1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô

110 287 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa phát triển với tốc độ nhanh và mạnh, và với chính sách ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Chính phủ nên nhu cầu về

Trang 1

-

MAI THỊ NHÂM

ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ SẢN XUẤT SẠCH HƠN VÀ XÂY DỰNG

HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐƠN GIẢN CHO NHÀ MÁY GRANITE TRUNG ĐÔ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGÀNH: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN VĂN NHÂN

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SẢN XUẤT VẬT LIỆU

XÂY DỰNG

1

1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng 1

1.1.1 Giới thiệu chung về ngành sản xuất vật liệu xây dựng 1

1.1.2.2 Quy mô hoạt động và xu thế phát triển của ngành sản

xuất gạch granite

7

1.1.3 Công nghệ sản xuất và thiết bị 8

1.1.3.2 Hiện trạng công nghệ và thiết bị sản xuất gạch Granite

của Việt Nam

14

1.2.2 Hiện trạng quản lý môi trường trong ngành sản xuất gạch

Granite

18

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT SẠCH HƠN VÀ HỆ

THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

19

2.1.1 Giới thiệu về sản xuất sạch hơn 19

2.1.2 Sản xuất sạch hơn và lợi ích của sản xuất sạch hơn 20

2.1.3 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn ở một số nước trên thế

giới và ở Việt Nam

22

2.1.4 Phương pháp luận đánh giá sản xuất sạch hơn 24

2.1.5 Các kỹ thuật đánh giá sản xuất sạch hơn 30

2.2 Tổng quan về hệ thống quản lý môi trường 32

2.2.1 Các khái niệm về hệ thống quản lý môi trường 32

2.2.2 Các phương thức thực hiện quản lý môi trường 35

Trang 3

5.2 Đề xuất hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy 85

5.2.2 Lập kế hoạch 88 5.2.3 Thực hiện và hành động 91

5.2.4 Kiểm tra và chỉnh sửa 92

5.2.4.1 Giám sát và đo lường 92

Trang 4

1 BAT Công nghệ tốt nhất hiện có

2 CTNH Chất thải nguy hại

3 EMS Hệ thống quản lý môi trường

4 GTCT Giảm thiểu chất thải

5 HTQLMT Hệ thống quản lý môi trường

7 TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

9 UNEP Chương trình môi trường Liên hợp quốc

10 UNIDO Ủy ban năng suất quốc gia Ấn Độ

11 PTBV Phát triển bền vững

Trang 5

TT KÝ HIỆU NỘI DUNG TRANG

1

Bảng 1.1 Tốc độ phát triển gạch ốp lát trên thế giới từ

2 Bảng 1.2 Công suất các nhà máy sản suất gạch ốp lát 3

3 Bảng 1.3 Công suất thiết kế và sản lượng gạch ốp lát đến

6 Bảng 3.1 Kết quả sản xuất hàng năm 40

7 Bảng 3.2 Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2009 40

Trang 6

tháng 01, 02, 03, và 04/2010

19 Bảng 4.7 Lượng than tiêu thụ của nhà máy trong tháng 1,

2, 3, và 4/2010

53

20 Bảng 4.8 Định mức tiêu thụ tính toán các nguyên,

nhiên liệu chính cho gạch Granite

26 Bảng 4.14 Danh sách các giải pháp SXSH đã thực hiện được 77

27 Bảng 4.15 Kết quả nâng cao hiệu quả sản xuất và hoạt

động BVMT

82

28 Bảng 4.16 Kế hoạch tiếp tục giám sát ở cấp nhà máy 83

29 Bảng 5.1 Chương trình quản lý môi trường 88

30 Bảng 5.2 Kế hoạch quản lý môi trường 90

Trang 7

1 Hình 1.1 Sơ đồ các bước khác nhau cho quá trình sản

3 Hình 2.5 Thang quản lý môi trường 32

4 Hình 2.6 Sơ đồ các bước thực hiện của một HTQLMT 34

5 Hình 2.7 Mô hình hệ thống quản lý môi trường theo ISO

14001

35

6 Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức Công ty cổ phần Trung Đô 38

7 Hình 3.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của nhà máy Granite

Trung Đô

39

5 Hình 3.3 Sơ đồ dây chuyền sản xuất gạch granite 42

7 Hình 4.2 Hệ thống tuần hoàn tái sử dụng nguyên liệu

trong nước thải

74

8 Hình 5 Mô hình hệ thống quản lý môi trường theo tiêu

chuẩn ISO 14001-2004

86

Trang 8

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã và đang đem lại những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực Nó đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa phát triển với tốc độ nhanh và mạnh, và với chính sách ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Chính phủ nên nhu cầu về vật liệu xây dựng ngày càng tăng cao, nhiều nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng ra đời như các nhà máy sản xuất xi măng, nhà máy sản xuất gạch, nhà máy sản xuất gốm sứ vệ sinh, ; Đáng chú ý nhất là sự xuất hiện nhiều nhà máy sản xuất gạch ốp lát với số lượng và công suất ngày càng lớn mạnh

Chỉ tính riêng trên lĩnh vực sản xuất gạch ceramic và gạch granite: Nếu như năm 1994, cả nước chỉ có một nhà máy sản xuất gạch ceramic với công suất thiết kế

1 triệu m2/ năm, trong đó công suất sản xuất thực tế chỉ đạt 340 nghìn m2/năm và Việt Nam chưa từng được thế giới biết đến trong lĩnh vực mới mẻ này thì trong khoảng thời gian hơn 10 năm qua, với tốc độ tăng bình quân liên tục hơn 50%/năm, đến nay năng lực sản xuất của hai loại sản phẩm này đã tăng lên đáng kể và đứng vào top 10 nước sản xuất hàng đầu trên thế giới về lĩnh vực này [1] Mặc dù gạch granite vẫn còn khá mới mẻ đối với người tiêu dùng nhưng nhu cầu sử dụng loại gạch này đã tăng lên đáng kể và có xu hướng dần thay thế cho gạch ceramic do tính năng ưu việt của nó Chính vì thế mà chỉ trong khoảng thời gian ngắn, cả nước ta đã

có khoảng trên 50 cơ sở sản xuất gạch granite và công suất của mỗi nhà máy cũng dần được nâng cấp

Tuy nhiên do đây là một lĩnh vực mới nên đa số các doanh nghiệp sản xuất gạch granite có quy mô vừa và nhỏ, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước có thiết bị

và công nghệ lạc hậu Trong khi đó, các doanh nghiệp tư nhân tuy sinh sau đẻ muộn nhưng lại thừa hưởng những kinh nghiệm và công nghệ đã được các doanh nghiệp

đi trước đầu tư từ những năm cuối của thế kỷ trước, vì thế có điều kiện sàng lọc, tích lũy kinh nghiệm để đầu tư mới dây chuyền thiết bị hiện đại, giá thấp Mặc dù

Trang 9

trên thị trường trong và ngoài nước còn chưa cao mà nguyên nhân chính là ở chất lượng, mẫu mã và giá thành của nó Thêm vào đó, trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều loại sản phẩm vật liệu xây dựng khác dùng cho ốp tường, lát nền từ bình dân đến cao cấp có thể thay thế gạch ốp lát ceramic và granit như đá xẻ, gỗ ván sàn, Đứng trước bối cảnh đó, hiện nay các doanh nghiệp đang nổ lực tìm các giải pháp để khắc phục vấn đề này, ngoài việc tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu, các doanh nghiệp cũng rất trú trọng tới việc tìm kiếm các biện pháp để giảm chi phí sản xuất thông qua các hoạt động như: sử dụng hiệu quả hơn về nguồn nguyên liệu, hóa chất; tổ chức lại lực lượng lao động hợp lý, tối ưu hóa các quá trình sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm,

Với những lý do trên thì việc ứng dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn vào sản xuất là rất phù hợp, ngoài việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải thiện điều kiện làm việc, nó còn góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đảm bảo phát triển bền vững

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá sản xuất sạch

hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho Nhà máy granite Trung Đô”

• Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

- Đánh giá hiện trạng sản xuất và môi trường của nhà máy granite Trung Đô

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu, năng lượng và giảm thiểu chất thải trong quá trình sản xuất

- Đề xuất hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy nhằm liên tục cải thiện điều kiện môi trường làm việc và giảm tác động môi trường

• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Nhà máy granite Trung Đô

Trang 10

3.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức 38

3.2.2 Mô tả quy trình sản xuất 40

3.2.3 Tình hình sử dụng nguyên vật liệu và hóa chất 44

3.3.2 Khí thải 46 3.3.3 Chất thải rắn và chất thải nguy hại 48

CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ SẢN XUẤT SẠCH HƠN TẠI NHÀ MÁY

GRANITE TRUNG ĐÔ

4.3.1 Cân bằng nguyên liệu 59

4.3.2 Tổn thất năng lượng 60

4.3.3 Định giá cho dòng thải 61

4.5.1 Danh sách các giải pháp SXSH đã thực hiện 77

4.5.2 Kết quả nâng cao hiệu quả sản xuất và hoạt động BVMT khi

Trang 11

máy Granite Trung Đô: theo dõi, thu thập số liệu về hiện trạng công nghệ và sản xuất, về tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng và phát sinh chất thải, hiện trạng quản lý môi trường tại Nhà máy

- Phương pháp phân tích hệ thống: Là phương pháp làm việc với nhiều đối tượng

khác nhau của những hệ thống khác nhau, trong mỗi hệ thống bao gồm những thành

tố khác nhau Tác giả tập trung vào việc phân tích hiện trạng sản xuất trong mối tương quan qua lại giữa các thành tố của từng công đoạn sản xuất

- Phương pháp kiểm toán: Dựa trên các số liệu đã được thu thập, áp dụng kiểm

toán cân bằng vật chất và năng lượng, định giá dòng vật chất và dòng thải để đề xuất các cơ hội sản xuất sạch hơn (SXSH)

- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở các số liệu đã được xử lý, đưa ra những nhận

xét, phát hiện từ đó đề xuất các giải pháp sản xuất sạch hơn cho Công ty

• Nội dung chính của đề tài:

Đề tài gồm 05 nội dung chính:

- Tổng quan về Ngành sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất gạch granite, các vấn

đề môi trường liên quan

- Lý thuyết chung về Sản xuất sạch hơn và các Hệ thống quản lý môi trường

- Đánh giá hiện trạng sản xuất và môi trường của nhà máy Granite Trung Đô

- Nghiên cứu, triển khai, đánh giá sản xuất sạch hơn nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại nhà máy Granite Trung Đô

- Nghiên cứu, đề xuất hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy

• Tính thực tiễn của đề tài:

Áp dụng phương các phương pháp nghiên cứu vào đánh giá sản xuất sạch hơn nhằm giải quyết các vấn đề môi trường; Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, hoạt động bảo vệ môi trường của Nhà máy Granite Trung Đô

Trang 12

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã và đang đem lại những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực Nó đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa phát triển với tốc độ nhanh và mạnh, và với chính sách ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Chính phủ nên nhu cầu về vật liệu xây dựng ngày càng tăng cao, nhiều nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng ra đời như các nhà máy sản xuất xi măng, nhà máy sản xuất gạch, nhà máy sản xuất gốm sứ vệ sinh, ; Đáng chú ý nhất là sự xuất hiện nhiều nhà máy sản xuất gạch ốp lát với số lượng và công suất ngày càng lớn mạnh

Chỉ tính riêng trên lĩnh vực sản xuất gạch ceramic và gạch granite: Nếu như năm 1994, cả nước chỉ có một nhà máy sản xuất gạch ceramic với công suất thiết kế

1 triệu m2/ năm, trong đó công suất sản xuất thực tế chỉ đạt 340 nghìn m2/năm và Việt Nam chưa từng được thế giới biết đến trong lĩnh vực mới mẻ này thì trong khoảng thời gian hơn 10 năm qua, với tốc độ tăng bình quân liên tục hơn 50%/năm, đến nay năng lực sản xuất của hai loại sản phẩm này đã tăng lên đáng kể và đứng vào top 10 nước sản xuất hàng đầu trên thế giới về lĩnh vực này [1] Mặc dù gạch granite vẫn còn khá mới mẻ đối với người tiêu dùng nhưng nhu cầu sử dụng loại gạch này đã tăng lên đáng kể và có xu hướng dần thay thế cho gạch ceramic do tính năng ưu việt của nó Chính vì thế mà chỉ trong khoảng thời gian ngắn, cả nước ta đã

có khoảng trên 50 cơ sở sản xuất gạch granite và công suất của mỗi nhà máy cũng dần được nâng cấp

Tuy nhiên do đây là một lĩnh vực mới nên đa số các doanh nghiệp sản xuất gạch granite có quy mô vừa và nhỏ, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước có thiết bị

và công nghệ lạc hậu Trong khi đó, các doanh nghiệp tư nhân tuy sinh sau đẻ muộn nhưng lại thừa hưởng những kinh nghiệm và công nghệ đã được các doanh nghiệp

đi trước đầu tư từ những năm cuối của thế kỷ trước, vì thế có điều kiện sàng lọc, tích lũy kinh nghiệm để đầu tư mới dây chuyền thiết bị hiện đại, giá thấp Mặc dù

Trang 13

trên thị trường trong và ngoài nước còn chưa cao mà nguyên nhân chính là ở chất lượng, mẫu mã và giá thành của nó Thêm vào đó, trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều loại sản phẩm vật liệu xây dựng khác dùng cho ốp tường, lát nền từ bình dân đến cao cấp có thể thay thế gạch ốp lát ceramic và granit như đá xẻ, gỗ ván sàn, Đứng trước bối cảnh đó, hiện nay các doanh nghiệp đang nổ lực tìm các giải pháp để khắc phục vấn đề này, ngoài việc tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu, các doanh nghiệp cũng rất trú trọng tới việc tìm kiếm các biện pháp để giảm chi phí sản xuất thông qua các hoạt động như: sử dụng hiệu quả hơn về nguồn nguyên liệu, hóa chất; tổ chức lại lực lượng lao động hợp lý, tối ưu hóa các quá trình sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm,

Với những lý do trên thì việc ứng dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn vào sản xuất là rất phù hợp, ngoài việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải thiện điều kiện làm việc, nó còn góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đảm bảo phát triển bền vững

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá sản xuất sạch

hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho Nhà máy granite Trung Đô”

• Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

- Đánh giá hiện trạng sản xuất và môi trường của nhà máy granite Trung Đô

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu, năng lượng và giảm thiểu chất thải trong quá trình sản xuất

- Đề xuất hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy nhằm liên tục cải thiện điều kiện môi trường làm việc và giảm tác động môi trường

• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Nhà máy granite Trung Đô

Trang 14

máy Granite Trung Đô: theo dõi, thu thập số liệu về hiện trạng công nghệ và sản xuất, về tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng và phát sinh chất thải, hiện trạng quản lý môi trường tại Nhà máy

- Phương pháp phân tích hệ thống: Là phương pháp làm việc với nhiều đối tượng

khác nhau của những hệ thống khác nhau, trong mỗi hệ thống bao gồm những thành

tố khác nhau Tác giả tập trung vào việc phân tích hiện trạng sản xuất trong mối tương quan qua lại giữa các thành tố của từng công đoạn sản xuất

- Phương pháp kiểm toán: Dựa trên các số liệu đã được thu thập, áp dụng kiểm

toán cân bằng vật chất và năng lượng, định giá dòng vật chất và dòng thải để đề xuất các cơ hội sản xuất sạch hơn (SXSH)

- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở các số liệu đã được xử lý, đưa ra những nhận

xét, phát hiện từ đó đề xuất các giải pháp sản xuất sạch hơn cho Công ty

• Nội dung chính của đề tài:

Đề tài gồm 05 nội dung chính:

- Tổng quan về Ngành sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất gạch granite, các vấn

đề môi trường liên quan

- Lý thuyết chung về Sản xuất sạch hơn và các Hệ thống quản lý môi trường

- Đánh giá hiện trạng sản xuất và môi trường của nhà máy Granite Trung Đô

- Nghiên cứu, triển khai, đánh giá sản xuất sạch hơn nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại nhà máy Granite Trung Đô

- Nghiên cứu, đề xuất hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy

• Tính thực tiễn của đề tài:

Áp dụng phương các phương pháp nghiên cứu vào đánh giá sản xuất sạch hơn nhằm giải quyết các vấn đề môi trường; Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, hoạt động bảo vệ môi trường của Nhà máy Granite Trung Đô

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG

1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng

1.1.1 Giới thiệu chung về ngành sản xuất vật liệu xây dựng

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các sản phẩm trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng được sử dụng rộng rãi và phát triển cả về chất lượng lẫn số lượng Đặc biệt đối với ngành gốm sứ xây dựng, gốm được sử dụng làm vật liệu xây dựng ngày càng nhiều và đa dạng Tuy nhiên dựa theo tính năng sử dụng có thể chia chúng ra làm ba loại chính là vật liệu xây, vật liệu lợp, và vật liệu trang trí hoàn thiện Hiện nay, nhu cầu về vật liệu dùng cho trang trí ngày càng nhiều hơn Dựa theo tiêu chuẩn xây dựng, vật liệu xây dựng dùng cho trang trí sẽ phân thành ba loại chính: Thủy tinh xây dựng, vật liệu gốm xây dựng và sứ vệ sinh Trong đó, gốm sứ xây dựng là ngành khoa học có lịch sử phát triển lâu đời, bởi dựa theo các dấu hiệu khảo cổ cho thấy các sản phẩm gốm sứ đã xuất hiện từ rất sớm (thời kỳ Hy Lạp, La Mã cổ đại) Thuật ngữ “gốm sứ” được xuất phát từ tiếng Hy Lạp “keramos” có nghĩa là “đất được đốt cháy” và được sử dụng để miêu tả nguyên liệu trong công nghiệp đồ gốm thủ công Những nghiên cứu về khảo cổ gần đây đã chỉ ra rằng: Quá trình phát triển của đất sét bắt đầu từ khoảng 19.000 năm trước công nguyên [2] Tuy nhiên, loại đồ gốm cũ nhất được tìm thấy ở phía Nam của Nhật Bản, nó được xác định tồn tại vào khoảng giữa những năm 8.000 và 9.000 trước CN Cho đến khoảng 4.000 năm trước CN, gạch nung bắt đầu được sử dụng cho kiến trúc của các tháp chùa, cung điện và thành trì quân sự Và khoảng hơn 2.000 năm trước, người La Mã đã lan truyền kỹ thuật làm gạch đến những vùng đất rộng lớn ở Châu Âu Còn ở Ai Cập, đĩa gốm sứ tráng men đã được sử dụng như là

đồ trang trí trên tường của những kim tự tháp vào năm 2.600 trước CN Ở Trung

Trang 16

Quốc, nghệ thuật làm gốm đã được biết đến từ năm 1.000 trước CN Điều đó chỉ ra rằng đây là một ngành sản xuất có truyền thống rất lâu đời [3]

Cũng chính những nhà khoa học thời kỳ này đã đưa ra một khái niệm rằng:

“Gốm sứ là sự kết hợp hoàn hảo của 4 yếu tố tạo nên trái đất, đó là: đất, nước, lửa

và không khí Từ nguyên liệu là đất được trộn với nước để tạo hình, sau đó dùng lửa

để nung đến nhiệt độ cao rồi làm lạnh bằng không khí thì thu được sản phẩm” [2]

Dựa trên cơ sở đó, các nhà khoa học của các thế hệ sau đã thừa hưởng và luôn luôn tìm tòi để hoàn thiện, cải tiến và phát triển các sản phẩm này Vì thế chúng ngày càng được hoàn thiện hơn không chỉ về các đặc tính kỹ thuật, về kiểu dáng, mẫu mã, hoa văn mà các chỉ tiêu kinh tế cũng được xem xét

Sản phẩm gốm sứ có rất nhiều đặc tính quan trọng như độ bền cơ, bền hóa, bền nhiệt, độ bền băng giá, và độ cách điện tốt, Vì thế nó được ứng dụng rộng rãi không chỉ trong đời sống sinh hoạt mà còn được mở rộng ứng dụng sang nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác như ứng dụng trong ngành điện lực, ngành bưu chính viễn thông, điện tử, tin học,

Hiện nay, ngành công nghiệp gốm sứ đang có những bước phát triển vượt bậc, hàng loạt các nhà máy mới được xây dựng, hàng loạt sản phẩm mới ra đời, Trong đó đáng chú ý nhất là các nhà máy sản xuất gạch ốp lát, sản xuất sứ vệ sinh bởi tốc độ phát triển nhanh chóng của chúng Chỉ xét riêng trong lĩnh vực sản xuất gạch ốp lát, có thể xem đây là lĩnh vực công nghiệp có tiềm năng phát triển mạnh Điều này có thể thấy được qua số liệu về tốc độ phát triển sản xuất gạch ốp lát trên thế giới ở trong bảng 1.1 dưới đây:

Bảng 1.1 Tốc độ phát triển gạch ốp lát trên thế giới từ năm 2005-2009 [4]

Năm Sản lượng (triệu m 2 ) Mức tăng (triệu m 2 )

Trang 17

Ở Việt Nam, tốc độ phát triển ngành sản xuất gốm sứ nói chung, sản xuất gạch ốp lát nói riêng cũng không ngừng tăng lên Điều này được thể hiện qua sự tăng trưởng cả về công suất và chất lượng các sản phẩm gạch ốp lát Cụ thể về các

số liệu tăng trưởng đó như sau:

- Về công suất: Hiện nay cả nước ta có khoảng trên 50 tập đoàn, cơ sở sản xuất

gạch gốm như gạch ceramic, granite và gạch gốm cotto Công suất các nhà máy sản xuất gạch ở Việt Nam được thống kê qua bảng 1.2

Bảng 1.2 Công suất các nhà máy sản suất gạch ốp lát ( nghìn m 2 ) [4]

Công suất gạch ceramic 257,2 303,2 Công suất gạch granite 43,5 47,5 Công suất gạch cotton 6,0 6,0

Tổng sản lượng khai thác (Khoảng 70-80% công suất) 245,36 245 - 250

“Nguồn: Tạp chí Gốm sứ xây dựng số 60, tháng 3/2010 của

Hiệp hội gốm sứ Việt Nam”

Như vậy công suất sản xuất các loại sản phẩm gạch ốp lát ngày càng lớn, trong

đó sản phẩm gạch granite có xu hướng tăng nhanh Theo dự đoán của các chuyên gia thì loại sản phẩm này đang có xu hướng thay thế các sản phẩm gạch ốp lát khác nhờ tính ưu việt của nó

- Về chất lượng: Hiện nay phần lớn các sản phẩm gốm sứ có uy tín và chất lượng

trong nước được sản xuất trên các dây chuyền công nghệ hiện đại, nhập khẩu đồng

bộ từ các hãng nổi tiếng như Sacmi, Siti của Italia, Well của Đức, Toto của Nhật Bản; Ngoài ra còn có nhiều hãng sản xuất khác trên thế giới đã liên doanh liên kết đầu tư sản xuất Do đó, về cơ bản gạch ceramic và granite sản xuất trong nước đạt được các tiêu chuẩn Việt Nam cho gạch ốp lát bán khô như TCVN 6414:1998, TCVN 7133:2002, TCVN 7134:2002, TCVN 6883:2002 Do vậy, chỉ sau hơn 10 năm phát triển, gạch gốm ceramic và granite ở nước ta đã đứng vào danh sách 10

Trang 18

nước sản xuất gạch gốm lớn nhất trên thế giới Sản phẩm gạch gốm đã đáp ứng được nhu cầu xây dựng trong nước và từng bước tham gia vào thị trường thế giới và khu vực

- Về xuất khẩu: Theo thống kê của Cục hải quan, năm 2009 xuất khẩu các sản

phẩm gốm xây dựng của Việt Nam với kim ngạch đạt 106.916.801 USD Nếu tính

cả các doanh nghiệp gốm sứ có xuất khẩu chưa được Tổng cục hải quan thống kê và xuất tiểu ngạch qua biên giới phía Bắc và phía Tây Nam thì xuất khẩu cả năm 2009 đạt 120 triệu USD

- Về định hướng phát triển: Do đầu tư mạnh trong mấy năm gần đây nên đến nay

năng lực sản xuất ceramic và granite đã phát triển vượt nhu cầu hiện nay (năm 2009 tổng công suất là 368,7 triệu m2, trong đó có khoảng 40 triệu m2 đang lắp đặt nên tổng công suất đưa vào khai thác là 328 triệu m2 nhưng lượng sản xuất chỉ xấp xỉ

75 - 80% năng lực sản xuất nên thực tế chỉ sản xuất được khoảng 245 – 250 triệu

m2) Mặt khác, phần lớn các sản phẩm sản xuất của Việt Nam thực tế vẫn còn kém hấp dẫn so với sản phẩm nước ngoài về mẫu mã trang trí, chất lượng bề mặt và giá thành sản phẩm Vì vậy hướng phát triển về sản xuất gạch gốm ceramic và granite trong giai đoạn tới là tiếp tục đầu tư chiều sâu về công nghệ cho các cơ sở sản xuất

để nâng cao chất lượng và tăng tính cạnh tranh của sản phẩm Đồng thời phải đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường khu vực và thế giới để cân đối cung-cầu và xúc tiến hoạt động nghiên cứu và khai thác nguyên liệu, chế biến men, màu trong nước để ngành công nghiệp gạch ốp lát Việt Nam phát triển đồng bộ và chủ động hơn trong sản xuất

Theo Quyết định 121/2008/QĐ-TTg thì định hướng quy hoạch phát triển của gạch ốp lát đến năm 2020 như sau [5]:

• Định hướng về quy mô đầu tư, công nghệ khai thác, chế biến đất sét cao lanh

và fenspat cho sản xuất gốm sứ xây dựng và bảo vệ môi trường: Phải thực hiện theo

các nội dung trong "Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam đến năm 2020", trong đó cần tập trung vào một

số vấn đề chính sau:

Trang 19

+ Tập trung nghiên cứu xây dựng các quy trình công nghệ chế biến đất sét, cao lanh và fenspat cho phù hợp với đặc điểm và nguồn gốc thành tạo khoáng sản; + Tổ chức những cụm khai thác, chế biến cao lanh và fenspat tập trung để sản xuất các nguyên liệu thương phẩm, bảo đảm ổn định chất lượng;

+ Các cơ sở khai thác chế biến phải có những định hướng cụ thể về mục đích

sử dụng đối với từng loại nguyên liệu có yêu cầu chất lượng khác nhau

• Định hướng quy hoạch phát triển sản xuất gạch ốp lát:

* Định hướng phát triển về đầu tư, công nghệ, chủng loại sản phẩm và xuất khẩu: + Các cơ sở sản xuất hiện có cần đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, hạ giá thành sản xuất và phải bảo đảm các tiêu chuẩn về môi trường trong sản xuất;

+ Đầu tư các cơ sở sản xuất tập trung công suất lớn, chuyên môn hóa sản xuất nguyên liệu để nâng cao hiệu quả đầu tư, tiết kiệm chi phí vật tư, năng lượng, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm;

+ Quy mô công suất của một cơ sở sản xuất gạch gốm ốp lát phải đạt từ 2 triệu

m2/năm trở lên;

+ Đối với các cơ sở đầu tư mới công nghệ cần đạt các tiêu chí sau:

Công nghệ sản xuất gạch ốp lát hiện đại phải sản xuất được nhiều loại sản phẩm với các kích thước khác nhau; Có khả năng ứng dụng các công nghệ trang trí mới để tạo ra các sản phẩm đa dạng có giá trị kinh tế; Đồng thời có mức tiêu thụ nhiên liệu và năng lượng như sau:

ô nhiễm môi trường và chất lượng sản phẩm

Đối với các cơ sở sản xuất có sử dụng các nhiên liệu khác thay thế thì yêu cầu phải đạt các chỉ tiêu tiêu hao tương ứng

Trang 20

+ Chủng loại sản phẩm phải đa dạng, với nhiều mẫu mã, đặc biệt là các loại sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

+ Mục tiêu xuất khẩu: giai đoạn từ nay đến năm 2010 khoảng 20%, giai đoạn

2011 - 2015 khoảng 25% và giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 30% sản lượng

Bảng 1.3 Công suất thiết kế và sản lượng gạch ốp lát đến năm 2020

(Theo Quyết định số 121/2008/QĐ-TTg ngày 29 tháng 08 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ)

Năm 2010 Năm 2015 Năm 2020 Chủng loại Đơn vị Công

suất

Sản lượng

Công suất

Sản lượng

Công suất

Sản lượng

Gạch ốp lát Triệu m2 275,4 206 335 302 460 414

Nhận xét: Qua bảng số liệu 1.2 và 1.3 ở trên ta thấy rằng công suất sản xuất

gạch trên thực tế của năm 2009 đã vượt công suất dự kiến của năm 2010 tới khoảng hơn 30%, điều này chứng tỏ tốc độ phát triển của ngành sản xuất gạch này là rất lớn

1.1.2 Vài nét về lĩnh vực sản xuất gạch granite ở Việt Nam

1.1.2.1 Khái niệm về gạch granite

• Khái niệm về gạch granite: Gạch granite là loại gạch lát nền, có các đặc

tính kỹ thuật cao được đặc trưng bằng các yếu tố như độ cứng cao, độ hút nước thấp, có độ bền hóa, bền mài mòn, bền cơ cao, [3].

Gạch granite là loại vật liệu có hàm lượng hạt lớn pha tinh thể cực kỳ xít đặc nằm trong mạng lưới pha thủy tinh được đặc trưng bằng độ xốp cực nhỏ (<0,5%) Trên thực tế các nhà sản xuất đã đưa ra tiêu chuẩn về độ hút nước nhỏ hơn 0,1%[6] Loại gạch này hiện đang được sử dụng rộng rãi trong các công trình xây dựng, hơn nữa chúng có thể sử dụng trong những công trình có nguy cơ tiếp xúc với hóa chất ăn mòn cao, độ mài mòn, độ ẩm lớn, Ngoài ra, chúng còn mang những yếu tố mà chưa được biết đến so với các sản phẩm cùng loại khác như yếu tố làm

Trang 21

mất khả năng của tĩnh điện, yếu tố tiêu chuẩn vệ sinh, Vì vậy nó còn được dùng trong các công trình như các phòng máy tính, phòng hát, bệnh viện,

• Sự khác nhau cơ bản giữa gạch granite và gạch ceramic:

Mặc dù gạch granite và gạch ceramic là hai loại gạch lát nền đang được sử dụng phổ biến hiện nay, chúng có thể được sản xuất trên cùng một dây chuyền sản xuất nhưng giữa hai loại gạch này có một số điểm khác nhau cơ bản, sự khác biệt lớn nhất là về cốt liệu Bảng 1.4 dưới đây chỉ rõ những điểm khác nhau đó:

Bảng 1.4 Sự khác nhau giữa gạch granite và gạch ceramic

Thời gian nung 60-70 phút 40-45 phút

Quy trình sản

xuất

Phối liệu -> nghiền mịn ->

trộn màu -> sấy thành bột -> ép -> sấy khô -> nung

Làm xương -> tráng men -> in lụa -> nung

Cấu tạo Gạch đồng chất Hai lớp phân biệt

xu hướng dần thay thế các loại gạch khác [6]

1.1.2.2 Quy mô hoạt động và xu thế phát triển của ngành sản xuất gạch granite

Ở Việt Nam, các nhà máy sản xuất gạch granite ngày càng được xây dựng nhiều hơn, trước đây (năm 1996) chỉ có một nhà máy sản xuất gạch granite là công

Trang 22

ty Thạch Bàn với công suất 1 triệu m2/năm, đến năm 1998 có thêm nhà máy gạch Đồng Tâm (1 triệu m2/năm) Sau này xuất hiện thêm một số nhà máy sản xuất gạch granite khác như nhà máy gạch granite Tiên Sơn (năm 2001) với công suất 3 triệu

m2/năm, gạch Thiên Thạch với công suất 1 triệu m2/năm, tập đoàn Prime 3 triệu

m2/năm, nhà máy Viglacera Thái Bình 3 triệu m2/năm, [7] Bên cạnh việc đầu tư xây dựng các nhà máy mới, các nhà máy cũ cũng lắp đặt thêm dây chuyền mới nhằm nâng cao công suất sản xuất như nhà máy gạch Granite Tiên Sơn, nhà máy Granite Trung Đô lắp thêm dây chuyền 2 với công suất 2 triệu m2/năm vào năm 2008; đặc biệt là sự lớn mạnh của tập đoàn Prime đã góp phần làm cho sản lượng granite trong nước tăng lên đáng kể

Dựa trên các số liệu thống kê ở trên và ở bảng 1.2, có thể nói rằng tốc độ tăng trưởng về sản lượng gạch granite ngày càng nhanh, mặc dầu công suất các nhà máy hiện nay vẫn còn thấp, nhiều nhà máy đang tìm cách nâng cấp và cải thiện Trong tương lai, gạch granite sẽ là loại gạch chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản lượng các loại gạch ốp lát

1.1.3 Công nghệ sản xuất và thiết bị

1.1.3.1 Công nghệ sản xuất hiện có [3]

Quá trình sản xuất gạch lát tường và nền nhà bao gồm một loạt các giai đoạn

có thể được tóm tắt dưới đây:

1 Bảo quản nguyên liệu thô

2 Chuẩn bị nguyên liệu làm

7 Phân loại và đóng gói

Tùy thuộc vào loại sản phẩm được sản xuất mà có công đoạn tráng men hay không và được nung một hay hai hoặc ba lần Sơ đồ 1.1 dưới đây chỉ ra dưới dạng biểu đồ các khả năng khác nhau cho quá trình sản xuất gạch lát tường và nền nhà nói chung

Trang 23

Hình 1.1 Sơ đồ các bước khác nhau cho quá trình

sản xuất gạch ốp lát

Các công đoạn chính trong quá trình sản xuất gạch lát được miêu tả như sau:

• Bảo quản nguyên liệu thô:

Đất sét và cao lanh là những loại nguyên liệu thô dẻo được sử dụng trong sản xuất gạch ốp lát Chamotte, quartz, feldspar, canxi cacbonat, dolomit và đá tan là nguyên liệu thô không dẻo giữ những chức năng khác nhau trong thành phần của xương gạch (ví dụ như felpar đóng vai trò như như yếu tố trợ dung, trong khi canxi

Chuẩn bị

nguyên

liệu xương

Gạch 2 lần nung và tráng men

Gạch một lần nung và tráng men

Chuẩn bị xương gạch

Chuẩn bị xương gạch

Chuẩn bị xương gạch Tạo hình Tạo hình Tạo hình

Nung chưa tráng men

Chuẩn bị tráng men và ứng dụng

Chuẩn bị tráng men và ứng dụng

Phân loại, đóng gói Phân loại, đóng gói Phân loại, đóng gói

Sản phẩm cuối cùng

Gạch không tráng men

Trang 24

có khả năng tạo kết tinh) Những nguyên liệu thô tương tự kết hợp với men thủy tinh, oxit kim loại và chất màu được sử dụng trong tráng men Chất điện phân như natri silicat hoặc photpho được thêm vào để giảm năng lượng tiêu thụ trong quá trình sấy khô bởi tác dụng làm giảm nước

Phần xương gạch chủ yếu hợp thành bởi các nguyên liệu chính được lấy từ vùng chứa nguyên liệu thô Các nguyên liệu này được bảo quản trong không khí, trong nhà kho cấp bốn, trong thùng hoặc xilo Những loại nguyên liệu có khối lượng nhỏ hơn được phân chia và bảo quản trong túi hoặc container, còn nguyên liệu thô lỏng dể cháy bảo quản trong các tank kín

• Chuẩn bị nguyên liệu thô:

Quá trình chuẩn bị nguyên liệu thô bao gồm những hoạt động và các kỹ thuật khác nhau, tùy theo loại và hình thức của xương gạch được sản xuất

Tỷ lệ của nguyên liệu thô được thực hiện bởi việc phân tích trọng lượng thông qua sự xem xét nước ẩm đọng lại trong nguyên liệu Một lượng nhỏ chất nhuộm, oxit kim loại hoặc màu được thêm vào để nhuộm màu trong hợp phần xương gạch Những mẫu lớn được nghiền trước trong máy nghiền hoặc máy khoan Sau khi cân, những nguyên liệu nghiền trước đó được cán (gồm cả nước và chất điện phân) trong máy nghiền nước, cái mà có thể nghiền theo đợt hoặc liên tục Thêm vào quá trình biến đổi là quá trình làm sạch và đồng nhất của nguyên liệu thô theo từng đợt của những tank lớn Lượng nước trong chất lỏng chiếm khoảng 35%

Sau khi nghiền mịn (kích thước hạt nhỏ hơn 0.1 mm), chất lỏng được sàng từng bước và bảo quản trong những tank có cánh khuấy Hỗn hợp chất lỏng được chế biến thành “xương dẻo” (hồ bột nhão) hoặc thành “bột ép ” Sản phẩm và quá trình của đúc khuôn sẽ không có trong sản xuất gạch lát

‘Hồ bột nhão’ thường được chuẩn bị trong những máy nghiền hoặc trong thiết bị cán mỏng ‘Bột ép’ là chất lỏng được tạo thành xương trong máy lọc áp lực hoặc trong máy lọc quay để lượng nước khoảng 20-25% Chất hữu cơ hoặc vô cơ được thêm vào hợp chất dẻo để tăng cực độ độ dẻo, ví dụ như alginate, dextrin, lignin, methyl cellulose, ethyl cellulose và paraffin

Trang 25

Một quá trình đặc biệt để chuẩn bị nguyên liệu thô cho quá trình tạo hình bột dẻo là nghiền mịn trong máy nghiền khô, sự trộn lẫn xảy ra và sau đó thêm khoảng 20% nước

Gạch phần lớn được sản xuất bởi sử dụng ‘bột ép bụi’ Bột ép bụi có thể được sản xuất qua quá trình xử lý ẩm hoặc khô.Trong quá trình xử lý ẩm, chất lỏng được bơm từ những tank khuấy trộn đến máy phun hoặc máy sấy – flash dryers Sự sấy được thực hiện ở nhiệt độ khoảng 350 - 450oC để lượng nước xuống khoảng 5 -10% Nhiệt nóng yêu cầu trong máy sấy phun được cung cấp bởi lò khí hóa hoặc nhiên liệu dầu đốt Những chất phụ gia hữu cơ tăng độ trơn trượt được thêm vào để nâng cao đặc tính trơn trượt của bột Ở đây, những phụ gia tăng độ trơn trượt có thể

là vô cơ hoặc hữu cơ: Những chất phụ gia được sử dụng rộng nhất trong chuẩn bị thành phần xương gạch là natri silicat, natri tri photphat và axit acrilic Các hợp chất như là cacboxylmethyl cellulose, methyl cellulose, polyvinyl alcohol, sử dụng trong quá trình chuẩn bị thành phần xương gạch là không thường xuyên cần thiết và tùy thuộc lượng đáng kể của chúng trong đất sét, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt Quá trình sấy khô bao gồm nghiền khô trong máy nghiền hình nón, đập và trộn, tiếp theo là tạo bột ướt thích hợp để đạt được lượng ẩm trung bình khoảng 5 -7%

• Tạo hình:

‘Hồ bột nhão’ được đưa vào máy ép để tạo thành một kích thước hình học nhất định và cắt thành miếng Những loại sản phẩm sản xuất từ hợp bột dẻo là gạch dính liền với nhau Gạch sử dụng nguyên liệu là đất nung và đất sét chứa đá được sản xuất chủ yếu từ ‘bột ép bụi’ Bột được tạo hình thành xương trong máy ép đòn khuỷu, máy ép xoắn hoặc máy ép hơi nước với áp lực khoảng 35 MPa Những máy

ép thông thường, cái mà có khả năng tạo ra 4 viên gạch trong một lần thường được

sử dụng Xương gạch vừa ép được đánh bóng và đặt vào trong lò tunnel hoặc lò sấy thanh lăn bằng công nghệ tự động hoặc thủ công

• Sấy:

Xương gạch sau khi ép chủ yếu được sấy khô trong lò sấy tunnel, lò sấy thanh lăn hoặc lò sấy đứng Nhiệt sinh ra từ lò khí hóa than, khí thiên nhiên hoặc

Trang 26

dầu đốt được sử dụng cho nhiệt nóng của máy sấy khô Quá trình sấy thực hiện ở

nhiệt độ khoảng 1050 và 1150oC trong lò tunnel cổ (khoảng 20-50h) hoặc trong lò

sấy con lăn hiện đại trong 1-2h Lò hoạt động một cách định kỳ Tiếp theo bước

này, gạch được vận chuyển tự động đến công đoạn tráng men Công nghệ ứng dụng

tráng men cho sản xuất gạch là quá trình phun men bởi áp lực Thêm nữa, máy in

hoa văn trên bề mặt có thể được sử dụng cho mục đích trang trí và sự trang trí cũng

có thể được tiến hành với kỹ thuật khắc hình hoặc in nổi bằng khuôn Nguyên liệu

tráng men thô thường được tạo thành như thủy tinh Tất cả những chất cấu thành

trong nguyên liệu thủy tinh là trong một phân tử, vì vậy nước không thể rửa sạch

chúng trong bước sản xuất này

Quá trình nung cuối cùng được tiến hành trong lò nung thanh lăn, lò tunnel

hoặc lò hoạt động gián đoạn Gạch tráng men được đặt trong thiết bị nung phụ hoặc

được nung ở nhiệt độ khoảng 1050-1300oC trong lò tunnel hoặc lò nung thanh lăn

mà không cần thiết bị nung phụ Bảng 1.5 dưới đây đưa ra ví dụ về dữ liệu hoạt

động của lò nung tunnel và lò thanh lăn:

Bảng 1.5 Dữ liệu hoạt động của lò tuynel và lò nung thanh lăn

Lò nung thanh lăn Thông số của lò Đơn vị Lò tuynen

nung Nung hai lần Nung một lần

Năng lượng yêu cầu riêng kj/kg 3500 2900 2200

Lưu lượng thể tích khí gas m3/h 15000 10000 13000

Nhiệt của nhiên liệu khí oC 180 160 200

• Quá trình xử lý tiếp theo

Trang 27

Sau khi nung lần cuối cùng, một số loại gạch (gạch không tráng men làm bằng đất sét chứa lượng đá nhỏ) có thể đưa ra hoặc chuyển sang công đoạn đánh bóng Sản phẩm gạch cuối cùng được phân loại, đóng gói và được đưa lên tấm nâng hàng bằng tay hoặc bằng máy móc Những tấm nâng hàng được che phủ

Nhận xét: Quá trình sản xuất gạch granite về căn bản là được sản xuất theo

các bước công nghệ sản xuất gạch ở trên Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng quá trình sản xuất gạch granite thường không qua công đoạn tráng men, độ bóng đạt được là

do quá trình mài bóng; Thiết bị thường sử dụng cho quá trình nung gạch hiện nay là

lò nung thanh lăn

1.1.3.2 Hiện trạng công nghệ và thiết bị sản xuất gạch Granite ở Việt Nam

Ở Việt Nam công nghệ sản xuất gạch granite chủ yếu sản xuất trên dây chuyền công nghệ được nhập khẩu từ Italia khá đồng bộ và hiện đại, với các hãng nổi tiếng như B$T (Trung Đô), SACMI (Granite Tiên Sơn, Thạch Bàn, ), SITI (Granite Đồng Nai, xí nghiệp Thanh Thanh), Ngoài ra còn có một số dây chuyền công nghệ và thiết bị được nhập khẩu đồng bộ từ Trung Quốc

Nếu như trước năm 2000 hầu hết các nhà máy đầu tư công nghệ với công suất bé (công suất một dây chuyền khoảng 1- 3 triệu m2/năm) thì từ năm 2001 đến nay nhiều nhà máy mới ra đời với công suất lắp đặt tương đối lớn (trên 3 triệu

m2/năm) Một ví dụ điển hình về sự phát triển lớn mạnh là Nhà máy Prime Đại Lộc

có công suất lắp đặt đạt 24 triệu m2/năm [7] Song dù là công nghệ mới hay cũ thì công nghệ sản xuất gạch Granite cũng được thực hiện trên dây chuyền liên tục với các bước sau [2, 6]:

- Chuẩn bị nguyên liệu thô: Nguyên liệu thô từ kho bảo quản được đưa lên cân bán

tự động bằng hệ thống gàu súc, sau đó vận chuyển qua băng tời lên thiết bị trộn để phối liệu sản phẩm

- Tạo xương gạch: Hiện nay người ta thường nghiền phối liệu để tạo xương gạch trong các máy nghiền bi Tại đây nguyên liệu được nghiền đến kích thước yêu cầu

Trang 28

và khi ra khỏi máy nghiền nó đạt được độ đồng nhất cao về thành phần khoáng hóa

và sự phân bố kích thước hạt

Phối liệu ra khỏi máy nghiền ở dạng hồ nên được đem đi sấy để tách bớt nước đến độ ẩm thích hợp cho quá trình tạo hình Thiết bị sấy thường là tháp sấy phun và nhiên liệu thường dùng là dầu hoặc khí hóa than

- Tạo hình sản phẩm: Hồ bột được vận chuyển đến máy ép thủy lực để tạo ra hình dạng mong muốn khác nhau của viên gạch và tạo ra một độ cứng vững chắc

- Quá trình sấy: Sản phẩm sau khi tạo hình sẽ được đưa vào các thiết bị sấy để tách nước và nâng cao cường độ cơ học của gạch mộc Thiết bị sấy hiện nay chủ yếu là

lò sấy đứng, lò sấy thanh lăn

- Nung sản phẩm: Đây là công đoạn quan trọng trong quá trình sản xuất gốm sứ nói chung và sản xuất gạch granite nói riêng Quá trình nung là quá trình làm cho vật liệu tiếp tục bốc hơi, tách nước hóa học, phân giải các loại cacbonat, sunphat, tạo pha thủy tinh, tạo khoáng mới, hòa tan vật chất rắn, tái kết tinh, biến đổi hình thù khi nung và làm nguội

Công nghệ hiện nay được sử dụng nhiều nhất cho quá trình nung trong sản xuất gạch Granite là lò nung thanh lăn - do tính năng ưu việt của nó Ngoài ra lò sấy tuynel cũng được sử dụng Và nhiên liệu thường dùng để cung cấp nhiệt là quá trình đốt lò bằng gas hoặc than

- Phân loại và đóng gói: Công đoạn này được thực hiện theo phương pháp thủ công Tuy nhiên hiện nay trên thị trường đã xuất hiện một loại máy phân loại gạch tự động đạt hiệu quả cao do Viện Tự động hóa kỹ thuật quân sự nghiên cứu [8]

1.2 Các vấn đề môi trường trong ngành sản xuất gạch granite

1.2.1 Các vấn đề môi trường trong sản xuất gạch granite

Vấn đề môi trường chủ yếu trong ngành sản xuất gốm sứ nói chung phụ thuộc vào từng quá trình sản xuất riêng biệt Các nhà máy sản xuất này đều tiềm ẩn những khả năng phát thải chất ô nhiễm vào môi trường không khí, môi trường đất

và nước Thêm nữa, môi trường cũng có thể bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn và những

Trang 29

mùi khó chịu Loại và lượng gây ô nhiễm không khí, đất và ô nhiễm nước phụ thuộc vào những giới hạn (thông số) khác nhau Những thông số này bao gồm tỷ lệ lượng nguyên liệu sử dụng, các yếu tố phụ trợ, nhiên liệu sử dụng và phương pháp sản xuất được ứng dụng Sơ đồ 1.2 dưới đây thể hiện dòng vật liệu và năng lượng đầu vào và đầu ra trong sản xuất gạch

Hình 1.2 Dòng vào và ra trong quá trình sản xuất gạch lát tường và nền nhà

Sản xuất gạch lát tường và

tường và nền nhà

Dư nhiệt

Quá trình mất/ lãng phí

Sử dụng máy lọc, các yếu tố hút ẩm Bùn, gốm sứ vỡ, bao gói hỏng, tập trung bụi, mảnh nhỏ, mảnh cắt,

Quá trình lãng phí nước

Trang 30

Qua sơ đồ 1.2 ở trên, ta có thể thấy được các loại ô nhiễm phát sinh sau:

- Phát thải vào không khí: Hạt rắn hoặc bụi có thể tăng lên từ quá trình đóng gói, các quá trình vận chuyển nguyên liệu thô hoặc quá trình sản xuất sản phẩm cũng như là muội có thể phát sinh từ quá trình đốt nhiên liệu dầu hoặc nhiên liệu rắn khác Sự phát thải khí tăng lên trong suốt quá trình đốt hoặc sấy phun các đồ gốm

sứ và có thể được phóng thích từ nguyên liệu thô hoặc từ nhiên liệu phụ trợ được sử dụng CO2, NOx, SO2, hợp chất clo và flo vô cơ, cũng như là hợp chất hữu cơ là những hạt khí chủ yếu trong khí thải Tùy theo sự sử dụng những hóa chất cho mục đích trang trí (cái mà chứa đựng kim loại nặng), hoặc sử dụng dầu nặng làm nhiên liệu, một lượng kim loại nặng cũng có thể được phát thải

- Sự phát thải vào nước: Chúng xảy ra chủ yếu trong suốt quá trình sản xuất các sản phẩm gốm sứ, đặc biệt là trong sản xuất sản phẩm gốm sứ truyền thống, và quá trình ô nhiễm nước chủ yếu là do các hợp chất khoáng (những vật chất không hòa tan được) Phụ thuộc vào phương pháp sản xuất, lượng nước lãng phí cũng chứa đựng nhiều nguyên liệu vô cơ, một lượng nhỏ của lượng nguyên liệu vô cơ có kích thước lớn và một số kim loại nặng Lượng nước này thường được làm sạch và tái sử dụng trong vòng sản xuất khép kín Lượng nước làm mát, nước mưa và nước thải sinh hoạt thường được dẫn đến dòng nước thải của nhà máy

- Quá trình mất hoặc lãng phí: nguồn gốc của quá trình mất từ quá trình sản xuất sản phẩm gốm sứ bao gồm những loại chính dưới đây:

• Các loại bùn khác nhau (Bùn từ quá trình xử lý nước thải, bùn tráng men, bùn thạch cao, bùn nghiền)

• Gốm sứ vỡ từ quá trình tạo hình, sấy, nung

• Bụi từ quá trình làm sạch nhiên liệu khí và dedusting units

• Sự sử dụng đất thạch cao

• Sử dụng các chất hút thấm bề mặt (cục đá vôi, bụi đá vôi)

• Chất thải do đóng gói sản phẩm (bằng nhựa, gỗ, kim loại, giấy, )

• Chất rắn cặn bã như tro xỉ từ quá trình đốt nhiên liệu rắn,

Trang 31

Một phần trong các chất bị mất đi đã đề cập ở trên được tích lũy lại, có thể được quay vòng và tái sử dụng lại trong nhà máy tùy thuộc vào những sản phẩm đặc biệt hoặc yêu cầu của quá trình sản xuất Những nguyên liệu khác, cái mà không thể được tái chế bên trong nhà máy thì được đưa đến nhà máy khác để tái chế hoặc vận chuyển vào nhà máy xử lý chất thải

1.2.2 Hiện trạng quản lý môi trường trong ngành sản xuất gạch granite

Các nhà máy sản xuất gạch Granite nói riêng và sản xuất vật liệu xây dựng nói chung chịu sự giám sát về vấn đề môi trường bởi các cơ quan quản lý chức năng trên địa bàn nhà máy như Sở Tài nguyên môi trường, Cục bảo vệ môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường

Hầu hết các cơ sở sản xuất đều phải tiến hành thực hiện Báo cáo đánh giá tác động môi trường, đặc biệt là hoạt động Giám sát chất lượng môi trường được thực hiện hàng năm Thông thường hoạt động này được các cơ sở sản xuất mời Sở tài nguyên môi trường về đo đạc, khảo sát 2 lần trong một năm

Do đặc thù của sản xuất gạch là tạo ra lượng nước thải lớn, trong đó hàm lượng chất rắn lơ lửng cao và có khả năng tái sử dụng nên hầu hết các nhà máy đều xây dựng hệ thống xử lý nước thải Ngoài ra, quá trình sản xuất cũng phát sinh hàm lượng bụi cao nên vấn đề xử lý bụi cũng được các cơ sở sản xuất quan tâm bằng việc lắp đặt các hệ thống hút bụi, ứng dụng các công nghệ mới, hiện đại để giảm phát sinh bụi

Tuy nhiên, phần lớn các nhà máy sản xuất, đặc biệt là các nhà máy có công suất thấp thì chưa áp dụng các công cụ quản lý môi trường mang tính chất tự nguyện và có hệ thống giống như việc áp dụng các giải pháp của Sản xuất sạch hơn hay việc ứng dụng Hệ thống quản lý môi trường vào nhà máy Do đó việc nghiên cứu và ứng dụng nhiều hơn nữa các biện pháp này vào các nhà máy sản xuất gạch là cần thiết nhằm đạt được hiệu quả sản xuất cao và giảm tác động môi trường

Trang 32

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT SẠCH HƠN VÀ

HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

2.1 Lý thuyết tổng quan về Sản xuất sạch hơn

2.1.1 Giới thiệu về Sản xuất sạch hơn

Quá trình công nghiệp hóa nhanh và rộng sẽ đóng góp rất lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Tuy nhiên sự phát triển bùng nổ các ngành công nghiệp thường đi kèm với vấn đề môi trường Trước đây để giải quyết vấn đề này chúng ta thường áp dụng phương pháp tiếp cận “cuối đường ống (EOP)”, tức là xử

lý phát thải/chất thải sau khi chúng đã phát sinh Về thực tiễn, điều này đồng nghĩa với việc xây dựng và vận hành các cơ sở xử lý nước thải, các thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khí và các bãi chôn lấp an toàn Đây là những công việc rất tốn kém Đối với một quy trình công nghiệp thì bất cứ giai đoạn hay hoạt động nào cũng không bao giờ đạt hiệu suất 100% [9], luôn có tổn hao nào đó vào môi trường

và không thể chuyển thành sản phẩm hữu dụng Tổn hao này chính là sự lãng phí hay còn gọi là sự ô nhiễm, nó luôn gắn liền với sản xuất công nghiệp Yếu tố này thường được nhắc đến như “cơ hội bị mất đi trong quá trình sản xuất” Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng: Tỷ lệ phát sinh chất thải thường rất cao và có một thực tế là rất ít nhà sản xuất công nghiệp nhận ra điều này Hiện nay tiếp cận xử lý cuối đường ống vẫn đang được áp dụng phổ biến trong các cơ sở sản xuất công nghiệp, nhưng khả năng tiếp nhận ô nhiễm của môi trường đang gần như cạn kiệt Các đơn vị sản xuất công nghiệp dần nhận thức được sự cần thiết phải xem xét lại các công đoạn sản xuất của mình theo thứ tự ngược lại Điều này đã dẫn đến sự xuất hiện khái niệm về một tiếp cận mang tính chủ động để giảm chất thải ngay tại nguồn thải Tiếp cận chủ động này được gọi là Sản xuất sạch hơn (SXSH)

Trang 33

2.1.2 Sản xuất sạch hơn và lợi ích của sản xuất sạch hơn

• Định nghĩa về Sản xuất sạch hơn [10]

Theo định nghĩa của Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc

(UNEP,1994): “SXSH là việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường

Đối với quá trình sản xuất: SXSH bao gồm việc bảo toàn nguyên liệu, nước

và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và giảm khối lượng, độc tính của các chất thải ngay tại nguồn thải

Đối với sản phẩm: chiến lược SXSH nhằm vào mục đích làm giảm tất cả các

tác động đến môi trường trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm, từ khâu khai thác nguyên liệu đến khâu thải bỏ cuối cùng

Đối với dịch vụ: SXSH là sự lồng ghép các mối quan tâm về môi trường vào

việc thiết kế và cung cấp các dịch vụ

SXSH đòi hỏi áp dụng các bí quyết, cải tiến công nghệ và thay đổi thái độ.”

• Các khái niệm và thuật ngữ liên quan:

- Công nghệ sạch (Clean technology): Bất kỳ biện pháp kỹ thuật nào được các ngành công nghiệp áp dụng để giảm thiểu hay loại bỏ quá trình phát sinh chất thải hay ô nhiễm tại nguồn và tiết kiệm được nguyên liệu và năng lượng đều được gọi là công nghệ sạch

- Công nghệ tốt nhất hiện có (Best available technology - BAT): Là việc áp dụng công nghệ tốt nhất hiện có trong việc bảo vệ môi trường nói chung, có khả năng triển khai trong các điều kiện thực tiễn về kinh tế, kỹ thuật, có quan tâm đến chi phí trong việc nghiên cứu, phát triển và triển khai bao gồm thiết kế, xây dựng, bảo dưỡng, vận hành và loại bỏ công nghệ

BAT giúp đánh giá tiềm năng SXSH

Trang 34

- Hiệu quả sinh thái (Eco-eficiency): Là sự phân phối hàng hóa và dịch vụ có giá

cả rẻ hơn trong khi giảm được nguyên liệu, năng lượng và các tác động đến môi trường trong suốt cả quá trình của sản phẩm và dịch vụ

Hai khái niệm SXSH và hiệu quả sinh thái được xem như là đồng nghĩa

- Phòng ngừa ô nhiễm (Pollution prevention): Khái niệm SXSH và phòng ngừa ô nhiễm được sử dụng thay thế nhau

- Giảm thiểu rác thải (Waste minimisation): Hai khái niệm này cũng dùng để thay thế nhau nhưng giảm thiểu rác thải tập trung vào việc tái chế chất thải và sử dụng nguyên tắc 3P (Polluter Pay Principle ) và 3R (Reduction Reuse Recycle)

- Năng suất xanh (Green productivity): Là một chiến lược vừa nâng cao năng suất vừa thân thiện với môi trường cho sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung

- Sinh thái công nghiệp (Industrial ecology): Tiếp cận và giải quyết các vấn đề liên quan tới mối quan hệ giữa ”con người – môi trường”

Thực tế, tất cả đều mang ý nghĩa như nhau với mục tiêu cao nhất vẫn là nhằm giảm thiểu việc phát sinh ra chất thải, khí thải

Sự khác biệt căn bản giữa EOP hay còn gọi là kiểm soát ô nhiễm cuối đường ống và SXSH là ở thời điểm Kiểm soát ô nhiễm là phương pháp tiếp cận sau khi vấn đề đã phát sinh, “phản ứng và xử lý”; Trong khi đó, SXSH lại mang tính chủ động, theo “triết lý dự đoán và phòng ngừa”

Sản xuất sạch hơn có ý nghĩa đối với tất cả các cơ sở công nghiệp, lớn hay nhỏ, tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng, nước nhiều hay ít Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều có tiềm năng giảm lượng nguyên nhiên liệu tiêu thụ từ 10-15% [11] Khi áp dụng SXSH, doanh nghiệp sẽ giảm thiểu các tổn thất về nguyên vật liệu và sản phẩm, do đó có thể đạt sản lượng cao hơn, chất lượng ổn định, thu nhập kinh tế cũng như tính cạnh tranh cao hơn

Các lợi ích của sản xuất sạch hơn

SXSH vừa là công cụ quản lý, công cụ kinh tế, công cụ bảo vệ môi trường và cũng là công cụ nâng cao chất lượng sản phẩm SXSH giúp:

Trang 35

• Tiết kiệm tài chính và cải thiện hiệu suất sản xuất do tiết kiệm chi phí cho sử dụng nguyên liệu, nước, năng lượng có hiệu quả hơn

• Giảm sử dụng tài nguyên thiên nhiên thông qua các biện pháp thu hồi và tái sử dụng chất thải

• Chất lượng và độ đồng đều của sản phẩm tốt hơn

• Tái sử dụng các bán thành phẩm có giá trị

• Giảm ô nhiễm

• Giảm chi phí xử lý và thải bỏ các chất thải rắn, nước thải, khí thải

• Tạo nên hình ảnh của công ty tốt hơn

• Cải thiện môi trường làm việc có liên quan tới sức khoẻ nghề nghiệp và an toàn lao động

• Tiếp cận với các nguồn tài chính dễ dàng hơn

• Tuân thủ tốt hơn các quy định về môi trường

2.1.3 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn ở một số nước trên thế giới và

Tại châu Á, hầu hết các nước có các chương trình trình diễn SXSH trong các ngành công nghiệp khác nhau Các chương trình này được hỗ trợ bởi Chính phủ, ngành công nghiệp và có sự hỗ trợ từ tổ chức nước ngoài cho nhiều chương trình khác nhau

Tại Trung Quốc, SXSH đã được đưa thành luật vào tháng 6/2002 Luật Thúc đẩy SXSH của Trung Quốc khuyến khích thúc đẩy SXSH, tăng cường hiệu quả sử

dụng các tài nguyên quí hiếm, giảm và tránh thải các chất ô nhiễm, bảo vệ và cải thiện môi trường, đảm bảo sức khỏe con người và thúc đẩy phát triển bền vững trong xã hội và kinh tế

Trang 36

Tại Thái Lan, kế hoạch tổng thể quốc gia được xây dựng và thông qua năm

2000, với mục tiêu chung là đưa SXSH vào thực tiễn và áp dụng hiệu quả tại tất cả các ngành nhằm ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường, tăng cường bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường song song với phát triển kinh tế

Tại Australia, một chiến lược của Hội đồng Bảo tồn và môi trường Australia

và New Zealand (ANZECC) đã được xây dựng để thúc đẩy SXSH Hầu hết các bang đều có chương trình SXSH với sự hỗ trợ của chính quyền, các hoạt động khá thành công

Tại Nhật Bản, công nghệ SXSH được chia thành hai loại hình chính, loại hình công nghệ thông thường cho mỗi biện pháp hay còn gọi là “công nghệ cứng”

và công nghệ quản lý “công nghệ mềm”, dựa trên các ý tưởng về giảm tác động môi trường của tất cả các công đoạn từ khai thác nguyên liệu đầu vào đến thải bỏ hoặc tái chế các sản phẩm sau sử dụng

Tại Việt Nam, khung chính sách về SXSH bắt đầu được xây dựng từ năm

1998 khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 36/CT-TW ngày 25/6/1998 về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chỉ thị có

nêu rõ cần thiết phải “Ban hành các chính sách về thuế, tín dụng nhằm khuyến khích

áp dụng các công nghệ sạch” và “Áp dụng công nghệ sạch, ít phế thải, tiêu hao ít nguyên liệu và năng lượng” đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp Luật Bảo vệ

môi trường năm 1993 cũng đưa ra khái niệm và khuyến khích áp dụng công nghệ sạch Ngoài ra, còn có các chính sách tác động gián tiếp việc khuyến khích phát triển SXSH như: Quyết định 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/04/2003 của Thủ tướng Chính phủ về xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng; Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ về việc thu phí BVMT đối với nước thải

Với sự hỗ trợ ban đầu của Liên Hiệp quốc, Việt Nam đã có Trung tâm SXSH đặt tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Trung tâm đã có những hoạt động như đào tạo các giảng viên tiềm năng, tiến hành thí điểm trình diễn tại một số cơ sở sản xuất, đào tạo nâng cao trình độ về SXSH cho các cán bộ kỹ thuật Thông qua các

Trang 37

hoạt động thực tế, Trung tâm đã đánh giá các doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng lớn trong việc áp dụng SXSH, nhằm giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời bảo vệ môi trường

Trong thời gian gần đây, ở Việt Nam đã xuất hiện thêm một số trung tâm SXSH như Trung tâm SXSH thành phố Hồ Chí Minh (2005), Trung tâm môi trường

và sản xuất sạch (2010), Điều này cho thấy hoạt động SXSH đang được nhân rộng tại Việt Nam

Tuy nhiên, việc áp dụng SXSH tại Việt Nam vẫn còn gặp khó khăn do các nguyên nhân: nhận thức của các doanh nghiệp về lợi ích của SXSH còn hạn chế; Nhiều doanh nghiệp không có đủ vốn để đầu tư cho SXSH, trong khi việc tiếp cận các nguồn tài chính còn gặp quá nhiều thủ tục phiền hà, rắc rối; Thiếu một cơ chế chính sách khuyến khích công bằng và thoả đáng; Hơn nữa nguồn nhân lực về SXSH vẫn còn rất hạn chế

2.1.4 Phương pháp luận đánh giá sản xuất sạch hơn

Lý thuyết cơ bản trong đánh giá SXSH là bất kỳ vật chất nào đi vào một nhà máy thì sẽ đi ra dưới dạng này hay dạng khác; Với giả định căn bản được đưa ra là nguyên liệu được dữ trữ thì sẽ không trải qua bất kỳ sự biến đổi nào về dạng và chất

Một số cơ quan nghiên cứu về môi trường hàng đầu trên thế giới đã đưa ra phương pháp luận cho đánh giá SXSH Dưới đây là một số phương pháp:

• Phương pháp luận của Cục Bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) [13]:

Cục Bảo vệ Môi trường Mỹ (United State Environmental Protection Agency)

là cơ quan đầu tiên xây dựng phương pháp luận nghiên nghiên cứu về giảm thiểu chất thải (GTCT) một cách có hệ thống bằng chương trình GTCT từ năm 1985 Quy trình thực hiện được thể hiện trong hình 2.1

Trang 38

Hình 2.1 Chương trình đánh giá giảm thiểu chất thải của EPA

• Phương pháp luận của UNEP [14]:

Năm 1990, Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc đã bắt đầu chương

trình SXSH của mình bằng việc khuyến khích hỗ trợ thông qua các dự án “Những chiến lược và cơ chế đầu tư cho SXSH tại các nước đang phát triển” nhằm giúp các

NHẬN DẠNG NHU CẦU GIẢM THIỂU CHẤT THẢI

LẬP KẾ HOẠCH TỔ CHỨC

- Cam kết quản lý

- Đặt mục tiêu cho chương trình

- Tổ chức nhân sự

GIAI ĐOẠN ĐÁNH GIÁ

- Lấy số liệu và công nghệ

- Xác định mục tiêu ưu tiên

- Thành lập nhóm SXSH

- Kiểm tra hiện trạng và số liệu

- Đưa ra các cơ hội

- Lựa chọn các cơ hội và giải pháp để liên tục nghiên cứu

PHÂN TÍCH TÍNH KHẢ THI

- Đánh giá kỹ thuật

- Đánh giá kinh tế

- Chọn lựa các cơ hội thực hiện

DỰ ÁN GIẢM THIỂU CHẤT THẢI THỰC HIỆN THÀNH CÔNG

Lựa chọn mục

tiêu đánh giá mới

và đánh giá lại

lựa chọn trước đó

Báo cáo đánh giá

của những cơ hội

Báo cáo cuối cùng

Trang 39

nước đang phát triển giảm thiểu tình trạng ô nhiễm do hoạt động công nghiệp Phương pháp luận SXSH do UNEP/UNIDO đề xuất như sau:

GIAI ĐOẠN 1: TIỀN ĐÁNH GIÁ

GIAI ĐOẠN 2: CÂN BẰNG

GIAI ĐOẠN 3: TỔNG HỢP

Hình 2.2 Phương pháp luận kiểm toán chất thải do UNEP/UNIDO đề xuất, 1991

CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN

Bước 1: Chuẩn bị và thành lập đội kiểm toán

Bước 2: Chia quá trình thành những đơn vị vận hành

Bước 3: Xây dựng sơ đồ công nghệ liên kết các đơn vị vận hành

ĐẦU VÀO CỦA QUÁ TRÌNH

Bước 4: Xác định đầu vào

Bước 5: Báo cáo sử dụng nước

Bước 6: Đo mức độ tuần hoàn

tái sử dụng chất thải

ĐẦU RA CỦA QUÁ TRÌNH

Bước 7: Xác định sản phẩm, sản

phẩm phụ Bước 8: Tính toán lượng nước thải Bước 9: Tính toán lượng khí thải Bước 10: Tính toán chất thải ra

ngoài nhà máy

CÂN BẰNG VẬT LIỆU

Bước 11: Tổng hợp thông tin đầu vào và đầu ra

Bước 12: Cân bằng vật chất sơ bộ

Bước 13-14: Định giá và hoàn chỉnh cân bằng vật liệu

XÁC ĐỊNH CÁC GIẢI PHÁP LỰA CHỌN ĐỂ GIẢM CHẤT THẢI

Bước 15: Xác định các biện pháp giảm chất thải

Bước 16: Mục tiêu và đặc tính chất thải

Bước 17: Nghiên cứu khả năng tách riêng chất thải

Bước 18: Xây dựng các biện pháp dài hạn để giảm chất thải

ĐÁNH GIÁ CÁC GIẢI PHÁP LỰA CHỌN ĐỂ GIẢM CHẤT THẢI

Bước 19: Tiến hành đánh giá về mặt môi trường và kinh tế của các

phương án giảm chất thải, liệt kê các phương án có thể thành

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN GIẢM CHẤT THẢI

Bước 20: Thiết kế và thực hiện kế hoạch hành động giảm chất thải để

đạt được hiệu quả cho quá trình đã cải tiến

Trang 40

• Phương pháp luận kiểm toán SXSH theo phương pháp DESIRE [15]:

Năm 1993, Ủy ban Năng suất quốc gia Ấn Độ thực hiện dự án “Trình diễn giảm chất thải tại các ngành công nghiệp nhỏ” (DESIRE - Desmontration in Small

Industries of Reducing Waste) Quy trình kiểm toán chất thải đã được phát triển trong khuôn khổ Dự án và đã được áp dụng rộng rãi Phương pháp luận DESIRE gồm 6 bước - 18 nhiệm vụ (xem hình 2.3):

Bước 1: Khởi động

Bao gồm việc lập kế hoạch và tổ chức đánh giá SXSH: Thành lập nhóm SXSH, tổng quát tất cả các công đoạn bao gồm cả sản xuất, vận chuyển nguyên liệu, bảo quản, lưu giữ, cần thu thập các số liệu liên quan đến sản xuất, môi trường, để có được số liệu nền, thấy được thực trạng của quá trình sản xuất, xác định định mức Từ đó làm cơ sở cho việc lựa chọn trọng tâm cho kiểm toán

Bước 2: Phân tích các công đoạn sản xuất

Bao gồm việc đánh giá các bước công nghệ có liên quan với trọng tâm kiểm toán đã lựa chọn và tính cân bằng vật chất – năng lượng để có thể xác định được lượng chất thải, chi phí cho dòng thải và nguyên nhân sinh ra chất thải Các bước công nghệ cần được liệt kê đầy đủ kèm theo tất cả dòng vào và dòng ra tương ứng

để định lượng dòng thải và các thành phần của dòng thải, những tổn thất vật liệu, năng lượng và xác định chi phí Việc phân tích nguyên nhân sẽ cho biết các nguyên nhân thực tế/ẩn gây ra tổn thất làm cơ sở để đề xuất các cơ hội SXSH

Bước 3: Đề xuất các cơ hội SXSH

Trên cơ sở kết quả của Bước 2 sẽ xây dựng các cơ hội SXSH và lựa chọn cơ hội có tính khả thi nhất Các cơ hội SXSH bao gồm: Quản lý nội vi, thay thế nguyên liệu, kiểm soát quy trình tốt hơn, cải tiến thiết bị, tuần hoàn tái sử dụng, sản xuất sản phẩm phụ, thay đổi sản phẩm, thay đổi công nghệ Các cơ hội sẽ được chia thành các nhóm: Các cơ hội có thể thực hiện ngay, các cơ hội cần phân tích thêm (về kỹ thuật, kinh tế và môi trường), các cơ hội có thể loại bỏ

Bước 4: Lựa chọn các giải pháp SXSH

Ngày đăng: 18/07/2017, 22:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

21.  Bảng 4.9  Bảng cân bằng nguyên liệu cho 1 m 2  gạch  59 - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
21. Bảng 4.9 Bảng cân bằng nguyên liệu cho 1 m 2 gạch 59 (Trang 6)
Hình 1.1. Sơ đồ các bước khác nhau cho quá trình - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Hình 1.1. Sơ đồ các bước khác nhau cho quá trình (Trang 23)
Bảng 1.5. Dữ liệu hoạt động của lò tuynel và lò nung thanh lăn - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Bảng 1.5. Dữ liệu hoạt động của lò tuynel và lò nung thanh lăn (Trang 26)
Hình 1.2. Dòng vào và ra trong quá trình sản xuất gạch lát tường và nền nhà - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Hình 1.2. Dòng vào và ra trong quá trình sản xuất gạch lát tường và nền nhà (Trang 29)
Hình 2.1. Chương trình đánh giá giảm thiểu chất thải của EPA - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Hình 2.1. Chương trình đánh giá giảm thiểu chất thải của EPA (Trang 38)
Hình 2.2. Phương pháp luận kiểm toán chất thải do UNEP/UNIDO đề xuất, 1991 - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Hình 2.2. Phương pháp luận kiểm toán chất thải do UNEP/UNIDO đề xuất, 1991 (Trang 39)
Hình 2.3. Sơ đồ các bước kiểm toán SXSH theo phương pháp DESIRE - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Hình 2.3. Sơ đồ các bước kiểm toán SXSH theo phương pháp DESIRE (Trang 42)
Hình 2.4. Kỹ thuật đánh giá SXSH - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Hình 2.4. Kỹ thuật đánh giá SXSH (Trang 43)
Hình 2.5. Thang quản lý môi trường - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Hình 2.5. Thang quản lý môi trường (Trang 45)
Hình 2.6. Sơ đồ các bước thực hiện của một HTQLMT - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Hình 2.6. Sơ đồ các bước thực hiện của một HTQLMT (Trang 47)
Hình 2.7. Mô hình hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14001 - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Hình 2.7. Mô hình hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14001 (Trang 48)
Hình 3.1. Sơ đồ tổ chức Công ty cổ phần Trung Đô - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Hình 3.1. Sơ đồ tổ chức Công ty cổ phần Trung Đô (Trang 51)
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của nhà máy được thể hiện qua hình 3.2 như sau: - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức của nhà máy được thể hiện qua hình 3.2 như sau: (Trang 52)
Bảng 3.2. Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2009 - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Bảng 3.2. Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2009 (Trang 53)
Hình 3.3. Sơ đồ dây chuyền sản xuất gạch granite - Đánh giá sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý môi trường đơn giản cho nhà máy granite trung đô
Hình 3.3. Sơ đồ dây chuyền sản xuất gạch granite (Trang 55)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w