây dựng các trạm xử lý
Các CTNH công nghiệp phát sinh từ các cơ sở sản xuất tái chế chất thải tập trung
ở các làng nghề tái chế chất thải ( chủ yếu trong nước thải ) Sự ô nhiễm bởi các chất thải nguy hại ở các làng nghề tái chế tăng lên rất nhiều bởi nước thải với các chất thải nguy hai ( kim loại nặng, hóa chất độc… ) không được xử lý và xả thẳng vào các nguồn nước hay cống rãnh thoát nước tự nhiên trong làng
Phương thức xử lý chất thải rắn nói chung và chất nguy hại công nghiệp nói riêng
Trang 15chủ yếu là chôn lấp vì nhiều lý do như quản lý, kinh tế…
Phương thức xử lý chất thải rắn nguy hại bằng thiêu đốt cũng đang được sử dụng thông qua tận dụng, sử dụng công nghệ sản xuất xi măng đang rất phát triển ở Việt Nam Thiêu đốt bằng lò nung xi măng được xem là ưu việt vì tận dụng được nguồn nguyên liệu và xử lý môi trường tốt hơn
Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 80 doanh nghiệp hành nghề quản lý chất thải
nguy hại Tính đến tháng 6 năm 2011, Bộ TN&MT đã cấp được 80 Giấy phép hành nghề vận chuyển CTNH và 43 Giấy phép hành nghề xử lý CTNH cho các cá nhân,
tổ chức đăng ký[2] Các doanh nghiệp này được Bộ TN&MT hoặc Sở TN&MT cấp tỉnh cấp giấy phép hoạt động Hầu hết các cơ sở xử lý chất thải công nghiệp đều có
quy mô nhỏ và sử dụng lò đốt theo mẻ
Nhìn chung, các công nghệ xử lý chất thải công nghiệp nguy hại hiện có tại Việt Nam chưa hiện đại, sử dụng các công nghệ đa dụng cho nhiều loại CTNH và thường có quy mô nhỏ, nhưng cũng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu xử lý CTNH tại Việt Nam
*)Xử lý chất thải nguy hại nông nghiệp
Trong thời gian qua công tác thu gom, lưu trữ và xử lý các loại hóa chất, vỏ bao
bì hóa chất BVTV đã được nhiều tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện Việc triển khai này đã bước đầu hạn chế ảnh hưởng tác hại của hóa chất BVTV tồn lưu trong vỏ bao bì tới sức khỏe con người và môi trường Cho đến nay phần lớn các kho thuốc BVTV tồn đọng đã được xử lý không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Tuy nhiên trên thực tế cho thấy nhiều kho chứa thuốc BVTV tuy đã được xử lý, xây hầm bê tông, chôn thuốc tồn lưu nhưng nhiều điểm có hiện tượng lún sụt, mùi thuốc bảo vệ thực vật bốc lên khi thời tiết thay đổi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Số lượng các kho thuốc BVTV được xử lý chỉ chiếm 5% trong tổng số 240 điểm hóa chất tồn lưu cần được ưu tiên xử lý [2]
Trang 16Tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước đã khắc phục tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng bằng cách xây dựng các bể thu gom rác thải nhưng nơi để rác BVTV ở đó cũng còn nhiều bất cập Nhiều địa phương sử dụng bể chứa rác có đáy
và mái che, sau đó tổ chức thu gom rác theo định kỳ để chuyển đến đơn vị có thẩm quyền tiêu hủy Nhưng nhiều nơi, do không có kinh phí nên bể chứa rác không đạt tiêu chuẩn, do vậy rác thải vẫn gây ô nhiễm ra bên ngoài
*)Xử lý chất thải y tế nguy hại
Theo Cục Quản lý môi trường y tế ( Bộ Y tế), hiện có khoảng 44% các BV có hệ
thống xử lý chất thải y tế nhưng nhiều nơi đã rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Đáng nói, ngay ở các BV tuyến T.Ư vẫn còn tới 25% cơ sở chưa có hệ thống
xử lý chất thải y tế, BV tuyến tỉnh là gần 50%, còn BV tuyến huyện lên tới trên 60% [2] Riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội, nơi tập trung hệ thống BV lớn, công tác môi trường y tế ở nhiều BV còn tồn tại Hà Nội hiện có mạng lưới y tế dày đặc tuy nhiên đa số các cơ sở này chưa có hệ thống xử lý chất thải Nhiều cơ sở y tế, đơn vị sản xuất kinh doanh đi vào hoạt động không đăng ký kiểm tra môi trường lao động, không đăng ký thu gom rác thải với cơ quan quản lý nên rất khó kiểm soát
Đối với các BV tư nhân, phòng khám tư nhân do quỹ đất eo hẹp nên việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý rác thải y tế vẫn còn là thách thức lớn gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe nhân dân Theo quy định trong các bệnh viện chất thải được thải ra hàng ngày và thời gian lưu giữ chất thải độc hại là 48 giờ Đối với các
cơ sở y tế nhỏ, thời gian lưu giữ các chất thải nhóm chất thải gây lây nhiễm, các vật sắc nhọn, chất thải y tế từ phòng thí nghiệm và chất thải dược phẩm không được quá một tuần, riêng chất thải bệnh phẩm phải đốt hoặc chôn ngay Nước thải
từ các bệnh viện là một vấn đề không nhỏ đối với môi trường bởi 2 lý do:
- Đa phần nước thải bệnh viện không được xử lý trước khi đưa vào hệ thống thoát
Trang 17nước chung
- Cơ sở hạ tầng của các địa bàn có bệnh viện còn yếu kém, hầu hết các nguồn nước thải đều đổ chung vào hệ thống thoát nước chung để rồi sau đó thải ra sông gây ô nhiễm các nguồn nước mặt
Nhìn chung việc xử lý chất thải ở Việt Nam còn chưa tốt, tạo nên sức ép và thách thức ngày càng gia tăng đối với bảo vệ môi trường và việc khắc phục chúng đòi hỏi phải có thời gian và nguồn tài chính không nhỏ Hiện tại có khoảng 96% chất thải thu gom được đưa đến bãi chôn lấp không chỉ làm tăng các nguy cơ, hiểm họa môi trường và người dân xung quanh mà còn làm lãng phí một nguồn vật liệu
và năng lượng có thể thu hổi cho tái chế và sản xuất
Tính đến tháng 10/2010, Tổng cục môi trường đã cấp phép hành nghề xử lý tiêu hủy CTNH liên tỉnh cho 36 cơ sở [2], chưa kể còn có các cơ sở do các Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố cấp phép Các công nghệ điển hình và phổ biến hiện nay được tóm tắt trong bảng dưới đây
Bảng 1.5: Một số công nghệ xử lý CTNH tại Việt Nam [2]
TT Tên công nghệ Số cơ sở áp
5 Xử lý chất thải điện tử 4 4 0,3- 5 tấn/ngày
1.6.Tình hình quản lí chất thải nguy hại tại Việt Nam
Để thực hiện thống nhất quản lí chất thải trên cả nước, trong đó có chất thải rắn
và chất thải nguy hại, phải có một hệ thống cơ quan quản lí nhà nước tương ứng từ
Trang 18trung ương tới địa phương Phải có sự phân công phân cấp cụ thể giữa trung ương
và địa phương, giữa các bộ, ngành và các cơ quan, đơn vị có liên quan để tránh chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ Mặt khác, công việc này không chỉ có một cơ quan nào đó làm được mà đòi hỏi có nhiều ngành, nhiều đơn vị cùng tham gia, phối hợp Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định trách nhiệm quản lí Nhà nước về bảo vệ môi trường trong đó có trách nhiệm quản lí chất thải rắn và chất thải nguy hại thống nhất từ trung ương đến địa phương
+ Bộ Tài nguyên và Môi trường:Theo Nghị định số 25/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường trong đó có lĩnh vực quản lí chất thải rắn và chất thải nguy hại, gồm những nhiệm vụ cụ thể như sau: Trình chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm, các dự án, đề án theo phân công của chính phủ; Trình thủ tướng chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, các chương trình, dự án quốc gia, các dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng chính phủ; Ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư, xây dựng, công
bố các tiêu chuẩn cơ sở hoặc trình Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ công bố các tiêu chuẩn quốc gia; Công bố ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia…
+ Các Bộ khác: Các Bộ khác cũng được giao chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực ngành như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công thương, Bộ xây dựng, Bộ Y tế, …
+ Cấp địa phương: Tại các địa phương, theo quy định tại điều 122, chương XIII, Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định trách nhiệm quản lí nhà nước về bảo
vệ môi trường của Uỷ ban nhân dân các cấp, trong đó có nhiệm vụ quản lí nhà nước về chất thải rắn và chất thải nguy hại, thì UBND tỉnh có trách nhiệm thực
Trang 19hiện quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường, trong đó có quản lí chất thải trên địa bàn toàn tỉnh; Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn xã
Tương tự các Bộ, Ngành khác, các Sở Y tế, Sở Công thương, Sở xây dựng, Sở Nong nghiệp và phát triển Nông thôn, … thực hiện quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường, trong đó có quản lí chất thải thuộc lĩnh vực nghành tại địa phương
Trang 20CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
CỦA TỈNH VĨNH PHÚC
2.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Vĩnh Phúc là tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội, bên rìa vùng châu thổ sông Hồng và Vĩnh Phúc còn là một trong 8 tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Ngoài Hà Nội, Vĩnh Phúc còn giáp với các tỉnh trung du phía Bắc là Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên
Với tổng diện tích tự nhiên khoảng 1.372,23 km2, dân số trung bình 1.027.000 người (năm 2011), tỉnh có 9 đơn vị hành chính gồm: thành phố Vĩnh Yên là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh, thị xã Phúc Yên và 7 huyện là Sông Lô, Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo và Lập Thạch Toàn tỉnh có 112 xã , 25 phường và thị trấn
b) Vị trí địa hình, địa mạo
Địa hình tỉnh Vĩnh Phúc đa dạng với ba vùng đặc trưng là vùng núi cao,vùng gò đồi bán sơn địa và vùng đồng bằng, vùng trũng ven sông
Vùng núi nằm ở phía đông bắc của tỉnh kéo dài thành một dải trên địa phận
của các huyện Lập Thạch, Tam Đảo, Tam Dương, Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên với điểm cao nhất là núi Tam Đảo có độ cao 1.329m
Vùng trung du nằm kế tiếp giữa vùng núi và vùng đồng bằng, bao gồm một
phần lãnh thổ của các huyện Lập Thạch,Sông Lô, Tam Đảo, Tam Dương, Bình Xuyên, thành phố Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên
Trang 21Vùng đồng bằng nằm ở phía tây nam và nam của tỉnh, thuộc địa phận các
huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc, thành phố Vĩnh Yên, Bình Xuyên, thị xã Phúc Yên, chiếm khoảng 36% diện tích toàn tỉnh
Như vậy, địa hình của tỉnh Vĩnh Phúc chủ yếu là vùng trung du và đồng bằng
có độ dốc nhỏ, nên rất thuận lợi để phát triển hạ tầng cơ sở, xây dựng các khu đô thị và các khu công nghiệp
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc *) Khí hậu
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Nhiệt độ trung bình năm 23,2 – 250C, lượng mưa 1.500 – 1.700mm, độ ẩm trung bình 84-85
Trang 22%, số giờ nắng trong năm 1.400- 1.800 giờ Hướng gió thịnh hành là hướng Đông – Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, gió Đông – Bắc thổi từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau kèm theo sương muối
c, Một số nguồn tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn tỉnh
*) Tài nguyên đất
Tài nguyên đất của tỉnh được xem là khá phong phú và đa dạng Các loại đất đã được khai thác sử dụng lâu đời, khá thuần thục, có độ phì nhiêu khá, màu mỡ Vĩnh Phúc là địa bàn rất thuận lợi để cấy lúa, trồng hoa màu, đậu đỗ, cây công nghiệp ngắn ngày, rau, hoa, quả và cây dược liệu (chủ yếu là thanh hao hoa vàng), hình thành các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản và dược liệu… Chính sự phong phú này, cho phép hoạch định phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp theo hướng đa dạng ngành nghề, đa dạng sản phẩm hàng hóa, kể cả sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao cung cấp cho công nghiệp chế biến nông lâm sản phục vụ xuất khẩu Đây cũng là điều kiện thuận lợi để kết hợp sản xuất nông - lâm nghiệp với phát triển công nghiệp, phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng…
*)Tài nguyên rừng
Trong tổng 33.013,67 ha đất lâm nghiệp của tỉnh có 10.879,07 ha rừng sản xuất, 6.697,37 ha rừng phòng hộ và rừng đặc dụng chiếm 15.473,23 ha rừng sản xuất nằm rải rác trong các huyện Diện tích rừng sản xuất lớn nhất tại Tam Đảo và huyện Tam Dương Rừng đặc dụng phân bố chủ yếu ở Tam Đảo, Bình Xuyên và Phúc Yên
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Vĩnh Phúc nằm ở cửa ngõ Tây Bắc của Thủ Đô Hà Nội thuộc vùng Châu thổ
sông Hồng là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Là một tỉnh
có sự hình thành 3 vùng sinh thái rõ rệt: đồng bằng, trung du và miền núi, cùng với nguồn tài nguyên nước mặt, nước duới đất tương đối rồi rào, do vậy hết sức
Trang 23thuận tiện cho phát triển nông lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và du lịch – dịch
vụ Do có diện tích đất đồi khá lớn của vùng trung du thuận tiện cho việc xây dựng
và phát triển công nghiệp
Nhờ những chính sách đúng, giải pháp đồng bộ, từ năm 2000 - 2013, kinh tế Vĩnh Phúc đã có bước chuyển vượt bậc và toàn diện Tốc độ tăng trưởng của tỉnh bình quân từ 1997-2011 luôn ở mức cao, bình quân 17,2%/năm Sản xuất công nghiệp luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, nhất là khu vực kinh tế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân Sản xuất nông nghiệp
đã có những chuyển biến quan trọng, sản xuất nông nghiệp hàng hóa được đẩy mạnh; tăng hiệu quả sản xuất, thu nhập; cơ cấu cây trồng chuyển dịch đúng hướng; nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi mới cùng những tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng rộng rãi trên địa bàn toàn tỉnh; chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa Trong cơ cấu kinh tế, giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng với nhịp độ khoảng 22,1%/năm, sản xuất nông - lâm nghiệp tăng 6,7%/năm và các ngành dịch
vụ tăng 11,8%/năm Kim ngạch xuất khẩu năm 1997 đạt 13,7 triệu USD, năm 2000 đạt 21,46 triệu USD, đến năm 2005 đạt 169,4 triệu USD và năm 2010 là 526,59 triệu USD Sản lượng lương thực có hạt năm 2005 đạt 35,6 vạn tấn, đến năm 2010 đạt 38,8 vạn tấn Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP, tính theo giá cố định năm 1994) bình quân giai đoạn 1998 - 2010 là 16,8%/năm Riêng năm 2010, GDP toàn tỉnh tăng 21,6% Năm 2011, mặc dù gặp nhiều khó khăn do suy giảm kinh tế toàn cầu
và thiên tai, song tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn là 14,83% [6]
Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với những thành tựu mang tính bản lề trong khoảng 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Vĩnh Phúc đang hướng tới những mục tiêu chiến lược trong phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bền vững Các mục tiêu trọng điểm là: giữ tốc độ phát
Trang 24triển kinh tế cao và bền vững; chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ bản là công nghiệp và dịch vụ, chiếm tỷ trọng cao từ 86% đến trên 90%; áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại, gắn với nguồn nhân lực có trình độ cao là bước đột phá, nhằm đưa Vĩnh Phúc trở thành một tỉnh có những yếu tố cơ bản của tỉnh công nghiệp vào năm 2015 và trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020, góp phần tích cực cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bên cạnh những thuận lợi rất căn bản, sự phát triển kinh tế của Vĩnh Phúc cũng gặp nhiều khó khăn và hạn chế Một trong những khó khăn lớn nhất là nền kinh tế chủ yếu dựa vào kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.Tuy số lao động được đào tạo nghề của Vĩnh Phúc chiếm tỷ trọng ngày càng cao nhưng về căn bản, khả năng đáp ứng nhu cầu của các cơ sở sử dụng vẫn còn hạn chế, đặc biệt là trong kỹ năng thực hành và khả năng thích ứng với công nghệ, kỹ thuật, các mô hình tổ chức sản xuất tiên tiến, hiện đại
Dân số tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2011 là 1.027.00 người, trong đó nữ chiếm 52%
và nam chiếm 48% Mật độ dân số toàn tỉnh là 860 người/km2
Tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều dân tộc sinh sống, đông nhất là người Kinh chiếm 97,1%, dân tộc thiểu số có người Sán Dìu chiếm 2,5%, còn lại 0,4% dân số toàn tỉnh bao gồm khoảng 20 dân tộc thiểu số khác
Quy mô dân số tỉnh Vĩnh Phúc vào loại trung bình trong cả nước Tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên hàng năm là 1,05% Mức tăng hiện nay của tỉnh thuộc loại thấp so với
cả nước và đang có xu thế tiếp tục giảm trong những năm tới do thực hiện tích cực công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình
Theo Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2009) cho thấy dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh năm 2009 là 751,95 nghìn người, chiếm 62,8% tổng dân số Lao động làm việc trong các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh năm 2009 gồm 668,45 nghìn người chia theo các ngành sau:
Trang 25 Lao động nông – lâm – ngư nghiệp: 393,96 nghìn người, chiếm tỷ lệ 58,9%
Lao động công nghiệp – xây dựng: 122,77 nghìn người, chiếm tỷ lệ 18,4% Lao động dịch vụ: 151,72 nghìn người, chiếm tỷ lệ 22,7% [7]
Hàng năm nguồn lao động mới được bổ sung là các thanh niên tốt nghiệp phổ thông, có sức khoẻ, có kiến thức cơ bản khoảng 10.000 người Nguồn lao động có văn hoá được bổ sung hàng năm là nguồn lực xã hội to lớn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của tỉnh Vĩnh Phúc trong đó có ngành công nghiệp
2.2.Thực trạng công tác quản lý CTNH trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
ra ảnh hưởng rất lớn tới môi trường đặc biệt là sự gia tăng lượng chất thải nguy hại Chất thải nguy hại phát sinh chủ yếu từ các KCN chính như KCN Khai Quang, KCN Bình Xuyên, KCN Kim Hoa, KCN Chấn Hưng, CCN Hương Canh Các nguồn phát sinh chất thải chủ yếu là chất thải rắn nguy hại như: Rẻ lau dính các loại hóa chất, vật liệu chứa dầu mỡ máy, sơn, nhựa, chất nhuộm phẩm màu của các ngành đặc trưng, phụ gia của một số làng nghề và một phần nhỏ chất thải nguy hại tồn tại ở dạng lỏng từ các nhà máy chế biến giấy; bao bì nhựa
Trang 26Bảng 2.1: Một số doanh nghiệp phát sinh chất thải nguy hại trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc [ 8]
STT
Tên doanh nghiệp
Ngành nghề sản xuất
Khối lượng kg/năm
3 Công ty Cổ phần Bê tông và xây dựng
Vinaconex Xuân Mai- Chi nhánh Vĩnh Phúc
9 Công ty TNHH Dệt Hiểu Huy Vĩnh Phúc Dệt may 3,832
10 Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên Y tế 13,652.70
Trang 27Tính đến tháng 12 năm 2009, toàn tỉnh Vĩnh Phúc có 14.318 cở sở sản xuất công nghiệp, nhưng chỉ có 122 cơ sở sản xuất công nghiệp có quy mô doanh nghiệp, còn
lại là các cơ sở nhỏ, quy mô hoạt động ở mức gia đình [7] Các cơ sở sản xuất có
quy mô doanh nghiệp phân bố chủ yếu trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, huyện Bình Xuyên và tập trung vào 8 nhóm ngành chính sau: cơ khí, lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử; sản xuất vật liệu xây dựng; dệt may, da giày; chế biến nông sản thực phẩm; rượu bia và nước giải khát; dược phẩm và hoá chất tiêu dùng; khai thác khoáng sản; và các nhóm ngành khác như ngành sản xuất giấy, nhựa, cao
su, pin, đồ gỗ gia dụng…Với đặc thù riêng biệt của mỗi nhóm ngành, mức độ phát thải các chất thải (lượng chất thải, khối lượng…) của mỗi nhóm ngành rất khác nhau Theo số liệu tổng hợp vào tháng 5 năm 2009 , chỉ có 52 trong tổng số 122 cơ
sở sản xuất công nghiệp có quy mô doanh nghiệp gửi “Báo cáo thống kê về khối lượng, tình hình thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn nguy hại” về Sở Tài nguyên và Môi trường (chiếm 42,6% tổng số doanh nghiệp), với tổng lượng chất thải rắn sản xuất là 718.430 kg/tháng và 240 m3/tháng, 2.000 vỏ thùng/tháng (loại thùng phi chứa nguyên liệu loại 60 lít, 200 lít); tương đương 752 tấn/tháng Lượng chất thải rắn sản xuất nguy hại khoảng 265.474 kg/tháng và 74 m3/tháng, 65 vỏ thùng/tháng (tương đương 299 tấn/tháng) [12], bao gồm các loại chất thải phổ biến tại các cơ sở như: dầu mỡ, dung môi, hoá chất thải, cặn dầu máy, cặn bùn, cặn sơn, cặn lắng có thể chứa kim loại nặng như Sắt, Man gan, Can xi…, vỏ thùng đựng sơn, giẻ lau dính dầu mỡ, mực in, sản phẩm giầy hỏng… Đây là một khối lượng chất thải nguy hại khá lớn, chiếm khoảng trên dưới 30% tổng lượng chất thải rắn sản xuất Trong 8 nhóm ngành sản xuất công nghiệp, nhóm các ngành sản xuất khác phát sinh nhiều chất thải nguy hại nhất, trong đó chủ yếu là ngành sản xuất đồ
gỗ gia dụng với tổng khối lượng là 226.976 kg/tháng và 74 m3/tháng, 15 vỏ thùng/tháng; đứng thứ 2 là ngành cơ khí, lắp ráp ôtô, xe máy, điện tử với tổng khối
Trang 28lượng là 28.244 kg/tháng và 50 vỏ thùng/tháng Ngành sản xuất vật liệu xây dựng
có chất thải khá lớn, tuy không có nhiều chất thải nguy hại nhưng làm ô nhiễm nặng về môi trường về bụi và phế thải đổ bừa bãi, mất vệ sinh nơi sản xuất, ảnh hưởng đến các cơ sở sản xuất khác trong các khu công nghiệp [12]
Với tổng lượng chất thải rắn công nghiệp tổng hợp được từ 52 trong tổng số 122
cơ sở công nghiệp là 752 tấn/tháng (trong đó chất thải rắn không nguy hại là 453 tấn/tháng, chất thải rắn nguy hại là 299 tấn/tháng), hay 25 tấn/ngày thì đã tương đương với 1/4 lượng phát thải chất thải rắn của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (với tổng lượng 99,3 tấn/ngày); song theo ước tính chung, tổng lượng chất thải rắn công nghiệp trong tỉnh có thể lên tới 1.058 tấn/tháng, trong đó chất thải rắn nguy hại là 423 tấn/tháng [12]
*) CTNH tại các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Sự phát triển sản xuất nghề đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân khu vực nông thôn Tuy nhiên, ngoài các mặt tích cực của làng nghề thì hoạt động sản xuất của làng nghề đã
và đang gây ra ô nhiễm môi trường
Kết quả điều tra năm 2012 của Sở TN&MT Vĩnh Phúc cho thấy, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực làng nghề vào khoảng 40 - 55%; biện pháp xử lý chất thải tại các làng nghề còn thô sơ và chưa đồng bộ Qua khảo sát 22 làng nghề cho thấy, chỉ có 11 làng nghề chất thải rắn được thu gom, xử lý và 9 làng nghề có bãi chôn lấp chất thải rắn[8] Nước thải và khí tại các làng nghề chưa được xử lý
mà thải trực tiếp ra môi trường; cơ sở hạ tầng kỹ thuật xây dựng chắp vá, không đồng bộ, nhiều nơi không có dẫn đến nước thải bị ứ đọng cục bộ làm ô nhiễm môi trường nước Điển hình như làng nghề tái chế sắt thép ở Tề Lỗ và Đồng Văn huyện Yên Lạc Mỗi mỗi ngày làng nghề thải ra từ 2 đến 3 tấn rỉ sắt Dọc các tuyến đường làng tập trung hàng trăm bãi phế thải kim loại, vỏ nhựa, ắc quy hỏng, giẻ lau
Trang 29dầu mỡ làm cản trở giao thông, mỗi khi trời mưa cuốn theo các chất thải và dầu mỡ
xả thẳng ra khu dân cư và ao hồ, sông suối Toàn bộ rác thải, chất thải của các cơ sở sản xuất, các hộ dân cư thu gom về các bãi rác của thôn, trong đó có tới 70% là chất thải nguy hại gồm dầu mỡ, cặn sơn, bùn thải từ quá trình tháo gỡ các xe hỏng, động cơ cũ không qua bất kỳ một biện pháp xử lý nào đã gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí Theo kết quả phân tích của Trung tâm tài nguyên và bảo vệ môi trường(2010) cho thấy các mẫu nước tại khu vực làng nghề đều bị ô nhiễm nặng, các hàm lượng BOD5, COD có trong nước vượt tiêu chuẩn cho phép 6,86 lần, nhất là ở các thôn Đầm Bí, Làng Giã, Giã Bàng chất lượng nước
đã bị suy giảm nghiêm trọng Nguy hiểm nhất là nước tại các hồ, đầm và khu vực sông Phan đều có mầu xám, nâu đen, sậm đen mùi hôi, tanh làm cho các loại cá, cua, rong tảo khó phát triển, nhiều nơi không sống được Bên cạnh đó nồng độ bụi trong không khí cũng quá cao từ 0,35 đến 2,20mg/mét khối, vượt quá mức cho phép từ 1,16 đến 7,33 lần [9]
Bảng 2.2: Lượng chất thải rắn phát sinh tại một số làng nghề trên địa bàn
2 Làng Nghề mây tre đan
3 Làng nghề gốm Hợp Lễ -
Thanh Lãng – Bình Xuyên 15.780 Bùn thải
*) Chất thải nguy hại phát sinh từ sản xuất nông nghiệp
Những năm trở lại đây, ngành nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc có bước phát triểm mạnh, tạo đà cho phát triển KT-XH chung, nâng cao đời sống người nông
Trang 30thải chăn nuôi và việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nồng độ, thiếu ý thức trong việc xử lý, thu gom bao bì khiến vấn đề ô nhiễm môi trường trở nên nghiêm trọng
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 90 nghìn ha đất canh tác nông nghiệp, trong đó có khoảng 60 nghìn ha đất lúa, 20 nghìn ha cây vụ đông và 10 nghìn ha đất trồng các loại cây khác Theo thống kê hàng năm, nông dân toàn tỉnh sử dụng khoảng 80 tấn thuốc bảo vệ thực vật các loại, và hàng nghìn tấn phân bón có nguồn gốc hóa học.Với số lượng thuốc BVTV đã sử dụng hàng năm trên toàn tỉnh như vậy thì sẽ có khoảng 20 tấn vỏ bao bì nhưng chỉ có 10% vỏ, bao bì được bán, 20% được thu gom lại và đốt bỏ, 5% được chôn lấp còn lại người dân vứt ngay tại đồng ruộng khi sử dụng xong
Thực trạng đáng báo động hiện nay diễn ra trên hầu hết khắp các cánh đồng là chai lọ, bao bì thuốc bảo vệ thực vật nguy hại được người dân tiện tay vứt bừa bãi dọc kênh mương, bờ ruộng ngay sau khi sử dụng Phong trào chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển khá mạnh.Toàn tỉnh đang có nhiều trang trại chăn nuôi quy mô lớn như trang trại gà ở Tam Quan ( Tam Đảo), Hướng Đạo, Hoàng Hoa (Tam Dương), chăn nuôi lợn thịt ở Quang Sơn ( Lập Thạch), Hợp Châu ( Tam Đảo), Vĩnh Tường, Yên Lạc… Tình trạng nước và chất thải chăn nuôi tràn lênh láng ra vườn, ao hồ, cống rãnh, thậm chí chảy cả ra đường gây mất vệ sinh nghiêm trọng Các chất khí sinh ra từ nguồn chất thải như CO2, NH3, CH4…hàng ngày, hàng giờ tác động đến sức khỏe con người và môi sinh
*) Chất thải nguy hại phát sinh từ ngành y tế
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện có 2 bệnh viện Đa khoa khu vực và 9 bệnh
viện Đa khoa huyện, thành phố, 16 phòng khám đa khoa
Trang 31Bảng 2.3: Tổng lượng CTNH phát sinh tại các bệnh viện thuộc địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc [8]
bệnh
Lượng CTNH phát sinh ( kg/năm)
Trang 32các cặn cống nạo vét từ các hệ thống rãnh thoát nước, các phế thải trong phẫu thuật người và giải phẫu động vật, các vật sắc nhọn, bông băng và các giấy thấm đã được
sử dụng trong y tế, các ống nghiệm nuôi cấy vi trùng trong phòng xét nghiệm…Ngoài ra, nước thải bệnh viện còn là môi trường thuận lợi cho việc lan truyền dịch bệnh Hiện nay mới chỉ có 80% lượng rác thải y tế trên địa bàn được xử
lý nhưng hầu hết cũng chỉ bằng phương pháp xử lý như rác thải đô thị bình thường Một vài bệnh viện của tỉnh đã đầu tư xây dựng hệ thống đốt rác thải nguy hại như Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc, Bệnh viện Quân y 109 nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế Ở các bệnh viện khác, việc xử lý rác thải y tế thường bằng cách chất đống ngoài trời hoặc chôn dưới đất gây nguy cơ ô nhiễm đất đai và nguồn nước ngầm
*) Chất thải nguy hại phát sinh trong hoạt động sinh hoạt
Cùng với sự phát triển cuả công nghiệp hóa hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh phát sinh nhiều loại chất thải nguy hại từ các hoạt động của con người có xu hướng tăng lên về số lượng Lượng CTNH phát sinh từ sinh hoạt hàng ngày của các gia đình tương đối phức tạp và khó quản lý, lượng chất thải này phát sinh từ:
- Sản phẩm dùng để cọ rửa, các sản phẩm tẩy trùng
- Sản phẩm bảo dưỡng bể bơi: Clo nước, clo hạt, acid…
- Sản phẩm tiêu diệt côn trùng, hóa chất sử dụng cho việc tráng ảnh
- Sản phẩm phục vụ cá nhân như sơn móng tay, dụng cụ cắt tóc……
Ước tính hiện nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc phát sinh khoảng 1 tấn chất thải nguy hại từ các hoạt động sinh hoạt mỗi năm Tuy nhiên đây vẫn chỉ là con số điều tra chưa chính xác vì chưa có cuộc điều tra cụ thể nào nắm rõ được số lượng CTNH phát sinh từ hoạt động sinh hoạt trên địa bàn tỉnh
2.2.2.Thực trạng công tác thu gom, vận chuyển xử lý CTNH trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 33a) Công tác thu gom CTNH công nghiệp
Thực tế điều tra, khảo sát trực tiếp tại một số cơ sở sản xuất cho thấy hầu hết các
cơ sở sản xuất chưa nhận thức đầy đủ việc thực hiện thu gom, phân loại chất thải nguy hại Các cơ sở sản xuất để lẫn chất thải nguy hại với chất thải rắn không tái chế được và cho xử lý như các chất thải sinh hoạt Chỉ có một số cơ sở sản xuất liên doanh lớn như công ty Honda, Toyota, Sơn Nipon… là có thu gom phân loại, tự xử
lý bằng cách dùng lò đốt, chôn chặt trong khuôn viên của cơ sở hoặc ký hợp đồng thuê các công ty môi trường và dịch vụ thực hiện thu gom, đem đi xử lý Các cơ sở sản xuất tuy đã áp dụng các biện pháp thu gom, xử lý chất thải rắn nguy hại, tuy nhiên đại bộ phận các cơ sở sản xuất đều tự mình chôn lấp ngay trong doanh nghiệp, hoặc tự đốt, hoặc giao phó cho các công ty môi trường và dịch vụ thu gom,
xử lý
Trên địa bàn tỉnh hiện có rất nhiều công ty dịch vụ môi trường và thu gom chất thải hoạt động, phần lớn là các công ty từ Hà Nội và Vĩnh Phúc Ngoài các công ty môi trường lớn có chức năng và Giấy phép xử lý chất thải rắn nguy hại (như Công
ty Môi trường đô thị Hà Nội, Công ty TNHH Môi trường Công nghiệp xanh), còn các công ty tư nhân và cổ phần khác chỉ có Giấy phép kinh doanh thu gom, tái chế, chuyên chở mà không có Giấy phép xử lý chất thải nguy hại Hiện nay, Vĩnh Phúc chỉ có khu chôn lấp chất thải rắn tập trung ở chân núi Bông (thuộc thành Phố Vĩnh Yên) được thiết kế và hoạt động chủ yếu phục vụ việc chôn lấp rác thải sinh hoạt, chưa có khu xử lý chất thải nguy hại và kho chứa đủ tiêu chuẩn để lưu giữ các chất thải trước khi xử lý; vì thế việc quản lý và xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại nếu như không được định hướng xử lý ngay tại các cơ sở sản xuất sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ Đây là nguồn ô nhiễm môi trường đối với đất, nước và sức khoẻ cộng đồng, đây cũng là một vấn đề bức xúc làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển bền vững của tỉnh
Trang 34Tình trạng thu gom, xử lý chất thải nguy hại của ngành sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay còn nhiều bất cập Các công ty dịch vụ môi trường cũng chưa được quản lý chặt chẽ, không rõ công nghệ và các phương pháp xử lý cuối cùng
Lượng phát thải tại đa số các cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh quá nhỏ không thể thu gom hàng ngày, hàng tháng nên chất thải nguy hại được lưu trữ tại kho chứa Rác thải nguy hại của mỗi doanh nghiệp và được thu gom vận chuyển đi theo chu
kỳ (3 tháng – 6 tháng một lần) Số cơ sở có kho chứa đảm bảo thì rất ít và chủ yếu nằm trong các khu, cụm công nghiệp thì việc thu gom lưu trữ CTNH tại các kho mang tính chất tạm thời hoặc được thu đống tại một địa điểm nhất định
Tại một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ngoài khu công nghiệp như các đơn vị kinh doanh xăng dầu, các cơ sở kinh doanh với các loại hình sản xuất khác nhau cũng khó khăn trong vấn đề phân biệt được đâu là chất thải nguy hại , đâu là chất thải công nghiệp thông thường Do thiếu kiến thức về tác hại của CTNH nên các chủ cơ sở cho rằng chỉ cần xử lý hết khối lượng chất thải rắn và nước thải phát sinh mỗi ngày là đảm bảo đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường mà không biết hàng ngày
cơ sở của họ còn phát sinh một khối lượng CTNH không được xử lý đúng cách Những chất thải này cùng với rác thải sinh hoạt được các cơ sở đăng ký với Công
ty môi trường đô thị đưa đi chôn lấp hoặc tự đốt một cách lén lút không qua xử lý Hiện nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 18 công ty vệ sinh môi trường và các đơn vị tư nhân thu gom xử lý CTR và CTNH.Trong số 18 công ty, có 5 công ty có giấy phép xử lý CTNH, 2 công ty có giấy phép nhưng đã hết hiệu lực hoạt động tại Vĩnh Phúc và 11 công ty còn lại đều không có giấy phép quản lý CTNH Tuy nhiên, họ vẫn thu gom CTR các loại trong đó có cả CTNH
Trang 35Bảng 2.4: Các đơn vị thu gom CTR và CTNH hoạt động tại Vĩnh Phúc [8]
STT
QL CTRNH
Nghĩa Đô, Từ Liêm, Hà Nội
Có
b)Công tác thu gom CTNH nông nghiệp- Làng nghề
Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã góp phần kiểm soát việc
sử dụng phân bón hóa học, thuốc BVTV cộng với ý thức của người dân ngày càng được nâng cao, các phế phẩm bao gói, lọ chứa hóa chất, thuốc BVTV sau khi sử dụng đều được người dân gom lại không vứt bừa bãi Hiện tại xã Vân Hội (Tam Dương) đã được Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh và Viện Môi trường nông nghiệp
Trang 36đầu tư 24 thùng thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật đặt ngay tại đồng ruộng, nhân dân trong xã đã tự giác bỏ bao bì, vỏ hộp vào thùng sau khi sử dụng
Tại một số cụm dân cư, làng nghề đã có các bể chứa rác tập trung tuy nhiên người dân chưa phân biệt được đâu là CTNH và lượng chất thải này được thu gom cùng với rác thải sinh hoạt
Hình 2.2: Nông dân xã Vân Hội- Tam Dương tự giác bỏ bao bì thuốc bảo vệ thực
vật vào thùng thu gom ngay sau khi sử dụng
Ở một số làng nghề để giảm thiểu ô nhiễm môi trường UBND tỉnh đã bố trí xây dựng bãi tập kết, chôn lấp xử lý rác thải, thành lập tổ quản lý môi trường nhằm quản lý chặt các nguồn rác thải, buộc các hộ sản xuất, kinh doanh phải đăng ký nguồn rác thải, danh mục máy móc thiết bị, phương tiện; các loại nước thải phải được tách rác, tạp chất bằng hệ thống các song chắn, sau đó đưa vào hệ thống xử lý hoá chất tách dầu mỡ; đối với các chất thải rắn nguy hại được phân loại ngay trong quá trình sản xuất, các loại sắt thép, kim loại mầu, nhựa, cao su, dây điện được bán cho các cơ sở tái chế, bình ắc quy, giẻ, gỗ được xử lý theo quy định hợp vệ sinh Bên cạnh đó nguồn khí thải từ các lò nấu, luyện sắt, thép, nhôm phải được lắp đặt thiết bị tách bụi kiểu xyclon và xử lý bằng tháp hấp thụ sử dụng dung dịch nước vôi trong
Trang 37c)Công tác thu gom CTNH trong sinh hoạt
CTNH hại phát sinh trong các hoạt động sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chưa có chương trình thu gom riêng mà hầu hết được thu gom và vận chuyển cùng với CTR sinh hoạt và xử lý bằng cách đốt hoặc chôn lấp không hợp vệ sinh
d) Công tác thu gom CTNH y tế
Vĩnh Phúc hiện có 2 bệnh viên Đa khoa khu vực, 9 bệnh viện đa khoa tuyến huyện và một số cơ sở tư nhân làm nhiệm vụ khám chữa bệnh Thế nhưng chỉ có Bệnh viện Quân y 109, Viện K74 (Bộ Y tế) có hệ thống xử lý nước thải, Bệnh viện
đa khoa tỉnh có lò đốt chất thải rắn, những cở sở y tế còn lại chưa có bất kỳ hình thức xử lý nào Tại các bệnh viện tuyến huyện cho thấy, toàn bộ chất thải rắn, nước thải nguy hại vẫn xả thẳng ra môi trường xung quanh Mỗi ngày một bệnh viện tuyến huyện thải ra khoảng 2-4m3 rác Trong đó, chất thải nguy hại chiếm khoảng 20% , chủ yếu các mô bệnh phẩm và cơ quan người từ các phòng mổ và tiểu phẫu, các bệnh phẩm nuôi cấy, hoặc xác động vật từ phòng thử nghiệm, các chất thải nhiễm trùng từ phòng cách ly và các khoa truyền nhiễm Lượng rác này mặc dù được Công ty môi trường thu gom đem đi xử lý tại bãi rác tập trung bằng phương pháp đốt và chôn lấp thủ công nhưng vẫn không bảo đảm vệ sinh môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Trung bình một ngày đêm, một bệnh viện tuyến huyện thải ra khoảng 35,44m3 nước thải sinh hoạt và 11,5m3 nước thải trong quá trình khám chữa bệnh và điều trị
Trang 38Hình 2.3: Sơ đồ thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH hiện tại đã áp dụng trên địa bàn
CTNH Làng nghề
CTNH
Y tế
CTNH Nông nghiệp
Thu gom về khu tập kết chung với rác sinh hoạt hoặc đem chôn lấp
Xử lý bằng
lò đốt CTNH
Vứt bừa bãi trên cánh đồng hoặc
Đốt, chôn lấp hoặc tái chế không hợp vệ sinh
Trang 392.2.3.Công tác quản lý hành chính chất thải nguy hại
a Công tác quản lý chất thải nguy hại của các cơ quan nhà nước
Song song với công tác quản lý chất thải nói chung thì việc quản lý chất thải nguy hại trên điạ bàn tỉnh Vĩnh Phúc luôn được các cấp ngành chú trọng quan tâm Hiện nay trên địa bàn tỉnh có hai công ty được cấp giấy phép đăng ký hành nghề vận chuyển chất thải rắn nguy hại và một công ty được cấp phép vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại
- UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựng các chương trình, ban hành và phổ biến các văn bản pháp luật, các quy định, những văn bản hướng dẫn về công tác quản lý CTNH cho các chủ nguồn thải
- Thanh tra, xử lý các vi phạm môi trường liên ngành
- Nâng cao nhận thức cộng đồng, tuyên truyền kiến thức và trách nhiệm về bảo vệ môi trường cho doanh nghiệp, tổ chức các lớp tập huấn nông thôn mới tuyên truyền đến tận người dân hiểu rõ tác hại của việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV trong trồng trọt Mở rộng chương trình nâng cao nhận thức về quản lý chất thải cho doanh nghiệp là chủ nguồn thải Để từ đó huy động cộng đồng tự giác tham gia giải quyết chất thải nói chung và chất thải nguy hại nói riêng
- Thực hiện các chính sách về hỗ trợ kinh phí xây dựng các khu xử lý nước thải tập trung; các kho chứa rác thải nguy hại tập trung Đối với các khu, cụm công nghiệp chưa được đầu tư xây dựng hệ thống xử lý tập trung, các doanh nghiệp ngoài khu, cụm công nghiệp buộc các doanh nghiệp phải có sổ chủ nguồn thải, kho chứa chất thải nguy hại và có hợp đồng vận chuyển với đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển chất thải nguy hại
- Hướng dẫn, tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện luật và các văn bản dưới luật, là đầu mối kết nối giữa các doanh nghiệp với cơ quan có khả năng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại
Trang 40- Tại các cơ sở sản xuất có khối lượng chất thải nguy hại không đáng kể, chính các cơ sở sản xuất này cũng không “nhận diện” được đâu là chất thải nguy hại, đâu là chất thải công nghiệp thông thường Do thiếu kiến thức về tác hại của chất thải nguy hại nên các chủ cơ sở cho rằng chỉ cần xử lý hết khối lượng chất thải rắn và nước thải phát sinh mỗi ngày là bảo đảm đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường
mà không biết rằng hàng ngày cơ sở của họ còn phát sinh một khối lượng chất thải nguy hại chưa được xử lý đúng cách Những chất thải này cùng với rác thải sinh hoạt được các cơ sở đăng ký với Công ty môi trường đô thị đưa đi chôn lấp hoặc tự
họ đốt một cách lén lút không qua xử lý
b Công tác cấp sổ chủ nguồn thải trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Hiện nay với các văn bản pháp luật, các quy chế về bảo vệ môi trường của tỉnh,
sự quản lý của các Sở, Ban ngành các chủ nguồn thải nhận thức rõ việc tuân thủ đúng pháp luật về bảo vệ môi trường Tính đến tháng 12 năm 2012 Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Vĩnh Phúc đã cấp được 244 sổ chủ nguồn thải [8]