Việc thực hiện trách nhiệm xã hội TNXH của doanh nghiệp và các giải pháp sản xuất sạch hơn đã và đang đòi hỏi các doanh nghiệp công nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất giày nói riê
Trang 1- -
ĐỖ VIỆT ĐỨC
"NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
VÀ SẢN XUẤT SẠCH HƠN TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY Ở VIỆT NAM VÀ ÁP DỤNG THÍ ĐIỂM TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY NGỌC HÀ"
Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGÔ THỊ NGA
HÀ NỘI - 2009
Trang 2Lêi c¶m ¬n
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Viện Đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học cao học 2007-2009
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các thầy cô giáo của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu vừa qua Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Ngô Thị Nga đã trực tiếp hướng dẫn, góp ý và giúp đỡ tôi hoàn thành bản Luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Công ty Cổ phần Giày Ngọc Hà
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện chương trình nghiên cứu tại Công ty Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo và các đồng nghiệp trong Viện Nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa học này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình và bạn
bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Hà Nội, Ngày 30 tháng 10 năm 2009
Tác giả
Đỗ Việt Đức
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình
nào khác, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, Ngày 30 tháng 10 năm 2009
Tác giả luận văn
Đỗ Việt Đức
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt trong Luận văn
Danh mục các bảng trong Luận văn
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ trong Luận văn
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ VẤN ĐỀ SẢN XUẤT SẠCH HƠN
3
1.1.1 Khái niệm về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 3 1.1.2 Những nội dung cơ bản TNXHDN và lợi ích 5 1.1.3 Tình hình thực hiện TNXHDN ở khu vực và Việt Nam 8 1.1.3.1 Tình hình thực hiện TNXHDN ở khu vực 8 1.1.3.2 Tình hình thực hiện TNXHDN ở Việt Nam 101.2 Tổng quan về vấn đề Sản xuất sạch hơn 13
1.2.3 Kỹ thuật SXSH và phương pháp đánh giá 151.2.4 Tình hình thực hiện SXSH ở Việt Nam 19
1.3.1 Quan hệ hữu cơ giữa TNXH và SXSH trong doanh nghiệp 231.3.2 Lồng ghép nội dung SXSH trong việc thực hiện TNXHDN 251.3.3 Mô hình hệ thống quản lý giữa TNXHDN và SXSH 27Chương 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TNXHDN VÀ SXSH
TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY Ở VIỆT NAM
33
2.1 Tổng quan về ngành công nghiệp sản xuất Giày ở Việt Nam 332.1.1 Những vấn đề chung của ngành công nghiệp sản xuất Giày 33
Trang 52.1.2 Năng lực sản xuất và xuất khẩu của ngành công nghiệp sản xuất
da giày Việt Nam
35
2.2 Hiện trạng tình hình thực hiện TNXH và SXSH trong ngành công
nghiệp sản xuất Giày ở Việt Nam
2.2.1.2 Dây chuyền, công nghệ, nguyên, nhiên vật liệu chính được sử
dụng trong sản xuất giày ở Việt Nam
Chương 3 NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG LỒNG GHÉP TNXHDN VÀ SXSH
TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY, ÁP DỤNG
THÍ ĐIỂM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG CHO CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY NGỌC HÀ
54
3.1 Một số yêu cầu cơ bản để thực hiện tốt TNXHDN và SXSH trong
nhành công nghiệp sản xuất Giày ở Việt Nam
Trang 63.2.2.4 Vấn đề ô nhiễm môi trường trong Công ty Cổ phần giày Ngọc Hà 65
3.2.2.5 Hiện trạng thực hiện TNXHDN của Công ty Cổ phần Giày Ngọc Hà 70
3.3 Đánh giá tiềm năng lồng ghép TNXHDN vào SXSH tại Công ty
3.4 Đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường nhằm nâng cao năng
suất, chất lượng góp phần thực hiện tốt TNXHDN ở Công ty Cổ
phần Giày Ngọc Hà
79
3.4.1 Phân tích nguyên nhân và đề xuất các cơ hội cải thiện môi trường 79
3.4.2 Lựa chọn các giải pháp cải thiện có thể thực hiện được 80
3.4.2.1 Tính khả thi về mặt kinh tế, kỹ thuật của các giải pháp 82
3.4.2.2 Tính khả thi về môi trường và xã hội của các giải pháp 86
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
AT-VSLĐ An toàn -Vệ sinh lao động
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
Bộ LĐTBXH Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
BVMT Bảo vệ môi trường
DESIRE Mô hình trình diễn giảm thiểu chất thải trong các
ngành công nghiệp nhỏ
ĐKLĐ Điều kiện lao động
EU Liên minh châu Âu
GTZ Hợp tác Kỹ thuật Đức
ILO Tổ chức lao động quốc tế
LEFASO Hiệp hội da giầy
MTLĐ Môi trường lao động
NIEM Mạng lưới quản lý môi trường công nghiệp
NLĐ Người lao động
NSDLĐ Người sử dụng lao động
OECD Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế
PCCC Phòng cháy chữa cháy
PTBVCN Phương tiện bảo vệ cá nhân
SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 1.2 Tiết kiệm hàng năm tại các doanh nghiệp sử dụng tư vấn
SXSH của VNCPC
23
Bảng 2.1 Số liệu các doanh nghiệp chia theo thành phần kinh tế 34Bảng 2.2 Kim ngạch xuất khẩu giày, dép của VN sang thị trường các nước 36Bảng 2.3 Tổng sản lượng các mặt hàng da giày của cả nước 38Bảng 2.4 Mặt bằng sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất giày 39Bảng 2.5 Sử dụng điện tại ví trí làm việc của các DN sản xuất giày 39Bảng 2.6 Số lượng và phân bố lao động ngành sản xuất da giày 48Bảng 2.7 Trình độ học vấn/ chuyên môn kỹ thuật của NLĐ phỏng vấn 48Bảng 2.8 Kết quả đo các hơi khí SO2 và dung môi hữu cơ của một số
công ty ở Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai, Tp Hồ Chí Minh
51
Bảng 3.1 Hiệu quả SXKD của Công ty trong năm 2007-2008 57Bảng 3.2 Kết quả khảo sát về bố trí sắp xếp nơi làm việc trong Công ty 59Bảng 3.3 Kết quả khảo sát về trang bị PTBVCN cho NLĐ trong Công ty 60Bảng 3.4 Tiêu thụ tài nguyên và nguyên liệu thô của Công ty 62Bảng 3.5 Giá thành một số nguyên, nhiên vật liệu thô chủ yếu 63Bảng 3.6 Định mức tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu chính cho 01 sản
phẩm của Công ty cổ phần giày Ngọc Hà
64
Bảng 3.7 Kết quả đo môi trường với yếu tố bụi năm 2008 của Công ty 66Bảng 3.8 Kết quả đo môi trường với yếu tố độc hại năm 2008 của Công ty 67Bảng 3.9 Kết quả đo MT với yếu tố vi khí hậu năm 2007,2008 của Công ty 68Bảng 3.10 Kết quả đo môi trường tiếng ồn và chiếu sáng năm 2008 của
Trang 9Bảng 3.12 Tình hình khám sức khỏe cho NLĐ tại Công ty trong 3 năm 72Bảng 3.13 Các triệu chứng, bệnh tật mà công nhân hay mắc phải trong 3
năm ở Công ty
73
Bảng 3.14 Phân tích nguyên nhân và các cơ hội cải thiện 79Bảng 3.15 Lựa chọn các cơ hội cải thiện ở Công ty cổ phần giày Ngọc Hà 81Bảng 3.16 Kinh phí đầu tư cho các giải pháp cải thiện môi trường 85
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
Sơ đồ 1.3 Quy trình đánh giá SXSH theo phương pháp luận DESIRE 19
Sơ đồ 2.1 Quy trình sản xuất mũ giày kèm dòng thải 42
Sơ đồ 2.2 Quy trình sản xuất đế giày kèm dòng thải 43
Sơ đồ 2.3 Quy trình sản xuất giày da và giả da kèm dòng thải 44
Sơ đồ 2.4 Quy trình sản xuất giày vải 45Biểu đồ 2.1 Trình độ học vấn/ chuyên môn kỹ thuật của NLĐ 49Biểu đồ 3.1 Kết quả điều tra về mặt bằng sản xuất trong Công ty 58Biểu đồ 3.2 Tình trạng máy móc, thiết bị sản xuất tại Công ty 60
Sơ đồ 3.1 Quy trình các bước sản xuất giày da, giả da của Công ty 61
Sơ đồ 3.2 Hệ thống xử lý hơi dung môi tại phân xưởng gò 84
Trang 10MỞ ĐẦU
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội và những thay đổi về chính trị trên thế giới trong nhiều năm qua đã có những tác động làm thay đổi phần nào các quan niệm về trách nhiệm của con người đối với xã hội và tự nhiên Quá trình toàn cầu hóa, tự do thương mại đã thúc đẩy các mối quan hệ quốc tế ngày càng gần gũi hơn; giới hạn khoảng cách giữa các quốc gia ngày càng được thu hẹp
Hội nhập kinh tế quốc tế là một sân chơi bình đẳng cho mọi quốc gia, nó làm phát sinh nhiều vấn đề mới và mang lại cho các quốc gia nhiều cơ hội hơn trong quá trình phát triển kinh tế quốc dân, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội trong quan hệ kinh doanh, phát triển lực lượng sản xuất, tiếp cận các tiến bộ khoa học và công nghệ mới, có tính cạnh tranh cao và đầy thách thức Hội nhập kinh tế Quốc tế cũng
đã có nhiều tác động đến nhiều ngành kinh tế của nước ta
Ngành công nghiệp sản xuất giày của nước ta đang sử dụng công nghệ ít phức tạp, lạc hậu chuyên gia công các loại giày vải, giày da xuất khẩu sang các nước Đặc điểm của nó là cường độ làm việc cao, môi trường lao động luôn bị ô nhiễm; lực lượng lao động nữ chiếm tỷ lệ cao Hiện cả nước có khoảng 400 doanh nghiệp Nhà nước và liên doanh làm việc trong lĩnh vực này, thu hút khoảng 600.000 lao động Để tăng năng suất và giảm chi phí nâng cao sức cạnh tranh các sản phẩm của mình trên thị trường, các nhà sản xuất phải nhanh chóng đáp ứng yêu cầu về đổi mới công nghệ, quan tâm đến việc cải thiện môi trường, bảo đảm an toàn
và sức khỏe cho công nhân Đó chính là những vấn đề mà các doanh nghiệp cần phải quan tâm trong quá trình hội nhập kinh tế để phát huy năng lực sản xuất kinh doanh của mình xây dựng cho mình một thương hiệu phát triển bền vững trên thị trường trong nước và quốc tế
Cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật của thế giới, các vấn đề về kỹ thuật sản xuất sạch hơn trong bảo vệ môi trường cho
sự phát triển bền vững của xã hội cũng đã nảy sinh và ngày càng trở nên cấp bách
Trang 11Việc giải quyết các vấn đề sức khỏe, môi trường và xã hội ngày càng được nhận thức rõ rằng không phải là vấn đề của riêng một quốc gia hay một nhóm hưởng lợi nào mà là trách nhiệm của toàn xã hội là vấn đề của toàn thể nhân loại Quá trình sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân của doanh nghiệp đó và của cả các bên quan tâm Để đạt được hiệu quả thì đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải cam kết thực hiện những yêu cầu đặt ra phải cải tiến liên tục và nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với kết quả hoạt động
Việc thực hiện trách nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp và các giải pháp sản xuất sạch hơn đã và đang đòi hỏi các doanh nghiệp công nghiệp nói chung
và doanh nghiệp sản xuất giày nói riêng hành động đúng, phù hợp với những quy định của pháp luật ngay từ đầu, hạn chế được những sai phạm trong quá trình sản xuất để góp phần tạo ra một môi trường trong sạch và một sự phát triển bền vững
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài luận văn được chọn là “Nghiên cứu mối
quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và sản xuất sạch hơn trong ngành công nghiệp sản xuất giày ở Việt Nam và áp dụng thí điểm tại Công ty cổ phần Giày Ngọc Hà” nhằm hướng tới mục tiêu đẩy mạnh việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh
nghiệp và các giải pháp sản xuất sạch hơn để nâng cao năng suất, chất lượng, sức khỏe, môi trường và phát triển bền vững ở các cơ sở sản xuất giày nước ta Việc nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết Luận văn đã thực hiện với một số nội dung chính sau:
Chương 1 Tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn về trách nhiệm xã hội và vấn
đề sản xuất sạch hơn
Chương 2 Thực trạng tình hình thực hiện TNXHDN và SXSH trong ngành công
nghiệp sản xuất Giày ở Việt Nam
Chương 3 Nghiên cứu tiềm năng lồng ghép TNXHDN và SXSH trong ngành công
nghiệp sản xuất Giày, áp dụng thí điểm và đề xuất giải pháp cải thiện môi trường cho Công ty cổ phần Giày Ngọc Hà
Kết luận và kiến nghị
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRÁCH NHIỆM
XÃ HỘI VÀ VẤN ĐỀ SẢN XUẤT SẠCH HƠN
1.1 TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
1.1.1 Khái niệm về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (TNXHDN)
Quá trình tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang tạo ra một vòng tuần hoàn được
thúc đẩy bởi thị trường vì mục tiêu trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility-CSR), tất yếu sẽ tạo ra nhiều biến động đối với mỗi Quốc gia,
đặc biệt là các vấn đề liên quan đến tiết kiệm năng lượng, lao động, việc làm, môi trường và xã hội, Các nhà đầu tư nước ngoài thường quan tâm tới những yếu tố cơ bản như kinh tế vĩ mô, ổn định chính trị và uy tín của công ty trên thị trường với tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cao Chính vì vậy, một trong những vấn đề nổi cộm của những năm gần đây là TNXHDN, đặc biệt hơn là các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu như DN da giày [6] Đây là một trong những nội dung được nhắc đến nhiều nhất ở các Hội nghị Quốc tế cũng như trong nước để luận bàn hướng giải quyết của Liên hiệp quốc (UN) và các Tổ chức có liên quan như Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), ,
Năm 1998, ILO đã xây dựng các tiêu chuẩn lao động cơ bản bao gồm quyền tự
do lập hiệp hội và quyền thỏa ước lao động tập thể, tự do hiệp hội, không phân biệt đối xử trong lao động và việc làm Đây chính là những nội dung chính trong quá trình thảo luận về thực hiện TNXHDN [5]
Tiêu chuẩn TNXHDN bắt đầu xuất hiện vào những năm 1990, bộ tiêu chuẩn đầu tiên do Levi Strauss xây dựng năm 1991 để đáp lại những mối qua lại về điều kiện lao động (ĐKLĐ) trong các nhà máy cung ứng ở các nước đang phát triển Cho đến nay, ước tính có khoảng trên 1.000 tiêu chuẩn do các công ty đa quốc gia xây dựng Đáng chú ý nhất là SA8000 do Tổ chức quốc tế về trách nhiệm xã hội
(TNXH) có trụ sở tại Mỹ (Social Accountability International - SAI) xây dựng Ngày
Trang 13nay, TNXH chủ yếu tập trung vào các công ước, tiêu chuẩn của ILO, Luật lao động của mỗi nước [29]
Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế (Organization for Economic oporation and Development- OECD) cũng tham gia vào cuộc thảo luận về các vấn
Co-đề TNXH của các công ty đa quốc gia Tại Hội nghị các Bộ trưởng của Tổ chức
thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO) lần thứ 4 tổ chức tại Doha, Quatar năm 2001, đã xác định nhiệm vụ của ILO là giải quyết các vấn đề "Tiêu chuẩn xã hội của quá trình tự do thương mại toàn cầu"
Theo các chuyên gia Ngân hàng thế giới thì "TNXHDN là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, hợp tác cùng người lao động(NLĐ), gia đình, cộng đồng và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ, sao cho vừa có lợi cho DN vừa có lợi cho sự phát triển" [2;30]
Trong khi đó, Viện nghiên cứu Quan hệ công chúng (IPR) Mỹ cho rằng
"Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một khái niệm qua đó các doanh nghiệp kết hợp các vấn đề về môi trường và xã hội vào chiến lược kinh doanh của mình và vào mối quan hệ với các cổ đông trên cơ sở tự nguyện" [26]
Uỷ ban kinh tế thế giới về phát triển bền vững thì định nghĩa: "TNXHDN là một cam kết kinh doanh nhằm cư xử đạo đức và đóng góp cho sự phát triển kinh tế cùng với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình của
họ cũng như chất lượng cuộc sống của cộng đồng và xã hội nói chung" [8]
Ở Việt Nam, thuật ngữ "TNXHDN" lần đầu tiên được đề cập vào năm 2002, với sự tham gia của các cơ quan quản lý Nhà nước, công đoàn, hiệp hội doanh nghiệp cũng như các bên liên quan TNXHDN là một khái niệm khá mới ở Việt Nam Bản chất của TNXHDN cũng được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau Không ít doanh nghiệp Việt Nam hiểu TNXH của doanh nghiệp là những khoản đóng góp cho xã hội mang tính từ thiện hoặc coi thực hiện TNXHDN là thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng và thời gian hoặc coi việc thực hiện những yêu cầu cụ thể nào đó là thực hiện TNXHDN Trên một khía cạnh
Trang 14phải hiểu TNXHDN là những cam kết, những chương trình cụ thể nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động, ổn định và phát triển sản xuất [23]
Nhiều công ty đa quốc gia đã tự nguyện thông qua “TNXHDN” trong đó họ cam kết sẽ tôn trọng những hoạt động xã hội và lao động nhất định (ví dụ như thực hiện tiêu chuẩn lao động của ILO, Bộ luật lao động) Thực chất của việc thực hiện TNXHDN của bên cung cấp hàng là thực hiện các yêu cầu của người mua hàng chủ yếu thông qua TNXHDN
ACTIONAID Việt Nam đưa ra TNXHDN cần được hiểu là:
Sự tôn trọng của doanh nghiệp đối với các quyền cơ bản của công nhân và đảm bảo các quyền đó không bị cản trở trong môi trường làm việc; quyền của người tiêu dùng đối với các sản phẩm do doanh nghiệp cung cấp về chất lượng và
sự an toàn đối với sức khoẻ; Sự cam kết của doanh nghiệp trong việc khai thác và
sử dụng các công nghệ sạch nhằm BVMT; cam kết tuân thủ pháp luật [8]
Như vậy "TNXH của doanh nghiệp là sự tự cam kết của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý của doanh nghiệp trên cơ sở tuân thủ pháp luật, kết hợp hài hòa lợi ích của doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của cả doanh nghiệp và xã hội"
Trong quá trình thực hiện, nhìn chung nhất cho thấy rằng TNXHDN chính là
sự đóng góp của doanh nghiệp vì mục tiêu phát triển bền vững, làm sao để cố gắng tối đa lợi nhuận nhưng không gạt bỏ trách nhiệm với xã hội, cộng đồng và môi trường mà chính doanh nghiệp đó đang hoạt động
1.1.2 Những nội dung cơ bản của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và lợi ích
Thực chất, hoạt động sản xuất kinh doanh là một nhu cầu thiết yếu đối với con người và xã hội Hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp tồn tại dựa trên nhu cầu của khách hàng, chúng ta không thể bán một mặt hàng cho một nơi không có nhu cầu Chính vì vậy sự thành công của một doanh nghiệp là do khách hàng tạo ra, và khách hàng chính là thành phần của xã hội [22] Do đó, thực hiện TNXHDN là việc làm không chỉ có lợi cho xã hội, khách hàng, NLĐ mà cần thiết cho chính doanh nghiệp đó, hay nói cách khác doanh nghiệp thực hiện TNXHDN
Trang 15trước hết là thực hiện trách nhiệm đối với bản thân doanh nghiệp đó Tuy nhiên, để thực hiện TNXHDN tốt phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản như: Luật quốc gia, các yêu cầu mà doanh nghiệp đã cam kết, tôn trọng các công ước, tiêu chuẩn quốc tế TNXHDN thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng ngày nay chúng chủ yếu tập trung vào thực hiện tốt Bộ Luật lao động, các tiêu chuẩn của ILO, với những tiêu chí về đạo đức, nghĩa vụ và trách nhiệm lao động, những chính sách về lao động đối với NLĐ Chúng được thể hiện ở một số nội dung như: Lao động cưỡng bức; Lao động trẻ em; Quyền tự do tham gia hiệp hội và thoả ước lao động tập thể; Trả lương; Thời gian làm việc; An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) và Bảo
vệ môi trường (BVMT) trong đó có nội dung về SXSH,
Bản chất của TNXHDN được thể hiện ở một số điểm sau
- TNXH không phải là qui định bắt buộc của bất cứ quốc gia nào, không phải thỏa thuận giữa chính phủ với chính phủ mà chỉ là thỏa thuận giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp
- TNXH không thay thế, không đứng trên luật quốc gia Việc thực hiện TNXH
ở bất cứ quốc gia nào phải phù hợp với luật quốc gia và hỗ trợ việc thực hiện luật quốc gia ở nơi đó Khi nói đến TNXH thực tế là đề cập đến việc thực hiện luật quốc gia như một phương tiện để giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh [7]
- Việc thực hiện TNXH là tự nguyện, hoàn toàn không mang tính bắt buộc Tuy nhiên phải hiểu rõ hai điểm trong tính tự nguyện Một là, những qui định nào trong TNXH mà trùng với những qui định của luật pháp quốc gia thì việc thực hiện những nội dung đó đương nhiên mang tính bắt buộc Hai là, tự nguyện được hiểu theo nghĩa thị trường, tức là do doanh nghiệp tự quyết định sau khi cân nhắc giữa lợi ích và chi phí bỏ ra
- TNXHDN được hiểu là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với toàn xã hội thông qua sản phẩm của mình chứ không phải chỉ là trợ giúp một số nhóm người yếu thế nhất định trong xã hội như người tàn tật, nạn nhân lũ lụt,… TNXH phải là việc làm thường xuyên, liên tục chủ yếu ngay tại nơi làm việc chứ không phải công
Trang 16- Trong một nghĩa rộng hơn “TNXHDN” đã thể hiện sự thay đổi trong cách tiếp cận từ mối quan tâm thuần túy tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp, của mỗi nền kinh tế sang mối quan tâm đến sự phát triển mà mỗi doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển chung của toàn xã hội [2]
- Việc thực hiện các qui định thể hiện TNXHDN là một khoản chi phí mang tính chất đầu tư của doanh nghiệp, được thực hiện trước và trong khi làm ra sản phẩm, chứ không phải là một đóng góp của doanh nghiệp mang tính chất nhân đạo,
từ thiện được trích ra từ lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi đã bán sản phẩm
- Nếu TNXHDN được hiểu đúng và thực hiện đúng, phù hợp với luật pháp quốc gia thì đây chính là việc làm mà các bên tham gia đều có lợi, chứ không phải bên lợi-bên thiệt Đồng thời, thực hiện TNXHDN cũng chính là việc cụ thể hóa một
số qui định chính của Bộ Luật lao động và một số văn bản luật pháp khác đề cập đến những nội dung chính như: Quản lý chất lượng sản phẩm, năng suất, an toàn vệ sinh lao động, đào tạo, an sinh xã hội,…
Các DN thực hiện tốt TNXH sẽ đảm bảo được các lợi ích bao gồm:
+ Duy trì được hợp đồng và mở rộng được thị trường;
+ Tăng năng suất và chất lượng của sản phẩm;
+ Giảm số công nhân bỏ việc;
+ Được đưa vào các chương trình đầu tư vì xã hội
+ Tăng uy tín của xã hội để dễ dàng hoạt động và hội nhập hơn
Ngoài các lợi ích kinh tế này, nhờ việc thực hiện TNXHDN còn đưa lại những lợi ích về phát triển của doanh nghiệp, cụ thể là:
+ Tăng chất lượng cuộc sống và cải thiện sức khỏe, môi trường cho NLĐ; + Thực hiện tốt hơn pháp luật lao động;
+ Tăng khả năng cạnh tranh quốc gia Vì nhiều công ty thực hiện TNXH hơn nên quốc gia có uy tín hơn và là nơi an toàn để có thể đầu tư
Trên thực tế, một số doanh nghiệp ở Việt Nam thực hiện TNXHDN theo yêu cầu của bên mua đã thu được những kết quả hết sức khả quan, như: Công ty giày
Trang 17Thái Bình (Bình Dương), Công ty Cổ phần giầy Ngọc Hà, Công ty TNHH sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên (Biti’s)…
1.1.3 Tình hình thực hiện TNXHDN ở khu vực và Việt Nam
1.1.3.1 Tình hình thực hiện TNXHDN trên khu vực
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc đáp ứng các nội dung của TNXH
về lao động, việc làm, môi trường mang tính quốc tế là điều bắt buộc Trong các hoạt động sản xuất kinh doanh tại các khu vực, các công ty đa quốc gia đều đưa ra yêu cầu đối với các công ty nội địa phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế như các tiêu chuẩn của ILO Tuy nhiên, một số nước đang phát triển không hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu này, hoặc hệ thống pháp luật của các quốc gia này chưa theo kịp các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là các vấn đề về môi trường và ĐKLV xấu vẫn tồn tại Những vấn đề này đang là thách thức cho nhiều doanh nghiệp của các nước công nghiệp phát triển khi tham gia thị trường quốc tế
Khu vực Đông Nam Á hiện nay được xem là môi trường đầu tư cũng như hoạt động kinh doanh khá năng động, một phần vì nơi đây tập trung đông các nước đang phát triển, mặt khác là nơi có lực lượng lao động dồi dào, đáng chú ý là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Phillipin và Việt Nam Trong những năm gần đây chính phủ các nước đã ban hành nhiều điều luật về lao động khá chặt chẽ, trong đó có cả những điều liên quan đến TNXHDN và thúc đẩy việc thực hiện TNXHDN Tuy nhiên, giới sử dụng lao động chưa tự nguyện tuân thủ điều luật này dẫn đến NLĐ vẫn phải chịu nhiều bất hợp lý trong lao động Theo báo cáo của ông Shizuo Fukada, chủ tịch Uỷ ban điều hành của Hội đồng cải thiện đời sống công dân thì vấn đề nổi cộm tại Thái Lan và Indonesia Trong quá trình phát triển kinh tế đã nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước thải Những vấn đề này cần sự phối hợp chặt chẽ của Chính phủ và thông qua thực hiện các sáng kiến về TNXHDN để giải quyết [26]
Đối với Indonesia, thì NLĐ họ đã phải đối mặt với những vấn đề rất bức xúc,
do cuộc khủng hoảng kinh tế, rất nhiều người mất việc làm và rất nhiều người phải
Trang 18nghiệp lên đến 8 triệu người và khoảng 30-35 triệu người khác ở trong tình trạng bán thất nghiệp Trong hoàn cảnh này, chỉ luật lao động thì không thể bảo vệ quyền lợi cho NLĐ Vì vậy, những công cụ mang tính qui định về lao động hay những bộ luật “mềm dẻo” khác trở nên rất quan trọng trong việc bảo vệ NLĐ Indonesia là quốc gia Châu Á duy nhất ký tất cả các công ước cơ bản của ILO [2]
Đối với Philipin, toàn cầu hoá đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế nói chung và thị trường lao động nói riêng Thách thức lớn nhất của thị trường lao động Philipin hiện nay là tạo công ăn việc làm cho số lượng lớn người lao động thất nghiệp và bán thất nghiệp Ngoài ra, rất nhiều người có việc nhưng ở dạng bán thất nghiệp hoặc lương thấp Vì vậy cần kết hợp việc củng cố chất lượng lao động về mặt kỹ năng cũng như chất lượng công việc với việc cải thiện điều kiện làm việc, tiền lương và trợ cấp xã hội
Hiện nay, chiến lược thúc đẩy các doanh nghiệp tại quốc gia Đông Nam Á thực hiện TNXHDN đang rất được quan tâm Do các công ty đa quốc gia đầu tư vào khu vực Đông Nam Á có yêu cầu về các chính sách thực hiện TNXHDN nên Chính phủ các nước cũng như hiệp hội doanh nhân các nước rất đề cao vai trò TNXHDN trong chiến lược kinh doanh Theo ông Shizuo Fukada, cho rằng TNXHDN chính là cầu nối cho khoảng cách giữa triển vọng và thực tế Vì vậy, cần đảm bảo các sáng kiến về TNXHDN phải thực tế và có kết quả rõ ràng Nếu thực hiện tốt TNXHDN
sẽ tạo ra một chiến lược kinh doanh bền vững cho doanh nghiệp Các doanh nghiệp cũng cần phải có cách nhìn nhận về tầm quan trọng của việc thực hiện TNXHDN trong quá trình hội nhập hiện nay, bởi chính việc thực hiện TNXHDN sẽ mang lại nhiều lợi ích bền vững cho doanh nghiệp chứ không phải lợi ích tức thời
Chương trình "Tăng cường sự tham gia của Chính phủ các nước đang phát triển về TNXHDN" của Ngân hàng Thế giới được xây dựng nhằm tìm hiểu vai trò
tiềm năng của Chính phủ các nước đang phát triển để khuyến khích và tăng cường TNXHDN [23] Những vấn đề của TNXHDN nhấn mạnh vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp và những người có liên quan vào hoạt động của DN và các đối tác bên ngoài
Trang 191.1.3.2 Tình hình thực hiện TNXHDN ở Việt Nam
TNXHDN chỉ mới được thực hiện tại Việt Nam khoảng một số năm trở lại đây
và chủ yếu là ở các doanh nghiệp xuất khẩu như ngành công nghiệp da giày và dệt may, thủy sản, Vấn đề TNXHDN được đặt ra trước tiên với ngành da giày và dệt may, thủy sản, chính là do nhu cầu xuất khẩu hàng hóa và tầm quan trọng của những ngành này đối với nền kinh tế quốc dân cũng như sự nhạy cảm thể hiện rõ của ngành đối với áp lực thực hiện TNXHDN dựa vào thị trường [2]
Các hoạt động thông tin tuyên truyền về TNXH thực sự mới được thực hiện
vào năm 2002 Với cuộc hội thảo Quốc gia “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
và khả năng cạnh tranh quốc gia” do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp
với Ngân hàng Thế giới tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12 năm 2002 có thể coi là hoạt động quảng bá đầu tiên của Chính phủ
Trong khuôn khổ chương trình "Tăng cường sự tham gia của Chính phủ các nước đang phát triển về TNXHDN" của Ngân hàng Thế giới, một nghiên cứu về
tình hình thực hiện TNXH trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam cũng đã được Viện Khoa học lao động và xã hội tiến hành được thực hiện trong các DN ở cả miền Bắc
và miền Nam, bao gồm các doanh nghiệp với quy mô và loại hình khác nhau, cả nhà mua, nhà bán và đã lựa chọn doanh nghiệp dựa trên 3 loại hình là: đang thực hiện; bắt đầu thực hiện TNXHDN và hiện tại chưa thực hiện TNXHDN
Từ năm 2005, nước ta đã có giải thưởng “Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp năm 2005” được tổ chức bởi Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam
(VCCI), Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công Thương cùng các hiệp hội
Da giày, nhằm tôn vinh 13 doanh nghiệp thực hiện tốt công tác này trong bối cảnh hội nhập đó là: Công ty TNHH Sản xuất Giày Đồng Nai Việt Vinh; Công ty cổ phần giày Thái Bình; Xí nghiệp Giày Phú Lâm thuộc công ty Cổ phần giày Phú Lâm; Công ty Cổ phần Giày Ngọc Hà, đã được bình chọn, tôn vinh là doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội trong năm 2005 Kế thừa thành công của Giải thưởng năm 2005, tiếp tục tôn vinh và biểu dương các điển hình tốt, tạo tiền đề
Trang 20của mình thực hiện "Giải thưởng Trách nhiệm Xã hội DN năm 2006 - ngành da giày và dệt may Việt Nam" Giải thưởng này là động lực để các DN phấn đấu không
ngừng, cải thiện điều kiện làm việc đảm bảo AT-VSLĐ và bảo vệ môi trường, đảm bảo đời sống cho người lao động, khuyến khích người lao động cùng tham gia vào quá trình này đồng thời làm tăng uy tín của doanh nghiệp với bạn hàng trong và ngoài nước, nâng cao sức cạnh tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế Năm 2006 đã
có 50 doanh nghiệp ngành dệt may và da giày tham dự, kết quả giải nhất đã được trao cho Công ty TNHH Giày Shyang Hung Cheng
“Giải thưởng Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp 2007- Ngành Da giày và Dệt may Việt Nam” là năm thứ ba giải thưởng được tổ chức kế tiếp thành công của
Giải thưởng năm 2005 và 2006 nhằm tôn vinh các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, trong đó có 33 DN trên tổng số gần 2.000 DN ngành dệt may, da giày nhận bằng khen của Bộ Công thương, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và VCCI
Kế thừa những thành công của Giải thưởng Trách nhiệm Xã hội Doanh nghiệp trong ngành da giày và dệt may của các năm qua Năm 2009, Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam phối hợp với các cơ quan Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ kế hoạch đầu tư, Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức “Giải thưởng Trách nhiệm Xã hội Doanh
nghiệp năm 2009” nhằm tôn vinh và biểu dương các doanh nghiệp thực hiện tốt
TNXHDN ở 2 lĩnh vực là: Môi trường và Lao động
Từ năm 2005 đến nay các giải thưởng nhận được sự tài trợ của tổ chức ActionAid Việt Nam, tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp Quốc (UNIDO), tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) và tổ chức Lao động quốc tế (ILO) Ngoài ra, giải thưởng cũng được tổ chức với sự cố vấn của các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực trách nhiệm xã hội DN như: Viện Khoa học lao động và xã hội, Cục An toàn lao động thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường, Viện Nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam [14]
Trang 21Các nghiên cứu cho thấy một số nhà cung cấp trước tiên đáp ứng yêu cầu của nhà mua trong ngắn hạn giờ đã nhận thấy đầu tư vào TNXHDN có thể giúp họ có được nhiều hợp đồng ổn định hơn Một số doanh nghiệp cũng nhận thấy rằng đầu tư vào TNXHDN có thể làm tăng sự hài lòng của NLĐ, vì vậy tăng sản lượng và chất lượng của doanh nghiệp, với ít phải chi phí ốm đau cho NLĐ
Ngoài ra, việc thực hiện TNXHDN sẽ góp phần làm cho doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu về thời gian giao hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm số lượng hàng kém chất lượng Chương trình TNXHDN thực hiện với mục tiêu nhằm bảo vệ quyền lợi cho NLĐ và điều kiện làm việc bảo đảm AT-VSLĐ, BVMT theo luật pháp quốc gia
Song, cũng xuất hiện một thực tế là có nhiều doanh nghiệp còn thiếu sự chủ động và thực hiện TNXH Phương pháp tiếp cận này đã khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam cảm thấy các cải tiến có liên quan đến TNXHDN như là gánh nặng chi phí hơn là sự đầu tư Nhìn chung, các quy định của TNXHDN đều viện dẫn các qui định của luật pháp quốc gia như là tiêu chuẩn tham khảo và yêu cầu tuân thủ luật pháp quốc gia Những yêu cầu này được hỗ trợ bằng hệ thống giám sát, theo dõi chặt chẽ Một số nghiên cứu cho rằng, thực hiện tốt TNXHDN giúp đảm bảo doanh nghiệp thực thi luật pháp và các hướng dẫn trợ giúp cũng tạo điều kiện nâng cao nhận thức về các tiêu chuẩn lao động, BVMT, và trong một số doanh nghiệp điều này đã cho phép tiếp tục cải thiện ĐKLV, kể cả những nơi đã đảm bảo yêu cầu của luật pháp quốc gia [14]
Như vây, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp đều phải tìm cho mình một hướng đi đúng và không ngừng phát triển nhằm tạo ra sức mạnh cạnh tranh cho chính mình Việc nâng cao cạnh tranh thông qua thực hiện TNXHDN, kết hợp với thực hiện các quy định về luật lao động, yêu cầu của đối tác, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, vì lợi ích
xã hội, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng, tăng cường các mối quan hệ quốc tế
đó chính là những vấn đề cơ bản cho quá trình thực hiện tốt TNXHDN
Trang 221.2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ SẢN XUẤT SẠCH HƠN
1.2.1 Khái niệm về sản xuất sạch hơn (SXSH)
Sản xuất sạch hơn (CP- Cleaner Production) được hình thành đầu tiên trên thế giới vào khoảng năm 1990 bởi Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (United Nations Environmental Programme - UNEP) và được áp dụng tại Việt Nam từ những năm 1996 SXSH và các khái niệm: “ngăn ngừa ô nhiễm” (pollution prevention); “giảm thiểu chất thải” (waste reduction); “giảm chất thải tại nguồn” (waste reduction at source),…Thực tế, các khái niệm này tương tự SXSH Mục tiêu
cao nhất vẫn là nhằm giảm việc phát sinh ra chất thải tại nguồn Cách tiếp cận về SXSH được chương trình môi trường của Liên hợp quốc UNEP (năm 1998) định nghĩa như sau:
"SXSH là quá trình áp dụng liên tục một chiến lược, phòng ngừa tổng hợp về mặt môi trường đối với các quá trình sản xuất, các sản phẩm, dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất của quá trình nhằm giảm thiểu rủi ro tác động đến con người và môi trường” [12]
* Trong quá trình sản xuất: SXSH bao gồm việc tiết kiệm nguyên, nhiên vật
liệu và năng lượng, loại bỏ những nguyên liệu thô độc hại, giảm số lượng và độc tính của chất thải phát thải ngay tại nguồn
* Trong quá trình phát triển và thiết kế sản phẩm: SXSH nhằm giảm
những ảnh hưởng tiêu cực xuyên suốt vòng đời của sản phẩm (Life Cycle Assessment - LCA): từ khai thác nguyên liệu thô tới khi loại bỏ cuối cùng của sản
* Trong quá trình cung cấp dịch vụ: SXSH ủng hộ việc lồng ghép các yếu
tố về môi trường vào quá trình thiết kế và cung cấp dịch vụ
Như vậy, SXSH là một quá trình liên tục chứ không phải đơn thuần là một tác động đơn lẻ, chúng liên quan tới toàn bộ các giai đoạn trong chu trình tồn tại của sản phẩm, với mục tiêu phòng ngừa những rủi ro
Trang 23Sơ đồ 1.1 Các quá trình đánh giá SXSH
1.2.2 Ý nghĩa của sản xuất sạch hơn
Việc thực hiện tốt các giải pháp SXSH sẽ cải thiện rõ rệt được sức khỏe của NLĐ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, góp phần ổn định lao động Từ đó, hàng năm doanh nghiệp sẽ giảm được một lượng tiền khá lớn để khám chữa bệnh cho NLĐ hay cải thiện môi trường do ô nhiễm thông qua [13]
- Giảm định mức nguyên, nhiên liệu sử dụng trên một đơn vị sản phẩm Nâng cao hiệu quả sản xuất; Ngăn ngừa, giảm thiểu chất thải có thể phát sinh ngay từ đầu nguồn
- Hạn chế hoặc loại bỏ tối đa việc dùng các vật liệu độc hại hoặc có nguy cơ tiềm tàng trong quá trình sản xuất Giảm lượng và độc tính của tất cả các dòng thải
và chất thải trước khi chúng ra khỏi quá trình sản xuất
Vì vậy, SXSH có một tầm quan trọng đặc biệt đối với sản xuất công nghiệp bởi đây là giải pháp kết hợp được các lợi ích kinh tế, lợi ích môi trường SXSH giúp doanh nghiệp tiết kiệm được nguồn tài chính thông qua giảm lãng phí nguyên, nhiên liệu; giảm chi phí sản xuất, nâng cao được hiệu suất quá trình; gián tiếp giảm phát sinh chất thải, chất lượng môi trường được cải thiện và tạo được cơ hội thị trường mới cho doanh nghiệp
• Các rào cản khi thực hiện sản xuất sạch hơn
Trên thực tế, việc triển khai và áp dụng SXSH không dễ dàng do nhận thức
S¶n phÈm &
Trang 24nghiệp thường viện dẫn lý do đây là công việc có tiềm năng hạn chế, hoặc cần công nghệ phức tạp và tính chuyên nghiệp cao; cần nhân lực được đào tạo và có kỹ năng; cần phải có nguồn tài chính lớn; phải dừng hoạt động sản xuất dài ngày hoặc cần mặt bằng rộng Đôi khi đó lại là sự e ngại về việc có thể gia tăng chi phí sản xuất; cần tự động hóa toàn bộ dây chuyền sản xuất hoặc chỉ những công ty, tập đoàn lớn, mới cần áp dụng [18] Tuy nhiên, chương trình SXSH còn thiếu nhiều yếu tố như:
- Thiếu sự quan tâm và cam kết của các cơ sở, ngành nghề với chiến lược SXSH;
- Thiếu các chuyên gia về SXSH cho các ngành công nghiệp khác nhau;
- Thiếu các thông tin về công nghệ tốt nhất có tính hấp dẫn về mặt kinh tế hiện
có (Best Available Technology- BAT);
- Thiếu nguồn tài chính để đầu tư cho các công nghệ mới, sạch hơn;
- Thiếu hệ thống quy định có tính chất pháp lý khuyến khích tiết kiệm chi phí;
- Quyết định đầu tư chưa được đặt ra trên cơ sở tính toán chi phí tổng thể bao gồm cả các chi phí môi trường;
- SXSH vẫn thường được xem như là một dự án chứ không phải là một chiến lược được thực hiện liên tục của một công ty
1.2.3 Kỹ thuật SXSH và phương pháp đánh giá
Trong những năm qua, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý đã xây dựng nhiều
ý tưởng nhằm giảm thiểu tối đa chất gây ô nhiễm phát sinh tại nguồn thải, các giải pháp này đã giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được nhiên, nguyên liệu, năng lượng, nước, giảm thiểu ô nhiễm, thậm chí giảm sự cần thiết phải lắp đặt hệ thống xử lý chất thải Nhờ áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn mà doanh nghiệp đã đem lại những lợi ích cho chính mình cả về kinh tế và bảo đảm được các yêu cầu về BVMT Các quá trình SXSH được trình bày như trong sơ đồ 1.2 và không chỉ đơn thuần là thay đổi thiết bị, mà còn là các thay đổi trong vận hành và quản lý của một doanh nghiệp Các giải pháp sản xuất sạch hơn có thể được chia thành các nhóm sau [12]:
* Nhóm các giải pháp giảm chất thải tại nguồn;
* Nhóm các giải pháp tuần hoàn;
Trang 25* Nhúm cỏc giải phỏp cải tiến sản phẩm
• Nhúm cỏc giải phỏp kỹ thuật nhằm giảm thiểu chất thải ngay tại nguồn
Đú là cỏc giải phỏp:
+ Quản lý nội vi: là một giải phỏp đơn giản nhất của SXSH Quản lý nội vi
khụng đũi hỏi chi phớ đầu tư và cú thể được thực hiện ngay sau khi xỏc định được
cỏc giải phỏp (như nõng cao ý thức, trỡnh độ cho NLĐ; bảo dưỡng thiết bị, mỏy múc; cụng tỏc kiểm tra cỏc hiện tượng thải ra mụi trường xung quanh )
+ Kiểm soỏt quy trỡnh tốt hơn: để đảm bảo cỏc điều kiện sản xuất được tối
ưu hoỏ về mặt tiờu thụ nguyờn liệu, sản xuất và phỏt sinh chất thải Cỏc thụng số của quỏ trỡnh sản xuất như nhiệt độ, thời gian, ỏp suất, độ pH, cần được giỏm sỏt
và duy trỡ càng gần với điều kiện tối ưu càng tốt Cũng như với quản lý nội vi, việc kiểm soỏt quỏ trỡnh tốt hơn đũi hỏi sự quan tõm của ban lónh đạo cũng như việc giỏm sỏt ngày một hoàn chỉnh hơn [28]
+ Thay thế nguyờn liệu: là việc thay thế cỏc nguyờn liệu đang sử dụng bằng
cỏc nguyờn liệu khỏc thõn thiện với mụi trường hơn Thay đổi nguyờn liệu cũn cú thể là việc mua nguyờn liệu cú chất lượng tốt hơn để đạt được hiệu suất sử dụng cao hơn Thụng thường lượng nguyờn liệu sử dụng, chất lượng của nguyờn liệu và sản phẩm cú mối quan hệ trực tiếp với nhau
Quá trình SXSH
Tuần hoàn
tái sử dụng
Sản xuất Sản phẩm phụ
có ích
Thay đổi sản phẩm
Cải tiến
thiết bị
Thay thế nguyên liệu
Quản lý nội vi tốt
Thay đổi công nghệ
SX mới Kiểm soát qui
Trang 26+ Cải tiến thiết bị: là việc thay đổi thiết bị đã có để nguyên liệu tổn thất ít
hơn Việc cải tiến thiết bị có thể là: Điều chỉnh tốc độ máy; Tối ưu kích thước kho chứa; Việc bảo ôn bề mặt nóng/lạnh; hoặc thiết kế cải thiện các bộ phận cần thiết trong thiết bị
+ Công nghệ sản xuất mới: là việc lắp đặt các thiết bị hiện đại và có hiệu quả
hơn Giải pháp này yêu cầu chi phí đầu tư cao hơn các giải pháp sản xuất sạch khác,
do đó cần phải được nghiên cứu cẩn thận Mặc dù vậy, tiềm năng tiết kiệm và cải thiện chất lượng có thể cao hơn so với các giải pháp khác
• Nhóm các giải pháp kỹ thuật nhằm tuần hoàn, sử dụng lại chất thải (coi chất thải là tài nguyên không được đặt đúng chỗ):
+ Tuần hoàn tái sử dụng: là việc thu thập "chất thải" và sử dụng lại cho quá
trình sản xuất (như thu hồi và tuần hoàn nước ngưng, quay trở lại cấp nước cho nồi hơi, tăng được hiệu suất quá trình, giảm được lượng nhiên liệu,…)
+ Sản xuất các sản phẩm phụ có ích: là việc thu thập và xử lý "các dòng
thải" để có thể trở thành một sản phẩm mới hoặc bán ra cho các cơ sở sản xuất khác
• Nhóm các giải pháp kỹ thuật nhằm cải tiến sản phẩm: Thay đổi sản phẩm là
quá trình phức tạp, phụ thuộc nhiều vào nhu cầu, vốn rất nhạy cảm của khách hàng như thị hiếu, ý thức sử dụng sản phẩm tiêu dùng bền vững, thân thiện với môi trường…
+ Thay đổi sản phẩm: là việc xem xét lại sản phẩm và các yêu cầu đối với
sản phẩm đó Nếu có thể thay một cái nắp đậy kim loại đã được sơn bằng một cái nắp đậy bằng nhựa cho một số sản phẩm nhất định thì đã tránh được các vấn đề về môi trường cũng như các chi phí để sơn hoàn thiện nắp đậy đó Cải thiện thiết kế sản phẩm có thể đem lại tiết kiệm về tiêu thụ nguyên liệu và lượng hoá chất độc hại
sử dụng
+ Các thay đổi về bao bì: Vấn đề cơ bản là giảm thiểu bao bì sử dụng, đồng
thời bảo vệ được sản phẩm Một ví dụ trong nhóm giải pháp này là sử dụng bìa tông cũ thay cho các loại xốp để bảo vệ các vật dễ vỡ
Trang 27các-Như vậy, SXSH là cách tiếp cận có hệ thống, mang tính chủ động với mục tiêu ngăn chặn hoặc giảm thiểu những hiểm họa cho con người và môi trường ngay
từ ban đầu
* Phương pháp luận đánh giá SXSH
Có nhiều phương pháp luận đánh giá SXSH như: Phương pháp luận của cục BVMT Mỹ, Phương pháp luận của UNEP/UNIDO, Phương pháp luận DESIRE của
Ấn Độ Hiện nay, Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam đã và đang áp dụng phương pháp luận DESIRE cho quá trình đánh giá SXSH tại các cơ sở Phương pháp này được lựa chọn bởi đây là phương pháp luận xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của UNEP Nền công nghiệp của Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Kết quả thành công của đánh giá SXSH theo phương pháp này đã được thực hiện tại một loạt các nhà máy ở châu Á theo chương trình của NIEM [19]
Đặc biệt thành công trong việc áp dụng phương pháp DESIRE tại các nhà máy giấy ở Trung Quốc và Ấn Độ Ở Việt Nam qua kết quả trình diễn SXSH tại một vài
cở sở đã thu được kết quả rất tốt Các nhà máy thuộc ngành công nghiệp hoá chất của Việt Nam được đánh giá là nhỏ và công nghệ, thiết bị rất lạc hậu, là đối tượng phù hợp với phương pháp DESIRE Phương pháp DESIRE được xây dựng dễ hiểu,
dễ thực hiện, khoa học với các nhiệm vụ rõ ràng Đặc biệt dễ dàng với sự trợ giúp của các chuyên gia tư vấn bên ngoài Vì vậy đánh giá SXSH được chia thành 6 bước
và 18 nhiệm vụ với quy trình tại sơ đồ 1.3 sau:
Trang 281.2.4 Tình hình thực hiện sản xuất sạch hơn ở Việt Nam
Có thể nói rằng, SXSH đã phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Kể từ khi tuyên bố của UNEP về sản xuất sạch hơn đến nay đã có 42 Trung tâm Quốc gia
Sơ đồ 1.3 Quy trình đánh giá SXSH theo phương pháp luận DESIRE
GIAI ĐOẠN 1: CHUẨN BỊ
Nhiệm vụ 1: Lập nhóm làm việc SXSH
Nhiệm vụ 2: Lên danh sách các công đoạn của dây chuyền SX
Nhiệm vụ 3: Xác định và chọn ra những công đoạn sinh nhiều chất thải
GIAI ĐOẠN 2: PHÂN TÍCH CÁC CÔNG ĐOẠN
Nhiệm vụ 4: Xây dựng sơ đồ công nghệ chi tiết cho trọng tâm đánh giá
Nhiệm vụ 5: Tính cân bằng vật liệu và năng lượng
Nhiệm vụ 6: Lượng giá đối với dòng chất thải
Nhiệm vụ 7: Đánh giá toàn bộ dây chuyền nhằm xác định các nguyên nhân phát sinh chất thải
GIAI ĐOẠN 3: ĐỀ XUẤT CÁC CƠ HỘI GIẢM THIỂU CHẤT THẢI
Nhiệm vụ 8: Xây dựng và phát triển các cơ hội giảm thiểu chất thải
Nhiệm vụ 9: Lựa chọn các cơ hội nhiều khả năng thực hiện.
GIAI ĐOẠN 4: LỰA CHỌN CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU CHẤT THẢI
Nhiệm vụ 10: Đánh giá khả thi kỹ thuật
Nhiệm vụ 11: Đánh giá lợi ích kinh tế
Nhiệm vụ 12: Đánh giá các khía cạnh MT
Nhiệm vụ 13: Lựa chọn các giải pháp thực hiện
GIAI ĐOẠN 5: THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU CHẤT THẢI
Nhiệm vụ 14: Chuẩn bị thực hiện
Nhiệm vụ 15: Thực hiện các giải pháp giảm thiểu
Nhiệm vụ 16: Quan trắc và đánh giá kết quả
GIAI ĐOẠN 6: DUY TRÌ CÔNG TÁC GIẢM THIỂU CHẤT THẢI
Nhiệm vụ 17: Duy trì các giải pháp giảm thiểu chất thải
Nhiệm vụ 18: Xác định và lựa chọn những công đoạn sinh nhiều chất thải
Trang 29về SXSH trên toàn thế giới, chủ yếu là ở các nước đang phát triển Việt Nam bắt đầu đưa khái niệm này vào từ những năm 1996
Vào năm 1998, Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam- VNCPC được thành lập
và là cơ quan đầu mối về đào tạo và triển khai các dự án SXSH tại Việt Nam
Quán triệt nguyên tắc chỉ đạo phòng ngừa ô nhiễm và bằng nhiều nguồn vốn tài trợ khác nhau, Chính Phủ đã cho phép triển khai các dự án phòng ngừa ô nhiễm
và áp dụng SXSH trong toàn quốc
Tháng 9 năm 1999 Việt Nam đã ký tuyên ngôn quốc tế về SXSH và qua đó khẳng định lại cam kết của Việt Nam về vấn đề BVMT và phát triển bền vững
Để sự phát triển kinh tế được bền vững, không làm suy giảm chất lượng môi trường, thì SXSH được xác định là một trong số các chương trình ưu tiên của chiến lược quốc gia về BVMT năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và được xác định là một công cụ then chốt để các doanh nghiệp sử dụng, nhằm tiếp cận phát triển bền vững, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng nhận thấy tầm quan trọng của SXSH trong việc tiến tới thực hiện các ưu tiên phát triển
Tuy SXSH vẫn còn khá mới mẻ đối với một số doanh nghiệp của Việt Nam, song khả năng thúc đẩy và nhân rộng SXSH trong các cơ sở công nghiệp là rất lớn,
nó hỗ trợ cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Mục tiêu của hành động là thực hiện thành công chương trình SXSH (bảng 1.1) sao cho hoạt động SXSH thực sự trở thành một công cụ quản lý có hiệu quả về mặt kinh tế, tạo ra các lợi ích về xã hội, môi trường, giúp cho các doanh nghiệp vượt qua các thách thức hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay
Trang 30Bảng 1.1 Các chương trình hành động SXSH
7 Phối hợp giữa nhận thức và khuyến khích
9 Triển khai SXSH trong công nghiệp
- Phổ biến thông tin và nâng cao nhận thức
- Đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng năng lực quốc gia về SXSH
Trang 31- Trình diễn kỹ thuật đánh giá SXSH tại doanh nghiệp nhằm thuyết phục giới công nghiệp tiếp nhận tiếp cận SXSH vào hoạt động sản xuất kinh doanh
- Xây dựng cơ sở pháp lý cho việc xúc tiến SXSH
Với số lượng các doanh nghiệp thực hiện thử nghiệm áp dụng SXSH còn nhỏ
bé, nhưng được trải trên diện rộng ở các tỉnh/thành phố
Theo báo cáo của 60 doanh nghiệp thực hiện đánh giá và áp dụng các giải pháp SXSH dưới sự hướng dẫn của Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam, các doanh nghiệp này đã tiết kiệm được trên 9 triệu USD trong năm trình diễn, trong khi tổng vốn đầu tư thực hiện các giải pháp SXSH là trên 2 triệu USD được thể hiện tại bảng 1.2 sau [20] Thực tế cho thấy hầu hết các doanh nghiệp rất hạn chế về vốn để thực hiện các giải pháp dài hạn nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Bên cạnh đó các yếu tố ảnh hưởng tới an toàn và sức khoẻ của NLĐ như bụi và nhiệt độ, hơi dung môi… trong phân xưởng sản xuất cũng giảm đáng kể nhờ thực hiện các giải pháp SXSH
Tuy nhiên, so với một số ngành công nghiệp khác như ngành Giấy, Thuỷ sản, Dệt Nhuộm thì việc áp dụng triển khai SXSH của ngành công nghiệp sản xuất giày là còn hạn chế do công nghệ hiện nay chủ yếu là gia công và đóng giày Các hóa chất, nước và năng lượng sử dụng không nhiều Song ở ngành này lại tập trung rất lớn lực lượng lao động, vấn đề sử dụng lao động cần được xem xét kỹ lưỡng Do
đó việc kết hợp BVMT trong TNXH của doanh nghiệp là việc làm cần được lựa chọn và xem xét sao cho tiện lợi cho doanh nghiệp trong việc áp dụng để có thể cải thiện hiệu quả kinh doanh và môi trường
Mặc dù ngành công nghiệp sản xuất giày có một số khó khăn nhất định như công nghệ, thiết bị phức tạp, đa dạng về sản phẩm, một số công nghệ rất đặc trưng không có công nghệ cùng loại để so sánh, học tập Nhưng những đặc điểm này cũng chính là những khởi điểm thuận lợi để ngành công nghiệp sản xuất giày có thể thúc đẩy nhanh việc áp dụng SXSH trong ngành mình nếu như có sự nhận thức, ủng hộ mạnh mẽ của các cơ sở sản xuất
Trang 32Bảng 1.2 Tiết kiệm hàng năm tại các doanh nghiệp sử dụng tư vấn SXSH của VNCPC
Ghi chú: 1 Ngành khác gồm các doanh nghiệp hóa chất, cao su, gỗ, đóng tàu, in,
2 Các số liệu này được tích lũy từ năm 1999 đến hết năm 2008
Nguồn: Báo cáo năm 2008 - Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam
1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA TNXH VÀ SXSH
1.3.1 Quan hệ hữu cơ giữa TNXH và SXSH trong doanh nghiệp
Sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành công nghiệp đã đóng góp một phần quan trọng vào nền kinh tế quốc dân trong những thập kỉ qua Đồng thời cũng là nguyên nhân của sự suy thoái môi trường và gây suy giảm sức khoẻ cho con người, đặc biệt là người lao động Vấn đề này đã thực sự gây chú ý cho quốc tế cũng như cộng đồng
Để có thể tiếp cận hệ thống tích hợp giữa TNXH và BVMT, doanh nghiệp phải đi từ các giải pháp có hiệu quả như giải pháp SXSH nhằm giúp doanh nghiệp giảm thiểu chất thải, hạn chế các tác động xấu gây ô nhiễm môi trường Thực hiện các giải pháp SXSH làm cho môi trường lao động được cải thiện và nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện TNXH Như vậy ta thấy rằng giữa SXSH và TNXH có những điểm chung nhất định, điều đó được thể hiện tại bảng 1.3
Trang 33Bảng1.3 Mối quan hệ giữa TNXHDN và SXSH
phẩm của doanh nghiệp
- Giảm thiểu rủi ro về ATLĐ và sức khỏe
con người, nâng cao chất lượng sản phẩm
- Nhằm giảm thiểu chất thải và ngăn ngừa
ô nhiễm tại nguồn
ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường
- Áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp
- Đều là cách tiếp cận chủ động, mang tính tự nguyện và phòng ngừa;
- Đều là một quá trình liên tục với mục tiêu là giảm các tác động tại nguồn
- Đều phải đầu tư nhưng đầu tư là có hoàn vốn như: sử dụng ít nguyên, nhiên liệu,…
có hiệu quả hơn và thời gian hoàn vốn nhanh hơn
- Giảm chi phí xử lý và thải bỏ các chất thải nhằm: có lợi cho sản xuất, kinh doanh và
cải thiện được sức khỏe, chất lượng, môi trường; Cải thiện hình ảnh và hiệu quả hoạt động của công ty; Đạt chất lượng và sự đồng đều của sản phẩm; Có cơ hội ở thị trường mới tốt hơn, tiếp cận tốt hơn đến các nguồn tài chính; và làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường.
Trước đây các các doanh nghiệp thường nhìn nhận vấn đề TNXH và BVMT một cách đối phó, thường mang tính "chữa cháy" hơn là phòng ngừa ngay từ đầu Đối với nhiều doanh nghiệp, chi phí thực hiện các quy định về TNXH và BVMT chỉ được xem như chi phí hoạt động kinh doanh và chi phí thực hiện sẽ tăng lên vì các quy định ngày càng phức tạp, ngày càng nhiều và toàn diện
Do vậy, vấn đề đặt ra là cần phải có một hệ thống quản lý hữu hiệu sao cho một DN muốn tiêu thụ được sản phẩm của mình trên thị trường thì ngoài khả năng cạnh tranh về giá cả, chất lượng sản phẩm còn cần phải đáp ứng được những yêu cầu về TNXH và BVMT Điều đó có nghĩa là phải sản xuất theo quan điểm "Thân thiện với môi trường", phải thực hiện SXSH
Trang 34Như vậy, ngày nay cả sức khỏe, môi trường đều tiến tới một phương thức quản
lý theo tiếp cận hệ thống chủ động Chúng đều có các nội dung để thực hiện từng bước của hệ thống: có quá trình tổ chức, lập và thực hiện kế hoạch, đánh giá Song, chúng đều là một quá trình chứ không phải là một giải pháp, một tác động Mục tiêu cuối cùng của hệ thống này là vì con người Và nơi tiếp cận cuối cùng của vấn đề này là các cơ sở sản xuất có liên quan đến yếu tố con người và thiết bị, môi trường Chính vì vậy nếu áp dụng riêng rẽ từng công cụ sẽ lãng phí và gây nên sự chồng chéo, khó khăn khi thực hiện Nếu ta biết kết hợp được một số khâu của hệ thống này vào một số khâu của hệ thống kia thì có thể giảm bớt chi phí cho doanh nghiệp bằng chỉ phải áp dụng có một quá trình nhưng trong đó đã bao hàm cả hai yêu cầu
về TNXH và BVMT
1.3 2 Lồng ghép nội dung SXSH trong việc thực hiện TNXHDN
Mọi hoạt động sản xuất đều phải luôn được cải tiến dựa trên sự định hướng theo yêu cầu của khách hàng Chất lượng sản phẩm yêu cầu phải nâng cao, các yêu cầu mới của khách hàng nảy sinh đã trở thành sức ép mới đối với dây chuyền sản xuất Những yêu cầu ngày càng cao và đa dạng đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hoạt động thế nào để cùng một lúc có thể đáp ứng được tất cả những yêu cầu đó
Nhìn từ góc độ phân tích lợi ích của SXSH với việc thực hiện TNXHDN, chúng ta thấy nhiều nội dung được đặt ra chủ yếu bao gồm:
- Tiết kiệm nguyên liệu thô, nước, năng lượng… và cắt giảm chi phí: Lợi ích
thuyết phục nhất của quá trình SXSH là khả năng giảm tiêu thụ nguồn lực và nguyên liệu Tiết kiệm nước, năng lượng và nguyên liệu sẽ trực tiếp làm giảm chi phí sản xuất, và như vậy sẽ làm tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp
- Các cơ hội thị trường mới và được cải thiện: Nhận thức của người tiêu dùng
về các vấn đề môi trường ngày càng tăng đã dẫn tới mức cầu tăng mạnh đối với các sản phẩm xanh trên thị trường quốc tế Các doanh nghiệp hướng tới SXSH, thì sẽ
mở ra những cơ hội thị trường mới và sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng tốt và thân thiện với môi trường hơn, thể hiện TNXHDN ngày càng cao
Trang 35- Tiếp cận các nguồn tài chính tốt hơn: Những đề xuất đầu tư của các giải
pháp SXSH chứa đựng những thông tin về tính khả thi kinh tế, kỹ thuật và môi trường của kế hoạch đầu tư Điều này tạo nên nền tảng chắc chắn để tham gia trên thị trường quốc tế và các tổ chức tài chính đã nhận thức được các vấn đề liên quan tới suy thoái môi trường
- Thực hiện các bộ tiêu chuẩn liên quan, ví dụ như ISO14000: Giải pháp
SXSH sẽ tạo thuận lợi hơn trong việc thực hiện hệ thống quản lý môi trường Đó là
do hầu hết công việc ban đầu đã tiến hành thông qua đánh giá về SXSH Chứng chỉ ISO 14000 có thể là một yếu tố mở rộng thị trường, tiếp cận với thị trường xuất khẩu, và SXSH là một công cụ cải thiện nhằm duy trì chứng chỉ đó
- Môi trường làm việc tốt hơn: Ngoài khả năng giúp doanh nghiệp cải thiện
hoạt động kinh tế và môi trường, SXSH còn có thể giúp nâng cao các điều kiện về
an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp cho người lao động Các điều kiện làm việc tốt có thể thúc đẩy tinh thần của người lao động và đồng thời làm tăng sự quan tâm của họ
về kiểm soát rác thải Những hành động như vậy sẽ giúp công ty đạt được lợi thế cạnh tranh, càng thể hiện TNXHDN cao hơn
- Tuân thủ tốt hơn các quy định về môi trường: Việc đáp ứng các tiêu chuẩn
quy định về việc xả thải (lỏng, rắn hay khí) thường đòi hỏi phải lắp đặt hệ thống kiểm soát ô nhiễm phức tạp và chi phí cao Thông qua SXSH, việc xử lý chất thải còn lại thông thường trở nên dễ dàng và ít tốn kém hơn Lý do là quá trình SXSH dẫn tới việc giảm chất thải cả về lượng, tải lượng và thậm chí cả độc tính [10] Hầu hết các doanh nghiệp đã áp dụng TNXHDN đều nhận thấy những lợi ích mang lại cho doanh nghiệp Tuy nhiên, thực hiện tốt TNXHDN sẽ chưa bảo đảm được các kết quả về môi trường tối ưu Vì vậy, DN cần phải lồng ghép các nội dung TNXH và BVMT trong hệ thống quản lý sản xuất của mình để nhằm thực hiện tốt các kỹ thuật SXSH như: quản lý nội vi; kiểm soát quá trình; thay đổi công nghệ sẽ giúp cho doanh nghiệp đi đúng hướng, các quy trình cải thiện liên tục và nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả môi trường Mặt khác, khi TNXHDN được thực hiện
Trang 36Xuất phát từ mục tiêu của doanh nghiệp, thì các doanh nghiệp cần lựa chọn ưu tiên cải tiến những khâu cốt yếu nhất, những khâu chứa đựng nhiều rủi ro nhất, sự không phù hợp nghiêm trọng nhất…Để thực hiện yêu cầu nào, thực hiện đến đâu, khắc phục như thế nào là xuất phát từ doanh nghiệp Làm như thế nào để có kết quả như mong muốn chứ không phải làm theo cái gì Chính vì vậy mà TNXH và SXSH
có nhiều điểm tương đồng, nên chúng ta có thể lồng ghép, đánh giá các giải pháp SXSH cùng nội dung của TNXHDN, xem xét, chọn lựa các cơ hội tối ưu hơn cho doanh nghiệp
Để thực hiện tốt giải pháp SXSH và nội dung TNXHDN cần có sự thay đổi về thói quen tức là tìm cách tiếp cận mới để giải quyết mối quan hệ giữa môi trường và hoạt động sản xuất, kinh doanh; xem xét lại những vấn đề về quyền lợi, sức khỏe, môi trường… của người lao động, phòng ngừa chất thải, tạo khả năng cạnh tranh hấp dẫn và phát triển bền vững cho doanh nghiệp
1.3.3 Mô hình hệ thống quản lý giữa TNXHDN và SXSH
• Bản chất của mô hình hệ thống quản lý giữa TNXH và SXSH
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế xã hội cung ứng các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng nhằm đạt được các mục tiêu ngày càng cao về chất lượng và môi trường Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp chịu nhiều sức ép từ bên trong lẫn bên ngoài như: yêu cầu của người tiêu dùng, yêu cầu của khách hàng, quy định của pháp luật, yêu cầu của xã hội, cạnh tranh nhãn hiệu hàng hoá, yêu cầu bảo đảm đời sống, an toàn vệ sinh lao động của người lao động trong doanh nghiệp,… Trong đó, sức ép lớn nhất thường là yêu cầu của người tiêu dùng, của khách hàng, của đối thủ cạnh tranh Trong thực tế, các sức ép đó luôn luôn thay đổi, nằm ngoài ý chí của doanh nghiệp [11] Do vậy, để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp buộc phải chủ động tạo ra thay đổi của chính mình cho phù hợp với những diễn biến của môi trường kinh doanh Để doanh nghiệp có thể thay đổi theo hướng ngày càng phù hợp hơn với những biến động của thị trường, của các bên liên quan đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một hệ thống quản lý tốt và hệ thống này phải được cải tiến liên tục
Trang 37Vậy bản chất của hệ thống quản lý của doanh nghiệp là toàn bộ các cách thức
tư duy, các hoạt động và các tiến trình làm việc giữa con người với con người, thông qua con người nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp với sự tiêu tốn
ít nhất các nguồn lực và đạt được sự thoả mãn cao nhất của những người liên quan
• Mô hình hệ thống quản lý PDCA (Plan - Do - Check – Act)
Đây là mô hình thích hợp nhất đối với việc thực hiện TNXHDN và giải pháp SXSH để giúp các doanh nghiệp Việt Nam tránh được các rào cản thương mại về xuất khẩu hàng hóa sang các nước
Các doanh nghiệp Việt Nam nhất là các doanh nghiệp da giày đã và đang phải chịu nhiều sức ép, trong đó có sức ép được gây ra từ các rào cản thương mại Để khắc phục được sức ép từ các rào cản này, các doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình một mô hình quản lý thích ứng, trong đó cụ thể là phải tích hợp các hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm ISO 9001, hệ thống quản lý môi trường ISO 14001, các bước thực hiện SXSH và trách nhiệm xã hội theo đặc thù riêng của từng doanh nghiệp mà lựa chọn áp dụng Có thể nói rằng các hệ thống và tiêu chuẩn trên là chìa khóa, chứng minh để hàng Việt Nam thâm nhập vào thị trường thế giới
Mô hình hệ thống quản lý của doanh nghiệp thích hợp nhất cho việc áp dụng
hệ thống này nhằm thực hiện tốt TNXHDN và SXSH là mô hình PDCA, (Sơ đồ
1.4) bởi lẽ đây là mô hình giúp doanh nghiệp có thể cải tiến liên tục và tiết kiệm được nhiên liệu, tích hợp được các hệ thống quản lý mới
Rõ ràng, sự "thay đổi liên tục" và sự đa dạng hoá các nhu cầu của các khách hàng, các nỗ lực nhằm thiết lập các rào cản thương mại để "bảo hộ mậu dịch" của
các quốc gia và khu vực trên thế giới có thể sẽ tạo ra những yêu cầu khác trong tương lai Để thích ứng với những thay đổi đó, các doanh nghiệp da giày Việt Nam cần thiết phải lập hệ thống quản lý đảm bảo khả năng cải tiến liên tục và là mô hình thích hợp nhất Trong mô hình này, hệ thống quản lý được mô tả như là những quá trình, chứ không phải sơ đồ về cơ cấu tổ chức các bộ phận trong doanh nghiệp Hơn nữa đây là quá trình đảm bảo sự cải tiến liên tục các mục tiêu và cách thức hành
Trang 38động theo định hướng khách hàng Quá trình này về cơ bản là một vòng tuần hoàn bao gồm bốn công đoạn chủ yếu là:
- Lập kế hoạch (Plan)
- Thực hiện kế hoạch (Do)
- Kiểm tra (Check)
- Hành động khắc phục, cải tiến, duy trì (Action)
Sơ đồ 1.4 Mô hình hệ thống quản lý PDCA
Tuy nhiên, với các yếu tố trên và do tính mới của nó đòi hỏi phải làm rõ các nội dung và thuộc tính bên trong
Trách nhiệm lãnh đạo: được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu trong các yếu
tố của hệ thống quản lý Những trách nhiệm mà lãnh đạo DN phải đảm nhiệm là:
- Định hướng khách hàng: Xác định các khách hàng, khách hàng là mục tiêu
của doanh nghiệp; Xác định nhóm các nhu cầu cơ bản của khách hàng mà doanh nghiệp sẽ tập trung đáp ứng; Xác định các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp sẽ cung ứng cho khách hàng; Xác định các nhu cầu tương lai của khách hàng…
- Cam kết của lãnh đạo: Sự cam kết của lãnh đạo trong việc tự nguyện thực
hiện các trách nhiệm đối với khách hàng, với nhà cung cấp và với các bên liên quan
Cải tiến liên tục Hệ thống Quản lý chất lượng, môi trường
Trách nhiệm Lãnh đạo
Quản lý nguồn lực
Khách hàng (và các bên quan tâm khác)
Tạo sản phẩm
Sản phẩm
Đầu
Đo lường, phân tích
Các yêu
cầu
Trang 39trước hết phải được thể hiện bằng văn bản Cam kết của lãnh đạo được tuyên bố trong các chính sách của doanh nghiệp bao gồm việc: sẵn sàng tuân thủ các yêu cầu của các bên liên quan, các ý định của doanh nghiệp, nguyên tắc, khuôn khổ hành động, các nguồn lực, nỗ lực trong thực hiện và sự cải tiến liên tục;
- Lập kế hoạch: Xác định các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể cho từng thời kỳ và cách
thức phối hợp thực hiện mục tiêu đó;
- Phân công quyền và trách nhiệm cho các cá nhân, bộ phận;
- Xem xét của lãnh đạo: Lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp phải xem xét lại
toàn bộ các yếu tố của hệ thống quản lý trong từng giai đoạn nhằm đảm bảo tính bền vững, thích hợp của hệ thống
Quản lý nguồn lực: Một yếu tố khác cần phải đề cập đến là Quản lý nguồn
lực Các nguồn lực cần thiết của doanh nghiệp rất đa dạng, tuy nhiên, trong số các nguồn lực có 3 nhóm chủ yếu là: Nguồn nhân lực; Cơ sở hạ tầng và máy móc thiết bị; Môi trường và điều kiện làm việc
Việc lựa chọn và sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp được tiến hành căn cứ vào việc định hướng theo các nhóm nhu cầu của khách hàng đã được lãnh đạo xác định
Tạo sản phẩm: Một hệ thống quản lý tốt là yếu tố tạo sản phẩm Tại đây,
một chuỗi các hoạt động diễn ra nhằm biến các nguồn lực đã được lựa chọn thành các sản phẩm là hàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của khách hàng và các bên hữu quan khác như nhà phân phối, chính phủ, các nhà hoạt động môi trường, các tổ chức, hiệp hội liên quan…
Quá trình này gồm các hoạt động như: hoạch định quá trình tạo sản phẩm, thực hiện các quá trình liên quan đến khách hàng, thiết kế và phát triển sản phẩm mới, ký kết và thực hiện các hợp đồng mua hàng với nhà cung cấp, tiến hành hoạt động sản xuất và cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, và kiểm soát các thiết bị
Đo lường, phân tích và cải tiến: Với yếu tố này các sản phẩm với tư cách là
kết quả đầu ra của quá trình thực hiện kế hoạch cần phải được đánh giá theo định
Trang 40hướng khách hàng để từ đó đưa ra các biện pháp cải tiến nhằm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu ngày càng nâng cao của khách hàng như:
- Theo dõi kết quả của từng khâu, từng công đoạn và cả quá trình sản xuất
- Kiểm soát, phát hiện những điểm chưa phù hợp,
- Phân tích dữ liệu để tìm ra các nguyên nhân, các xu hướng và dự báo chính xác về sự thay đổi;
- Cải tiến liên tục quá trình nhằm đáp ứng các nhu cầu khách hàng tốt hơn và đảm bảo an toàn, sức khỏe, môi trường [15]
• Nguyên tắc của một hệ thống quản lý thích hợp về TNXHDN và SXSH
Muốn thiết lập một hệ thống quản lý tốt theo mô hình PDCA, cần phải đảm bảo sự tuân thủ của hệ thống quản lý này theo 8 nguyên tắc sau:
- Định hướng khách hàng: Doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay
không là phụ thuộc vào việc có theo kịp và đáp ứng tốt các nhu cầu của khách hàng hay không Chính vì vậy, quan hệ với khách hàng chi phối toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp Bởi vậy, mỗi doanh nghiệp phải xác định được đối tượng mình phục vụ là ai; các nhu cầu của họ là gì? mình sẽ đáp ứng nhu cầu nào? và làm thế nào để đáp ứng…
Những nội dung này phải được thông tin đầy đủ đến tất cả các khâu của quá trình, tất cả mọi người trong doanh nghiệp, xem đó là định hướng, là cơ sở để thống nhất ý chí và hành động
Định hướng khách hàng phải căn cứ vào các lợi thế cạnh tranh của DN Muốn vậy, doanh nghiệp phải biết được các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và thách thức
- Sự lãnh đạo: Đó là việc xác định các mục tiêu lâu dài, trước mắt và các chính
sách thực hiện mục tiêu; tạo môi trường thuận lợi để mọi người cùng tham gia, đóng góp Lựa chọn khách hàng mục tiêu trên cơ sở phân tích các lợi thế cạnh tranh đóng vai trò quyết định đối với kết quả hoạt động của doanh nghiệp
- Sự tham gia của mọi người: Hệ thống quản lý tốt phải đảm bảo mỗi người
đều có thể lý giải được chính sách và mục tiêu của DN vào vị trí của mình và mình
có thể làm gì để đạt được các chính sách và mục tiêu đó Do vậy, phải đảm bảo