Xuất phát từ những lợi ích và hiệu quả của công cụ Kiểm toán chất thải mang lại đối với ngành công nghiệp và đã được triển khai áp dụng rộng rãi ở các nước phát triển trên thế giới tron
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên
Vũ Thị Bích Liên
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học môi trường khóa 2011B – Viện khoa học và công nghệ môi trường, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã truyền đạt cho em những kiến thức hữu ích và quý báu trong lĩnh vực môi trường, làm cơ sở cho em thực hiện tốt luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn cô: TS Trần Thanh Chi – Người giảng viên yêu kính đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian thực hiện luận văn Mặc
dù, trong quá trình thực hiện luận văn này em còn rất nhiều điều thiếu xót nhưng cô
đã luôn bao dung, hướng dẫn và chỉ bảo để em hoàn thành tốt luận văn của mình
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tha thiết tới các chú, các cô, các anh chị của công ty TNHH Liên doanh ô tô Hòa Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong việc tiếp cận các thông tin, số liệu, quy trình sản xuất, cũng như đã tư vấn và hỗ trợ cho em về kỹ thuật chuyên môn trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Do sự hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm cũng như những hiểu biết trong lĩnh vực sản xuất lắp ráp ô tô nên luận văn của em còn nhiều thiếu xót, em rất mong nhận được những góp ý của Thầy/Cô và các anh chị học viên
Hà Nội, tháng 09 năm 2013
Học viên
Vũ Thị Bích Liên
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
DANH MỤC HÌNH 5
DANH MỤC BẢNG 6
MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Mục tiêu của đề tài 9
3 Đối tượng và phạm vi thực hiện kiểm toán 9
3.1 Đối tượng thực hiện kiểm toán 9
3.2 Phạm vi thực hiện kiểm toán 9
4 Phương pháp thực hiện 9
5 Bố cục đề tài 10
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN CHẤT THẢI VÀ CÔNG TY TNHH LIÊN DOANH Ô TÔ HÒA BÌNH (VMC) 11
1.1 Tổng quan về kiểm toán chất thải 11
1.1.1 Khái niệm về kiểm toán chất thải 11
1.1.2 Quy trình kiểm toán chất thải 11
1.1.3 Tình hình áp dụng kiểm toán chất thải trên thế giới và tại Việt Nam 14
1.2 Giới thiệu chung về công ty TNHH Liên doanh ô tô Hòa Bình 17
1.2.1 Lịch sử phát triển và quy mô hoạt động 17
1.2.2 Cơ cấu tổ chức 19
1.2.3 Nhu cầu sử dụng nguyên liệu, nước và năng lượng cho quá trình sản xuất 21
1.2.5 Hiện trạng môi trường 23
CHƯƠNG II THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH KIỂM TOÁN CHẤT THẢI TẠI CÔNG TY TNHH LIÊN DOANH Ô TÔ HÒA BÌNH (VMC) 28
2.1 Xây dựng quy trình thực hiện kiểm toán chất thải cho công ty TNHH liên doanh ô tô Hòa Bình 28
2.2 Chuẩn bị kiểm toán 28
2.3 Thực hiện kiểm toán chất thải 34
Trang 42.3.1 Xác định đầu vào của quá trình 34
2.3.2 Xác định đầu ra của quá trình lắp ráp ô tô 47
2.3.3 Cân bằng vật chất 51
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP MÔI TRƯỜNG TỔNG THỂ TẠI CÔNG TY TNHH LIÊN DOANH Ô TÔ HÒA BÌNH 54
3.1 Xác định các vấn đề về dòng thải 54
3.2 Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tổn thất, giảm thiểu chất thải trong quá trình sản xuất tại công ty TNHH Liên doanh ô tô Hòa Bình 56
3.2.1 Các biện pháp bảo vệ môi trường hiện đang được áp dụng 56
3.2.2 Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tổn thất, giảm thiểu chất thải trong hoạt động sản xuất của công ty 61
3.2.3 Đánh giá các phương án giảm thiểu và kế hoạch thực hiện 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Quy trình thực hiện kiểm toán chất thải 13
Hình 1.2 Sơ đồ hành chính tổ chức công ty TNHH Liên doanh ô tô Hòa Bình (VMC) 20
Hình 2.1 Thủ tục hành chính khi thực hiện kiểm toán chất thải 30
Hình 2.2 Sơ đồ thành lập nhóm kiểm toán 31
Hình 2.3 Quy trình chung lắp ráp xe của VMC 32
Hình 2.4 Sơ đồ dòng vật chất vào ra của quy trình Sơn 36
Hình 2.5 Biểu đồ tiêu thụ nước ngầm và nước sạch thành phố của nhà máy năm 2011 và năm 2012 40
Hình 2.6 Biểu đồ mức tiêu thụ nước trung bình/ xe của năm 2011 và 2012 41
Hình 2.7 Biểu đồ tiêu thụ Gas năm 2011 và 2012 42
Hình 2.8 Biểu đồ mức tiêu thụ gas trung bình/ xe năm 2011 và 2012 43
Hình 2.9 Biểu đồ tiêu thụ Dầu năm 2011 và 2012 44
Hình 2.10 Biểu đồ mức tiêu thụ điện năm 2011 45
Hình 2.11 Biểu đồ mức tiêu thụ điện trung bình/ xe năm 2011 45
Hình 2.12 Biểu đồ mức tiêu thụ điện năm 2012 46
Hình 2.13 Biểu đổ mức tiêu thụ điện trung bình/xe năm 2012 46
Hình 2.14 Biểu đồ thể hiện mối tương quan giữa lượng nước thải phát sinh và sản lượng xe trung bình/ ngày 48
Hình 2.15 Cân bằng vật chất cơ bản 51
Hình 3.1 Sơ đồ thu gom nước thải sản xuất 57
Hình 3.2 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải của nhà máy 58
Hình 3.3 Sơ đồ xử lý nước thải sinh hoạt 59
Hình 3.3 Mô hình quy trình Thu cũ đổi mới 62
Hình 3.4 Mô hình quy trình tách nước thủ công 64
Hình 3.5 Mô hình quy trình 2 trong 1 66
Hình 3.6 Quy trình thu gom, lưu giữ CTNH 68
Hình 3.7 Mô hình tiết kiệm 2 trong 1- 2 71
Hình 3.8 Biểu đồ thể hiện mối tương quan giữa ý thức người lao động và mức tiêu thụ điện 73
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Bố trí, phân công lao động tại nhà máy 19
Bảng 1.2 Định mức một số vật tư tiêu hao trong sản xuất 21
Bảng 1.3 Kết quả quan trắc chất lượng khí thải sau ống thông gió của phân xưởng Sơn năm 2012 24
Bảng 1.4 Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí xung quanh 24
Bảng 1.5 Kết quả quan trắc chất lượng nước thải sau xử lý năm 2012 26
Bảng 2.1 Danh mục một số tài liệu cần chuẩn bị 29
Bảng 2.2 Thống kê vật tư tiêu hao qua các năm 37
Bảng 2.3 Nhu cầu sử dụng nước của nhà máy năm 2011 39
Bảng 2.4 Nhu cầu sử dụng nước của nhà máy năm 2012 39
Bảng 2.5 Kết quả quan trắc chất lượng khí thải 50
Bảng 2.6 Thống kế khối lượng chất thải thông thường phát sinh 50
Bảng 2.7 Thống kê khối lượng CTNH phát sinh trong sản xuất 51
Bảng 2.8 Tính toán cân bằng vật chất trung bình cho công đoạn Sơn 52
Bảng 3.1 Đề xuất các giải pháp giảm thiểu chất thải 54
Bảng 3.2 Các giải pháp giảm thiểu áp dụng đối với CTNH 62
Bảng 3.3 Giải pháp giảm thiểu đối với nhiên liệu, năng lượng tiêu thụ trong quá trình sản xuất 69
Bảng 3.4 Tổng hợp chi phí/ lợi ích của các phương án giảm thiểu đề xuất thực hiện trong quá trình sản xuất 77
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DI (Deionized water) Nước đã được khử khoáng chất và các
ion Kim loại (Cation, anion) PDI (Pre Delivery Inspector) Hoàn thiện
VMC (Vietnam Motors corporation)
Tên viết tăt tiếng anh của Công ty TNHH Liên doanh ô tô Hòa Bình hay Nhà máy lắp ráp ô tô Hòa Bình
EU (European Union) Liên minh Châu Âu
EMAS (Eco – Management and
Audit Scheme) Quy trình kiểm toán quản lý sinh thái BPEM (Best Practice Environmental
Managementt) Thực hành quản lý môi trường tốt nhất UNDP (United Nations
Development programme) Chương trình phát triển liên hợp quốc
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa diễn ra sôi động, toàn diện thì vấn đề môi trường đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nước trên thế giới nói chung, của Việt Nam nói riêng và tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp – một xu hướng phát triển chung của thế giới và của các nước đang phát triển mà trong đó có Việt Nam
Một hướng đi mới phát triển từ 30 năm nay ở các Quốc gia tiên tiến trong
hoạt động sản xuất công nghiệp gắn kết với bảo vệ môi trường là: Kiểm toán chất
thải (KTCT) KTCT được xem như là một công cụ kiểm soát, giảm thiểu việc sử
dụng lãng phí nhiên liệu, nguyên liệu, nước từ đó giảm thiểu việc phát sinh chất thải
Vì vậy, kiểm toán chất thải là một giải pháp được xem là vừa giúp tăng hiệu quả kinh tế vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Mặc dù, đây là công cụ mới chưa được áp dụng phổ biến tại các doanh nghiệp sản xuất nhưng qua các kết quả áp dụng kiểm toán tại nhiều cơ sở, các báo cáo nghiên cứu khoa học đã cho thấy công cụ này mang lại lợi ích không nhỏ cả về môi trường và hiệu quả kinh tế Chính vì thế, công cụ này cần phải được triển khai,
áp dụng nhiều hơn khi mà ngành công nghiệp đang phát triển như vũ bão tại Việt
Nam
Xuất phát từ những lợi ích và hiệu quả của công cụ Kiểm toán chất thải
mang lại đối với ngành công nghiệp và đã được triển khai áp dụng rộng rãi ở các nước phát triển trên thế giới trong hệ thống quản lý môi trường ở các doanh nghiệp
sản xuất Đề tài “Kiểm toán chất thải và đề xuất các giải pháp quản lý môi trường
tổng thể tại công ty TNHH Liên doanh Ô tô Hòa Bình (VMC)” – được lựa chọn
với mong muốn vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế sản xuất, góp phần mang lại một môi trường trong sạch, an toàn thông qua việc giảm thiểu sự phát sinh chất thải cũng như giảm thiểu việc sử dụng nguyên nhiên liệu trong quá trình sản xuất
Trang 92 Mục tiêu của đề tài
Xác định và đánh giá được các nguồn thải, khâu lãng phí nước, nguyên
nhiên liệu và năng lượng trong quá trình sản xuất lắp ráp ô tô
Đạt được các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn về môi trường, an toàn và sức
khỏe người lao động
Nâng cao hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất khi chỉ ra sự mất mát,
tiêu hao, lãng phí nguyên vật liệu, nước, năng lượng của toàn bộ quá trình sản xuất từ đó giúp doanh nghiệp có được phương án tiết kiệm, giảm thiểu mất mát… làm cho quá trình sản xuất hiệu quả hơn, giảm chi phí
3 Đối tƣợng và phạm vi thực hiện kiểm toán
3.1 Đối tượng thực hiện kiểm toán
Công ty TNHH Liên doanh ô tô Hòa Bình - VMC (Sau đây gọi tắt là công ty
ô tô Hòa Bình hay nhà máy ô tô tô Hòa Bình)
Địa chỉ: Số 53 Triều Khúc, Thanh Xuân, Hà Nội
3.2 Phạm vi thực hiện kiểm toán
Đề tài này xác định các khâu sử dụng nước, nguyên vật liệu, năng lượng phục vụ quá trình sản xuất lắp ráp ô tô gây lãng phí nguyên nhiên liệu và năng lượng cũng như phát sinh chất thải gây ô nhiễm môi trường
Và do việc áp dụng thực hiện chương trình kiểm toán toàn phần đối với toàn
bộ quy trình sản xuất cho nhà máy ô tô Hòa Bình là rất phức tạp và tốn nhiều thời gian nên trong chương trình kiểm toán đề xuất thực hiện chỉ tập trung vào công đoạn Sơn của nhà máy và đây được coi là: Trọng tâm của chương trình kiểm toán chất thải
4 Phương pháp thực hiện
4.1 Phương pháp theo dõi, quan sát, ghi chép và thu thập số liệu, tài liệu
4.2 Áp dụng phương pháp luận của SXSH để thực hiện kiểm toán tại nhà máy 4.3 Phương pháp thực nghiệm
4.4 Phương pháp thông kê và xử lý số liệu
Trang 11CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN CHẤT THẢI VÀ CÔNG TY
TNHH LIÊN DOANH Ô TÔ HÒA BÌNH (VMC) 1.1 Tổng quan về kiểm toán chất thải
1.1.1 Khái niệm về kiểm toán chất thải
Kiểm toán chất thải là quá trình kiểm tra sự tạo ra chất thải nhằm giảm nguồn, lượng chất thải phát sinh Kiểm toán chất thải là một loại hình của kiểm toán môi trường và là một công cụ quản lý quan trọng có hiệu quả kinh tế đối với nhiều
cơ sở sản xuất
Mục đích của kiểm toán:
Cung cấp thông tin về công nghệ sản xuất, các nguyên vật liệu sử dụng, các sản phẩm và các dạng chất thải
Xác định các nguồn thải và các loại chất thải phát sinh
Xác định các bộ phận kém hiệu quả trong dây chuyền sản xuất như: Quản lý kém, hiệu suất sử dụng nguyên liệu, năng lượng thấp, thải nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường thông qua các tính toán cân bằng vật chất
Đề ra các chiến lược quản lý và giải pháp giảm thiểu chất thải
1.1.2 Quy trình kiểm toán chất thải
Quy trình kiểm toán chất thải có thể được áp dụng trên những quy mô khác nhau như quy mô rộng lớn trong việc kiểm toán chất thải của một vùng, một thành phố hoặc một khu công nghiệp hay quy mô nhỏ như trong việc kiểm toán chất thải của một khu dân cư, trường học hay là kiểm toán chất thải của một nhà máy hoặc một doanh nghiệp cụ thể và nhỏ hơn nữa như là việc kiểm toán chất thải của một giai đoạn sản xuất nào đó trong quy trình sản xuất của một nhà máy Tùy thuộc vào từng quy mô, phạm vi lớn nhỏ cũng như theo yêu cầu và mục đích mà quy trình kiểm toán được áp dụng một cách linh động và phù hợp
Một cuộc kiểm toán chất thải được thực hiện thông qua ba giai đoạn:
Trang 121 Giai đoạn tiền đánh giá (Hay các hoạt động trước kiểm toán): Đây là giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, các vấn đề trọng tâm của công việc kiểm soát sẽ được đặt ra trong giai đoạn này
2 Giai đoạn thu thập số liệu – Tính toán trên cơ sở đầu vào và đầu ra của dây truyền công nghệ sản xuất, xây dựng cân bằng vật chất
3 Giai đoạn tổng kết: Đánh giá các dây truyền công nghệ sản xuất từ việc thực hiện cân bằng vật chất và đề ra các biện pháp giảm thiểu chất thải
Ba giai đoạn của quy trình tương ứng với ba công đoạn chính là: Chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và hậu kiểm toán với các bước được tiến hành như
Hình 1.1 Tùy theo mục tiêu và yêu cầu, việc áp dụng có thể một phần hay toàn
Chương trình kiểm toán chất thải
Trang 13GIAI ĐOẠN 1: CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN
GIAI ĐOẠN 2: THỰC HIỆN KIỂM TOÁN
XÁC ĐỊNH ĐẦU VÀO CỦA QUÁ TRÌNH XÁC ĐỊNH ĐẦU RA CỦA QUÁ TRÌNH
Bước 7: Định lượng đầu ra của quá trình Bước 8: Tính toán lưu lượng nước thải Bước 6: Đo mức độ tái sử dụng/ tuần hoàn chất thải hiện tại
GIAI ĐOẠN 3:
HẬU KIỂM TOÁN
Bước 9: Tính toán lượng chất thải được giữ lại và lượng thải đưa
ra bãi
Bước 4: Xác định các đầu vào
Bước 5: Ghi số liệu nước, nhiên liệu, năng lượng sử dụng
Bước 1: Chuẩn bị nhân lực và tổ chức nhóm kiểm toán Bước 2: Liệt kê các công đoạn sản xuất của quá trình Bước 3: Xây dựng sơ đồ hoạt động của Quá trình
Bước 17: Phân tích chi phí/ lợi ích của giảm thiểu/ xử lý chất thải Bước 18: Thực hiện kế hoạch hành động: Giảm chất thải và tăng hiệu quả sản xuất
XÁC ĐỊNH CÁC PHƯƠNG ÁN THAY THẾ ĐỂ GIẢM THIỂU CHẤT THẢI
Bước 16: Phát triển các phương án giảm thiểu chất thải lâu dài Bước 15: Đề xuất các giải pháp giảm thiểu chất thải
Hình 1.1 Quy trình thực hiện kiểm toán chất thải
(Nguồn OWMC, Canada 1989)
Trang 141.1.3 Tình hình áp dụng kiểm toán chất thải trên thế giới và tại Việt Nam
a) Tình hình áp dụng kiểm toán chất thải ở một số nước trên Thế Giới
Từ những năm 1980 đến nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng về Kiểm toán chất thải, quy trình kiểm toán chất thải đối với từng ngành đã được lập, nhiều tài liệu, sách về kiểm toán đã được xuất bản
Khu vực Châu Mỹ
Ở Úc, KTCT trong các ngành công nghiệp đã được giới thiệu như là một công cụ hỗ trợ cho việc quản lý chất thải, bên cạnh các công cụ khác như sản xuất sạch hơn và đánh giá vòng đời sản phẩm Cục Các ngành công nghiệp cơ bản, Công viên, Nước và Môi trường của bang Tasmania, Úc đã khuyến cáo các doanh nghiệp nên sử dụng KTCT, với các nội dung như xác định các nguồn thải, số lượng và các loại chất thải được tạo ra; Xác định nguyên nhân làm gia tăng chất thải; Thiết lập các mục tiêu/giải pháp và thứ tự ưu tiên cho việc giảm phát sinh chất thải
Một số ngành công nghiệp đặc thù gây tổn hại tới môi trường như khai thác
mỏ, sản xuất hóa chất thì được khuyến khích tuân thủ theo các Quy chế về Thực hành quản lý môi trường tốt nhất (BPEM), được chính quyền Úc thiết kế riêng cho mỗi ngành Ví dụ, đối với ngành khai thác mỏ đã được Cục Bảo vệ môi trường Úc ban hành quy chế năm 1995, trong đó bao gồm quy định về KTCT và nộp báo cáo kiểm toán hàng năm
Khu vực Châu Âu
Các thành viên của cộng đồng Châu Âu (EU) phải tuân theo những quy định
về môi trường do EU ban hành, trong đó có quy trình kiểm toán quản lý sinh thái (EMAS)
Ở Bỉ, đến năm 2004 đã có 150 doanh nghiệp ở các tỉnh thuộc vùng Flanders của Bỉ tham gia thực hiện EMAS và sau đó là 22 doanh nghiệp khác Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp tự nguyện áp dụng các quy trình này không chỉ với mục đích nhằm đạt được các chứng chỉ môi trường Một trong những công ty đầu tiên của Bỉ thực hiện KTCT là Công ty Shred it Belgium Công ty này, năm 2007, đã tái chế
Trang 151.650 tấn chất thải và thực hiện tính toán "Dấu chân các-bon", làm giảm lượng cacbon từ hoạt động vận tải, trở thành Công ty đầu tiên của Bỉ đạt C02 trung tính
Khu vực Bắc Mỹ
Tại Canada, theo quy định Ontario 102/94 của Bộ Môi trường và Năng lượng, các cơ sở sản xuất bắt buộc thực hiện KTCT Quy định này nêu rõ, các cơ sở giáo dục, bệnh viện, nhà nghỉ, khách sạn, cơ sở sản xuất, các tòa nhà công sở, nhà hàng
và các cơ sở kinh doanh phải thực hiện chương trình giảm thiểu chất thải, bao gồm
4 bước trong đó có thực hiện KTCT Thời gian một báo cáo KTCT phải được lưu trữ dưới dạng file ít nhất 5 năm và phải chỉ ra được loại vật liệu hoặc sản phẩm nào được doanh nghiệp sử dụng là vật liệu hoặc sản phẩm tái chế Bên cạnh đó, Canada rất chú trọng tới việc xem xét quy trình sản xuất của doanh nghiệp như là một thông tin đầu vào để thực hiện kiểm toán, từ đó đề xuất các khâu giảm thiểu chất thải cũng như nguyên liệu sản xuất
Khu vực Châu Á
Ở Ấn Độ, khái niệm KTMT trong ngành công nghiệp chính thức được giới
thiệu từ tháng 3/1992 với mục đích chung là giảm sự lãng phí tài nguyên và thúc đẩy sử dụng công nghệ sạch nhằm giảm thiểu phát thải Bộ Môi trường và Rừng đã ban hành thông tư số GSR 329(E) vào tháng 3/1992, đưa ra yêu cầu bắt buộc nộp báo cáo KTMT hàng năm đối với các cơ sở công nghiệp, trong đó phải thể hiện các thông tin về quản lý từng nguồn thải Để thúc đẩy hoạt động KTMT, Ban Kiểm soát
ô nhiễm quốc gia (CPCB) đã tổ chức tập huấn, đào tạo, thực hiện các mô hình trình diễn và xây dựng hướng dẫn KTMT cho các ngành công nghiệp ô nhiễm cao như thuốc bảo vệ thực vật, giấy và bột giấy, đồ uống, dệt nhuộm
Ở Thái Lan, hoạt động KTCT đã nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức
và doanh nghiệp Viện Công nghệ châu Á (AIT) đã đưa nội dung này vào đào tạo từ những năm đầu thập kỷ 90 Các dự án KTCT cũng được thực hiện ở nhiều nhà máy công nghiệp thuộc các lĩnh vực khác nhau như sản xuất bánh kẹo, tinh bột, giấy, cao su
Trang 16Ở Singapo, KTCT được cụ thể hóa như là một chiến lược tối thiểu hóa phát
sinh chất thải, bao gồm 8 bước: Cam kết của lãnh đạo; Lựa chọn nhóm/bộ phận làm việc về tối thiểu hóa phát sinh chất thải; Thực hiện kiểm toán chất thải; Xác định chi phí của việc giảm phát sinh chất thải; Phát triển, xây dựng các phương án giảm thiểu chất thải; Đánh giá khả năng tiết kiệm và sắp xếp ưu tiên các lựa chọn/giải pháp; Xây dựng kế hoạch giảm thiểu chất thải; Thực thi và cải tiến kế hoạch
Hiện nay, có nhiều doanh nghiệp đã thực hiện chiến lược tối thiểu hóa chất thải như: Công ty TNHH Baxter Healthcare Pte, Công ty TNHH Chevron Oronite, Công ty TNHH IMM Singapo Pte, Công ty TNHH Kyoei Engineering Singapo Pte, Công ty TNHH Sony Display Device Pte, Công ty TNHH Tetra Pak Jurong Pte
Ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Lan và nhiều nước khác, các hoạt động
KTCT được lồng ghép trong các công cụ kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm như sản xuất sạch hơn, KTMT, đánh giá vòng đời sản phẩm Mục tiêu chính của các công cụ này là nhằm hướng đến việc giảm thiểu phát sinh, kiểm soát ô nhiễm do chất thải gây ra
b) Tình hình áp dụng kiểm toán chất thải tại Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay, KTMT và KTCT đã được đưa vào giảng dạy ở một số trường đại học và cao đẳng trong cả nước, song chưa nhiều và mới chỉ dừng ở các vấn đề tổng quát mà chưa đi sâu vào các lĩnh vực cụ thể Việc áp dụng KTCT trong các cơ sở sản xuất cũng mới dừng ở một vài dự án thí điểm như:
"Kiểm soát ô nhiễm môi trường" của UNDP năm 1995 ở một số nhà máy
tại Việt Trì và Biên Hòa
Đề tài "Điều tra, đánh giá đề xuất việc KTCT công nghiệp tại 5 khu công nghiệp, khu chế xuất" của Cục Bảo vệ môi trường năm 2005
Đề tài "Nghiên cứu áp dụng KTCT trong công nghiệp quốc phòng" của
Trung tâm Khoa học, Kỹ thuật và Công nghệ Quân sự (Bộ Quốc phòng) năm 2004
Đề tài "KTCT tại các làng nghề tái chế kim loại và đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm" của Viện Khoa học Công nghệ Môi trường -Đại học
Bách khoa Hà Nội năm 2005
Trang 17“Nghiên cứu và áp dụng thí điểm về KTCT cho Nhà máy giầy Thƣợng Đình, Hà Nội và Công ty TNHH Thuộc da Đông Hải” do Tổng cục Môi trường
và hiểu biết về KTCT với các lợi ích mà nó mang lại cũng chưa cao Các quy trình KTCT chưa được nghiên cứu, xây dựng cho các ngành công nghiệp như ở một số nước trên thế giới Các sổ tay hướng dẫn kỹ thuật về KTCT chưa được ban hành và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng doanh nghiệp Bên cạnh đó, ở nước ta cũng chưa
có các nghiên cứu đề xuất chính sách khuyến khích áp dụng KTCT trong quản lý môi trường
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các nguồn tài nguyên đang bị khai thác, sử dụng không bền vững, biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, trên thế giới đã hình thành trào lưu tăng trưởng xanh với mục tiêu tăng trưởng kinh
tế gắn với bảo vệ môi trường và giảm nhẹ biến đổi khí hậu Ở nước ta, với chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, ô nhiễm môi trường do chất thải đã và đang ngày càng gia tăng Vì vậy, việc áp dụng các công cụ phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, trong đó có KTCT đang là một yêu cầu cấp thiết
1.2 Giới thiệu chung về công ty TNHH Liên doanh ô tô Hòa Bình
1.2.1 Lịch sử phát triển và quy mô hoạt động
Xí nghiệp liên doanh sản xuất ô tô Hòa Bình (VMC) là tiền thân của công ty TNHH liên doanh ôtô Hoà Bình, là liên doanh giữa tổng công ty ô tô Việt Nam (Vietnam motors) và các công ty Columbian Motors Corporation (CMC) – Philippin, Sojitz Corporation – Nhật Bản với vốn điều lệ đăng ký ban đầu là 10 triệu
Trang 18USD (Việt Nam góp 30% vốn điều lệ, nước ngoài góp 70%), công tác góp vốn, thuê đất và đầu tư máy móc trang thiết bị đã hoàn thành vào năm 1994
Hoạt động kinh doanh sản xuất chính của công ty là lắp ráp và sản xuất các loại xe ô tô để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Công ty đã ký kết hợp đồng sản xuất và lắp ráp với ba hãng ô tô lớn trên thế giới là KIA, MAZDA và BMW
Công ty TNHH liên doanh ô tô Hòa Bình là một doanh nghiệp liên doanh gồm ba đối tác chính là Việt Nam, Philippin và Nhật Bản, được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép thành lập số 228/GP vào ngày 19/08/1991 với năng lực sản xuất khoảng 20.000 xe/năm, chuyên lắp ráp các loại xe du lịch từ 4 – 12 chỗ, xe tải nhẹ, xe bus của các hãng như KIA (Hàn Quốc), MAZDA (Nhật), BMW (Đức) và LIFAN (Trung Quốc)
Năm 1997 để mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh các đối tác trong VMC đã có kế hoạch đầu tư thêm các dây chuyền lắp ráp xe, lắp đặt hệ thống sơn tĩnh điện, xây dựng thêm các trung tâm bán và bảo hành sản phẩm Vốn điều lệ lúc này được tăng lên là 18 triệu USD (được cấp giấy phép điều chỉnh số 228/GPDC2 ngày 11 tháng 8 năm 1997)
Năm 2005 trước sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) Việt Nam đã có những chính sách mở cửa thông thoáng, trong đó có việc ban hành lộ trình giảm thuế nhập khẩu mới cho xe ô tô nhập nguyên chiếc và xe ô
tô nhập khẩu đã qua sử dụng Điều này đã góp phần tạo nên sức ép cạnh tranh rất lớn đối với các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và buôn bán ô tô trong nước Tuy nhiên dưới sự lãnh đạo của ban giám đốc công ty, VMC đã từng bước vượt qua khó khăn, tích cực tìm kiếm các đối tác kinh doanh mới, tạo công ăn việc làm cho cán
bộ công nhân viên công ty
Năm 2007 các bên trong liên doanh đã đóng góp được tổng cộng 13.350.000 USD Để phù hợp với tình hình mới ngày 2 tháng 3 năm 2007 VMC đã đăng ký lại doanh nghiệp thành công ty TNHH hai thành viên trở lên và đổi tên thành Công ty TNHH liên doanh ô tô Hòa Bình (VMC) Bổ sung thêm chức năng kinh doanh là
Trang 19nhập khẩu và phân phối xe ô tô nguyên chiếc, phụ tùng ô tô, sửa chữa ô tô, thành lập các đại lý bán buôn và bán lẻ phụ tùng ô tô
1.2.2 Cơ cấu tổ chức
Công ty TNHH Liên doanh ô tô Hòa Bình (VMC) có tổng số cán bộ công nhân viên hoạt động thường xuyên là 281 người trong đó, số công nhân trực tiếp sản xuất là 206 người, cán bộ công nhân viên gián tiếp sản xuất là 75 người
Số phòng ban, phân xưởng và tương đương bao gồm:
– Khối sản xuất có 9 phòng ban và phân xưởng – Khối hành chính có 12 bộ phận và phòng ban
Bố trí và phân công lao động được thể hiện tại Bảng 1.1
Bảng 1.1 Bố trí, phân công lao động tại nhà máy
Đơn vị Tổng số nhân
viên
Lao động trực tiếp
Lao động gián tiếp Trực tiếp SX Gián tiếp SX
Trang 20Hình 1.2 Sơ đồ hành chính tổ chức công ty TNHH Liên doanh ô tô Hòa Bình (VMC)
Trang 211.2.3 Nhu cầu sử dụng nguyên liệu, nước và năng lượng cho quá trình sản xuất
a) Nhu cầu sử dụng nguyên liệu cho quá trình sản xuất
Để lắp ráp, hoàn thiện và xuất xưởng một chiếc xe ô tô ra ngoài thị trường tiêu thụ thì lượng hóa chất cũng như các vật tư phụ đi kèm trong quá trình sản xuất
là rất đa dạng về chủng loại Định mức các loại hóa chất cũng như vật tư chính sử
dụng trong quá trình lắp ráp được trình bày tại Bảng 1.2
Bảng 1.2 Định mức một số vật tư tiêu hao trong sản xuất
STT Tên vật tư, hóa chất tiêu hao Đơn vị Định mức sử
III Hóa chất dùng để sản xuất nước DI
(Nguồn phòng Kỹ thuật – công ty VMC)
Trang 22Ngoài các chủng loại hóa chất, vật tư chính kể trên, trong sản xuất còn sử dụng một số loại hóa chất và vật tư khác để phục vụ cho việc lắp ráp và hoàn thiện một chiếc xe nhưa: Các hóa chất dùng trong sơn (Surf Primer # 40 CM- hóa chất dùng cho bể tẩy dầu; Surf Toner 30CM – Hóa chất dùng cho bể Phốt phát; pH 4 standard buffer solution – Dung dịch chuẩn pH 4…) băng dính hai mặt, dao trổ, túi lọc, xà phòng Omo…
b) Nhu cầu điện năng
Do đặc thù sản xuất của công ty nên tất cả các quy trình, công đoạn của quá trình sản xuất đều phải sử dụng điện năng nên lượng điện năng tiêu thụ hàng tháng của cơ sở sản xuất là rất lớn Trung bình lượng điện năng tiêu thụ hàng tháng vào khoảng từ: 265.000 – 350.000Kw, tuỳ thuộc vào sản lượng xe của tháng
Nguồn điện sử dụng phục vụ cho quá trình sản xuất cũng như chiếu sáng của đơn vị được lấy từ mạng lưới điện của quận Thanh Xuân thông qua trạm biến áp 1000KVA của nhà máy
c) Nhu cầu sử dụng nước
Lượng nước sử dụng tại Công ty TNHH ô tô Hòa Bình bao gồm lượng nước
sử dụng để sản xuất nước DI – Phục vụ cho phân xưởng sơn, nước để thử kín xe và nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt
Do đặc điểm trong quá trình lắp ráp, hoàn thiện xe, có công đoạn sơn sử dụng tới nước nên tổng lượng nước sử dụng cho cả sinh hoạt và sản xuất tối đa của nhà máy vào khoảng 200 m3/ ngày đêm tương đương với công suất lắp ráp là 1.500 xe/tháng, trong đó lượng nước sử dụng vào mục đích sinh hoạt chỉ vào khoảng 30
m3/ ngày đêm Tuy nhiên, trong một vài năm gần đây do sự thay đổi của thị trường
ô tô trong cả nước nên sản lượng ô tô được lắp ráp tại nhà máy cũng giảm xuống Với công suất lắp ráp hiện tại là: 5 xe/ ngày ~ 150 xe/tháng nên nhu cầu sử dụng nước cũng ít đi trung bình khoảng 65 m3/ ngày đêm
Để có thể chủ động cung cấp nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt cũng như sản xuất, nhà máy đã tiến hành khoan 01 giếng khai thác nước ngầm bên trong nhà máy Bên cạnh đó, chủ đầu tư có tiến hành xây dựng một hệ thống xử lý nước cấp
Trang 23(Hệ thống giàn phun) nhằm đảm bảo chất lượng nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất Nước sau khi được bơm từ giếng khoan lên, tùy theo mục đích sử dụng, chủ đầu tư có các giải pháp xử lý thích hợp Cụ thể:
– Đối với nước phục vụ cho phân xưởng sơn, tiến hành khử khoáng và khử các ion Kim loại (Cation và Anion) trong nguồn nước tới mức cực tiểu thông qua hệ thống khử ion DI (Deionized water)
– Đối với nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt, công ty đã đầu tư xây dựng hệ thống giàn mưa và bể lọc để xử lý nước đạt tiêu chuẩn sử dụng cho sinh hoạt (Theo kết quả phân tích của phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia – phòng phân tích và môi trường – Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam, tháng 9 năm 2008)
Bên cạnh đó, ngày 26 tháng 12 năm 2008, chủ đầu tư đã ký hợp đồng số 1380/ HĐ – NS với xí nghiệp kinh doanh nước sạch Cầu Giấy tiến hành xây lắp và cung cấp nước sạch phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cán bộ công nhân viên trong nhà máy
1.2.5 Hiện trạng môi trường
Do đặc điểm của quá trình sản xuất, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường chính từ hoạt động của dự án là nước thải từ quá trình sơn, vệ sinh công nghiệp; khí thải từ hoạt động sản xuất chỉ mang tính cục bộ và được giải quyết với các hệ thống thông gió và bảo hộ lao động cho công nhân làm việc
a) Hiện trạng môi trường không khí
Khí thải trong nhà máy chủ yếu phát sinh tại phân xưởng sơn bao gồm các thành phần chính như: SO2; NOx, CO2, VOC
Hiện trạng chất lượng khí thải của nhà máy được thể hiện qua Bảng 1.3
Trang 24Bảng 1.3 Kết quả quan trắc chất lượng khí thải sau ống thông gió của phân
xưởng Sơn năm 2012
TT Thông số thử
nghiệm Đơn vị
Kết quả thử nghiệm (KV2)
TCVN 5939:2005 Cột A C max A
KV2: Khu vực 2 – Sau ống thông gió của phân xưởng sơn (h = 8 – 9m)
Nhận xét: Các mẫu khí được lấy sau ống thông gió của phân xưởng Sơn đều
có nồng độ rất thấp, dưới giới hạn phát hiện thấy của thiết bị quan trắc môi trường
Hiện trạng chất lượng môi trường không khí xung quanh của nhà máy được
thể hiện qua Bảng 1.4
Bảng 1.4 Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí xung quanh
TT Thông số thử nghiệm Kết quả thử nghiệm QCVN
Trang 25Vị trí lấy mẫu: - KV1: Tại cổng nhà máy
- KV3: Cuối nhà máy gần khu xử lý nước thải
(Chi tiết xem phụ lục 1- 1) Nhận xét: Các thống số quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép
b) Hiện trạng nước thải
Nước thải của nhà máy có 3 loại chính là: Nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt và nước mưa chảy tràn
Nước thải sản xuất của nhà máy phát sinh chủ yếu trong phân xưởng Sơn và được phân ra thành 2 nguồn chính:
Nguồn thải thường xuyên
– Từ khu rửa dầu sơ bộ
– Từ khu xử lý bề mặt
– Buồng sơn
– Từ hệ thống sơn tĩnh điện ED (Hệ thống sơn ED)
– Từ khu sơn chống gỉ gầm xe
– Từ vệ sinh công nghiệp
Nguồn thải gián đoạn
– Từ vệ sinh bể Primer (khoảng 6 tháng/ lần)
– Vệ sinh bể Toapcoat (Khoảng 4 tháng/ lần)
– Vệ sinh bể Sơn ED coat (Khoảng 6 tháng/ lần)
Nước thải phát sinh trong sản xuất (Chủ yếu từ phân xưởng sơn) có đặc tính
là có độ pH thấp, có hàm lượng các kim loại nặng hòa tan cao và đặc biệt có lẫn sơn
do quá trình tiền xử lý và xử lý photphat trước khi tiến hành sơn lót Vì vậy, ngoài
độ pH thấp, nước thải từ khu vực này còn lẫn nhiều các ion kim loại trừ quá trình hoạt hóa, làm sạch bề mặt như: Fe2+, Cu2+, Zn2+, PO43-…
Chất lượng môi trường nước thải được thể hiện qua Bảng 1.5
Trang 26Bảng 1.5 Kết quả quan trắc chất lượng nước thải sau xử lý năm 2012
TT Thống số thử
Kết quả thử nghiệm
QCVN 24:2009/BTNMT
Vị trí lấy mẫu: Nước thải sau xử lý
Nhận xét: Các thông số phân tích trong nước thải sau khi xử lý đều nằm
trong giới hạn cho phép
c) Hiện trạng phát sinh chất thải rắn và chất thải nguy hại
Chất thải phát sinh trong sản xuất của nhà máy gồm 3 loại: Chất thải rắn tái chế, chất thải rắn nguy hại và chất thải sinh hoạt
Chất thải rắn tái chế: Phát sinh trong toàn bộ hoạt động của nhà máy
từ khối Hành chính văn phòng, kho vật tư đến khu vực sản xuất bao gồm các bao bì đựng linh kiện lắp ráp xe như: Palet gỗ, thùng catton, túi nilon, xốp nhựa, sắt phế liệu…với khối lượng ước tính khoảng 220kg/ tháng
Chất thải nguy hại: Phát sinh chủ yếu ở phân xưởng sơn trong quá
trình sản xuất của nhà máy Chúng chứa phần lớn các thành phần
Trang 27nguy hại như: Dung dịch Sơn, dầu hỏa, dung môi tẩy rửa Naptha, hóa chất dùng để pha chế sơn…Một số loại chất thải nguy hại phát sinh với khối lượng lớn tại nhà máy như: Bao tay, áo xì, mặt nạ nhiễm sơn (~33 kg/tháng); Bao bì dính sơn và hóa chất (~ 3kg/tháng); Bóng đèn huỳnh quang thải (~ 40 kg/tháng); Dầu thải (~ 17kg/tháng); Cặn bùn sơn thu hồi khi làm vệ sinh bể PP/ED (~ 294 kg/tháng)
Chất thải sinh hoạt: Bao gồm các chất thải phát sinh từ quá trình sinh
hoạt của cán bộ công nhân viên (Lượng rác này không đáng kể do công ty hiện không bố trí nhà ăn tập thể), rác thải từ khu vực các văn phòng làm việc và từ khu vực sản xuất Đặc điểm của các loại rác thải này chủ yếu có các thành phần như: Lá, cỏ cây, bụi bẩn, giẻ lau, bao tay nhiễm bẩn…với khối lượng ước tính trung bình hàng tháng vào khoảng 500 kg/tháng
Trang 28CHƯƠNG II THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH KIỂM TOÁN CHẤT THẢI TẠI CÔNG TY TNHH LIÊN DOANH Ô TÔ HÒA BÌNH (VMC)
2.1 Xây dựng quy trình thực hiện kiểm toán chất thải cho công ty NHH Liên doanh ô tô Hòa Bình
Theo quy trình kiểm toán chất thải (Hình 1.1) thì quy trình kiểm toán chất
thải tại nhà máy ô tô Hòa Bình được chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Chuẩn bị thực hiện kiểm toán hay giai đoạn tiền đánh giá: Đây
là giai đoạn cần thiết đầu tiên để có thể tiến hành kiểm toán chất thải cho nhà máy Trong giai đoạn này, chuyên viên môi trường (Người trực tiếp điều phối và triển khai thực hiện chương trình kiểm toán chất thải) phải tiến hành những công việc như:
1 Xin sự chấp thuận của cấp lãnh đạo nhà máy mà cụ thể là sự đồng ý phế duyệt kế hoạch của ông tổng giám đốc: Trần Quang Thành
2 Chuẩn bị nhân lực và tổ chức nhóm kiểm toán chất thải của nhà máy
3 Chuẩn bị các tài liệu cần thiết để thực hiện kiểm toán
4 Đánh giá và lựa chọn trọng tâm kiểm toán cũng như trọng tâm của các công việc cần thực hiện của kế hoạch
Giai đoạn 2: Thực hiện kiểm toán (Giai đoạn thu thập số liệu): Đây là giai
đoạn quan trọng nhất trong toàn bộ quy trình thực hiện kiểm toán chất thải Thông qua việc thu thập số liệu đầu vào, đầu ra, tính toán cân bằng vật chất để chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự phát sinh chất thải cũng như sự tiêu tốn nguyên nhiên vật liệu trong quá trình sản xuất
Giai đoạn 3: Hậu kiểm toán (Giai đoạn tổng kết): Trong giai đoạn này các
vấn đề về dòng thải được giải quyết thông qua việc đề xuất các biện pháp giảm thiểu trước mắt và lâu dài
2.2 Chuẩn bị kiểm toán
Bước 1: Sự chấp thuận của ban lãnh đạo cơ sở sản xuất
Chuyên viên môi trường (Trực thuộc bộ phận Thiết Bị) đề xuất chương trình: Kiểm toán chất thải với giám đốc bộ phận thiết bị và xin ý kiến chỉ đạo Sau khi,
Trang 29được chấp thuận từ cấp quản lý trực tiếp, chuyên viên môi trường soạn thảo công văn nội bộ gửi lên lãnh đạo cấp trên (Tổng giám đốc, phó tổng giám đốc) xin ý kiến, sau đó thông báo tới các phòng ban liên quan như: Hành chính để sắp xếp bố trí nhân lực, vật tư để nhận được sự giúp đỡ về số liệu, bộ phận kỹ thuật và sản xuất để
tư vấn về công nghệ sản xuất……
Bước 2: Chuẩn bị tài liệu liên quan
Chuyên viên môi trường (Người đề xuất thực hiện chương trình kiểm toán) thống kê các danh mục tài liệu cần thiết cũng như các bộ phận chịu trách nhiệm cung cấp cho việc thực hiện chương trình kiểm toán chất thải
Bảng 2.1 Danh mục một số tài liệu cần chuẩn bị
STT Danh mục tài liệu cần thiết Đơn vị chịu trách
nhiệm cung cấp
Ngày hoàn thành
1 Sơ đồ tổ chức và nguồn lao động/ nhân sự Bộ phận Hành
Chính tổ chức
2 Sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất Bộ phận Kỹ thuật
3 Danh mục các trang thiết bị sử dụng Bộ phận Thiết bị
4 Sơ đồ hệ thống cấp thoát nước & hệ thống
5 Thông kê lượng, loại, nguyên vật liệu,
năng lượng sử dụng trong sản xuất Bộ phận Kỹ thuật
6 Lượng, loại phế liệu, chất thải phát sinh
trong quá trình sản xuất
Bộ phận Hành chính tổ chức
7 Các kết quả quan trắc chất lượng môi
trường và các ý kiến đánh giá Bộ phận thiết bị
8 Thống kế sản lượng ô tô trong tháng, năm Bộ phận Sản xuất
Sau đó chuyên viên môi trường sẽ trình lên ban lãnh đạo công ty để xin ý kiến chỉ đạo
Trang 30Hình 2.1 Thủ tục hành chính khi thực hiện kiểm toán chất thải
Bước 3: Thành lập nhóm Kiểm toán Chất thải
Nhóm kiểm toán chất thải bao gồm đại diện của các phòng ban: Bộ phận Hành chính tổ chức, bộ phận Thiết bị, bộ phận Kỹ thuật, bộ phận Vật tư, bộ phận Sản xuất với vai trò và chức năng như sau:
Trang 32 Bước 4: Liệt kê các công đoạn sản xuất, đánh giá và lựa chọn trọng tâm
kiểm toán
Sơ đồ công nghệ sản xuất của nhà máy ô tô Hòa Bình
Hình 2.3 Quy trình chung lắp ráp xe của VMC
Phân tích công nghệ sản xuất, đánh giá và lựa chọn trọng tâm kiểm toán
Thuyết minh quy trình công nghệ sản xuất
Để có thể lắp ráp và hoàn thiện một chiếc xe tại công ty cần phải trải qua 4 công đoạn chính Bao gồm:
– Lắp ráp thân xe – Công đoạn sơn – Lắp ráp hoàn thiện – Bộ phận giao xe
Trang 33Hàng CKD (Linh kiện rời của vỏ xe) sau khi được nhập nguyên chiếc từ nước ngoài về sẽ được đưa đến công đoạn lắp ráp, tại đây các linh kiện đơn lẻ được gắn định vị trên các đồ gá và được liên kết với nhau bởi các mối hàn, sau một loạt các khâu hàn như: Hàn 2 hốc lốp trước với 2 dầm trước, hàn tấm chắn khoang động
cơ với vào khung xương đầu xe, hàn tấm dưới táp lô vào xe Sau đó khung xe được kiểm tra kỹ thuật rồi được đưa sang công đoạn Sơn để tiến hành Sơn vỏ xe Công đoạn này được thực hiện hoàn toàn tự động bằng các tời điện Sau khi sơn xong xe được đưa sang công đoạn lắp ráp hoàn thiện Tại đây, các chi tiết còn lại như: Cửa xe, caplo , nội thất, động cơ….được lắp ráp hoàn thiện Sau đó, xe được kiểm tra kỹ thuật, gắn mác xe, chạy thử…trước khi tiến hành giao xe
Đánh giá, lựa chọn trọng tâm kiểm toán
Do đặc thù trong công nghệ sản xuất lắp ráp ô tô của nhà máy ô tô Hòa Bình là: Lắ ráp hoàn thiện các sản phẩm ô tô nguyên chiếc từ các hàng linh kiện CKD nhập khẩu từ nước ngoài cũng như từ khảo sát thực tế tại nhà máy nhận thấy: Phần lớn các chất thải đều phát sinh từ công đoạn sơn cũng như việc sử dụng nguyên vật liệu, hóa chất cũng chủ yếu là ở công đoạn sơn xe này
Và do việc áp dụng thực hiện chương trình kiểm toán toàn phần đối với toàn
bộ quy trình sản xuất cho nhà máy ô tô Hòa Bình là rất phức tạp và tốn nhiều thời gian nên trong chương trình kiểm toán đề xuất thực hiện chỉ tập trung vào công đoạn Sơn của nhà máy và đây được coi là: Trọng tâm của chương trình kiểm toán chất thải
Mục tiêu cụ thể của chương trình kiểm toán:
– Xác định được việc tiêu thụ điện, nguyên liệu, năng lượng trong công
Trang 342.3 Thực hiện kiểm toán chất thải
2.3.1 Xác định đầu vào của quá trình
Bước 4: Xác định nguyên liêu thô sử dụng trong công đoạn Sơn
Quy trình công nghệ của phân xưởng sơn
a Sơ đồ trôi của quá trình Sơn xe
(Chi tiết xem phụ lục 2- 1)
Trang 35Thuyết minh quy trình công nghệ Sơn
Xe từ phân xưởng Hàn vỏ được đưa vào khu vực sơn trên các xe đẩy để thực hiện quá trình Sơn lớp đầu tiên (Đây cũng là lớp quan trọng nhất) Để quá trình sơn
xe đạt hiệu quả cao trước khi Sơn, xe được các kỹ thuật viên kiểm tra chất lượng, lau sạch bụi bẩn và đánh rỉ (nếu có) rồi lau tiếp bằng dầu hỏa để làm sạch dầu chống gỉ có trên xe Sau đó xe được lắp trên các đồ gá ED và các công nhân sẽ dùng súng cao áp để phun nước nóng (nhiệt độ ~ 70oC) lên toàn bộ xe để làm sạch bụi bẩn và dầu mỡ rồi xe được đưa lên dây chuyền Sơn (Bắt đầu thực hiện quá trình Sơn) bằng hệ thống tời điện và được vận hành tự động bằng hệ thống ròng rọc qua một loạt các bể như: Bể tẩy dầu áp lực cao (to = 60oC) để làm sạch tiếp lớp dầu mỡ bám trên xe, qua bể rửa nước thường, bể hoạt hóa bề mặt để giúp quá trình Phốt phát hóa phía sau được tốt hơn, rồi xe được đưa tiếp sang bể phốt phát (to = 40oC) với mục đích tạo trên vỏ một bề mặt lớp Phốt phát Kẽm mỏng khoảng 3 -4 để tạo nền tốt cho việc bám dính sơn ED phía sau Trước khi đưa vào hệ thống sơn Tĩnh điện ED (Nhiệt độ của buồng sơn luôn phải đảm bảo < 28oC để chống hiện tượng Sơn bị biến tính) và bể lọc UF, xe được đưa qua một bể nước DI để tráng sạch bề mặt xe trước khi sơn Sau khi sơn xong lớp đầu tiên xe được nhúng trong bể nước
DI rồi được đưa sang khu vực sấy trước khi sang khâu Sealer, đánh nháp ED, trạm Sơn lót, trạm đánh nháp Sơn lót, trạm Sơn bóng và trạm sửa chữa (Trạm rectification) để kết thúc quá trình Sơn
Thời gian thực hiện một quy trình sơn xe từ lúc xe vào trạm đầu tiên (Trạm Primer/Topcoat) và đến trạm cuối cùng (Trạm Rectification) là 2 tiếng
Công đoạn Sơn này là công đoạn quan trọng nhất trong toàn bộ dây chuyền lắp ráp xe ô tô tại nhà máy Việc kiểm soát tốt quá trình Sơn đồng nghĩa với việc kiểm soát tốt chất lượng xe thành phẩm Chính vì vậy, trong quá trình sản xuất, lắp ráp phân xưởng Sơn luôn được sự quan tâm, ưu tiên hàng đầu về thiết bị công nghệ, máy móc cũng như con người
Trang 36b Sơ đồ dòng vật chất vào ra của quy trình sơn xe
Trang 37Vật tư sử dụng trong quy trình Sơn rất đa dạng và tùy thuộc vào màu sắc của
xe được yêu cầu lắp ráp nên việc thống kế vật tư tiêu hao của Công đoạn sơn gặp rất nhiều khó khăn
Các loại nguyên liệu sử dụng cho dây chuyền Sơn xe là: Dung dịch Sơn và các dung môi dùng trong việc pha sơn (Được cung cấp bởi Nippon Việt Nam); NaOH (Xút) dùng cho bể tẩy dầu; HCl 31% , NaOH…dùng cho sản xuất nước DI (một loại nước đã được khử khoáng và các ion Kim loại); bao tay, giẻ lau, hợp chất Sealer, áo xì, mặt nạ chống độc; dầu đốt (sử dụng để làm nóng nước); gas để làm nóng lò sấy và sấy xe … Nhu cầu nguyên liệu cho dây chuyền sơn xe được thể hiện
ở Bảng 2.3 (Tính theo số liệu trung bình năm 2011 & 2012)
Bảng 2.2 Thống kê vật tư tiêu hao qua các năm
STT Vật tƣ, hóa chất tiêu hao Đơn vị Năm 2011 Năm 2012
Trang 38 Bước 5: Thống kê tiêu thụ nước, nhiên liệu năng lượng
Tiêu thụ nước
Nhà máy sử dụng hai loại nguồn cấp nước là nước sạch thành phố và nước ngầm Lượng nước này được dùng cho sản xuất nước DI, cho rửa xe và thử kín xe cũng như cho sinh hoạt Mức tiêu thụ nước ngầm được theo dõi và ghi chép hàng ngày trong nhật ký khai thác nước ngầm của công ty
Mức độ sử dụng nước của nhà máy được thể hiện qua Bảng 2.4 (Tính theo số
liệu trung bình từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 12 năm 2012)
Trang 39Bảng 2.3 Nhu cầu sử dụng nước của nhà máy năm 2011
Bảng 2.4 Nhu cầu sử dụng nước của nhà máy năm 2012
Trang 40Hình 2.5 Biểu đồ tiêu thụ nước ngầm và nước sạch thành phố của nhà máy năm
2011 và năm 2012
Nhìn vào biểu đồ ta thấy, khối lượng nước sạch và nước ngầm sử dụng có sự đồng đều qua các năm như: Năm 2011 lượng nước ngầm sử dụng nhiều hơn năm
2012 thì nước sạch sử dụng năm 2011 cũng nhiều hơn năm 2012)
Nhìn vào biểu đồ ta cũng nhận thấy, khối lượng nước sử dụng nhìn chung là biến thiên tỷ lệ thuận với sản lượng xe xuất xưởng (PDI), khi sản lượng xe nhiều thì lưu lượng nước sử dụng cũng nhiều hơn Tuy nhiên, vào tháng 3,4,5 của năm 2011
và năm 2012 thấy có sự bất thường so với các tháng trước vì đây là thời điểm vệ sinh nhà xưởng, vệ sinh hệ thống Primer/Topcoat nên lượng nước tiêu thụ tăng đột biến so với các tháng trước Lượng nước ngầm tiêu thụ trung bình của năm 2011 là: 2.696 m3/ tháng, lượng nước sạch sử dụng là: 277 m3/ tháng với sản lượng xe là:
575 xe/ năm và lượng nước ngầm tiêu thụ trung bình của năm 2012 là 2.958 m3
/ tháng, nước sạch là: 208 m3/ tháng với sản lượng xe là: 1133 xe/ năm
Từ sản lượng xe và mức nước tiêu thụ ta cũng xây dựng được biểu đồ thể hiện sự tương quan giữa mức tiêu thụ nước trung bình và sản lượng xe của năm
2011 và năm 2012