1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội

113 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố Hà Nội” đư

Trang 1

-

VŨ THỊ LIỄU

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP HIỆU QUẢ KHẢ THI, CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG MỘT SỐ LÀNG NGHỀ Ô NHIỄM ĐIỂN

HÌNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGÀNH: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS.NGUYỄN THỊ SƠN

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ HÀ NỘI Error! Bookmark not defined. 

I.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội Error! Bookmark not defined. 

I.1.1 Điều kiện tự nhiên Error! Bookmark not defined. 

I.1.2 Hiện trạng kinh tế xã hội Error! Bookmark not defined. 

I.2 Lịch sử phát triển làng nghề tại Hà Nội Error! Bookmark not defined. 

I.2.1 Sự hình thành tất yếu và lịch sử phát triển Error! Bookmark not defined. 

I.2.2 Các loại hình làng nghề và xu thế phát triển sản xuất trên địa bànError! Bookmark not define I.3 Vai trò của làng nghề trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của thủ đôError! Bookmark not defi

I.3.1 Những đóng góp về kinh tế Error! Bookmark not defined. 

I.3.2 Những đóng góp trong phát triển văn hóa – xã hộiError! Bookmark not defined. 

CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG Ở CÁC LÀNG NGHỀ HÀ NỘI VÀ KẾT

QUẢ KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG Ở MỘT SỐ LÀNG NGHỀ Ô

II.1 Hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề Hà nội Error! Bookmark not defined. 

II.1.1 Hiện trạng nước thải và vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề Hà

I.1.2 Chất thải rắn (CTR) và vấn đề ô nhiễm môi trường đất tại làng nghề Hà NộiError! Bookmark II.1.3 Hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí tại làng nghề Hà NộiError! Bookmark not defined

II.2 Kết quả khảo sát hiện trạng sản xuất và môi trường tại một số làng nghề ô nhiễm

II.2.1 Làng nghề Vạn Phúc Error! Bookmark not defined. 

II.2.2 Làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Dương LiễuError! Bookmark not defined. 

CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CÁC LÀNG NGHỀ TRÊN

III.1 Hệ thống tổ chức quản lý môi trường làng nghề thành phố Hà nộiError! Bookmark not defined. 

III.1.1 Sơ đồ tổ chức quản lý môi trường làng nghề ở Hà NộiError! Bookmark not defined. 

III.1.2 Một số văn bản pháp quy liên quan đến quản lý môi trường làng nghề trên

địa bàn thành phố Hà Nội Error! Bookmark not defined. 

III.1.3 Hiện trạng công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường làng nghề của

III.2 Kết quả điều tra hiện trạng quản lý môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển

III.2.1 Hiện trạng quản lý môi trường tại làng nghề Vạn PhúcError! Bookmark not defined. III.2.2 Hiện trạng quản lý môi trường tại làng nghề chế biến nông sản thực phẩm

Trang 3

IV.1 Các giải pháp kỹ thuật Error! Bookmark not defined. 

IV.2 Các giải pháp quản lý Error! Bookmark not defined. 

IV.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng môi trường cho hai loại

hình sản xuất điển hình Error! Bookmark not defined. 

IV.3.1 Các giải pháp cải thiện môi trường làng nghề Vạn PhúcError! Bookmark not defined. IV.3.2 Giải pháp cho làng nghề Dương Liễu Error! Bookmark not defined. 

Trang 4

Bảng II.1 Chất thải tại môt số làng nghề điển hình Error! Bookmark not defined

Bảng II.2 Khối lượng nước thải tại các làng nghề Hà NộiError! Bookmark not defined

Bảng II.3 Đặc trưng nước thải dệt nhuộm Error! Bookmark not defined

Bảng II.4 Đặc trưng nước thải làng nghề CBNSTP Error! Bookmark not defined

Bảng II.5 Tải lượng ô nhiễm trong nước thải của một số làng nghề CBNSTPError! Bookmark not Bảng II.6 Chất lượng nước mặt ở một số làng nghề CBNSTPError! Bookmark not defined

Bảng II.7 Chất lượng nước mặt ở một số làng nghề dệt nhuộmError! Bookmark not defined Bảng II.8 Chất lượng nước dưới đất tại một số làng nghề CBNSTPError! Bookmark not defined Bảng II.9 Chất lượng nước dưới đất tại một số làng nghề DNError! Bookmark not defined

Bảng II.10 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu không khí tại các làng nghề Hà Nội Error! Bookmark Bảng II.11 Đặc trưng nước thải dệt nhuộm ở làng nghề Vạn PhúcError! Bookmark not defined Bảng II.12 Kết quả phân tích đặc trưng nước thải dệt nhuộm Vạn Phúc (7/2010)Error! Bookmark Bảng II.13 Chất lượng môi trường không khí tại các hộ dệt nhuộmError! Bookmark not defined.

Bảng II.14 Cơ cấu lao động tại xã Dương Liễu Error! Bookmark not defined

Bảng II.15 Cơ cấu thu nhập theo ngành nghề chính trong xã (tỷ VNĐ)Error! Bookmark not define Bảng II.16 Sản lượng và giá trị các sản phẩm tại làng nghề Dương LiễuError! Bookmark not defin Bảng II.17 Định mức nước trong sản xuất tinh bột (cho 1 tấn nguyên liệu)Error! Bookmark not de

Bảng II.18 Đặc trưng nước thải sản xuất tinh bột từ sắn và dong giềng làng nghề

Bảng II.19 Đặc trưng nước thải công đoạn tách bột đen, Làng nghề Dương Liễu Error! Bookmark Bảng II.20 Kết quả phân tích mẫu nước tại các làng nghề khu vực Dương LiễuError! Bookmark n Bảng II.21 Chất lượng môi trường không khí ở LN CBNSTP Dương LiễuError! Bookmark not de

Trang 5

các làng nghề CBNSTP Error!

Bookmark not defined

Bảng IV.2 Lợi ích và yêu cầu đầu tư cho các giải pháp SXSH đối với làng nghề

Bảng IV.3 Lợi ích và yêu cầu đầu tư cho các giải pháp SXSH đối với loại hình

Bảng IV.4 Lợi ích và yêu cầu đầu tư cho các giải pháp SXSH đối với làng nghề

Bảng IV.5 Lợi ích và yêu cầu đầu tư cho các giải pháp SXSH đối với làng nghề

Trang 6

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình II.1 Sơ đồ quy trình dệt nhuộm kèm dòng thải tại làng nghề Vạn PhúcError! Bookmark not d Hình II.2 Quy trình công nghệ chế biến tinh bột sắnError! Bookmark not defined

Hình II.3 Quy trình công nghệ chế biến tinh bột dongError! Bookmark not defined

Hình II.4 Sơ đồ công nghệ sản xuất miến dong kèm dòng thảiError! Bookmark not defined Hình II.5 Cân bằng vật chất trong sản xuất tinh bột từ dong củError! Bookmark not defined Hình II.6 Cân bằng vật chất trong sản xuất tinh bột sắnError! Bookmark not defined

Hình IV.1 Sơ đồ xử lý nước thải dệt nhuộm tại hộ gia đình

Error! Bookmark not defined

Hình IV.2 Mô hình sử dụng hầm Biogas Error! Bookmark not defined

Trang 7

BVMT Bảo vệ môi trường

ICETT Trung tâm chuyển giao công nghệ Nhật Bản (International

center for environmental technology transter)

JICA Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (Japan international

cooperation agency)

Trang 8

QLMT Quản lý môi trường

UBND Uỷ ban nhân dân

VSMT Vệ sinh môi trường

Trang 9

MỞ ĐẦU

Theo thống kê mới nhất của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay nước ta

có 2.790 làng nghề, riêng TP Hà Nội mở rộng có 1.270 làng có nghề trong đó 256 làng được công nhận là làng nghề truyền thống [13] Ngày 3/2 vừa qua, UBND thành phố Hà Nội đã trao tặng danh hiệu “Làng nghề truyền thống” cho 16 làng nghề mới của năm 2009, nâng số làng nghề được công nhận lên thành 272 làng Tổng thu nhập hàng năm của các làng nghề khoảng 1.300 tỷ đồng, đảm bảo việc làm cho gần 21.000 lao động [15]

Theo thống kê của Tổng cục Môi trường, làng nghề ở nước ta phân bố tập trung chủ yếu tại vùng đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%), miền Trung (khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%) [17]

Sự phát triển của làng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa phương Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch

vụ đạt tới 60% - 80% ,trong khi nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40%.[17]

Hà Nội là một địa phương qui tụ nhiều làng nghề và đây cũng là nét đặc trưng

về văn hoá - xã hội của một đô thị lớn Tuy nhiên, sản xuất nghề vẫn tập trung chủ yếu ở ngoại thành với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, trình độ thủ công, tổ chức sản xuất phân tán và chủ yếu là sản xuất hộ gia đình Trong quá trình phát triển, sản xuất kinh doanh được mở rộng thì lượng các chất thải gây ô nhiễm phát sinh càng nhiều Tuy nhiên việc quản lí và xử lí chất thải chưa được chú trọng giải quyết nên tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng

Từ nhiều năm nay vấn đề ô nhiễm môi trường trong ở các làng nghề đã được quan tâm và đầu tư nghiên cứu cải thiện, tuy nhiên thực tế cho thấy các làng nghề vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong vấn đề môi trường

Các chất thải phát sinh do sản xuất ở nhiều làng nghề đã và đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tác động trực tiếp tới sức khỏe người dân Đặc biệt các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, chăn nuôi giết mổ, dệt nhuộm gây ô nhiễm

Trang 10

nặng nề môi trường nước Các làng nghề gốm, sứ, vật liệu xây dựng, khai thác đá,

đồ gỗ mỹ nghệ gây ô nhiễm môi trường không khí, nhất là ô nhiễm do bụi

Thực trạng ô nhiễm môi trường làng nghề trong cả nước nói chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng là vấn đề bức xúc đã được nhiều phương tiện thông tin đại chúng đề cập Nhiều cơ quan hữu quan quan tâm Tuy nhiên cho đến nay vấn đề ô nhiễm môi trường ở hầu hết các làng nghề trong cả nước nói chung và ở các làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng vẫn đang là vấn đề rất nóng và cần được quan tâm đúng

- Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

+ Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường tại các làng nghề

trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp hiệu quả khả thi nhằm cải thiện môi trường ở các làng nghề Hà Nội

+ Nội dung nghiên cứu: Tổng hợp các tài liệu về ô nhiễm môi trường làng nghề và

vấn đề quản lý môi trường ở các làng nghề Hà Nội

* Khảo sát hiện trạng quản lý và hiện trạng ô nhiễm môi trường ở hai làng nghề điển hình trên địa bàn thành phố Hà Nội

* Đề xuất các giải pháp quản lý và kỹ thuật khả thi nhằm cải thiện chất lượng môi trường ở hai làng nghề nói trên, làm cơ sở cho việc cải thiện hiệu quả quản lý môi trường cho các làng nghề trên địa bàn toàn thành phố

- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý cũng như chất lượng môi trường

làng nghề thành phố Hà Nội

+ Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Hai làng nghề có loại hình sản xuất với mức

độ ô nhiễm cao là làng nghề Dệt Nhuộm Vạn Phúc và làng nghề CBNSTP Dương Liễu

- Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

1.Phương pháp tổng hợp tài liệu: Thu thập, tổng hợp các tài liệu có liên quan

đến chất lượng môi trường và quản lý môi trường các làng nghề Việt Nam nói

chung và thành phố Hà Nội nói riêng

2.Phương pháp điều tra khảo sát và phỏng vấn tại hiện trường Tiếp cận các

cơ sở sản xuất, các đơn vị quản lý, tìm hiểu về công nghệ, hiện trạng xả thải vào môi trường và vấn đề quản lý môi trường ở địa phương

3 Lấy mẫu phân tích và đánh giá chất lượng môi trường: Lấy mẫu tại hiện

trường Phân tích một số thông số đặc trưng cho mỗi loại hình nghiên cứu, từ đó đưa ra những đánh giá sát thực về hiện trạng ô nhiễm môi trường

4 Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở các số liệu đã được xử lý, đưa ra

những nhận xét, phát hiện từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý hợp lý nhất

Đề tài Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố Hà Nội” được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường làng nghề Hà Nội, cải thiện chất lượng môi trường làng nghề Hà Nội góp phần phát triển sản xuất ở các làng nghề một cách bền vững

Trang 12

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ HÀ NỘI

I.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội

I.1.1 Điều kiện tự nhiên

Hà Nội là một trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học và giáo dục của cả nước Sau khi mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội có diện tích 3.344,7 km², gồm 01 thị xã, 10 quận và 18 huyện Những nội dung này đề cập đến trong khuôn khổ luận văn này là thuộc Hà Nội mở rộng

Nằm ở phía Tây Bắc của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây [24]

gò Đống Đa, núi Nùng [24]

Sông hồ

Sông Hồng bắt đầu chảy vào Hà Nội ở huyện Ba Vì, ra khỏi thành phố ở khu vực huyện Phú Xuyên tiếp giáp Hưng Yên Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài

163 km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông này trên đất Việt Nam

Hà Nội còn có Sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ, hợp lưu với sông Hồng ở phía Bắc thành phố tại huyện Ba Vì Ngoài ra, qua địa phận Hà Nội còn nhiều sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ Các sông nhỏ

Trang 13

trong khu vực nội thành có sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu đây

là hệ thống tiêu thoát nước chính của thành phố [24]

Hà Nội là một thành phố với nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của các dòng sông

cổ Trong khu vực nội thành, Hồ Tây có diện tích lớn nhất, khoảng 500 ha, đóng vai trò quan trọng trong điều hòa thủy văn Hồ Gươm lá phổi xanh nằm ở trung tâm của thành phố, luôn giữ một vị trí đặc biệt đối với Hà Nội Các hồ khác là Trúc Bạch, Bảy Mẫu, Thiền Quang, Thủ Lệ Một số hồ đầm nhỏ cũng được biết đến như Kim Liên, Linh Đàm, Ngải Sơn - Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn [24]

Khí hậu

Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa Thuộc vùng nhiệt đới, thành phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ trung bình cao Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa mỗi năm Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt giữa hai mùa nóng, lạnh Mùa nóng (cũng là mùa mưa) kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 29,2 °C Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau

là khí hậu của mùa lạnh với nhiệt độ trung bình 15,2 °C Với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10, thành phố có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông

Hà Nội cũng ghi nhận những biến đổi bất thường: Vào tháng 5 năm 1926, nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức kỷ lục 42,8 °C Tháng 1 năm 1955, nhiệt

độ xuống mức thấp nhất 2,7 °C Đầu tháng 11 năm 2008, một trận mưa kỷ lục đổ xuống các tỉnh miền Bắc và miền Trung trong đó có Hà Nội đã gây thiệt hại cho thành phố khoảng 3.000 tỷ đồng Những đợt nắng nóng kéo dài đầu năm 2010 (từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 6) nhiệt độ tại thành phố Hà Nội có khi lên đến 44oC

Trang 14

I.1.2 Hiện trạng kinh tế xã hội

Nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, Hà Nội đã sớm trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam

Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này và đặt tên là Thăng Long

Mật độ dân số Hà Nội hiện nay, cũng như trước khi mở rộng địa giới hành chính, không đồng đều giữa các quận nội đô và khu vực ngoại thành Trên toàn thành phố, mật độ dân cư trung bình 1.979 người/km² Riêng quận Đống Đa, mật độ lên tới 35.341 người/km² Trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn,

Ba Vì, Mỹ Đức… mật độ không tới 1.000 người/km²

Sự khác biệt giữa nội thành và ngoại thành còn thể hiện khá rõ rệt ở mức sống, điều kiện y tế, giáo dục Về cơ cấu dân số, theo số liệu điều tra dân số năm 2009, toàn thành phố Hà Nội có 6,4 triệu người trong đó trên 2,6 triệu cư dân thành thị, (chiếm 41,1%) và khoảng 3,8 triệu cư dân nông thôn, (chiếm 58,1%).[9]

Đáng chú ý là hiện tượng tăng dân số cơ học của Hà Nội là rất đáng quan tâm Sau 1000 năm phát triển, diện mạo Thăng Long - Hà Nội đã thay đổi hoàn toàn Đặc biệt là từ khi cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời, Hà Nội luôn là một trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế lớn của cả nước

Tháng 10 năm 2010, Hà Nội kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long, thể hiện niềm tự hào của dân tộc Việt Nam

Tới thế kỷ XXI với sự phát triển mạnh mẽ của Sài Gòn và khu vực Nam Bộ,

Hà Nội vẫn đóng vai trò là một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước

Xét riêng về mặt kinh tế, từ đầu thập niên 1990 thời kỳ mở cửa, kinh tế Hà Nội đã có những bước tiến mạnh mẽ Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thành phố thời kỳ 1991–1995 đạt 12,52%; thời kỳ 1996 – 2000 là 10,38% Từ năm 1991 đến 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng từ 470 USD lên 915 USD,

Trang 15

gấp 2,07 so với trung bình của cả nước Theo số liệu năm 2000, GDP của Hà Nội chiếm 7,22% tổng sản phẩm quốc nội và khoảng 41% so với toàn vùng Đồng bằng sông Hồng [6]

Hà Nội đã có những thay đổi cơ bản về cơ cấu kinh tế Từ 1990 tới 2000, trong khi tỷ trọng ngành công nghiệp tăng mạnh từ 29,1% lên 38% thì nông–lâm nghiệp và thủy sản từ 9% giảm xuống còn 3,8% Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng giảm trong khoảng thời gian đó, từ 61,9% xuống còn 58,2% Công nghiệp của Hà Nội

vẫn tập trung vào 5 lĩnh vực chính là cơ–kim khí, điện–điện tử, dệt–may–giày, chế

biến thực phẩm và công nghiệp vật liệu, chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp Bên cạnh đó, nhiều làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, may Cổ Nhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà cũng dần được phục hồi và phát triển [21]

Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi bình quân của cả nước là 13,4 triệu Hà Nội là một trong những địa phương nhận đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất: 290 dự án với vốn đầu tư 1.681,2 triệu USD Hà Nội có 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14 khu và cụm công nghiệp Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội Năm 2003, với gần 300.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp cùa thành phố Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp thu hút gần 500.000 lao động Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội [24]

Sau mở rộng địa giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có 3,2 triệu người đang trong độ tuổi lao động Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao Cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế Hà Nội còn phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn khác Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn của môi trường đầu tư còn thấp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm Chất lượng quy

Trang 16

hoạch, phát triển các ngành kinh tế ở Hà Nội không cao, chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân cư

I.2 Lịch sử phát triển làng nghề tại Hà Nội

I.2.1 Sự hình thành tất yếu và lịch sử phát triển

I.2.1.1 Sự hình thành tất yếu của làng nghề Hà Nội

Sự hình thành của một nghề là sự kết hợp của nhiều yếu tố, khách quan, chủ quan và phải phù hợp với lịch sử phát triển chung của xã hội Làng nghề Hà Nội được hình thành từ rất sớm, ban đầu là để phục vụ những nhu cầu sinh hoạt cấp thiết thường nhật của cuộc sống, sau đó là tạo ra các sản phẩm phục vụ cho xã hội

Làng nghề được hình thành trước tiên là để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân: lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, vật liệu xây dựng, công cụ lao động Sự hình thành làng nghề, phố nghề ở Hà Nội xuất phát từ một số yếu tố sau:

™ Từ nhu cầu của cuộc sống

Thủ đô Hà Nội là một thị trường tiềm năng Khác với các địa phương khác, mức sống của người dân Thủ đô là tương đối cao Nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu thưởng thức nghệ thuật - giải trí cũng cao hơn, do đó đòi hỏi hàng hoá có chất lượng

và sự tinh tế Ngoài ra, sản xuất thủ công mỹ nghệ cũng hình thành và phát triển mạnh mẽ

™ Từ nhu cầu giải quyết việc làm

Nước ta là nước nông nghiệp, trên 70% dân số sống bằng nghề nông Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ nên thời gian nông nhàn khá nhiều Với sự thông minh sáng tạo, người lao động đã mau chóng nắm bắt được những nhu cầu của xã hội và tìm cách đáp ứng Từ nguồn nguyên liệu dễ tìm, sản xuất phát triển, làng nghề, phố nghề được hình thành

Sự hình thành và phát triển của các làng nghề truyền thống nhất là các làng nghề thủ công mỹ nghệ còn góp phần quyết định việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc

Trang 17

Trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, sản xuất thủ công nghiệp không những không lạc hậu mà còn tìm kiếm được nhiều cơ hội phát triển:

™ Sự hình thành và phát triển của các khu, cụm công nghiệp ở các đô thị đã tạo

cơ hội cho nhiều làng nghề mới và truyền thống trở thành vệ tinh hoặc làm gia công cho sản xuất công nghiệp

™ Ở nông thôn ngoại thành, nguồn nguyên liệu phân tán, lao động nhàn rỗi nhiều, thu nhập tính trên đầu người thấp, giao thông đi lại khó khăn thì sản xuất nghề ở hộ gia đình là rất phù hợp và cần thiết, vừa giải quyết việc làm vừa tận dụng được tiềm năng sẵn có của địa phương, đồng thời tạo ra của cải cho xã hội

™ Khi xã hội càng phát triển, đời sống con người được nâng cao Những nhu cầu về nghệ thuật được chú trọng nhiều hơn, sản phẩm làng nghề được biết đến và tiêu thụ như một nét đặc sắc của từng vùng quê Việt Nam

I.2.1.2 Lịch sử phát triển

Làng nghề được manh nha, hình thành và phát triển từ những thế kỷ trước công nguyên Sự phát triển của làng nghề có thể tóm lược như sau:

- Thời Phùng Nguyên: Khoảng thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên, người

Việt cổ đã phát minh và sáng chế ra hầu hết các kỹ thuật chế tác đá, sản xuất gốm

mà cho đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi như: khoan mài đá, đặc biệt là kỹ thuật khoan đồng tâm từ hai phía và kỹ thuật đánh bóng đồ trang sức bằng đá [10]

- Thời Đông Sơn: Từ gần 3.000 năm đến 258 năm trước công nguyên, người

Việt Đông Sơn dường như đã nắm vững các đặc tính, công dụng của hầu hết các loại hợp kim chủ yếu thời cổ đại Họ đã phát minh ra công thức chế tác đồng thau, đồng thanh, làm trống đồng Cũng trong thời gian này, nông nghiệp khá phát triển

đã tạo điều kiện cho nghề thủ công được mở rộng

- Thời kỳ Bắc thuộc: Do chính sách đồng hoá triệt để của phong kiến phương

Bắc, các dấu tích lịch sử về nghề thủ công và lịch sử văn hoá nói chung còn lại rất

mờ nhạt Tuy nhiên một số yếu tố kỹ thuật vẫn tiếp tục phát triển Kinh nghiệm sản

Trang 18

xuất của người Hán được du nhập vào Việt Nam như nghề làm gốm, rèn sắt, đúc đồng, trồng dâu nuôi tằm, dệt vải phát triển mạnh Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu xây dựng thành luỹ, dinh thự, lăng mộ và để phục vụ cho tầng lớp quan lại nhà Hán, nhiều thợ thủ công bị ép đến các công trường lớn làm nhiệm vụ sản xuất vật liệu xây dựng, làm thợ mộc, xây dựng lăng tẩm , hình thành nên đội ngũ thợ thủ công đông đảo có tay nghề cao

- Thời kỳ độc lập tự chủ (Thế kỷ XI – XIV): dưới triều đại nhà Lý (1010 –

1225) và nhà Trần (0225 – 1400) đời sống kinh tế xã hội phát triển rực rỡ, đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các nghề thủ công truyền thống phát triển Một số sản phẩm nổi tiếng, sống mãi cùng lịch sử văn hoá, văn minh của dân tộc Trong đó phải kể đến nghề gốm, kiến trúc, xây dựng, trạm khắc gỗ và đá, sơn, giấy dó, dệt tơ lụa, đúc đồng, gia công kim hoàn, đóng thuyền Thời kỳ nhà Lý, năm 1010, đã dời

đô về Thăng Long, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế ở khu vực này trong đó có ảnh hưởng lớn đến phát triển sản xuất ở các làng nghề

- Thời hậu Lê và Mạc (Thế kỷ thứ XV – XVIII): Các làng nghề truyền thống đã

tạo nhiều thợ thủ công giỏi, sản xuất ra các sản phẩm chất lượng cao, tinh xảo đáp ứng được nhu cầu của người dân đô thị và quan lại phong kiến Những thợ thủ công của các làng nghề vào kinh thành Thăng Long tạo nên phố nghề, phường nghề Thăng Long được đổi tên thành Đông Đô và được chia thành 36 phố phường với những tên gắn liền với sản phẩm như Yên Thái làm giấy dó, dệt lụa Phường Hàng Bạc chế tác đồ vàng bạc; phường Ngũ Xá đúc đồng; phường hàng Khay làm đồ sơn mài, đồ mỹ nghệ; phường hàng Trống bán dù, lọng, nghi môn, trống các loại và sản xuất tranh dân gian

- Thời cận đại: Đầu thế kỷ XIX, sản xuất thủ công nghiệp và làng nghề truyền

thống tiếp tục phát triển Nghề thủ công có vai trò hết sức quan trọng thường gắn với tên làng, tên xã như gốm Bát Tràng, tranh dân gian Đông Hồ với rất nhiều mặt hàng thủ công đặc biệt như tơ lụa, đồ gốm Ngoài ra nghề gia công đồ gỗ, may mặc, kim hoàn, rèn, đúc đồng, khai thác mỏ cũng phát triển mạnh nhưng tập trung chủ yếu ở đồng bằng Bắc bộ và đây cũng là cái nôi của làng nghề Cũng trong thời

Trang 19

gian này các làng nghề, phố nghề có xu hướng phát triển theo hướng chuyên môn hóa (tách khỏi nông nghiệp để chuyên làm nghề thủ công) và thu hút tới 80 – 90%

số người lao động

Ở các phố nghề đã hình thành các hộ tiểu chủ và dần dần hình thành các nhà tư sản dân tộc đầu thế kỷ XIX [10]

- Thời Pháp thuộc: Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam được khuyến

khích và phát triển mạnh do chính quyền thực dân đã nhận thức được những khả năng kinh tế to lớn mà nghề thủ công mang lại nhờ tận dụng được nguồn nhân công

rẻ mạt lại có tay nghề cao và nguồn nguyên liệu dồi dào sẵn có ở địa phương

- Thời kỳ sau giải phóng Thủ Đô: Một thời gian dài sau giải phóng sản xuất ở

các làng nghề không được khuyến khích phát triển Nhiều nghề truyền thống đã bị mai một nhưng do yêu cầu của cuộc sống, những thợ thủ công đã tổ chức thành hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, sản xuất các mặt hàng phục vụ đời sống và xuất khẩu

sang các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu

- Thời kỳ từ năm 1978 – 1985: Khi nền kinh tế “kế hoạch hóa-bao cấp”, không

còn tồn tại, áp lực gia tăng dân số, hậu quả của chiến tranh, cấm vận kinh tế của Mỹ,

sự thay đổi hệ thống chính trị thế giới đã đưa nước ta vào thời kỳ vô cùng khó khăn trong phát triển kinh tế Đời sống của nhân dân, đặc biệt là các hộ nông dân và tiểu thủ công nghiệp bị buộc phải tìm hướng cải thiện cuộc sống theo con đường tự phát Với tính năng động, sáng tạo của người dân, sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở Hà Nội

đã từng buớc được khôi phục

- Thời kỳ từ năm 1986 – 1992: Thời kỳ này được đánh dấu bằng bước ngoặt

chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước Các chính sách kinh tế đặc biệt là chính sách đổi mới quản lý trong nông nghiệp và chính sách phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và làng nghề nói riêng

Nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển Trong mỗi làng

Trang 20

Đặc biệt đã hình thành cơ sở sản xuất kinh doanh, quy mô lớn, khối lượng sản phẩm

và giá trị kim ngạch sản xuất ngày càng tăng, thu hút số lượng lao động lớn chuyên

và không chuyên vào quá trình sản xuất và dịch vụ Một số nghề điển hình có tốc

độ khôi phục và phát triển khá nhanh như gốm Bát Tràng, chạm, khảm, điêu khắc Các sản phẩm truyền thống của các làng nghề Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung đã có được thị trường tương đối ổn định ở Đông Âu và Liên Xô (cũ) Chính sự ổn định này đã cho phép các làng nghề duy trì được sự phát triển và có được những nguồn thu đáng kể từ xuất khẩu Năm 1986, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt giá trị cao nhất Ở nhiều địa phương việc phát triển làng nghề

đã thu hút và giải quyết được việc làm cho nhiều lao động, đồng thời làm tăng nhanh sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu Hà Tây (cũ) là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển nghề tăng nhanh Năm 1988–1990, các làng nghề truyền thống đã đưa kim ngạch xuất khẩu của tỉnh lên mức 8,6 – 12,6 triệu rúp mỗi năm [6]

- Thời kỳ từ năm 1993 đến nay: Khi thị trường Đông Âu và Liên Xô cũ không

còn, sản xuất ở các làng nghề truyền thống đã lâm vào tình trạng khủng hoảng Số người lao động không có việc làm tăng rất nhanh, nhiều người quay lại với sản xuất nông nghiệp, tuy vậy tình trạng này kéo dài không lâu Một hướng đi mới cho sự phát triển của làng nghề dần được xác lập do bước đầu đã tìm ra các thị trường mới như Đài Loan, Nhật Bản

Nghị quyết Trung ương 5 khoá VII của Đảng (tháng 6/1993) về tiếp tục đổi mới nông nghiệp nông thôn, với trọng tâm là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

đã mở ra thời kỳ mới để khôi phục các làng nghề truyền thống, ví dụ như ở Hà Tây (cũ) từ 1996 – 2000 đã khôi phục lại và phát triển các nghề dệt, thêu ren, sơn mài, khảm trai, điêu khắc, đồ mộc, mây tre giang đan Đây là các làng nghề truyền thống đã từng bị mai một trong các giai đoạn khó khăn Nhiều địa phương có làng nghề truyền thống đã chủ động tìm kiếm thị trường mới, tổ chức sản xuất và khôi phục lại

Trang 21

Trước nhu cầu đòi hỏi của thị trường và giải quyết việc làm ở nông thôn, nhiều làng nghề mới xuất hiện Các làng nghề mới này có thể du nhập nghề của các làng nghề truyền thống như gốm Xuân Quan được hình thành và phát triển nhờ nghề làm gốm của Bát Tràng Nhiều làng làm nghề mới ra đời với các công nghệ hiện đại như dệt len, sản xuất phụ tùng xe đạp

I.2.2 Các loại hình làng nghề và xu thế phát triển sản xuất trên địa bàn

I.2.2.1 Các loại hình làng nghề của Hà Nội

Cũng như ở nhiều địa phương khác, trên địa bàn TP Hà Nội cũng tồn tại các loại hình làng nghề khác nhau Dựa trên các tiêu chí đặc trưng có thể phân biệt làng nghề Hà Nội theo 2 loại hình cơ bản sau:

a) Theo quá trình hình thành

Phân biệt làng nghề truyền thống và làng nghề mới Cách phân loại này cho thấy đặc thù văn hoá, mức độ bảo tồn của các làng nghề, đặc trưng cho các vùng lãnh thổ

+) Các làng nghề truyền thống: là các làng nghề gồm các nhóm nghề từ lâu đời

như: gốm, đúc đồng, trạm khắc đá, kim hoàn, rèn, mây tre đan, sơn, khảm trai, dệt

tơ lụa, làm nón, giấy dó, tranh dân gian

Theo quy định trong thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính Phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề truyền thống là làng có ít nhất một nghề truyền thống (nghề truyền thống là nghề đã xuất hiện tại địa phương trên 50 năm, sản phẩm của làng nghề mang bản sắc văn hoá dân tộc và gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề)

Làng nghề truyền thống của Hà Nội có những nét đặc trưng sau:

- Phát triển đa dạng về quy mô, về cơ cấu ngành nghề và gắn chặt với nông nghiệp [10]: Các làng nghề truyền thống ở Hà Nội đều ra đời và tách dần từ nông nghiệp Ban đầu, do nhu cầu việc làm và nâng cao thu nhập người lao động ở nông

Trang 22

thôn đã làm nghề thủ công bên cạnh làm ruộng [10] Khi lực lượng sản xuất đã phát triển thì thủ công nghiệp tách ra thành một ngành độc lập, vươn lên thành ngành sản xuất chính ở một số làng So với các vùng khác trong cả nước thì làng nghề truyền thống ở Hà Nội có sự phát triển lâu đời hơn, nhưng nó vẫn gắn chặt với sản xuất nông nghiệp Bởi vì người thợ thủ công vốn là người nông dân tham gia làm nghề thủ công

- Sản phẩm của làng nghề truyền thống phát triển đa dạng và có tính tập trung cao Do làng nghề truyền thống ở Hà Nội chủ yếu nằm ở vùng ven đô, người thợ thủ công ở làng nghề truyền thống thường nhạy bén với thị trường nên việc thay đổi mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm đã rất được quan tâm nhờ vậy quá trình sản xuất được định hướng và tổ chức khá linh hoạt

Cũng nhờ vậy các mặt hàng của làng nghề được cải tiến nhanh chóng và ngày càng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, như vậy sản phẩm của làng nghề Hà Nội ngày càng chiếm ưu thế trên thị trường trong và ngoài nước

- Lao động ở làng nghề truyền thống của Hà Nội có trình độ tay nghề cao do được thừa hưởng những kinh nghiệm từ nhiều thế hệ trước

Tuy nhiên cũng như ở một số địa phương khác hình thức tổ chức kinh doanh của làng nghề Hà Nội vẫn còn nhỏ, manh mún, thiếu tập trung, chủ yếu là sản xuất theo hộ gia đình Đây là một yếu điểm lớn trong việc tham gia thị trường xuất khẩu

Hà Nội hiện có 272 làng nghề đã được công nhận là làng nghề truyền thống [7]

+) Làng nghề mới: Là các làng nghề mới được hình thành trong thời gian gần đây,

Trang 23

Các làng nghề mới của Hà Nội như: bánh kẹo Xuân Đỉnh, gốm Xuân Quan, dệt len Vân Hà

b) Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm

Đây là cách phân loại được sử dụng khá phổ biến, liên quan mật thiết đến các vấn đề môi trường Theo sự phân loại này sản phẩm thường được gắn với tên làng: đậu phụ Mơ, bún Phú Đô, bánh cuốn Thanh Trì, lụa Vạn Phúc, nón Chuông, dao kéo Đa Sỹ

+ Ngành gốm xứ: Làng nghề Đa Tốn, Vân Đức, Kim Lan, Bát Tràng, Đông Du,

Châu Quỳ hầu hết tập trung ở huyện Gia Lâm Đây là các làng nghề truyền thống khá phát triển tại Hà Nội Điển hình nhất là làng nghề gốm sứ Bát Tràng và gốm Kim Lan Sản phẩm chính của các làng nghề này là các mặt hàng sứ dân dụng, sứ

mỹ nghệ, sứ xây dựng và sứ công nghiệp Các sản phẩm của làng nghề gốm Bát Tràng nhìn chung đã chiếm lĩnh được các thị trường phía Bắc và bước đầu tìm được thị trường xuất khẩu [18]

+ Ngành thủ công mỹ nghệ: Đây là loại hình tập trung khá nhiều làng nghề truyền

thống, điển hình là các làng nghề: chạm khắc đồ mỹ nghệ Vân Hà ( Hà Đông), chổi tre, nan tre Dương Quang (Gia Lâm); băng giang Đông Ngạc, phên nứa Đại Mỗ, dây thừng Trung Văn (Từ Liêm); đan thúng, rổ rá Kim Lũ (Sóc Sơn)

Ở Hà Tây (cũ) nghề mây tre đan tập trung ở các huyện như Thạch Thất với các xã Hữu Bằng, Phùng Xá, Tràng Sơn; Huyện Chương Mỹ có các xã như Phú Nghĩa, Trường Yên; Huyện Thường Tín với các xã như Duy Thái, Nhị Khê; Huyện Phú Xuyên với các xã như Phú Yên, Đại Thắng Sản phẩm truyền thống như mây tre đan, đồ gỗ cao cấp, khảm tạo nên một trung tâm buôn bán các sản phẩm của làng nghề

+ Ngành chế biến nông sản thực phẩm: Đây là loại hình sản xuất rất phổ biến ở

Hà Nội Từ xa xưa đất Thăng Long đã nổi tiếng với nhiều loại thực phẩm như cốm Vòng, bánh cuốn Thanh Trì, bún Phú Đô, bánh mứt Xuân Đỉnh, Võng La (Đông Anh), miến bánh đa, bánh cốm Hữu Hoà (Thanh Tri`) , các làng nghề này phân bố

Trang 24

nông sản thực phẩm tập trung tại các huyện Thạch Thất, Phúc Thọ, Quốc Oai, Hoài Đức , điển hình là các xã Cát Quế, Minh Khai, Dương Liễu Sản phẩm ngoài phục

vụ cho đời sống thường nhật còn là những mặt hàng xuất khẩu được ưa chuộng

+ Ngành cơ kim khí: Chủ yếu ở huyện Thanh Oai và tập trung ở xã Thanh Thuỳ,

ngoài ra còn có các làng gò hàn Tây Mỗ, rèn Xuân Phương (Từ Liêm), sắt xây dựng Dục Tú (Đông Anh) Các mặt hàng chủ yếu là các đồ dân dụng như mũ ốc, bản lề,

ke cửa, một số phụ tùng xe đạp, xe máy

+ Ngành dệt nhuộm, in hoa: Tập trung chủ yếu ở xung quanh thị xã Hà Đông, điển

hình như các xã Dương Nội, La Khê, Vạn Phúc, Kiên Hưng Ngoài ra còn có làng dệt Triều Khúc -Thanh Trì trước kia thường sản xuất theo hộ gia đình, nay đã hình thành nhiều tổ hợp sản xuất, hợp tác xã, công ty tư nhân với vài chục đến vài trăm lao động Ví dụ như cơ sở dệt lụa tơ tằm cao cấp của ông Triệu Văn Mão (Vạn Phúc – Hà Đông) thu hút khoảng 100 lao động chuyên và không chuyên

+ Làng nghề vật liệu xây dựng: Các làng nghề này nằm tại các xã ven sông Hồng

như Vân Nam, Hồng Vân, Quang Lãng (thuộc các huyện Thường Tín, Phúc Thọ, Phú Xuyên) hình thành trong khoảng hơn chục năm gần đây nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng cho người dân trong vùng Hàng trăm lò gạch, lò vôi được xây dựng, sử dụng nhiên liệu là củi, than cám, than đá

I.2.2.2 Hiện trạng sản xuất và xu thế phát triển làng nghề ở Hà Nội

a) Hiện trạng sản xuất làng nghề ở Hà Nội

Nhìn chung hiện nay, sản xuất làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội đang phát triển cả về quy mô lẫn loại hình sản phẩm Một số ngành phát triển để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt như ngành sản xuất và chế biến thực phẩm, gốm sứ, đồ gỗ Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và du lịch, ngành dệt nhuộm và thủ công mỹ nghệ đã phát triển rất mạnh mẽ, sản lượng hàng năm không ngừng gia tăng Ngành cơ - kim khí phát triển đã đáp ứng được nhu cầu về thiết bị lao động của người dân trong khu vực

và các vùng lân cận

Trang 25

Ngành chế biến lương thực thực phẩm, chăn nuôi giết mổ phát triển ở một mức

độ nhất định [17], thể hiện qua tình hình sản xuất và khả năng đáp ứng thị trường của một số mặt hàng, cụ thể như:

- Làng bún Phú Đô: sản lượng trung bình của một hộ là khoảng 6 tạ bún/ngày (khoảng hơn 200 tấn/năm), thị trường tiêu thụ chủ yếu là các khu vực trong nội thành Hà Nội và khu vực phụ cận [21]

- Làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Dương Liễu sản xuất các sản phẩm chủ yếu như: bún, miến, bánh đa khô, bột dong riềng, tinh bột nha Toàn xã hiện có trên 1.800 hộ sản xuất nghề (chiếm hơn 70% số hộ) và khoảng 4.500 lao động làm nghề (chiếm 66% lao động trong độ tuổi) khối lượng sản xuất ra hàng năm lên tới trên 100.000 tấn, tổng giá trị đạt trên 300 tỷ đồng.[8]

b)Xu thế phát triển

Xu thế phát triển của làng nghề Hà Nội nói riêng và đồng bằng sông Hồng nói chung là thay đổi ít về số lượng [17], một số làng nghề mới có thể phát triển để đáp ứng yêu cầu của một vài công đoạn hoặc gia công nguyên liệu, bán thành phẩm cho một số các cơ sở sản xuất lớn hoặc các khu công nghiệp quanh vùng Ngành sản xuất vật liệu xây dựng có nguy cơ suy thoái do không có khả năng cạnh tranh với

các cơ sở sản xuất công nghệ, có quy mô lớn và hiện đại

Trong khi đó các ngành nghề như thủ công mỹ nghệ, dệt nhuộm, ươm tơ, chế biến nông sản thực phẩm lại có nhiều biểu hiện của sự phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng của người dân trong nước, xuất khẩu sang các nước bạn Đây là những ngành sản xuất giàu tiềm năng, ví dụ như:

- Các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Dương Liễu, Minh Khai, Cát Quế, Cộng Hoà đang có nhu cầu mở rộng sản xuất, đa dạng sản phẩm và thu hút nhiều lao động đến làm thuê

- Làng nghề dệt Triều Khúc với các sản phẩm như dệt dũi, tua, gù, quai thao nón thúng, làng yên xá có nghề thêu ren, làm guốc đang từng bước phát triển và

ổn định, tiếp cận nhanh với thị trường trong và ngoài nước, có nhiều sản phẩm phục

Trang 26

vụ tiêu dùng trong nhân dân, thu hút nhiều lao động và người thợ có mức thu nhập

ổn định [20]

Làng lụa Vạn Phúc phát triển mạnh nghề dệt lụa tơ tằm truyền thống kết hợp với du lịch là một thế mạnh của thị xã Hà Đông nói riêng, và mô hình này đang là

xu hướng của nhiều làng nghề truyền thống

I.3 Vai trò của làng nghề trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của thủ đô

I.3.1 Những đóng góp về kinh tế

Năm 2009, giá trị sản xuất của các làng nghề Hà Nội đã đạt khoảng 7.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 10% tổng giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp toàn thành phố Trong đó, riêng 256 làng nghề đã được công nhận là làng nghề truyền thống (tính đến hết năm 2008) đã đạt giá trị sản xuất 4.791 tỷ đồng [13 ] Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8% - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng không ngừng tăng lên Trung bình mỗi cơ sở tư nhân tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8 - 10 lao động thời vụ; các hộ sản xuất cá thể

có từ 4 - 6 lao động thường xuyên và 2 - 5 lao động thời vụ với mức lương trung bình 500.000/tháng Ở những làng nghề thêu ren, dệt, mây tre đan, những cơ sở lớn có thể thu hút 200 - 250 lao động[8]

Làng nghề thực sự đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động

Trong số hơn 1.200 làng nghề của Hà Nội kể trên, có gần 100 làng nghề đạt doanh số 10 – 20 tỷ đồng/năm, 70 làng nghề đạt 20–50 tỷ đồng/năm, 20 làng nghề đạt trên 50 tỷ đồng/năm [13] Đặc biệt, một số làng nghề đạt doanh số rất cao như làng gốm sứ Bát Tràng (huyện Gia Lâm) đạt 283 tỷ đồng/năm; làng nghề La Phù (huyện Hoài Đức) chuyên sản xuất hàng dệt kim và làm bánh kẹo đạt 587 tỷ đồng/năm; làng nghề mộc Vạn Điểm (huyện Thường Tín) đạt 105 tỷ đồng [12]

Trang 27

Các làng nghề đã thu hút hơn 626.000 lao động với thu nhập bình quân 13,1 triệu đồng/người/năm Trong năm 2009, giá trị sản xuất làng nghề của Hà Nội đạt 7.650 tỷ đồng, chiếm 26% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh và 8,4%

giá trị sản xuất công nghiệp toàn Thành phố [12]

I.3.2 Những đóng góp trong phát triển văn hóa – xã hội

Sản xuất ở các làng nghề Hà Nội đã góp phần không nhỏ vào cải thiện và phát triển văn hoá – xã hội cho Thủ đô, cụ thể là:

- Giải quyết việc làm cho người lao động: Người nông dân vốn nghèo do thiếu

đất canh tác, lại càng không thể có cuộc sống ở mức trung bình, ổn định do tiến trình đô thị hoá hiện nay diễn ra với tốc độ rất cao Việc làm ở các làng nghề, phố nghề giúp cho người nông dân và một bộ phận thị dân trong nội thành có thu nhập cao và ổn định hơn Nhờ vậy đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện, giảm đáng kể những tệ nạn xã hội

- Thay đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Phát triển sản xuất nghề có

tác dụng rõ rệt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngoại thành, góp phần tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, thương mại của thành phố lên 70 – 80%, giảm tỷ trọng nông nghiệp xuống 20 – 30% [19] Khi đất đai bị thu hẹp, sản xuất nông nghiệp được phát triển theo hướng thâm canh, nâng cao hiệu quả sử dụng đất

- Làng nghề cũng góp phần đa dạng hoá các hoạt động kinh tế: Thực hiện chủ

trương phát triển mọi loại hình kinh tế, đặc biệt là phát huy và mở rộng kinh tế tập thể và tư nhân tạo việc làm cho người lao động Tuy nhiên hoạt động của làng nghề cũng góp phần tăng dân số cơ học do sử dụng lao động từ các địa phương khác (thời

vụ hoặc thường xuyên)

- Nâng cao đời sống nông dân, thay đổi bộ mặt ở nông thôn Những làng có

nghề nhìn chung đời sống vật chất cơ sở hạ tầng khá hơn nhiều so với những làng thuần nông: có nhà văn hóa, cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm y tế) khá đầy

đủ và khang trang Sản xuất nghề phát triển góp phần duy trì và phát huy bản sắc

Trang 28

văn hoá của kinh đô Thăng Long, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao và ngày càng tinh xảo hơn Nhiều mặt hàng như mây tre đan, gốm sứ, dệt, thêu ren, thủ công

mỹ nghệ là những sản phẩm làng nghề đều mang đậm tính dân tộc và truyền thống

Trang 29

CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG Ở

CÁC LÀNG NGHỀ HÀ NỘI VÀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT

HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG Ở MỘT SỐ LÀNG NGHỀ

Ô NHIỄM ĐIỂN HÌNH II.1 Hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề Hà nội

Cùng với quá trình mở rộng sản xuất kinh doanh tại các làng nghề, lượng chất thải gây ô nhiễm phát sinh ngày càng nhiều Trong khi đó, việc quản lý và xử lý chất thải chưa được chú trọng giải quyết, tình trạng ô nhiễm môi trường gia tăng

Ô nhiễm môi trường không phải là vấn đề riêng của thành phố Hà Nội mà là vấn đề bức xúc chung trong cả nước Ô nhiễm môi trường ở các làng nghề thường mang một số đặc điểm sau:

- Thứ nhất, ô nhiễm môi trường làng nghề gây ô nhiễm phân tán trong phạm vi hẹp (trong phạm vi làng nghề)

- Thứ hai, ô nhiễm môi trường làng nghề mang tính đặc thù của hoạt động sản xuất, thay đổi theo ngành nghề và loại hình sản phẩm, tác động trực tiếp tới môi trường nước, không khí và đất trong khu vực

- Cuối cùng, ô nhiễm môi trường làng nghề thường cao tại khu vực sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của người lao động [17]

Tổng hợp các dạng chất thải chính phát sinh từ một số loại hình sản xuất điển hình ở các làng nghề Hà Nội được thể hiện dưới dạng Bảng II.1

Trang 30

Bảng II.1 Chất thải tại môt số làng nghề điển hình [9]

TT Làng nghề Khí thải Nước thải Chất thải

rắn

Các dạng ô nhiễm khác

Dầu mỡ và kim loại nặng

xỉ than, rỉ sắt, vụn kim loại

và cặn thuốc nhuộm

Ô nhiễm nhiệt, tiếng ồn, độ rung

II.1.1 Hiện trạng nước thải và vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề Hà Nội

Các làng nghề ở Hà Nội, đặc biệt là các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm như Cát Quế, Dương Liễu, Minh Khai, Cộng Hoà hay những làng nghề dệt nhuộm như Vạn Phúc, Phùng Xá, Dương Nội là những làng nghề có phát sinh lượng nước thải sản xuất khá lớn [9]

Trang 31

Mỗi ngày, các Làng nghề Hà Nội xả thải ra môi trường một lượng nước thải

khổng lồ Theo thống kê năm 2008 của sở công thương thì lượng nước thải từ các

làng nghề Hà Nội (mở rộng) thải ra môi trường là 3.352,36 m3/ngày [26]

Khối lượng nước thải ở một số làng nghề điển hình được thể hiện trong Bảng

II.2

Bảng II.2 Khối lượng nước thải tại các làng nghề Hà Nội [4, 9, 13, 21]

STT Tên các làng nghề tại Hà Nội lượng nước thải (m 3 /ngày)

8 Mây tre giang đan 2 -3 (m3/ngày/1cơ sở)

Bảng II.2 cũng cho thấy: Chế biến nông sản thực phẩm và dệt nhuộm là

những loại hình sản xuất gây phát sinh một lượng khá lớn nước thải, 100% mẫu

nước thải ở các làng nghề Hà Nội có thông số vượt quá TCCP Nước mặt, nước

ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm Ô nhiễm môi trường nước ở các làng nghề chế biến

nông sản thực phẩm, dệt nhuộm là rất điển hình, đặc biệt nước thải có hàm lượng

các chất ô nhiễm cao: BOD lớn (có khi lên đến hơn 2.000mg/l), giá trị COD gấp 3,2

lần đến 8,93 lần so với tiêu chuẩn cho phép như tại làng sản xuất bún, sản xuất và

chế biến tinh bột xã Minh Khai [28]

a) Chất lượng nước thải ở một số làng nghề điển hình

Ở làng nghề dệt nhuộm, nước thải sinh ra chủ yếu từ quá trình tẩy, nhuộm và

giặt Nước thải này chứa nhiều chất gây ô nhiễm như độ màu, dư lượng hoá chất,

hàm lượng chất hữu cơ cao Tổng lượng nước thải (từ quá trình nhuộm) của một số

Trang 32

làng nghề có quy mô sản xuất lớn biến động từ 550 – 2.350m3/ngày [ 9 ] Toàn bộ

lượng nước thải này không được xử lý mà thải trực tiếp ra nguồn tiếp nhận

Nước thải dệt nhuộm có hàm lượng cặn lơ lửng, amoni lớn vượt TCCP từ 1,2 – 18 lần; độ mầu và hàm lượng COD cao hơn tiêu chuẩn từ 142,9 – 323,7 lần Đặc biệt là nước thải nhuộm có hàm lượng COD là 25.892 mg/l, vượt tiêu chuẩn thải là 323,7 lần; hàm lượng BOD là 8.521mg/l vượt tiêu chuẩn là 170,4 lần

Trang 33

Bảng II.3 Đặc trưng nước thải dệt nhuộm [9]

Trong đó: W1 : Nước thải nhuộm tại thôn Độc Lập, Vạn Phúc, Hà Đông

W2 : Nước thải giặt nhuộm tại thôn Độc Lập, Vạn Phúc, Hà Đông

W3 : Nước thải dệt nhuộm tại thôn Bạch Đằng, Vạn Phúc, Hà Đông

Trang 34

Nhìn chung nước thải của các làng nghề dệt nhuộm có độ ô nhiễm cao đến rất cao

Đặc trưng nước thải làng nghề chế biến nông sản thực phẩm: Sản xuất ở một

số làng nghề chế biến nông sản thực phẩm thường theo mùa vụ; quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu; khu vực sản xuất chật hẹp (thường sản xuất tại gia đình) nên nguồn thải phát sinh từ quá trình sản xuất không được xử lý đã gây tác động tới môi trường Đặc biệt là nước thải có chứa hàm lượng hữu cơ cao với khối lượng thải lớn Đây là môi trường thuận lợi để các vi sinh vật hoạt động, tạo ra các khí ô nhiễm

có mùi khó chịu

Trang 35

Bảng II.4 Đặc trưng nước thải làng nghề CBNSTP [9]

Trong đó: N1: Nước thải chế biến tinh bột sắn, Cộng Hoà, Quốc Oai

N2: Nước thải chung của làng nghề CBNSTP Cộng Hoà, Quốc Oa i

Hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải cao, nước tách bột đen có hàm lượng chất hữu cơ rất cao: so với TCCP, COD là 16.640 mg/l cao hơn 208 lần, BOD5 cao hơn 265 lần, Nitơ amoni cao hơn 18,7 lần, tổng nitơ cao hơn 7,92 lần,

tổng photpho cao hơn 1,03 lần [9] Đây là số liệu điều tra năm 2008 Hiện mức độ ô

Trang 36

Nguyên nhân của sự gia tăng ô nhiễm là sự mở rộng quy mô sản xuất không theo quy hoạch và vấn đề xử lý nước thải cho đến nay hầu như vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề là vấn đề nóng trên các thông tin đại chúng Hàng ngày hàng giờ, người dân ở các làng nghề vẫn sản xuất, vẫn xả thải và vẫn phải sống chung với sự ô nhiễm ngày một nặng nề

Bảng II.5 Tải lượng ô nhiễm trong nước thải của một số làng nghề

chế biến nông sản thực phẩm [17] Làng nghề (tấn/năm) sản phẩm (tấn/năm) COD BOD 5

(tấn/năm)

SS (tấn/năm) Bún

b) Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt:

Theo kết quả khảo sát vào tháng 12/2006 của PGS.TS Nguyễn Thị Quỳnh Hương, nước mặt tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm có độ ô nhiễm hữu

cơ cao đến rất cao: giá trị COD lớn hơn giới hạn cho phép từ 17,8 – 24 lần; BOD

lớn hơn giới hạn cho phép từ 15 - 21,6 lần; Coliform lớn hơn từ 320 – 410 lần [ 9 ]

Trang 37

Bảng II.6 Chất lượng nước mặt ở một số làng nghề

chế biến nông sản thực phẩm [9 ]

lý của người sản xuất không muốn thay đổi

Những năm gần đây cũng đã có cơ giới hoá đáng kể trong các công đoạn sản xuất nhưng thiết bị cơ giới chỉ chú trọng đến năng suất

- Ý thức người dân về bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế: BVMT với họ là một gánh nặng về kinh tế Họ cố gắng tìm cách dấu diếm hay lẩn tránh khi có sự can thiệp để

- Khả năng về vốn rất hạn hẹp nên cơ sở khó có khả năng đầu tư cho xử lý chất thải, cải tiến công nghệ, thay đổi thiết bị

Trang 38

Những nguyên nhân cơ bản trên đưa đến một kết cục là nước sau sản xuất được xả thải tự nhiên vào các cống rãnh, các sông hồ trong khu vực Nguồn nước mặt ở đây phải gánh chịu sự ô nhiễm như một điều hiển nhiên

+) Nước mặt tại các làng nghề dệt nhuộm: Các quá trình nhuộm, chuội, giặt…

xả vào môi trường lượng lớn nước thải Trước khi nhuộm, vải được chuội bằng

nước nóng, sà phòng, sô đa và có thể có thêm chất tẩy trắng Nước thải sau chuội gây ô nhiễm nhiệt và chứa nhiều hoá chất độc hại Sau chuội, vải được giặt sạch, rồi nhuộm màu bằng phương pháp thủ công Sau đó sản phẩm được giặt, và làm khô Toàn bộ lượng nước thải không được xử lý mà xả trực tiếp vào nguồn tiếp nhận dẫn đến nước mặt bị ô nhiễm

+) Các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm là một trong những loại hình sản xuất có ảnh hưởng nặng nề tới môi trường, trong đó nguồn nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất

Ở làng bún Phú Đô có gần 600 hộ gia đình làm bún, trung bình mỗi gia đình sản xuất từ 50-70 kg bún một ngày Trong quá trình làm bún có công đoạn ủ chua bột, sau tách lấy bột Nước chua được đổ thẳng vào cống chung, rồi chảy vào mương của thôn, xã gây nên mùi xú uế khó chịu

Trang 39

Bảng II.7 Chất lượng nước mặt ở một số làng nghề dệt nhuộm [9]

Chỉ tiêu Dương Nội Vạn Phúc Phùng Xá 08:2008/BTNMT QCVN

Đáng chú ý là nước mặt của một số nguồn tiếp nhận nước thải từ các cơ sở có

độ màu cao đến mức có thể nhận biết được bằng mắt thường

c) Hiện trạng chất lượng môi trường nước dưới đất:

Hiện nay các nguồn nước ngầm ở làng nghề Hà Nội đang chịu ảnh hưởng của rất nhiều nguồn ô nhiễm khác nhau, đặc biệt là ảnh hưởng của nguồn nước thải sản xuất ở làng nghề

Kết quả khảo sát chất lượng nước ngầm tại một số làng nghề do Trung tâm

kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp thực hiện tháng 5 năm 2006 được thể hiện ở Bảng II.8 và II.9:

Trang 40

Bảng II.8 Chất lượng nước dưới đất tại một số làng nghề

Chất lượng nước giếng dùng cho sinh hoạt tại các làng nghề hầu hết không đảm bảo yêu cầu vệ sinh, một số chỉ tiêu vượt tiêu chuẩn phép:

- Nước giếng của làng nghề cơ kim khí có chì (Pb), crôm (Cr) vượt tiêu chuẩn cho phép và độ pH thấp

Ngày đăng: 18/07/2017, 22:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
27. Tin kinhte.com (5/7/2010), cải tạo môi trường làng nghề huyện Hoài Đức. Trích trong bài viết “Môi trường” của PV Nguyễn Mai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường
1. Đinh Thị Lan Anh (2008), Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn cho làng nghề chế biến miến dong Dương Liễu Khác
2. Đặng Kim Chi (2005) KC.08.09, phân tích công nghệ và nguồn thải chính gây ô nhiễm môi trường đối với loại hình làng nghề Dệt nhuộm Khác
3. Đặng Kim Chi (2005) KC.08.09, phân tích công nghệ và nguồn thải chính gây ô nhiễm môi trường đối với loại hình làng nghề CBNSTP Khác
4. Đặng Kim Chi KC.08.09, Tài Liệu hướng dẫn áp dụng các giải pháp cải thiện môi trường cho làng nghề CBNSTP Khác
5. Đặng Kim Chi KC.08.09, Tài Liệu hướng dẫn áp dụng các giải pháp cải thiện môi trường cho làng nghề Dệt Nhuộm Khác
6. Đặng Kim Chi (2006), làng nghề Việt Nam và Môi trường Khác
7. Thu Cúc (8/2010), Hà Nội- Làng nghề đồng hành với du lịch Khác
8. Nguyễn Thị Kim Dung (6/2006) quản lý và bảo vệ làng nghề nông thôn đồng bằng sông Hồng. tr - 37 Khác
9. Nguyễn Thị Quỳnh Hương (2007), Thực trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ở Hà Nội và Hà Tây. Nxb, ĐHXD Hà Nội Khác
10. Mai Thế Hớn (2000), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH – HĐH ở vùng ven thủ đô Hà Nội Khác
11. Phan Thị Quỳnh Lê (2006), Thực trạng môi trường và quản lý môi trường tại làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc Khác
12. Nguyễn Thăng Long (2008), Một số vấn đề liên quan đến môi trường làng nghề Khác
13. Đặng Nguyễn (20/02/2010), Hà Nội có nhiều làng nghề trăm tỷ. Nxb báo VnEConomy Khác
14. Chu Thái Thành(2009), làng nghề và giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề. Tr-12 Khác
15. Quỳnh Trang (3/02/2010), Hà Nội có thêm 16 Làng nghề được vinh danh. Nxb, báo VnEConomy Khác
16. Antoanlaodong. Gov. vn. (4/2009) ô nhiễm môi trường, thực trạng đáng báo động Khác
17. Bộ tài nguyên môi trường. báo cáo môi trường quốc gia 2008. Môi trường làng nghề Việt Nam Khác
18. Bộ tài nguyên môi trường. Báo cáo môi trường quốc gia 2006 Khác
19. Bộ tài nguyên môi trường. Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng II.1. Chất thải tại môt số làng nghề điển hình [9] - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
ng II.1. Chất thải tại môt số làng nghề điển hình [9] (Trang 30)
Bảng II.2. Khối lượng nước thải tại các làng nghề Hà Nội [4, 9, 13, 21] - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
ng II.2. Khối lượng nước thải tại các làng nghề Hà Nội [4, 9, 13, 21] (Trang 31)
Bảng II.3. Đặc trưng nước thải dệt nhuộm [9] - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
ng II.3. Đặc trưng nước thải dệt nhuộm [9] (Trang 33)
Bảng II.5. Tải lượng ô nhiễm trong nước thải của một số làng nghề - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
ng II.5. Tải lượng ô nhiễm trong nước thải của một số làng nghề (Trang 36)
Bảng II.6. Chất lượng nước mặt ở một số làng nghề - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
ng II.6. Chất lượng nước mặt ở một số làng nghề (Trang 37)
Bảng II.7. Chất lượng nước mặt ở một số làng nghề dệt nhuộm [9] - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
ng II.7. Chất lượng nước mặt ở một số làng nghề dệt nhuộm [9] (Trang 39)
Bảng II.8. Chất lượng nước dưới đất tại một số làng nghề - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
ng II.8. Chất lượng nước dưới đất tại một số làng nghề (Trang 40)
Bảng II.9. Chất lượng nước dưới đất tại một số làng nghề DN [9 ] - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
ng II.9. Chất lượng nước dưới đất tại một số làng nghề DN [9 ] (Trang 41)
Hình II.1. Quy trình dệt nhuộm kèm dòng thải tại làng nghề Vạn Phúc - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
nh II.1. Quy trình dệt nhuộm kèm dòng thải tại làng nghề Vạn Phúc (Trang 50)
Bảng II.12. Kết quả phân tích đặc trưng nước thải dệt nhuộm Vạn Phúc - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
ng II.12. Kết quả phân tích đặc trưng nước thải dệt nhuộm Vạn Phúc (Trang 51)
Bảng II.11. Đặc trưng nước thải dệt nhuộm ở làng nghề Vạn Phúc [11] - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
ng II.11. Đặc trưng nước thải dệt nhuộm ở làng nghề Vạn Phúc [11] (Trang 51)
Bảng II.15. Cơ cấu thu nhập theo ngành nghề chính trong xã (tỷ VNĐ) [1]  Năm Tổng thu - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
ng II.15. Cơ cấu thu nhập theo ngành nghề chính trong xã (tỷ VNĐ) [1] Năm Tổng thu (Trang 54)
Bảng II.16. Sản lượng và giá trị các sản phẩm tại làng nghề Dương Liễu - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
ng II.16. Sản lượng và giá trị các sản phẩm tại làng nghề Dương Liễu (Trang 55)
Hình II.2. Quy trình công nghệ chế biến tinh bột sắn - Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp hiệu quả khả thi, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ô nhiễm điển hình trên địa bàn thành phố hà nội
nh II.2. Quy trình công nghệ chế biến tinh bột sắn (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w