Hơn thế nữa, với khối lượng nước thải rất lớn từ các nhà máy sản xuất đường như vậy, nếu chúng ta xử lý triệt để có thể tận dụng nó làm nguồn nước tưới cho canh tác nông nghiệp, vừa kinh
Trang 1Lời cảm ơn
Lời đầu tiên tôi xin đ-ợc bày tỏ lời cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo tr-ờng đại
học Bách Khoa Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quí báu trong thời gian
học tại tr-ờng (2010 – 2012)
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin đ-ợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
TS Mai Văn Trịnh đã giúp đỡ và chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình thực hiện
luận văn
Tôi cũng xin đ-ợc bày tỏ lời cảm ơn tới Ban Giám đốc Viện Môi tr-ờng
Nông nghiệp, Lãnh đạo bộ môn Hóa Môi tr-ờng và toàn thể các đồng nghiệp đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin chân th¯nh c°m ơn nhóm thực hiện đề t¯i “Nghiên cứu ảnh h-ởng
và giải pháp quản lý nguồn n-ớc thải t-ới cho mía nhằm hạn chế ô nhiễm môi
trường từ các nh¯ máy đường tại Thanh Hoá” đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin đ-ợc bày tỏ lời cảm ơn tới ng-ời thân, bạn bè và gia đình
đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học
Hà nội, thỏng 10 năm 2012
Học Viờn
Nguyễn Thị Thắm
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực Các
thông tin cũng nh- số liệu thu thập khác trong luận văn đều đ-ợc trích dẫn đầy
đủ Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không trùng lặp với các công trình
nghiên cứu của các tác giả khác
Tỏc giả
Nguyễn Thị Thắm
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 3
TỔNG QUAN NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT MÍA ĐƯỜNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG 3
1.1 Tổng quan ngành công nghiệp mía đường 3
1.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường ở Việt Nam 4
1.2 Công nghệ sản xuất đường mía 7
1.2.1 Nhu cầu nguyên liệu và hóa chất 7
1.2.2 Công nghệ sản xuất đường mía kèm theo dòng thải 8
1.3 Các sản phẩm từ công nghiệp mía đường 12
1.4 Vấn đề nước thải của nhà máy sản xuất mía đường 13
1.4.1 Nguồn gốc phát sinh……… 13
1.4.2 Đặc trưng nước thải……….14
1.4.3 Thành phần và tính chất nước thải……… 15
1.4.4 Một số phương pháp xử lí nước thải cho các nhà máy sản xuất đường 15
1.4.5 Một số phương án xử lí nước thải nhà máy sản xuất cồn trên thế giới và ở Việt Nam 25
1.5 Ảnh hưởng của chất thải nhà máy đường và cồn đến môi trường 29
1.6 Sử dụng nước thải nhà máy mía đường để tưới cho cây trồng 30
1.7 Hiện trạng xử lí nước thải của một số nhà máy đường và cồn ở Thanh Hóa 32
1.7.1 Một số công nghệ xử lí nước thải hiện có của nhà máy 32
1.7.2 Thực trạng nước thải của các nhà máy đường và cồn Thanh Hóa 35
1.7.3 Lựa chọn công nghệ xử lí nước thải cho nhà máy đường và cồn để tái sử dụng cho sản xuất nông nghiệp 37
Trang 4Chương 2: PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 40
2.1 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 40
2.1.1 Nội dung nghiên cứu 40
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.2 Các chỉ tiêu phân tích và phương pháp đo……….44
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Đánh giá chất lượng và giá trị về mặt cung cấp nước tưới và dinh dưỡng của nước thải một số nhà máy đường và cồn thuộc tỉnh Thanh Hóa 46
3.1.1 Đánh giá chất lượng nước thải một số nhà máy đường và cồn thuộc tỉnh Thanh Hóa 46
3.1.2 Đánh giá về mặt cung cấp nước tưới và dinh dưỡng của nước thải các nhà máy đường và cồn Thanh Hóa 53
3.2 Nghiên cứu một số phương pháp xử lí nước thải nhà máy cồn Lam Sơn…… 55
3.2.1 Nghiên cứu khả năng xử lí bằng phương pháp đông keo tụ 56
3.2.2 Nghiên cứu xử lí nước thải sau đông keo tụ bằng phương pháp sinh học hiếu khí (Aeroten) 59
Chương 4: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN HOÀN THIỆN CÔNG NGHỆ XỬ LÍ NƯỚC THẢI NHÀ MÁY CỒN LAM SƠN ĐẠT TIÊU CHUẨN TƯỚI TIÊU 62
4.1 Giới thiệu khái quát về công ty mía đường Lam Sơn 62
4.2 Hiện trạng nước thải của nhà máy cồn Lam Sơn 63
4.2.1 Nguồn gốc phát sinh 63
4.2.2 Đặc trưng nước thải nhà máy cồn Lam Sơn 64
4.3 Nguyên nhân khiến hệ thống xử lí nước thải hoạt động không hiệu quả 64
4.4 Đề xuất phương án hoàn thiện công nghệ xử lí nước thải nhà máy cồn Lam Sơn đạt tiêu chuẩn tưới tiêu nông nghiệp 65
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 72
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 COD Nhu cầu oxy hoá học
2 BOD Nhu cầu oxy sinh hoá
17 UBND Ủy ban nhân dân
18 TN-MT Tài nguyên môi trường
19 BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Kết quả sản xuất niên vụ 2010/2011 của 7 doanh nghiệp ngành mía - đường 6
Bảng 1.2: Thành phần của mía 7
Bảng 1.3: Thành phần của nước mía 7
Bảng 1.4: Định mức nước thải cho sản xuất 1000 lít cồn 14
Bảng 1.5: Chất lượng nước thải nhà máy đường……… 14
Bảng 1.6: Đặc trưng dịch hèm từ sản xuất cồn 15
Bảng 3.1: Chất lượng nước thải của nhà máy sản xuất đường Lam Sơn 47
Bảng 3.2: Chất lượng nước thải của nhà máy đường Nông Cống 49
Bảng 3.3: Chất lượng nước thải của nhà máy đường Việt Đài 50
Bảng 3.4: Chất lượng nước thải của nhà máy cồn Lam Sơn 52
Bảng 3.5: Thành phần nước thải dùng trong nghiên cứu 56
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của chất keo tụ PAC 57
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của chất trợ keo A101 đến quá trình đông keo tụ 58
Bảng 3.8: Thành phần nước thải nghiên cứu 59
Bảng 3.9: Kết quả nghiên cứu xử lý nước thải sau đông keo tụ bằng bể aeroten 60
Bảng 3.10: Thành phần nước thải sau 8h xử lí sinh học bằng bể Aeroten 61
Bảng 4.1: Đặc trưng nước thải nhà máy cồn 64
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Sơ đồ công nghệ sản xuất đường rút gọn kèm theo dòng thải 9
Hình 1.2: Sơ đồ công nghệ sản xuất cồn từ rỉ đường của nhà máy 11
Hình 1.3: Sơ đồ hệ thống XLNT bằng bể Aeroten nhiều bậc 23
Hình 1.4: Sơ đồ hệ thống XLNT bằng bể Aeroten một bậc……….24
Hình 1.5: Cơ chế quá trình lọc 24
Hình 1.6: Sơ đồ hệ thống tháp lọc sinh học……… 25
Hình 1.7: Sơ đồ hệ thống xử lí nước thải của nhà máy đường Nông Cống 32
Hình 1.8: Sơ đồ xử lí nước thải nhà máy đường Lam Sơn 34
Hình 1.9:Sơ đồ hệ thống xử lí nước thải nhà máy cồn Lam Sơn……… 35
Hình 2.1: Sơ đồ bể Aeroten thực nghiệm 43
Hình 3.1: Hàm lượng dinh dưỡng trong nước thải nhà máy đường……… 54
Hình 3.2:Hàm lượng dinh dưỡng trong nước thải nhà máy cồn……… 55
Hình 3.3: Ảnh hưởng của lượng chất keo tụ tới hiệu suất xử lí COD và màu NT 57
Hình 3.4: Ảnh hưởng của chất trợ keo tới hiệu suất xử lí COD và màu NT 58
Hình 4.1: Sơ đồ đề xuất hệ thống xử lí nước thải nhà máy cồn Lam Sơn…………66
Trang 8MỞ ĐẦU
Cây mía và nghề làm mật, đường ở Việt Nam đã có từ xa xưa nhưng công
nghiệp mía đường mới được bắt đầu từ thế kỷ thứ XX Trong những năm đầu hoạt
động, cả nước mới có 9 nhà máy sản xuất đường với trang thiết bị và công nghệ lạc
hậu Đến nay cả nước đã có khoảng 40 nhà máy với sự đầu tư của cả trong và ngoài
nước, trang thiết bị đã được cải tiến và công suất cũng được nâng cao
Cùng với sự phát triển của công, nông nghiệp hiện đại cũng như tốc độ đô thị
hóa ngày càng nhanh hiện nay dẫn đến vấn đề môi trường ngày càng trở nên gay gắt
Nhiều loại chất thải như (khí thải, chất thải rắn, nước thải) được sinh ra ngày càng
nhiều Các loại chất thải này không qua xử lí hoặc xử lí chưa triệt để sẽ là nguồn
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Trong sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công
nghiệp thực phẩm, nước thải chiếm một tỷ lệ rất lớn
Mía đường là ngành công nghiệp thực phẩm có bề dày lịch sử khá lớn, chiếm
vị trí quan trọng trong nền công nghiệp nước nhà Quy trình sản xuất từ cây mía
thành đường tinh trải qua rất nhiều công đoạn, do đó lượng chất thải thải ra tương
đối lớn, đặc biệt là nước thải Lượng nước dùng để ép 1 tấn mía là 13-15m3
[13] Vụ mía 2000-2001 ép được 7,2 triệu tấn mía và thu được 645.593 tấn đường thì ngành
sản xuất đường đã thải vào môi trường khoảng 100 triệu m3 nước thải, trong đó có
25-30% lượng nước thải cần xử lý Như vậy nếu vụ mía 2010-2011 ép được 11 triệu
tấn mía thì lượng nước cần dùng là 143 - 165 triệu m3 và lượng nước thải sẽ khoảng
152,8 triệu m3 Nước thải này chứa lượng lớn các chất hữu cơ dễ bị phân hủy bởi
các vi sinh vật gây ra mùi thối làm ô nhiễm nguồn nước tiếp nhận Phần lớn chất rắn
lơ lửng có trong nước thải ngành công nghiệp đường ở dạng vô cơ, khi thải ra môi
trường tự nhiên, các chất này có khả năng lắng và tạo thành một lớp cặn dày ở đáy
nguồn nước làm phá hủy hệ sinh thái của động thực vật sống dưới nước [13] Lớp
bùn lắng này còn chứa các chất hữu cơ có thể làm cạn kiệt oxy trong nước và tạo ra
các lọai khí như H2S, SO2, SO3, CO2, CH4, NOx gây mùi hôi thối nồng nặc Ngoài
ra, trong nước thải còn chứa một lượng đường khá lớn dễ phân hủy nên gây ô nhiễm
Trang 9nguồn nước trầm trọng Như vậy, nước thải ngành công nghiệp mía đường chứa
hàm lượng các chất ô nhiễm cao nên cần phải có biện pháp xử lí phù hợp trước khi
thải ra nguồn tiếp nhận Hơn thế nữa, với khối lượng nước thải rất lớn từ các nhà
máy sản xuất đường như vậy, nếu chúng ta xử lý triệt để có thể tận dụng nó làm
nguồn nước tưới cho canh tác nông nghiệp, vừa kinh tế, vừa giải quyết được vấn đề
môi trường Trên cơ sở đó đề tài “Nghiên cứu khả năng tái sử dụng nước thải của
nhà máy sản xuất đường Đề xuất các giải pháp xử lý và tái sử dụng nước thải áp
dụng cho một nhà máy đường thuộc tỉnh Thanh Hóa phục vụ tưới tiêu nông nghiệp”
được đề xuất nhằm góp phần bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững
Mục đích của đề tài
- Đánh giá chất lượng nước thải của nhà máy sản xuất đường và cồn tại Thanh Hóa
và khả năng tái sử dụng tưới cho mía
- Đề xuất các giải pháp xử lý nước thải đảm bảo nước thải đầu ra đạt tiêu chuẩn
tưới tiêu cho mía
Đối tượng nghiên cứu
- Nước thải nhà máy đường Lam Sơn, Nông Cống, Việt Đài Thanh Hóa
- Nước thải nhà máy cồn Lam Sơn Thanh Hóa
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Nghiên cứu đề xuất công nghệ có tính khả thi để áp dụng xử lí nước
thải chứa hàm lượng chất hữu cơ và độ màu cao
- Đề tài nghiên cứu sẽ là đề xuất mới cho việc lựa chọn phương pháp
xử lí hiệu quả đối với nước thải chứa hàm lượng chất hữu cơ và độ màu cao nói chung và cho nước thải ngành công nghiệp mía đường nói riêng
Trang 10
Chương 1 TỔNG QUAN NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT MÍA ĐƯỜNG VÀ CÁC
VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG 1.1 Tổng quan ngành công nghiệp mía đường
1.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường trên thế giới
Ngành mía đường thế giới phát triển khá lâu đời và nó được hình thành đầu
tiên ở Puerto Rico vào khoảng thế kỷ thứ 16, sau đó đến Cuba, nguyên liệu sản xuất
đường lúc đó chỉ là cây mía Mãi đến thế kỷ 19 người ta mới biết tinh lọc đường từ
củ cải đường, từ đó đã mở ra một ngành công nghiệp sản xuất đường ở Châu Âu và
có những bước đột phá lớn (từ 820.000 tấn lên đến 18 triệu tấn trước chiến tranh thế
giới lần thứ nhất) Hiện nay, trên thế giới sản lượng đường đạt 160 triệu tấn/năm,
các nước sản xuất đường lớn trên thế giới là Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan
chiếm 50% sản lượng và 56% xuất khẩu của thế giới Niên vụ 2010 – 2011 có 15
nước sản xuất đường lớn nhất thế giới là Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan,
Pakistan, Mexico, Cuba, Columbia, Australia, Mỹ, Philippines, Nam Phi, Argentina,
Myanmar, Bangladesh [16]
Năm 2011 do thời tiết xấu làm ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu cung cấp
cho sản xuất nên sản lượng đường cũng bị giảm, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ lại
tăng Ở Brazil, Quốc gia sản xuất đường lớn nhất thế giới, trong vụ mùa 2011-2012
tại khu vực miền nam trung tâm của Brazil nguồn cung sụt giảm, giá đường tinh thể
lại tăng hơn 20% và giá nội địa cao hơn 7% so với mức giá xuất khẩu Ở Trung
Quốc, năm 2011 sản lượng đường dự kiến chỉ đạt 11 triệu tấn, trong khi tiêu thụ
khoảng 14,62 triệu tấn, do đó nước này cũng phải đối mặt với sự thiếu hụt đường
cung cấp trong nước [1, 16] Cùng lúc đó nguồn dự trữ đường Quốc Gia cũng bị sụt
giảm mạnh nên nước này phải nhập hơn 60% Ở Australia, năm 2011 do tình trạng
mưa nhiều nên gây khó khăn cho công tác thu hoạch mía, sản lượng đường dự kiến
sẽ giảm 21% Năng suất mía vụ mùa bình quân thu được 7,2 triệu tấn, trữ lượng
đường đạt được là 12CCS, thấp hơn so với những năm trước đây 14,34CCS Năng
Trang 11suất đường vụ này dự kiến đạt 4,1 triệu tấn, trong đó xuất khẩu dự kiến là 2,8 triệu
tấn Tương tự như vậy, ở Philippines và Indonexia sản lượng đường cũng bị giảm
do hiện tượng thời tiết và đều có nhu cầu nhập khẩu đường phục vụ ngành công
nghiệp thực phẩm Ở Thái Lan, nước xuất khẩu đường lớn thứ 2 trên thế giới mà
lượng đường xuất khẩu cũng giảm khoảng 5% xuống mức còn 4,4 triệu tấn Như
vậy, tổng lượng đường dự trữ trong năm 2010 - 2011 thấp hơn so với những năm
trước và sản lượng đường cũng giảm do nguồn nguyên liệu bị giảm không đáp ứng
được cho nhu cầu sản xuất Lượng đường xuất khẩu ở một số nước xuất khẩu lớn
cũng có xu hướng giảm, cung thấp hơn cầu nên giá cả đường tăng, dẫn đến tình
trạng bất ổn định về giá cả thị trường [1, 16]
1.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường ở Việt Nam
Ngành công nghiệp mía đường là một trong những ngành chiếm vị trí quan
trọng trong nền kinh tế nước ta Năm 1995, với chủ trương đầu tư theo chiều sâu,
mở rộng các nhà máy đường hiện có, xây dựng một số nhà máy với quy mô vừa và
nhỏ ở những vùng nguyên liệu nhỏ Ở những vùng nguyên liệu tập trung lớn xây
dựng các nhà máy có công nghệ tiên tiến hiện đại nên sản lượng đường đến năm
2000 đạt khoảng 1 triệu tấn [1] Tổng số nhà máy đường của cả nước tính đến năm
2000 là 44 nhà máy với tổng công suất là 81.500 tấn và được phân bố ở khắp 3
miền (Miền Nam: 14 nhà máy, Miền Trung và Tây Nguyên: 15 nhà máy và Miền
Bắc: 13 nhà máy)[1] Tuy nhiên, phần lớn các nhà máy đường ở Việt Nam đang
trong giai đoạn vừa mới được xây dựng với quy mô vừa và nhỏ nên mới có 37 nhà
máy đi vào hoạt động, gồm 6 nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài với tổng công suất
27.000TMN, 31 nhà máy có vốn đầu tư trong nước (trong đó 25 nhà máy cổ phần
hoá) tổng công suất 48.800TMN Do thiết bị và công nghệ lạc hậu, năng lực chưa
cao nên hiệu quả và chất lượng sản phẩm còn thấp, giá thành sản xuất lại cao Vùng
nguyên liệu quy mô nhỏ, phân tán dẫn đến năng suất và chất lượng mía thấp, bình
quân năng suất chỉ đạt 50 tấn/ha và độ đường dưới 10ccs So với các nước trên thế
giới năng suất mía đường ở Việt Nam còn rất thấp, bình quân mới chỉ đạt 4-5 tấn
đường/ha, trong khi đó ở Thái Lan là 7 - 8 tấn/ha và ở Úc và Brazil là 9 - 12 tấn/ha [16]
Trang 12Với quy mô sản xuất nhỏ chưa có đầu tư, nguồn nguyên liệu manh mún cùng
với các tác động về quan hệ cung cầu và giá đường của thị trường, ngành mía
đường Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn Hiện tại có
37 nhà máy đang hoạt động nhưng chỉ có 6 nhà máy liên doanh 100% vốn nước
ngoài hoạt động tốt, còn 25 nhà máy đã cổ phần hóa đang chờ quyết định phá sản
hoặc bán chuyển loại hình kinh doanh khác Tuy nhiên, nhờ việc tổ chức lại sản
xuất kết hợp với việc xử lí tài chính theo quyết định 28/2004QĐ-TTg và giá đường
giữ ở mức cao nên trong 2 năm 2004 và 2005 mặc dù chịu ảnh hưởng của thiên tai,
sản lượng mía và đường đều thấp nhưng ngành mía đường vẫn có lãi và giải quyết
được 50% số tiền mà Chính phủ đã xử lý tài chính tồn đọng trong 10 năm qua cho
các nhà máy đường [16]
Như vậy, trải qua hơn 20 năm hoạt động, ngành mía đường Việt Nam đã có
những bước tiến đáng kể Năm 1994, cả nước mới có 9 nhà máy đường mía, với
tổng công suất gần 11.000 tấn mía/ngày và 2 nhà máy đường tinh luyện công suất
nhỏ, thiết bị và công nghệ lạc hậu Đến nay cả nước đã có khoảng 40 nhà máy
đường hoạt động với tổng công suất thiết kế 105.750 TMN, dự kiến sản lượng
đường chế biến sẽ đạt 1,3 triệu tấn, trong đó có 300.000 tấn đường tinh luyện [1]
Vụ mía năm 2009 – 2010, diện tích mía nguyên liệu cả nước dự kiến khoảng
290.000ha, trong đó diện tích vùng mía nguyên liệu tập trung của các nhà máy là
221.816ha với năng suất mía bình quân đạt 55 tấn/ha và sản lượng đạt khoảng 16
triệu tấn [10] Tuy nhiên, năng suất vẫn đang ở mức thấp Trong 3 năm gần đây, kể
từ năm 2007 diện tích trồng mía của Việt Nam đã suy giảm 15% do yếu thế trong
cạnh tranh với các loại cây trồng khác (cao su, tiêu, cà phê) Năm 2007 diện tích
trồng mía đạt 310.000 ha nhưng đến năm 2010 chỉ còn 270.000 ha dẫn đến sản
lượng mía nguyên liệu giảm từ 17,4 triệu tấn xuống còn 16,4 triệu tấn [16] Riêng
năng suất trồng mía đã được cải thiện đáng kể từ 50 tấn/ha (2000) lên 60,5 tấn/ha
(2010) Mặc dù năng suất mía tăng nhưng so với năng suất mía bình quân trên thế
giới hiện nay (70 tấn/ha) thì năng suất mía của nước ta vẫn còn ở mức thấp
Trang 13Bảng 1.1: Kết quả sản xuất niên vụ 2010/2011 của 7 doanh nghiệp ngành mía - đường[16]
Nhà máy Diện tích
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Công suất thiết
kế (tấn mía/
ngày)
Sản lượng mía ép (tấn)
Sản lượng đường (tấn)
% sản lượng đường so với cả nước
Nguồn: Báo cáo Hội nghị mía đường năm 2011
Ở nước ta, hàng năm lượng đường tiêu thụ khoảng 1,2-1,4 triệu tấn/năm,
trong khi đó sản lượng đường trong nước sản xuất mới được khoảng 0,9 - 1,1 triệu
tấn/năm, chiếm 70 - 80% nhu cầu tiêu thụ Tuy nhiên, diễn biến cung cầu đường rất
khó dự báo do phụ thuộc nhiều yếu tố như: Sự bất thường của thời tiết gây ảnh
hưởng đến nguyên liệu mía đầu vào, sản lượng đường nhập khẩu (chính thức và
nhập lậu), sản lượng đường xuất khẩu, sự tăng/giảm nhu cầu của các ngành sản xuất
dùng đường làm nguyên liệu (bánh kẹo, sữa, nước ngọt, bia…) Hiện nay, lượng
đường người dân dùng trong sinh hoạt hàng ngày khoảng 40%, còn 60% dùng cho
sản xuất bánh kẹo, nước giải khát và các dịch vụ khác [1, 16]
Trang 141.2 Công nghệ sản xuất đường mía
1.2.1 Nhu cầu nguyên liệu và hóa chất
a) Nguyên liệu cho sản xuất đường
Đường có thể được sản xuất từ cây mía hoặc củ cải đường Tuy nhiên, ở
nước ta nguyên liệu chính để sản xuất đường chủ yếu là mía Mía được trồng ở
vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, do đó việc chế biến đường cần thực hiện ngay sau
khi thu hoạch để tránh thất thoát sản lượng và chất lượng đường Công nghiệp chế
biến đường hoạt động theo mùa vụ nên chất thải cũng phụ thuộc vào từng mùa vụ [17]
Thành phần của mía và nước mía: Thành phần của mía thay đổi theo vùng
nhưng dao động trong khoảng như dưới bảng
Trang 15b) Hóa chất làm trong và tẩy màu
Thông thường trong sản xuất đường người ta sử dụng các hóa chất như: Vôi,
SO2, CO2, H3PO4 để làm trong và khử màu nước mía
CaCO 3
- Có tác dụng trung hòa các axit hữu cơ có trong nước mía
- Phản ứng với axit phốtphoric tạo Ca
3(PO4)
2
- Kết hợp với hợp chất nitơ và pectin tạo kết tủa
- Làm kết tủa các hợp chất tạo màu gốc chlorophyll và anthocyanin
- Tác dụng với sucrose tạo saccharates, glucosates
Khí SO 2
- Trung hòa lượng vôi thừa
- Tẩy màu nước mía
- Kết hợp với vôi để làm trong nước mía
- Hóa chất tẩy màu
1.2.2 Công nghệ sản xuất đường mía kèm theo dòng thải
Sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất đường[9]
Trang 16Hình 1.1: Sơ đồ công nghệ sản xuất đường rút gọn kèm theo dòng thải
Ép mía
Làm sạch nước mía (SO2, CO2,
gia nhiệt) Ca(OH)2
Cặn lắng
Nước
Nước Làm mát, tuần hoàn, tái sử dụng
Nước rửa
Sản xuất cồn, rượu
Hơi nước cấp cho sản xuất
Trang 17 Thuyết minh dây chuyền công nghệ
Mía thu hoạch về được rửa sạch và đem ép dưới các trục ép áp lực, để tận thu
hết lượng đường trong cây mía người ta dùng nước hoặc nước mía phun vào bã mía
để mía nhả đường Bã mía ở máy ép cuối còn chứa một lượng nhỏ đường chưa lấy
hết, xơ gỗ và khoảng 40-50% nước Sau khi ép xong bã mía đem phơi khô làm
nhiên liệu đốt cho lò hơi và sản xuất điện Nước mía được xử lí bằng các hóa chất
như vôi, SO2, CO2, phốt phát sau đó gia nhiệt rồi để lắng Quá trình xử lý này có tác
dụng làm kết tủa các chất rắn, huyền phù và lắng các chất bẩn Dung dịch trong
được lọc qua máy lọc chân không, bã lọc, cặn lắng được đem làm phân bón Nước
mía sau khi lọc còn chứa khoảng 88% nước cho qua công đoạn cô đặc, nấu đường,
nước ngưng từ công đoạn này được dùng để tuần hoàn tái sử dụng cho các công
đoạn sản xuất hơi Đường cô đặc cho qua công đoạn trợ tinh, sau đó hỗn hợp tinh
thể và mật được thu vào máy ly tâm để tách đường ra khỏi mật rỉ Đường sau khi
tách ra được sấy khô và đóng bao bì, còn mật rỉ được sử dụng để sản xuất cồn
Nước ngưng từ công đoạn sấy được tuần hoàn lại cho công đoạn sản xuất điện, hơi
Nước thải một số công đoạn trong dây chuyền có hàm lượng ô nhiễm cao đưa đi xử lí
Sơ đồ công nghệ sản xuất cồn từ mật rỉ (rỉ đường của nhà máy)[2]
Trang 18Hình 1.2: Sơ đồ công nghệ sản xuất cồn từ rỉ đường của nhà máy
Pha loãng lên men Bx=28-32; pH=4,5-5 T=30-320C; t=72h
Tháp cất thô Bx=2-4; Độ cồn = 8-100
Trang 19 Thuyết minh dây chuyền công nghệ
Rỉ đường có thành phần chủ yếu là các loại đường Fructoza, Pentoza,
Glucoza, các hợp chất chứa nitơ, chất màu có nồng độ 90 – 95o Bx từ bể chứa
được chuyển vào và pha loãng sơ bộ bằng nước nóng xuống còn 58-60o
Bx Sau đó được axit hóa bằng axit H2SO4 hoặc H3PO4 để điều chỉnh pH = 4,5-5 tạo điều kiện
thích hợp cho sự phát triển của nấm men và loại bỏ tạp chất Khuấy trộn và gia
nhiệt đến nhiệt độ 95-100oC trong khoảng thời gian 3-4h để phân cắt đường
Saccroza thành đường Glucoza và Fructoza, đồng thời kết hợp khử trùng Sau khi
được làm nguội xuống 60-65o
C và bổ sung muối dinh dưỡng ure và lân, dịch axit hóa được đưa về pha loãng liên tục ở nồng độ 12-14o
Bx cho nhân giống nấm men
và 28-32oBx cho lên men rượu Trong quá trình lên men bổ sung canh trường nấm
men với số lượng 140÷160.106 tế bào/ml với khối lượng khoảng 2-3% và bổ sung
ure để đảm bảo dinh dưỡng cho nấm men phát triển, sau đó cấp khí khoảng 2h Quá
trình lên men yếm khí sẽ diễn ra ở nhiệt độ khoảng 30-32oC trong 72h thu được
dấm chín với độ cồn 8-10o và lượng khí CO2 sạch Lấy dấm chín gia nhiệt tới 75oC
trước khi đi vào tháp chưng thô, sản phẩm đỉnh là cồn thô và các chất dễ bay hơi sẽ
được tách ra nhờ các thiết bị ngưng tụ Phần ngưng tụ được chuyển vào tháp tách
Aldehyt, sau đó sang tháp tách dầu Fusel và tinh chế để thu được cồn sạch với độ
tinh khiết trên 95%
1.3 Các sản phẩm từ công nghiệp mía đường
Đường thành phẩm được dùng trong lĩnh vực chế biến thực phẩm và dược
phẩm như bánh kẹo, nước giải khát, thuốc y tế
Mật rỉ được dùng trong công nghiệp cất rượu, công nghiệp lên men hoặc các
ngành công nghiệp khác, các sản phẩm tạo ra như rượu, cồn, dấm, glixerin,
men sinh khối, axit Aconitic, Detrin, phân bón
Bã mía được dùng trong sản xuất điện năng, trong công nghiệp giấy, trong
sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp hóa chất và nhiều ngành khác Các
sản phẩm tạo ra như điện, hơi, chất đốt, khí mê tan, celuloza, bột giấy, giấy,
bê tông bã mía, Eurfurol, than hoạt tính, thức ăn gia súc,
Trang 201.4 Vấn đề nước thải của nhà máy sản xuất mía đường
1.4.1 Nguồn gốc phát sinh
Nước thải nhà máy đường
Lượng nước thải trong quá trình sản xuất đường thô là rất lớn bao gồm:
+ Nước từ khu ép mía: Nước rửa mía và làm mát ổ trục cho máy
+ Nước thải rửa lọc, làm mát, rửa thiết bị và rửa sàn
+ Nước thải khu lò hơi
Nước thải từ các công đoạn nhà máy được phân thành các loại sau:
Nước thải loại 1: Là nước thải từ các cột ngưng tụ tạo chân không của các
thiết bị (bốc hơi, nấu đường) Đây là loại nước thải không bị nhiễm bẩn, hàm lượng
BOD5 = 20-25mg/l, SS = 30-50mg/l, COD = 50-60mg/l Lưu lượng nước thải loại
này thường từ 0,97-1,2m3
/ tấn mía [6]
Nước thải loại 2: Là nước thải từ các khâu làm nguội máy, thiết bị trong dây
chuyền sản xuất của nhà máy gồm: Nước làm nguội dầu (bị nhiễm bẩn dầu nhớt),
nước làm nguội đường (bị nhiễm bẩn đường) Đây là loại nước thải có độ nhiễm
bẩn không cao, BOD5 dao động từ 200 - 400mg/l Lưu lượng nước thải loại này
khoảng 0,25m3/ tấn mía.[6]
Nước thải loại 3: Gồm tất cả các nguồn nước thải còn lại như nước rửa vệ
sinh ở các khu vực trong nhà máy: Nước xả đáy nồi hơi, nước thải phòng TN, nước
rò rỉ đường ống, nước thải lọc vải, vệ sinh máy móc thiết bị Nước thải loại 3 có độ
ô nhiễm rất cao, BOD5 = 1.200–1.700mg/l, COD thường khoảng 2.200mg/l, pH < 5,0;
SS = 780 – 900mg/l, ngoài ra còn có dầu mỡ, màu, mùi Lưu lượng nước thải loại
này khoảng từ 0,99 - 1,3m3/tấn mía.[6]
Nước thải nhà máy cồn:
Nước cấp cho quá trình sản xuất cồn, tùy thuộc mục đích sử dụng có thể chia
làm 3 loại:
+ Nước công nghệ: Nước cấp cho công đoạn pha loãng, lên men…
+ Nước làm mát chuẩn bị cho giai đoạn lên men, tháp chưng thô, tháp tách
Aldehyt, tháp tinh chế…
Trang 21+ Nước vệ sinh công nghiệp: Rửa thiết bị (thùng chứa dịch đường, tháp
chưng,…), nước rửa sàn nhà,…
Thông thường lượng nước thải chiếm khoảng 80% lượng nước cấp, 20% còn
lại thất thoát do bay hơi Vì vậy, trong quá trình sản xuất các nhà máy sẽ thải ra
lượng nước thải khá lớn Định mức nước thải cho sản xuất 1000lít cồn khoảng
Trong sản xuất cồn loại nước thải gây ô nhiễm nguồn nước nặng nhất là dịch
hèm (nước thải từ đáy tháp chưng thô), còn nước thải từ các công đoạn khác gây ô
nhiễm không đáng kể
1.4.2 Đặc trưng nước thải
Nước thải từ các nhà máy sản xuất đường
Nước thải nhà máy đường có giá trị BOD5 cao và dao động nhiều
Bảng 1.5: Chất lượng nước thải nhà máy đường[6]
Trang 22 Nước thải từ các nhà máy sản xuất cồn
1.4.3 Thành phần và tính chất của nước thải
Nước thải ngành công nghiệp mía đường thuộc loại ô nhiễm nặng, hàm
lượng chất hữu cơ, cặn lơ lửng rất cao, nhiệt độ cao và pH thấp Ngoài ra còn có các
chất màu anion và cation do việc xả rửa liên tục các cột tẩy màu resin và các chất
không đường dạng hữu cơ và vô cơ
Đường có trong nước là đường Sucrose và đường khử Fructoza, glucoza,
sucrose tan trong nước, khi thực hiện quá trình bẻ mạch chúng tiêu tốn oxi, làm cạn
kiệt oxi trong nước và hạn chế hoạt động của vi sinh vật Ở nhiệt độ cao hơn 55oC
các đường glucose và fructose bị thủy phân thành hợp chất có màu rất bền Ở nhiệt
Xử lí cơ học nhằm loại bỏ khỏi nước thải các tạp chất không tan có
kích thước lớn và một phần các chất ở dạng keo, đảm bảo an toàn cho hệ
thống và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xử lí tiếp theo
Trang 23Các công trình xử lí cơ học bao gồm: Song chắn rác, bể điều hòa, bể
lắng, bể lọc…
- Song chắn rác: Dùng để loại bỏ các tạp chất có kích thước lớn như giấy,
nilon, vỏ hộp, gỗ…
- Bể điều hòa: Dùng để điều hòa lưu lượng của dòng thải, tải lượng ô
nhiễm và ổn định quá trình xử lí Ngoài ra bể còn có tác dụng hỗ trợ
cho việc lắng các tạp chất rắn lơ lửng
- Bể lắng: Dùng để lắng các tạp chất dễ lắng hoặc ở dạng huyền phù thô
ra khỏi nước thải dưới tác dụng của trọng lực
- Bể lọc: Dùng để tách các tạp chất phân tán nhỏ ra khỏi nước thải bằng
các vật liệu lọc Các tạp chất này bể lắng không loại bỏ được
Phương pháp này có thể loại bỏ được tới 60% tạp chất không hòa tan
có trong nước thải, tuy nhiên không làm giảm nồng độ chất hòa tan trong
nước thải Đây là phương pháp dùng để xử lí sơ bộ trước khi đưa vào các
công trình xử lí hóa – sinh
1.4.4.2 Phương pháp hóa lí [12]
Phương pháp này thường sử dụng để xử lí nước thải có chứa nồng độ
các chất lơ lửng, các chất ở dạng keo, nhũ tương, các chất hữu cơ ở dạng hòa tan…
Các quá trình hóa lí thường được sử dụng là: Đông - keo tụ, tuyển nổi,
hấp phụ, trao đổi ion
Phương pháp đông - keo tụ
1) Cơ chế:
từ lớp khuếch tán vào các lớp điện tích kép làm giảm thế điện động zeta Hiệu quả
đông keo tụ càng lớn, quá trình trung hòa điện tích càng nhanh, lực đẩy tĩnh điện
càng giảm Khi lực hút tĩnh điện – lực Van der Waals lớn hơn lực đẩy tĩnh điện thì
các hạt keo tiến lại gần nhau và kết dính tạo thành bông cặn
Trang 24b Cơ chế hấp phụ - trung hòa điện tích: Các ion trái dấu phá vỡ trạng thái bền vững
của hệ keo nhờ 2 cơ chế nén ép lớp điện tích kép và hấp phụ ion trái dấu trên bề mặt
hạt keo, làm giảm thế điện động zeta, làm giảm lực đẩy tĩnh điện và tăng lực hút
Van der Waals tạo điều kiện cho các hạt keo kết dính
c Cơ chế hấp phụ - bắc cầu: Khi sử dụng chất keo tụ polymer hữu cơ, nhờ cấu trúc
mạch dài, các đoạn phân tử polymer hấp phụ lên bề mặt hạt keo tạo cầu nối với
nhau hình thành bông keo tụ có kích thước lớn hơn, bền vững hơn và có tốc độ lắng
nhanh hơn
d Cơ chế dính bám và kết tủa: Các hydroxyt kết tủa trong quá trình thủy phân các
muối kim loại hóa trị cao ở pH thích hợp khi lắng xuống sẽ hấp phụ kéo theo các
bông keo và tạp chất trong nước tạo thành bông cặn lớn hơn
2) Các chất đông – keo tụ thường sử dụng
Các chất đông tụ thường dùng: Là các muối nhôm, sắt hoặc hỗn hợp của
chúng Việc lựa chọn chất đông tụ phụ thuộc vào tính chất hóa lí, chi phí, nồng độ
tạp chất trong nước, pH, thành phần muối trong nước Trong thực tế người ta
thường sử dụng các chất đông tụ như: Al2SO4.18H2O; Polyaluminium Choloride
(PAC); Al2(OH)5Cl; Aluminium Chlorohydrate (ACH); Al2(OH)4Cl2;…
Các chất trợ đông tụ tổng hợp thường dùng nhất là polyacrylamit [-CH2-CHCONH2-]n
Phương pháp tuyển nổi
Tuyển nổi được sử dụng để tách các tạp chất (ở dạng rắn hoặc lỏng) phân tán
không tan, tự lắng kém ra khỏi nước thải Phương pháp này có thể khử được hoàn
toàn các hạt nhỏ hoặc nhẹ, lắng chậm trong một thời gian ngắn
Quá trình tuyển nổi được tiến hành bằng phương pháp sục khí vào trong
nước thải, tạo các bóng khí nhỏ để kết dính với các hạt và lôi kéo chúng nổi lên trên
bề mặt bằng lực nổi, sau đó được thu gom bằng bộ phận vớt bọt
Phương pháp hấp phụ
Phương pháp này được sử dụng để làm sạch triệt để các chất hữu cơ hòa tan
sau xử lí sinh học hoặc xử lí cục bộ Những chất này không phân hủy bằng con
đường sinh học và thường có độc tính cao
Trang 25Quá trình hấp phụ gồm 3 giai đoạn: Di chuyển chất cần hấp phụ từ nước thải
tới bề mặt hạt hấp phụ; Thực hiện quá trình hấp phụ; Di chuyển chất bên trong hạt
chất hấp phụ
Các chất hấp phụ thường dùng như: Than hoạt tính, các chất tổng hợp hoặc
một số chất thải của sản xuất như xỉ tro, xỉ, mạt sắt và các chất hấp phụ bằng
khoáng như đất sét, silicagen, keo nhôm
Các phương pháp hóa lí được áp dụng để xử lí ở giai đoạn cuối cùng hoặc xử
lí sơ bộ cho các giai đoạn xử lí tiếp theo, tùy thuộc vào đặc trưng nước thải, nguồn
kinh phí và yêu cầu mức độ cần làm sạch
1.4.4.3 Phương pháp sinh học
Phương pháp sinh học là phương pháp phổ biến và kinh tế nhất để xử lí nước
thải chứa các chất hữu cơ Phương pháp này chủ yếu dựa vào hoạt động sống của
VSV để phân hủy chất hữu cơ trong nước thải Các VSV sử dụng các chất hữu cơ
và một số chất khoáng làm nguồn dinh dưỡng và tạo năng lượng
Để có thể xử lí bằng phương pháp này nước thải sản xuất không được chứa
các chất độc và tạp chất, các muối kim loại nặng hoặc nồng độ của chúng không
được vượt quá nồng độ cực đại cho phép và có tỷ số BOD/COD ≥ 0,5 [10]
Tùy theo phương thức hô hấp của VSV mà người ta phân biệt thành phương
pháp hiếu khí và phương pháp yếm khí
Phương pháp yếm khí [14]
Phương pháp này dùng để xử lí nước thải công nghiệp chứa hàm lượng các
chất hữu cơ cao (BOD = 4 ÷ 5g/l) hoặc để xử lí bùn cặn sinh ra trong quá trình xử lí
bằng phương pháp sinh học Quá trình phân hủy này nhờ hoạt động của các chủng
VSV hô hấp yếm khí tạo các sản phẩm trung gian và các khí CO2, CH4, H2
Để xử lí nước thải người ta sử dụng quá trình lên men khí mêtan, đây là một
quá trình phức tạp Quá trình công nghệ bao gồm 3 giai đoạn sau:
- Giai đoạn thủy phân:
Trang 26Dưới tác dụng của các enzim hydrolaza của VSV, các chợp chất hữu cơ phức
tạp như gluxit, lipit, protein…được phân giải thành các chất hữu cơ đơn giản, dễ tan
trong nước như peptit, glyxerin, axit amin…
Hợp chất h/c PTL lớn chất h/c PTL nhỏ
Các VSV tham gia giai đoạn này là: Bacillus, Proteus, Microccocus, Pseudomonas
- Giai đoạn lên men các axit hữu cơ và các chất trung tính
Các sản phẩm thủy phân sẽ được phân giải yếm khí tạo thành các axit hữu cơ
phân tử lượng nhỏ hơn như: axit axetic, propionic, lactic, butyric Các chất trung
tính như ethanol, methanol, propanol, axeton và các khí như CO2, CH4, H2S, NH3,
H2, N2 Trong giai đoạn này BOD, COD giảm không đáng kể, còn pH môi trường
có thể giảm mạnh
Các VSV tham gia giai đoạn này là: Clostridium, Bacillus, Bacterioides
- Giai đoạn metan hóa
Dưới tác dụng của các vi khuẩn mêtan, các axit hữu cơ, các chất trung tính bị
phân giải tạo thành khí metan (CH4)
Sự tạo thành khí CH4 theo 2 cơ chế (Decacboxyl hóa và Khử CO2)
Metan hóa do Decacboxyl hóa: Quá trình này chiếm 70%
+ Decacboxyl hóa các axit h/c:
3CH3-CHOH-COOH 2CH3-CH2-COOH + CH3-COOH + CO2 + H2O
+ Decacboxyl hóa các chất trung tính
Trang 27 Metan hóa bằng khử CO2
Khử CO2 bằng H2 : CO2 + 4 H2 → CH4 + 2 H2O
Khử CO2 bằng khử: CO2 CH4 + 2 H2O Các VSV tham gia giai đoạn này:
+ Nhóm ưa ấm: Methanococcus; Methanobacterium; Methanosarcina
+ Nhóm ưa nóng: Methanobacillus; Methanospirilum; Methanothrix
Điều kiện hoạt động của quá trình phân hủy yếm khí
+ Nhiệt độ tối ưu cho quá trình hình thành Biogas: (35 ÷ 370C) đối với VK
ưa ấm, ở khoảng nhiệt độ này thu biogas với hàm lượng CH4 cao; (55÷600C) đối
với VK ưa nóng
+ pH tối ưu từ 6,5 ÷ 7,5
+ Tỷ lệ C/N tối ưu: 30/1
+ Hàm lượng chất khô: 9 ÷ 10%
+ Thời gian lưu: Phụ thuộc tính chất nước thải (thường từ 2 ÷ 30 ngày)
Quá trình xử lí yếm khí có thể sử dụng thiết bị UASB, hầm Biogas,
Phương pháp hiếu khí
Phương pháp hiếu khí là phương pháp xử lí sử dụng các nhóm vi sinh vật
hiếu khí Để đảm bảo hoạt động sống của chúng cần cung cấp oxy liên tục và duy trì
nhiệt độ trong khoảng từ 200C đến 400
C
1 Cơ sở lí thuyết chung [12]
Quá trình phân giải các chất ô nhiễm hữu cơ của vi sinh vật thực chất là các
quá trình oxi hóa khử mà chúng thực hiện để khai thác năng lượng cho quá trình
sống Phương trình tổng quát các phản ứng của quá trình oxy hóa sinh hóa trong
điều kiện hiếu khí như sau:
CxHyOzN + ( x + y/4 – z/2 + ¾)O2 xCO2 + (
2 3
Trang 28Trong các phản ứng trên CxHyOzN là chất hữu cơ của nước thải, C5H7NO2 là
công thức tính theo tỷ lệ trung bình các nguyên tố chính trong tế bào VSV, ∆H là
năng lượng sinh ra trong mỗi phản ứng
Nếu tiếp tục quá trình oxy hóa thì không đủ chất dinh dưỡng, quá trình
chuyển hóa các chất của tế bào bắt đầu xảy ra bằng oxy hóa chất liệu tế bào (tự OXH)
C5H7NO2 + 5 O2 5 CO2 + NH3 + 2H2O + ∆H
NH3 + O2 HNO2 + O2 HNO3
2 Các phương pháp xử lí hiếu khí
a) Xử lí nước thải trong điều kiện tự nhiên [5]
Đối với nước thải các nhà máy đường có thể được tận dụng làm nước tưới
cho canh tác nông nghiệp nên coi những thửa ruộng canh tác là những bãi lọc hoặc
cánh đồng tưới để xử lí Do đó, phương pháp xử lí nước thải trong điều kiện tự
nhiên có thể áp dụng là phương pháp xử lí nước thải trong đất
Cơ chế quá trình xử lí nước thải trong đất
Các bãi đất có thể được sử dụng như một hệ thống XLNT tự nhiên với các
quá trình vật lí, hóa học và sinh học trong mối tương tác giữa đất, thực vật, nước và
không khí Mục đích là phân hủy các chất bẩn trong nước thải, tưới tiêu, thu hồi
dinh dưỡng, tái sử dụng nước Khi lọc nước qua đất, các chất lơ lửng và keo sẽ bị
giữ lại và tạo nên lớp màng gồm vô số VSV có khả năng hấp phụ và oxy hóa chất
hữu cơ có trong nước thải
Ở lớp đất trên cùng khoảng 0,2 ÷ 0,5m độ oxi hòa tan cao nên VK sử dụng
để oxy hóa chất hữu cơ Khi dư oxi các VK nitrat và nitrit chuyển hóa nitơ amon
thành nitrat và nitrit dự trữ oxi cho quá trình oxy hóa kị khí các chất hữu cơ ở lớp
đất sâu hơn
Trong cánh đồng ngập nước, khi nước thải lọc qua đất một lượng lớn phopho
được hấp thụ Hiệu quả khử nitơ và photpho trong đất cao Phần lớn cũng bị tiêu
men VSV
men VSV enzim
men VSV
Trang 29diệt trong đất, một số kim loại nặng trong nước thải khi lọc qua đất cũng sẽ được
giữ lại
Hiệu suất xử lí NT trong cánh đồng ngập nước phụ thuộc vào các yếu tố như:
Loại đất, độ ẩm đất, mực nước ngầm, tải trọng, chế độ tưới, phương pháp tưới, nhiệt
độ và tính chất NT Khi sử dụng phương pháp này pH khoảng 6,5 ÷ 8,5; SS ˂
150mg/l; BOD ˂ 150mg/l; tổng muối không hòa tan ≤ 5g/l Ngoài ra, hiệu suất xử
lí còn phụ thuộc vào các loại cây trồng Vai trò của thực vật đối với quá trình xử lí
như sau:
+ Vận chuyển oxi vào vùng rễ cây
+ Giảm tốc độ dòng chảy, tăng khả năng lắng NT dòng ra
+ Tạo màng VSV để tăng cường cho các quá trình chuyển hóa nitơ hoặc hấp
thụ các chất độc hại khác
Các phương pháp XLNT trong đất: Quá trình lọc chậm, lọc nhanh, lọc ngập
nước trên mặt
+ Quá trình lọc chậm: Nước được tưới theo từng rãnh và thấm xuống lớp đất
dưới, vùng rễ cây Tốc độ thấm thường từ 2,5 ÷ 10cm/tuần, quá trình này thường
kết hợp với trồng cây nông nghiệp và gọi là cánh đồng tưới
+ Quá trình lọc nhanh: Nước thải di chuyển trong đất theo phương thẳng
đứng hoặc nằm ngang Tốc độ lọc thường từ 10 ÷ 260cm/tuần Phương pháp này
được tiến hành trên các bãi đất cát hoặc pha cát, gọi là cánh đồng lọc
+ Quá trình lọc ngập nước trên bề mặt: Nước thải thấm theo độ dốc địa hình
(2 ÷ 8%) Do nước thải ngập trên bề mặt dễ gây mùi hôi thối và làm ô nhiễm môi
trường không khí nên công trình này thường chỉ để xử lí sinh học bậc 2 hoặc xử lí
triệt để nước thải
Như vậy, XLNT trong điều kiện tự nhiên quản lí đơn giản, giá thành thấp,
hiệu quả kinh tế cao do thu hồi được sinh khối cây trồng Nhưng quá trình này lại
phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh nên khó điều khiển và kiểm soát
b) Xử lí nước thải trong điều kiện nhân tạo[12]
Các công trình xử lí này gồm: Bể aeroten, lọc sinh học hoặc đĩa sinh học
Trang 30 Bể Aeroten
Trong quá trình xử lí hiếu khí, các VSV sinh trưởng ở trạng thái huyền phù
Quá trình làm sạch diễn ra theo mức độ dòng chảy qua của hỗn hợp nước thải và
bùn hoạt tính được sục khí Việc sục khí làm cho nước được bão hòa oxy và duy trì
bùn hoạt tính ở trạng thái lơ lửng
Để đảm bảo có oxy thường xuyên và trộn đều nước thải với bùn hoạt tính
người ta cấp khí cho bể bằng các hệ thống khuấy trộn cơ khí, hệ thống cấp khí nén
hoặc cả hai Hiệu suất xử lí của bể, chất lượng bùn hoạt tính…phụ thuộc vào thành
phần và tính chất nước thải, điều kiện thủy động học quá trình khuấy trộn, nhiệt độ,
pH nước thải, sự tồn tại các nguyên tố dinh dưỡng và các yếu tố khác
Một số sơ đồ công nghệ
Đối với nước thải có BOD5 lớn và chứa các chất độc đối với vi khuẩn, có thể
sử dụng công nghệ xử lí nước thải trong bể aeroten nhiều bậc
+ Sơ đồ hệ thống xử lí nước thải bằng bể Aeroten nhiều bậc
Hình 1.3: Sơ đồ hệ thống XLNT bằng bể Aeroten nhiều bậc
Không khí
Nước vào Aeroten
bậc 1
Aeroten bậc 2
Nước ra Không khí
Bùn tuần hoàn Bùn tuần hoàn
Lắng 2 bậc 1
Lắng 2 bậc 2
Trang 31+ Sơ đồ hệ thống xử lí nước thải bằng bể aeroten 1 bậc thông thường
Nư
Hình 1.4: Sơ đồ hệ thống XLNT bằng bể Aeroten một bậc
Bể lọc sinh học
Bể lọc sinh học là một thiết bị phản ứng sinh học trong đó các vi sinh vật
sinh trưởng cố định trên lớp màng bám trên lớp vật liệu lọc
+ Cơ chế quá trình lọc sinh học
Màng sinh học gồm các vi khuẩn, nấm và động vật bậc thấp được nạp vào hệ
thống cùng với nước thải Mặc dù lớp màng này rất mỏng nhưng cũng có 2 lớp: Lớp
yếm khí ở sát bề mặt đệm và lớp hiếu khí ở ngoài Do đó qúa trình lọc sinh học
thường được xem như là quá trình hiếu khí nhưng thực chất là hệ thống vi sinh vật
Không khí
Dòng nước thải
Trang 32Khi dòng nước chảy trùm lên lớp màng nhớt này, các chất hữu cơ được vi
sinh vật chiết ra, còn sản phẩm của qúa trình trao đổi chất (CO2) sẽ được thải ra qua
màng chất lỏng Oxy hòa tan được bổ sung bằng hấp thụ từ không khí
Theo chiều sâu từ trên mặt nước xuống dưới đáy bể lọc, nồng độ chất hữu cơ
trong nước thải giảm dần và tại một vùng nào đó các vi sinh vật ở trạng thái đói
thức ăn Thường BOD được chiết ra chủ yếu ở 1,8m phần trên của lớp đệm, phần
sinh khối vi sinh vật thừa sẽ bị tróc ra và theo nước ra ngoài bể lọc
Hiệu suất làm sạch nước thải trong các bể lọc sinh học phụ thuộc vào các chỉ
tiêu sinh hóa, trao đổi khối, chế độ thủy lực và kết cấu thiết bị
+ Sơ đồ hệ thống xử lí nước thải bằng tháp lọc sinh học
1.4.5 Một số phương án xử lí nước thải nhà máy sản xuất cồn trên thế giới và ở
Việt Nam [3]
1.4.5.1 Một số phương pháp sử dụng trên thế giới
a) Phương pháp làm phân bón lỏng
Trung hòa dịch hèm bằng kiềm cho đến pH ~ 7 rồi đem làm phân bón tưới
cho đất trồng trọt Phương pháp này có thuận lợi là chi phí đầu tư thấp, dễ kiểm soát
Trang 33Nếu kiểm soát tốt và lượng tưới phù hợp sẽ tận dụng được thành phần phân bón có
trong nước thải cung cấp cho cây trồng, nhất là đối với cây mía và mang lại lợi ích
kinh tế rất lớn cho nông dân vì tiết kiệm được lượng phân bón trong quá trình sản
xuất Tuy nhiên, việc tưới phân bón này phải đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật (với
lượng vừa đủ cho cây trồng hấp thụ), nếu không sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường,
hoặc làm giảm năng suất cây trồng, thậm chí gây chết cây trồng vì hàm lượng dinh
dưỡng trong nước thải rất lớn
Phương pháp này được áp dụng rất phổ biến ở một số nước như
+ Ở Úc, người ta nghiên cứu trung hoà dịch hèm và cho thêm một số phụ gia
và thành phần dinh dưỡng khác, cân đối dinh dưỡng trong dịch hèm để ổn định và
sử dụng như một loại phân bón lỏng.[25]
+ Ở Ấn Độ, có 285 nhà máy cồn tiêu thụ 7,5 triệu tấn mật rỉ hàng năm nên
thải ra một lượng dịch hèm cực lớn Vì vậy các nhà khoa học Ấn Độ mà đứng đầu
là tiến sỹ Santiago Mahimairaja và Nanthi S.Bolan đã có những công trình nghiên
cứu áp dụng dịch hèm thô làm phân bón lỏng bón cho mía với các liều lượng là 25,
125, 250 và 500 m3/ha mía Đồng thời kết hợp với phân chuồng, phân xanh và phân
vi sinh để nghiên cứu độ phì của đất
Các tác động đến cây trồng và ô nhiễm môi trường của phương pháp này:
+ Các nghiên cứu kết luận rằng nếu dịch hèm thô tưới cho đất có kiểm soát
có thể thay thế cho các loại phân bón truyền thống
+ Các nghiên cứu của Santiago Mahimairaja đi đến kết luận: Dịch hèm nhà
máy cồn có tính axit và chứa lượng muối khoáng cao và trong những chất dinh
dưỡng của cây trồng thì K có hàm lượng cao hơn, tiếp theo là N và P Sự có mặt của
Ca trong dịch hèm rất tốt cho đất có hàm lượng Natri cao Tuy nhiên, những ứng
dụng có lợi của dịch hèm đối với cây trồng là tốt khi được sử dụng ở tỷ lệ thấp Sự
có mặt của các chất có lợi cho sự phát triển của cây trồng như GA và IAA làm tăng
giá trị của dịch hèm Mặc dù việc áp dụng dịch hèm làm tăng độ mặn của đất nhưng
nó lại làm giảm độ màu mỡ của đất, đặc biệt với những vùng đất bị khô cằn Việc
Trang 34tăng các hoạt chất của các enzyme và các vi lượng cũng là ưu điểm của dịch hèm
Việc làm cứng hạt giống bằng dịch hèm 20% cũng rất có lợi cho quá trình sinh
trưởng và phát triển Đặc biệt làm tăng đáng kể các chỉ số phát triển đối với những
vùng đất khô cằn
Nếu dùng nước thải có lượng và nồng độ lớn sẽ gây ô nhiễm nguồn nước mặt
và nước ngầm, gây chết các loại sinh vật sống dưới nước và tích lượng muối lớn
cũng gây đe doạ đến sức khoẻ môi trường và đất Việc đưa ra những kỹ thuật dựa
trên những thử nghiệm hoá học là rất cần thiết để ứng dụng nguồn dinh dưỡng này
vào sản xuất nông nghiệp mà không gây nguy hại đến môi trường đất và cây trồng
Nhưng ở ấn độ người ta cũng hạn chế dùng dịch hèm thô tưới cho đất mà chủ yếu
dùng dịch hèm đã được qua xử lý sinh học yếm khí để tưới cho đất, việc làm này
hạn chế được các tác động đến môi trường Đồng thời tận dụng được nguồn năng
lượng tái tạo đáng kể từ việc thu hồi khí Biogas làm nhiên liệu đốt cho các lò hơi và
phát điện
b) Phương pháp hồ sinh học phân huỷ tự nhiên
Phương pháp này cần diện tích ao hồ rất lớn hàng trăm ha, thời gian xử lý
kéo dài hàng năm và đặc biệt phải xa khu dân cư và có nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường nên ít được áp dụng
c) Phương pháp cô đặc bốc hơi
Phương pháp này sử dụng các thiết bị bốc hơi chân không, có ưu điểm là có
thể xử lý triệt để dịch sau cô đặc đến 60Bx rồi đem làm phân bón lỏng hoặc có thể
trộn với bã mía để đốt Nhưng nhược điểm của phương pháp này là chi phí đầu tư
quá cao, tương đương với chi phí đầu tư cho nhà máy cồn cùng công xuất, chi phí
vận hành còn cao hơn chi phí vận hành nhà máy cồn do sử dụng điện và hơi rất lớn,
tiêu tốn một nguồn năng lượng đáng kể nên không đem lại hiệu quả kinh tế Hơn
nữa tro của dịch hèm có nhiệt độ nóng chảy thấp gây khó khăn cho việc vận hành
và bảo trì lò hơi Chính vì vậy phương pháp này rất ít được áp dụng trong thực tiễn
d) Phương pháp xử lý sinh học yếm – hiếu khí kết hợp
Trang 35Phương pháp xử lý này dựa trên cơ sở yếm – hiếu khí kết hợp Trước hết là
xử lý yếm khí, công đoạn này có thể phân huỷ được 60-65% COD và 70-85% BOD
có trong dịch hèm và sản sinh ra một lượng Biogas đáng kể Đây là nguồn năng
lượng sinh học đem lại lợi ích kinh tế cao cho nhà sản xuất và được ứng dụng rộng
rãi để sản xuất hơi và điện
Nước sau xử lý yếm khí được chuyển tiếp qua công đoạn xử lý hiếu khí, ở
công đoạn này có thể xử lý được 70% lượng COD còn lại nhưng mầu caramen và
COD trơ (COD không phân huỷ bằng sinh học) vẫn còn tồn tại và phải tiêu thụ một
lượng điện rất lớn cho việc cấp khí để xử lí mà không mang lại hiệu quả kinh tế
Ở Ấn Độ, Thái Lan người ta chỉ xử lý yếm khi thu Biogas, nước từ hầm
Biogas được đem tưới cho cây trồng như là một nguồn phân bón lỏng
Nước thải sau xử lý Biogas không thể xử lý tiếp bằng phương pháp sinh học
hiếu khí để đạt QCVN 40:2011/BTNMT vì COD trơ còn khá cao và mầu nâu đen,
màu của đường cháy vẫn không thể xử lý được hoặc có thể được nhưng cực kỳ tốn
kém không mang lại hiệu quả kinh tế cho sản xuất cồn
Hiện tại người ta đã nghiên cứu thành công phương pháp lọc màng RBM
Trước hết là lọc thô sau đó lọc màng RO thu lại 50% nước có COD = 250 mg/l và
không có mầu, sau đó lọc tiếp qua màng lọc NF thu lại được 20% nước có mầu
vàng nhạt COD dao động từ 5.000-10.000 mg/l (COD trơ), 30% nước đậm đặc còn
lại không qua được màng lọc đem làm phân bón lỏng Phương pháp này chỉ giảm
được lượng nước đem tưới trên đồng ruộng, giảm nguy cơ thấm vào lòng đất,
nhưng vẫn không giải quyết xử lý được triệt để, đồng thời chi phí đầu tư quá cao
khoảng 2 triệu USD cho 01 dây truyền xử lý 800-1.000 m3/ngày và chi phí vận hành
(cho năng lượng, hoá chất tẩy rửa, màng lọc và axít HCl) khoảng 4 USD/m3 Như
vậy sẽ không còn mang lại hiệu quả kinh tế cho sản xuất cồn và cuối cùng thì 30%
nước đậm đặc không qua màng lọc vẫn phải làm phân bón cho cây trồng
1.4.5.2 Xử lý nước thải nhà máy cồn ở Việt Nam
Hiện nay hầu hết các nhà máy cồn trong nước đều chưa xử lí triệt để được
nước thải theo đúng quy định của BTNMT, riêng chỉ có 3 nhà máy có hệ thống xử
Trang 36lý nước thải bằng công nghệ sinh học yếm – hiếu khí kết hợp, nhưng chất lượng
nước sau xử lý vẫn còn rất xa mới đạt QCVN 40:2011/BTNMT loại A Đó là nhà
máy cồn thực phẩm xuất khẩu Lam Sơn Thanh Hoá: công suất 25 triệu lít/năm công
trình xử lý nước thải đã hoạt động được gần 5 năm; Nhà máy cồn công suất 6 triệu
lít/năm của Công ty đường Phú Yên công trình xử lý nước thải đã hoạt động được
hơn 2 năm và công trình xử lý nước thải nhà máy cồn thuộc Công ty đường Hiệp
Hoà - Long An đang trong giai đoạn xử lý thử nghiệm
1.5 Ảnh hưởng của chất thải nhà máy đường và cồn đến môi trường
Ngày nay chất thải của quá trình sản xuất nói chung và chất thải của ngành
công nghiệp mía đường nói riêng là nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Chất thải mía đường so với chất thải của các ngành công nghiệp khác có khối lượng
khá lớn và chứa hàm lượng các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, hàm lượng dinh
dưỡng khá cao nên khi xả thải mà không được xử lí sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến môi
trường và sức khỏe con người
Nước thải của ngành công nghiệp mía đường luôn chứa một lượng lớn các
chất hữu cơ bao gồm các hợp chất của cacbon, nitơ, phốtpho Các chất này dễ bị
phân hủy bởi các vi sinh vật, gây mùi hôi thối làm ô nhiễm nguồn nước tiếp nhận
Phần lớn chất rắn lơ lửng có trong nước thải ngành công nghiệp đường ở dạng vô
cơ, khi thải ra môi trường tự nhiên, các chất này có khả năng lắng và tạo thành một
lớp cặn dày ở đáy nguồn nước làm phá hủy hệ sinh thái của động thực vật sống dưới
nước Lớp bùn lắng này còn chứa các chất hữu cơ dễ phân hủy, có thể làm cạn kiệt
nguồn oxy trong nước và tạo ra các loại khí như H2S, SO2, SO3, CO2, CH4, NOx gây
mùi hôi thối nồng nặc Ngoài ra, trong nước thải còn chứa một lượng đường khá lớn
gây ô nhiễm nguồn nước
Nước thải chưa qua xử lí mà thải thẳng ra sông, mương, ngoài việc làm ô
nhiễm môi trường nước sông như làm biến đổi màu của nước, tạo lớp váng trên bề
mặt ngăn cản quá trình trao đổi chất của động – thực vật thủy sinh, làm tôm, cá chết
hàng loạt Đồng thời còn gây ra mùi rất khó chịu làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống của người dân sống xung quanh, nước thải cũng có thể ngấm vào nguồn nước
Trang 37ngầm khiến người dân phải đối diện với những nguy cơ mắc phải những căn bệnh
hiểm nghèo như ung thư, viêm phổi, viêm đường hô hấp, bệnh ngoài da (mẩn ngứa,
ghẻ lở…) Ngoài ra, pH trong nước thải thấp có thể làm phèn hóa đất khu vực canh
tác xung quanh và vùng lân cận, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển và
năng suất của cây trồng [17]
Không chỉ nước thải, khí thải mà chất thải rắn cũng là nguồn gây ô nhiễm
môi trường đáng kể như: Bã mía sau khi ép nếu không được tận thu sử dụng cho
mục đích khác mà vứt bừa bãi ra ven sông và thả trôi sông lâu ngày chúng phân hủy
cũng sẽ ảnh hưởng đến đời sống của động thực vật thủy sinh và sẽ làm hư hại dụng
cụ kiếm sống của ngư dân ven sông, đồng thời gây mùi làm ô nhiễm môi trường
không khí và mất mỹ quan khu vực
1.6 Sử dụng nước thải nhà máy mía đường để tưới cho cây trồng
Trong những năm gần đây, việc sử dụng nguồn nước thải của các nhà máy
sản xuất đường, cồn để tưới cho cây trồng trở nên rất phổ biến ở các vùng nông
nghiệp gần các nhà máy Bởi vì nguồn nước thải này chứa một lượng đáng kể các
chất dinh dưỡng đạm, lân, kali và một số yếu tố trung lượng và chất hữu cơ Tuy
nhiên vấn đề đặt ra là những ảnh hưởng của nó tới môi trường đất, nước cũng như
chất lượng nông sản sau khi sử dụng nước thải để tưới cho cây trồng sau một thời
gian dài chưa được kiểm tra và đánh giá
Ở một số nước trên thế giới như Ấn Độ, Đan Mạch, Thái Lan, Đức,… họ đã
dùng nước thải sau xử lí Biogas của nhà máy cồn để tưới cho cây trồng mà không
sử dụng thêm bất cứ một loại phân bón nào Kết quả cho thấy, mía tăng trưởng rất
tốt, tiết kiệm được một lượng phân bón lớn mà năng suất lại cao (tăng từ 20 – 40%
sản lượng), đem lại lợi nhuận khá cao cho nhà nông mà không gặp bất cứ một trở
ngại nào về mặt môi trường cũng như với các cơ quan quản lí nhà nước [25]
Ở Quảng Tây – Trung Quốc việc xử lí chất thải bảo vệ môi trường tại các
nhà máy đường được thực hiện rất nghiêm túc Nước của nhà máy sản xuất đường
được xử lí khép kín, tuần hoàn trong nhà máy và tái sử dụng đến 80% Người ta sử
dụng nước thải nhà máy cồn (nhiệt độ khoảng 50 – 600C) tưới vào rãnh của mía mới
Trang 38trồng tạo độ ẩm và diệt mầm sâu bệnh trong đất, trong hom mía và diệt cỏ dại Cho
phép trồng mía vào mùa đông khi khí hậu khô và lạnh nhưng mầm mía vẫn mọc
nhanh và đều, cây con sinh trưởng khỏe, hạn chế được sâu bệnh và mía đạt năng
suất cao [24]
Ở Việt Nam, thông qua một số chuyến đi tìm hiểu thực tế ở Ấn Độ, Thái Lan,
Braxin và tham khảo một số khuyến cáo của các chuyên gia môi trường của các
hãng (PAPOP, EAC, GLOBO, REVA…) Từ cuối năm 2005, Công ty cổ phần mía
đường Lam Sơn đã thử nghiệm dùng dịch hèm sau xử lí Biogas tưới cho mía tại
Trung tâm nghiên cứu giống mía của Công ty trên một diện tích giới hạn Kết quả
cho thấy năng suất mía ở những thửa được tưới tăng từ 30 – 40% so với thửa không
tưới, tùy thuộc vào lượng tưới và số lượng dịch hèm đem tưới Việc tưới này tiết
kiệm được phần lớn chi phí phân bón và mía lại có khả năng lưu gốc được từ 4 -5
năm Ngoài những lợi ích trên, khi sử dụng dịch hèm tưới cho mía, một số bệnh có
hại cho mía như ấu trùng bọ hung, bệnh mối phá gốc mía, sâu rệp cũng hạn chế phát
triển Cây mía có thân cứng, to, lá xanh, dày vươn thẳng có khả năng chống đổ tốt
hơn Hiện nay Công ty đã lập dự án tưới dịch hèm sau xử lí Biogas mở rộng trên địa
bàn từ 500 -1.000ha đang chờ phê duyệt [3]
Theo một số nguồn thông tin, năm 2008 nhà máy đường Hiệp Hòa ban đầu
được Cục Trồng trọt (Bộ NN và PTNT) cho phép lấy nước thải đã qua xử lí của nhà
máy cồn tưới cho 500ha mía với mục đích khảo nghiệm làm phân bón, vì cơ quan
này cho rằng “nước thải từ nguồn sản xuất cồn đã qua xử lí còn chứa một lượng
đáng kể các chất dinh dưỡng như đạm, lân, kali và một số yếu tố trung lượng và
chất hữu cơ” Nhưng do chưa có nghiên cứu cụ thể về việc tưới này, đồng thời lo
ngại về vấn đề tác động xấu đến môi trường nên Sở tài nguyên môi trường tỉnh
Long An đã đề nghị UBND tỉnh chỉ cho phép nhà máy thí điểm trên diện tích là
200ha Tuy nhiên, dự án tưới thử nghiệm này không được sự đồng tình ủng hộ của
Sở TN-MT Long An và các chuyên gia môi trường vì kết quả phân tích nước thải
đã qua xử lí của nhà máy đường Hiệp Hòa cho thấy một số chỉ tiêu quan trọng vẫn
chưa đạt tiêu chuẩn loại B như COD = 194mg/l, SS = 117,8mg/l [15]
Trang 391.7 Hiện trạng xử lí nước thải của một số nhà máy đường và cồn ở Thanh Hóa
1.7.1 Một số công nghệ xử lí nước thải hiện có của nhà máy
1 Nhà máy đường Nông Cống Thanh Hóa
Nhà máy đường Nông Cống nằm ở phía tây nam tỉnh Thanh Hóa, được thành
lập và đi vào hoạt động từ năm 1999, đến nay công suất thiết kế của nhà máy đã đạt
2.000 tấn mía/ngày, sản lượng đạt 250.000 tấn mía/năm và lưu lượng nước thải là
720 m3/ngày.đêm Trước đó nhà máy đã có hệ thống xử lí nước thải nhưng nước
thải đầu ra chưa đạt tiêu chuẩn cho phép Đến năm 2009 nhà máy đã đầu tư xây
dựng thêm 2 hồ sinh học với sức chứa khoảng 60.000m3
nước thải, diện tích rộng 3ha
+ Sơ đồ hệ thống xử lí nước thải hiện có của nhà máy
Hình 1.7: Sơ đồ hệ thống xử lí nước thải của nhà máy đường Nông Cống
Trang 402 Nhà máy đường Việt Đài Thanh Hóa
Nhà máy mía đường Việt Đài được thành lập năm 1994 và đi vào hoạt động
từ năm 1997, với công suất thiết kế 12.000 tấn mía/ngày, sản lượng đường đạt 50
tấn đường/năm và lưu lượng nước thải là 600m3/ngày.đêm
Đến nay nhà máy vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh, nước
thải sau sản xuất được đổ trực tiếp vào hồ sinh học rộng 3,3ha với sức chứa
105.000m3, sau một thời gian phân hủy, nước thải sẽ được xả trực tiếp ra hệ thống
mương tưới cho cánh đồng lúa của thôn Tiên Quang, xã Thanh Vân, huyện Thạch
Thành, Thanh Hoá
3 Nhà máy đường Lam Sơn Thanh Hóa
Gồm 2 nhà máy: nhà máy đường số 1: công suất 2.300 tấn mía ngày và nhà
máy đường số 2: công suất 4.500 tấn mía ngày Từ năm 2007 trở về trước nhà máy
gặp khó khăn trong vấn đề xử lý nước thải nên đã gây ảnh hưởng tới chất lượng môi
trường sống của người dân quanh khu vực nhà máy Đến đầu năm 2008 nhà máy đã
đầu tư 80 tỷ đồng cho hệ thống xử lý nước thải Với hệ thống xử lí này chất lượng
nước thải sau xử lí đã đạt được QCVN 40:2011/BTNMT loại A [2]