1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu chức năng, dịch vụ văn hoá tại vườn quốc gia ba vì và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý

99 257 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Dưới tác động của quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu và giao lưu văn hóa thế giới, đã xuất hiện nhiều loại hình văn hóa ở nước ta: du lịch văn hóa tâm linh, tham quan bản sắc văn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN PHI HÙNG

NGHIÊN CỨU CHỨC NĂNG, DỊCH VỤ VĂN HÓA TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững

(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG VĂN THẮNG

HÀ NỘI - Năm 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận án này là do tự bản thân thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu khác để làm sản phẩm của riêng mình Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận án có nguồn gốc và được trích dẫn

rõ ràng Tác giả luận văn hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận án

Tác giả

Nguyễn Phi Hùng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đến nay, tôi luôn nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy, các cô, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc, chân thành nhất, tôi xin gửi tới TS Hoàng Văn Thắng người trực tiếp cùng những người thầy của Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học quốc gia Hà Nội đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian họp tập, thực hiện và hoàn thành luận án này

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo và các đồng nghiệp Vườn quốc gia Ba Vì đã ủng hộ và đóng góp ý kiến quí báu giúp tôi thu thập số liệu cũng như hoàn thành luận án

Cuối cùng tôi xin cảm ơn các thành viên trong gia đình đã động viên, ủng

hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận án của mình

Tác giả

Nguyễn Phi Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu luận văn 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

4 Bố cục luận văn 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Một số khái niệm 3

1.1.1 Khái niệm về Vườn Quốc Gia 3

1.1.2 Dịch vụ văn hoá 4

1.1.3 Khái niệm quản lý 6

1.1.4 Khái niệm hiệu quả 6

1.1.5 Khái niệm du lịch 7

1.1.6 Khái niệm du lịch tâm linh 9

1.1.7 Khái niệm du lịch văn hóa 10

1.1.8 Chức năng dịch vụ văn hoá 10

1.1.9.Chức năng sinh thái VQG 11

1.2 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài trên thế giới 11

1.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài ở Việt Nam 12

1.3.1 Quan niệm về quản lý đối với dịch vụ văn hóa 13

1.3.2 Đặc điểm của quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá 14

1.3.3 Sự cần thiết khách quan về quản lý đối với dịch vụ văn hóa trong nền kinh tế thị trường 15

CHƯƠNG II: ĐỊA ĐIỂM, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU21 2.1 Địa điểm nghiên cứu 21

2.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích, giao thông 21

2.1.2 Một số đặc điểm tự nhiên 22

2.1.3 Đặc trưng văn hóa, kinh tế xã hội ở vùng đệm VQG Ba Vì 33

Trang 5

2.2 Thời gian nghiên cứu 37

2.3 Phạm vi nghiên cứu 37

2.3.1 Không gian 37

2.3.2 Chuyên môn 37

2.4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 38

2.4.1 Phương pháp luận 38

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 43

CHƯƠNG III:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46

3.1 Hiện trạng dịch vụ du lịch của VQG Ba Vì 46

3.1.1 Các điểm du lịch tâm linh 47

3.1.2 Các tuyến du lịch khám phá thiên nhiên 49

3.1.4 Các phế tích thời Pháp thuộc 49

3.1.5 Một số khu du lịch 51

3.2 Kết quả hoạt động du lịch của VQG Ba Vì 52

3.2.1 Kết quả tự hoạt động 52

3.2.2 Cho thuê môi trường rừng 54

3.2.3 Liên doanh, liên kết 56

3.3.Chức năng sinh thái của VQG Ba Vì 57

3.4 Dịch vụ văn hóa của VQG Ba Vì 58

3.4.1 Tinh thần, tâm linh 58

3.4.2 Vui chơi, nghỉ ngơi giải trí 59

3.4.3 Khoa học, giáo dục 59

3.4.4 Chữa bệnh và nghỉ dưỡng 60

3.5 Lượng giá dịch vụ văn hóa 60

3.5.1 Độ tuổi khách tham quan 60

3.5.2 Địa điểm nơi du khách xuất phất 61

3.5.2 Phương tiện đi lại 61

3.5.3 Mục đích tham quan 62

3.5.4 Thời gian lưu trú 62

Trang 6

3.5.5 Thu nhập bình quân của du khách 63

3.5.6 Sẵn sàng chi trả cho vé vào cổng 64

3.6 Tiềm năng du lịch của VQG Ba Vì 66

3.7 Đánh giá chung về hoạt động du lịch tại VQG Ba Vì 67

3.7.1 Tính mùa vụ trong du lịch 67

3.7.2 Cơ sở vật chất và dịch vụ du lịch: 67

3.7.3 Điểm mạnh, điểm yếu , cơ hội thách thức 68

CHƯƠNG IV: NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DỊCH VỤ VĂN HÓA VQG BA VÌ 70

4.1.Nâng cao hiệu quả quản lý VQG Ba Vì 70

4.1.1 Nâng cao năng lực 70

4.1.2 Cơ chế chính sách 72

4.1.3 Áp dụng khoa học công nghệ 73

4.1.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm 73

4.2 Nâng cao hiệu quả quản lý dịch vụ văn hóa tại VQG Ba Vì 74

4.2.1 Tuyên truyền nâng cao nhận thức 74

4.2.2 Định hướng thị trường khách 76

4.2.3 Xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, bản sắc riêng 77

4.2.4 Đẩy mạnh công tác phối hợp 81

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Kinh tế - xã hội Vườn quốc gia

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Số liệu khí hậu trạm Ba Vì 25

Bảng 2 Kết quả nghiên cứu động vật rừng VQG Ba Vì 31

Bảng 3 Lượng khách đến Ba Vì từ 2011-2015 53

Bảng 4 Lượng du khách quốc tế đến Ba Vì từ 2011-2015 53

Bảng 5 Biểu tổng hợp các điểm cho thuê môi trường rừng để kinh doanh dịch vụ DLST 79

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Sơ đồ vị trí VQG Ba Vì 21

Hình 2 Bản đồ thổ nhưỡng VQG Ba Vì 23

Hình 3 Bản đồ khí hậu VQG Ba Vì [24] 26

Hình 4 Sơ đồ tuyến điểm du lịch của VQG Ba Vì 46

Hinh 5 Biểu đồ lượng khách đến VQG Ba Vì từ 2011-2015 53

Hình 6 Biểu đồ lượng khách nước ngoài đến VQG từ năm 2011-2015 54

Hình 7 Biểu đồ độ tuổi khách tham quan 60

Hình 8 Biểu đồ nơi du khách xuất phát tới Vườn 61

Hình 9 Biểu đồ phương tiện đi lại của du khách 61

Hình 10 Biểu đồ mục đích tham quan của du khách 62

Hình 11 Biểu đồ thời gian lưu trú 62

Hình 12 Biểu đồ thu nhập bình quân của du khách 63

Hình 13 Biểu đồ sẵn sàng chi trả cho vé vào cổng 64

Trang 10

VQG Ba Vì là vùng núi chuyển tiếp với hệ sinh thái rừng nhiệt đới còn tồn tại khá nhiều loài thực vật, động vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới như gà lôi trắng, khỉ, cu li, sóc bay, rắn hổ mang chúa …là đặc trưng cho vùng trung du Bắc bộ rất có giá trị về nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen và giáo dục môi trường, nơi đây cònsở hữu một thảm thực vật vô cùng phong phú được xem như lá phổi xanh của thủ đô Hà Nội; là nơi phòng hộ đầu nguồn, nơi cung cấp nguồn nước sản xuất, nước sinh hoạt của người dân sinh sống quanh chân núi Ba Vì và núi Viên Nam

Mỗi năm, khu vực này có hàng triệu lượt du khách đến thăm quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu thiên nhiên và lượng khách dự báo sẽ tăng mạnh trong tương lai đã hình thành nhiều Dịch vụ văn hóa (DVVH) nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Các loại hình DVVH tác động lớn đến thẩm mỹ, đạo đức, lối sống của con người

Nhằm thực hiện tốt công tác bảo tồn đa dạng sinh học, giữ gìn bản sắc văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, tổ chức các DVVH cũng như quản lý có hiệu quả các DVVH tại VQG Ba Vì không chỉ là mối quan tâm của lãnh đạo VQG

Ba Vì mà còn được sự quan tâm của lãnh đạo đảng, nhà nước và chính quyền địa phương các cấp

Trang 11

bức chân dung hiện thực sinh động về chức năng và nhiệm vụ của VQG Ba

Vì trong các hoạt động DVVH, thông qua đó sẽ hiểu rõ hơn về những hoạt động hiện có tại nơi đây; từ đó sẽ đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý DVVH cũng như dịch vụ du lịch một cách toàn diện, đáp ứng nhiệm vụ chuyên môn cũng như các quy định pháp luật hiện hành là việc làm cần thiết, mang tính thực tiễn cao

2 Mục tiêu luận văn

- Xác định được hiện trạng về du lịch sinh thái, tâm linh, tri thức bản địa, tại VQG Ba Vì;

- Nâng cao hiệu quả quản lý về chức năng, dịch vụ văn hóa tại VQG Ba

3 Nội dung nghiên cứu

- Xác định được các chức năng, dịch vụ văn hoá của VQG Ba Vì;

- Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch và tiềm năng, tài nguyên du lịch sinh thái của VQG Ba Vì;

- Lượng giá bước đầu về dịch vụ văn hoá của VQG Ba Vì;

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chức năng, dịch vụ văn hoá VQG Ba Vì

4 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo

và phần phụ lục, luận văn gồm 4 chương:

Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương II: Địa điểm, thời gian, phạm vi, phương pháp luận nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu

Chương III: Kết quả nghiên cứu

Chương IV: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dịch vụ văn hóa

Trang 12

3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm về Vườn Quốc Gia

VQG là một khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại VQG được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp bởi con người Vườn quốc gia thường được thành lập ở những khu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài động-thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt trước sự khai thác của con người [5]

Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) [5] thì VQG là:

Khu vực tự nhiên của vùng đất và/hoặc vùng biển, được chọn để:

- Bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và tương lai

- Loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ không thân thiện đối với các mục đích của việc chọn lựa khu vực

- Chuẩn bị cơ sở cho các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và tham quan, tất cả các cơ hội đó phải có tính tương thích về văn hóa và môi trường

Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ, thay thế cho Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày

11 tháng 01 năm 2001 về Quy chế quản lý rừng thì VQG là một dạng rừng đặc dụng, được xác định trên các tiêu chí sau [7,10] :

VQG là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp

Trang 13

4

VQG được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng

và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái

VQG được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn

và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn

1.1.2 Dịch vụ văn hoá

a) Khái niệm DVVH

DVVH là những lợi ích phi vật chất mà con người thu được thông qua

sự làm giàu về tinh thần, phát triển nhận thức, suy nghĩ, sáng tạo, và trải nghiệm về mỹ học

Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh các hàng hóa vật thể hữu hình còn có những loại dịch vụ mà người ta mua và bán trên thị trường Đó là hàng hóa phi vật thể, hay còn gọi là hàng hóa - dịch vụ DVVH là những hoạt động trên lĩnh vực văn hóa có tổ chức và được trả công, nhằm phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của công chúng DVVH tồn tại ở nhiều dạng: văn hóa phi vật thể, văn hóa tâm linh, văn hóa du lịch, văn hóa giải trí, văn hóa sinh hoạt xã hội…Những nhân tố ảnh hưởng đến dịch vụ văn hóa bao gồm: nhân tố thời đại, nhân tố truyền thống, nhân tố lịch sử DVVH hiện nay ở Việt Nam có cả dịch vụ văn hóa công như: các DVVH về tâm linh, du lịch và một

số dịch vụ văn hóa về sinh hoạt xã hội, Tuy nhiên hiện nay các DVVH công được tổ chức thực hiện theo sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch một cách khá tốt, không có nhiều những biến tướng, phức tạp Ngược lại, các dịch vụ văn hóa tư nhân hiện nay lại đang có những bất cập đi ngược lại với thuần phong mỹ tục của dân tộc nên đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ, hiệu quả hơn [2,16,30,31]

b) Đặc điểm và vai trò của dịch vụ văn hóa

Trang 14

5

Ngày nay, nền sản xuất xã hội cùng với khoa học - kỹ thuật và công nghệ phát triển với tốc độ cao đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động xã hội, làm gia tăng nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như cuộc sống văn minh của con người Từ đó, hoạt động dịch vụ trở thành một ngành kinh tế độc lập DVVH là loại hình dịch vụ đời sống nhằm thoả mãn nhu cầu con người, làm cho con người sống ngày càng văn minh, hiện đại Thực tế hiện nay cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, khi thu nhập của người dân tăng lên,

đủ ăn, đủ mặc thì hoạt động dịch vụ văn hoá không thể thiếu Theo đó, DVVH có các đặc điểm như sau:

- Giá trị sử dụng của sản phẩm dịch vụ không có hình thái vật thể (hữu hình) mà tồn tại dưới hình thái phi vật thể

- Quá trình sản xuất ra hàng hóa dịch vụ hướng vào phục vụ trực tiếp người tiêu dùng với tư cách là những khách hàng, quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời

- Do không mang hình thái vật thể và do quá trình sản xuất đồng thời cũng là quá trình tiêu dùng, nên hàng hóa dịch vụ không thể tồn tại độc lập, không thể tích lũy hay dự trữ Hiện nay, trong xã hội nước ta xuất hiện rất nhiều các loại hoạt động dịch vụ Chính quá trình này đã phát sinh nhiều biểu hiện cần được quan tâm

- Dưới tác động của quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu và giao lưu văn hóa thế giới, đã xuất hiện nhiều loại hình văn hóa ở nước ta: du lịch văn hóa tâm linh, tham quan bản sắc văn hóa dân tộc vùng miền du lịch, trải nghiệm trong rừng ( trekking) hay karaoke, vũ trường, quảng cáo, băng đĩa nhạc, cà phê video, internet…Các loại hình này ngày càng phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tinh thần của con người Có thể nói rằng các loại dịch vụ trong xã hội ngày càng phát triển đa dạng, vừa tạo cơ hội cho người kinh doanh, lại vừa đáp ứng nhu cầu tinh của chính bản thân con người [9,16]

Trang 15

6

1.1.3 Khái niệm quản lý

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động”

Theo một cách tiếp cận hệ thống, mọi tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp…) đều có thể được xem như một hệ thống gồm hai phân hệ: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạt động trong môi trường nhất định (khách thể quản lý) [15,31,32]

Với khái niệm trên, quản lý phải bao gồm các yếu tố (điều kiện) sau:

- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và

ít nhất một đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể có quan hệ gián tiếp của chủ thể quản lý Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần

- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng quản lý

và chủ thể quản lý Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể quản lý đưa ra các tác động quản lý

- Chủ thể phải thực hành việc tác động và phải biết tác động Vì thế đòi hỏi chủ thể phải biết tác động và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả

- Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, hoặc một cơ quan quản lý còn đối tượng quản lý có thể là con người (một hoặc nhiều người) giới vô sinh hoặc sinh vật Quản lý chính là sự kết hợp được mọi nỗ lực chung của mọi người trong tổ chức và sử dụng tốt nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt tới mục tiêu chung của tổ chức và mục tiêu riêng của mỗi người một cách khôn khéo và có hiệu quả nhất

1.1.4 Khái niệm hiệu quả

Theo các nhà ngôn ngữ học khái niệm hiệu quả được hiểu là: Kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại Nhưng theo từ điển Lepetit Lasousse định

Trang 16

Theo cách tiếp cận này, “Hiệu quả chính là chỉ số so sánh giữa kết quả thu về với chi phí, công sức bỏ ra”

1.1.5 Khái niệm du lịch

Dưới con mắt của Guer Freuler thì “du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào

sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên” [23]

Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân

mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó Chúng ta cũng thấy ý tưởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ” (về sau định nghĩa này được hiệp hội các chuyên gia khoa học về du lịch thừa nhận) [23]

Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn

thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế Nhà kinh tế học

Edmod đưa ra định nghĩa: “du lịch là việc tổng hoà việc tổ chức và chức

Trang 17

8

năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí” [23]

Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn thư Việt Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt Theo các chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: Nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh Theo định nghĩa thứ hai, du lịch được coi

là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thông lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ

Để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch thành hai phần để định nghĩa nó Du lịch có thể được hiểu là:

- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của

cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyên cung ứng

- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh

Các loại hình du lịch: Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tuỳ thuộc tiêu chí đưa ra Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây [19]:

Trang 18

- Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch: Du lịch miền biển;

Du lịch núi; Du lịch đô thị; Du lịch thôn quê

- Phân loại theo phương tiện giao thông: Du lịch xe đạp; Du lịch ô tô;

Du lịch bằng tàu hoả; Du lịch bằng tàu thuỷ; Du lịch máy bay

- Phân loại theo loại hình lưu trú: Khách sạn; Nhà trọ thanh niên; Camping; Bungaloue; Làng du lịch

- Phân loại theo lứa tuổi du lịch: Du lịch thiếu niên; Du lịch thanh niên;

Du lịch trung niên; Du lịch người cao tuổi

- Phân loại theo độ dài chuyến đi; Du lịch ngắn ngày; Du lịch dài ngày

- Phân loại theo hình thức tổ chức: Du lịch tập thể; Du lịch cá thể; Du lịch gia đình

- Phân loại theo phương thức hợp đồng: Du lịch trọn gói; Du lịch từng phần

1.1.6 Khái niệm du lịch tâm linh

Du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần Do đó, việc sử dụng có trách nhiệm và bền vững các giá trị văn hóa và tự nhiên trong phát triển du lịch tâm linh sẽ mang lại cơ hội việc làm, tạo thu nhập cho người dân địa phương, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, khôi phục và

Trang 19

10

bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia cũng như toàn nhân

loại [1,13]

1.1.7 Khái niệm du lịch văn hóa

Du lịch văn hóa là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với Việt Nam song đã có một lịch sử lâu dài trên thế giới Tổ chức du lịch thế giới (WTO- World Tourism Organization) từng thống kê du lịch văn hóa đóng góp khoảng 37% du lịch toàn cầu và dự báo có thể tăng khoảng 15% mỗi năm Có rất nhiều quốc gia thế giới khai thác hiệu quả loại hình này trong đó có các quốc gia Đông Nam Á

Theo định nghĩa của WTO, du lịch văn hóa là những chuyến đi mà mục đích chính hoặc mục đích bao gồm trong đó là thăm các địa điểm, sự kiện mà giá trị văn hóa, lịch sử của chúng khiến chúng trở thành một phần trong di sản văn hóa của một cộng đồng Như vậy, với định nghĩa này có thể thấy tham quan các điểm di sản văn hóa không nhất thiết là động lực chính của một chuyến du lịch văn hóa Từ đó chúng ta có thể kết hợp du lịch văn hóa cùng các loại hình khác để tăng hiệu quả, sự hấp dẫn Tiêu biểu hiện nay có thể kể đến loại hình “Eco- cultural” tourism, tức là kết hợp du lịch văn hóa và sinh thái [13,18,23]

1.1.8 Chức năng dịch vụ văn hoá

a) Văn hoá (bao gồm cả việc sử dụng tự nhiên như là một mô típ trong sách, phim, ảnh, kiến trúc, quảng bá)

b) Tinh thần, tâm linh và lịch sử (sử dụng tự nhiên cho tín ngưỡng, giá trị di sản hoặc thiên nhiên)

c) Vui chơi, nghỉ ngơi giải trí (bao gồm du lịch sinh thái, thể thao ngoài trời, tiêu khiển)

d) Khoa học và giáo dục (bao gồm việc sử dụng các hệ tự nhiên, hệ sinh thái

tự nhiên cho học sinh, sinh viên dã ngoại và khám phá khoa học) [9]

e) Chữa bệnh (và nghỉ dưỡng) bao gồm chữa bệnh sinh thái, chữa bệnh nhờ rừng xã hội và sự hỗ trợ giúp đỡ của động vật…

Trang 20

11

1.1.9.Chức năng sinh thái VQG

a) Chức năng cung cấp: Là các sản phẩm con người thu được từ các HSTnhư lâm sản ngoại gỗ, cây thuốc

b) Chức năng điều tiết: Là lợi ích mà con người thu được từ hoạt động điều tiết của HST, bao gồm duy trì chất lượng không khí, điều tiết khí hậu, ngăn chặn lũ lụt

c) Chức năng văn hóa: Là những lợi ích phi vật chất mà con người thu được thông qua sự làm giàu về tinh thần, phát triển nhận thức, suy nghĩ, sáng tạo, và trải nghiệm về mỹ học

d)Chức năng hỗ trợ: Là những dạng dịch vụ cung cấp những hoạt động cần thiết cho tất cả các loại dịch vụ khác, ví dụ như sản xuất ôxy, điều hòa khí hậu [6,13]

1.2 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài trên thế giới

Văn hóa vốn là hiện tượng xã hội hết sức đa dạng, phức tạp, đa cấp độ, văn hóa từng được nhìn nhận theo nhiều cách thức khác nhau Ở trình độ lý luận và yêu cầu của xã hội hiện nay, văn hóa được xem như là tất cả những gì liên quan đến con người, ít nhiều thể hiện được sức mạnh bản chất của con người Từ đó, có thể hiểu văn hóa là những phương thức và kết quả hoạt động của con người đạt được trong lịch sử, bao gồm giá trị vật chất, giá trị tinh thần

do con người sáng tạo ra Với nghĩa hẹp, văn hóa phản ánh hệ thống các giá trị và quy tắc ứng xử được xã hội chấp nhận Theo nghĩa này, văn hóa hàm chứa những quan điểm về mục đích, giá trị và lý tưởng của xã hội Văn hóa hướng con người tới chân, thiện, mỹ Nói đến văn hóa là nói đến con người và văn hóa là thuộc tính biểu hiện bản chất xã hội của con người

Với tính phức tạp, đa chiều như vậy thật khó khăn để đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, có tính bao quát về văn hóa Nghiên cứu về văn hóa chúng tôi hiểu rằng, văn hóa chính là tổng thể những giá trị do con người sáng tạo ra (văn hóa tức là nhân hóa), đó là các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần và bản thân sự phát triển của con người Các giá trị này, thực chất chính là kết quả

Trang 21

12

của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Các giá trị này đều tương tác và gắn bó với nhau Trong các giá trị vật chất có các giá trị tinh thần và trong các giá trị tinh thần đều hàm chứa các giá trị vật chất Trong hai giá trị đó cũng hàm chứa sự phát triển của năng lực bản chất của con người

Dù là văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần cũng đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của con người Vì vậy, Mác đã nói rằng, văn hóa là sự thể hiện các năng lực bản chất của con người, bao gồm khả năng, sức mạnh, phương thức nhận thức, đánh giá và cải tạo thế giới của con người

Từ cách hiểu như vậy về văn hóa, chúng tôi lựa chọn định nghĩa chính thức về văn hóa của UNESCO (đây cũng là một định nghĩa văn hóa được nhiều người chấp nhận) để làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài của mình: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [16]

1.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài ở Việt Nam

Hiện nay các sản phẩm du lịch văn hóa của Việt Nam khá phong phú và

đa dạng tuy nhiên để đưa vào khai thác và kinh doanh du lịch được tốt hơn thì

có thể kể đến một số những đơn vị đã tận dựng được thành công như: ở Quảng Nam có thánh địa Mỹ Sơn, khu Phố cổ Hội An Ở Huế thì người dân

xứ Huế luôn tự hào về những tiềm năng du lịch văn hóa của mình Vì vậy, Thành phố Huế luôn xác định du lịch văn hoá là trọng tâm, Ở Hà Nội thì du lịch văn hóa được các công ty du lịch luôn đặt lên hàng đầu trong các tourr du lịch của họ Ví dụ như tour tham quan lăng Bắc, Văn Miếu, thăm phố cổ Hà Nội

Hiện nay với quan điểm nhìn nhận văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và

Trang 22

13

các mặt của đất nước, thì để thu hút khách du lịch, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch văn hóa sẽ tập trung xây dựng các dòng sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Tuy nhiên trong khi tiềm năng du lịch văn hóa nước ta vô cùng phong phú thì các sản phẩm du lịch văn hóa Việt Nam lại quá nghèo nàn, chỉ mới khai thác những cái có sẵn, chưa có tính độc đáo cạnh tranh với các nước trong khu vực Từ đó mà các nghiên cứu về du lịch văn hóa đang ngày càng được quan tâm [2]

1.3.1 Quan niệm về quản lý đối với dịch vụ văn hóa

Phạm Ngọc Thanh cho rằng “Quản lý là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công

cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường” (Quản lý văn hóa trong thời đại mới) [2] Trên cơ

sở nghiên cứu, tổng hợp những quan điểm hợp lý của nhiều quan niệm khác nhau về quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá, có thể rút ra: Quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá là phương thức mà thông qua hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch Nhà nước tác động vào đối tượng quản lý để định hướng, điều chỉnh những hoạt động của xã hội về lĩnh vực văn hoá đi theo đúng hướng, đúng mục đích theo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hoá trong từng giai đoạn phát triển của đất nước [2]

Như vậy, nói đến quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá là nói tế khách quan; mặt khác, phải có một hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch thích hợp để quản lý hoạt động dịch vụ văn hoá Quan niệm này bao hàm những nội dung cơ bản như: các cơ quan nhà nước

có chức năng quản lý Nhà nước về dịch vụ văn hoá từ Trung ương đến địa phương là chủ thể quản lý; các quan hệ xã hội vận động và phát triển trong lĩnh vực dịch vụ văn hoá là đối tượng quản lý và hệ thống pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, là công cụ để Nhà nước thực hiện sự quản lý [31]

Trang 23

14

Với tư cách là đối tượng quản lý, hoạt động dịch vụ văn hoá phải được

tổ chức và vận động trên cơ sở các quy định của pháp luật và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Với tư cách là cơ sở và là công cụ để Nhà nước thực hiện sự quản lý, pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, phải được xây dựng trên cơ sở chính xác, đầy đủ, thống nhất là những chuẩn mực để đối tượng quản lý dựa vào dó vận động, phát triển và chủ thể quản lý thực hiện sự kiểm tra, giám sát đối tượng quản lý

Quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá là tạo môi trường thông thoáng, ổn định, định hướng, hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ văn hoá phát triển nhưng có trật tự nhằm giải quyết hài hoà các lợi ích Thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động dịch vụ văn hoá nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương, uốn nắn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật Điều khiển những hoạt động của văn hoá, đời sống văn hoá đi theo đúng chuẩn mực xã hội chủ nghĩa Mục đích cuối cũng là tạo được tính nhân văn, nhân bản trong mỗi con người để phát triển hoàn thiện nhân cách của từng cá nhân trong cộng đồng từ

đó giữ gìn được bản sắc dân tộc kết hợp với sự tiến bộ của nhân loại

1.3.2 Đặc điểm của quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá

Một là, Nhà nước là người tổ chức và quản lý các hoạt động dịch vụ văn hoá diễn ra trong nền kinh tế thị trường Xuất phát từ đặc trưng của nền kinh tế thị trường là tính phức tạp, năng động và nhạy cảm Vì vậy, hoạt động dịch vụ văn hoá đòi hỏi Nhà nước phải đề ra pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng các công cụ này để tổ chức và quản lý hoạt động dịch vụ văn hoá [2]

Hai là, hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch…phát triển dịch vụ văn hoá là cơ sở, là những công cụ để Nhà nước tổ chức và quản lý hoạt động dịch vụ văn hoá Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động dịch vụ văn hoá diễn ra hết sức phức tạp với sự đa dạng về chủ thể, về hình thức tổ chức và quy mô hoạt động Dù phức tạp thế nào đi

Trang 24

Ba là, quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hoá đòi hỏi phải

có một bộ máy Nhà nước mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước có trình độ, năng lực thực sự Quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hoá phải tạo được những cân đối chung, điều tiết được thị trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi hoạt động dịch vụ văn hoá phát triển Và để thực hiện tốt điều này thì tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước không thể khác hơn là phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả từ Trung ương đến địa phương

Bốn là, quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hoá còn xuất phát từ chính nhu cầu khách quan của sự gia tăng vai trò của chính sách pháp luật trong nền kinh tế thị trường với tư cách là công cụ quản lý Nền kinh tế thị trường với những quan hệ kinh tế rất đa dạng và năng động đòi hỏi có một sân chơi an toàn và bình đẳng, đặc biệt khi vấn đề toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế là mục tiêu mà các quốc gia hướng tới Trong bối cảnh

đó, phải có một hệ thống chính sách, pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp không chỉ với điều kiện trong nước mà còn với thông lệ và luật pháp quốc tế Đây là sự thách thức lớn đối với mỗi quốc gia Bởi vì, mọi quan hệ hợp tác dù ở bất kỳ lĩnh vực nào và đối tác nào cũng cần có trật tự nhất định và chỉ có thể dựa trên

Trang 25

16

Nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa phải hội tụ cả hai yếu tố: yêu nước

và tiến bộ Yêu nước là truyền thống của dân tộc, yêu nước ngày nay cũng chính là yêu chủ nghĩa xã hội; yếu tố tiến bộ ở đây, ngoài việc phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc, còn phải kế thừa và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại phù hợp với đặc điểm dân tộc Việt Nam

Đậm đà bản sắc dân tộc chính là những giá trị của dân tộc đã được hun đúc trong suốt nghìn năm dựng nước và giữ nước Đó chính là truyền thống đoàn kết, lòng nhân ái, khoan dung, độ lượng, vị tha, đức tính nhân nghĩa, cần cù trong lao động, sự ham học hỏi và cầu tiến, tinh thần bất khuất, kiên cường…

Vấn đề quan trọng là định hướng hoạt động dịch vụ văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Nếu không có định hướng tốt, nếu buông lỏng sự hướng dẫn của cơ quan chức năng và vai trò quản lý của nhà nước, thì sẽ dẫn đến hoạt động dịch vụ văn hóa tràn lan, vi phạm pháp luật, tác động tiêu cực trong xã hội và ảnh hưởng đến thuần phong

mỹ tục của dân tộc [2]

Một vấn đề đặt ra, nếu trong lĩnh vực kinh tế thì xóa bao cấp, còn trong lĩnh vực văn hóa thì phải như thế nào? Phát triển văn hóa để xây dựng nền tảng tinh thần cho xã hội, vậy thì phát triển văn hóa để xây dựng nền tảng tinh thần cho xã hội cần được tiến hành ra sao? Từ trong thực tế cuộc sống cho thấy, với quy luật sinh tồn, văn hóa là giao lưu, tiếp diễn, kế thừa và sáng tạo, không thể có một chế độ nào, một bộ máy công quyền nào có thể bao cấp toàn

bộ về nền tảng tinh thần nói chung, về văn hóa chính trị nói riêng Bởi lẽ nền tảng tinh thần của bất kỳ cộng đồng dân tộc nào cũng được sản sinh và xây dựng trong chính cuộc sống thường ngày của mỗi người dân, chứ không thể chỉ bằng món ăn ngoại nhập, văn hóa từ nước ngoài vào hay từ trên xuống Nền tảng tinh thần ấy chính là bản sắc dân tộc, là diện mạo đích thực của mỗi dân tộc, trên những chặng đường thăng trầm của lịch sử

Ngày nay, văn hóa có ý nghĩa to lớn trong đời sống con người và sự phát triển của xã hội Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng

Trang 26

17

(khóa VIII) đã ban hành nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Nghị quyết đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” Quan điểm của Đảng ta là xây dựng một nền văn hóa Việt Nam hội đủ các yếu tố yêu nước, tiến bộ, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước

Trong tình hình hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập nền kinh tế quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa Quá trình này, thay đổi một cách toàn diện từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; một bộ máy hành chính quan liêu, nhiều tầng nấc, chuyển thành bộ máy của nhà nước pháp quyền Và từ đó, những khái niệm

“hàng hóa”, “sản xuất hàng hóa”, “cơ chế thị trường”, “các loại thị trường”…đã được phổ biến trong xã hội

Văn hóa là một hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội Nhưng giá trị không tồn tại siêu hình, mà giá trị chính là nội dung, là bản chất của văn hóa, bao giờ cũng được khách quan hóa, đối tượng hóa dưới dạng những hình thức, những hiện tượng, những quan hệ và quá trình xã hội

Quản lý văn hóa không đơn giản là công tác tuyên truyền, huấn thị, mà chính là quản lý những quá trình xã hội này Khoa học quản lý đòi hỏi phải nhìn nhận những đối tượng quản lý trong sự vận động của nó, phải nắm bắt được những quy luật của đối tượng

Mặt khác, không một giai cấp thống trị nào, một bộ máy nhà nước nào lại buông lỏng quản lý văn hóa, xa rời văn hóa Tình trạng buông lỏng, thậm chí bất lực trong quản lý văn hóa bao giờ cũng là dấu hiệu sự suy yếu của hệ thống chính trị hoặc của bộ máy quyền lực quốc gia đó

Đối với nước ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa, còn rất nhiều vấn đề chúng ta cần quan tâm Xây dựng và

Trang 27

18

bảo vệ ở đây không chỉ đơn thuần là bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc, mà còn là quá trình bảo vệ Đảng, chính quyền nhân dân; bảo vệ công cuộc đổi mới định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo vệ nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Quan điểm của Đảng ta là xây dựng một nền văn hóa Việt Nam hội đủ các yếu tố yêu nước, tiến bộ, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước

b Do tính chất xã hội hóa hoạt động văn hóa

Nếu trên lĩnh vực kinh tế - nền tảng vật chất - vai trò quản lý của Nhà nước vận hành điều tiết theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì trên lĩnh vực văn hóa - nền tảng tinh thần - có sự khác biệt Ở đây không

có sự phân chia quyền lợi văn hóa giữa Nhà nước và công dân cũng không có

sự đa dạng hóa về hình thức sở hữu các giá trị văn hóa Nhƣng việc sản xuất, bảo quản, lưu thông và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa lại không nhất thiết

và không thể bao cấp nhà nước hoàn toàn tuyệt đối Do vậy, Đảng ta chủ trương phát triển các hình thức hoạt động văn hóa văn nghệ của nhà nước, tập thể và cá nhân Điều này cũng chính là phải thực hiện xã hội hóa hoạt động văn hóa, văn nghệ của Nhà nước, tập thể và cá nhân Đó chính là phải thực hiện xã hội hóa hoạt động văn hóa, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để cùng tham gia vào quá trình sáng tạo văn hóa và tổ chức hoạt động văn hóa

Đảng lãnh đạo thông qua chủ trương, đường lối, nghị quyết Vai trò của nhà nước là quản lý và điều hành xã hội theo Hiến pháp, pháp luật Hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa phải đi đôi với việc nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý của bộ máy Nhà nước Quá trình này, phải tạo điều kiện và phát huy cho được các lực lượng xã hội, các thành phần kinh tế tham gia hoạt động văn hóa, tạo điều kiện tốt nhất cho các chủ thể văn hóa sáng tạo, đồng thời vấn đề quan trọng là phải tổ chức và quản lý các loại hình hoạt động dịch

vụ văn hóa

Một trong những tư tưởng chủ đạo của Đảng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cao cả đó là: “Văn hóa văn nghệ là sự nghiệp của toàn xã hội” Phát

Trang 28

19

triển các hoạt động văn hóa văn nghệ của Nhà nước, tập thể và cá nhân theo đường lối của Đảng và sự quản lý của Nhà nước (Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóaVIII)

c Do dịch vụ văn hóa cũng mang tính kinh doanh, vì lợi nhuận nên dễ cạnh tranh không lành mạnh

Nhìn nhận hoạt động văn hóa như một hệ thống tổ chức sản xuất tinh thần, đòi hỏi và cho phép vận dụng một cách khoa học các biện pháp quản lý vào trong lĩnh vực này, nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước không chỉ trong việc khắc phục tình trạng hành chính hóa các tổ chức văn hóa, mà còn khắc phục hữu hiệu tình trạng thương mại hóa các hoạt động văn hóa

Một số trường hợp kinh doanh dịch vụ, lợi dụng các di tích lịch sử, di tích văn hóa, thắng cảnh thành nơi buôn bán trục lợi cá nhân, bất chấp lợi ích của cộng đồng, sẽ dẫn đến hạ thấp tầm giá trị của di tích đó

Không thể biến toàn bộ hoạt động văn hóa thành chuyện kinh doanh chạy theo lợi nhuận, lời lỗ Điều này, không đồng nghĩa với việc triệt tiêu hoàn toàn tính chất thương mại trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, nơi tồn tại

đa thành phần (nhà nước, tập thể, cá nhân), nơi tồn tại quy luật cung cầu, sự thống nhất định hướng giá trị văn hóa không phải là sự đồng nhất để mọi người cùng ở chung một phòng, ngồi chung một bàn với những sản phẩm vật chất, tinh thần như nhau Đã nói đến cung cầu là nói đến cạnh tranh thị trường

và tác động của quy luật giá trị, nói đến sản xuất là nói đến hoạch định kinh

tế Đây là những vấn đề kinh tế học trong văn hóa, không chỉ có ý nghĩa to lớn trong nghiên cứu lý luận, mà còn có giá trị thiết thực cấp bách trong tổ chức hoạt động thực tiễn

Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về văn hóa bằng các biện pháp chuyên môn và kinh tế là điều kiện cần thiết để phát triển văn hóa lành mạnh phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu phát triển về nhân cách, trí tuệ tình cảm, niềm vui và hạnh phúc của mỗi thành viên trong xã hội, mỗi gia đình và cộng đồng

Trang 29

20

Nhà nước cần mở rộng các nguồn thu để tăng ngân sách, tăng chi cho các hoạt động văn hóa, vừa phát huy quyền lợi, vừa tăng cường nhận thức về nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia dịch vụ văn hóa Thực hiện điều này cũng chính là thể hiện chủ trương của Đảng ta trong việc khắc phục xu hướng “thương mại hóa”, không vì chạy theo lợi nhuận mà bất chấp những quy định của pháp luật, làm phát sinh những biểu hiện tiêu cực trong hoạt động dịch vụ văn hóa

Văn hóa là một hệ thống những giá trị và chuẩn mực xã hội Nhưng giá trị không tồn tại siêu hình, mà chính là nội dung, là bản chất của văn hóa, bao giờ cũng được khách quan hóa, đối tượng hóa dưới dạng những hình thức, những hiện tượng, những quan hệ và quá trình xã hội Quản lý văn hóa không đơn giản là công tác tuyên truyền, huấn thị, mà chính là quản lý những quá trình xã hội này Khoa học quản lý đòi hỏi phải nhìn nhận những đối tượng quản lý trong sự vận động của nó, phải nắm bắt được những quy luật của đối tượng

Nắm vững và vận dụng sáng tạo khoa học quản lý là điều kiện thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, xây dựng có trọng điểm cơ sở vật chất kỹ thuật cao cho hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin đại chúng, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, từng bước phát triển, sánh bước cùng với trình độ

của khu vực và thế giới

Trang 30

Hình 1 Sơ đồ vị trí VQG Ba Vì Nguồn: googlemap.com/vuonquocgiabavi

- Toạ độ địa lý: Từ 20055 - 21007' Vĩ độ Bắc

Từ 105018' - 105030' Kinh độ Đông

b) Ranh giớiVQG Ba Vì:

- Phía Bắc giáp các xã Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh; huyện Ba Vì, Hà Nội

- Phía Nam giáp các xã Phúc Tiến, Dân Hoà thuộc huyện Kì Sơn, xã Lâm Sơn thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình

Trang 31

22

- Phía Đông giáp các xã Vân Hoà, Yên Bài, thuộc huyện Ba Vì; Yên Bình, Yên Trung, Tiến Xuân, huyện Thạch Thất; xã Đồng Xuân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; xã Yên Quang, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình

- Phía Tây giáp các xã xã Khánh Thượng, Minh Quang huyện Ba Vì,

Hà Nội và xã Phú Minh, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình

c) Diện tích:

Theo Quyết định số 17/CT ngày 16/01/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) phê duyệt luận chứng kinh tế kĩ thuật rừng cấm quốc gia Ba Vì trực thuộc UBND thành phố Hà Nội với các đơn vị tiền thân là lâm trường Thanh niên, lâm trường Ba Vì, xí nghiệp Canh ki na

và một số đơn vị khác trên địa bàn quannh núi Ba Vì với diện tích 7.377ha Đến 18/12/1991 Hội đồng Bộ trưởng có Quyết định số 407/CT về việc đổi tên

“Rừng cấm quốc gia Ba Vì” thành “Vườn quốc gia Ba Vì” trực thuộc Bộ Lâm nghiệp

Đến năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg ngày 12/5/2003 phê duyệt Quy hoạch mở rộng diện tích Vườn quốc gia

510/QĐ-Ba Vì Diện tích Vườn quản lý tăng thêm 4.646 ha thuộc huyện Kỳ Sơn, Lương Sơn tỉnh Hòa Bình

Diện tích Vườn quốc gia Ba Vì quản lý theo quy hoạch tại Quyết định

số 1181/QĐ-BNN-TCLN của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là 10.814,6 ha, sau khi đo đạc phần diện tích thuộc tỉnh Hòa Bình, diện tích thực tế Vườn quản lý là 10.824,11 ha (tăng 9,51 ha) Sau khi điều chỉnh chuyển 1.114,46 ha về tỉnh Hòa Bình quản lý, tổ chức đo đạc lại, diện tích của Vườn quản lý hiện nay là 9.709,65 ha

Trang 32

23

điều tra lập địa bổ sung năm 2008 cho thấy: Nền địa chất khu vực có phân vị địa tầng cổ nhất thuộc các đá biến chất tuổi Proterozoi, có thể tổng hợp theo các nhóm đá điển hình sau:

- Nhóm đá macma kiềm và trung tính: điển hình có đá Diorit, poocphiarit tương đôi mềm Nhóm đá này khi phong hoá cho mẫu chất tương đối mịn và tương đối giầu dinh dưỡng

- Nhóm đá trầm tích: Cát kết, phiến thạch sét, cuội kết hình thành từ đá gốc macma kiềm và trung tính Nhóm đá này khi phong hóa tạo thành loại đất khá màu

mỡ

- Nhóm đá biến chất phân bố thành dải từ khu vực Đá Chông đến Ngòi Lát, chiếm gần toàn bộ diện tích sườn phía Đông và khu vực Đồng Vọng, xóm Sảng Thành phần chính của nhóm này gồm đá Diệp thạch kết tinh, đá Gnai, Diệp thạch xêrit lẫn các lớp quăczít

- Nhóm đá vôi phân bố khu vực núi Chẹ, xóm Mít, suối Ma, xóm Quýt

- Nhóm đá trầm tích phun trào nằm rải rác trong vùng

b) Đất đai

Nguồn: [24]

Hình 2 Bản đồ thổ nhưỡng VQG Ba Vì

Trang 33

24

Với thành phần đá mẹ đa dạng, quá trình phong hóa đó hình thành nên 3

nhóm đất chính tại khu vưc núi Ba Vì và núi Viên Nam (Hình 2), cụ thể như sau:

- Nhóm đất Feralit mùn vàng nhạt: diện tích 1.158 ha, chiếm 10,8% diện tớch tự nhiên VQG Nhúm đất này phân bố ở đai cao >700m, được hình thành và phát triển trên đá macma kiềm và trung tính Đất có màu vàng nhạt, tầng mùn khá dầy, tầng đất mỏng đến trung bình Quá trình Feralit kém điển hình đồng thời quá trình mùn hóa tương đối mạnh là do quy luật đai cao (chế

độ núi trung bình)

- Nhóm đất Feralit đỏ vàng: diện tích 9.618,4 ha, chiếm 88,5% diện tích tự nhiên VQG Nhóm đất này phân bố ở độ cao dưới 700m, phát triển trên đá macma kiềm, trung tính, và các loại đá khác Đất có màu vàng, đỏ, nâu, mầu sắc tương đối rực rỡ, tầng mùn mỏng, tầng đất mỏng đến dày Tái sinh cây gỗ khá phỗ biến Nhóm đất này có khả năng phù hợp với nhiều loài cây trồng lâm nghiệp

- Tổ hợp đất thung lũng bao gồm đất phù sa mới, phù sa cũ, đất sườn tích, lũ tích, sản phẩm hỗn hợp có diện tích 6,2 ha, chiếm 0,7% diện tích tự nhiên VQG Nhóm đất này phù hợp với canh tác nông nghiệp (báo cáo điều tra lập địa cấp II - Tập báo cáo chuyên đề)

Trang 34

25

c)Khí hậu

Bảng 1 Số liệu khí hậu trạm Ba Vì

Trạm Ba Vì, độ cao 30m a.s.l.: 2 tháng Khô + 1 tháng Hạn

Trang 35

3 năm sau, từ cote 400m trở lên không có mùa khô

Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm là 23,32oC, tháng lạnh nhất là tháng 1 (16,0oC), tháng nóng nhất là tháng 7 (28,69oC) Mùa nóng từ tháng 4 cho đến tháng 11, nhiệt độ trung bình mùa nóng là 26,1oC, ngày nóng nhất trong mùa có thể lên tới 38,2oC Mùa lạnh từ tháng 12 cho đến tháng 3 năm

Trang 36

27

sau, nhiệt độ trung bình mùa lạnh là 17,9o, nhiệt độ thấp nhất có thể tới 6,5oC

Ở các vùng thấp dưới cote 100m nhiệt độ trung bình năm 23,39oC Nhiệt độ giảm dần theo độ cao Tính bình quân cứ lên cao 100m nhiệt độ giảm 0,55oC,

ở độ cao cote 400m nhiệt độ giảm xuống còn 20,6oC, và ở độ cao 1000m nhiệt độ trung bình năm là 16,1oC Sự biến đổi về nhiệt kéo theo sự biến đổi tương ứng trong cảnh quan thiên nhiên: Cảnh quan nóng- ẩm vùng thấp chuyển dần sang cảnh quan lạnh- ẩm vùng cao, dải chuyển tiếp nằm ở độ cao 500m

Dao động nhiệt độ ngày đêm: Biên độ nhiệt ngày đêm có ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng của thực vật Biên độ nhiệt ngày đêm tương đối lớn,

có giá trị trung bình trong khoảng 8oC, tăng lên đến 9oC trong nửa đầu mùa đông (tháng 11 đến tháng giêng) và đầu mùa hè (tháng 5, 6, 7) [24]

d) Thủy văn và tài nguyên nước

Hệ thống suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượng nguồn Núi

Ba Vì và núi Viên Nam Các suối lớn và dòng nhánh chảy theo hướng Bắc, Đông Bắc và đều là phụ lưu của sông Hồng Ở phía Tây của khu vực, các suối ngắn và dốc hơn so với các suối ở phía Bắc và phía Đông, đều là phụ lưu của sông Đà Mật độ (1,2 ÷ 2) km/ 1km2 Các suối này thường gây lũ vào mùa mưa Về mùa khô, các suối nhỏ thường cạn kiệt Các suối chính trong khu vưc gồm có: Suối Cái, suối Mít, suối Ninh, ngòi Lạt, suối Yên cư, suối Bơn, suối Quanh, suối Cầu Rổng, suối Đô, Chằm Me, Chằm Sỏi [24]

Sông Đà chảy ở phía Tây Bắc núi Ba Vì, sông rộng cùng với hệ suối khá dày như Suối Ổi, Suối Ca, Suối Mít, Suối Ba Gò, Suối Xoan, Suối Yên

Cư, suối Củi thường xuyên cung cấp nước cho sản suất và sinh hoạt của người dân trong vùng Bên cạnh còn có các hồ chứa nước nhân tạo như Hồ Suối Hai, Hồ Đồng Mô - Ngải Sơn, Hồ Cóc Cua và các hồ chứa nước khác vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung cấp cho hàng chục ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân Đồng thời, tạo nên không gian thắng cảnh tuyệt đẹp, phục vụ nhu cầu du lịch và thắng cảnh cho du khách [24]

Trang 37

28

e) Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học

e.1 Diện tích các loại rừng:

Tổng diện tích tự nhiên của VQG Ba Vì tại thời điểm lập đề án là 9.700,35 ha, trong đó diện tích đất có rừng của Vườn hiện nay là 8.192,5 ha; chiếm 84,5% tổng diện tích tự nhiên toàn Vườn Trong đó:

- Rừng tự nhiên 4.200,5 ha;chiếm 43,32% diện tích đất có rừng

- Rừng trồng 3.992 ha, chiếm 41,2 % diện tích đất có rừng

Diện tích đất có rừng phân bố nhiều nhất tại xã Ba Vì với 1.407,0 ha Diện tích rừng trung bình (trạng thái IIIA2, IIIB) và rừng nghèo (trạng thái IIIA1) tập trung khu vực núi Ba Vì với 883,9 ha [24,12]

Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình chỉ có rừng phục hồi (IC, IIA, IIB) với diện tích 1.071,5 ha, phân bố chủ yếu ở xã Yên Quang với 514,6 ha [24,12]

e.2 Thảm thực vật, động vật và phân bố của các loài quý hiếm:

- Đặc điểm các kiểu thảm thực vật rừng:

(1) Rừng kín lá rộng thường xanh, lá kim mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp

Đây là kiểu phụ miền thực vật thân thuộc với khu hệ bản địa Nam Trung Hoa

- Bắc Việt Nam và khu hệ di cư Hymalaya -Vân nam - Quý Châu Ở đây xuất hiện rừng Rêu (rừng cảnh tiên) là một kiểu phụ thổ nhưỡng của đai rừng á nhiệt đới ẩm Kiểu thảm này phân bố chủ yếu ở đỉnh Vua và một ít ở đỉnh Tản Viên, diện tích 423,2 ha, chiếm 4,4% tổng diện tích Kiểu rừng này đã bị tác động nhưng còn giữ được tính nguyên sinh về cơ bản Độ tàn che của rừng > 0,8 Rừng chia làm 4 tầng, tầng ưu thế cao khoảng 15 - 30m, các loài trong họ Dẻ, Re,…đường kính bình quân đạt

35 - 38cm Tính đa dạng loài khá cao [24]

(2) Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Đặc điểm cấu trúc: Loài ưu thế sinh thái là các loài cây thuộc khu hệ thực vật đệ tam đặc hữu bản địa Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam Kiểu rừng này có diện tích 460,7 ha, chiếm 4,3% tổng diện tích, phân bố thành các mảng tương đối lớn ở

độ cao dưới 700m xung quanh sườn núi Ba Vì Ưu hợp của những loài cây

trong các họ ưu thế như: họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Dâu tằm

Trang 38

29

(Mogaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Đậu (Leguminoseae),họ Xoài (Anacadiaceae), họ Trám (Burceraceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Sến (Satotaceae) Rừng được chia thành 4 tầng, trong đó tầng ưu thế có các loài như

Trâm, Trường vân, Gội, Sến, Cà lồ Ba Vì, Đa, Sồi … đường kính bình quân 25 - 35cm, chiều cao từ 18 - 22m Tính đa dạng loài khá cao, phân bố chủ yếu đai cao trên 700m, khu vực Đỉnh núi Ba Vì [24]

(3) Rừng thứ sinh phục hồi

Diện tích 3.042,6 ha; chiếm 31,4%; phân bố rải rác khắp VQG Bao gồm rừng thứ sinh phục hồi nhiệt đới và rừng thứ sinh phục hồi á nhiệt đới núi thấp Thành phần loài và cấu trúc rừng khá đơn giản, một tầng, phổ biến là các loài Hu

đay (Trema oriantalis), Ba gạc lá xoan (Euvodia meliaefolia) [24]

(4) Rừng thứ sinh hỗn giao

Rừng thứ sinh hỗn giao diện tích nhỏ 274,0 ha, phân bố chủ yếu ở xã

Ba Vì và Vân Hòa Với cây gỗ chủ yếu là các loài: Dẻ, Re, Kháo, Chẹo, Ngát, Thị rừng, Dung, Chân chim… Tre nứa thường tạo thành đám riêng chủ yếu là

Vầu nhỏ, Tre sặt, Nứa lá nhỏ (Schizostachyum dullooa) Mật độ, đường kính

cây nhỏ do trước đây bị khai thác Thực vật ngoại tầng phong phú gồm các loài Phong lan, dây leo thuộc họ Na, họ Trinh nữ, họ Đậu, họ Vang, họ Trúc

đào, họ Cà phê [24]

(5) Rừng trồng

Rừng trồng có diện tích 3.992,0 ha, chiếm 41,2% diện tích tự nhiên, được trồng ở các xã Ba Vì, Khánh Thượng, Yên Bài, Vân Hòa, Yên Quang, Phú Minh, Dân Hòa Các loài cây trồng chủ yếu gồm: Lim xanh, Sến, Thông,

Sa mộc, Long não, Giổi, Muồng đen, Trám, Sấu,…Nhìn chung, cây sinh trưởng bình thường Tính đa dạng loài khá, chưa cao [24]

(6) Thảm cỏ cây bụi, nương rẫy

Thảm này có diện tích 1.299,3 ha; phân bố cả ở 2 khu Ba Vì và Viên Nam, nhưng chủ yếu ở khu vực núi Viên Nam [24]

Trang 39

30

Loài thực vật chủ yếu là các loài Lau, Re, dây Sắn, Bìm bìm, Hu đay, Ba soi, Thành ngạnh Thảm này cần được phục hồi rừng bằng các biện pháp trồng mới trên các dạng đất trống cây bụi và trảng cỏ (IA, IB) và thực hiện KNTS tự nhiên trên trạng thái đất có cây gỗ rải rác (IC) để tăng độ che phủ, chống xói mòn hạn chế rửa trôi đất

Cũng cần giữ lại một số diện tích trạng thái cỏ cây bụi (ở những nơi có sẵn cỏ càng tốt hoặc tác động thêm) để cung cấp thức ăn cho các loài động vật móng guốc cũng như tạo môi trường sống cho các loài chim thú khác

- Hệ thực vật rừng:

Theo danh mục thực vật đã được thu thập mẫu và kết quả điều tra bổ sung năm 2008, cho tới nay, Vườn Quốc gia Ba Vì có 160 họ, 649 chi, 1201 loài thực vật bậc cao có mạch nằm trong 14 yếu tố địa lý thực vật (tính theo đơn vị cơ bản chỉ = gennus)

So với kết quả điều tra năm 1998, số họ thực vật phát hiện mới tăng 61

họ, số chi tăng 177 chi và số loài tăng 389 loài [4]

Cây gỗ quí hiếm: có 36 loài, điển hình là Bách xanh (Calocedrus

macrolepis), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Sến mật (Madhca pasquieri), Giổi lá bạc (Michelia cavaleriei), Phỉ ba mũi (Cephalotaxus

manii)…

Thực vật đặc hữu và mang tên Ba Vì: loài được gọi là đặc hữu Ba Vì

theo thời điểm (Ba vi’s endemic plants by point of time) có 49 loài, có 36 loài

nằm trong danh lục đỏ (Red List), điển hình như Mua Ba Vì (Allomorphia

baviensis), Thu hải đường Ba Vì (Begonia baviensis), Xương cá Ba Vì

(Tabernaemontana baviensis)… [24]

Cây có giá trị sử dụng gỗ: có 185 loài

Thực vật cây thuốc: có tới 503 loài thuộc 118 họ, 321 chi chữa 33 loại bệnh và

chứng bệnh khác nhau, trong đó có nhiều loài thuốc quý như: Hoa tiên (Asarum

maximum), Huyết đằng (Sargentodoxa cuneata), Bát giác liên (Podophyllum tonkiensis), Râu hùm (Tacca chantrieri), Hoằng đằng (Fibraurea tinctoria) [24]

Trang 40

31

Những họ tiêu biểu gồm họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Trúc đào

(Apocynaceae) Về tre, nứa trong rừng tự nhiên có 9 loài phân bố ở độ cao dưới

800m, Giang ở độ cao 1.100m, ở độ cao hơn có Sặt Ba Vì mọc thành từng vạt trên đỉnh núi, khu vực đỉnh Vua, Tản Viên, Ngọc Hoa Hiện nay, Vườn đã sưu tập thêm 117 loài tre trúc, nằm ở độ cao dưới 400m Vườn Xương rồng cũng đã thu thập được trên 1.000 loài, làm tăng tính phong phú và đa dạng loài, rất có giá trị về nghiên cứu khoa học và thăm quan thắng cảnh [24]

Trong số động vật gặp ở Ba Vì, có 70 loài cho thịt, da, lông và làm cảnh Yếu tố đặc hữu của khu hệ động vật có xương sống ở Ba Vì ở 2 lớp Bò sát

và Lưỡng thê Đó là các loài Thằn lằn tai Ba Vì (Tropidophous baviensis), Ếch vạch (Chaparana delacouri)

Bảng 2 Kết quả nghiên cứu động vật rừng VQG Ba Vì

Nhóm động vật quí hiếm ở VQG Ba Vì có 66 loài, phần lớn là loài ĐVR nhỏ,

hoặc trung bình Các loài quý hiếm như Cầy vằn (Chrotogale owstoni), Cầy mực (Artictis binturong), Cầy gấm (Prionodon pardicolor); Beo lửa (Felis temmincki), Sơn Dương (Capricornis sumatraensis), Sóc bay (Petaurista petaurista)… Gà lôi trắng

Ngày đăng: 18/07/2017, 22:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm