1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu áp dụng các phương pháp tính toán xác định lượng chất thải của chất thải điện tử gia dụng để dự báo lượng thải của một số thiết bị gia dụng điển hình ở việt nam đến năm

115 421 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 14,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ kỹ thuật: “Nghiên cứu áp dụng các phương pháp tính toán xác định lượng thải của chất thải điện tử gia dụng để dự báo lượng thải của

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ kỹ thuật: “Nghiên cứu áp dụng các phương pháp tính toán xác định lượng thải của chất thải điện tử gia dụng để dự báo lượng thải của một số thiết bị gia dụng điển hình ở Việt Nam đến năm 2025” là do

tôi thực hiện với sự hướng dẫn của TS Nguyễn Đức Quảng Đây không phải là

bản sao chép của bất kì cá nhân, tổ chức nào Các số liệu, nguồn thông tin trong luận văn là do tôi thu thập, khảo sát, tính toán, đánh giá và tham khảo một số tài liệu của tác giả trong và ngoài nước

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung mà tôi đã trình bày trong luận văn này

Hà Nội, ngày 22 tháng 3 năm 2014

HỌC VIÊN

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 2

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS Nguyễn Đức Quảng, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn, người luôn

quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo của Viện khoa học và Công nghệ Môi trường, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã trang bị cho tôi những kiến thức hữu ích, thiết thực cũng như sự nhiệt tình, ân cần dạy bảo trong những năm vừa qua

Tôi xin chân thành cảm ơn Viện đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn này

Hà Nội, ngày 22 tháng 3 năm 2014

HỌC VIÊN

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC vii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vvii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI ĐIỆN TỬ GIA DỤNG 3

1.1 Chất thải điện tử gia dụng 3

1.1.1 Thành phần chất thải thiết bị điện tử gia dụng 4

1.1.2 Tuổi thọ trung bình của thiết bị điện tử gia dụng điển hình 7

1.2 Hiện trạng điện tử gia dụng thải trên thế giới và tại Việt Nam 9

1.2.1 Hiện trạng điện tử gia dụng thải trên thế giới 9s 1.2.2 Hiện trạng chất thải điện tử gia dụng tại Việt Nam 16

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP KIỂM KÊ LƯỢNG THẢI ĐIỆN TỬ GIA DỤNG TẠI VIỆT NAM 24

2.1 Các phương pháp kiểm kê lượng thải điện tử gia dụng 25

2.1.1 Phương pháp mô hình hóa 25

2.1.2 Phương pháp bước nhảy thời gian 25

2.1.3 Phương pháp cung thị trường 26

2.1.4 Phương pháp của học viện Carnegie Mellon 29

2.1.5 Công thức tính gần đúng 29

2.1.6 Lựa chọn phương pháp kiểm kê tính toán cho Việt Nam 31

2.2 Đề xuất phương pháp kiểm kê sử dụng cho Việt Nam 34

2.2.1 Đề xuất khắc phục thiếu hụt dữ liệu cho kiểm toán điện tử gia dụng điển hình tại Việt Nam 37

2.2.2 Các kết quả khảo sát 37

Trang 4

CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG TÍNH TOÁN LƯỢNG THẢI ĐIỆN TỬ GIA DỤNG

ĐIỂN HÌNH VÀ DỰ BÁO ĐẾN NĂM 2025 TẠI VIỆT NAM 41

3.1 Quy trình tính toán 41

3.1.1 Sơ đồ các dòng vật chất vào và ra 41

3.1.2 Các bước tính toán 41

3.2 Áp dụng Dự báo thống kê dự báo lượng thải đến năm 2025 42

3.3 Thực hiện định lượng Ti vi, tủ lạnh, máy giặt và điều hòa nhiệt độ 43

3.4 Dự báo lượng thải Ti vi, tủ lạnh, máy giặt và điều hòa đến năm 2025 44

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các chất nguy hại có thể có trong chất thải điện tử 5

Bảng 1.2 Thành phần nguyên liệu trong tủ lạnh 5

Bảng 1.3 Thành phần nguyên liệu trong ti vi 6

Bảng 1.4 Khối lượng trung bình và thành phần chất thải điện tử gia dụng 6

Bảng 1.5 Bảng thời gian sử dụng của một số loại thiết bị điện, điện gia dụng 8

Bảng 1.6 Bảng thời gian sử dụng của một số loại thiết bị điện, điện gia dụng 8

Bảng 1.7 Số lượng các thiết bị điện tử thải đi đến năm 2020 ở Việt Nam 17

Bảng 2.1 Số dữ liệu cần để kiểm kê điện tử gia dụng thải cho từng phương pháp 32 Bảng 2.2 GDP vàthu nhập bình quân đầu người Việt Nam ( 2006-2012) 34

Bảng 2.3 Bảng chỉ số sản xuất ngành điện tử dân dụng (GSO) 35

Bảng 2.4 Chỉ số tiêu thụ và tồn kho năm 2010 (GSO) 35

Bảng 2.5 Đánh giá mức đầy đủ dữ liệu của các phương pháp kiểm kê đối với Việt Nam 36

Bảng 2.6 Tuổi thọ trung bình của bốn loại điện tử gia dụng điển hình 38

Bảng 2.7 Hệ số mua mới, và hệ số tái sử dụng lại đồ điện tử gia dụng hàng năm 38

Bảng 2.8 Số hộ gia đình Việt Nam (GSO) 39

Bảng 3.1 Số lượng Ti vi ước tính thải ra 43

Bảng 3.2 Số lượng Tủ lạnh ước tính thải ra 43

Bảng 3.3 Số lượng Máy giặt ước tính thải ra 44

Bảng 3.4 Số lượng Điều hòa ước tính thải ra 44

Bảng 3.5 Tính toán lập mô hình cho ước tính lượng thải Tivi tại Việt Nam 44

Bảng 3.6 Dự báo lượng thải Tivi đến năm 2025 46

Bảng 3.7 Tính toán lập mô hình cho ước tính lượng thải Tủ lạnh tại Việt Nam 46

Bảng 3.8 Bảng dự báo lượng thải tủ lạnh đến năm 2025 47

Bảng 3.9 Bảng tính toán dự báo lượng thải máy giặt đến năm 2025 48

Bảng 3.10 Bảng tính dự báo cho điều hòa nhiệt độ 49

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ chu trình sống của các thiết bị điện điện tử 7Hình 3.1 Sơ đồ các dòng vật chất vào và ra 41Hình 3.2 Biểu đồ lượng thải ước tính gia tăng hàng năm của bốn loai điện tử gia dụng điển hình 50

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

EEE (Electrical and electronic equiment) Thiết bị điện và điện tử

IT (Information technology) Công nghệ thông tin

PC (Personal computer) Máy tính cá nhân

PCBs (Printed circuit boards) Bản mạch in

UNEP (United Nations Environment

Programmer)

Chương trình môi trường Liên hợp quốc

WEEE (Waste electrical and electronic

US EPA (United State Environmental Protection

GSO (General Statistics Office) Tổng Cục Thống Kê

School of environmental science and technology

(INEST)

Viện Khoa học và Công

nghệ Môi trường

Trang 8

MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng thiết bị điện, điện

tử ở Việt Nam đang ngày càng gia tăng, phản ánh sự tăng trưởng trong thu nhập và mức sống của người dân, Việt Nam cũng đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế nên thuế nhập khẩu đối với các thiết bị điện, điện tử gia dụng được cắt giảm đáng kể Bên cạnh đó lượng lớn các loại thiết bị điện, điện tử gia dụng đã qua sử dụng vẫn đang tràn vào thị trường Việt Nam bằng các con đường không chính thức Mặt khác, tốc độ phát triển nhanh của khoa học công nghệ, đã mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho nền kinh tế quốc dân và tạo ra những sản phẩm tốt, sản phẩm công nghệ cao đa dạng về mẫu mã, giá cả cho người tiêu dùng, dẫn đến tuổi thọ trung bình của các loại thiết bị điện tử gia dụng rút ngắn lại đáng kể

Sau thời gian sử dụng, đến giai đoạn thải bỏ, điện tử gia dụng thải để lại những hậu quả ảnh hưởng lớn như số lượng thải tăng nhanh và khi không được xử lý khoa học sẽ trở thành chất thải nguy hại gây ô nhiễm không khí, nguồn nước…

Mặt khác, ở Việt Nam vấn đề rác thải điện tử những năm gần đây chưa có số liệu kiểm kê đầy đủ chính xác trên toàn quốc, Việt Nam cũng chưa có một hệ thống quản lý chất thải điện, điện tử gia dụng Đây là một thách thức lớn cho các ngành quản lý, các nhà khoa học trong việc tìm kiếm các phương pháp tính toán lượng thải

để có phương pháp quản lý, biện pháp xử lý nhằm bảo vệ môi trường

Từ tình hình thực tiễn phân tích ở trên, đề tài:

“Nghiên cứu áp dụng các phương pháp tính toán xác định lượng thải của chất thải điện tử gia dụng để dự báo lượng thải của một số thiết bị gia dụng điển hình ở

Việt Nam đến năm 2025’’

Việc nghiên cứu phương pháp kiểm kê, tính toán lượng và số lượng điện tử gia dụng thải có ý nghĩa lớn trong việc xác định khối lượng chất thải có nhiều nguy cơ gây ô nhiễm cho môi trường và sức khỏe cộng đồng, giúp các nhà quản lý chủ động xác định phương pháp quản lý, xử lý chất thải một cách hiệu quả Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu áp dụng các phương pháp tính toán xác định lượng thải của chất thải

Trang 9

điện tử gia dụng để dự báo lượng thải của một số thiết bị gia dụng điển hình ở Việt Nam đến năm 2025’’ có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu định lượng, quản lý hiệu quả điện tử gia dụng thải

Nội dung chính của luận văn gồm :

- Tổng quan về chất thải điện tử gia dụng

- Tổng quan các phương pháp kiểm kê điện tử gia dụng thải trên thế giới

- Nghiên cứu, lựa chọn đề xuất phương pháp kiểm kê chất thải điện tử gia dụng phù hợp trong điều kiện Việt Nam

- Áp dụng dự báo thống kê trên cơ sở phương pháp kiểm kê đề xuất, định lượng

xu hướng phát thải trong tượng lai và ước tính lượng thải bốn loại gia dụng điển hình đến năm 2025

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI ĐIỆN TỬ

GIA DỤNG 1.1 Chất thải điện tử gia dụng

Chất thải điện tử là tên gọi phổ biến chính thức cho các sản phẩm điện tử khi đến giai đoạn cuối của “ thời gian hữu ích’’, như: máy tính, ti vi, màn hình, các loại đầu đĩa, radio, máy nghe nhạc, thiết bị âm thanh nổi, điện thoại, máy photocopy, máy fax, tủ lạnh, máy giặt, điều hòa nhiệt độ, máy sấy, máy hút bụi, máy pha cà phê, lò nướng bánh…[29] Ti vi, tủ lạnh, máy giặt và điều hòa nhiệt độ là những thiết bị điện

tử không thể thiếu trong gia đình hay là những thiết bị điện tử gia dụng hữu ích trong cuộc sống hiện nay Theo quan điểm trên thì chất thải điện tử gia dụng là một phần trong chất thải điển tử khi đi vào dòng điện tử thải

Có thể tìm thấy nhiều tài liệu với các định nghĩa khác nhau về chất thải điện tử nói chung, chất thải điện tử gia dụng nói riêng như khối EU (2002), trong phụ lục VIII của công ước Basel hay trong nhiều văn bản pháp lý của các Quốc gia như Mỹ, Argentina, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan… Mỗi quốc gia trên thế giới có những định nghĩa riêng về chất thải điện tử nói chung, điện tử gia dụng thải nói riêng, các định nghĩa đều có tính chất cụ thể rõ ràng nhưng lại khác nhau

Theo Liên minh châu Âu (EU), chất thải điện tử bao gồm tất cả các thành phần, các kết nối nhỏ, các bộ phận phụ, hoặc là một phần hay toàn bộ sản phẩm tại thời điểm thải bỏ [18]

Theo quan điểm của Hoa Kỳ, tùy thuộc vào tổ chức hoặc quy định mà chất thải điện tử có thể bao gồm các loại thiết bị khác nhau của các hãng sản xuất khác nhau.Bao gồm tivi, máy tính, máy giặt, điều hòa và điện thoại di động [15]

Tại Việt Nam, các loại điện tử gia dụng như tivi, tủ lạnh, máy giặt, máy điều hòa nhiệt độ, máy tính cũ… không còn khả năng sử dụng gọi là chất thải điện tử gia dụng [11]

Việc phát triển nhanh ngành công nghiệp điện tử không chỉ tạo ra sản phẩm tốt cho người tiêu dùng mà còn sinh ra một lượng lớn chất thải rắn Lượng chất thải rắn ngày càng nhiều do nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng cùng với các quá trình thay

Trang 11

đổi mẫu mã, giá cả sản phẩm của nhà sản xuất ngày càng thỏa mãn thị hiếu của khách hàng Ở một khía cạnh khác, quá trình quản lý thu gom xử lý và tái chế chất thải điện tử, điện tử gia dụng còn hạn chế nên ảnh hưởng môi trường và sức khỏe con người [12]

1.1.1 Thành phần chất thải thiết bị điện tử gia dụng

Chất thải điện tử nói chung và chất thải thiết bị điện tử gia dụng nói riêng là không đồng nhất và phức tạp về thành phần cũng như loại vật liệu, tùy vào từng hãng, từng thời điểm sản xuất mà các sản phẩm có sự khác nhau về thành phần và khối lượng Theo nghiên cứu thì trong các chất được tìm thấy với số lượng lớn gồm: nhựa epoxy, Polychlorinated Biphenyls (PCBs), Polyvinyl Clorua (PVC), chì, thiếc đồng, sắt, nhôm,… Các chất được tìm thấy với số lượng nhỏ là: cadimi, thủy ngân, tali Các yếu tố được tìm thấy ở dạng vết là: antimon, asen, bari, vàng, niken, seli, bạc… [19]

Khi phân rã chất thải thiết bị điện, điện tử gia dụng ra ngoài môi trường chúng

ta sẽ gặp nhiều cấu kiện như: CPU, vi mạch, motor, dây điện, biến áp, tụ điện Trong việc đánh giá khả năng tái chế chất thải thiết bị điện, điện tử gia dụng người ta xem xét nó gồm: nhóm kim loại đen, nhóm kim loại màu, nhóm thủy tinh, plastic, cấu kiện điện tử và nhóm khác Trong đó nhóm kim loại đen chiếm 38%, nhựa là 19%, kim loại màu là 28%, và còn lại là các nhóm khác [19] Ở đây nhóm kim loại màu phải kể đến như: đồng, nhôm, bạc, chì, thủy ngân……

Thực tế trong chất thải thiết bị điện, điện tử gia dụng có thể gồm hơn 1000 chất khác nhau [22] và các chất thải này được chia thành 2 nhóm nguy hại và không nguy hại Nhóm nguy hại này khi phát tán trong môi trường sẽ gây ra những tác động nghiêm trọng đến sức khỏe và các hệ sinh thái xung quanh

Hiện nay, chất thải điện điện tử gia dụng đang là đối tượng dần được nghiên cứu nhiều vì chúng chứa thành phần nguy hại Trong đó, các tác động môi trường tiềm ẩn và những rủi ro lớn cho sức khỏe con người đều liên quan đến các hóa chất độc hại được tìm thấy trong chất thải điện tử gia dụng nếu như chúng không được xử

lý triệt để Đáng chú ý là các thành phần có chứa kim loại nặng như chì, thủy ngân,

Trang 12

cacdimi, crom và chất làm chậm cháy brom vì có thể làm phát sinh dioxin và furan trong quá trình đốt cháy Các thành phần nguy hại khác của chất thải điện tử được trình bày trong bảng 1.1 [12]

Bảng 1.1 Các chất nguy hại có thể có trong chất thải điện tử

Thành phần Loại chất nguy hại có thể có

Chất tải lạnh Chất làm suy giảm tầng ozon

Chất cách nhiệt Amiăng, gốm chịu nhiệt

Thủy tinh Chì, thủy ngân

CRT Chì, thủy ngân, antimon, phosphor

Bản mạch Chì, thủy ngân, antimon, BFRs

Đèn huỳnh quang Thủy ngân, phosphor, chất chậm cháy

Pin Chì, liti, cadimi, thủy ngân

Dây cáp điện BFRs, chất dẻo hóa

Bên cạnh đó, chất thải điện tử gia dụng cũng chứa một lượng đáng kể các kim loại quý và kim loại có giá trị [17] như trong các bảng sau:

Bảng 1.2 Thành phần nguyên liệu trong tủ lạnh

Vật liệu Khối lượng

(kg) % theo khối lượng

Trang 13

Bảng 1.3 Thành phần nguyên liệu trong ti vi

Vật liệu Khối lượng (kg) % theo khối lượng

TB (kg)

Kim loại đen

Kim loại màu

Thủy tinh Nhựa

Linh kiện điện

tử

Thành phần khác

Trang 14

1.1.2 Tuổi thọ trung bình của thiết bị điện tử gia dụng điển hình

Sự phát triển nhanh của công nghệ dẫn đến chất lượng, tính năng, kiểu dáng ngày càng đáp ứng được những đòi hỏi của người tiêu dùng, xong về tuổi đời của sản phẩm thì lại có xu hướng giảm xuống (tốc độ lỗi thời cao), chu trình sống của các thiết bị điện và điện tử [1] được biểu diễn:

Hình 1.1 Sơ đồ chu trình sống của các thiết bị điện điện tử

Việc thành lập chu trình sống một sản phẩm điện tử trong một ranh giới địa lý giúp xác định các mạng lưới/chuỗi liên kết sự khác nhau giữa các giai đoạn/khâu trong chu trình sống của các thiết bị điện tử và kết nối với các bên có liên quan Khi các chuỗi này được hình thành thì dòng vật chất được cân bằng, ví dụ như đầu vào và đầu ra cân bằng tại từng giai đoạn thì sẽ tạo ra cơ sở định lượng của chất thải điện tử trong các phân tích về chu trình sống của các thiết bị điện tử Mô hình dòng vật chất giúp xây dựng khái niệm chung về luồng vật chất chất thải điện tử Dưới đây là các

đặc tính nổi bật của mô hình này:

Tuổi thọ trung bình hay tỉ lệ lỗi thời là khoảng thời gian sau khi một thiết bị điện tử được sản xuất đến khi chúng không thể sử dụng được nữa.Nó có thể được định nghĩa trong các thuật ngữ như “hoạt động sống”, “sự sống thụ động” hay “sự lưu trữ”

Tuổi thọ trung bình = hoạt động sống + sự sống thụ động + sự lưu trữ

Tổng số các năm thiết bị có thể được sử dụng hiệu quả được gọi là “hoạt động sống” Sau khi kết thúc giai đoạn “hoạt động sống”, thiết bị sẽ được tân trang lại hay được tái chế trong một khoảng thời gian nào đó Khoảng thời gian này tạo nên sự sống thụ động Giai đoạn lưu trữ bao gồm thời gian lưu trữ trước khi tiêu hủy và lưu giữ trong các hiệu sửa chữa trước khi đem tháo dỡ

Trang 15

Theo một nghiên cứu tại Philippin [22], tuổi thọ trung bình của một số thiết bị điện tử gia dung như sau:

Bảng 1.5 Bảng thời gian sử dụng của một số loại thiết bị điện, điện gia dụng

STT Tên thiết bị Thời gian sống (năm)

Theo một nghiên cứu vào năm 2010 của Nhật Bản [4], thời gian sống hay tuổi thọ của một số thiết bị điện tử gia dụng như sau

Bảng 1.6 Bảng thời gian sử dụng của một số loại thiết bị điện, điện gia dụng

STT Tên thiết bị Thời gian sống (năm)

Tốc độ phát triển ngành công nghiệp điện tử diễn ra rất nhanh dẫn đến thời gian

sử dụng của các sản phẩm điện tử ngày càng rút ngắn, giá trị thời gian sử dụng các sản phẩm giảm dần

Tại các nước phát triển như Nhật Bản (bảng 1.6), tuổi thọ trung bình của các thiết bị điện tử thường ngang bằng với số năm “hoạt động sống”, trong khi đó tại các nước đang phát triển ví dụn như Philippin (bảng 1.5) tuổi thọ trung bình bằng tổng thời gian của ba giai đoạn hoạt động sống, sống thụ động và lưu trữ Vì vậy ở các quốc gia đang phát triển, một thị trường các thiết bị điện tử gia dụng đã qua sử dụng tồn tại sau quá trình hoạt động sống của chúng.Cả ba tham số này thay đổi trong các vùng địa

lí khác nhau Vì vậy tuổi thọ trung bình/ tỉ lệ lỗi thời của các thiết bị cũng thay đổi theo mỗi vùng địa lí và dẫn tới việc quản lí lượng chất thải điện tử khác nhau

Trang 16

Tốc độ lỗi thời cao đồng nghĩa với việc tốc độ sản sinh chất thải điện, điện tử gia dụng ngày càng tăng cao Do đó việc xây dựng ra một chương chình để tính toán,

dự báo khối lượng chất thải thiết bị điện, điện tử gia dụng là vô cùng cần thiết Từ đó các nhà quản lý vĩ mô có thể nắm được các số liệu về khối lượng chất thải cụ thể của các năm, đưa ra tính toán, cảnh bảo có cơ sơ về lượng chất thải của một số năm tới

Từ đó đưa ra các biện pháp, xây dựng các dự án để xử lý chúng

Tuổi thọ hay vòng đời của thiết bị điện tử hiện nay bị rút ngắn đến kinh ngạc,

và khi trở thành rác thải, chất thải điện tử chứa các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho môi trường và sức khỏe con người nên trên thế giới, các quốc gia, các vùng lãnh thổ đưa ra các cơ sở pháp lý, công ước, hiệp ước và các nghị định văn bản luật nhằm quản lý và hạn chế sự gia tăng của điện tử gia dụng thải

1.2 Hiện trạng điện tử gia dụng thải trên thế giới và tại Việt Nam

Công nghiệp điện tử được coi là một trong những ngành công nghiệp lớn và tăng trưởng nhanh trên thế giới Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ đồng nghĩa với các sản phẩm nhanh lỗi thời dẫn đến lượng chất thải điện tử, điện tử gia dụng đang là nguồn phát sinh dòng thải rắn nhanh nhất của công nghiệp thế giới hiện nay [18]

1.2.1 Hiện trạng điện tử gia dụng thải trên thế giới

1.2.1.1 Hiện trạng phát thải trên thế gới

Theo báo cáo của UNEP (United Nations Environment Programmer), lượng chất thải điện tử phát sinh trên toàn thế giới khoảng 50 triệu tấn trong năm 2005 [10]; vào năm 2010 là hơn 100000 tấn tủ lạnh thải, 275000 tấn tivi thải, 56300 tấn PC thải

và 1700 tấn điện thoại di động thải [18] Ở Mỹ, năm 2005 đã thải bỏ 1,36 - 1,72 triệu tấn chất thải điện tử chủ yếu vào bãi chôn lấp [18] Tổng số điện tử thải phát sinh trong 27 quốc gia EU (European Union) là khoảng 8,3-9,1 triệu tấn/năm vào năm

2005 Đây được xác định là một trong những dòng thải phát sinh nhanh nhất của EU với dự báo tổng lượng điện tử thải tăng lên 2,5-2,7% hàng năm, đạt đến 12,3 triệu tấn/năm vào năm 2020 [14]

Thực tế quản lý chất thải thiết bị điện, điện tử gia dụng là vấn đề mang tính chất toàn cầu bởi đó là vấn đề của tất cả các quốc gia Chất thải thiết bị điện, điện tử gia

Trang 17

dụng là loại chất thải có tốc độ gia tăng nhanh [24], với khoảng 20-50 triệu tấn mỗi năm [5] Các nước đang phát triển, chất thải thiết bị điện, điện tử gia dụng chiếm khoảng 1-2% tổng lượng chất thải rắn, còn ở các nước đang phát triển tỷ lệ này khoảng 0,01-1% [24]

Theo Silicon Valley Toxics Coalition, một tổ chức bảo vệ môi trường có trụ sở tại San Jose (California, Mỹ), mỗi năm có khoảng từ 20-50 triệu tấn chất thải điện tử, trong đó có khoảng 20-24 triệu tấn ti vi và máy tính chưa được xử lý Tại Châu Mỹ Latin, theo số liệu của Viện sinh thái quốc gia Mexico, 80% thiết bị điện và điện tử gia dụng ở các nước Mỹ Latin được thải bỏ ở các bãi rác hoặc chất gom tại nhà ở, cơ quan xí nghiệp, 15% được thu gom theo chương trình tái chế, 20% được tái sử dụng

và chỉ 1% được cấp chứng chỉ về xử lý môi trường

Các quốc gia có ngành công nghiệp điện tử phát triển nhất thế giới như EU,

Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Austrlia, lại chính là các quốc gia thải bỏ nhiều nhất các thiết bị điện và điện tử gia dụng Nhưng thay vì tái chế tại chỗ, các nước này chọn cách nhanh gọn hơn là xuất khẩu ra nước ngoài Phần lớn thiết bị điện, điện tử gia dụng thải nói riêng được xuất khẩu sang quốc gia đang phát triển dưới dạng đồ cũ để bán lại hoặc tái chế

Ở Hàn Quốc, hàng năm ước tính lượng chất thải điện tử gia dụng tăng 10% mỗi năm, đạt khoảng 20-30% của lượng thiết bị lỗi thời

Ở Trung Quốc, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của chất thải điện, điện

tử là 23,5%, lượng điện tử thải cao gấp ba lần chất thải thông thường [26] Trong năm 2006, đã có báo cáo về 4,6 triệu tivi, tủ lạnh 2,1 triệu, 2,5 triệu máy giặt, 1,4 triệu máy điều hòa nhiệt độ và 2 triệu máy tính bị loại bỏ ở Trung Quốc [31] Năm

2009, lượng thải gia dụng Trung Quốc có 48,43 triệu chiếc ti vi, 12,32 triệu tủ lạnh, 13,40 triệu máy giặt và 4,76 triệu điều hòa; năm 2010 các con số này là 55,73 triệu

chiếc, 11,87 triệu chiếc, 12,61 triệu chiếc máy giặt và 5,50 triệu điều hòa [10]

Ở Ấn Độ tổng lượng rác thải điện tử năm 2007 là 330000 tấn/năm và năm 2009

là 420000 tấn/năm Bên cạnh đó, mỗi năm có khoảng 50000 tấn rác thải điện tử trong

đó có chất thải điện tử gia dụng được nhập khẩu vào Ấn Độ [18]

Trang 18

Hiện trạng thu gom, tái sử dụng và tái chế chất thải điện tử gia dụng trên thế gới

Hệ thống quản lý chất thải điện tử trên thế gới bao gồm các chiến lược xử lý các thiết bị đã hết hạn sử dụng đi cùng với tiềm năng kinh tế và hiệu quả môi trường Một số mô hình thu gom, tái chế chất thải điện, điện tử gia dụng tại Mỹ

mà thiết bị hay bộ phận điện tử, điện tử gia dụng hỏng được sử dụng lại như mục đích ban đầu của chúng gồm tiếp tục sử dụng lại thiết bị hay từng bộ phận của thiết

bị đã qua các điểm thu gom Tái sử dụng rất quan trong để giảm thiểu chất thải tại bãi rác, giảm gánh nặng cho môi trường cũng như việc hạn chế việc phải tái chế chất thải điện tử Tuy nhiên tái sử dụng kéo dài tuổi thọ thụ động gây ra nguy cơ tăng tuổi thọ của các sản phẩm lỗi thời

Tái chế là một quá trình rất quan trọng của các chiến lược cuối cùng với chất thải điện tử, He và cộng sự đã cụ thể hóa các phương pháp tái chế khác nhau như cơ

Trang 19

học và vật lý Đối với chính phủ Trung Quốc từ lâu đã rất quan tâm đến tình trạng tái chế chất thải điện tử Mục tiêu tái chế chính là hai nguồn thải đồ điện tử gia dụng và máy tính

1.2.1.2 Quản lý điện tử gia dụng thải một số quốc gia trên thế giới

Trước thực trạng chất thải điện tử, điện tử gia dụng đang tăng nhanh đột biến có nguy cơ gây hiểm họa đối với nhân loại, nhiều tổ chức quốc tế, các vùng lãnh thổ và các quốc gia đã xây dựng các điều luật và các quy định để ứng phó với thực trạng này Có rất nhiều điều luật, quy định được đưa ra nhằm mục đích là quản lý tốt hơn nguồn chất thải điện tử Dưới đây là tóm tắt một số quy định, sang kiến

Một số chỉ thị về chất thải điện, điện tử nói chung điện tử gia dụng nói riêng của liên minh châu Âu [8]

Chỉ thị về chất thải điện, điện tử

Mục đích của chỉ thị về chất thải điện tử là để hạn chế ảnh hưởng tới môi trường của các mặt hàng điện, điện tử thải bằng cách tái sử dụng nhằm mục đích giảm số lượng chất thải điện tử cần chôn lấp.Để đạt được mục tiêu này, các nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về tài chính cho việc thu gom, xử lý và phục chế các thiết

bị điện tử thải và các nhà phân phối buộc phải nhận lại các thiết bị điện tử thải từ người tiêu dùng Chỉ thị được áp dụng vào năm 2005, nội dung chính của chỉ thị là thiết kế sản phẩm, thu gom đơn lẻ, xử lý… Chỉ thị đã được nghị viện châu Âu áp dụng vào năm 2005, với nội dung chính là thiết kế sản phẩm, thu gom đơn lẻ, xử lý… WEEE được thu gom riêng từ chất thải đô thị chưa được phân loại

Chỉ thị quy định cho các nhà sản xuất về chi phí thu gom, xử lý, phục chế và thải bỏ các sản phẩm mà họ sản xuất Chất thải điện tử được thug om riêng từ chất thải đô thị chưa được phân loại Để đạt được điều này thì các nhà sản xuất phải xây dựng điểm các điểm thu gom chất thải công cộng thuận lợi cho các hộ gia đình dễ dàng thải bỏ miễn phí các thiết bị điện, điện tử hỏng

Ảnh hưởng toàn cầu của chỉ thị về chất thải điện tử nói chung, điện tử gia dụng thải nói riêng là rất lớn vì nó sẽ được áp dụng với các nhà sản xuất và phân phối trên thế giới mà xuất khẩu thiết bị điện, điện tử đến châu Âu

Trang 20

Chỉ thị về việc hạn chế chất thải nguy hại hay (RoHS)

Chỉ thị về việc hạn chế chất nguy hại được xây dựng bởi nghị viện Châu Âu năm

2003 đã nhận thấy một thực tế rằng không phải các chất nguy hại trong chất thải điện tử đều có thể tái chế hay hủy đi trong môi trường, vì vậy cần đưa ra luật cấm sử dụng một số chất nhất định trong các thiết bị điện tử Chỉ thị về hạn chế các chất thải nguy hại áp dụng với các thiết bị điện, điện tử mới trên toàn châu Âu và có hiệu lực từ 01/07/2006, chỉ thị này còn được áp dụng ở một số nước châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc vì các nước này

là nhà xuất khẩu các thiết bị điện tử lớn nhất sang châu Âu Chỉ thị này đã đưa 6 chất cần quan tâm là chì, thủy ngân, cacdimi, crom, polybrominated biphenyls (BBP) và polybrominated diphenyl ethers (PBDE)

Quy định về chất thải điện tử tại Mỹ

Mỹ nổi tiếng là một trong số các nhà sản xuất chất thải điện tử lớn nhất thế giới

Sự phát triển của công nghệ platma thay thế công nghệ bóng hình, văn phòng kiểm toán chính phủ Mỹ (GAO) báo cáo có hơn 100 triệu máy tính, màn hình máy tính và tivi đã trở nên lỗi thời, hàng năm con sồ này còn tiếp tục tăng GAO còn đưa

ra dữ liệu trung tâm bảo vệ môi trường Mỹ (USEPA) chỉ ra có hơn 4 triệu màn hình máy tính và 8 triệu tivi bị thải tại bãi rác mỗi năm và chỉ 19 triệu máy tính được tái chế năm 2005

Vì không có luật liên bang nên mỗi bang nên mỗi bang lại áp dụng luật về chất thải điện tử riêng như lệnh cấm vứt chất thải điện tử ở bãi rác và đưa ra luật tái chế rõ ràng Có

ít nhất 16 bang, và New York đã đưa ra đề xuất về luật tái chế 2007 với hai hình thức thu phí tái chế trước hoặc là mở rộng trách nhiệm cho nhà sản xuất [7]

Quy định về chất thải điện tử tại Australia

Vào năm 2009, chính phủ Australia đã chính thức xác nhận một chích sách quốc gia mới về chất thải Với tầm nhìn mười năm về việc thu hồi nguyên liệu và xử

lý chất thải Chính phủ tuyên bố dự án tái chế ti vi và máy tính sẽ pháp triển và thực thi các yêu cầu trong khuân khổ quản lý các sản phẩm quốc gia để đảm bảo rằng các nhà sản xuất và nhận khẩu ti vi, máy tính đang thiết lập một dự án quốc gia hiệu quả

về thu gom và tái chế các sản phẩm hỏng [8]

Trang 21

Quy định về chất thải điện tử tại Canada

Việc quả lý chất thải điện tử đang nhanh chóng trở thành chính sách cộng đồng

ở Canada.Theo ước tính hàng năm khoảng 14.000 tấn thiết bị điện tử bị chất thành đống ở các bại rác ở Canada

Ở Canada luật về chất thải điện tử được giao cho các tỉnh và vùng lãnh thổ ban hành Alberta là tỉnh đầu tiên của Canada ban hành luật tái chế chất thải riêng Năm

2007 tỉnh British Columbia đã ban hành luật nhà tiêu dùng và các doanh nghiệp trong tỉnh có thể thải chất thải điện tử của họ mà không phải trả phí tái chế Phí bảo

vệ môi trường sẽ được thu theo giá của các sản phẩm mới theo các mặt hàng đã phân loại để chi trả cho chương trình [8]

Quy định về chất thải điện tử tại Nhật Bản

Luật khuyến khích sử dùng nguồn tài nguyên hiệu quả của Nhật Bản được xem xét vào năm 2001 đối với việc cung cấp máy tính cá nhân Tháng 4 năm 2001 luật quy định tái chế tất cả các máy tính hỏng cho các doanh nghiệp.Tháng 10 năm 2003 luật này yêu cầu các hộ gia đình phải có trách nhiệm tái chế các máy tính hỏng đó Hiệp hội điện tử và công nghệ thông tin Nhật Bản (JEITA) đã nhận vai trò bổ sung luật bằng cách thay mặt nhà sản xuất tổ chức tái chế các máy tính hỏng Luật đã đưa ra hai cấu trúc tài chính khác nhau đối với máy tính đã qua sử dụng Ngày 01/07/2006 khi văn bản về hạn chế sử dụng chất nguy hại (RoHS) được giới thiệu một luật bổ sung về khuyến khích sử dụng tài nguyên có hiệu quả Luật bổ sung này quy định nhà sản xuất phải công bố các thành phần nguyên liệu cho các sản phẩm điện tử nhất định sau ngày 01/07/2006 Nhà sản xuất và nhập khẩu phải gián nhãn hiệu sản phẩm và cung cấp thông tin về sáu chất nguy hại được hạn chế ở Châu Âu.Ngoài ra các nhà sản xuất và nhập khẩu phải hưởng ứng tiêu chuẩn thiết kế vì môi trường đã được yêu cầu với các nhà sản xuất trong nước [8]

Quy định về chất thải điện tử tại Hàn Quốc

Các luật liên quan đến chất thải điện tử ở Hàn Quốc được hình thành từ năm

1992, dựa và đạo luật kiểm soát chất thải, hệ thống đầu tư và hồi vối từ chất thải đã được đưa ra Năm 1997 ti vi, máy giặt, điều hòa, tử lạnh được đưa và hệ thống này

Trang 22

Đến năm 2003 việc mở rộng trách nhiệm cho nhà sản xuất được đưa ra với các thiết

bị này để buộc nhà sản xuất có trách nhiệm với toàn bộ vòng đời các sản phẩm của

họ Bắt đầu từ ti vi, tủ lạnh, máy giặt được lựa chọn để thực hiện trước, sau đó là các thiết bị nghe nhìn và điện thoại và năm 2005

Ngày 02/04/2007 Hội đồng quốc gia Hàn Quốc thông qua “đạo luật về các nguyên liệu được tái chế từ các sản phẩm điện tử và điện thoại” Luật này tương tự chỉ thị về hạn chế sử dụng các chất nguy hại, chỉ thị về chất thại điện tử ở Châu Âu, nhưng luật này còn chưa thêm một số điều cụ thể của Hàn Quốc [8]

Quy định về chất thải điện tử tại Trung Quốc

Trung Quốc được xem là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhất trên thế giới, và cũng là quốc gia xuất khẩu các sản phẩm điện tử lớn nhất thế giới, vượt trên cả Nhật Bản, lien minh Châu Âu và Mỹ Theo ước tính tổng lượng thải điện tử nói chung 1,11 triệu tấn mỗi năm mà chủ yếu là nguồn trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài

Ngày 5/3/2009 Trung Quốc ban hành “Luật hành chính về việc phục hồi, vướt

bỏ các sản phẩm điện, điện tử hỏng” [8]

Quy định về chất thải điện tử tại Ấn Độ

Ở Ấn Độ, chất thải điện tử cũng là một vấn đề quan trọng Hiện hay Ấn Độ vẫn chưa có khung luật chính thức nào về chất thải điện tử ở cấp quốc gia Chính phủ đưa ra một số bước để đối mặt với vấn đề các thiết bị điện tử đã được nhập khẩu vào

Ấn Độ Bộ Trưởng công nghệ thông tin và truyền thông đã phát triển các chính sách cấm nhập khẩu các máy tính cũ gồm cả máy tính cá nhân và máy tính sách tay [8]

Công ước Basel

Tên gọi chính thức là công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển chất thải nguy hại và chất thải không thể tái chế xuyên biên giới Công ước Basel là một hiệp định về môi trường toàn cầu rõ ràng nhất về về chất thải nguy hại Mục đích chính của công ước là bảo vệ sức khỏe con người và môi trường trước các ảnh hưởng xấu gây ra từ việc vận chuyển và vứt bỏ chất thải nguy hại xuyên biên giới Công ước có hiệu lực vào ngày 05/05/1992; 3/2009 có 172 quốc gia, đảng phái tham gia công ước Năm 1995 đề xuất lệnh cấm Basel được bổ sung vào công ước Basel nhằm ngăn

Trang 23

chặn chất thải độc hại từ các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế (OECD) sang những nước không thuộc tổ chức này Năm 2005 công ước Basel với

sự ủng hộ của chính phủ Nhật Bản đã tuyên bố quan hệ đối tác công ước Basel về quản lý môi trường trong sạch với chất thải điện, điện tử khu vức Châu á Thái bình dương [8]

Những quy định, công ước trên đã được thể hiện cụ thể ở nhiều quốc gia, các vùng lãnh thổ trên thế giới Tuy nhiên toàn cầu chưa có một quy định chung để giải quyết một cách triệt để vấn nạn đối với chất thải điện, điện tử gia dụng Từ các quy định và công ước của các vùng lãnh thổ và các quốc gia phát triển, hy vọng một ngày nào đó sẽ là tiếng nói chung của toàn nhân loại về thải điện tử thải [8]

1.2.2 Hiện trạng chất thải điện tử gia dụng tại Việt Nam

1.2.2.1 Hiện trạng phát thải điện tử gia dụng

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt 5,4% trong năm 2013, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân 3 năm 2011-2013 đạt 5,6% Quy mô của nền kinh tế đạt mức 176

tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 1 960 USD Đời sống người dân

đã được nâng lên, kéo theo nhu cầu tiêu dùng thiết bị điện, điện tử gia dụng cũng tăng nhanh Hiện tại, không kể ở những thành thị mà ngay cả những vùng nông thôn thì các thiết bị điện, điện tử gia dụng như TV, tủ lạnh, máy giặt, điện thoại …không còn xa lạ với người dân nữa, chúng xuất hiện ngày càng nhiều và đang chở thành thứ thiết yếu của các hộ gia đình Mặt khác, số lượng lớn thiết bị điện tử đã qua sử dụng tràn vào thị trường Việt Nam theo nhiều con đường không được kiểm soát, và nhất là tuổi thọ trung bình của điện, điện tử gia dụng ngày càng giảm mạnh là nguyên nhân chính để chất thải điện tử gia dụng trở thành một trong những vấn đề môi trường Việt Nam sản xuất trên 2,8 triệu ti vi, 1 540 900 tủ lạnh, 467 400 máy giăt, 343

700 điều hòa vào năm 2010 Các con số trong năm 2011 là 3,2 triệu cái tivi, trên 1,2 triệu tủ lạnh, 679 900 cái máy giặt, 350 800 cái điều hòa (GSO) Tỉ lệ chủ sở hữu những chiếc tivi màu đã tăng qua các năm Theo báo cáo thường niên, thống kê hàng năm về hàng điện tử trung bình, thị trường điện tử tăng hơn 20% từ 1,119 triệu USD năm 2003 đến khoảng 4 tỉ USD năm 2008 [7]

Trang 24

Mặt khác, sản phẩm điện tử gia dụng trên thị trường ngày càng đa dạng thương hiệu

và giá.Các nguồn cung cấp thiết bị điện, điện tử gia dụng có thể là sản phẩm của ngành công nghiệp điện tử trong nước hay nhập khẩu (kể cả nhập khẩu đã qua sử dụng) Các thương hiệu thiết bị điện, điện tử gia dụng chiếm thị phần lớn ở thị trường Việt Nam như: Sam sung, Sony, LG, Panasonic, Sharp, Toshiba, Dell, IDM…

Ở Việt Nam không có nhiều nghiên cứu và báo cáo về số lượng chất thải điện

tử, điện tử gia dụng Điều này cho thấy một thực tế rằng chất thải điện tử, điện tử gia dụng chưa được nhiều sự quan tâm từ phía chính sách xã hội và các nhà khoa học trong nước Về số lượng chất thải điện tử, một nghiên cứu của Công ty môi trường

đô thị Hà Nội (URENCO Hanoi) thống kê năm 2006, khoảng 365 nghìn tivi, 131,5 nghìn máy tính, 231 nghìn tủ lạnh, 5 nghìn điều hòa và 273 nghìn máy giặt bị thải

bỏ Năm 2020, những con số này là 4,8 triệu, 2,3 triệu, 873 nghìn và 2,6 triệu như bảng sau

Bảng 1.7 Số lƣợng các thiết bị điện tử thải đi đến năm 2020 ở Việt Nam

Năm Ti vi Máy tính Tủ lạnh Điều hòa Máy giặt

Trang 25

Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác, việc tái sử dụng các thiết bị điện tử đã qua sử dụng đã làm phát sinh nhu cầu tiêu dùng và qua đó hình thành nên một thị trường rộng lớn các thiết bị đã qua sử dụng vì những thuận lợi mà thị trường này đem lại: giá cả sản phẩm cũ thấp, kéo dài tuổi thọ của thiết bị và làm giảm lưu lượng của rác thải điện tử Tuy nhiên, theo khảo sát thị trường cho thấy thu nhập người dân tăng lên dẫn đến làm giảm thị trường thiết bị đã qua sử dụng này [12]

1.2.2.2 Hiện trạng thu gom, tái sử dụng và tái chế chất thải ở Việt Nam

Khác với các loại chất thải thông thường, chất thải điện tử gia dụng thường được thu gom, tái sử dụng và tái chế với tỷ lệ cao do có chứa các vật liệu có giá trị và kim loại quý hiếm

Tại Việt Nam, chất thải điện tử gia dụng chủ yếu được thu gom bởi những người thu mua phế liệu từ các hộ gia đình, các cửa hàng đồ điện tử cũ và được tái chế thủ công bởi các làng nghề như: Làng nghề tái chế nhựa Minh Khai - Văn Lâm - Hưng Yên, Làng nghề tái chế chì Đông Mai -Văn Lâm - Hưng Yên, Làng nghề tái chế kim loại màu Văn Môn - Yên Phong - Bắc Ninh

Hầu hết chất thải điện tử được phân loại tại nguồn, những chất thải điện tử có khả năng tái sử dụng và tái chế được bán cho các đơn vị tái chế, còn chất không tái chế được thì được công ty môi trường đô thị thu gom, vận chuyển và hợp đồng xử lý

Trang 26

Tái chế chất thải điện tử gia dụng là một chủ đề quan trọng không chỉ ở khía cạnh xử lý chất thải mà còn ở khía cạnh thu hồi các vật liệu có giá trị và được coi là nguồn tài nguyên thứ cấp

Ở các nước đang phát triển việc tái chế chất thải điện tử phần lớn chưa được kiểm soát hết mà chỉ dừng ở thu hồi các vật liệu có giá trị ở các hộ gia đình, các làng nghề hoặc các doanh nghiệp tư nhân nhỏ với các phương pháp thô sơ, thủ công Thiết bị và phụ tùng được đốt ở ngoài trời để tuyển các kim loại, các kim loại được hòa tách với cyanua hoặc các axit mạnh mà không có biện pháp bảo vệ hoặc xử lý dòng thải, các thành phần thải được thải bỏ trực tiếp vào môi trường Nhiều tác động môi trường từ các hoạt động này xảy ra ở 3 cấp độ:

- Giải phóng chì và thủy ngân từ chính các sản phẩm khi chôn lấp

- Dioxin hình thành trong quá trình đốt của các nhựa halogen hóa hoặc nấu chảy mà không có hệ thống xử lý khí thải phù hợp

- Từ các hóa chất trong quá trình tái chế, hỗn hợp khí nitơ và dòng thải từ quá trình hòa tách, thủy ngân từ hỗn hống để thu hồi vàng và bạc

Ở các nước phát triển, tái chế chất thải điện tử có thể chia thành 3 bước chính

- Tháo dời: tháo dời một cách chọn lọc, nhằm mục tiêu vào các thành phần có giá trị và độc hại để xử lý đặc biệt

- Làm giàu: sử dụng quá trình hóa học và quá trình luyện kim để làm giàu những vật liệu mong muốn, tức là chuẩn bị vật liệu cho quá trình tinh chế

- Tinh chế: Các vật liệu đã làm giàu được xử lý lại hoặc được làm sạch bằng quá trình tinh luyện

Ở Việt Nam thông tin về tái chế và tái sử dụng chất thải điện tử gia dụng chưa

có nhiều, tuy nhiên tiềm năng để tái chế điện tử thải là rất cao (khoảng 80% trong tổng số chất thải điện tử có thể tái chế) Tái chế chất thải là một chủ đề quan trong để thu hồi các vật liệu có giá trị và được coi là nguồn tài nguyên thứ cấp

Nhưng công nghiệp tái chế ở Việt Nam là thủ công, nhỏ lẻ, theo hộ gia đình, chủ yếu là tái chế sắt, đồng, nhôm, chì và nhựa Tái chế thủ công mang lại hiệu quả thấp lại gây ô nhiễm môi trường Cho đến nay Việt Nam chỉ có số ít bài nghiên cứu

Trang 27

về tái chế chất thải điện tử và chủ yếu là ở INEST.Theo cơ quan bảo vệ môi trường

Mỹ (United State Environment Protection Agency), xác định bảy lợi ích khi sử dụng sắt và thép phế liệu thay vì sử dụng vật liêu là quặng sắt và than để sản xuất thép mới

Tái sử dụng trực tiếp: Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng… Các thiết bị điện tử gia dụng còn sử dụng được có thể chuyển quyền sử dụng cho người khác ở ngoại thành hay người có thu nhập thấp, mức sống thấp hơn, hoặc bán lại cho người thu mua Tiếp theo là các cơ sở xử lý, tại đây tùy tình trạng của chúng mà có cách thức xử lý khác nhau: Tháo dỡ để phân loại những phần sử dụng được; sửa chữa/tân trang và phần có thể tái sử dụng từ công đoạn tháo dỡ được sửa chữa/tân trang, sau đó sản phẩm này đưa trở lại thị trường với giá rẻ hơn chất lượng thấp hơn; tái chế giúp tận thu vật liệu làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp nhỏ

Một thực tế là vấn đề chất thải điện tử vẫn chưa thực sự nhận được sự quan tâm nhiều của các nhà khoa học ngay cả khi nó có tiềm năng lớn để thu hồi các nguyên liệu cũng như vấn đề bảo vệ môi trường Đây sẽ là một vấn đề lớn khi mà lượng chất thải điện tử tăng nhanh và một hệ thống quản lý riêng là rất cần thiết [26]

Việc tái sử dụng các loại chất thải điện tử gia dụng ở Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu là sử dụng lại các thiết bị đã dùng hoặc tháo các linh kiện có thể thay thế hoặc sửa chữa Theo cơ quan bảo vệ môi trường Mĩ, có rất nhiều ưu điểm khi sử dụng vật liệu tái chế từ đồ điện tử thải

1.2.2.3 Các cơ sở pháp lý quản lý điện tử gia dụng thải tại Việt Nam

Ở Việt Nam tất cả các thiết bị điện, điện tử và các bộ phận của chúng được xem

là loại chất thải nguy hại Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 quy định về quản lý chất thải nguy hại Thông

tư này có hiệu lực thực thi từ ngày 01/06/2011, thay thế Thông tư số BTN MT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng kí cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại

Trang 28

12/2006/TT-Xem chất thải điện tử nói chung, điện tử gia dụng thải nói riêng là loại chất thải nguy hại, có một số luật liên quan đến chức năng và trách nhiệm của Nhà nước và các trung tâm môi trường địa phương, (Luật sửa đổi bổ sung của Luật bảo vệ môi trường và Nghị định 80/2006/NĐ-CP ra ngày 8/8/2004) về quản lý, thu gom, vận

chuyển và xử lý chất thải điện tử Gần đây nhất là Quyết định số 50/2013/QĐ-TTg

của Thủ tướng Chính phủ Quyết định quy định về thu hồi và xử lý sản phẩm thải bỏ (Điều 3 Chương 1 Danh mục sản phẩm thải bỏ, thời điểm thu hồi và xử lý) Quy định ti vi, tủ lạnh, máy giặt và điều hoà nhiệt độ thời điểm thu hồi và xử lý là

01/01/2016 Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và Uỷ

ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện Quyết định

Ở Việt Nam và nhiều nước đang phát triển khác, chất thải điện tử được coi là một nguồn lợi hơn là xem xét như một yếu tố gây tác động đến môi trường, đặc biệt

là với các thiết bị đã qua sử dụng… Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn không có nhiều thông tin về mức độ và tiềm năng của thị trường này, cũng như việc đóng góp của nó cho việc quản lý chất thải điện tử [2]

Các văn bản pháp lý có liên quan:

1 Luật bảo vệ môi trường 2005

Cơ sở cho việc quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở Việt Nam

2 Quyết định số 50/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Quyết định quy

định về thu hồi và xử lý sản phẩm thải bỏ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25/12/2001

Căn cứ Luật bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005

Căn cứ Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường Theo đề nghị của Bộ tài nguyên và môi trường

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định quy định về thu hồi và xử lý sản phẩm thải bỏ

3 Nghị định số 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật

Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài

Trang 29

Đưa ra danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu và bị kiểm soát xuất nhạp khẩu (trong 3 phụ lục)

4 Thông tư số 04/2006/TT-BTM của Bộ thương mại hướng dẫn một số nội

dung quy định tại nghị định số 12/2006/NĐ-CP Danh mục hàng điện tử, thiết bị làm mát và đồ dùng dân dụng dã qua sử dụng bị cấm nhập khẩu

5 Quyết định số 20/2006/QĐ-BBCVT của Bộ bưu chính - viễn thông về việc

ban hành danh mục sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cấm nhập khẩu

6 Quyết định số 12/2006/QĐ-BTNMT của Bộ tài nguyên và môi trường về việc

ban hành danh mục phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản phẩm

7 Quyết đinh số 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ tài nguyên và môi trường về việc

ban hành Danh mục chất thải nguy hại

Chất thải thiết bị điện, điện tử gia dụng được xem là chất thải nguy hại

8 Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ tài nguyên và môi

trường hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng kí cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại

Chất thải thiết bị điện, điện tử gia dụng phải được đăng ký

Chôn lấp hay vận chuyển chất thải thiết bị điện, điện tử gia dụng phải được sự đồng ý đặc biệt của cơ quan quản lý nhà nước

Xuất khẩu chất thải thiết bị điện, điện tử phải tuân theo công ước Basel

9 Công ước Basel Việt Nam ký kết 13/3/1995

Nhìn chung: Việt Nam chưa có điều luật hay hướng dẫn cụ thể nào về việc quản

lý điện tử gia dụng thải Việc phân loại vẫn chưa được áp dụng, điều này làm cho việc kiểm soát chất thải điện tử càng trở nên khó khăn Bên cạnh đó, hệ thống quản

lý vẫn còn chưa hiệu quả nên không thể kiểm soát hết được hành vi vi phạm Điều này làm cho việc kiểm soát chất thải điện tử trở nên khó khăn Một trong những lý

do quan trọng là chất thải điện tử được xem là nguồn tài nguyên có ích hơn là vấn nạn môi trường

Trách nhiệm của người thi hành luật vẫn chưa được quy định rõ ràng Theo luật bảo vệ môi trường năm 2005, nhà sản xuất phải có trách nhiệm thu gom và xử lý các

Trang 30

sản phẩm thải ra theo quy định Tuy nhiên, không có tổ chức nào giám sát việc thực thi trách nhiệm này

Giống như các nhà sản xuất và người tiêu dùng, các cở sở tái chế cũng không có bất

cứ trách nhiệm gì với chất thải điện, điện tử gia dụng theo như luật bảo vệ môi trường

Quyết định số 50/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Quyết định quy định về thu

hồi và xử lý sản phẩm thải bỏ Hy vọng quyết định này sẽ thực thi hiệu quả trong thời điểm này

Không chỉ tại Việt Nam mà trên thế giới đều nhìn nhận:

 Lượng thải điện tử đang tăng nhanh chóng

 Khi trở thành rác thải, điện tử gia dụng không được xử lý hợp lý nguy cơ ô nhiễm môi trường cao

 Tận dụng điện tử thải để tái chế thu hồi nhiều vật liệu cho sản xuất

Để có được số liệu phát thải từng năm, dự báo lượng thải trong tương lai cần có những phương pháp kiểm kê phù hợp Chính vì vậy nghiên cứu các phương pháp kiểm kê là cần thiết để góp phần đánh giá những tiêu chí kiểm kê của từng phương pháp giúp lựa chọn, tiếp cận phương pháp thích hợp kiểm toán cho điện tử gia dụng điển hình tại Việt Nam

Trang 31

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP KIỂM KÊ LƯỢNG THẢI

ĐIỆN TỬ GIA DỤNG TẠI VIỆT NAM

Trước hiện trạng điện tử gia dụng thải ở Việt Nam, để có phương pháp quản lý

xử lý các cơ quan quản lý cần có số liệu kiểm kê về lượng thải Việc kiểm kê số lượng điện tử gia dụng thải có ý nghĩa và vai trò tiên quyết để đưa ra chính sách quản

lý, phương thức xử lý và chiến lược dài hạn giải quyết chủ động đối phó những rủi ro môi trường tiềm ẩn do rác thải điện tử gia dụng gây ra ở hiện tại và trong tương lai Một chu trình sốngcủa một sản phẩm điện tử gia dụng từ khi được sản xuất ra đến khi trở thành điện tử gia dụng thải trải qua 4 giai đoạn:

Giai đoạn I: Quá trình làm việc/qui trình/hoạt động của thiết bị: sản xuất và bán các thiết bị điện điện tử gồm có các bước là nhập khẩu, xuất khẩu và đầu vào của thiết bị cho việc tái sử dụng từ việc sửa chữa các thiết bị điện tử bị thải ra

Các bên liên quan: Nhà sản xuất, công ty xuất khẩu, nhập khẩu và đại lý bán lẻ Giai đoạn II: Quá trình làm việc/qui trình/hoạt động của thiết bị: tiêu thụ các thiết bị điện điện tử, sử dụng các thiết bi điện điện tử trong các hộ gia đình, văn phòng và công nghiệp

Các bên liên quan: người tiêu dùng là hộ gia đình, các khu vực kinh doanh là văn phòng và công nghiệp

Giai đoạn III: Quá trình làm việc/ qui trình/hoạt động của thiết bị: thu gom các thiết bị đã hết hạn sử dụng bao gồm việc vận chuyển tới các khu vực xử lý/thanh lý WEEE, xuất khẩu/nhập khẩu

Các bên liên quan: người tiêu dùng, công ty xuất nhập khẩu, người thu gom, thương nhân, các thợ tháo rỡ thiết bị điện tử, và các nhà khai thác xử lý điện tử gia dụng thải Giai đoạn IV: Quá trình làm việc/ qui trình/hoạt động của thiết bị: lựa chọn xử lý/thanh lý cho các điện tử gia dụng thải ví dụ như các bước sửa chữa, làm sạch, tháo

dỡ, nghiền vụn, chôn lấp và thiêu hủy

Nguồn: Chất thải từ các thiết bị điện tử (WEEE)- các định lương, các chất và các phương pháp xử lý CTĐT nguy hiểm của tác giả EEA Copenhagen năm 2003

Trang 32

Dựa trên chu trình sống của sản phẩm điện, điện tử gia dụng một số quốc gia phát triển, đang phát triển có những phương pháp tính toán nghiên cứu về WEEE được hình thành để tính toán lượng thải WEEE như sau:

2.1 Các phương pháp kiểm kê lượng thải điện tử gia dụng

2.1.1 Phương pháp mô hình hóa

2.1.1.1 Nội dung của phương pháp mô hình hóa

Tên phương pháp: Mô hình hóa kết hợp sử dụng các phương pháp phân phối

Weibull, hàm logistic và mô hình cân bằng dân số

Phương pháp Mô hình hóa tính toán số lượng điện tử thải và xu hướng lượng

thải trong tương lai theo các bước sau:

+ Sử dụng thông tin về tuổi thọ trung bình thu được từ cuộc điều tra và các dữ liệu về sản phẩm điện tử từ điều tra của Tổng cục Thống kê (GSO) để tính toán dự báo xu hướng chất thải điện tử trong tương lại

+ Số lượng các chất thải được tính theo mô hình cân bằng dân số

Nghiên cứu sử dụng hàm mật độ phân bố xác suất, tính toán dựa trên mức thu nhập để ước tính, dùng phương pháp phân phối Weibull và mô hình cân bằng dân số

để dự đoán về nhu cầu sử dụng và phát thải các thiết bị điện tử trong tương lai

2.1.1.2 Ưu, nhược điểm của phương pháp

+ Sử dụng thông tin về tuổi thọ trung bình của mỗi ứng dụng thu được từ cuộc điều tra và các dữ liệu về sản phẩm điện tử từ điều tra của GSO để tính toán xu hướng trong tương lai cho chất thải điện tử (CTĐT)

+ Số lượng các chất thải được tính theo mô hình cân bằng dân số của ông Tasaki và các đồng nghiệp

2.1.2 Phương pháp bước nhảy thời gian

2.1.2.1 Nội dung và công thức tính toán

Tính toán lượng chất thải điện tử gia dụng dựa trên cơ sở thời gian lưu trữ cá nhân, công nghiệp và cơ sở dữ liệu về doanh số bán các thiết bị điện tử Lượng các chất thải điện tử tiềm năng trong suốt khâu thu gom tại thời điểm t được tính bằng sự chênh lệch trong các cấp dự trữ các thiết bị cá nhân và thiết bị công nghiệp trong

Trang 33

suốt khâu tiêu thụ giữa 2 điểm tại thời điểm t cộng với doanh số trong thời gian đó trừ đi lượng rác điện tử được thải ra hàng năm trong khỏang thời gian đó cho tới thời điểm t-1 Theo toán học thì phương pháp bước nhảy thời gian được tính theo công thức sau:

Stock private = số hộ gia đình x mức bão hòa của hộ gia đình/100

Stockin dustry = số nơi làm việc x mức độ bão hòa trong công nghiệp/100

2.1.2.2 Các điều kiện cần, hạn chế và thuận lợi

 Các điều kiện cần

Thông tin về doanh số bán các sản phẩm điện tử gia dụng trong nước thu được

từ các thống kê về sản xuất, và xuất nhập khẩu

Số liệu lưu trữ thiết bị điện tử bão hòa được xác định trước tại các hộ gia đình

Tính toán có thể được thực hiện rất dễ dàng

Phương pháp đem lại các kết quả tích cực trong một thị trường bão hòa

2.1.3 Phương pháp cung thị trường

2.1.3.1 Nội dung và công thức tính

Lượng chất thải được tính toán từ dữ liệu doanh số bán sản phẩm với tuổi thọ điển hình của thiết bị Lượng chất thải tiềm năng trong khâu thu gom tại thời điểm t được tính từ các số liệu bán hàng và thông tin về mô hình tiêu thụ Việc bán các sản

Trang 34

phẩm điện tử cùng với việc tái sử dụng lại các thiết bị đã sử dụng, cần một thời gian xác định trong một quy trình tiếp theo

Theo tính toán, phương pháp cung thị trường được tính theo công thức sau: WEEE generation (t) = sales (t - dN) + reuse (t - dS)

dN - Tuổi thọ trung bình của các thiết bị điện tử mới

dS - Tuổi thọ trung bình của các thiết bị điện tử đã qua sử dụng

Điều kiện cần:

1 Thông tin về các doanh số bán được lấy từ các thống kê sản xuất và xuất khẩu

2 Tuổi thọ trung bình của các thiết bị mới (tuổi thọ chủ động) khác với tuổi thọ trung bình của các thiết bị đã qua sử dụng (tuổi thọ bị động)

Hạn chế:

Tuổi thọ trung bình có thể đạt đến một mức lớn, các thiết bị điện và điện tử tại các nước phát triển thường được thay thế trước khi chúng không thể dùng được nữa

Chất thải điện tử thường được lưu trữ trong nhiều năm

Giả sử các thiết bị được sản xuất trong cùng một năm thì chúng cũng sẽ bị thanh lí cùng lúc

Giả định cho rằng tuổi thọ trung bình của các mặt hàng điện điện tử không thay đổi nhiều thực tế cho thấy tuổi thọ của chúng lại ngắn hơn so với giả định, do vậy phương pháp này không hiệu quả cho việc tính toán lượng chất thải điện tử trong một thị trường năng động, một môi trường với công nghệ và cuộc sống như tại các quốc gia phát triển

Cần dữ liệu bán hàng, tuổi thọ của các thiết bị điện tử gia dụng nên phương pháp Cung thị trường là lựa chọn phổ biến và thích hợp với việc đánh giá lượng chất thải điện tử gia dụng tại các quốc gia đang phát triển

2.1.3.2 Thuận lợi và hạn chế của phương pháp

Hai điểm hạn chế chính của phương pháp đánh giá lượng chất thải điện tử gia

dụng là:

1 Các số liệu liên quan đến doanh số bán hàng lấy từ dữ liệu nhập khẩu và tái sử dụng

Trang 35

2 Các số liệu liên quan tuổi thọ trung bình cung cấp bởi các nguồn dữ liệu thứ cấp là lưu trữ và tái sử dụng các thiết bị điện tử gia dụng

Các hạn chế trên được khắc phục bằng cách phân định chuỗi giá trị thương mại của lượng thải điện tử gia dụng thành hai phần,lượng chất thải điện tử gia dụng trong nước do lưu trữ, tái sử dụng và lượng chất thải điện tử gia dụng nhập khẩu

Ưu điểm:

1 Dữ liệu tính toán không cần nhiều

2 Các tính toán có thể được thực hiện rất dễ dàng bằng một công thức đơn giản

3 Dữ liệu bán hàng được lấy từ số liệu thống kê chính thức của các viện nghiên cứu thị trường hoặc các tổ chức thương mại và dữ liệu này đáng tin cậy và có sẵn cho một lượng lớn sản phẩm

Nước áp dụng: Ấn Độ

Phương pháp cung thị trường áp dụng cho dự toán lượng chất thải điển tử tại

Ấn Độ Ở Ấn Độ, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp điện tử được thúc đẩy

do sự gia tăng mức tiêu thụ các thiết bị điện tử và phần mềm Sự gia tăng mức tiêu thụ các thiết bị điện tử khiến cho lượng chất thải điện tử tăng cao

Trong việc tính lượng thải điện tử gia dụng, các dữ liệu về doanh số bán hàng được áp dụng vào phương pháp Cung thị trường để đánh giá lượng chất thải lý thuyết phát sinh cho mỗi thiết bị.Phương pháp cung thị trường này được sử dụng để tham khảo có tính đến sự giới hạn của dữ liệu và khoảng thời gian nghiên cứu ngắn Phương pháp này dựa trên giả thiết: 100% các thiết bị điện tử được bán ra trong một năm cụ thể sẽ trở nên lỗi thời vào thời điểm các thiết bị này kết thúc tuổi thọ trung bình Việc áp dụng phương pháp này phụ thuộc nhiều vào việc đánh giá tuổi thọ trung bình của một thiết bị.Vì tuổi thọ trung bình là chỉ số của hành vi tiêu dùng, nó bao gồm các yếu tố về hoạt động sử dụng, tái sử dụng và lưu trữ của một thiết bị điện

tử trước khi nó được đưa vào tái chế và xử lý Phân tích tuổi thọ trung bình một thiết

bị điện tử là yếu tố của hoạt động sử dụng, tái sử dụng và lưu trữ trong 100% các thiết bị điện tử được bán ra trong một năm cụ thể sẽ trở nên lỗi thời vào thời điểm các thiết bị này kết thúc tuổi thọ trung bình

Trang 36

2.1.4 Phương pháp của học viện Carnegie Mellon

2.1.4.1 Nội dung, cách tính toán ưu điểm và hạn chế của phương pháp

Phương pháp này là biến thể của phương pháp cung thị trường, trong đó các tính toán lượng thải điện tử gia dụng được tính từ các dữ liệu bán hàng, các giả định

về tuổi thọ điển hình, quy trình tái chế và lưu trữ Mô hình này đánh giá hành vi của người tiêu dùng khi thanh lí các phế phẩm thiết bị điện tử.Phương pháp này xác định tuổi thọ của các thiết bị từ lúc mua cho tới khi không sử dụng được nữa Tại thời điểm trở nên lỗi thời, sẽ có 4 sự lựa chọn cho người tiêu dùng như mô tả dưới đây: + Tái sử dụng: Cho người khác dùng (không sửa chữa)

2 Mô hình này cũng đòi hỏi đảm bảo đầy đủ các dữ liệu bán hàng sớm nhất có thể trong chuỗi giá trị thương mại chất thải điện tử

Ưu điểm:

Mô hình này cho phép các thiết bị điện tử được mua, sử dụng lại, lưu trữ và tái chế sau cùng hoặc đem ra bãi rác mô tả cho “dòng vật chất” chính xác hơn

Phương pháp này lí tưởng cho sự đánh giá chuyên sâu hơn các sản phẩm cá nhân

Do một lượng lớn các dữ liệu đầu vào nên việc tính toán lượng chất thải điện tử gia dụng được cấu trúc rõ ràng hơn

2.1.5 Công thức tính gần đúng

Có 2 phương pháp tính toán lượng chất thải điện tử:

Phương pháp 1:

Lượng chất thải điện tử, điện tử gia dụng được tính toán dựa trên cơ sở lưu trữ

và dữ liệu về tuổi thọ trung bình Phương pháp này còn được gọi là phương pháp tiêu

Trang 37

dùng và sử dụng Phương pháp này được áp dựng để tình lượng thải ở Phần Lan Theo toán học, phương pháp này được thể hiện bằng phương trình sau:

WEEE generation (t) = [Stockprivate(t) + Stock industry(t)] / average lifetime Stockprivate = số hộ gia đình × mức bão hòa của hộ gia đình/100

= dân số/ kích cỡ trung bình của hộ gia định × mức bão hòa của hộ gia đình/100 Stockindustry = số nơi làm việc × mức độ bão hòa trong công nghiệp/100

= số lượng công nhân/ số người sử dụng trên 1 sản phẩm × mức bão hòa trong công nghiệp/ 100

Dữ liệu đầu vào cho ứng dụng của phương pháp này là dữ liệu lưu trữ và các giả thuyết về tuổi thọ trung bình của thiết bị sử dụng trong gia đình

Theo toán học, phương pháp này được thể hiện bằng phương thức dưới đây: WEEE generation (t) = sales (t)

Hạn chế:

- Phương pháp này chỉ phù hợp trong một thị trường hoàn toàn bão hòa trong

đó lượng sản phẩm mua vào bằng với lượng phế phẩm từ các thiết bị cũ Do đó phương pháp này hạn chế các ứng dụng trong các thị trường năng động đang phát

Trang 38

triển bởi trong các thị trường này, một phần lớn hơn các thiết bị bán ra sẽ góp phần làm tăng mức lưu trữ và ban đầu không thải rác

- Phương pháp này không phù hợp nếu lượng lưu trữ tạm thời hoặc việc sử dụng các thiết bị đã qua sử dụng đóng một vai trò quan trọng trong hành vi của người tiêu dùng

Ưu điểm:

- Phương pháp này phù hợp cho việc thực hiện đánh giá ban đầu

- Có nhiều giới hạn về phạm vi dữ liệu đầu cần thiết cho việc ứng j trong phương pháp này

- Phương pháp này không đòi hỏi các dữ liệu mang tính lịch sử mà chỉ yêu cầu các số liệu bán hàng trong một khoảng thời gian cụ thể

2.1.6 Lựa chọn phương pháp kiểm kê tính toán cho Việt Nam

Mỗi quốc gia có điều kiện tự nhiên, kinh tế và năng lực thể chế và đặc biệt là ý thức của cá nhân hay hành vi xử lí đối với nhận thức vấn đề rác thải điện tử là khác nhau Quốc gia có nền kinh tế phát triển có cách thức nghiên cứu tính toán lượng thải khác với nước có nền kinh tế đang phát triển Mỗi phương pháp cần có những điều kiện dữ liệu nhất định để thực hiện tính toán và đưa vào áp dụng thực tiễn Bảng sau đưa ra số liệu cần để sử dụng cho từng phương pháp kiểm kê điện tử gia dụng thải dưới bảng sau:

Trang 39

Bảng 2.1 Số dữ liệu cần để kiểm kê điện tử gia dụng thải cho từng

Kiểm toán số lượng Số liệu có sẵn

Tuổi thọ trung bình

Số liệu tồn kho

Tái

sử dụng

Tái chế Gia

đình

Côn

g ngh iệp

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Sản xuất

Tài sản riêng

Công nghiệp

2.1.6.1 Phương pháp bước nhảy thời gian đối với Việt Nam

Phương pháp bước nhảy thời gian cần tính toán trong một thị trường bão hòa,

số lượng điện tử gia dụng thải có được từ thống kê sản xuất và nhập khẩu Thị trường điện tử gia dụng ở Việt Nam chưa bão hòa, thông tin về doanh số bán các sản phẩm điện tử gia dụng chưa có số liệu Lượng hàng điện tử gia dụng nhập vào Việt Nam chủ yếu qua con đường tiểu ngạch, không chính thống, lượng tái sử dụng không có

số liệu kiểm kê rõ ràng Vì vậy phương pháp bước nhảy thời gian (the step method) không thể là lựa chọn áp dụng tính toán cho Việt Nam

2.1.6.2 Phương pháp Cung thị trường đối với Việt Nam

Phương pháp Cung thị trường cần:

- Dữ liệu về số lượng điện tử gia dụng bán ra thị trường, đồng thời tuổi thọ của thiết bị và tỉ lệ lỗi thời của các thiết bị điện tử bị phế phẩm

- Thông tin về doanh số bán hàng

Tại các quốc gia phát triển, tuổi thọ của các thiết bị điện tử thường ngắn hơn tuổi thọ trung bình thực tế của sản phẩm

Trang 40

Phương pháp Cung thị trường là phương pháp thích hợp đánh giá lượng chất thải điện tử gia dụng cho các nước đang phát triển

Để áp dụng tính toán cho Việt Nam bằng phương pháp này cần đề xuất khắc phục các dữ liệu tính toán và đưa ra đề xuất một số giả thiết, trong đó tuổi thọ trung bình là chỉ số của hành vi tiêu dùng bao gồm các yếu tố về hoạt động sử dụng, tái sử dụng và lưu trữ của một thiết bị điện tử trước khi nó được đưa vào tái chế và xử lí chất thải

Tại Việt Nam, số lượng bán điện tử gia dụng thải chưa có nguồn kiểm kê, nên lượng thải cũng chưa có con số rõ ràng Điều này cũng là những hạn chế và khó khăn cho Việt Nam trong việc lựa chọn phương pháp tính toán này

Tuy nhiên, đối với Việt Nam phương pháp này cần dữ liệu tính toán ít nhất và ở khía cạnh toán học cũng là một mô hình ước tính số phát thải tiềm ẩn phù hợp trong thị trường chưa bão hòa và nhiều thiếu hụt nguồn thông tin tin cậy

2.1.6.3 Phương pháp của học viện Carnegie Mellon đối với Việt Nam

Phương pháp này là biến thể của phương pháp Cung thị trường, các tính toán vẫn dựa trên các dữ liệu về số lượng bán hàng, các giả định về tuổi thọ điển hình quy trình tái chế và lưu trữ Phương pháp này cũng dựa vào hành vi người tiêu dùng khi thanh lí các phế phẩm điện tử thải

Hành vi tiêu dùng gồm: Tái sử dụng – Lưu trữ - Tái chế - Thải ra bãi rác

Như vậy, hành vi tiêu dùng rất quan trọng, tại Việt Nam chưa có thông tin nào

về hành vi tiêu dùng được kiểm kê Một sản phẩm điện tử bán trên thị trường, đến tay người tiêu dùng, chưa có một số liệu nào ghi nhận hành vi tiêu dùng của khách hàng Nên đây cũng không thể là phương pháp áp dụng tính toán cho Việt Nam

2.1.6.4 Công thức tính gần đúng tính toán lượng thải điện tử gia dụng thải tại Việt Nam

Công thức tính gần đúng 1 cũng được áp dụng trong các nước có thị trường bão hòa, tuổi thọ trung bình các thiết bị chỉ là giả định, các thông tin lưu trữ về một thiết bị là có sẵn Việc sử dụng lại các thiết bị đã qua sử dụng sẽ làm cho tính toán không đúng

Ngày đăng: 18/07/2017, 22:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Duc-Quang Nguyen. Eiji Yamasue. Hideyyuki Okumura. Keiichi N.Ishihara. Use and disposal of large home electronic appliances in Vietnam.J Mater Cycles Waste Manag (2009) 11:358-366 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Mater Cycles Waste Manag
2. Duc-Quang Nguyen, Xuan-Thang Pham, Trung-Hai Huynh, Keiichi N. Ishihara.A new approach for the evaluation the rycycling system for electronic waste in Viet Nam.Journal of science & technology No. 78A-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new approach for the evaluation the rycycling system for electronic waste in Viet Nam
5. Hà Vĩnh Hưng, Huỳnh Trung Hải, Jae – Chun Lee. Chất thải điện tử và công nghệ tái chế.Tạp chí môi trường, số 4, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất thải điện tử và công nghệ tái chế
6. Hai-Yong Kang, Julie M. Schoenung (2005), “Electronic waste recycling: A review of U.S. infrastructure and technology oftions”, Resource Convervation and Recycling, (45), pp. 368-400 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electronic waste recycling: A review of U.S. infrastructure and technology oftions
Tác giả: Hai-Yong Kang, Julie M. Schoenung
Năm: 2005
7. Huynh Trung Hai, Nguyen Duc Quang (2010), “E-waste: current status and persfectives in Vietnam”, AUN/SEED-Net 2nd REGIONAL CONFERENCE ON GLOBAL ENVIRONMENT, Ho Chi Minh City, Viet Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-waste: current status and persfectives in Vietnam
Tác giả: Huynh Trung Hai, Nguyen Duc Quang
Năm: 2010
8. International Consultative Meeting on Expanding Waste Management Services in Developing Countries (2010), “ Emerging issues, challenges, and opportunities in environmentally sound management of e-waste”, Tokyo Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “ Emerging issues, challenges, and opportunities in environmentally sound management of e-waste
Tác giả: International Consultative Meeting on Expanding Waste Management Services in Developing Countries
Năm: 2010
9. Jirang Cui, Eric Forssberg (2003), “Mechanical recycling of waste electric and electronic equipment: a review”, Journal of Hazadous Materials (158) 228-256 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mechanical recycling of waste electric and electronic equipment: a review
Tác giả: Jirang Cui, Eric Forssberg
Năm: 2003
10. Like Bereketli, Mujde Erol Genevois, Y. Esra Albayrak, Melisa Ozyol, (2011), “WEEE treatment strategies evaluation using fuzzy LINMAP method” Expert Systems with Applications (38) 71-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: WEEE treatment strategies evaluation using fuzzy LINMAP method” "Expert Systems with Applications
Tác giả: Like Bereketli, Mujde Erol Genevois, Y. Esra Albayrak, Melisa Ozyol
Năm: 2011
11. Lê Thu Hoa (2007) “Quản lý chất thải điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế”, Tạp chí kinh tế và phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế
12. M.G. Avlmore. D.M. Muir (2011). “Thiosulfate leaching of gold- a review”, Minerals Engineering 14 (2), 135-174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiosulfate leaching of gold- a review
Tác giả: M.G. Avlmore. D.M. Muir
Năm: 2011
13. Oyuna Tsydenova, Magnus Bengtsson (2011), Review: Chemical hazards associated with treatment of waste electrical and electronic equipment, Waste Management (31) 45-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chemical hazards associated with treatment of waste electrical and electronic equipment, Waste Management
Tác giả: Oyuna Tsydenova, Magnus Bengtsson
Năm: 2011
14. Paul T Williams (2010), “Valorization of Printed Circuit Boards from Waste Electrical and Electronic Equipment by Pyrolysis”, Waste Biomass Valor (1) 107- 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Valorization of Printed Circuit Boards from Waste Electrical and Electronic Equipment by Pyrolysis
Tác giả: Paul T Williams
Năm: 2010
15. Ramzy Kahhat, Junbeum Kim, Ming Xu, Braden Allenby, Eric Williams, Peng Zhang (2008), “Exploring e-waste managerment systems in the United States(review)”, Resources, Conservation and Recycling (52) 955-964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exploring e-waste managerment systems in the United States(review)”
Tác giả: Ramzy Kahhat, Junbeum Kim, Ming Xu, Braden Allenby, Eric Williams, Peng Zhang
Năm: 2008
17. Sunil Herat (Griffith University, Australia) . Management of Hazardous waste and e-wastes indeveloping contries. Gegional workshop of the Greatr Mekong Sub- region to share the lessions learnt from the Vietnam experience on National Strategy of Integate Solid waste management/3R. 28-29 July 2010, Hanoi, Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management of Hazardous waste and e-wastes indeveloping contries
18. Sushant B. Wath, Atul N. Vaidya, P. S Dutt, Tapan Chakrabarti (2010), “a road map for development of sustainable E-waste management system in India” Science of the Total Environment (409) 19-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: a road map for development of sustainable E-waste management system in India
Tác giả: Sushant B. Wath, Atul N. Vaidya, P. S Dutt, Tapan Chakrabarti
Năm: 2010
19. Sushant B. Wath, P.S. Dutt, T. Chakrabarti (2011), “E-waste scenario in India, its management and implication”, Environ Monit Assess (172) 249-262 Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-waste scenario in India, its management and implication
Tác giả: Sushant B. Wath, P.S. Dutt, T. Chakrabarti
Năm: 2011
23. URENCO. The development of e-waste inventory in Vietnam (Final Report). Hanoi. July 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The development of e-waste inventory in Vietnam
3. F. Clementi, M. Gallegati, 2005; Power law tails in the Italian personal income distribution; Physica A 350: pp 427-438 Khác
4. G.Gaidajis*, K. Angelakoglou and D.Aktsaglou. E-waste : Environmental problem and Current Management. Journal of Engineering Science and Technology Review 3 (1) (2010) 193-195. Received 31 August 2010, Accepted 9 October 2010 Khác
16. Sunichi Honda (Ministry of the Environment, Japan). Japan’s Activities on Environmentally Sound Management of E-waste with the Asian Countries. Regional Workshop on WEEE/ E-Waste Management in Osaka, Japan, on 6-9 July 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w