1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải

90 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiết bị điện, điện tử chứa nhiều chất nguy hại như vật liệu kim loại nặng trong đó có chì, cadimi, thủy ngân hay các chất hữu cơ như polychlorinatted biphenyls… Bên cạnh đó loại thiết b

Trang 1

-

LÊ CAO KHẢI

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU LÀM GIÀU KIM LOẠI TRONG BẢN MẠCH ĐIỆN TỬ THẢI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGÀNH: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS HUỲNH TRUNG HẢI

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

Lời cam đoan iiDanh mục các bảng iiiDanh mục các hình vẽ, đồ thị iv

MỞ ĐẦU 1

1.1 Hiện trạng phát thải và quản lý chất thải điện tử trên thế giới 31.1.1 Lượng phát thải chất thải điện tử trên thế giới 31.1.2 Hiện trạng thu gom, tái sử dụng, tái chế và quản lý chất thải điện

tử ở Việt Nam

22

1.2.2.2 Hiện trạng tái chế và tái sử dụng chất thải điện tử ở Việt Nam 221.2.2.3 Công cụ pháp lý, chính sách để quản lý chất thải điện tử ở Việt

Nam

25

1.3 Ảnh hưởng của chất thải điện tử tới môi trường 26CHƯƠNG 2 - QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM LÀM GIÀU KIM LOẠI TRONG BẢN MẠCH ĐIỆN TỬ THẢI

302.1 Chuẩn bị vật liệu 31

Trang 3

2.2.2 Xác định hàm lượng từng kim loại 32

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

loại theo khoảng cách

47

3.4.1.1 Ảnh hưởng của điện thế đến sự phân bố vật liệu, phân bố kim

loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F1 (850 ÷ 1000µm)

47

3.4.1.2 Ảnh hưởng của điện thế đến sự phân bố vật liệu, phân bố kim

loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F2 (600 ÷ 850µm)

51

3.4.1.3 Ảnh hưởng của điện thế đến sự phân bố vật liệu, phân bố kim

loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F3 (425 ÷ 600µm)

54

3.4.1.4 Ảnh hưởng của điện thế đến sự phân bố vật liệu, phân bố kim

loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F4 (212 ÷ 425µm)

58

3.4.1.5 Ảnh hưởng của điện thế đến sự phân bố vật liệu, phân bố kim

loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F5 (150 ÷ 212µm)

61

3.4.1.6 Ảnh hưởng của điện thế đến sự phân bố vật liệu, phân bố kim

loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F6 (63 ÷ 150µm)

653.4.2 Ảnh hưởng của điện thế đến sự phân bố hàm lượng kim loại theo 70

Trang 4

KẾT LUẬN 77TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 5

Bảng 1.1: Số lượng các thiết bị điện tử gia dụng bị thải ở Việt Nam mỗi năm Bảng 1.2: Số lượng các thiết bị điện tử bị thải đi đến năm 2020 ở Việt Nam Bảng 3.1: Phân bố khối lượng, hàm lượng tổng kim loại và phân bố hàm lượng

tổng kim loại theo kích thước hạt Bảng 3.2: Hàm lượng từng kim loại trong mẫu trước khi sàng và của các phân

đoạn kích thước sau khi sàng Bảng 3.3: Hiệu quả tuyển tương ứng với tốc độ khí tối ưu

Bảng 3.4: Kết quả phân tích hàm lượng đồng ở phần thu hồi kim loại sau tuyển

điện của các mẫu từ F1 ÷ F6 ở điện thế 25KV

Trang 6

Hình 1.1: Sơ đồ vòng đời sản phẩm theo quan điểm quản lý môi trường

Hình 2.1: Sơ đồ quy trình làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải

Hình 2.2: Sơ đồ quy trình chuẩn bị vật liệu

Hình 2.3: Sơ đồ thiết bị tuyển khí

Hình 2.4: Sơ đồ thiết bị tuyển điện

Hình 2.5: Thiết bị tuyển điện

Hình 3.1: Hiệu quả tuyển mẫu F1 kích thước 850 ÷ 1000µm

Hình 3.2: Hiệu quả tuyển mẫu F2 kích thước 600 ÷ 850µm

Hình 3.3: Hiệu quả tuyển mẫu F3 kích thước 425 ÷ 600µm

Hình 3.4: Hiệu quả tuyển mẫu F4 kích thước 212 ÷ 425µm

Hình 3.5: Hiệu quả tuyển mẫu F5 kích thước 150 ÷ 212µm

Hình 3.6: Hiệu quả tuyển mẫu F6 kích thước 63 ÷ 150µm

Hình 3.7: Ảnh hưởng của tốc độ nạp liệu đến phần trăm khối lượng phần pha nhẹ sau

khi tuyển khí ở tốc độ khí tối ưu cho từng phân đoạn kích thước hạt Hình 3.8: Phân bố phần trăm khối lượng vật liệu theo khoảng cách khi tuyển mẫu F1 Hình 3.9: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F1 - 10KV Hình 3.10: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F1 - 15KV Hình 3.11: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F1 - 20KV Hình 3.12: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F1 - 25KV Hình 3.13: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F1 - 27,5KV Hình 3.14: Phân bố phần trăm khối lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển

Trang 7

Hình 3.16: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F2 - 10KV Hình 3.17: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F2 - 15KV Hình 3.18: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F2 - 20KV Hình 3.19: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F2 - 25KV Hình 3.20: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F2 - 27,5KV Hình 3.21: Phân bố phần trăm khối lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển

mẫu F2 Hình 3.22: Phân bố phần trăm khối lượng vật liệu theo khoảng cách khi tuyển mẫu F3 Hình 3.23: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F3 - 10KV Hình 3.24: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F3 - 15KV Hình 3.25: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F3 - 20KV Hình 3.26: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F3 - 25KV Hình 3.27: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F3 - 27,5KV Hình 3.28: Phân bố phần trăm khối lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển

mẫu F3

Trang 8

Hình 3.31: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F4 - 15KV Hình 3.32: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F4 - 20KV Hình 3.33: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F4 - 25KV Hình 3.34: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F4 - 27,5KV Hình 3.35: Phân bố phần trăm khối lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển

mẫu F4 Hình 3.36: Phân bố phần trăm khối lượng vật liệu theo khoảng cách khi tuyển mẫu F5 Hình 3.37: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F5 - 10KV Hình 3.38: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F5 - 15KV Hình 3.39: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F5 - 20KV Hình 3.40: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F5 - 25KV Hình 3.41: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F5 - 27,5KV Hình 3.42: Phân bố phần trăm khối lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển

mẫu F5 Hình 3.43: Phân bố phần trăm khối lượng vật liệu theo khoảng cách khi tuyển mẫu F6 Hình 3.44: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F6 - 10KV

Trang 9

Hình 3.46: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F6 - 20KV Hình 3.47: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F6 - 25KV Hình 3.48: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại theo khoảng cách khi

tuyển mẫu F6 - 27,5KV Hình 3.49: Phân bố phần trăm khối lượng tổng kim loại theo khoảng cách sau tuyển

điện mẫu F6 Hình 3.50: Phân bố hàm lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F1 Hình 3.51: Phân bố hàm lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F2 Hình 3.52: Phân bố hàm lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F3 Hình 3.53: Phân bố hàm lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F4 Hình 3.54: Phân bố hàm lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F5 Hình 3.55: Phân bố hàm lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F6

Trang 10

Tôi xin cam đoan: Luận văn "Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải" do PGS.TS Huỳnh Trung Hải hướng dẫn là công trình nghiên

cứu do tôi thực hiện Những kết quả trong luận văn là do tôi làm thực nghiệm

Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2010

Tác giả luận văn:

Lê Cao Khải

Trang 11

Bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình đầy tinh thần trách nhiệm về mặt khoa học của PGS.TS Huỳnh Trung Hải, Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, trường Đại học Bách khoa

Hà Nội đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn em nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn đến các Thầy, các Cô, các cán bộ Viện Khoa học Công nghệ Môi trường, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tận tình dạy bảo em trong suốt quá trình học thạc sỹ và giúp đỡ em trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp

Em xin gửi lời cảm ơn đến Thầy Đinh Quốc Trí và các cán bộ bộ môn Hệ thống điện, Khoa Điện, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã giúp đỡ em trong quá trình làm thực nghiệm tại phòng thí nghiệm Điện cao áp

Nhân đây em cũng xin chân thành cảm ơn Viện Đào tạo sau đại học, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo nhiều điều kiện cho em học tập và hoàn thành khóa học

Lê Cao Khải

Trang 12

MỞ ĐẦU

Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng thiết bị điện, điện tử ở Việt Nam đang ngày càng gia tăng, phản ánh sự tăng trưởng trong thu nhập và mức sống của người dân Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế nên thuế nhập khẩu đối với thiết bị điện và điện tử gia dụng đang được cắt giảm Bên cạnh đó các loại thiết bị điện, điện tử gia dụng đã qua sử dụng vẫn đang tiếp tục đổ vào Việt Nam theo nhiều con đường không chính thức Ngoài ra, tốc độ phát triển khoa học công nghệ ngày càng cao, cùng với sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng nên đã dẫn đến sự đa dạng hóa về mẫu mã và chủng loại, làm cho tuổi thọ trung bình của loại thiết bị này ngày càng giảm Chính vì các nguyên nhân nêu trên nên lượng thiết bị điện, điện tử gia dụng thải bỏ (gọi chung là chất thải điện tử) cũng ngày càng gia tăng, tác động nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe người dân, đồng thời cũng không ngừng tạo áp lực đến các nhà quản lý Thiết

bị điện, điện tử chứa nhiều chất nguy hại như vật liệu kim loại nặng trong đó có chì, cadimi, thủy ngân hay các chất hữu cơ như polychlorinatted biphenyls… Bên cạnh

đó loại thiết bị này cũng chứa nhiều kim loại màu và kim loại quý như đồng, vàng, bạc, Indium, Ziricon, v.v… Như vậy, chất thải điện tử không những được coi là nguồn gây ô nhiễm môi trường mà còn có thể xem xét như một nguồn tài nguyên quan trọng của những loại nguyên liệu không tái tạo

Hiện nay, việc kiểm soát các loại chất thải này nhằm thu hồi tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên không tái tạo cũng như bảo vệ môi trường đã được phát triển tương đối ổn định tại các nước phát triển Việc tái chế, tái sử dụng thiết bị điện và điện tử gia dụng thải ở Việt Nam mới chỉ dừng ở quy mô nhỏ, phân tán với công nghệ - kỹ thuật cũng như thiết bị lạc hậu, nên làm thất thoát tài nguyên và ô nhiễm môi trường Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có một vài công trình nghiên cứu về loại chất thải này, tuy nhiên các nghiên cứu còn rời rạc, chưa mang tính hệ thống

Trang 13

Trước thực trạng và lợi ích nêu trên đòi hỏi phải có sự nghiên cứu đầy đủ công nghệ thu hồi kim loại trong bản mạch điện tử thải Chính vì vậy, đề tài này tập

trung nghiên cứu làm giàu kim loại trong bảng mạch điện tử thải là công đoạn

đầu của hệ thống tái chế với hai phương pháp là tuyển dựa vào trọng lực (tuyển khí)

và tuyển điện

Trang 14

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI ĐIỆN TỬ

Chất thải điện tử là tên gọi phổ biến chính thức, cho các sản phẩm điện tử gần cuối của "thời gian hữu ích." như: máy tính, ti vi, màn hình, các loại đầu đĩa, radio, máy nghe nhạc, thiết bị âm thanh nổi, điện thoại, máy photocopy, máy fax, tủ lạnh, máy giặt, điều hoà, máy sấy, máy hút bụi, máy pha cà phê, lò nướng bánh, bàn

là, thiết bị chiếu sáng (đèn huỳnh quang), đồ chơi điện tử, thiết bị thể thao, thiết bị giải trí, dụng cụ điện và thiết bị điện (máy khoan, máy may, máy cắt cỏ,…) máy bán vé tự động và các sản phẩm điện tử thông thường khác [2]

1.1 Hiện trạng phát thải và quản lý chất thải điện tử trên thế giới

1.1.1 Lượng phát thải chất thải điện tử trên thế giới

Trong những năm gần đây nền kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển mạnh

mẽ thì các thiết bị điện tử như ti vi, máy tính, điện thoại… ngày càng đóng vai trò không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại Chúng đã góp phần không nhỏ làm cho cuộc sống của chúng ta ngày càng tiến bộ hơn, đem lại cho chúng ta những tiện ích rất to lớn Nhưng sau một thời gian hữu ích, các thiết bị này bỏ đi, trở thành chất thải Ngày nay thiết bị điện và điện tử gia dụng thải đang được coi là một hiểm họa mới đối với nhân loại

Chất thải điện tử là một trong những loại chất thải rắn tăng nhanh nhất thế giới Theo như nghiên cứu của liên minh Châu Âu, đang tăng với tỷ lệ 3-5% mỗi năm, nó tăng nhanh gấp 3 lần so với các loại chất thải rắn khác Việc tiếp thu nhanh chóng các công nghệ thông tin trên thế giới với sự ra đời của các công nghệ và thiết

kế mới một cách đều đặn trong lĩnh vực điện tử, điều này đã làm cho nhiều đồ điện

tử trên thế giới nhanh chóng bị lỗi thời Ví dụ tuổi thọ trung bình của một chiếc máy

vi tính mới đã giảm từ 4,5 năm vào năm 1992 xuống còn 2 năm vào năm 2005, cũng tương tự như vậy vòng đời của một điện thoại di động là dưới 2 năm Mỹ là quốc gia có lượng chất thải điện tử lớn nhất thế giới, ước tính hàng năm có hơn 100

Trang 15

triệu máy vi tính, màn hình máy tính và ti vi bị lỗi thời và con số này còn tăng nữa

Ở Mỹ khoảng 500 triệu máy tính sẽ bị lạc hậu trong vòng 10 năm từ 1997 ÷ 2007

Theo liên minh Châu Âu tổng số chất thải điện tử năm 2005 được tính là 9,3 triệu tấn trong đó bao gồm 40 triệu máy tính cá nhân và 32 triệu ti vi Ở Trung Quốc, 5 triệu máy tính mới và 10 triệu ti vi mới được tiêu thụ mỗi năm kể từ năm

2003 và khoảng 1,11 triệu tấn chất thải điện tử được tạo ra mỗi năm tới chủ yếu từ sản xuất điện, điện tử và quy trình sản xuất, từ các thiết bị điện tử hỏng và nhập từ các nước khác

Nhật Bản, 9000 tấn máy tính trong các gia đình đã thải ra hàng năm, tương đương với 460.000 chiếc, và con số này sẽ còn tăng lên gấp 2, gấp 3 lần trong vài năm tới

Canada, 140.000 tấn chất thải điện và điện tử bị chôn lấp mỗi năm, trong khi

đó tại Hàn Quốc, năm 2004 hơn 3 triệu máy tính và 15 triệu điện thoại di động bị hỏng

Hàng năm hơn 130 triệu điện thoại di động ở Mỹ và hơn 105 triệu chiếc ở Châu Âu bị hỏng và bị bỏ đi, kết quả là, chất thải điện và điện tử đã trở thành một vấn đề xã hội nghiêm trọng, một hiểm họa môi trường với nhiều quốc gia trên thế giới Liên Hợp Quốc thống kê cả thế giới thải ra 20 ÷ 50 triệu tấn chất thải điện tử mỗi năm Báo cáo gần đây nhất của Liên Hợp Quốc đã dự đoán rằng đến năm 2020 lượng chất thải điện tử từ máy tính cũ sẽ tăng nhảy vọt khoảng 200 ÷ 400% ở khu vực Nam Phi và Trung Quốc, và 500% ở Ấn Độ so với lượng chất thải điện tử của năm 2007 Đến năm 2020 lượng chất thải điện tử từ điện thoại di động hỏng so với năm 2007 tăng 7 lần ở Trung Quốc và 18 lần ở Ấn Độ Ở Mỹ hơn 150 triệu điện thoại di động và máy nhắn tin được bán ra năm 2008 (tăng từ 90 triệu chiếc trong 5 năm trước đó) và toàn thế giới có hơn 1 tỷ điện thoại di động bán ra năm 2007 (so với 896 triệu chiếc năm 2006) Số các loại sản phẩm điện tử khác trên thế giới như máy vi tính, ti vi, máy chơi điện tử… bán ra cũng tăng từ 10 ÷ 40% mỗi năm Các nước như Senegan và Uganda lượng chất thải điện tử từ máy tính cá nhân sẽ tăng từ

Trang 16

Theo Silicon Valley Toxics Coalition, một tổ chức bảo vệ môi trường có trụ

sở San Jose (California, Mỹ), mỗi năm có khoảng từ 20 ÷ 50 triệu tấn chất thải điện

tử, trong đó có khoảng 130 triệu chiếc điện thoại di động, có từ 20 ÷ 24 triệu ti vi và máy tính chưa được xử lý, vẫn được lưu giữ tại nhà ở và văn phòng Chỉ riêng ở

Mỹ, đã có khoảng 500 triệu máy tính cũ, trong đó chỉ có khoảng 10% máy tính cũ được tái chế Tỷ lệ tái chế máy tính trên thế giới không vượt quá 9% Còn ở Châu

Âu, hiện còn hơn 6 triệu thiết bị điện, điện tử thải chưa được tái chế Tại Châu Mỹ Latin, theo số liệu của Viện Sinh Thái quốc gia Mexico, 80% thiết bị điện và điện tử gia dụng ở các nước Mỹ Latin được bỏ ở các bãi rác hoặc chất gom tại nhà ở, cơ quan, xí nghiệp, 15% được thu gom theo chương trình tái chế, 20% được tái sử dụng và chỉ có 1% được cấp chứng chỉ về xử lý môi trường

Các quốc gia có ngành công nghiệp điện tử phát triển nhất thế giới như EU,

Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia lại chính là các quốc gia thải bỏ nhiều nhất các thiết bị điện và điện tử gia dụng Nhưng thay vì tái chế tại chỗ, các nước này chọn cách nhanh gọn hơn là xuất khẩu ra nước ngoài Phần lớn thiết bị điện, điện tử thải được xuất khẩu sang các quốc gia đang phát triển dưới dạng đồ cũ để bán lại hoặc tái chế Theo tổ chức Greenpeace, từ 50 ÷ 80% thiết bị điện, điện tử thải ở Mỹ được xuất khẩu sang Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia đang phát triển khác Ở Châu

Âu, lượng chất thải điện tử thu gom và xử lý của 27 quốc gia thành viên EU chỉ đạt khoảng 2,1 triệu tấn tương đương với 25% trong tổng số chất thải điện tử của khối này (khoảng 8,7 triệu tấn/năm) 75% còn lại thường không được nhắc tới và cũng không có số liệu chính xác nào về những gì xảy ra với số chất thải này Không ai rõ chúng được lưu giữ ở Châu Âu hay đã được xuất sang các quốc gia khác Theo Greenpeace, một phần trong số 25% lượng thiết bị điện, điện tử thải đã được thu gom và xử lý nói trên cũng được xuất khẩu và không ai biết rõ lượng thực tế chính xác là bao nhiêu Sở dĩ các nước phát triển không muốn tái chế thiết bị điện, điện tử thải mà lại xuất khẩu ra nước ngoài bởi vì làm như vậy, vừa giảm chi phí vừa đỡ ô nhiễm môi trường Theo cơ quan môi trường Mỹ, việc xuất khẩu chất thải sang các

Trang 17

nước đang phát triển sẽ giúp giảm 10 lần chi phí so với tái chế đúng quy cách trong nước [9]

Thành phần của chất thải điện tử theo khối lượng: kim loại 49%, nhựa 33%,

đèn hình, ống tia điện tử 12% và vật liệu khác 6% [7]

Thành phần của máy tính gồm cả màn hình và CPU: thủy tinh 24,8%, nhựa 23%, kim loại quý 0,02%, sắt 20,47%, chì 6,3%, nhôm 14,17%, đồng 6,93%, các chất khác 4,63% [7]

Từ các số liệu trên thấy rằng tiềm năng để tái chế kim loại trong chất thải điện tử là rất lớn

1.1.2 Hiện trạng thu gom, tái sử dụng, tái chế và quản lý chất thải điện tử trên

thế giới

Hệ thống quản lý chất thải điện tử trên thế giới bao gồm các chiến lược xử lý các thiết bị hết hạn sử dụng Đi cùng với tiềm năng kinh tế và hiệu quả môi trường, dưới đây là các chiến lược đã được phân loại:

Tái sử dụng: Sử dụng lại sản phẩm đã qua sử dụng hoặc tái sử dụng lại từng phần

Bảo trì: Một chiến lược với mục đích kéo dài thời gian sử dụng cho sản phẩm bằng cách sửa chữa và bảo trì

Tái chế: Tái chế có thể thực hiện với tháo dỡ hay không tháo dỡ, bao gồm việc

xử lý, thu hồi lại các nguyên liệu trong thiết bị hay thành phần đã qua sử dụng cốt

để thay thế nguyên liệu ban đầu trong việc sản xuất hàng mới

Thải bỏ (xử lý): là quá trình thiêu đốt mà có hoặc không thu hồi năng lượng hay vứt ở bãi rác hoặc mang chôn lấp

1.1.2.1 Tái sử dụng

Theo EU (2003) thuật ngữ “tái sử dụng” là bất cứ hoạt động nào mà thiết bị hay bộ phận điện, điện tử hỏng được sử dụng lại như mục đích ban đầu của chúng bao gồm tiếp tục sử dụng thiết bị hay từng bộ phận của thiết bị mà đã qua các điểm thu gom Tái sử dụng còn ảnh hưởng đến lượng máy tính thải ở bãi rác và đến

Trang 18

cho các công nhân của các nhà máy hay sinh viên với giá hợp lý hoặc là tặng chúng cho các tổ chức từ thiện Phương pháp tái chế là phương pháp rất quan trọng để giảm thiểu chất thải ở bãi rác, giảm gánh nặng cho môi trường cũng như hạn chế việc phải tái chế chất thải điện tử Tái sử dụng mục đích là kéo dài tuổi thọ nhưng gây ra nguy cơ kéo dài tuổi thọ của các sản phẩm lỗi thời, nhưng năng lượng tiết kiệm được qua tái sử dụng và tân trang là rất lớn Có 80% năng lượng trong vòng đời của một máy tính được tiết kiệm theo cách này thay vì sản xuất một chiếc mới

từ nguyên liệu thô Tái sử dụng thực chất còn tiết kiệm hơn sản xuất một sản phẩm mới [4]

1.1.2.2 Tái chế

Nhìn chung, tái chế là thu hồi các nguyên liệu có trong một sản phẩm cũ và

sử dụng các nguyên liệu đó sản xuất một thiết bị mới Với máy tính đây là một vòng tròn khép kín nghĩa là nguyên liệu trong thiết bị đã bị bỏ đi lại được sản xuất thành một sản phẩm khác và nhìn chung đây là quá trình trì hoãn chúng đi vào dòng chất thải Có rất nhiều chương trình quốc tế được đưa ra để làm tăng đáng kể việc thu gom và tái sử dụng, tái chế chất thải điện tử Đặc biệt là một số chỉ thị của Châu Âu

đã góp phần tăng tỷ lệ tái chế ở châu lục này, điều này sẽ giúp giảm đáng kể sự ô nhiễm

Tái chế là một quá trình rất quan trọng của các chiến lược cuối cùng với chất thải điện tử Việc tối ưu hóa việc thu hồi các nguyên liệu quý và giảm thiểu hậu quả của chất thải không thể tái chế được phụ thuộc vào công nghệ được áp dụng trong quá trình đó

Tuỳ mục đích thu hồi nguyên liệu mà chọn các phương pháp tái chế khác nhau He và cộng sự (2006) đã cụ thể hóa các phương pháp khác nhau như tái chế

cơ học hay vật lý vì các phương pháp này tốt cho môi trường Quá trình tái chế cơ học hay tái chế vật lý bao gồm 3 giai đoạn chính như sau:

Tháo dỡ: Tháo dỡ là một quá trình hệ thống để lấy một thành phần, một bộ phận hay một nhóm bộ phận của sản phẩm Quá trình này gồm việc tháo dỡ các

Trang 19

thành phần độc hại hay các thành phần có giá trị như bản mạch điện tử, dây cáp và nhựa kỹ thuật cốt để làm đơn giản quá trình tái chế nguyên liệu

Làm giàu: Làm giàu là quá trình tách kim loại (ví dụ: đồng, nhôm và vàng…) và nhựa trong thiết bị điện tử hỏng bằng phương pháp tuyển từ, tuyển điện

và tuyển dựa vào trọng lực

Tinh luyện: Tinh luyện là giai đoạn cuối cùng, nguyên liệu được thu hồi từ các quá trình trên được làm giàu để nâng cao độ tinh khiết bằng các phương pháp hoá học dùng hoá chất hay điện phân trong dung dịch [4]

xỉ và tro bay Xỉ lan ra trong đất và gây ra ô nhiễm nước ngầm Tro bay gây ra ô nhiễm không khí Đốt chất thải rắn trong đô thị cho thấy đồng trong bảng mạch điện

tử, dây cáp đã hoạt động như một xúc tác cho sự hình thành dioxin khi mà các chất chống cháy bị thiêu hủy Những chất chống cháy này khi ở mức nhiệt thấp (600 ÷

800oC) có thể tạo ra chất cực độc polybrominated dioxins (PBDDs) và furans (PBDFs) Đốt còn làm mất các chất có giá trị mà có thể thu hồi

Với các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ, đốt mở là phương pháp được sử dụng rộng nhất Đốt mở có thể tạo ra polyclonated dioxin/ furans ra không khí Đây là một vấn nạn chính vì chất thải điện tử chứa một lượng lớn nhựa Đốt cháy PVC sẽ giải phóng hydrogen chloride Chất này khi hít vào kết hợp với nước trong phổi tạo nên axit hydrochloric ảnh hưởng đến hệ hô hấp, gây ra hen suyễn, hay ung thư phổi [4]

1.1.2.4 Chôn lấp

Chất thải điện tử chứa các nguyên liệu như: nhựa, vỏ thép, bản mạch điện tử,

Trang 20

chất thải nguy hại và việc quản lý độ an toàn của loại chất thải này tại các bãi rác là công việc cần kỹ thuật cao và phải chấp nhận chi phí cao của toàn xã hội, nền kinh

tế và môi trường Kahhat và đồng nghiệp đã nghiên cứu việc chôn lấp chất thải điện

tử là một sự đe dọa với môi trường và sức khỏe con người Việc chôn lấp chất thải điện tử ở các bãi rác có thể dẫn đến sự thẩm thấu chì và các kim loại nặng vào hệ thống nước ngầm [4]

1.1.2.5 Hiện trạng quản lý chất thải điện tử trên thế giới

Trước thực trạng chất thải điện tử đang gây ra nhiều hiểm họa rất lớn đối với nhân loại, nhiều tổ chức quốc tế, các vùng lãnh thổ và các quốc gia đã xây dựng các điều luật và các quy định để đối phó với thực trạng này Có rất nhiều điều luật và sáng kiến đã được đưa ra nhằm quản lý tốt hơn nguồn chất thải điện tử Dưới đây là

tóm tắt một số quy định, sáng kiến

Một số chỉ thị về chất thải điện, điện tử của liên minh Châu Âu [4]

Chỉ thị về chất thải điện, điện tử

Mục đích của chỉ thị về chất thải điện tử là để hạn chế ảnh hưởng tới môi trường của các mặt hàng điện, điện tử thải bằng cách tái sử dụng nhằm mục đích giảm số lượng chất thải điện tử cần chôn lấp Để đạt được mục tiêu này, các nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về mặt tài chính cho việc thu gom, xử lý và phục chế các thiết bị điện tử thải và các nhà phân phối buộc phải nhận lại các thiết bị điện tử thải

từ người tiêu dùng Chỉ thị đã được nghị viện Châu Âu chấp nhận vào ngày 13 tháng 2 năm 2003 Được áp dụng vào ngày 13 tháng 8 năm 2005 Các nội dung chính của chỉ thị này bao gồm là thiết kế sản phẩm, thu gom đơn lẻ, xử lý, Những yêu cầu cụ thể của chỉ thị bao gồm:

*Chất thải điện tử được thu gom riêng từ chất thải đô thị chưa được phân loại Để đạt được điều này thì các nhà sản xuất phải xây dựng các điểm thu gom chất thải công cộng thuận lợi cho các hộ gia đình dễ dàng thải bỏ miễn phí các thiết

bị điện, điện tử hỏng Ngày 31 tháng 10 năm 2006, chỉ thị còn yêu cầu các điểm thu gom chất thải trên phải thu được ít nhất 4 kg chất thải điện, điện tử mỗi người/ năm

Trang 21

*Chỉ thị còn quy định cho các nhà sản xuất về chi phí thu gom, xử lý, phục chế và thải bỏ các sản phẩm mà họ sản xuất Các nhà sản suất phải chi trả các chi

phí trên cho cả các sản phẩm tại chợ ưu tiên

Ảnh hưởng toàn cầu của chỉ thị về chất thải điện tử là rất lớn vì nó sẽ được

áp dụng với tất cả các nhà sản xuất và nhà phân phối trên thế giới mà xuất khẩu thiết bị điện, điện tử đến Châu Âu

Chỉ thị về việc hạn chế chất thải nguy hại (RoHS)

Chỉ thị về việc hạn chế chất nguy hại được xây dựng bởi nghị viện Châu Âu năm 2003 đã nhận thấy một thực tế rằng không phải các chất nguy hại trong chất thải điện, điện tử đều có thể tái chế hay hủy đi trong môi trường, bởi vậy cần đưa ra luật cấm sử dụng một số chất nhất định trong các thiết bị điện tử Chỉ thị về hạn chế các chất nguy hại có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2006 và áp dụng với các thiết

bị điện, điện tử mới trên thị trường Châu Âu sau ngày 1 tháng 7 năm 2006 Chỉ thị này ngay lập tức đã đưa 6 chất cần quan tâm là chì, thủy ngân, cadimi, crom, polybrominated biphenyls (PBB) và polybromminated diphenyl ethers (PBDE) Chỉ thị này còn được áp dụng với các nước Châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc vì các nước Châu Á này là nhà xuất khẩu các thiết bị điện tử lớn nhất đến Châu Âu

Quy định về chất thải điện tử ở Mỹ

Mỹ nổi tiếng là một trong số các nhà sản xuất chất thải điện tử lớn nhất thế giới Theo thống kê năm 2000, Mỹ có 2,2 triệu tấn chất thải điện tử trong đó 859.000 tấn sản phẩm băng, đầu đĩa, 348.000 tấn sản phẩm các phương tiện nghe nhìn và 917.000 tấn sản phẩm công nghệ thông tin Văn phòng kiểm toán chính phủ

Mỹ (GAO) báo cáo rằng hơn 100 triệu máy tính, màn hình máy tính và ti vi đã trở nên lạc hậu ở Mỹ hàng năm và con số này vẫn tiếp tục tăng lên Cơ quan an toàn quốc gia dự báo trong năm 2003 có 70 triệu máy tính bị lỗi thời trong đó có 7 triệu chiếc được tái chế Theo Hiệp hội tái chế chất thải điện tử quốc tế ước tính 20 triệu

ti vi trở nên lỗi thời mỗi năm Nguyên nhân là sự phát triển của công nghệ platma thay thế công nghệ bóng hình Báo cáo của GAO còn đưa ra dữ liệu của trung tâm

Trang 22

triệu ti vi bị thải tại bãi rác mỗi năm và chỉ 19 triệu máy tính được tái chế năm

2005

Sự quan tâm đã được tăng lên từ năm 2002 bởi các tổ chức về môi trường cho rằng khoảng 50 ÷ 80% chất thải điện tử được thu gom tại Mỹ để tái chế thì không được tái chế trong nước mà được xuất khẩu sang các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ Mặc dù tình hình đã được cải thiện từ năm 2002, GAO tuyên bố rằng vẫn còn thiếu đầu tư về kinh tế để khuyến khích tái chế và tái sử dụng các thiết bị điện tử ở Mỹ, điều này còn cộng với sự vắng bóng các điều luật liên bang là khuyến khích tái chế tránh tạo ra chất thải cần phải chôn lấp Hơn nữa, luật liên bang hiện tại cho phép hàng điện tử có sử dụng chất nguy hại khi hết thời gian

sử dụng được thải ra ở các bãi rác, không cung cấp tài chính để ủng hộ việc tái chế

và không ngăn cản việc xuất khẩu chất thải điện tử đến các nước đang phát triển

Vì không có luật liên bang nên mỗi bang lại bắt đầu vạch ra các vấn đề bằng cách phát triển và áp dụng luật về chất thải điện tử riêng của họ chẳng hạn như các lệnh cấm vứt chất thải điện tử ở bãi rác và đưa ra luật tái chế rõ ràng Vào tháng 4 năm 2007, có 7 bang (Arkansas, California, Maine, Massachusetts, Minnesota, New Hampshire and Rhode Island) đã thông qua các luật tái chế Trong đó California đã

áp dụng hệ thống thu phí tái chế trả trước, 3 bang còn lại áp dụng hệ thống mở rộng trách nhiệm cho nhà sản xuất Thêm vào đó, có ít nhất 16 bang và thành phố New York đã đưa đề xuất về luật tái chế 2007 với hai hình thức để chọn lựa là thu phí tái chế trước hoặc là mở rộng trách nhiệm cho nhà sản xuất

California là bang đầu tiên giới thiệu luật tái chế chất thải điện tử ở Mỹ tháng

1 năm 2005 khi đó tất cả các ti vi và máy tính mới được bán trong bang sẽ được thu phí tái chế trước

Mặc dù liên bang Hoa Kỳ đã không thực hiện luật tái chế chất thải quốc gia, nhưng đã bắt đầu nhiều chương trình nhằm khuyến khích việc tái chế và tái sử dụng các thiết bị điện tử

Một trong những tiến triển gần đây nhất về chất thải điện tử ở Mỹ là khung luật được đưa ra bởi khối liên minh các ngành công nghiệp điện tử (EIA) vào ngày

Trang 23

25 tháng 5 năm 2007, đã mở đường cho luật liên bang, nghĩa là thiết lập một chương trình tái chế ti vi, sản phẩm về công nghệ thông tin như máy tính và màn hình máy tính trên toàn quốc [4]

Quy định về chất thải điện tử ở Australia

Vào năm 2007/2008 chính phủ Australia thông báo rằng 31,7 triệu ti vi, máy tính và các sản phẩm về máy tính mới được tiêu thụ ở Australia Trong giai đoạn này, 16,8 triệu chiếc loại này đã hết hạn sử dụng trong đó 88% trong số đó được mang tới bãi rác và chỉ 9% là được tái chế Chính phủ còn ước tính rằng số lượng ti

vi, máy tính và các sản phẩm về máy tính không thể sử dụng sẽ tăng lên 44 triệu vào năm 2027/2028 Nhà nước và chính phủ Australia hiện đang chung tay xây dựng các luật mà hướng về việc mở rộng trách nhiệm cho nhà sản xuất

Vào ngày 5 tháng 11 năm 2009, chính phủ Australia đã chính thức xác nhận một chính sách quốc gia mới về chất thải với tầm nhìn 10 năm về việc thu hồi nguyên liệu và xử lý chất thải Chính phủ tuyên bố dự án tái chế ti vi và máy tính sẽ phát triển và thực thi các yêu cầu trong khuân khổ quản lý các sản phẩm quốc gia để đảm bảo rằng các nhà sản xuất và nhập khẩu ti vi và máy tính đang thiết lập một dự

án quốc gia hiệu quả về thu gom và tái chế các sản phẩm hỏng Theo dự án đã được

đề xuất này các nhà sản xuất và nhập khẩu sẽ phải có trách nhiệm tái chế tất cả các sản phẩm mà họ bán ra ở Australia Dự án này sẽ được áp dụng vào trước năm 2011 [4]

Quy định về chất thải điện tử ở Trung Quốc

Trung Quốc được xem là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhất trên thế giới và Trung Quốc cũng là nước xuất khẩu các sản phẩm công nghệ thông tin

và truyền thông lớn nhất thế giới, vượt trên cả Nhật Bản, Liên Minh Châu Âu và

Mỹ Theo ước tính tổng lượng chất thải điện tử ở Trung Quốc là khoảng 1,11 triệu tấn mỗi năm mà chủ yếu từ nguồn trong nước và nhập khẩu từ nước khác Trung Quốc trở thành một nhân tố quan trọng trong hệ thống tái chế chất thải điện tử Họ

đã thuê 0,7 triệu người vào năm 2007 của 98% các cơ sở tái chế không hợp chuẩn

Trang 24

Ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường của chất thải điện tử đã được vạch rõ

ở Trung Quốc và các nước nhập khẩu khác đang trở nên phổ biến trên các phương tiện truyền thông và giới khoa học nhân văn Vấn đề chất thải điện tử ở Trung Quốc gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, nguyên nhân chính là do các tổ chức tái chế được tiến hành bởi các doanh nghiệp nhỏ và không hợp chuẩn, họ thiếu vốn để xử

lý chất thải theo cách hợp chuẩn Việc áp dụng các công nghệ thô sơ, lạc hậu để thu hồi các kim loại có giá trị và vứt bỏ các kim loại nặng và các chất hóa học độc hại khác cộng với nhận thức thấp về vấn đề sức khỏe và môi trường tất cả đã làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn

Ngày 5 tháng 3 năm 2009, hội đồng nhà nước đã ban hành “Luật hành chính

về việc phục hồi và vứt bỏ các sản phẩm điện, điện tử hỏng” gọi là China WEEE Luật này sẽ có hiệu lực vào tháng 1 năm 2011 [4]

Quy định về chất thải điện tử ở Ấn Độ

Ở Ấn Độ, chất thải điện tử cũng là một vấn đề quan trọng vì các đồ điện tử thải trong nước cũng như được nhập từ các nước đang phát triển Ngành công nghiệp điện tử Ấn Độ là một trong số các ngành công nghiệp tăng trưởng nhanh nhất thế giới Theo ước tính số người sở hữu máy tính cá nhân tăng 604% trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2000, trong khi đó bình quân toàn thế giới tăng 181% cũng trong giai đoạn này các nghiên cứu đã ước tính rằng tổng số chất thải điện tử hàng năm của Ấn Độ là khoảng 1,46 đến 3,3 triệu tấn và sẽ đạt đến 4,7 triệu tấn vào năm 2011 Việc tái chế chất thải hợp chuẩn đang phát triển ở các thành phố chính Tuy nhiên, các cơ sở tái chế chưa hợp chuẩn vẫn đang hoạt động trong khoảng thời gian dài với hơn 1 triệu người dân tham gia vào các tổ chức tái chế Hầu hết những người này có trình độ học vấn thấp với ít kiến thức về sự nguy hiểm của các hoạt động này

Hiên nay, Ấn Độ vẫn chưa có khung luật chính thức nào về chất thải điện tử

ở cấp quốc gia Mặc dù Ấn Độ có một số cơ sở sản xuất phần cứng và phần mềm công nghệ cao phát triển nhất thế giới Trung tâm kiểm soát bản mạch ô nhiễm đã xây dựng những hướng dẫn về việc quản lý môi trường chất thải điện tử ở Ấn Độ

Trang 25

Chính phủ còn đưa ra một số bước để đối mặt với vấn đề các thiết bị điện tử cũ được nhập khẩu vào Ấn Độ Phòng công nghệ Thông tin, đứng đầu là bộ trưởng công nghệ thông tin và truyền thông đã phát triển các chính sách cấm nhập khẩu các máy tính cũ gồm cả máy tính cá nhân và máy tính xách tay Tuy nhiên, những thiết

bị đó có thể được nhập khẩu miễn phí như những món quà tặng [4]

Quy định về chất thải điện tử ở Hàn Quốc

Hàn Quốc là một trong số những nhà xuất khẩu hàng điện tử và sản phẩm công nghệ thông tin lớn trên thế giới Năm 2005, hơn 30% hàng được sản xuất cho xuất khẩu bao gồm các thiết bị công nghệ cao như ti vi, điện thoại và tủ lạnh Ước tính rằng, năm 2003 hơn 25 triệu máy tính đang được sử dụng ở Hàn Quốc với hơn 60% dân số có kết nối Internet Năm 2004, hơn 3 triệu máy tính và 15 triệu điện thoại đã không thể sử dụng

Các luật liên quan đến chất thải điện tử ở Hàn Quốc đã được hình thành từ năm 1992, dựa vào đạo luật kiểm soát chất thải, hệ thống đầu tư và hồi vốn từ chất thải đã được đưa ra Theo hệ thống này, một khoản tiền được đưa ra ở một tỷ lệ nhất định theo sản phẩm và gói sản phẩm mà sẵn sàng dùng cho việc tái chế Năm 1997

có 4 loại thiết bị là ti vi, máy giặt, điều hòa, tủ lạnh được đưa vào hệ thống này Sau

đó đến năm 2003, việc mở rộng trách nhiệm cho nhà sản xuất được đưa ra với các thiết bị này để buộc nhà sản xuất phải có trách nhiệm với toàn bộ vòng đời của các sản phẩm của họ Bắt đầu từ ti vi, tủ lạnh, điều hòa, máy giặt được chọn lựa để thực hiện trước sau đó là các thiết bị nghe nhìn và điện thoại vào năm 2005, máy fax, máy in vào năm 2006

Ngày 2 tháng 4 năm 2007 Hội đồng quốc gia Hàn Quốc thông qua “Đạo luật

về các nguyên liệu được tái chế từ các sản phẩm điện tử và điện thoại” luật này tương tự chỉ thị về hạn chế sử dụng các chất nguy hại, chỉ thị về chất thải điện tử ở Châu Âu, nhưng luật này còn chứa thêm một số điều cụ thể của Hàn Quốc Điều luật này được thực thi vào ngày 1 tháng 1 năm 2008 [4]

Quy định về chất thải điện tử ở Nhật Bản

Trang 26

Chính phủ Nhật Bản đã thông qua một số luật nhằm khích lệ việc tái chế chất thải trong nước Năm 2000, chính phủ Nhật Bản đã thông qua đạo luật cơ bản về việc xây dựng một xã hội sử dụng nguyên liệu lành mạnh, luật khuyến khích sử dụng nguồn tài nguyên một cách hiệu quả đã đi vào hoạt động từ năm 1991 và được

bổ sung vào năm 2002 đã đưa ra các yêu cầu về tái chế các sản phẩm cỡ lớn

Luật tái chế các thiết bị thải gia dụng được thực thi vào năm 1998 và bắt đầu

có hiệu lực vào tháng 4 năm 2001 Luật này quy định nhà sản xuất và nhà nhập khẩu phải thu gom và tái chế các sản phẩm như điều hòa, tủ lạnh, ti vi và máy giặt

Họ phải có trách nhiệm về tài chính cho các hoạt động tái chế những sản phẩm riêng của họ

Luật tái chế các thiết bị gia dụng đưa ra một chính sách “cũ cho mới” nghĩa

là các nhà bán lẻ được yêu cầu lấy lại từ người tiêu dùng sản phẩm mà đã qua sử dụng mỗi lần họ bán một sản phẩm mới Luật này còn cho phép nhà sản xuất kí hợp đồng nhóm thương mại, ví dụ như kí hợp tác với hàng thiết bị gia dụng để đại diện thu gom các thiết bị hay sử dụng các thiết bị được cung ứng bởi chính phủ địa phương Sự thu gom đòi hỏi vận chuyển những nguyên liệu đã được gom lại đến một trung tâm được hợp nhất bởi hiệp hội các nhà sản xuất bao gồm các công ty sản xuất chính Mỗi một hiệp hội tổ chức một vài trung tâm hợp nhất và cơ sở tái chế quanh nước Nhật Bản Thay vì chi phí toàn bộ từ đầu đến cuối cho việc tái chế, luật tái chế các thiết bị thải gia dụng còn phụ thuộc vào phí thải các thiết bị đã hết hạn

sử dụng được trả bởi các nhà tiêu dùng để chi trả cho việc thu gom, vận chuyển và quá trình tái chế Người tiêu dùng phải trả phí thu gom khi mà họ thải các sản phẩm

đã qua sử dụng

Luật khuyến khích sử dụng nguồn tài nguyên hiệu quả của Nhật Bản được cân nhắc năm 1991 và được xem xét lại vào năm 2001 đối với việc cung cấp máy tính cá nhân Theo INFORM 2004, khoảng 51% hộ gia đình ở Nhật Bản sở hữu máy tính cá nhân, số lượng lên đến 24 triệu chiếc với một số trong tổng số này được thải ra mỗi năm Để giải quyết vấn đề này tháng 4 năm 2001 luật quy định việc tái chế tất cả các máy tính hỏng cho các doanh nghiệp Trong khi đó, đến tháng 10 năm

Trang 27

2003 luật này lại yêu cầu các hộ gia đình phải có trách nhiệm tái chế các máy tính hỏng đó

Hiệp hội điện tử và công nghệ thông tin Nhật Bản (JEITA) đã nhận vai trò

bổ sung luật bằng cách thay mặt nhà sản xuất tổ chức tái chế các máy tính hỏng JEITA tính toán khoảng 9000 tấn máy tính trong nhà đã qua sử dụng bị thải ra mỗi năm, tương đương với 460.000 chiếc và con số này còn được dự đoán sẽ tăng lên gấp hai hay gấp ba lần trong vài năm tới

Luật đã đưa ra hai cấu trúc tài chính khác nhau đối với máy tính đã qua sử dụng Đối với máy tính được mua ưu đãi tới ngày 1 tháng 10 năm 2003, việc tái chế được chi trả như phí hết hạn sử dụng từ 27 đến 37 đô la Trong khi đó, máy tính được mua sau ngày 1 tháng 10 năm 2003 thì chi phí tái chế đã được bao gồm trong giá sản phẩm, một phí trọn vẹn hiệu quả Để tiến hành hệ thống này, bưu điện Nhật Bản đã thay mặt JEITA thu gom máy tính hỏng ở khoảng 20.000 bưu điện trong toàn quốc Máy tính mua sau ngày 1 tháng 10 năm 2003 thì được thu gom miễn phí bởi bưu điện Nhật Bản

Một luật bổ sung về khuyến khích sử dụng tài nguyên hiệu quả vào ngày 1 tháng 7 năm 2006 khi văn bản về hạn chế sử dụng chất nguy hại (RoHS) được giới thiệu Luật bổ sung này quy định nhà sản xuất phải công bố các thành phần nguyên liệu cho các sản phẩm điện tử nhất định sau ngày 1 tháng 7 năm 2006 Nhà sản xuất

và nhập khẩu phải dán nhãn hiệu sản phẩm và cung cấp thông tin về 6 chất nguy hại được hạn chế ở Châu Âu Ngoài ra các nhà sản xuất và nhập khẩu phải hưởng ứng tiêu chuẩn thiết kế vì môi trường mà được yêu cầu với các nhà sản xuất trong nước Hạn chế sử dụng các chất nguy hại Nhật Bản không cấm sử dụng các sản phẩm chứa các chất bị hạn chế trên [4]

Quy định về chất thải điện tử ở Canada

Việc quản lý chất thải điện tử đang nhanh chóng trở thành vấn đề chính sách cộng đồng ở Canada Theo ước tính hàng năm khoảng 14.000 tấn các thiết bị điện

tử bị chất đống tại các bãi rác ở Canada

Trang 28

Ở Canada luật về chất thải điện tử được giao cho các tỉnh và vùng lãnh thổ ban hành Alberta là tỉnh đầu tiên của Canada ban hành luật tái chế chất thải riêng của tỉnh mình Phòng quản lý tái chế Alberta quản lý và thu phí thu gom từ người bán lẻ, bán buôn, nhà phân phối và nhà sản xuất Một vài điểm thu gom và bãi rác phải được xây dựng mà không thu phí của người tiêu dùng khi họ thải chất thải điện

tử vì đã được thu từ người bán lẻ từ tháng 2 năm 2005

Vào ngày 1 tháng 8 năm 2007 tỉnh British Columbia đã ban hành luật mà nhà tiêu dùng và các doanh nghiệp trong tỉnh có thể thải chất thải điện tử của họ mà không phải trả phí tái chế Phí bảo vệ môi trường sẽ được thu theo giá của các sản phẩm mới theo các mặt hàng đã phân loại để chi trả cho chương trình Một vài hệ thống quản lý chất thải điện tử kiểu Châu Âu đang được áp dụng tại các tỉnh khác

để giải quyết vấn đề chất thải điện tử ở Canada [4]

Công ước Basel

Tên gọi chính thức là công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển chất thải nguy hại và chất thải không thể tái chế xuyên biên giới Công ước Basel là một hiệp định về môi trường toàn cầu rõ ràng nhất về chất thải nguy hại Mục đích chính của công ước là để bảo vệ sức khoẻ con người và môi trường trước các ảnh hưởng xấu gây ra từ sự vận chuyển và vứt bỏ chất thải nguy hại xuyên biên giới Công ước có hiệu lực vào ngày 5 tháng 5 năm 1992 Tháng 3 năm 2009 có 172 quốc gia đảng phái tham gia công ước Năm 1995 đề xuất lệnh cấm Basel được bổ sung vào công ước Basel nhằm ngăn chặn chất thải độc hại từ các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác

và phát triển Kinh tế (OECD) sang những nước không thuộc tổ chức này Tháng 4 năm 2007 số lượng thành viên trong liên hợp quốc nhất trí luật bổ sung này là 63 Nhưng luật cấm bổ sung này vẫn chưa có hiệu lực vì nó phải được 3/4 số thành viên tán thành

Năm 2005, công ước Basel với sự ủng hộ của chính phủ Nhật Bản đã tuyên

bố quan hệ đối tác công ước Basel về quản lý môi trường trong sạch với chất thải điện, điện tử khu vực Châu Á Thái Bình Dương

Trang 29

Gần đây, Quan hệ đối tác vì các hoạt động với thiết bị máy tính (PACE) được chấp thuận vào tháng 6 năm 2008 Mục tiêu chính của PACE là để cung cấp cách tiếp cận mới và tiến bộ với các vấn nạn nguy cấp về thiết bị máy tính đã qua sử dụng và đã hỏng [4]

Hiệp ước Bamako (ở Châu Phi)

Có hiệu lực từ năm 1996 quy định cấm nhập khẩu chất thải nguy hại và kiểm soát việc vận chuyển chất thải nguy hại xuyên biên gới Châu Phi [10]

Đề xuất 3R

3R (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế) được giới thiệu trong hội nghị thượng đỉnh G8 tại Nhật Bản vào tháng 6 năm 2004 Trong hội nghị 3R Châu Á được tổ chức ở Tokyo vào tháng 11 năm 2006, đến dự hội nghị gồm có 20 nước Châu Á, 6 nước nhóm G8 và 8 tổ chức quốc tế Tiến trình và vấn đề quản lý chất thải điện tử

vì môi trường trong sạch ở khu vực Châu Á được thảo luận và uỷ quyền cho các nước Châu Á và các chuyên gia mà đã trình bày các nghiên cứu về quản lý chất thải điện tử Trang web 3R khu vực Châu Á được thành lập năm 2009 bởi sự nỗ lực chung của Liên Hợp Quốc vì sự phát triển khu vực và các bộ trưởng môi trường, chính phủ Nhật Bản

Những quy định, công ước và sáng kiến trên đã được thể hiện cụ thể ở nhiều quốc gia, các vùng lãnh thổ trên thế giới Tuy nhiên toàn thế giới chưa có một quy định chung để giải quyết một cách triệt để vấn nạn đối với chất thải điện tử Từ các quy định và sáng kiến của các vùng lãnh thổ và các quốc gia phát triển, hy vọng một ngày nào đó nó sẽ là tiếng nói chung của toàn nhân loại về chất thải điện tử [4]

1.2 Hiện trạng phát thải và quản lý chất thải điện tử ở Việt Nam

1.2.1 Nguồn phát thải chất thải điện tử ở Việt Nam

Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng thiết bị điện, điện tử ở Việt Nam đang ngày càng gia tăng, phản ánh sự tăng trưởng trong thu nhập và mức sống ngày cao của người dân Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế nên thuế nhập khẩu đối với thiết bị điện và điện tử gia

Trang 30

qua sử dụng vẫn đang tiếp tục đổ vào Việt Nam theo nhiều con đường không chính thức Ngoài ra, tốc độ phát triển khoa học công nghệ ngày càng cao, cùng với sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng nên đã dẫn đến sự đa dạng hóa về mẫu mã và chủng loại, làm cho tuổi thọ trung bình của loại thiết bị này ngày càng giảm Chính

vì các nguyên nhân nêu trên mà chất thải điện tử giờ trở thành một trong những vấn

đề môi trường quan trọng

Theo như cục thống kê, tỉ lệ chủ sở hữu những chiếc ti vi màu đã tăng từ 0,698 chiếc / hộ gia đình năm 2004 đến 0,82 chiếc ti vi / hộ gia đình năm 2006, tăng 18% chỉ trong vòng 2 năm Những con số 38,6%, 68,2%, 50% và 50% tương ứng với tủ lạnh, điều hòa, máy vi tính và máy giặt Phần trăm các hộ gia đình mua các mặt hàng bền (hơn 12 tháng) tăng từ 32,8% năm 2002 đến 41,4% năm 2006 Theo báo cáo thường niên: Thống kê hàng năm về thị trường hàng điện tử hàng năm chỉ

ra trung bình hàng năm thị trường điện tử tăng hơn 20% từ 1,119 triệu USD năm

2003 đến khoảng 4 tỉ USD năm 2008 [1]

Bên cạnh đó, vì cắt giảm thuế đối với các thiết bị nhập khẩu, việc giảm giá, thay đổi mẫu mã, nhu cầu cho các thiết bị điện tử mới ngày càng tăng đã làm cho loại hàng này dễ dàng được tiêu thụ, thậm chí cả với những người có thu nhập thấp

Và dĩ nhiên, tuổi thọ của các thiết bị điện tử này cũng giảm đi Những lí do này có thể làm tăng vọt các loại chất thải điện tử trong thời gian tới ở Việt Nam Và điều này sẽ gây hại rất lớn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng nếu Việt Nam không chuẩn bị một hệ thống quản lí quy chuẩn từ bây giờ

Không có nhiều bài nghiên cứu và báo cáo về số lượng chất thải điện tử ở Việt Nam hiện nay Điều đó cho thấy một thực tế rằng chất thải điện tử vẫn chưa nhận được nhiều sự chú ý, quan tâm từ phía các nhà khoa học và các chính sách xã hội Trong số tất cả các nghiên cứu gần đây, INEST – HUT là một viện khoa học đứng đầu về vấn đề chất thải điện tử, đã đưa ra thống kê trong INEST năm 2005, KIGAM và INEST, Huỳnh Trung Hải và các đồng nghiệp năm 2006, Nguyễn Đức Quảng và các đồng nghiệp năm 2008 và 2009

Trang 31

Về số lượng chất thải điện tử, Huỳnh Trung Hải và các đồng nghiệp đã có ước tính rằng trong giai đoạn 2000 – 2006, số lượng các ti vi bị thải ra là khoảng

446 nghìn chiếc và tổng số lượng các thiết bị điện tử dùng trong gia đình là khoảng

800 nghìn chiếc, được thể hiện trong bảng 1.1

Bảng 1.1: Số lượng các thiết bị điện tử gia dụng bị thải ở Việt Nam mỗi năm

Một nghiên cứu của công ty môi trường đô thị Hà Nội (URENCO Hanoi)

thống kê năm 2006, khoảng 365 nghìn ti vi, 131,5 nghìn máy vi tính, 231 nghìn tủ

lạnh, 50 nghìn điều hòa và 327 nghìn máy giặt bị thải bỏ Năm 2020, những con số

này sẽ là 4,8 triệu, 1,4 triệu, 2,3 triệu, 873 nghìn và 2,6 triệu Xem bảng 1.2

Trang 32

Bảng 1.2: Số lượng các thiết bị điện tử bị thải đi đến năm 2020 ở Việt Nam

Mặc dù vậy, vẫn còn một số lượng đáng kể các thiết bị điện tử bị thải đi mà không trải qua quá trình tái sử dụng Bởi vậy, việc quản lý và xử lý chất thải điện tử cần được quan tâm và chú ý đặc biệt từ phía chính phủ [1]

Trang 33

Qua những nghiên cứu trên cho thấy chưa có sự thống nhất về số liệu, chưa nhiều nghiên cứu về lĩnh vực chất thải điện tử Trước thực trạng trên đòi hỏi phải có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực đáng quan tâm này và có những nghiên cứu chi tiết và đầy đủ hơn

1.2.2 Hiện trạng thu gom, tái sử dụng, tái chế và quản lý chất thải điện tử ở

Việt Nam

1.2.2.1 Hiện trạng thu gom

Chất thải điện tử ở Việt Nam chủ yếu được thu gom bởi các công ty môi trường đô thị ở các địa phương (URENCOs), các công ty này có nhiệm vụ thu gom

và giải quyết các chất thải thông thường cũng như xử lý các chất thải nguy hại Bên cạnh đó một số lượng lớn chất thải điện tử được thu gom bởi những người thu mua phế liệu và được tái chế bởi các làng nghề thủ công hoặc các đơn vị tái chế

Hầu hết các chất thải điện tử công nghiệp được phân loại tại nguồn và được

xử lý theo những phương pháp sau: tái sử dụng, tái chế hoặc thải bỏ Những chất thải điện tử có khả năng tái sử dụng và tái chế được bán cho các đơn vị tái chế, còn các chất thải không tái chế được thì được công ty môi trường đô thị thu gom, vận chuyển và hợp đồng xử lý bằng cách chôn lấp hoặc cho vào trong kho, ở các làng nghề thải bỏ lộ thiên, đốt [1]

1.2.2.2 Hiện trạng tái chế và tái sử dụng chất thải điện tử ở Việt Nam

Để hiểu rõ quá trình tái chế và tái sử dụng ta xem xét vòng đời của sản phẩm theo quan điểm quản lý môi trường thể hiện ở hình 1.1

Trang 34

Hình 1.1: Sơ đồ vòng đời sản phẩm theo quan điểm quản lý môi trường

Từ hình 1.1 cho thấy tái chế và tái sử dụng là tất yếu trong vòng đời của một sản phẩm

a Tái sử dụng

Nhìn chung, việc tái sử dụng các loại chất thải điện tử ở Việt Nam còn rất nhiều hạn chế, chủ yếu là sử dụng lại các thiết bị đã dùng hoặc tháo các linh kiện có thể thay thế hoặc sửa chữa Những phần của chất thải công nghiệp điện tử có thể sử dụng lại được chủ yếu là các vỏ bọc và bao bì bên ngoài

Có thể nói rằng, sự phát triển của công nghiệp điện tử có thể chưa phù hợp với nhu cầu thực tế, nhưng nó đã phát triển mạnh mẽ ngay từ đầu thế kỷ này Bởi vì khả năng của dây chuyền lắp ráp vẫn chưa phù hợp với nhu cầu thực tế, một lượng lớn các linh kiện điện tử vẫn phải nhập khẩu hàng năm Bên cạnh đó, vẫn còn các cửa hàng tư nhân trên thị trường, họ lắp ráp hay tân trang lại các thiết bị điện tử đã qua sử dụng để bán cho người sử dụng Sau khi lấy linh kiện phần không tái sử dụng được thải vào chung chất thải rắn đô thị

Trang 35

Thực tế, vẫn còn vô số các hàng cũ và thiết bị bị thải ra từ Mỹ, các nước Châu Âu, Nhật Bản và một số quốc gia Châu Á khác đang trôi nổi trên thị trường Việt Nam Các thiết bị này có thể được sử dụng lại ngay như là một loại hàng cũ hoặc được tân trang lại giống y trang hàng mới, rồi sau đó bán cho những người có thu nhập thấp Điểm mấu chốt ở đây là lợi nhuận của các kiểu mua bán này luôn cao hơn lợi nhuận từ quá trình tái chế Kết quả là hầu hết các chất thải điện tử đều được tân trang hay xuất khẩu hơn là tái chế nguyên liệu Bởi vậy, Việt Nam vẫn còn tránh được các ảnh hưởng xấu của quá trình tái chế với môi trường, vấn đề mà đã thấy ở Trung Quốc và Ấn Độ Với các lý do trên, cần thiết phải nghiên cứu thị trường hàng điện tử cũ để xem xét triển vọng của công nghệ tái chế thiết bị điện tử trong tương lai gần ở Việt Nam [1]

b Tái chế

Ở Việt Nam, thông tin về việc tái chế và tái sử dụng chất thải điện tử thì chưa có nhiều Tuy nhiên, tiềm năng để tái chế loại chất thải này là rất cao (khoảng 80% trong tổng số các loại chất thải điện tử có thể tái chế)

Công nghiệp tái chế ở Việt Nam được thành lập ở các làng nghề, kinh doanh theo hộ gia đình hoặc các doanh nghiệp tư nhân Các loại hình này chủ yếu tổ chức tái chế giấy, nhựa, kim loại chứa sắt, nhôm, chì với các công nghệ đơn giản và trang thiết bị thô sơ và họ thiếu sự quan tâm đến việc bảo vệ môi trường, điều này không chỉ mang lại lợi nhuận kinh tế thấp mà còn gây ô nhiễm môi trường một cách nghiêm trọng Trường hợp này thì khá giống với Trung Quốc và Ấn Độ Tuy nhiên, trong khi hệ thống tái chế ở Trung Quốc và Ấn Độ có thể thu hồi đa phần giá trị nguyên liệu từ chất thải điện tử, thì hệ thống tái chế ở Việt Nam chỉ có thể tái chế một số loại nguyên liệu nhất định như sắt, đồng, nhôm, chì và nhựa

Việt nam còn thiếu các nghiên cứu về công nghệ tái chế chất thải điện tử Cho đến nay, chỉ có một vài bài nghiên cứu tại phòng thí nghiệm tập trung vào việc làm giàu kim loại bằng cách tuyển khí và thu hồi kim loại bằng phương pháp thủy luyện và điện phân trong dung dịch Nghiên cứu này được tiến hành tại Viện Khoa

Trang 36

Một thực tế là vấn đề chất thải điện tử vẫn chưa thực sự nhận được sự quan tâm nhiều của các nhà khoa học ngay cả khi nó có tiềm năng lớn để thu hồi các nguyên liệu cũng như vấn đề bảo vệ môi trường Đây sẽ là một vấn đề lớn khi mà lượng chất thải điện tử tăng nhanh và một hệ thống quản lý riêng là rất cần thiết [1]

1.2.2.3 Công cụ pháp lý, chính sách để quản lý chất thải điện tử ở Việt Nam

Việt Nam không có bất cứ điều luật hay quy định cụ thể nào về quản lý chất thải điện tử Thay vào đó, tất cả các thiết bị điện tử và các bộ phận của chúng được xem là loại chất thải nguy hại, theo quyết định 23/2006/QD-BTN&MT về danh sách các loại chất thải nguy hại

Xem chất thải điện tử là loại chất thải nguy hại, có một số đạo luật liên quan đến chức năng và trách nhiệm của Nhà nước và các trung tâm môi trường địa phương (luật sửa đổi bổ sung của Luật bảo vệ môi trường và Nghị định 80/2006/ND-CP ra ngày 8/8/2004) về quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải điện tử (Quyết định 155/1999/QD-TTg quy định về quản lý các loại chất thải nguy hại) Ví dụ, Luật bổ sung một số vấn đề của Luật bảo vệ môi trường quy định trách nhiệm cho các nhà sản xuất về các thiết bị điện tử bị thải ra theo Điều 66, 67 Luật còn quy định việc quản lý chất thải nguy hại bao gồm cả việc đăng ký (Điều 71), vận chuyển (Điều 72), xử lý (Điều 73), chôn lấp (Điều 75) Nghị định số 80 còn quy định về phân loại chất thải và dán nhãn cho các loại chất thải nguy hại và

sự đăng ký xuất/nhập khẩu với các hàng điện tử gia dụng cốt để quy trách nhiệm và khả năng phục hồi hay tái sử dụng các sản phẩm đã bị thải này bởi người tiêu dùng (Điều 20)

Tuy nhiên, vẫn chưa có một điều luật hay hướng dẫn cụ thể nào về việc quản

lý chất thải điện tử Việc phân loại chất thải điện tử vẫn chưa được áp dụng, điều này làm cho việc kiểm soát chất thải điện tử càng trở nên khó khăn Bên cạnh đó, hệ thống quản lý vẫn còn yếu chưa hiệu quả cho nên chính phủ không thể kiểm soát hết các hành vi vi phạm Một trong những lý do quan trọng nhất của thực trạng này

là chất thải điện tử được xem là một nguồn tài nguyên có ích hơn là vấn nạn về môi trường, vì vậy những vi phạm đã được lờ đi trong một thời gian dài Hơn nữa, lượng

Trang 37

chất thải điện tử hiện nay vẫn còn thấp và rải rác ở một số cơ sở tái chế ở một số làng nghề và việc thu gom loại chất thải này ít được sự chú ý từ phía nhân dân

Trách nhiệm của người thi hành luật vẫn còn chưa được xác định rõ ràng Theo luật bảo vệ môi trường năm 2005, nhà sản xuất phải có trách nhiệm thu gom

và xử lý các sản phẩm thải ra theo quy định Tuy nhiên, chẳng có một tổ chức nào chịu trách nhiệm giám sát việc thực thi các trách nhiệm này và chẳng có một hướng dẫn cụ thể nào về việc thi hành luật và chẳng có một chính sách nào liên quan đến trách nhiệm này

Rõ ràng rằng người tiêu dùng có trách nhiệm với 3R (giảm thiểu, tái sử dụng

và tái chế) để giảm thiểu lượng chất thải Tuy nhiên, chẳng có một văn bản pháp quy hay điều luật nào quy định về việc thi hành các trách nhiệm đó

Giống như các nhà sản xuất và người tiêu dùng, các cơ sở tái chế cũng chẳng

có bất cứ trách nhiệm gì với các thiết bị điện tử hỏng, theo như luật bảo vệ môi trường Tuy nhiên Điều 67 đưa ra các chính sách ưu tiên như giảm thuế, tăng vốn đầu tư và cung cấp đất để xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị Thực tế, các cơ sở tái chế phải có trách nhiệm hoạt động theo luật bảo vệ môi trường [1]

Hiện nay, Việt Nam đã soạn dự thảo “Quy định về việc thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ” đang trình Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt

Như vậy, nước ta chưa có một điều luật riêng đối với chất thải điện tử và chưa có những chính sách rõ ràng về thu gom và tái chế Để hội nhập quốc tế và giảm thiểu tác động xấu tới môi trường đòi hỏi nước ta phải có những điều luật hay những quy định về chất thải điện tử và có những cơ chế khuyến khích thu gom và tái chế hợp chuẩn hạn chế những tác động tiêu cực tới môi trường

1.3 Ảnh hưởng của chất thải điện tử tới môi trường

Các vấn đề về chất thải điện tử và tác động của chúng tới môi trường đang ngày càng phổ biến trong các nghiên cứu khoa học Nhìn chung, các thiết bị điện, điện tử là tổ hợp phức tạp gồm rất nhiều nguyên liệu khác nhau, nhiều trong số chúng có độc tố cao Ví dụ, việc sản xuất chất bán dẫn, bản mạch điện tử, đầu chạy

Trang 38

kim loại nặng như cadimi, chì và thủy ngân Trong bản mạch điện tử chứa các kim loại nặng như antimony, bạc, crom, kẽm, chì, thiếc và đồng Trong các thiết bị điện, điện tử, chì được sử dụng chủ yếu trong đèn hình của màn hình máy tính, các mối hàn, dây cáp, bản mạch điện tử, và đèn huỳnh quang Các bộ phận chính của một đèn hình như phễu, cổ và thủy tinh chứa khoảng 0,4 đến 3kg chì/1 màn hình máy tính Đứng sau đèn hình về khối lượng chì trong số các thiết bị điện, điện tử là các mối hàn Trong mối hàn có (60% thiếc, 40% chì) Chì ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan trong cơ thể người bao gồm hệ thần kinh, thận và cơ quan sinh sản

Crom được dùng trong công nghiệp điện tử là lớp mạ chống gỉ, sơn lót cho kim loại mạ Phức hợp của crom như canxi cromat, crom 3 oxit, chì cromat là những chất gây ung thư Cadimi được xếp vào loại chất độc không thể cứu chữa được với sức khỏe con người Cũng giống như chì cadimi được tích lũy trong cơ thể trong một thời gian dài và phá hủy cơ thể con người Trong chất thải điện tử cadimi

là một thành tố không thể thiếu, nó nằm trong các chíp điện trở, máy dò hồng ngoại, chất bán dẫn Đồng được sử dụng trong bản mạch điện tử để dẫn điện qua các lớp khác nhau trong bản mạch Đồng có ý nghĩa với các vấn đề môi trường trong suốt vòng đời của nó từ khi khai thác đến khi vứt bỏ

Việc tái chế chất thải điện tử ở các nước đang phát triển có ảnh hưởng lớn tới môi trường cũng như sức khỏe cộng đồng Khi phân tích đất, bụi bẩn, không khí và tóc người đã tìm thấy các chất chì, kẽm, đồng, cadimi, thiếc trong khu vực tái chế chất thải điện tử ở bang Bangalore, Ấn Độ Ở Trung Quốc khi nghiên cứu kim loại nặng trên da đầu của công nhân và dân cư trong khu vực tái chế chất thải điện tử đã phát hiện mức độ cao hơn bình thường các chất: cadimi, chì, đồng Người ta cũng nghiên cứu trong trầm tích của 2 con sông ở Guiyu, Trung Quốc, nơi mà đang diễn

ra hầu hết các quy trình tái chế chất thải điện tử chưa hợp chuẩn, thấy các trầm tích chứa nhiều loại chất độc là do hàm lượng kim loại nặng cao, độ pH thấp do lượng axit cao Khi nghiên cứu về kim loại nặng (đồng, cadimi, chì, kẽm, thủy ngân) và các chất hữu cơ bền như polycylic hydrocacbon và polychlonated biphenyls của một cơ sở tái chế chất thải điện tử ở Taizhou, Trung Quốc đã tìm thấy mức độ cao

Trang 39

các chất trên Mạng lưới hành động Basel (BAN) đã sản xuất một bộ phim báo cáo

về tình hình làng Guiyu ở Quảng Đông Trung Quốc (làng được coi như một bãi chất thải điện tử) kết quả cho thấy 100.000 đàn ông, phụ nữ và trẻ em kiếm khoảng 1,5 đô la mỗi ngày nhờ tháo rời các chất thải điện tử bằng tay để thu hồi các kim loại và nguyên liệu có giá trị, các bản mạch điện tử thì được nung chảy trên than đá

để thu lại các kim loại có giá trị nhưng nó lại thải ra khói độc dioxin Các bồn rửa axit bên bờ sông dùng để tách vàng cũng làm phát tán một lượng đáng kể axit xuống sông Đất và nước uống ở Guiyu bị ô nhiễm chì vượt quá mức mà tổ chức y

tế thế giới cho phép, đất hơn 200 lần, nước 2400 lần

Sau khi báo cáo của BAN năm 2002 được phát hành, một số nghiên cứu được thực hiện trong khu vực này để điều tra ảnh hưởng sức khỏe và môi trường của hoạt động tái chế này Thị trấn Guiyu nằm ở quận Chaoyang, phía Tây Nam Trung Quốc là tâm điểm của hầu hết các nghiên cứu về tác động của tái chế chất thải điện tử không hợp chuẩn Yu và công sự năm 2006 đã nghiên cứu về hàm lượng, phân bố, sơ lược lịch sử nguồn chất polycyclic aromatic hydrocarbons (PAHs) trong đất tại khu vực này Họ đã tìm thấy hàm lượng rất cao PAH trong đất gần khu vực đốt rác ở Guiyu, điều này có thể bị ảnh hưởng của hoạt động tái chế thô sơ lạc hậu quanh khu vực này Một nghiên cứu khác tương tự của Deng và cộng

sự năm 2006 đã nghiên cứu về mức độ PAH và kim loại nặng trong tổng các hạt lơ lửng với đường kính nhỏ hơn 2,5µm đã cho thấy hàm lượng PAH cao hơn 2 đến 6 lần, hàm lượng crom, đồng, thiếc cao hơn từ 4 đến 33 lần so với các nước Châu Á khác Kết quả này đã chứng minh răng hàm lượng PAHs cao và các kim loại nặng trong không khí ở Guiyu có thể gây ra những vấn đề về môi trường và sức khỏe nghiêm trọng Nghiên cứu của Wong và cộng sự năm 2007 về các mẫu cặn lấy từ 2 con sông Lianjiang và Nanyang, cả hai đều chảy qua làng Guiyu đã chứng minh chúng bị nhiễm cadimi (lên tới 10,3mg/kg) đồng (17,0 ÷ 4540mg/kg), chì (28,6 ÷ 590mg/kg), kẽm (51,3 ÷ 324mg/kg) và niken (12,4 ÷ 543mg/kg) Kết quả chỉ ra rằng đó là mức độ rất cao so với cặn không bị ô nhiễm Kết quả của những nghiên

Trang 40

cứu này là bằng chứng mạnh mẽ chứng minh rằng khí quyển, đất và nước ở Guiyu đều bị nhiễm các chất hóa học và kim loại vì các hoạt động tái chế chất thải điện tử Chất thải điện tử còn chứa các chất chống cháy như polybrominated biphenyls và polybrominated biphenylethers được sử dụng trong bản mạch điện tử,

vỏ và dây cáp Người ta đã tìm thấy polybrominated biphenylethers ở các công nhân làm việc tại các cơ sở tái chế chất thải điện tử và các dân cư sống xung quanh các khu vực đó Các chất chống cháy có ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khỏe con người… [4]

Qua một số minh chứng trên thấy chất thải điện tử là hiểm họa đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng, cho nên việc quản lý và tái chế hợp quy cách chất thải điện tử là việc làm cần thiết để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Trong luận văn này tiến hành nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải với hai phương pháp là tuyển khí và tuyển điện là công đoạn đầu của hệ thống tái chế hợp chuẩn thân thiện với môi trường

Ngày đăng: 18/07/2017, 22:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huynh Trung Hai, Nguyen Duc Quang (2010), “E-waste: current status and perspectives in Viet Nam”, AUN/SEED-Net 2nd REGIONAL CONFERENCE ON GLOBAL ENVIIRONMENT, Ho Chi Minh City, Viet Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-waste: current status and perspectives in Viet Nam”, "AUN/SEED-Net 2nd REGIONAL CONFERENCE ON GLOBAL ENVIIRONMENT
Tác giả: Huynh Trung Hai, Nguyen Duc Quang
Năm: 2010
4. International Consultative Meeting on Expanding Waste Management Services in Developing Countries (2010), “Emerging issues, challenges, and opportunities in environmentally sound management of e-waste”, Tokyo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Emerging issues, challenges, and opportunities in environmentally sound management of e-waste
Tác giả: International Consultative Meeting on Expanding Waste Management Services in Developing Countries
Năm: 2010
5. Wu Jiang, Li Jia, Xu Zhen – ming (2008), “Optimization of key factors of the electrostatic separation for crushed PCB waste using roll-type separator”, Journal of Hazardous Materals, (154), pp. 161-167 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Optimization of key factors of the electrostatic separation for crushed PCB waste using roll-type separator”, "Journal of Hazardous Materals
Tác giả: Wu Jiang, Li Jia, Xu Zhen – ming
Năm: 2008
6. Wu Jiang, Li Jia, Zhenming Xu (2008), “Electrostatic separation for multi- size granule crushed printed circuit board waste using two-roll separator”, Journal of Hazardous Materals, (159), pp. 230-234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electrostatic separation for multi-size granule crushed printed circuit board waste using two-roll separator”, "Journal of Hazardous Materals
Tác giả: Wu Jiang, Li Jia, Zhenming Xu
Năm: 2008
7. Hai-Yong Kang, Julie M. Schoenung (2005), “Electronic waste recycling: A review of U.S. infrastructure and technology options”, Resources, Convervation and Recycling, (45), pp. 368-400 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electronic waste recycling: A review of U.S. infrastructure and technology options”, "Resources, Convervation and Recycling
Tác giả: Hai-Yong Kang, Julie M. Schoenung
Năm: 2005
8. Hogo Marcelo Veit, … (2006), “Recovery of copper from printed circuit board scraps by mechanical processing and electrometallurgy”, Journal of Hazardous Materals, (B 137), pp. 1704 – 1709 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recovery of copper from printed circuit board scraps by mechanical processing and electrometallurgy”, "Journal of Hazardous Materals
Tác giả: Hogo Marcelo Veit, …
Năm: 2006
10. Hà Vy (2008), “Rác thải điện tử, Bài 2: Đâu là giải pháp” (04/07/2008), http://www.sggp.org.vn/hosotulieu/2008/7/157685/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rác thải điện tử, Bài 2: Đâu là giải pháp
Tác giả: Hà Vy
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ vòng đời sản phẩm theo quan điểm quản lý môi trường - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
Hình 1.1 Sơ đồ vòng đời sản phẩm theo quan điểm quản lý môi trường (Trang 34)
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
Hình 2.1 Sơ đồ quy trình làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải (Trang 42)
Hình 2.5: Thiết bị tuyển điện  (Thiết bị tuyển điện của Khoa Điện Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội) - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
Hình 2.5 Thiết bị tuyển điện (Thiết bị tuyển điện của Khoa Điện Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội) (Trang 47)
Hỡnh 3.3: Hiệu quả tuyển mẫu F3 (425 ữ 600àm) - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
nh 3.3: Hiệu quả tuyển mẫu F3 (425 ữ 600àm) (Trang 53)
Hình 3.12: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
Hình 3.12 Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại (Trang 60)
Hình 3.14: Phân bố phần trăm khối lượng tổng kim loại - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
Hình 3.14 Phân bố phần trăm khối lượng tổng kim loại (Trang 61)
Hình 3.27: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
Hình 3.27 Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại (Trang 68)
Hình 3.35: Phân bố phần trăm khối lượng tổng kim loại - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
Hình 3.35 Phân bố phần trăm khối lượng tổng kim loại (Trang 72)
Hình 3.36: Phân bố phần trăm khối lượng vật liệu - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
Hình 3.36 Phân bố phần trăm khối lượng vật liệu (Trang 73)
Hình 3.41: Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
Hình 3.41 Phân bố phần trăm khối lượng nhựa và kim loại (Trang 75)
Hình 3.49: Phân bố phần trăm khối lượng tổng kim loại - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
Hình 3.49 Phân bố phần trăm khối lượng tổng kim loại (Trang 79)
Hình 3.52: Phân bố hàm lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F3 - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
Hình 3.52 Phân bố hàm lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F3 (Trang 83)
Hình 3.54: Phân bố hàm lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F5 - Nghiên cứu làm giàu kim loại trong bản mạch điện tử thải
Hình 3.54 Phân bố hàm lượng tổng kim loại theo khoảng cách khi tuyển mẫu F5 (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w