Với mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất cho các doanh nghiệp công nghiệp, Thái Nguyên đã đưa ra kế hoạch đến năm 2013 giảm nguyên liệu đầu vào nguyên liệu, năng lượng và nước từ 3-5%, đồ
Trang 1Lê Thu Hà
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TRIỂN KHAI SẢN XUẤT SẠCH HƠN VÀ
ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT
SẠCH HƠN TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ở THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGÔ THỊ NGA
Hà Nội – Năm 2011
Trang 2Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của cô Ngô Thị Nga, người đã chỉ bảo hướng dẫn em rất chu đáo và nhiệt tình trong quá trình làm luận văn này Bên cạnh đó, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Viện Khoa học và Công nghệ môi trường đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình học tập cũng như trong quá trình làm luận văn
Em cũng xin chân thành cảm ơn Phòng An toàn công nghiệp, Phòng Quản lý công nghiệp, Trung tâm Khuyến Công thuộc Sở Công Thương Thái Nguyên, Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên và một số công ty, nhà máy trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; đặc biệt là công ty CP Luyện cán thép Gia sàng Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn các bạn học viên lớp Kỹ thuật Môi trường khoá 2008-2010 đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên trong gia đình đã động viên và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2011
Học viên
Lê Thu Hà
Trang 3Tôi là Lê Thu Hà, học viên cao học lớp KTMT 2008-2010, đã thực hiện đề
tài “Đánh giá hiện trạng triển khai sản xuất sạch hơn và đề xuất biện pháp
nhằm thúc đẩy chiến lược sản xuất sạch hơn trong ngành công nghiệp ở Thái
Nguyên” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Ngô Thị Nga Tôi xin cam đoan đây là
công trình của riêng tôi, những kết quả nghiên cứu và thảo luận trong luận văn này
là đúng sự thật, một số số liệu và kết quả nghiên cứu đã sử dụng trong luận văn được các tác giả cho phép sử dụng
Tác giả
Lê Thu Hà
Trang 41.1.1 Giới thiệu về Sản xuất sạch hơn 1
1.1.2 Sản xuất sạch hơn và lợi ích của sản xuất sạch hơn 1
1.1.2.1 Định nghĩa về Sản xuất sạch hơn 1
1.1.2.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan 2
1.1.2.3 Các lợi ích của sản xuất sạch hơn 3
1.1.3 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn ở một số nước trên thế giới 4
1.1.4 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn ở Việt Nam 6
1.2 Phương pháp luận đánh giá sản xuất sạch hơn 11
1.3 Các kỹ thuật đánh giá sản xuất sạch hơn 17
1.4 Xu hướng áp dụng sản xuất sạch hơn hiện nay 18
1.5 Lộ trình sản xuất sạch hơn ở Việt Nam trong thời gian tới 18
CHƯƠNG II: THÁI NGUYÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở THÁI NGUYÊN 20
2 1 Đặc điểm tỉnh Thái Nguyên 20
2.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi hành chính 20
2.1.2 Tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên 20
2.1.2.1 Đất đai 20
2.1.2.2 Tài nguyên khoáng sản 21
2.2 Tổng quan ngành công nghiệp ở Thái Nguyên 21
2.2.1 Cơ cấu ngành nghề 21
2.2.2 Đặc điểm và hiện trạng công nghệ 23
2.2.3 Hiện trạng môi trường 23
2.2.4 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất công nghiệp 28
Trang 5THÁI NGUYÊN 30
3.1 Các hoạt động về sản xuất sạch hơn ở Thái Nguyên 30
3.1.1.Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn ở Thái Nguyên 30
3.1.2 Các hoạt động khác về sản xuất sạch hơn 33
3.2 Tính hiệu quả các dự án tham gia hợp phần đã hoàn thành và kết quả các dự án đang thực hiện 34
3.2.1 Các giải pháp đơn giản đơn vị tự thực hiện (34 giải pháp) 34
3.2.2 Các giải pháp đơn vị đã thực hiện và hiệu quả đem lại 34
CHƯƠNG IV: ĐÁNH GIÁ CÁC RÀO CẢN VÀ THUẬN LỢI KHI ÁP DỤNG SẢN XUẤT SẠCH HƠN TRONG SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Ở THÁI NGUYÊN 61
4.1 Vấn đề quan điểm, nhận thức tại các doanh nghiệp sản xuất 61
4.2 Vấn đề về mặt tổ chức 63
4.3 Vấn đề về mặt kỹ thuật 63
4.4 Vấn đề về mặt kinh tế 64
4.5 Vấn đề từ phía chính sách và cơ quan quản lý 66
CHƯƠNG V: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP ÁP DỤNG CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT SẠCH HƠN Ở THÁI NGUYÊN 67
5.1 Đối với các doanh nghiệp 67
5.2 Đối với các cơ quan quản lý 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 6Bảng 3.1 Các doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn qua các năm 32
Bảng 3.2 Lợi ích SXSH đem lại cho công ty CP Giấy xuất khẩu Thái Nguyên 37
Bảng 3.3 Một số giải pháp SXSH điển hình được áp dụng Công ty CP Giấy xuất khẩu Thái Nguyên 38
Bảng 3.4 Lợi ích SXSH đem lại cho Nhà máy Xi măng Lưu Xá 41
Bảng 3.5 Một số giải pháp điểm hình áp dụng tại nhà máy Xi măng Lưu Xá 42
Bảng 3.6 Lợi ích SXSH đem lại cho xí nghiệp Tấm lợp 45
Bảng 3.7 Giải pháp SXSH điển hình cho xí nghiệp tấm lợp 45
Bảng 3.8 Đề xuất cải tiến áp dụng SXSH và tiến độ triển khai 47
Bảng 3.9 Các giải pháp SXSH đã được thực hiện 52
Bảng 3.10 Kế hoạch thực hiện các giải pháp SXSH còn lại 56
Bảng 3.11 Các kết quả đạt được 58
Bảng 3.12 Các lợi ích SXSH mang lại trong giai đoạn I 59
Bảng 3.13 Một số giải pháp điển hình: 59
Trang 7Hình 1.2 Phương pháp luận kiểm toán chất thải do UNEP/UNIDO đề xuất, 1991 14 Hình 1.3 Sơ đồ các bước kiểm toán SXSH theo phương pháp DESIRE 16 Hình 1.4 Kỹ thuật đánh giá SXSH 17
Trang 8BAT : Công nghệ tốt nhất hiện có
BVMT : Bảo vệ môi trường
ĐTM : Đánh giá tác động môi trường
EOP : Phương pháp tiếp cận cuối đường ống
GTCT : Giảm thiểu chất thải
HTX : Hợp tác xã
QLNV : Quản lý nội vi
KCN : Khu công nghiệp
KHCN&MT : Khoa học công nghệ và môi trường
KSQT : Kiểm soát quá trình
MTV : Một thành viên
NCT : Nghiên cứu tiếp
SXSH : Sản xuất sạch hơn
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TDNL : Thay đổi công nghệ
Trang 9dụng năng lượng đang ở mức khá thấp Để tạo ra 1.000 USD GDP, Việt Nam phải tiêu tốn khoảng 600 kg dầu quy đổi, cao gấp 1,5 lần so với Thái Lan và gấp 2 lần mức bình quân của thế giới
Chỉ tính riêng ngành công nghiệp ở Việt Nam, lĩnh vực có mức sử dụng năng lượng chiếm khoảng trên dưới 40% tổng nhu cầu năng lượng thương mại hiện nay, suất tiêu hao năng lượng (kg OE/ USD) vẫn cao hơn từ 2,4 đến 3,6 lần so với các nước trong khu vực Đã có nhiều biện pháp thúc đẩy tiết kiệm năng lượng trong đó sản xuất sạch hơn (SXSH) đang là biện pháp lạc quan, có cơ hội ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp.
Theo kết quả khảo sát của Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam, nếu áp dụng SXSH thì hàng năm nước ta sẽ có tiềm năng giảm tiêu hao năng lượng đáng kể bao gồm 40 - 70% tiêu hao nước, 20-50% tiêu hao năng lượng, 50-100% chất thải nguy hại và khoảng 20 - 50% khí thải nhà kính Chỉ tính riêng tại Hà Nội, tiềm năng SXSH đã chiếm 75,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, tập trung tại 5 lĩnh vực chính: Kim - cơ khí, điện - điện tử, dệt-may-giày, chế biến thực phẩm - đồ uống, công nghiệp vật liệu Bên cạnh đó, SXSH giúp cải thiện hình ảnh công ty, nâng cao năng suất và ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường đồng thời cải thiện được môi trường, tạo sự phát triển bền vững Thực tế trong khoảng 10 năm (từ 1999 đến 2008) tổng lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp tham gia trình diễn SXSH ở các ngành cơ bản như dệt, giấy, kim khí, vật liệu xây dựng, thực phẩm và đồ uống
là khoảng 10 triệu USD nhờ tiết kiệm 63 nghìn MWh điện, 42 nghìn tấn than, gần 9 nghìn tấn dầu FO, 7,5 triệu m3 nước Ở ngành dệt, giải pháp SXSH áp dụng tại 8 công ty dệt may đã giúp tiết kiệm hàng năm hơn 1 triệu m3 nước, 1,9 nghìn tấn dầu
FO, 530 nghìn Kwh điện và hơn 1.000 kg hóa chất, thuốc nhuộm Theo tính toán của các nhà nghiên cứu, thời gian hoàn vốn của các doanh nghiệp khi áp dụng SXSH chỉ từ 1 đến 17 tháng
Trang 10nhận thức được lợi ích của việc áp dụng SXSH, 25% áp dụng SXSH với mức tiết kiệm từ 5 đến 8% mức tiêu thụ năng lượng, 70% các sở công thương có cán bộ chuyên trách đủ năng lực hướng dẫn áp dụng SXSH cho các cơ sở sản xuất
Thái Nguyên là một tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển đa dạng các ngành công nghiệp như luyện kim, khai thác và chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng, cơ khí, động cơ diezel Tính đến tháng 12/2008, toàn Tỉnh có trên 11.000 doanh nghiệp đang hoạt động Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trên địa bàn đạt 11,47% Kinh tế càng phát triển thì nhiệm vụ bảo vệ môi trường cũng đặt ra nhiều thách thức đối với cả nước cũng như Thái Nguyên Một trong những điều kiện góp phần làm tốt hơn việc bảo vệ môi trường là áp dụng sản xuất sạch hơn (SXSH) trong công nghiệp Nhận thức rõ vấn đề này, Thái Nguyên đã tiếp cận SXSH từ những năm 2001 thông qua các chương trình của DANIDA-MPI- Sở KH&CN Từ những chương trình này làm nền tảng, năm 2006, Thái Nguyên là một trong 5 tỉnh được lựa chọn thực hiện chương trình SXSH của Hợp phần sản xuất sạch hơn trong công nghiệp (CPI) Những kết quả đạt được đã tạo niềm tin cho doanh nghiệp trong việc thực hiện SXSH, góp phần làm giảm tác động đến môi trường xung quanh và thúc đẩy phát triển công nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá
Với mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất cho các doanh nghiệp công nghiệp, Thái Nguyên đã đưa ra kế hoạch đến năm 2013 giảm nguyên liệu đầu vào (nguyên liệu, năng lượng và nước) từ 3-5%, đồng thời giảm 5-10% tổng lượng phát thải tính trên đơn vị sản phẩm, giảm chất thải trên 5% trong một số ngành công nghiệp Với những lý do trên thì việc ứng dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn vào sản xuất là rất phù hợp, ngoài việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải thiện điều kiện làm việc,
nó còn góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đảm bảo phát triển bền vững
Trang 11xuất sạch hơn trong ngành công nghiệp ở Thái Nguyên”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Đánh giá hiện trạng triển khai sản xuất sạch hơn ở Thái Nguyên
- Kết quả của quá trình áp dụng mô hình SXSH
- Khó khăn và thuận lợi khi áp dụng chiến lược
- Đề xuất các biện pháp triển khai để đáp ứng các mục tiêu của chiến lược
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Một số nhà máy đã áp dụng mô hình sản xuất sạch hơn ở Thái Nguyên
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng trong luận văn gồm:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Tiến hành khảo sát thực địa tại một số
công ty đã áp dụng mô hình sản xuất sạch hơn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở các số liệu đã được xử lý, đưa ra những nhận
xét thuận lợi, khó khăn và các rào cản khi áp dụng SXSH và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy chiến lược sản xuất sạch hơn trong ngành công nghiệp ở Thái Nguyên
Nội dung chính của đề tài:
Đề tài gồm 05 nội dung chính:
- Tổng quan về SXSH
- Thái Nguyên và tình hình phát triển công nghiệp ở Thái Nguyên
- Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng SXSH đem lại cho các cơ sở sản xuất công nghiệp ở Thái Nguyên
- Đánh giá các rào cản và thuận lợi khi áp dụng sản xuất sạch hơn trong sản xuất công nghiệp ở Thái Nguyên
- Đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng chiến lược sản xuất sạch hơn ở Thái Nguyên
Trang 12xuất sạch hơn trong ngành công nghiệp ở Thái Nguyên
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN SẢN XUẤT SẠCH HƠN
1.1.Tổng quan về Sản xuất sạch hơn
1.1.1 Giới thiệu về Sản xuất sạch hơn
Quá trình công nghiệp hóa nhanh và rộng sẽ đóng góp rất lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Tuy nhiên sự phát triển bùng nổ các ngành công nghiệp thường đi kèm với vấn đề môi trường Trước đây để giải quyết vấn đề này chúng ta thường áp dụng phương pháp tiếp cận “cuối đường ống (EOP)”, tức là xử
lý phát thải/chất thải sau khi chúng đã phát sinh Về thực tiễn, điều này đồng nghĩa với việc xây dựng và vận hành các cơ sở xử lý nước thải, các thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khí và các bãi chôn lấp an toàn Đây là những công việc rất tốn kém Đối với một quy trình công nghiệp thì bất cứ giai đoạn hay hoạt động nào cũng không bao giờ đạt hiệu suất 100%[1], luôn có tổn hao nào đó vào môi trường
và không thể chuyển thành sản phẩm hữu dụng Tổn hao này chính là sự lãng phí hay còn gọi là sự ô nhiễm, nó luôn gắn liền với sản xuất công nghiệp Yếu tố này thường được nhắc đến như “cơ hội bị mất đi trong quá trình sản xuất” Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng: Tỷ lệ phát sinh chất thải thường rất cao và có một thực tế là rất ít nhà sản xuất công nghiệp nhận ra điều này Hiện nay tiếp cận xử lý cuối đường ống vẫn đang được áp dụng phổ biến trong các cơ sở sản xuất công nghiệp, nhưng khả năng tiếp nhận ô nhiễm của môi trường đang gần như cạn kiệt Các đơn vị sản xuất công nghiệp dần nhận thức được sự cần thiết phải xem xét lại các công đoạn sản xuất của mình theo thứ tự ngược lại Điều này đã dẫn đến sự xuất hiện khái niệm về một tiếp cận mang tính chủ động để giảm chất thải ngay tại nguồn thải Tiếp cận chủ động này được gọi là Sản xuất sạch hơn
1.1.2 Sản xuất sạch hơn và lợi ích của sản xuất sạch hơn
1.1.2.1 Định nghĩa về Sản xuất sạch hơn [2]
Theo định nghĩa của Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc
(UNEP,1994): “SXSH là việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường
Trang 14Đối với quá trình sản xuất: SXSH bao gồm việc bảo toàn nguyên liệu, nước
và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và giảm khối lượng, độc tính của các chất thải ngay tại nguồn thải
Đối với sản phẩm: chiến lược SXSH nhằm vào mục đích làm giảm tất cả các
tác động đến môi trường trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm, từ khâu khai thác nguyên liệu đến khâu thải bỏ cuối cùng
Đối với dịch vụ: SXSH là sự lồng ghép các mối quan tâm về môi trường vào
việc thiết kế và cung cấp các dịch vụ
SXSH đòi hỏi áp dụng các bí quyết, cải tiến công nghệ và thay đổi thái độ.”
1.1.2.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan [2]
- Công nghệ sạch (Clean technology): Bất kỳ biện pháp kỹ thuật nào được các ngành công nghiệp áp dụng để giảm thiểu hay loại bỏ quá trình phát sinh chất thải hay ô nhiễm tại nguồn và tiết kiệm được nguyên liệu và năng lượng đều được gọi là công nghệ sạch
- Công nghệ tốt nhất hiện có (Best available technology - BAT): Là việc áp dụng công nghệ tốt nhất hiện có trong việc bảo vệ môi trường nói chung, có khả năng triển khai trong các điều kiện thực tiễn về kinh tế, kỹ thuật, có quan tâm đến chi phí trong việc nghiên cứu, phát triển và triển khai bao gồm thiết kế, xây dựng, bảo dưỡng, vận hành và loại bỏ công nghệ BAT giúp đánh giá tiềm năng SXSH
- Hiệu quả sinh thái (Eco-eficiency): Là sự phân phối hàng hóa và dịch vụ có giá cả rẻ hơn trong khi giảm được nguyên liệu, năng lượng và các tác động đến môi trường trong suốt cả quá trình của sản phẩm và dịch vụ
Hai khái niệm SXSH và hiệu quả sinh thái được xem như là đồng nghĩa
- Phòng ngừa ô nhiễm (Pollution prevention): Khái niệm SXSH và phòng ngừa ô nhiễm được sử dụng thay thế nhau
- Giảm thiểu rác thải (Waste minimisation): Hai khái niệm này cũng dùng để thay thế nhau nhưng giảm thiểu rác thải tập trung vào việc tái chế chất thải và sử dụng nguyên tắc 3P (Polluter Pay Principle ) và 3R (Reduction Reuse Recycle)
Trang 15- Năng suất xanh (Green productivity): Là một chiến lược vừa nâng cao năng suất vừa thân thiện với môi trường cho sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung
- Sinh thái công nghiệp (Industrial ecology): Tiếp cận và giải quyết các vấn đề liên quan tới mối quan hệ giữa “con người – môi trường”
Thực tế, tất cả đều mang ý nghĩa như nhau với mục tiêu cao nhất vẫn là nhằm giảm thiểu việc phát sinh ra chất thải, khí thải
Sự khác biệt căn bản giữa EOP hay còn gọi là kiểm soát ô nhiễm cuối đường ống và SXSH là ở thời điểm Kiểm soát ô nhiễm là phương pháp tiếp cận sau khi vấn đề đã phát sinh, “phản ứng và xử lý”; Trong khi đó, SXSH lại mang tính chủ động, theo “triết lý dự đoán và phòng ngừa”
Sản xuất sạch hơn có ý nghĩa đối với tất cả các cơ sở công nghiệp, lớn hay nhỏ, tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng, nước nhiều hay ít Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều có tiềm năng giảm lượng nguyên nhiên liệu tiêu thụ từ 10-15% Khi áp dụng SXSH, doanh nghiệp sẽ giảm thiểu các tổn thất về nguyên vật liệu và sản phẩm, do đó có thể đạt sản lượng cao hơn, chất lượng ổn định, thu nhập kinh tế cũng như tính cạnh tranh cao hơn
1.1.2.3 Các lợi ích của sản xuất sạch hơn [7]
SXSH vừa là công cụ quản lý, công cụ kinh tế, công cụ bảo vệ môi trường và cũng là công cụ nâng cao chất lượng sản phẩm SXSH giúp:
+ Tiết kiệm tài chính và cải thiện hiệu suất sản xuất do tiết kiệm chi phí cho
sử dụng nguyên liệu, nước, năng lượng có hiệu quả hơn
+ Giảm sử dụng tài nguyên thiên nhiên thông qua các biện pháp thu hồi và tái
sử dụng chất thải
+ Chất lượng và độ đồng đều của sản phẩm tốt hơn
+ Tái sử dụng các bán thành phẩm có giá trị
+ Giảm ô nhiễm
+ Giảm chi phí xử lý và thải bỏ các chất thải rắn, nước thải, khí thải
+ Tạo nên hình ảnh của công ty tốt hơn
Trang 16+ Cải thiện môi trường làm việc có liên quan tới sức khoẻ nghề nghiệp và an toàn lao động
+ Tiếp cận với các nguồn tài chính dễ dàng hơn
+ Tuân thủ tốt hơn các quy định về môi trường
1.1.3 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn ở một số nước trên thế giới [3]
SXSH bắt đầu được áp dụng từ năm 1980 do Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên Hiệp quốc (UNIDO), UNEP đã phối hợp xây dựng các trung tâm SXSH ở 26 quốc gia Các trung tâm được thành lập với mục đích thúc đẩy quá trình SXSH thông qua việc cung cấp các thông tin và tư vấn kỹ thuật, thiết lập cách trình diễn kỹ thuật và đào tạo SXSH
Tại châu Á, hầu hết các nước có các chương trình trình diễn SXSH trong các ngành công nghiệp khác nhau Các chương trình này được hỗ trợ bởi Chính phủ, ngành công nghiệp và có sự hỗ trợ từ tổ chức nước ngoài cho nhiều chương trình khác nhau
- Ngày nay, SXSH đã được áp dụng thành công ở cả các nước đang phát triển
như Ấn Độ, CH Séc, Tanzania, Mêhicô, v.v và đang được công nhận là một cách tiếp cận chủ động, toàn diện trong quản lý môi trường công nghiệp
- Một nhà máy xi măng ở Inđonêxia bằng việc áp dụng sản xuất sạch đã tiết
kiệm 35.000 USD một năm Thời gian thu hồi vốn đầu tư cho sản xuất sạch không đến một năm
Tiềm năng về các khoản tiết kiệm liên quan đến SXSH là rất cao đối với nhiều doanh nghiệp công nghiệp ở châu Á Đơn cử trong ngành giấy có thể lên tới 50USD trên một tấn giấy Bên cạnh đó, chi phí xử lý nước thải trong nhiều nhà máy
có thể giảm đi 15-20USD/tấn giấy và mức tiêu thụ năng lượng cụ thể giảm khoảng 50-100KWh/tấn giấy ở các nhà máy qui mô nhỏ thông qua việc nâng cao hiệu suất, giảm thiểu rò rỉ và tăng cường tái chế Không chỉ trong ngành giấy mà các ngành hóa chất, chế biến thực phẩm, dệt nhuộm, dược phẩm, xi măng cũng đạt được các kết quả tương tự Đương nhiên, các tiềm năng này thay đổi tùy theo hiện trạng và qui mô sản xuất của từng nhà máy
Trang 17Tại Trung Quốc, SXSH đã được đưa thành luật vào tháng 6/2002 Luật Thúc đẩy SXSH của Trung Quốc khuyến khích thúc đẩy SXSH, tăng cường hiệu quả sử
dụng các tài nguyên quí hiếm, giảm và tránh thải các chất ô nhiễm, bảo vệ và cải thiện môi trường, đảm bảo sức khỏe con người và thúc đẩy phát triển bền vững trong xã hội và kinh tế
Tại Thái Lan, kế hoạch tổng thể quốc gia được xây dựng và thông qua năm
2000, với mục tiêu chung là đưa SXSH vào thực tiễn và áp dụng hiệu quả tại tất cả các ngành nhằm ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường, tăng cường bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường song song với phát triển kinh tế
Tại Australia, một chiến lược của Hội đồng Bảo tồn và môi trường Australia
và New Zealand (ANZECC) đã được xây dựng để thúc đẩy SXSH Hầu hết các bang đều có chương trình SXSH với sự hỗ trợ của chính quyền, các hoạt động khá thành công
Tại Nhật Bản, công nghệ SXSH được chia thành hai loại hình chính, loại hình công nghệ thông thường cho mỗi biện pháp hay còn gọi là “công nghệ cứng”
và công nghệ quản lý “công nghệ mềm”, dựa trên các ý tưởng về giảm tác động môi trường của tất cả các công đoạn từ khai thác nguyên liệu đầu vào đến thải bỏ hoặc tái chế các sản phẩm sau sử dụng
Như vậy, các kết quả áp dụng SXSH ở các nước phát triển như Mỹ, Hà Lan, Canada, cũng như ở các nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc, và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Ba Lan, CH Séc, Hungary, đều cho thấy
tính ưu việt của SXSH: vừa mang lại hiệu quả về môi trường vừa mang lại lợi ích
về kinh tế Một số ví dụ trình diễn SXSH ở các nước được cho trong bảng 1.1
Trang 18Bảng 1.1 Một số kết quả trình diễn SXSH ở các nước Nước Ngành CN Công ty Sản phẩm Lợi ích kinh tế từ SXSH
Ba Lan Mạ điện FSM Sosnowiec Đèn, khóa, cửa ô tô
Tổng tiết kiệm: 193.000 US/năm Vốn đầu tư : 36.000 US/năm Hoàn vốn sau 2 tháng
Hy Lạp Thuộc da Germanakos SA
Các loại da thuộc chất lượng cao từ da trâu,
bò
Tổng tiết kiệm: 43.550 US/năm Vốn đầu tư: 40.000 US/năm Hoàn vốn sau 11 tháng
Đan Mạch Dệt Novotex AS Vải, nhuộm và gia
Máy sấy tuần hoàn 75% khí nóng
Indonesia Xi măng PT Semen
Cibinong Xi măng
Tăng năng suất 9%; tiết kiệm 3% năng lượng; giảm 40% sản phẩm kém chất lượng
Tổng tiết kiệm : 350.000 US/năm Đầu tư: 375.000 US/năm Hoàn vốn: ~ 1 năm
(Nguồn: Cleaner Production Worldwide - UNEP, 1993)
1.1.4 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn ở Việt Nam
Từ giữa những năm 80, Chính phủ Việt Nam bắt đầu đẩy mạnh công cuộc
"công nghiệp hóa và hiện đại hóa", đem lại những chuyển biến quan trọng cho nền kinh tế và hệ thống xã hội của đất nước Sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp
và đô thị hóa đang có khuynh hướng tác động xấu đến môi trường Nước thải, khí thải và chất thải rắn đã đang làm ô nhiễm thành phố và các khu vực tập trung công nghiệp Cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực vừa qua giúp chúng ta rút ra được những bài học bổ ích, đó là các hoạt động bảo vệ môi trường cần được xem xét ngay ở giai đoạn đầu tiên của sự hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở
Trang 19cấp Trung ương Vì vậy cần sớm có các giải pháp nghiêm túc để bảo vệ môi trường, trong đó bao gồm cả việc ban hành các chính sách về thuế, tín dụng và đặc biệt là
sự tăng cường và khuyến khích áp dụng SXSH
Ngày 25 tháng 6 năm 1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị 36-CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Chỉ thị đã được xây dựng trên các nguyên tắc của Chương trình nghị sự
21 áp dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, trong đó phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chỉ đạo trong quản lý môi trường công nghiệp
Khái niệm SXSH đã được giới thiệu và thử nghiệm áp dụng trong công nghiệp đầu tiên ở nước ta từ năm 1995 qua hai dự án do quốc tế tài trợ là "SXSH trong công nghiệp giấy" (1995 - 1997) và “Giảm thiểu chất thải trong công nghiệp dệt” ở Hà Nội (1995 - 1996) Hai dự án này mới dừng ở mức giới thiệu khái niệm
và xác định tiềm năng giảm thiểu chất thải Tiếp đó, các khái niệm "Phòng ngừa ô nhiễm", "Hiệu suất sinh thái", "Sản xuất không phế thải" và "Năng suất xanh" cũng được giới thiệu vào nước ta Mặc dù dưới các tên gọi khác nhau, song bản chất của các khái niệm trên hoàn toàn tương tự nhau với mục đích: "Nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu, năng lượng và chủ động ngăn chặn sự tạo thành chất thải ngay tại nguồn phát sinh ra chúng, giảm thiểu chất ô nhiễm đi vào môi trường" Vào ngày 22 tháng 9 năm 1999, Bộ trưởng Bộ KHCN&MT (trước đây) Chu Tuấn Nhạ đã ký Tuyên ngôn Quốc tế về SXSH, khẳng định cam kết của Chính phủ Việt Nam với chiến lược phát triển bền vững
Năm 2005, hợp phần SXSH trong công nghiệp chính thức hoạt động ở Việt Nam Hợp phần SXSH trong Công nghiệp là một trong năm hợp phần của chương trình mới về Hợp tác Phát triển trong Ngành Môi trường (DCE) giữa hai chính phủ Việt Nam và Đan Mạch giai đoạn 2005 - 2010 Các hợp phần khác bao gồm: Phát triển Môi trường Bền vững các Khu vực Đô thị nghèo (SDU) thuộc Bộ Xây dựng; Kiểm soát Ô nhiễm tại các Khu vực Đông dân Nghèo (PCDA) thuộc Bộ Tài nguyên Môi trường; Sinh kế Bền vững bên trong và xung quanh các Khu Bảo tồn Biển
Trang 20(LMPA) thuộc Bộ Thuỷ sản và Hỗ trợ Phát triển Năng lực cho Quản lý và Qui
hoạch Môi trường (CDS) – thuộc Bộ Kế Hoạch Đầu tư
Hợp phần cung cấp một chiến lược Sản xuất sạch hơn cho các doanh nghiệp gây ô nhiễm lớn, trong đó có phương hướng giải quyết những bất cập của các hoạt động sản xuất sạch hơn trước kia tại Việt Nam, củng cố các cam kết đối của chính phủ đối với sản xuất sạch hơn, và thiết lập một phương pháp luận và hạ tầng Sản xuất sạch hơn đã khắc phục những các rào cản đưa Kế hoạch Hành động Quốc gia
về Sản xuất sạch hơn vào hoạt động
Hợp phần đã khảo sát, nghiên cứu các điều kiện An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp bên trong và xung quanh các Cơ sở sản xuất hộ gia đình, HTX và Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) ở các vùng đông dân cư Khảo sát, nghiên cứu việc cấp phép, thanh tra và các hoạt động thúc đẩy việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ hiện hành Xác định những bất cập trong các hoạt động hiện hành và nâng cao năng lực
để cải thiện điều kiện và hiệu quả sản xuất, và xúc tiến sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp nhỏ
Hợp phần đề xuất các dự án trình diễn tại các “điểm nóng” ở bốn tỉnh, hai dự
án với các doanh nghiệp lớn và hai dự án với các doanh nghiệp nhỏ Việc cải thiện hiệu quả sản xuất, chất lượng môi trường và sức khỏe của cư dân và công nhân ở trong và xung quanh các cơ sở công nghiệp (cả qui mô lớn và nhỏ) gây ô nhiễm sẽ được trình diễn
Trong những năm vừa qua, các hoạt động về SXSH ở nước ta chủ yếu tập trung vào:
Phổ biến thông tin và nâng cao nhận thức;
Trình diễn kỹ thuật đánh giá SXSH tại doanh nghiệp nhằm thuyết phục giới công nghiệp tiếp nhận tiếp cận SXSH vào hoạt động sản xuất kinh doanh;
Đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng năng lực quốc gia về SXSH; và
Xây dựng cơ sở pháp lý cho việc xúc tiến SXSH
Tính đến năm 2010, ngoài 5 tỉnh mục tiêu là Nghệ An, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Nam, Bến Tre được hỗ trợ bởi hợp phần CPI thì hoạt động SXSH đã
Trang 21được triển khai đến 38 tỉnh thành khác trên cả nước Với những đơn vị đã hoàn thành giai đoạn 2 của dự án, mức tiêu thụ nguyên nhiên liệu đã giảm đáng kể Cụ thể, mức tiêu thụ than đã giảm 23,2%, tương đương 22.722 tấn than/năm; Mức tiêu thụ nước đã giảm 23,7%, tương đương 157.569m3/năm; Lượng điện tiêu thụ đã giảm 9,1%, tương đương 5.736.663 kWh/năm; Lượng tiêu thụ dầu DO/FO đã giảm 87,6%, tương đương 1.428.272 lít/năm Bên cạnh đó, lượng phát thải cũng giảm đáng kể với 130.000 m3 nước thải/năm; 41.467 tấn CO2/năm (do giảm tiêu thụ than); 4.182 tấn CO2/năm (do giảm tiêu thụ điện); 4.284 tấn CO2/năm (do giảm tiêu thụ dầu FO)
Theo báo cáo của 60 doanh nghiệp thực hiện đánh giá SXSH dưới sự hướng dẫn của Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam, các doanh nghiệp này đã tiết kiệm trên
6 triệu USD trong năm trình diễn, trong khi tổng vốn đầu tư thực hiện các giải pháp SXSH là 1,15 triệu USD Thực tế cho thấy hầu hết các doanh nghiệp rất hạn chế về vốn, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việc đánh giá SXSH cũng là một công
cụ hiệu quả trong giải quyết các vấn đề về an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp trong sản xuất công nghiệp
Điều đáng chú ý là riêng Bộ Công nghiệp trong giai đoạn 2000 - 2004 đã mở
20 lớp tập huấn về SXSH cho 800 lượt cán bộ kỹ thuật của các doanh nghiệp và hỗ trợ tài chính cho 78 doanh nghiệp áp dụng SXSH Trong 5 năm qua, hoạt động đào tạo nguồn nhân lực trong nước được chú ý đúng mức, mà điển hình là hoạt động của dự án "Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam" đã đào tạo được trên 100 cán bộ chuyên sâu về SXSH cho các ngành công nghiệp và cơ quan nghiên cứu, tư vấn, trong đó có khoảng 30% số cán bộ này đã cung cấp tư vấn về lĩnh vực SXSH SXSH/Phòng ngừa ô nhiễm trong công nghiệp ngày nay đã trở thành 1 trong 36 chương trình ưu tiên của chiến lược quốc gia về Bảo vệ môi trường đến năm 2010
và định hướng đến 2020
Ngày 07 tháng 9 năm 2009, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã
ký Quyết định số 1419/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020” với mục tiêu phổ biến rộng rãi cách tiếp cận sản xuất
Trang 22này cho các cơ sở sản xuất công nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời hạn chế mức độ gây ô nhiễm của các cơ sở đến môi trường, cũng như đảm bảo điều kiện làm việc cho công nhân và môi trường sống cho cộng đồng
Chiến lược được Bộ Công Thương soạn thảo dựa trên kinh nghiệm trình diễn
và phổ biến sản xuất sạch hơn (SXSH) thông qua Hợp phần sản xuất sạch hơn trong công nghiệp (CPI), là một trong 5 hợp phần của Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam Đan Mạch do DANIDA tài trợ Hợp phần được thực hiện tại 5 tỉnh mục tiêu là Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An, Quảng Nam và Bến Tre
Với việc Chính phủ phê duyệt Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp, kinh nghiệm của CPI sẽ được nhân rộng ra các tỉnh, thành trên cả nước với mục tiêu cụ thể đến năm 2015 là 50% các doanh nghiệp công nghiệp trên cả nước
sẽ được phổ biến SXSH trong công nghiệp và 25% sẽ áp dụng SXSH tại cơ sở của mình Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 sẽ là 90% và 50% theo thứ tự Chiến lược cũng đặt ra mục tiêu đối với các Sở Công Thương, năm 2015 sẽ có 70% các Sở có cán bộ có trình độ chuyên môn về CPI, năm 2020 là 90%
Để đạt được mục tiêu này, Chiến lược đã đề ra bốn nhóm giải pháp bao gồm: Đẩy mạnh truyền thông để nâng cao nhận thức về SXSH; Hoàn thiện tổ chức, tăng cường các cơ chế chính sách hỗ trợ và hoạt động quản lý; Tổ chức hỗ trợ kỹ thuật
và đào tạo nguồn nhân lực; Tăng cường đầu tư và hỗ trợ tài chính Các giải pháp này được thể hiện ở 05 đề án thành phần bao gồm:
- Nâng cao nhận thức và năng lực áp dụng SXSH trong công nghiệp;
- Xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu và trang thông tin điện tử về SXSH trong công nghiệp;
- Hỗ trợ kỹ thuật về áp dụng SXSH tại các cơ sở sản xuất công nghiệp;
- Hoàn thiện mạng lưới các tổ chức hỗ trợ SXSH trong công nghiệp;
- Hoàn thiện các cơ chế, chính sách về tài chính thúc đẩy áp dụng SXSH trong công nghiệp
Chiến lược sẽ do Bộ Công Thương chủ trì thực hiện, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành, địa phương liên quan Đặc biệt Chiến lược
Trang 23nhấn mạnh vai trò của các Sở Công Thương trong việc phổ biến SXSH tại các cơ sở sản xuất tại các tỉnh, thành
Để thực hiện được chiến lược này chúng ta vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém trong các trình diễn kỹ thuật và đề tài nghiên cứu về SXSH Ví dụ như số giải pháp
về công nghệ chỉ chiếm 5% trong tổng số các giải pháp đã được đề xuất và hầu như rất ít giải pháp trong số các giải pháp loại này được thực hiện Thêm vào đó, nhiều báo cáo đánh giá SXSH do các chuyên gia Việt Nam thực hiện còn mang đậm tính giáo khoa Những tồn tại này cho thấy sự cần thiết phải khẩn trương xây dựng đội ngũ chuyên gia trong nước giỏi về kiến thức và kỹ năng thực hiện phương pháp luận cùng với sự phong phú về kinh nghiệm thực hiện mới có thể đảm bảo chất lượng dịch vụ về SXSH Đây là yếu tố quan trọng trong phát triển thị trường dịch
vụ về lĩnh vực SXSH và đảm bảo tính bền vững của SXSH
Ngoài ra, việc áp dụng SXSH tại Việt Nam vẫn còn gặp khó khăn do các nguyên nhân: nhận thức của các doanh nghiệp về lợi ích của SXSH còn hạn chế; Nhiều doanh nghiệp không có đủ vốn để đầu tư cho SXSH, trong khi việc tiếp cận các nguồn tài chính còn gặp quá nhiều thủ tục phiền hà, rắc rối; Thiếu một cơ chế chính sách khuyến khích công bằng và thoả đáng; Hơn nữa nguồn nhân lực về
SXSH vẫn còn rất hạn chế
1.2 Phương pháp luận đánh giá sản xuất sạch hơn
Để áp dụng được SXSH cần phải có phân tích một cách chi tiết về trình tự vận hành của quá trình sản xuất cũng như thiết bị sản xuất hay còn gọi là đánh giá
về SXSH (Cleaner Production Assessment: CPA) Đánh giá SXSH là một công cụ
hệ thống có thể giúp nhận ra việc sử dụng nguyên liệu không hiệu quả, việc quản lý chất thải kém, và các rủi ro về bệnh nghề nghiệp bằng cách tập trung chú ý vào các khía cạnh môi trường và các tác động của các quá trình sản xuất công nghiệp
Hiện nay, có một số thuật ngữ tương đương hiện đang được sử dụng để thể hiện phương pháp luận SXSH như: Kiểm toán giảm thiểu chất thải (Waste
Trang 24Minimization Audit), Đánh giá giảm thiểu chất thải (Waste Minimization Assessment), Hướng dẫn phòng ngừa ô nhiễm (Pollution Prevention Guide),
Phương pháp luận của Cục Bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) [4]
Cục Bảo vệ Môi trường Mỹ (United State Environmental Protection Agency)
là cơ quan đầu tiên xây dựng phương pháp luận nghiên nghiên cứu về giảm thiểu chất thải (GTCT) một cách có hệ thống bằng chương trình GTCT từ năm 1985 Quy trình thực hiện được thể hiện trong hình 1.1
Trang 25Hình 1.1 Chương trình đánh giá giảm thiểu chất thải của EPA
Phương pháp luận của UNEP [5]
Năm 1990, Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc đã bắt đầu chương
trình SXSH của mình bằng việc khuyến khích hỗ trợ thông qua các dự án “Những chiến lược và cơ chế đầu tư cho SXSH tại các nước đang phát triển” nhằm giúp các
NHẬN DẠNG NHU CẦU GIẢM THIỂU CHẤT
LẬP KẾ HOẠCH TỔ CHỨC
- Cam kết quản lý
- Đặt mục tiêu cho chương trình
- Tổ chức nhân sự
GIAI ĐOẠN ĐÁNH GIÁ
- Lấy số liệu và công nghệ
- Xác định mục tiêu ưu tiên
- Thành lập nhóm SXSH
- Kiểm tra hiện trạng và số liệu
- Đưa ra các cơ hội
- Lựa chọn các cơ hội và giải pháp để liên tục nghiên cứu
PHÂN TÍCH TÍNH KHẢ
THI
Đánh giá kỹ thuật
- Đánh giá kinh tế
- Chọn lựa các cơ hội thực hiện
DỰ ÁN GIẢM THIỂU CHẤT THẢI THỰC HIỆN THÀNH
Lựa chọn mục
tiêu đánh giá mới
và đánh giá lại
lựa chọn trước đó
Báo cáo đánh giá
của những cơ hội
Báo cáo cuối cùng
Trang 26nước đang phát triển giảm thiểu tình trạng ô nhiễm do hoạt động công nghiệp Phương pháp luận SXSH do UNEP/UNIDO đề xuất như sau:
GIAI ĐOẠN 1: TIỀN ĐÁNH GIÁ
GIAI ĐOẠN 2: CÂN BẰNG
GIAI ĐOẠN 3: TỔNG HỢP
Hình 1.2 Phương pháp luận kiểm toán chất thải do UNEP/UNIDO đề xuất, 1991
Phương pháp luận kiểm toán SXSH theo phương pháp DESIRE [6]
CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN
Bước 1: Chuẩn bị và thành lập đội kiểm toán Bước 2: Chia quá trình thành những đơn vị vận hành Bước 3: Xây dựng sơ đồ công nghệ liên kết các đơn vị vận hành
ĐẦU VÀO CỦA QUÁ TRÌNH
Bước 4: Xác định đầu vào
Bước 5: Báo cáo sử dụng nước
Bước 6: Đo mức độ tuần hoàn
tái sử dụng chất thải
ĐẦU RA CỦA QUÁ TRÌNH
Bước 7: Xác định sản phẩm, sản
phẩm phụ Bước 8: Tính toán lượng nước thải Bước 9: Tính toán lượng khí thải Bước 10: Tính toán chất thải ra
ngoài nhà máy
CÂN BẰNG VẬT LIỆU
Bước 11: Tổng hợp thông tin đầu vào và đầu ra Bước 12: Cân bằng vật chất sơ bộ
Bước 13-14: Định giá và hoàn chỉnh cân bằng vật liệu
XÁC ĐỊNH CÁC GIẢI PHÁP LỰA CHỌN ĐỂ GIẢM CHẤT THẢI
Bước 15: Xác định các biện pháp giảm chất thải Bước 16: Mục tiêu và đặc tính chất thải
Bước 17: Nghiên cứu khả năng tách riêng chất thải Bước 18: Xây dựng các biện pháp dài hạn để giảm chất thải
ĐÁNH GIÁ CÁC GIẢI PHÁP LỰA CHỌN ĐỂ GIẢM CHẤT THẢI
Bước 19: Tiến hành đánh giá về mặt môi trường và kinh tế của các phương án giảm chất thải, liệt kê các phương án có thể thành công
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN GIẢM CHẤT THẢI
Bước 20: Thiết kế và thực hiện kế hoạch hành động giảm chất thải
để đạt được hiệu quả cho quá trình đã cải tiến
Trang 27Năm 1993, Ủy ban Năng suất quốc gia Ấn Độ thực hiện dự án “Trình diễn giảm chất thải tại các ngành công nghiệp nhỏ” (DESIRE - Desmontration in Small
Industries of Reducing Waste) Quy trình kiểm toán chất thải đã được phát triển trong khuôn khổ Dự án và đã được áp dụng rộng rãi Phương pháp luận DESIRE gồm 6 bước - 18 nhiệm vụ (xem hình 1.3):
Trang 28Hình 1.3 Sơ đồ các bước kiểm toán SXSH theo phương pháp DESIRE
BƯỚC 1: KHỞI ĐỘNG
Nhiệm vụ 1: Thành lập nhóm SXSH Nhiệm vụ 2: Liệt kê các bước công nghệ và xác định định mức Nhiệm vụ 3: Xác định và lựa chọn bước công nghệ gây lãng
phí nhất
BƯỚC 2: PHÂN TÍCH CÁC CÔNG ĐOẠN SẢN XUẤT
Nhiệm vụ 4: Chuẩn bị sơ đồ quy trình công nghệ Nhiệm vụ 5: Lập cân bằng vật chất và năng lượng Nhiệm vụ 6: Xác định chi phí cho dòng thải Nhiệm vụ 7: Phân tích nguyên nhân sinh ra chất thải
BƯỚC 3: ĐỀ XUẤT CÁC CƠ HỘI SXSH
Nhiệm vụ 8: Xây dựng các cơ hội SXSH
Nhiệm vụ 9: Lựa chọn các cơ hội khả thi nhất
BƯỚC 4: LỰA CHỌN CÁC GIẢI PHÁP SXSH
Nhiệm vụ 10: Đánh giá tính khả thi về kỹ thuật
Nhiệm vụ 11: Đánh giá tính khả thi về kinh tế
Nhiệm vụ 12: Đánh giá tính khả thi về môi trường
Nhiệm vụ 13: Lựa chọn giải pháp để thực hiện
BƯỚC 5: THỰC HIỆN
Nhiệm vụ 14: Chuẩn bị thực hiện Nhiệm vụ 15: Thực hiện các giải pháp SXSH Nhiệm vụ 16: Kiểm tra, đánh giá kết quả
BƯỚC 6: DUY TRÌ SXSH
Nhiệm vụ 17: Duy trì các giải pháp SXSH
Nhiệm vụ 18: Lựa chọn công đoạn tiếp theo cho trọng tâm đánh giá
(Quay trở lại Nhiệm vụ 3)
Trang 291.3 Các kỹ thuật đánh giá sản xuất sạch hơn [2]
Hình 1.4 Kỹ thuật đánh giá SXSH
Nhóm giải pháp kỹ thuật nhằm mục đích giảm thiểu chất thải tại nguồn bao gồm:
- Quản lý nội vi (Good housekeeping): Đây là kỹ thuật SXSH đơn giản nhất
Giải pháp này không đòi hỏi phải đầu tư tài chính và có thể được thực hiện ngay khi phát hiện các vấn đề thuộc phạm vi này Là công việc được tiến hành liên tục, hàng ngày của doanh nghiệp bao gồm khâu quản lý lao động, vận hành bảo dưỡng thiết
bị, máy móc (nâng cao ý thức và trình độ cho người lao động, công tác bảo dưỡng thiết bị, máy móc, động cơ; kiểm tra các hiện tượng rò rỉ hơi tại các van hơi, trên đường ống dẫn, ) Giải pháp này cần phải có sự quan tâm của cấp quản lý và có hướng dẫn, đào tạo cho công nhân viên
- Thay đổi quy trình sản xuất: Bao gồm các giải pháp
+ Thay đổi nguyên liệu đầu vào
+ Kiểm soát vận hành quy trình
+ Cải tiến thiết bị
Cải tiến sản phẩm
Kỹ thuật SXSH
Giảm thiểu chất thải
Quản lý
nội vi
Thay đổi quá trình sản xuất
Thay đổi
nguyên liệu
đầu vào
Kiểm soát vận hành quy trình
Cải tiến thiết bị
Thay đổi công nghệ
Tái tạo và sử dụng lại trong nhà máy Tạo sản
phẩm phụ
Trang 30+ Thay đổi công nghệ
- Nhóm giải pháp tuần hoàn, tận thu chất thải:
+ Thu hồi và tái sử dụng
1.5 Lộ trình sản xuất sạch hơn ở Việt Nam trong thời gian tới
Chiến lược BVMT quốc gia đến 2010 và định hướng đến 2020, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 3.12.2003, là văn bản hết sức quan trọng trong việc định hướng công tác BVMT nước ta trong hơn một thập kỷ tới Liên quan đến SXSH, Chiến lược đã nêu rõ các thách thức đối với môi trường Việt Nam trong thời gian tới là "trang thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường ở các cơ sở sản xuất, đặc biệt là
ở các xí nghiệp vừa và nhỏ còn rất lạc hậu và thấp kém”, “khả năng tài chính của Nhà nước cũng như của các doanh nghiệp đều rất hạn hẹp, đặt ra thách thức rất lớn
Trang 31đối với môi trường nước ta" Ngoài ra, Chiến lược cũng khẳng định: "Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá, nhiều thị trường tiềm năng trên thế giới, các bạn hàng quốc tế đã đưa ra các yêu cầu ngày càng cao về môi trường trong giao dịch thương mại Đây là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp trong nước khi muốn mở rộng thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế"
Sản xuất sạch hơn được áp dụng rộng rãi tại các cơ sở sản xuất công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu; giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người và bảo đảm phát triển bền vững
Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020 đã đề ra các mục tiêu cụ thể cho công tác BVMT đến năm 2015 và 2020 Có thể coi đây là lộ trình áp dụng SXSH ở nước ta trong thời gian tới
a) Giai đoạn từ nay đến năm 2015:
- 50% cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích của việc áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp;
- 25% cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn; các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn tiết kiệm được từ 5 – 8% mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trên đơn vị sản phẩm;
- 70% các Sở Công Thương có cán bộ chuyên trách đủ năng lực hướng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn cho các cơ sở sản xuất công nghiệp
b) Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020:
- 90% cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích của việc áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp;
- 50% cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn; các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn tiết kiệm được từ 8 – 13% mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trên đơn vị sản phẩm; 90% doanh nghiệp vừa và lớn có bộ phận chuyên trách về sản xuất sạch hơn;
- 90% các Sở Công Thương có cán bộ chuyên trách đủ năng lực hướng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn cho các cơ sở sản xuất công nghiệp
Trang 32CHƯƠNG II: THÁI NGUYÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP Ở THÁI NGUYÊN
2 1 Đặc điểm tỉnh Thái Nguyên
2.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi hành chính
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ; diện tích tự nhiên 3.562,82 km²
Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên; Thị xã Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương Tổng số gồm 180 xã, trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại
2.1.2 Tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên
Địa hình không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là
một thuận lợi của Thái Nguyên cho phát triển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác
Trang 33lên 15.000 đến 20.000 ha với sản lượng khoảng 105.000 tấn chè búp tươi/năm Đây
là một yếu tố thuận lợi cho việc phát triển ngành công nghiệp chế biến
2.1.2.2 Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, là một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng… Tỉnh Thái Nguyên có trữ lượng than lớn thứ hai trong cả nước, than mỡ trữ lượng trên 15 triệu tấn, than đá trữ lượng khoảng 90 triệu tấn; kim loại màu có thiếc, chì, kẽm, vonfram, vàng, đồng, niken, thuỷ ngân… Khoáng sản vật liệu xây dựng cũng là tiềm năng nguyên liệu rất lớn để sản xuất xi măng, sản xuất đá ốp lát các loại và sản xuất vật liệu xây dựng
Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên rất phong phú về chủng loại, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa lớn trong cả nước Tiềm năng sắt tạo cho Thái Nguyên một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng để trở thành một trong các trung tâm luyện kim lớn của cả nước
2.2 Tổng quan ngành công nghiệp ở Thái Nguyên
2.2.1 Cơ cấu ngành nghề
Hiện nay, Thái Nguyên có khoảng 11.000 đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực: Công nghiệp luyện kim đứng hàng đầu với 48 doanh nghiệp hoạt động, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng có 29 doanh nghiệp, công nghiệp cơ khí, điện tử, chế tạo máy và gia công kim loại có 77 doanh nghiệp, công nghiệp nhẹ, chế biến nông, lâm sản, thực phẩm, hàng tiêu dùng có 131 doanh nghiệp, Trong đó có 17 doanh nghiệp quốc doanh và 11 đơn vị có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Điều đáng quan tâm là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tới 90% số lượng với trên 10.400 đơn vị như: Công ty CP Gang thép Thái Nguyên, Nhà máy Xi măng Quang Sơn, Công ty Kim loại mầu Thái Nguyên, Công ty CP đầu tư và Thương mại TNG, Công ty CP Thương mại Thái Hưng, Công ty CP chè Hoàng Bình, Công ty
CP chè Sông Cầu, Công ty TNHH MTV than Khánh Hòa…
Hiện nay, toàn tỉnh có 6 khu công nghiệp tập trung với diện tích lên tới
Trang 343.770ha, trong đó có 3 khu đã quy hoạch chi tiết Ngoài Khu công nghiệp Sông Công 1, Sông Công 2, chúng ta có thêm các Khu công nghiệp: Quyết Thắng, Nam Phổ Yên, Tây Phổ Yên, Điềm Thuỵ Riêng Khu công nghiệp Sông Công 1 rộng 220ha hiện đã lấp đầy 70ha với 34 dự án đầu tư Đã có 23 dự án hoàn thành và đi vào vận hành với tổng doanh thu ước đạt 2.420 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 5.200 lao động địa phương Ngoài ra, chúng ta còn phát triển 28 cụm công nghiệp với diện tích trên 1.160ha, thu hút được 37 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký trên 5 nghìn tỷ đồng Các khu công nghiệp của Thái Nguyên được thống kê ở bảng sau:
STT Tên KCN Vị trí KCN
Quy
mô (Ha)
Lĩnh vực khuyến khích đầu tư Hệ thống xử lý
môi trường
1 KCN Sông
Công I
TX Sông Công (xã Tân Quang)
220
Chế biến nông sản, thực phẩm, vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, may mặc
Đang xây dựng
2 KCN Sông
Công II
TX Sông Công (xã Tân Quang)
250
Các ngành Diezen, y cụ, phụ tùng, chế biến nông sản thực phẩm, vật liệu xây dựng, may mặc, điện tử…
Chưa có
Quyết
TP.Thái nguyên 200
Sản xuất thiết bị điện, điện tử, công nghệ thông tin, khu vườn Chưa có
Trang 35STT Tên KCN Vị trí KCN
Quy
mô (Ha)
Lĩnh vực khuyến khích đầu tư Hệ thống xử lý
Chưa có
Bảng 2.1 Danh mục các Khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên
Như vậy, với 6 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động mà chưa có một hệ thống xử lý môi trường nào được xây dựng Nếu không có những chính sách kịp thời thì trong thời gian tới các khu công nghiệp sẽ gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
2.2.2 Đặc điểm và hiện trạng công nghệ
Các dây truyền công nghệ trong các nhà máy ở Thái Nguyên phần lớn là các công nghệ cũ, lạc hậu, đặc biệt là trong ngành luyện kim Đối với các nhà máy có công nghệ mới thì chủ yếu là của Trung Quốc
Do sự biến động của nền kinh tế nên một số nhà máy sản xuất công nghiệp của Thái Nguyên hoạt động rất cầm chừng, không hết công suất
Tuy nhiên hiện nay, các doanh nghiệp đang chú trọng đến việc đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ Theo thống kê, tổng đầu tư của các doanh nghiệp đạt gần 16 nghìn tỷ đồng, chiếm tới 56,46% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Đó là: Dự án cải tạo và mở rộng Khu gang thép Thái Nguyên giai đoạn II trên 3.843 tỷ đồng; Nhà máy xi măng Quang Sơn trên 3.427 tỷ đồng; Dự án mở rộng sản xuất Nhà máy Diesel Sông Công hơn 321 tỷ đồng; Dự án mở rộng Công ty Phụ tùng máy số I là 149 tỷ đồng; Nhà máy nhiệt điện An Khánh khoảng 2.000 tỷ đồng; Nhà máy may xuất khẩu tại Sông Công 195 tỷ đồng…
2.2.3 Hiện trạng môi trường
Trang 36Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, cũng như nhiều địa phương trong cả nước, tình trạng ô nhiễm môi trường ở Thái Nguyên đang là vấn đề bức xúc, ảnh hưởng đến sản xuất và chất lượng sinh hoạt của người dân … Vậy vấn
đề đặt ra hiện nay đó là phải có những giải pháp phù hợp để vừa phát triển sản xuất, thu hút đầu tư, nhưng vẫn phải bảo đảm môi trường sinh thái, ổn định và nâng cao chất lượng môi trường sống của cộng đồng cư dân, nhất là ở các đô thị, khu công nghiệp trên địa bàn
Hiện trạng môi trường sinh thái ở Thái Nguyên có thể khẳng định đang bị ô nhiễm ở mức quá giới hạn cho phép, nhiều nơi bị ô nhiễm nặng Về nguồn nước, Thái Nguyên hiện có 3- 4 tỷ m3 nước mặt/năm và 1,5 – 2 tỷ m3 nước ngầm Thế nhưng theo những cảnh báo gần đây, nguồn nước mặt đang bị ô nhiễm nặng, đặc biệt là nguồn nước ở sông Cầu Hàng năm, con sông này đã phải tiếp nhận khoảng
35 triệu m3 nước thải chưa qua xử lý của hơn 1.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, khai thác và chế biến khoáng sản, các bệnh viện và các KCN trên địa bàn[5] Đó còn chưa kể đến lượng nước thải sinh hoạt của các khu dân cư thải trực tiếp xuống sông Kết quả quan trắc năm 2009 cho thấy hàm lượng BOD5 trong nước tại cầu Gia Bảy, đập Thác Huống, Cầu Mây vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,08 – 9,5 COD vượt từ 1,2 – 5,8 lần; NH4 vượt từ 1,34- 20 lần Tại một số địa điểm ở sông Công
và hồ Núi Cốc đã có dấu hiệu ô nhiễm các chất hữu cơ, vô cơ, kim loại nặng, dầu
mỡ và hóa chất bảo vệ thực vật Tuy nhiên, nguồn nước ngầm có biểu hiện ô nhiễm cục bộ, mang đặc trưng từng vùng khác nhau Một số khu vực khai thác khoáng sản tại xã Hà Thượng, Tân Linh, huyện Đại Từ, hàm lượng asen đạt từ 0,068 – 0,109mg/l vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,7 – 8,2 lần Phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên và thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, hàm lượng xyanua vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,9 – 12,9 lần Nhiều khu vực nước ngầm có nồng độ
PH thấp dưới mức tiêu chuẩn cho phép và có biểu hiện ô nhiễm Fe, Mn [8]
Không chỉ có lượng nước ngầm bị ô nhiễm Ngoài ra các chất thải rắn, khí bụi của các cơ sở sản xuất công nghiệp cũng góp phần làm gia tăng tốc độ ô nhiễm môi trường nơi đây Tại các khu công nghiệp và khai thác khoáng sản, qua điều tra chất
Trang 37thải cho thấy ước tính mỗi năm các hoạt động sản xuất công nghiệp thải ra khoảng một tỷ m3 khí, hàng nghìn tấn bụi và hàng trăm nghìn tấn chất thải rắn Theo số liệu điều tra: Tại 20 doanh nghiệp khai thác chế biến khoáng sản, hàng năm thải vào môi trường khoảng 450 triệu m3 khí thải; 16 doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tập trung hàng năm thải vào môi trường trên 200 triệu m3 khí thải, 160 nghìn m3 nước thải, 150.668 tấn chất thải rắn; 14 doanh nghiệp cơ khí chế tạo hàng năm thải vào môi trường trên 150 triệu m3 khí thải …[9]
Trong số các cơ cở sản xuất công nghiệp và khu công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên, hiện có khoảng 90% cơ sở chưa có trạm xử lý nước thải và hệ thống kỹ thuật
hạ tầng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường Tại các khu công nghiệp, qua quá trình tìm hiểu tại cơ sở và được biết: Hiện nay mới có khu công nghiệp tập trung Sông Công có thiết kế quy hoạch chi tiết, nhưng hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường như: Hệ thống thoát nước bề mặt, hệ thống thu gom và xử lý nước thải riêng của từng nhà máy, hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung, khu chôn lấp chất thải rắn chưa được hoàn thiện Các chất thải rắn công nghiệp chủ yếu được thu gom và chôn lấp ngay trong khu vực sản xuất hoặc chôn cùng với rác thải sinh hoạt, đặc biệt các chất thải nguy hại chưa được quản lý, phân loại và xử lý theo đúng quy định
Tỉnh Thái Nguyên là tỉnh duy nhất trong cả nước có hệ thống thoát nước bằng bê tông kín ở một số trục phố chính với chiều dài khoảng 50km Tuy nhiên, do việc cho phép các phương tiện giao thông, đặc biệt là các loại xe hạng nặng lưu thông trên các trục đường này dẫn đến tình trạng một số con đường xuống cấp nghiêm trọng Kết quả quan trắc môi trường năm 2009 cho thấy tại một số trục giao thông chính của thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công đang có dấu hiệu bị ô nhiễm, đặc biệt nồng độ bụi vượt chỉ tiêu cho phép 2- 3 lần Mặc dù, thị xã Sông Công hình thành và phát triển trên
20 năm nhưng đến nay toàn thị xã vẫn chưa có hệ thống cống, rãnh thoát nước Một số
cơ sở sản xuất lại nằm lẫn trong khu dân cư cho nên ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sinh hoạt của người dân Và đây cũng là địa bàn “nóng” về các vấn đề liên quan đến môi trường Hơn nữa, lâu nay việc quản lý và xử lý rác thải chưa được quan tâm, chú trọng đúng mức Về nước thải, chất thải tại các khu đô thị cũng đang còn nhiều bất cập, gây ô
Trang 38nhiễm môi trường ngày càng gia tăng Riêng lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các khu đô thị của tỉnh ước tính khoảng 330 tấn/ngày, nhưng mới chỉ có một bãi chôn lấp tại bãi rác
Đá Mài, tiếp nhận khoảng gần 100 tấn rác thu gom mỗi ngày của T.P Thái Nguyên; các thị trấn, thị xã của tỉnh chỉ có điểm chôn lấp thủ công, lượng thu gom thấp Đây cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước, không khí ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân Hệ thống bệnh viện, cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh cũng còn thiếu các phương tiện kỹ thuật, thiết bị để xử lý rác thải y tế theo đúng quy định về bảo vệ môi trường, hiện tại trong 19 bệnh viện, trung tâm y tế cấp huyện, thành, thị và các trạm y tế xã, phường, thị trấn chỉ có 4 bệnh viện thực hiện việc đốt rác thải y tế tại lò đốt đủ tiêu chuẩn Số còn lại đều được tổ chức chôn lấp theo phương pháp thủ công, gây mất vệ sinh và ô nhiễm môi trường sống.[7]
Trong vòng hai năm trở lại đây, tỉnh Thái Nguyên đã thống kê và đưa vào danh sách 35 cơ sở gây ô nhiễm môi trường, 29 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Hiện nay, đã có một số đơn vị hoàn thành kế hoạch xử lý ô nhiễm, tuy nhiên vẫn chưa có đơn vị nào báo cáo kết quả hoàn thành kế hoạch xử lý triệt để ô nhiễm
Kết quả điều tra, khảo sát, quan trắc đánh giá hiện trạng môi trường định kỳ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cho thấy, chất lượng môi trường không khí, nguồn nước tại các KCN, Cụm CN, nhà máy xí nghiệp, khu đô thị nằm trên địa bàn lưu vực sông Cầu đều có biểu hiện ô nhiễm Trong đó, KCN Lưu Xá, các nhà máy sản xuất xi măng, luyện thép hàm lượng bụi tại các khu vực này vượt tiêu chuẩn cho phép dao động từ 2 - 5 lần Đáng chú ý, ô nhiễm bụi điển hình tại các khu vực xung quanh Nhà máy sản xuất xi măng, có thời điểm mùa khô mức độ ô nhiễm bụi tăng lên vượt tiêu chuẩn cho phép 7 - 8 lần
Chất lượng nước đoạn trung lưu sông Cầu chảy qua TP Thái Nguyên khu vực
có mức độ phát triển kinh tế tương đối cao, đã suy giảm một cách nghiêm trọng Hầu hết các chỉ tiêu chất lượng nước đều không đạt tiêu chuẩn chất lượng nguồn loại A (QCVN08:2008/BTNMT) Nhiều nơi, nhiều chỉ tiêu không đạt nguồn loại B, nhất là vào những tháng mùa kiệt, khi nước ở thượng nguồn ít
Trang 39Theo đánh giá của Sở TN&MT Thái Nguyên, mặc dù nước thải của các nhà máy đã qua hệ thống xử lý nhưng chất lượng vẫn không đạt tiêu chuẩn xả thải Thành phần chủ yếu nước thải của KCN Sông Công, bệnh viện Đa khoa Trung ương, KCN Luyện kim Lưu Xá chủ yếu là các hợp chất ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng Nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp và nước thải của nhiều
cơ sở khai thác khoáng sản không được xử lý, hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn đã gây
ô nhiễm nguồn nước các sông suối tiếp nhận
Nhiều sông suối tiếp nhận nước thải công nghiệp, khai thác khoáng sản, sinh hoạt đã bị nhiễm hợp chất hữu cơ và kim loại nặng trước khi hợp lưu với sông Cầu, sông Công, kéo theo chất lượng môi trường nước của hai dòng sông này sau các điểm hợp lưu và đoạn chảy qua TP.Thái Nguyên, thị xã Sông Công bị ô nhiễm, không đảm bảo sử dụng cho mục đích sinh hoạt, chỉ dùng cho tưới tiêu thủy lợi và các mục đích giao thông thủy
Tại thị trấn Bãi Bông (Phổ Yên - Thái Nguyên), nước thải công nghiệp từ các nhà máy Z131, Công ty CP Cơ khí Phổ Yên, Công ty Giấy Trường Xuân hàng ngày thải một lượng lớn ra suối Rẽo chảy qua lòng thị trấn, sau đó mang theo nước ô nhiễm ra sông Cầu Qua tìm hiểu, việc xả thải của các nhà máy hiện nay đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của một bộ phận dân cư trên địa bàn thị trấn Hiệu quả kiểm tra, xử lý đối với các nhà máy này, vẫn ở mức thấp Bên cạnh đó, việc thay đổi và cải tiến hệ thống xả thải của Công ty Giấy Trường Xuân, doanh nghiệp mạ An Khánh, Công ty CP Cơ khí Phổ Yên vẫn còn chậm, chưa đạt yêu cầu xả thải gây bức xúc cho người dân quanh khu vực
Sở TN&MT Thái Nguyên tiến hành tăng cường thanh kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của các cụm, KCN, các cơ sở doanh nghiệp Từ năm
2007 đến nay, trong số 220 lượt cơ sở được thanh tra đã phát hiện 105 lượt cơ sở vi phạm Luật Bảo vệ môi trường, với tổng số tiền phạt khoảng 1.400 triệu đồng Riêng 6 tháng đầu năm 2010, Sở đã kiểm tra trên 150 cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, xử lý 29 lượt cơ sở với tổng số tiền phạt trên 416,250 triệu đồng Cụ thể, Chi nhánh Than Núi Hồng bị phạt 1,25 triệu đồng do không thực hiện
Trang 40đầy đủ tần suất quan trắc trong bản cam kết bảo vệ môi trường; Xí nghiệp Luyện kim màu 1, Công ty CP Cơ khí Phổ Yên bị phạt 14 triệu đồng do xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép, vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 10 lần trở lên trong trường hợp nước thải nhỏ hơn 10m3/ngày; Công ty Diezen sông Công bị phạt 40 triệu đồng do không thực hiện quan trắc môi trường đầy đủ tần suất theo cam kết trong báo cáo ĐTM được duyệt [8]
Tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh ngày càng trầm trọng khi chỉ
có 40% số khu, cụm công nghiệp trong tỉnh có thiết kế chi tiết và xây dựng hệ thống
kỹ thuật bảo vệ môi trường, xử lý chất thải; tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải đô thị mới đạt trên 70%, xử lý rác thải y tế mới đạt 65%
Dự báo về tình hình ô nhiễm môi trường của Thái Nguyên trong những năm tới sẽ còn nhiều phức tạp và có chiều hướng gia tăng Do tốc độ phát triển đô thị, phát triển công nghiệp ở mức cao vì vậy lượng khí thải, chất thải, nước thải công nghiệp và sinh hoạt đô thị ngày càng nhiều Một số cơ sở khai thác khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng lớn đi vào hoạt động như: Mỏ sắt Tiến Bộ, Mỏ đa kim núi Pháo, Nhà máy xi măng Thái Nguyên, Dự án cải tạo, mở rộng giai đoạn 2 Khu công nghiệp Lưu Xá … sẽ là những ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường nếu không có những chính sách hợp lý
Với hiện trạng môi trường ô nhiễm như hiện nay tỉnh Thái Nguyên cần phải có những chính sách mạnh trong việc bảo vệ môi trường và khẩn trương chiển khai áp dụng chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp nhằm hạn chế quá trình xả thải ra môi trường của các nhà máy sản xuất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
2.2.4 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất công nghiệp
Việc xử lý các "điểm nóng" gây ô nhiễm môi trường ngày càng khó khăn do các khu, cụm công nghiệp chưa được quan tâm thiết kế, đầu tư hạ tầng kỹ thuật bảo
vệ môi trường, cộng nghệ sản xuất của các cơ sở lạc hậu, không đồng bộ, ý thực chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp cũng như trong dân
cư chưa cao, lực lượng thanh kiểm tra bảo vệ môi trường còn mỏng, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe, mức xử lý hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường