Ngoài bãi rác Soi Nam hoạt động từ trước năm 2011 đã quá tải gây ô nhiễm môi trường thì toàn bộ chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố hiện nay được Công ty TNHH Môi trường đô th
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
PHẠM HỒNG ĐỨC
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP
XỬ LÝ ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN COMPOST
Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐẶNG MINH HẰNG
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ 3
1.1.TỔNGQUANVỀCHẤTTHẢIRẮNSINHHOẠT 3
1.1.1 Định nghĩa về chất thải rắn sinh hoạt 3
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 3
1.1.3 Phân loại chất thải rắn sinh hoạt 3
1.1.4 Lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt 4
1.1.5 Một số ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường và con người 6
1.2.TỔNGQUANVỀCÔNGTÁCQUẢNLÝCHẤTTHẢIRẮNSINHHOẠT 7 1.2.1 Các phương pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt 7
1.2.2 Tình hình phát sinh và quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới 12
1.2.2.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới 12
1.2.2.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới 14
1.2.2.3 Bài học kinh nghiệm 18
1.2.3 Tình hình phát sinh và quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam 20
1.2.3.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam 20
1.2.3.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam 22
a Công tác thu gom 22
b Xử lý chất thải 24
c Định hướng quản lý chất thải rắn tại Việt Nam 24
CHƯƠNG 2 - HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG 27
Trang 42.1.ĐIỀUKIỆNTỰNHIÊN-KINHTẾXÃHỘI 27
2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình, địa chất 27
2.1.1.1 Vị trí địa lý 27
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình 27
2.1.1.3 Đặc điểm địa chất 28
2.1.1.4 Điều kiện về khí tượng 28
2.1.1.5 Điều kiện về thủy văn 29
2.1.2 Điều kiện xã hội 30
2.1.2.1 Dân số và phân bố dân cư 30
2.1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế 32
2.1.3 Định hướng quy hoạch thành phố Hải Dương 32
2.2.HIỆNTRẠNGTHUGOMVÀVẬNCHUYỂNCHẤTTHẢIRẮNSINH HOẠTTẠITHÀNHPHỐHẢIDƯƠNG 37
2.2.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 37
2.2.2 Khối lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt phát sinh 37
2.2.3 Hiện trạng thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt 40
2.2.3.1 Hiện trạng thu gom, vận chuyển 40
2.2.3.2 Đánh giá về hiện trạng thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt của thành phố Hải Dương 44
2.3 HIỆN TRẠNG XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG 45
CHƯƠNG 3 - DỰ BÁO VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT CHO THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG 53
3.1.DỰBÁOKHỐILƯỢNGCHẤTTHẢIRẮNSINHHOẠTPHÁTSINHTẠI THÀNHPHỐHẢIDƯƠNG 53
3.1.1 Dự báo gia tăng dân số tại thành phố Hải Dương 53
3.1.2 Dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh 54
3.2.ĐỊNHHƯỚNGQUẢNLÝCHẤTTHẢIRẮNSINHHOẠT 57
3.2.1 Phương thức ngăn ngừa, giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải rắn sinh hoạt 57
3.2.2 Giải pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt 59
3.2.2.1 Giải pháp chôn lấp hợp vệ sinh 59
3.2.2.2 Giải pháp ủ sinh học (compost) 60
Trang 53.2.3 Lựa chọn vị trí khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt 61
3.2.3.1 Các tiêu chí về lựa chọn vị trí khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt 61
3.2.3.2 Vị trí xem xét để lựa chọn khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt 61
3.2.3.3 Lựa chọn vị trí khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt 62
3.2.4 Cải thiện cơ chế trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị 62
CHƯƠNG 4 - GIẢI PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN COMPOST TẠI THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG 64
4.1.CƠSỞLÝTHUYẾTCỦAQUÁTRÌNHỦPHÂNCOMPOST 64
4.1.1 Quá trình phân giải xenluloza 64
4.1.2 Quá trình phân giải tinh bột 66
4.1.3 Quá trình phân giải đường 68
4.1.4 Quá trình phân giải protein 70
4.1.5 Quá trình phân giải photphat 71
4.2.CÁCPHƯƠNGPHÁPỦPHÂNCOMPOST 71
4.2.1 Phương pháp ủ phân ở chế độ hiếu khí 71
4.2.2 Phương pháp ủ phân ở chế độ yếm khí 74
4.2.3 Công nghệ ủ phân compost 78
a Công nghệ ủ đống có cấp khí cưỡng bức hai chiều 78
b Công nghệ ủ đống có đảo trộn 79
c Công nghệ hầm lò tuynel 80
d Công nghệ ủ compost trong lò quay modul 80
4.3.GIẢIPHÁPXỬLÝCHẤTTHẢIRẮNSINHHOẠTĐỂSẢNXUẤTPHÂN COMPOSTTẠITHÀNHPHỐHẢIDƯƠNG 81
4.3.1 Giới thiệu về dự án xây dựng nhà máy chế biến phân hữu cơ thành phố Hải Dương 81
4.3.2 Nhà máy chế biến phân hữu cơ tại xã Việt Hồng - Thành Hà 81
4.3.3 Quy trình vận hành của Nhà máy chế biến phân hữu cơ 83
4.3.4 Chất lượng sản phẩm của nhà máy chế biến phân hữu cơ 86
4.3.5 Đánh giá hiệu quả hoạt động của nhà máy chế biến phân hữu cơ 88
4.3.5.1 Đánh giá về mặt kinh tế 88
4.3.5.2 Đánh giá về mặt môi trường 88
4.3.5.3 Đánh giá về mặt xã hội 89
Trang 64.3.6 Đánh giá giải pháp xử lý CTR sinh hoạt để sản xuất phân compost tại
thành phố Hải Dương 89
4.4.ĐỀXUẤTCÁCGIẢIPHÁPQUẢNLÝCHẤTTHẢIRẮNSINHHOẠT TẠITHÀNHPHỐHẢIDƯƠNG 90
4.4.1 Đề xuất giải pháp phân loại rác tại nguồn 90
4.4.2 Đề xuất giải pháp thu gom và tập kết chất thải rắn sinh hoạt 92
4.4.2.1 Đối với giải pháp thu gom 92
4.4.2.2 Đối với giải pháp tập kết chất thải rắn sinh hoạt 94
4.4.2.3 Đề xuất một số phương án nâng cao hiệu quả xử lý 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 101
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phạm Hồng Đức
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS Đặng Minh Hằng – Viện
Khoa học và Công nghệ Môi trường – Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, người
đã tận tình quan tâm, tạo điều kiện và chỉ bảo em hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này em cũng xin cám ơn các thầy, các cô và các cán bộ công tác tại Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường– Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, đã giúp đỡ và huớng dẫn em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi cũng gửi lời cám ơn tới các cơ quan có liên quan đã giúp tôi rất nhiều trong việc thu thập các thông tin, số liệu liên quan đến đề tài
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, cơ quan và bạn bè đã động viên tích cực, luôn chia sẻ và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hải Dương, ngày 04 tháng 11 năm 2014
Phạm Hồng Đức
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: CTR phát sinh tại một số tỉnh, thành phố năm 2010 4
Bảng 1.2: Thành phần CTR SH tại đầu vào của các bãi chôn lấp của một số địa phương: Hà Nội, Hải Phòng , Đà Nẵng, Tp HCM (1) và Bắc Ninh (2) năm 2009-2010 5
Bảng 1.3: Thực trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt của nước ta 21
Bảng 2.1: Thống kê dân số thành phố Hải Dương năm 2012 31
Bảng 2.2: Thành phần CTR sinh hoạt ở thành phố Hải Dương 38
Bảng 2.3: Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng ngày tại các phường, xã dân cư trên địa bàn thành phố Hải Dương năm 2012 39
Bảng 2.4: Lượng CTR sinh hoạt thu gom trên địa bàn Tp Hải Dương 40
Bảng 2.5: Các điểm tập kết rác tại Thành phố Hải Dương 42
Bảng 2.6: Đánh giá chung về năng lực vận chuyển CTR tại TP Hải Dương 44
Bảng 2.7: Năng lực của nhà máy chế biến phân hữu cơ 47
Bảng 3.1: Tỷ lệ tăng dân số của thành phố Hải Dương (%) 53
Bảng 3.2: Dự báo tốc độ gia tăng dân số thành phố Hải Dương đến năm 2020 54
Bảng 3.3: Dự báo lượng CTR sinh hoạt phát sinh tại các phường, xã 56
của TP Hải Dương đến năm 2020 56
Bảng 3.4: Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại TP Hải Dương đến năm 2020 57
Bảng 3.5: Dự báo lượng CTR SH được thu gom tại TP Hải Dương 57
đến năm 2020 57
Bảng 3.6: Bảng đánh giá sơ bộ vị trí khu xử lý 62
Bảng 4.1: Kết quả phân tích chất lượng phân hữu cơ của Nhà máy 87
Bảng 4.2: Lượng chất thải rắn sinh hoạt theo tỷ lệ thu gom % 93
Bảng 4.3: Số lượng phương tiện cần để vận chuyển 94
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 3
Hình 1.2: Hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị 9
Hình 2.1 Sơ đồ quy trình xử lý chất thải rắn sinh hoạt 46
Hình 2.2: Quy trình đốt rác và hệ thống xử lý khói thải 48
Hình 2.3: Quy trình công nghệ tái chế nhựa 49
Hình 2.4: Quy trình vận hành bãi chôn lấp 50
Hình 2.5: Quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt trên địa bàn TP Hải Dương 52
Hình 4.1: Quy trình Nhà máy chế biến phân hữu cơ Hải Dương 82
Hình 4.2: Mẫu thùng chứa rác thực hiện phân loại tại nhà 91
Hình 4.3: Mẫu thùng chứa rác thực hiện phân loại tại khu công cộng 92
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Thành phố Hải Dương trực thuộc tỉnh Hải Dương nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Năm 1997, Chính phủ ban hành Nghị định 88/CP thành lập thành phố Hải Dương và là đô thị loại III, năm 2009 thành phố Hải Dương là thành phố đạt tiêu chuẩn đô thị loại II thuộc tỉnh Hải Dương, là trung tâm công nghiệp - dịch vụ thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Cùng với tốc độ đô thị hóa, tình trạng rác thải nhiều năm nay là vấn
đề bức xúc ở thành phố Hải Dương Vì vậy với sự gia tăng dân số và mức sống ngày một tăng cao là nguyên nhân chính dẫn đến việc tăng khối lượng rác thải sinh hoạt tăng đột biến về thành phần và tỷ trọng rác thải
Ngoài bãi rác Soi Nam hoạt động từ trước năm 2011 đã quá tải gây ô nhiễm môi trường thì toàn bộ chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố hiện nay được Công ty TNHH Môi trường đô thị thu gom, hàng ngày vận chuyển về nhà máy chế biến phân hữu cơ Tuy nhiên so với thực tế thì khoảng 83% lượng rác được thu gom
về Nhà máy Mặc dù được sự quan tâm của các cấp chính quyền nhưng công tác thu gom rác trên địa bàn thành phố vẫn chưa được triệt để Trong khi đó, xử lý CTR theo phương pháp ủ sinh học sản xuất phân compost là một hướng đi mới, mang lại nhiều lợi ích như tiết kiệm chi phí chôn lấp rác, tận dụng được nguồn tài nguyên rác, tạo công ăn việc làm cho người dân
Vì vậy với đề tài: “Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại
thành phố Hải Dương và giải pháp xử lý để sản xuất phân compost” được thực
hiện nhằm đánh giá hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố, trên cơ sở đó đánh giá giải pháp xử lý để sản xuất phân compost áp dụng tại thành phố Hải Dương Từ đó đưa ra các đề xuất giải pháp quản
lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hải Dương
Trang 132 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển và quản lý CTRSH của thành phố Hải Dương Đề tài sẽ đánh giá giải pháp xử lý để sản xuất phân compost tại thành phố Hải Dương, từ đó đưa ra các đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hải Dương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn sinh hoạt
Phạm vi nghiên cứu: Thành phố Hải Dương
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu, phương pháp phân tích, đánh giá trong quá trình thực hiện
Nội dung chính của luận văn được thể hiện trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt và công tác quản lý
Chương 2: Điều kiện kinh tế - xã hội và hiện trạng thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hải Dương
Chương 3: Dự báo, định hướng quản lý và hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hải Dương
Chương 4: Giải pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt để sản xuất phân compost tại thành phố Hải Dương
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
1.1.1 Định nghĩa về chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải rắn liên quan đến các hoạt động sinh hoạt của con người, nguồn gốc tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, trung tâm dịch vụ, thương mại Chất thải rắn sinh hoạt gồm thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, vỏ, rau quả, kim loại, sành sứ thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, xương động vật, lông gà, [13]ư
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt [10]
Rác thải được phát sinh từ các nguồn khác nhau, tùy thuộc vào các hoạt động
mà rác được phân chia thành các loại như hình 1.1:
Hình 1.1: Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Qua hình 1.1 ta thấy chất thải rắn sinh hoạt được thải ra từ nhiều hoạt động khác nhau như: Các khu dân cư, khu thương mại, cơ quan công sở, các hoạt động công nông nghiệp, tuy nhiên hàm lượng và thành phần rác thải ở các khu vực là khác nhau, trong đó rác thải sinh hoạt chiếm đa số
1.1.3 Phân loại chất thải rắn sinh hoạt [10]
Tùy thuộc vào nguồn gốc phát sinh và tính chất của chất thải rắn sinh hoạt mà
có nhiều cách phân loại CTRSH khác nhau, sau đây là một số cách phân loại cơ bản:
Khu
dân cư
Khu thương mại,khách sạn,
Công trường xây dựng
Cơ quan công sở
Khu công cộng, nhà ga,
công nghiệp, nông nghiệp,
Chất thải rắn
SH
Trang 15Dựa vào hàm lượng hữu cơ, vô cơ ta có thể chia như sau:
Rác hữu cơ: Là những loại rác thải trong sinh hoạt, ăn uống hàng ngày
Rác vô cơ: Là những loại rác có khả năng tái sử dụng như giấy tờ, sách báo, hộp nhựa, nilon,
Loại thủy tinh: Chai, lọ,
Dựa vào đặc điểm, rác thải được chia thành rác thải thực phẩm, rác thải bỏ
đi, rác thải nguy hại
Rác thải thực phẩm: Bao gồm các thực phẩm thừa thãi không ăn được sinh ra trong khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn,
Rác thải bỏ đi: Bao gồm các rác thải không sử dụng được hoặc không có khả năng tái chế sinh ra từ các hộ gia định, công sở hoạt động thương mại,
Rác thải nguy hại, rác thải hóa chất, sinh học, dễ cháy, dễ nổ hoặc mang tính phóng xạ theo thời gian có ảnh hưởng đến đời sống con người, động vật, thực vật
1.1.4 Lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt
Theo thống kê của Bộ tài Nguyên và Môi trường - Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2011 - chất thải rắn thì tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng ngày ở một số tỉnh, thành như sau:
Bảng 1.1: CTR phát sinh tại một số tỉnh, thành phố năm 2010
Loại đô thị, vùng Đơn vị hành chính Lượng CTR SH phát
Trang 16Thành phần CTR SH phụ thuộc vào mức sống ở một số đô thị Mức sống, thu nhập khác nhau giữa các đô thị đóng vai trò quyết định trong thành phần CTR
SH [1]
Bảng 1.2: Thành phần CTR SH tại đầu vào của các bãi chôn lấp của một số địa phương: Hà Nội, Hải Phòng , Đà Nẵng, Tp HCM (1) và Bắc Ninh (2)
năm 2009-2010 STT Thành phần Hà Nội
(Nam Sơn)
Hải Phòng (Tràng Cát)
Đà Nẵng (Hòa Khánh)
HCM (Đa Phước)
Bắc Ninh ( Thị trấn Hồ)
Qua số liệu ta thấy trong thành phân rác thải đưa đến các bãi chôn lấp, thành phần rác có thể sử dung làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ rất cao từ 53 - 68,% ;
Trang 17tiếp theo là thành phần nhựa 9-14%; thành phần kim loại đến khoảng 2%, chất thải nguy hại bị lẫn vào chất thải sinh hoạt nhỏ hơn 1%
1.1.5 Một số ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường và con người
1.1.5.1 Ảnh hưởng chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường
Hiện nay tổng lượng rác thải sinh hoạt thải ra ở các đô thị nước ta vào khoảng 50.000 tấn/ngày, nhưng mới chỉ thu gom được khoảng 55- 60% Điều kiện chủ yếu để đảm bảo tốt công tác vệ sinh môi trường ở khu dân cư đô thị là phải có
kế hoạch làm sạch và quét dọn thường xuyên các chất thải rắn, đó là các loại rác sinh hoạt: thức ăn dư thừa, các loại rác đường phố… Rác thải thu gom được chủ yếu đổ vào các bãi rác một cách tạm bợ, mà chưa được xử lý, chôn lấp theo quy
hoạch và hợp vệ sinh nên nó sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường [7]
Khối lượng CTR trong đô thị ngày càng tăng do tác động của quá trình đô thị hóa, gia tăng dân số, phát triển kinh tế- xã hội và sự phát triển về trình độ và tính cách tiêu dùng trong đô thị, dẫn đến chất thải rắn gây ô nhiễm, nhiễm khuẩn với môi trường bao quanh con người như: đất, nước, không khí, nhà ở và các công trình công cộng Lượng rác thải không được xử lý tốt sẽ dẫn đến hàng loạt hậu quả tiêu cực môi trường sống con người
* Đối với môi trường nước: Rác thải hữu cơ trong môi trường nước sẽ bị
phân hủy một cách nhanh chóng Ngoài các sản phẩm này gây mùi hôi thối và độc hại đối với sinh vật thủy sinh Bên cạnh đó còn có nhiều loại vi trùng và siêu vi trùng làm ô nhiễm nguồn nước Đối với rác thải là kim loại gây hiện tượng ăn mòn trong môi trường nước gây nhiễm bẩn nguồn nước nhất là các kim loại Hg, Pb hay các chất phóng xạ
* Đối với môi trường đất: Chất hữu cơ sẽ được phân hủy trong chất tạo
CH4, CO2, nước gây độc cho môi trường Ô nhiễm này cùng với ô nhiễm kim loại nặng, chất độc hại theo nước trong đất chảy xuống mạch nước ngầm, làm ô nhiễm mạch nước ngầm
Trang 18* Đối với môi trương không khí: Các chất thải rắn thường có bộ phận có thể
bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí nhất là rác thực phẩm, nông phẩm không được xử lý kịp thời và đúng kỹ thuật Rác sinh ra các khí NH3, CO2,
CO, H2S, CH4 Nếu không được xử lý thì các khí này sẽ bay vào khí quyển gây nguy hiểm gây nguy hiểm cho sinh vật và môi trường Các nhà môi trường học đã chứng minh rằng 15% tác hại gây ra hiện tượng nhà kính là từ các hiện tượng này
1.1.5.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe con người
CTRSH sau khi phát sinh nếu không được thu gom, xử lý sẽ tồn đọng trong môi trường gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước, không khí Vì vậy, gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏe con người và sinh vật Tại các bãi chôn lấp không được quản lý tốt có thể là môi trường thuận lợi cho bệnh dịch phát sinh và lây lan Sự phân hủy các chất hữu cơ sinh ra các khí độc, đặc biệt khi trời mưa lớn, nước chảy tràn làm khuếch tán chất ô nhiễm trong môi trường nước mặt, ô nhiễm nước ngầm các khu vực xung quanh, đe dọa sức khỏe con người Các loại bệnh thường phát sinh như: bệnh về đường hô hấp, bệnh tiêu chảy, bệnh đau mắt hột,…
1.2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
1.2.1 Các phương pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt
Quản lý CTRSH là tổng hợp các quá trình quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ khâu thu hồi, phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển đến khâu xử lý cuối cùng là tiêu hủy [14]
Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đang là vấn đề nổi lên ở các nước đang phát triển, công tác này được coi như là chỉ số đánh giá sự “chưa phát triển” của các nước này Mặc dù có sự quan tâm của các cơ quan chức năng, sự đầu tư về kinh tế cũng như con người cho vấn đề quản lý chất thải rắn sinh hoạt là không nhỏ song sự yếu kém trong hoạt động của hệ thống quản lý chất thải rắn vẫn đang diễn ra tại các
đô thị của các nước đang phát triển
Trang 19Khi hoạch định các chính sách có liên quan đến chất thải rắn sinh hoạt, mỗi quốc gia đều có một phương thức riêng phù hợp với trình độ phát triển và quản lý của đất nước mình Ví dụ ở nhiều nước trên thế giới, phương thức 4R (Recovery, reduce, reuse, recycle), có nghĩa là phương thức thu hồi, giảm thiểu, sử dụng lại và tái chế chất thải rắn đang được áp dụng rộng rãi Sơ đồ tổng thể của hệ thống quản
lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị nói chung và ở phần lớn các đô thị của Việt Nam
nói riêng được trình bày ở hình 1.2
Mô hình quản lý chất thải rắn theo từng đô thị được phổ biến ở những nước đang phát triển, nơi mà trình độ nhận thức môi trường và trình độ kỹ thuật chưa cao, hạn chế do các quy định hành chính Trong mô hình này, tất cả các quá trình quản
lý chất thải rắn sinh hoạt từ thu hồi, thu gom, vận chuyển tới quá trình xử lý tiêu hủy đều được thực hiện trong phạm vi ranh giới hành chính của từng đô thị và phục
vụ cho chính đô thị đó
Hiện nay, việc quy hoạch quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo mô hình từng
đô thị riêng biệt đã bộc lộ nhiều bất cập như: cùng với sự phát triển nhanh chóng của việc đô thị hóa thì việc quy hoạch xác định vị trí khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt thuộc biên giới hành chính của đô thị mà vẫn đảm bảo yêu cầu về khoảng cách ly vệ sinh; việc dành quỹ đất cho khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt là những điều rất khó khăn
Trang 20Hình 1.2: Hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị [14]
Khác với mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo từng đô thị, đối với mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt liên đô thị, tất cả các quá trình trong hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt đều có thể thực hiện không chỉ trong phạm vi một đô thị riêng biệt, mà có thể phục vụ nhiều đô thị cùng một lúc Đặc biệt là quá trình tiêu hủy (bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt hợp vệ sinh hoặc các nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt) luôn phục vụ cho nhiều đô thị Mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt liên đô thị thường áp dụng ở các nước phát triển, nơi có trình độ kỹ thuật
và trình độ nhận thức cao về môi trường
* Phân loại và lưu giữ tại nguồn: Phân loại và lưu giữ chất thải rắn sinh
hoạt tại nguồn bao gồm các hoạt động liên quan tới quản lý chất thải rắn sinh hoạt
từ khi chúng nằm trong các thùng chứa đựng đợi thu gom Quản lý cũng gồm cả sự dịch chuyển các thùng chứa chất thải rắn sinh hoạt tới điểm để thu gom [11] Phân
Gom, nhặt tách và lưu giữ tại nguồn
Thu gom vận chuyển
tái chế
Đổ thải và chôn lấp cuối cùng Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Trang 21loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn là một bước quan trọng đầu tiên trong việc xử
lý Lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt là bước quan trọng tiếp theo vì nó liên quan đến sức khỏe của người dân và mỹ quan đô thị Thùng chứa tạm hoặc thùng chứa hở trên mặt đất, mặc dù không được ưa thích song vẫn thấy sử dụng nhiều ở các khu dân cư và khu thương mại Chi phí mua các thùng chứa thường do chủ hộ gia đình, các cơ sở thương mại hoặc các cơ sở công nghiệp tự bỏ ra
* Thu gom: Thu gom chất thải rắn sinh hoạt là quá trình thu nhặt chất thải
rắn sinh hoạt từ nhà dân, các cơ sở thương mại, cơ sở sản xuất hoặc từ những điểm thu gom, đưa chúng lên xe và chở đến điểm xử lý (hoặc điểm chuyển tiếp, điểm trung chuyển) [11]
Ở các đô thị nhỏ, vị trí đổ cuối cùng thường gần nên việc vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt là vấn đề ít quan trọng Tuy nhiên ở các đô thị lớn việc vận chuyển chất thải rắn tới điểm đổ cuối cùng thường lớn hơn 15 - 20km nên việc tính toán kinh tế vận chuyển rất có ý nghĩa nhằm lựa chọn chiều dài vận chuyển và các phương tiện vận chuyển một cách hợp lý nhất Chi phí thu gom thường chiếm 50% tổng chi phí quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị hằng năm [14]
Cách tổ chức quản lý việc thu gom là rất đa dạng, có thể hợp đồng theo nhiều cách với các công ty dịch vụ đô thị hoặc với các công ty tư nhân về vệ sinh đô thị
* Xử lý, chế biến: Xử lý chế biến chất thải rắn sinh hoạt bao gồm việc thay
đổi các tính chất vật lý, hóa học và sinh học của chất thải rắn sinh hoạt [11] Về cơ bản, việc biến đổi tính chất vật lý, hóa học và sinh học của chất thải rắn sinh hoạt
đô thị nhằm:
- Tăng hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt
- Thu hồi các chất thải rắn có thể sử dụng lại hoặc có thể tái chế được
- Tạo ra sản phẩm sau quá trình chuyển đổi như phân vi sinh, năng lượng có thể sử dụng để đốt hoặc khí biogas Việc chuyển đổi chất thải rắn sinh hoạt dẫn đến giảm quy mô bãi chôn lấp cũng như lượng thải đem đi đốt
* Chế biến rác thải hữu cơ thành phân vi sinh: Chế biến rác thải hữu cơ
thường được sử dụng nhằm chuyển đổi chất thải rắn sinh hoạt thành sản phẩm hữu
Trang 22ích cho con người [11] Tuy nhiên, tùy thuộc vào thành phần chất thải rắn mà chỉ có khoảng 1/2 lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom được (gồm các thành phần hữu cơ hoặc phần dễ cháy) có khả năng chế biến thành phân vi sinh, còn các thành phần khác thì không thể chế biến được do chứa quá nhiều chất khó phân hủy
Ủ sinh học rác thải hữu cơ thành phân vi sinh là quá trình ô xy hóa từng phần
ở nhiệt độ thấp các chất hữu cơ dễ phân hủy, các chất đường đơn giản, các chất béo, các hydrat cacbon trong các mô động vật và thực vật [11] Quá trình này có thể thực hiện trong điều kiện hiếu khí hoặc yếm khí Nhưng hiện nay chủ yếu mới chỉ phát triển công nghệ ủ sinh học hiếu khí
Sản phẩm của các nhà máy chế biến phân vi sinh hiện nay rất khó tiêu thụ do chưa có các tiêu chuẩn chính thức được thừa nhận về thành phần của phân vi sinh
Do thiếu các tiêu chuẩn này, người tiêu dùng thường không yên tâm khi phải dùng các sản phẩm từ chất thải rắn
* Nhiệt phân (Đốt): Đốt cháy chất thải rắn là phương pháp xử lý đã được sử
dụng trong vài thập kỷ nay Trong các nhà máy đốt hiện đại, năng lượng được tạo ra
từ quá trình đốt chất thải rắn được sử dụng để tạo ra điện năng Cho đến những năm
70, các lò đốt chất thải rắn thường không có các thiết bị xử lý không khí do đó gây ô nhiễm môi trường Các lò đốt này chủ yếu chỉ đáp ứng yêu cầu giảm lượng thải Từ sau năm 70 trở đi, Luật môi trường chặt chẽ hơn, các lò đốt đều phải đáp ứng các yêu cầu của mỗi quốc gia về giới hạn của nồng độ các chất ô nhiễm trong khí thải [11] Có hai loại lò đốt chất thải rắn thường gặp nhất là đốt kiểu hỗn hợp và đốt nguyên liệu từ rác Chúng khác nhau ở quá trình tiền xử lý chất thải rắn trước khi đốt, loại lò sử dụng và điều kiện đốt
Trong nhà máy đốt chất thải rắn kiểu hỗn hợp, quá trình tiền xử lý gồm việc kiểm tra và phân loại đơn giản để loại bỏ các chất thải rắn không đốt được, quá cỡ cũng như các chất thải rắn không được phép đốt do tính nguy hại và khả năng dễ gây cháy nổ Sau đó chất thải rắn được dẫn vào khoang đốt Không khí được dẫn xuống dưới và lên trên để thúc đẩy quá trình đốt Các nhà máy đốt rác kiểu hỗn hợp này có thể có quy mô rất lớn, công suất thường khoảng 3.000 tấn/ngày hoặc hơn
Trang 23nữa Tuy nhiên các nhà máy loại này cũng có thể xây dựng ở quy mô nhỏ hơn cho phù hợp với các khu đô thị nhỏ, khoảng 25 tấn/ngày
Trong các nhà máy đốt nguyên liệu từ rác, bắt đầu là quá trình kiểm tra và loại bỏ các chất thải rắn nguy hại, chất thải rắn cồng kềnh, chất thải rắn bằng kim loại, sau đó các chất thải rắn này được cắt thành từng miếng nhỏ Các miếng nhỏ này được nén thành từng khối, sau đó có thể đốt được trực tiếp trong các lò nhỏ hoặc tập trung lại và bán làm nguyên liệu cho nhà máy đốt rác
Năng lượng tạo ra từ quá trình đốt chất thải rắn trong các nhà máy đốt rác kiểu hỗn hợp hoặc trong các nhà máy đốt nguyên liệu từ rác, cuối cùng đều dùng để chạy máy phát điện
* Chôn lấp hợp vệ sinh: Chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt hợp vệ sinh là một
phương pháp kiểm soát sự phân hủy của chất thải rắn khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt Chất thải rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân hủy sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axít hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí như CO2, CH4 Như vậy về thực chất chôn lấp hợp vệ sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị vừa là phương pháp tiêu hủy sinh học, vừa là biện pháp kiểm soát các thông số chất lượng môi trường trong quá trình phân hủy chất thải rắn khi chôn lấp [11]
1.2.2 Tình hình phát sinh và quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới
1.2.2.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới
Dân số, tài nguyên, môi trường và phát triển là vấn đề được quan tâm nhiều nhất của xã hội hiện nay Để đáp ứng được nhu cầu trong cuộc sống, con người luôn mong muốn được phát triển nền kinh tế của mình Nền kinh tế phát triển, đời sống người dân được nâng cao đã kéo theo sự gia tăng chất thải rắn sinh hoạt một cách đáng kể Ví dụ như tại Mỹ, năm 1970 tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh ước tính là 121,1 triệu tấn, trong khi đó năm 2007, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh tại Mỹ vào khoảng 254 triệu tấn, tăng gấp 2,1 lần so với năm 1970 [17]
Trang 24Châu Á có mức tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa nhanh trong vài thập kỷ qua Vấn đề chất thải rắn là một trong những thách thức môi trường mà các nước trong khu vực phải đối mặt Lượng phát sinh chất thải đô thị một số nước Châu Á vào khoảng 0,2 - 1,7 kg/người/ngày
Theo Ngân hàng Thế giới, các khu vực đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị Đến năm 2025, con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày (World Bank, 1999) Tỷ lệ chất thải gia đình trong dòng chất thải rắn
đô thị rất khác nhau giữa các nước Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm tới 60 - 70% ở Trung Quốc; 78% ở Hồng Kông (kể cả chất thải thương mại); 48% ở Philippin và 37% ở Nhật Bản Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1999), các nước có thu nhập cao chỉ có khoảng 25 - 35% chất thải gia đình trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị
Theo nguyên tắc thì các nước có thu nhập cao có lượng phát sinh chất thải rắn đô thị cao Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây ở các nước đang phát triển cho thấy, tỷ lệ phát sinh chất thải tính theo các mức thu nhập khác nhau lại không theo nguyên tắc này Theo kết quả nghiên cứu của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA, 1997), tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị ở Philippin theo các nhóm người có thu nhập khác nhau là: thu nhập cao 0,37 - 0,55 kg/người/ngày; thu nhập trung bình 0,37 - 0,60 kg/người/ngày và thu nhập thấp 0,62 - 0,90 kg/người/ngày Tương tự, các kết quả phân tích tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị theo GDP tính trên đầu người của các nước thuộc OECD, Hoa Kỳ và Ôxtrâylia được xếp vào nhóm các nước có tỷ lệ phát sinh cao; nhiều nước thuộc Liên minh Châu Âu được xếp vào nhóm có tỷ lệ phát sinh trung bình và Thụy Điển, Nhật Bản được xếp vào nhóm có
tỷ lệ phát sinh thấp [18]
Có nhiều nguyên nhân để giải thích các trường hợp này Thứ nhất là, không thống kê được đầy đủ tổng lượng chất thải được tái chế do các hoạt động của khu vực tái chế không chính thức hoặc do phương thức tự tiêu hủy chất thải ở các nước đang phát triển Khu vực tái chế không chính thức ở các nước đang phát triển đã góp phần đáng kể giảm thiểu tổng lượng chất thải phát sinh và thu hồi tài nguyên
Trang 25thông qua các hoạt động tái chế Thứ hai là, năng lực thu gom của các nước đang phát triển còn thấp Ví dụ, năng lực thu gom chất thải rắn đô thị của Ấn Độ là 72,5%; Malaixia là 70%; Thái Lan là 70 - 80% và Philippin là 70% ở đô thị và 40%
ở nông thôn [19] Ngoài ra, tại một số nước có nền kinh tế phát triển, ví dụ như Nhật Bản, mặc dù thành công trong tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn duy trì được tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị thấp so với nhiều nước có GDP cao Từ năm 2000, Nhật Bản mới bắt đầu áp dụng khái niệm mới về xây dựng một “Xã hội tuần hoàn vật chất hợp lý” hay còn gọi là 3R, nhưng từ những năm 1980, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị của Nhật Bản đã ổn định ở mức khoảng 1,1 kg/người/ngày [20]
1.2.2.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới
Quản lý chất thải rắn sinh hoạt được coi là những vấn đề rất quan trọng trong công tác xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường Ở các nước phát triển như Mỹ, các nước Tây Âu, Bắc Âu, Nhật Bản, trình độ quản lý chất thải rắn sinh hoạt đã đạt ở mức độ cao Phương thức quản lý chất thải rắn hiện đang áp dụng ở các nước tập trung vào:
- Giảm thiểu chất thải rắn;
- Thu hồi, tái chế và tái sử dụng lại chất thải;
- Xử lý và thải bỏ chất thải an toàn, hợp vệ sinh
Tuy vậy, mục tiêu của các chiến lược quản lý chất thải rắn sinh hoạt được thực hiện đối với mỗi vùng, mỗi quốc gia không hoàn toàn giống nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như địa hình, mật độ dân cư, hệ thống giao thông, tình hình kinh tế
- xã hội và các quy định về môi trường của từng vùng và quốc gia đó
Ở các nước phát triển, điển hình như Mỹ, Nhật Bản và các nước Tây Âu, năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt đã ở mức cao từ việc phân loại rác tại nguồn, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải đã được tổ chức tốt từ các chính sách pháp luật, công cụ kinh tế, cơ sở hạ tầng tốt, nguồn kinh phí cao và có sự tham gia của nhiều thành phần xã hội Bên cạnh đó, để thực hiện tốt công tác thu gom, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, trình độ dân trí của cộng đồng dân cư cũng đóng vai trò quan trọng Điều này cũng được thể hiện bằng việc thay đổi thói quen
Trang 26của cộng đồng đối với tiêu dùng, nhấn mạnh đến việc sử dụng các sản phẩm có chất lượng tốt, bền và thân thiện với môi trường
Các kinh nghiệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt của một số nước có thể được
mô tả như sau:
* Quản lý chất thải rắn sinh hoạt của Singapore [19]: Singapore có diện
tích lãnh thổ là 619 km2 với 2,6 triệu dân Luật Bảo vệ môi trường tại Singapore chặt chẽ, chế tài xử phạt nghiêm khắc
Tất cả chất thải rắn sinh hoạt đều được phân loại ngay tại nguồn phát sinh và thu gom bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được như: giấy, chai lọ, đồ hộp được đưa về nhà máy tái chế Chất thải rắn sinh hoạt tại Singapore phát sinh
từ các hộ gia đình, được thu gom theo từng cụm khu vực và đưa tới các điểm tập trung để xử lý Việc thu gom chất thải rắn sinh hoạt do các công ty tư nhân đảm nhiệm, nhà nước hỗ trợ tiền xây dựng các nhà máy tiêu hủy chất thải Bộ Môi trường giám sát chặt chẽ việc quản lý chất thải rắn trên phạm vi toàn quốc
Hoạt động của các nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Singapore hoàn toàn dưới sự điều hành của Nhà nước và chi phí hoạt động thu chi đều nộp vào ngân sách và do ngân sách Nhà nước cấp Khi vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tới các nhà máy để đốt, các công ty tư nhân phải trả chi phí xử lý cho nhà máy Chi phí này được tính vào giá thành thu gom vận chuyển mà các hộ gia đình phải chi trả phí vận chuyển cho các công ty tư nhân
Phí thu gom vận chuyển mà các hộ gia đình phải trả khác nhau tùy theo loại nhà ở họ sử dụng Loại nhà ở kiểu biệt thự mức chi phí thu gom cao nhất, sau đó đến nhà ở chung cư của tư nhân và cuối cùng là nhà ở chung cư của nhà nước Do phải chịu các chi phí vận chuyển và xử lý cho từng chuyến xe chở chất thải rắn nên các công ty tư nhân dịch vụ vệ sinh thường kết hợp với các công ty thu hồi và tái chế chất thải rắn, thu hồi các loại chất thải rắn có khả năng tái chế, vừa hạn chế được lượng chất thải rắn phải vận chuyển vừa thu được thêm lợi nhuận
Trang 27Tro đốt sau quá trình xử lý, gồm cả một số kim loại được đóng thành từng kiện và được vận chuyển bằng tàu biển ra một nơi tập trung gần một hòn đảo khác của Singapore, thực hiện quá trình lấn biển, mở rộng đất đai cho quốc gia này
* Quản lý chất thải rắn sinh hoạt của Mỹ [17]: Quản lý chất thải rắn sinh
hoạt ở Mỹ sử dụng 4 “công cụ cơ bản” Tùy theo từng địa phương mà các công cụ này có thể được kết hợp với nhau để giải quyết đáp ứng các yêu cầu riêng của mình
Ở Mỹ lượng chất thải rắn sinh hoạt được tái chế chiếm 27% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng năm Khoảng 16% lượng chất thải rắn được đốt ở các nhà máy biến chất thải rắn thành năng lượng Phần còn lại (57%) được chôn lấp ở các bãi chôn lấp hợp vệ sinh Hầu hết trong số 113 nhà máy chuyển chất thải rắn thành năng lượng ở Mỹ nằm ở những đô thị có mật độ dân số cao hoặc ở những nơi gặp khó khăn trong việc xây dựng các bãi chôn lấp chất thải rắn Các nhà máy này có công suất trung bình khoảng 1.000 tấn/ngày
Cũng như các nhà máy chế biến chất thải rắn thành năng lượng, các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt được quy hoạch trên toàn nước Mỹ nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường Hiện nay ở Mỹ có khoảng 2.900 bãi chôn lấp chất thải rắn đang hoạt động, ít hơn nhiều so với nhiều năm trước Các số liệu khảo sát năm 1995, chỉ ra rằng toàn bộ các bang của nước Mỹ đã tham gia nhập hoặc xuất chất thải rắn không nguy hại Việc đóng cửa các bãi chôn lấp cũ vì lý do môi trường
đã chỉ rõ xu hướng trong tương lai là càng nhiều chất thải rắn sinh hoạt phát sinh thì
cự ly vận chuyển từ nguồn thải tới bãi chôn lấp ngày càng xa Chẳng hạn như việc đóng cửa bãi chôn lấp Fresh Kills, bãi chứa chất thải rắn sinh hoạt duy nhất của dân thành phố New York (thuộc bang New York) được đóng vào ngày 31/12/2001, là việc vận chuyển 13.000 tấn/ngày chất thải rắn sinh hoạt không nguy hại sang các vùng khác, cả trong và ngoài bang New York
+ Quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Thụy Điển [18]: Thụy Điển là một nước phát triển ở khu vực Bắc Âu, với diện tích 449.964 km2, dân số 8,8 triệu người (1998) Chiến lược quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Thụy Điển là giảm thiểu chất thải rắn, thu hồi phế liệu có thể tái chế Hiện nay Thụy Điển đã áp dụng phương
Trang 28pháp và công nghệ tiên tiến để phân loại và thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt (phương pháp hút chân không tự động để thu gom và chất thải rắn sinh hoạt được tự động chuyển đến xe vận chuyển) Theo số liệu thống kê năm 1997, trong tổng số 3.678.000 tấn chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh ở Thụy Điển, có tới 923.000 tấn được thu hồi tái chế sử dụng lại (chiếm 25% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh), trong đó đồ dùng sạch là 50.000 tấn, giấy loại 437.000 tấn, bao bì hộp cat-tong 436.000 tấn, phân hữu cơ 275.000 tấn và 1.330.000 tấn được xử
lý bằng phương pháp đốt thu hồi nhiệt lượng, phần còn lại 1.150.000 tấn cộng với 331.000 tấn tro xỉ thải từ các lò đốt là được xử lý ở khâu cuối cùng tại các bãi chôn lấp hợp vệ sinh
Hiện nay ở Thụy Điển có tổng số 282 bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh với công suất từ 10.000 tấn/năm đến 100.000 tấn/năm với tổng cộng 4,75 triệu tấn chất thải rắn được chôn lấp Bên cạnh việc áp dụng các phương pháp công nghệ tiên tiến để quản lý chất thải rắn sinh hoạt, ở Thụy Điển, sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư trong việc phân loại chất thải rắn ngay tại nguồn phát sinh là trách nhiệm rất lớn từ các cấp chính quyền thành phố đến các nhà sản xuất, cùng với các chính sách thích hợp của chính phủ và nhà nước Thụy Điển
* Quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Nhật Bản [20]:Xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Nhật Bản không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn liên quan đến các yếu tố chính trị, kinh tế và văn hóa Do diện tích lãnh thổ bé, Nhật Bản đang áp dụng phương pháp thiêu đốt để xử lý chất thải rắn sinh hoạt Hiện nay, Nhật Bản có 1.915 xí nghiệp thiêu đốt chất thải rắn đang hoạt động, công suất của xí nghiệp lớn nhất là 1.980 tấn/ngày đêm Sau khi phân loại, 68% chất thải rắn sinh hoạt được chuyển đến các xí nghiệp này Việc thiêu đốt chất thải rắn ở Nhật Bản hiện đang đạt hiệu quả kinh tế nhất thế giới Phần lớn các xí nghiệp có các lò thiêu hủy nhỏ, hoạt động theo chu kỳ, bên cạnh đó có các lò đốt lớn, hoạt động liên tục Tại Nhật Bản, quy mô những xí nghiệp tiêu hủy chất thải rắn lớn nhất cũng nhỏ hơn so với đa số những xí nghiệp tương tự ở Mỹ, song kỹ thuật tiêu hủy ở Nhật Bản hiện đại hơn ở Mỹ
Trang 29+ Quản lý chất thải rắn sinh hoạt của Thái Lan [19]: Quản lý rác thải sinh
hoạt của các khu đô thị ở thủ đô Bangkok được thực hiện trong tổng thể chung toàn thành phố Việc quản lý rác thải do cơ quan Vệ sinh Công cộng (PCD) trực thuộc Toà thị chính (MBA) đảm nhận PCD đã áp dụng nhiều biện pháp quản lý rác thải một cách hiệu quả thông qua thu gom và phân loại trước thu gom theo thành phần rác thải, thu gom theo cụm dân cư tại 50 quận trong thành phố và tại các khu trung tâm như chợ, nơi công cộng bằng xe container
Thái Lan coi vấn đề mấu chốt trong việc gìn giữ vệ sinh môi trường là từ người dân nên việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng được đặc biệt quan tâm Việc giáo dục trẻ em về ý thức vệ sinh môi trường từ khi còn nhỏ như từ việc ý thức phân loại rác thải ngay từ gia đình, tạo thói quen bỏ rác đúng nơi quy định, hạn chế rác thải cũng có tác động không nhỏ đến những người lớn trong gia đình Mặt khác, Thái Lan cũng áp dụng các quy định luật pháp để làm mọi người phải tuân thủ các quy định về vệ sinh môi trường
* Quản lý chất thải rắn sinh hoạt của Indonexia [19]: Ở nước này, chính quyền địa phương chịu trách nhiệm cải thiện cơ sở hạ tầng ở đô thị theo quy định của tổng thống và có trách nhiệm về việc quản lý phế thải theo các thông tư của Chính phủ Không có luật quản lý phế thải nào cho toàn quốc gia nhưng một số thành phố lớn có những thông tư riêng quy định về công tác quản lý chất thải rắn Các chính quyền tỉnh được xếp loại như chính quyền địa phương đầu tiên có trách nhiệm thi hành những luật lệ và hướng dẫn ở cấp tỉnh cùng với chính quyền Trung ương Thành phố và quận huyện là chính quyền địa phương thứ hai chịu trách nhiệm về quản lý chất thải rắn sinh hoạt
1.2.2.3 Bài học kinh nghiệm
Từ việc nghiên cứu tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt của các nước trên thế giới ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:
Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực có tính xã hội hóa rất cao Công tác này thường được thực hiện bởi các tập đoàn, các công ty mẹ Dưới tập đoàn, công ty mẹ là các công ty
Trang 30con Mặc dù vậy, do công tác này có tính xã hội, công ích cao nên phần lớn ở các nước vẫn có sự quan tâm đầu tư của Nhà nước từ các khâu quy định các chính sách
vĩ mô đến các vấn đề quy hoạch tổng thể hoặc lộ trình phát triển các mô hình quản
lý chất thải rắn sinh hoạt cho các đô thị
Để quản lý tốt chất thải, việc kiểm tra giám sát phải được thực hiện chặt chẽ trong từng khâu, từ phân loại đến thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý Xu thế chung công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị của các nước là: Giảm dần tỷ lệ chôn lấp; tăng cường việc giảm thiểu chất thải tại nguồn, phát triển công nghệ tái chế, tái
sử dụng chất thải hoặc kết hợp việc thiêu đốt chất thải khai thác năng lượng Xu thế này đã và đang trở thành mục tiêu phấn đấu của các quốc gia trên thế giới
Việc phân loại chất thải tại nguồn có ý nghĩa quyết định và góp phần to lớn trong việc phát triển công nghệ tái chế, tái sử dụng chất thải, giảm thiểu chôn lấp, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tiết kiệm tài nguyên Vấn đề tái chế, tái sử dụng chất thải rắn sinh hoạt phải được nhận thức sâu rộng từ các cấp lãnh đạo tới từng người dân Ý thức cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt nói chung và trong công tác phân loại chất thải tại nguồn nói riêng
Việc thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng chất thải rắn sinh hoạt ở mỗi
đô thị không phải chỉ do một Công ty nào đó phụ trách hoặc chịu trách nhiệm mà có thể do nhiều công ty khác nhau thực hiện Có như vậy mới tạo sức cạnh tranh và tìm
ra được những công ty hợp lý nhất, tốt nhất
Đối với bất kỳ một quốc gia nào, việc lựa chọn vị trí cho khu xử lý chất thải cũng gặp nhiều khó khăn, rào cản từ cộng đồng dân cư Song các dự án xử lý chất thải vẫn thành công, thậm chí nằm ngay trung tâm các đô thị là nhờ một phần không nhỏ trong khâu đảm bảo không ô nhiễm môi trường xung quanh
Để có được công tác quản lý chất thải một cách hiệu quả, từng bước ở các nước đã ban hành các luật và cơ chế chính sách đi kèm Đây chính là những bài học quý giá có thể áp dụng phù hợp trong điều kiện nước ta hiện nay nói chung và thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nói riêng
Trang 311.2.3 Tình hình phát sinh và quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam 1.2.3.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
Trong những năm vừa qua, sự phát triển của nền kinh tế - xã hội đã làm cho lượng chất thải rắn tăng lên rõ rệt Hiện nay, tổng lượng chất thải rắn phát sinh hàng năm khoảng hơn 32 triệu tấn, trong đó khoảng 80% (25,6 triệu tấn/năm) là chất thải rắn sinh hoạt [11]
Thành phần các chất có trong chất thải rắn sinh hoạt bao gồm: Chất hữu cơ, cao su, nhựa, giấy, bìa carton, giẻ vụn, kim loại, thuỷ tinh, gốm sứ, đất đá, gạch, cát
Tỷ lệ phần trăm các chất có trong rác thải không ổn định, rất biến động theo mỗi địa điểm thu gom rác, khu vực sinh sống và phát triển sản xuất Tỷ lệ thành phần các chất hữu cơ chiếm khoảng 40 - 65% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
Dân số đô thị chỉ chiếm khoảng 24% nhưng mỗi năm phát sinh khoảng 21 triệu tấn chất thải rắn sinh hoạt (chiếm tới xấp xỉ 65% lượng chất thải rắn sinh hoạt trong cả nước), do đô thị có mức sống cao hơn, có nhiều hoạt động thương mại hơn, chất thải ở vùng đô thị thường có thành phần nguy hại lớn như các loại pin, các loại dung môi trong gia đình và các loại chất không phân hủy như nhựa, kim loại, thủy tinh,…Ngược lại, chất thải sinh hoạt nông thôn trung bình trên đầu người chỉ bằng gần một nửa của
đô thị (0,5 kg/người/ngày so với 0,8 kg/người/ngày) Thực trạng phát sinh khối lượng chất thải rắn sinh hoạt của nước ta được trình bày trong bảng 1.3:
Trang 32Bảng 1.3: Thực trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt của nước ta
Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh (tấn/năm)
- Toàn quốc
- Khu vực đô thị
- Khu vực nông thôn
25.620.200 16.895.500 8.724.700 Tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt (kg/người/ngày)
- Toàn quốc
- Khu vực đô thị
- Khu vực nông thôn
0,7 0,8 0,5
Tỷ lệ thu gom (% lượng phát sinh)
- Khu vực đô thị
- Khu vực nông thôn
- Vùng dân cư nghèo
75%
< 30%
10 - 20% Khu xử lý
- Số lượng bãi chôn lấp chất thải rắn toàn quốc
- Số lượng bãi chôn lấp chất thải sau xử lý sinh học
- Bãi thải và bãi chôn lấp chất thải rắn vận hành kém
- Bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh
từ các hộ gia đình chiếm từ 45 - 65%; từ các chợ và các hộ kinh doanh chiếm tỷ lệ
20 - 30%; tỷ lệ chất thải rắn nguy hại thường từ 0,3 - 1% [14]
Thành phần chất thải rắn sinh hoạt thường bao gồm: chất hữu cơ, cao su, nhựa, giấy, bìa cacton, giẻ vụn, vải, da, thủy tinh, gốm sứ, đất đá, cát, gạch vụn, kim loại và một tỷ lệ nhỏ pin, mạch điện tử, ắcquy… Tỷ lệ phần trăm các chất trong rác thải không ổn định, chúng biến động ở mỗi nơi thu gom, khu vực sinh sống và phát triển sản xuất của dân cư, theo thời gian, điều kiện khí hậu thời tiết, mức thu nhập, phong tục tập quán, trình độ dân trí, vị trí địa lý…
Về cơ bản, thành phần chất thải rắn sinh hoạt của các đô thị điều tra, khảo sát
ở các vùng miền địa lý có sự khác nhau khá rõ nét Đối với các đô thị ở khu vực
Trang 33Đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ chất hữu cơ khá cao, đạt trung bình tới 71,07%, các chất vô cơ 18,61%, các chất khác 10,33% Trong khi đó khu vực Đồng bằng sông Hồng tỷ lệ chất hữu cơ ở các đô thị trung bình chỉ đạt 54,5%; các chất vô cơ 29,1%; các chất khác 16,4% Độ ẩm chất thải rắn sinh hoạt đô thị Việt Nam thường dao động từ 55 - 70%, tỷ trọng 0,42 - 0,6 tấn/m3 [14]
1.2.3.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
a Công tác thu gom
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh hiện mới đạt tới 90% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt bình quân ở các đô thị toàn quốc vào khoảng 55 - 60% [14] Hầu hết chất thải rắn sinh hoạt đô thị chưa được phân loại tại nguồn mà được thu gom lẫn lộn, sau đó vận chuyển đến bãi chôn lấp với phần lớn là các bãi chứa rác lộ thiên không đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh môi trường
Công ty Môi trường đô thị của các tỉnh, thành phố là đơn vị trực tiếp đảm nhận công tác quản lý vệ sinh môi trường và các công trình đô thị nói chung, đồng thời là đơn vị tổ chức thực hiện công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt Nguồn vốn hoạt động của các Công ty này lấy từ ngân sách hỗ trợ của Nhà nước và nguồn thu từ các dịch vụ vệ sinh môi trường Tại một số đô thị trong nước đã kết hợp cả 2 mô hình là: Mô hình do Nhà nước quản lý - Công ty Môi trường đô thị thực hiện và mô hình do Doanh nghiệp tư nhân - Hợp tác xã đảm nhiệm
+ Mô hình do Nhà nước quản lý: Việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn
sinh hoạt tại đô thị do các Công ty Môi trường đô thị trực thuộc UBND tỉnh, thành phố hoặc huyện, thị xã thực hiện Các công ty Môi trường đô thị hoạt động dưới hình thức các đơn vị sự nghiệp có thu Tiền lương cho cán bộ công nhân viên chức, các loại phương tiện, trang bị ban đầu do Nhà nước đầu tư lấy từ nguồn vốn ngân sách, nguồn thu từ hoạt động thu gom, xử lý chất thải theo định mức áp dụng Tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, đơn giá được áp dụng theo đơn giá của UBND tỉnh, thành phố ban hành theo từng thời điểm Việc thu chi kinh phí áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu và được Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định
Trang 34+ Mô hình do các Doanh nghiệp tư nhân, các Hợp tác xã quản lý: Các tổ
chức tư nhân tham gia công tác này dưới hình thức hợp tác xã và tổ, nhóm thu gom rác Hợp tác xã, tổ thu gom rác được hình thành với hình thức tự nguyện, mỗi tổ có một cá nhân đứng lên làm nhóm trưởng để quản lý và trả công cho các thành viên
Mô hình hợp tác xã và tổ thu gom rác hiện nay đang được phát huy và được các cấp chính quyền ủng hộ Tuy nhiên, hình thức này vẫn còn mang tính tự phát và
có quy mô nhỏ lẻ Theo số liệu điều tra, hiện chỉ có 9/69 (chiếm 13%) đô thị triển khai xã hội hóa công tác quản lý, thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt, điển hình là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, TP Lạng Sơn, TP Buôn Mê Thuột,
TX Gia Nghĩa, TP Biên Hòa, TP Cần Thơ… Tỷ lệ này còn thấp, phạm vi hoạt động còn hẹp, chỉ ở cấp phường, xã và hầu hết các phương tiện thu gom, vận chuyển còn thô sơ [11]
Đối với các doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã nguồn vốn đầu tư, nguồn nhân lực, trang thiết bị phục vụ công tác thu gom chủ yếu được huy động từ sự đóng góp của nhân dân, một phần được hỗ trợ từ nguồn ngân sách của các địa phương
Công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt: Tất cả các đô thị Việt Nam, chất thải rắn sinh hoạt từ khu dân cư được thu gom bằng 2 hình thức:
Người dân tự đổ vào thùng chứa rác công cộng Để thuận tiện cho quá trình thu gom rác thải từ các hộ dân, các Công ty Môi trường đô thị đã lắp đặt các thùng chứa rác tại những vị trí thuận tiện cho người dân với dung tích từ 240 lít đến 600 lít/thùng Hàng ngày xe tải sẽ đến thu gom theo thời gian quy định chở đến các trạm trung chuyển hoặc đến nơi xử lý
Những nơi không đặt được thùng rác công cộng hoặc xe chở rác không vào được (các ngõ, hẻm) thì tổ chức thu gom trực tiếp bằng xe cuốn ép rác nhỏ hoặc công nhân dùng xe đẩy thô sơ để thu gom rác và tập kết tại những nơi quy định Tại đây, rác được đưa lên xe tải thu gom vận chuyển đến nơi xử lý
Rác thải trên các đường phố và chợ được công nhân của Công ty Môi trường
đô thị thực hiện duy trì vệ sinh hàng ngày
Trang 35b Xử lý chất thải
Công tác xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị cho đến nay chủ yếu vẫn là đổ thải vào các bãi lộ thiên, không có sự kiểm soát kỹ thuật, mùi hôi và nước rác là nguồn gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí Cho đến nay mới chỉ có 32/64 tỉnh, thành có dự án đầu tư xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh, trong đó có 13
đô thị đã và đang được đầu tư xây dựng
Tái sử dụng và tái chế: Tái sử dụng và tái chế là phương pháp phổ biến ở các
hộ gia đình Người dân thường có thói quen tích trữ lại và bán lại cho những người đồng nát hoặc bán trực tiếp cho các gia đình thu mua đồng nát trong vùng các loại rác thải có khả năng tái chế hoặc tái sử dụng được (nhựa, giấy, nilon, kim loại ) Các chất thải có khả năng tái chế sẽ được những người nhặt rác phân loại và bán cho các cơ sở tái chế
Chế biến rác thải thành phân bón hữu cơ là một hình thức tái chế rất hữu hiệu các chất thải hữu cơ và có tiềm năng để sản xuất các loại sản phẩm làm mầu mỡ đất, không gây ô nhiễm và có khả năng làm tăng tỷ lệ tận thu các loại chất thải có thể tái chế được
Các cở sở chế biến phân bón hữu cơ tập trung thường được xây dựng gần các khu đô thị, là nơi cung cấp rác hữu cơ làm nguyên liệu đầu vào Hiện nay, ở Việt Nam đã có một vài cơ sở hoạt động nhưng hiện tại chưa có số liệu đánh giá về chi phí - hiệu quả
Phân bón hữu cơ được sản xuất từ các nhà máy này thường lẫn nhiều mảnh vụn thủy tinh, sành sứ… và khó tiêu thụ Để có được thành công, điều kiện tiên quyết đối với công nghệ tái chế này là phải có sự phân loại chất thải rắn tại nguồn phát sinh
c Định hướng quản lý chất thải rắn tại Việt Nam
Việt Nam đã xây dựng một khung pháp lý phù hợp cho các hoạt động bảo vệ môi trường, trong đó có các hướng dẫn về quản lý và xử lý chất thải rắn Khung pháp
lý này còn được hỗ trợ bởi 2 chiến lược bao gồm Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp ở Việt Nam (ban hành năm 1999) và Chiến lược Bảo
Trang 36vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (ban hành năm 2003) Một số định hướng quản lý chất thải rắn cơ bản được tóm tắt như sau:
Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10/7/1999 Đây là chiến lược đầu tiên của Việt Nam nêu lên những hành động mà các cơ quan Chính phủ và ở địa phương phải thực hiện đến năm 2020, nhằm áp dụng một phương pháp quản lý tổng thể chất thải rắn Các hoạt động chính của Chiến lược bao gồm:
- Cải cách hệ thống pháp lý;
- Đào tạo và nâng cao nhận thức;
- Thúc đẩy tư nhân hóa và thu hồi chi phí;
- Áp dụng công nghệ hiện đại, phù hợp vào Việt Nam;
- Cơ quan chủ trì là Bộ Xây dựng và cơ quan phối hợp là Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) [3]
Theo QCXDVN 01:2008/BXD Quy chuẩn xây dựng Việt Nam - Quy hoạch xây dựng ban hành theo quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 3/4/2008, các công nghệ chủ yếu được áp dụng trong xử lý chất thải rắn bao gồm: Chôn lấp an toàn, hợp vệ sinh, chế biến chất thải rắn hữu cơ thành phân vi sinh, chế biến chất thải rắn thành nhiên liệu và thiêu đốt thu hồi năng lượng Công nghệ xử lý chất thải rắn sẽ phải tuân thủ các điều kiện quy hoạch sau:
- Công nghệ xử lý chất thải rắn dự kiến lựa chọn trong cơ sở xử lý chất thải rắn phải hiệu quả, phù hợp với điều kiện kinh tế, không gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt và môi trường không khí xung quanh
- Tỷ lệ chất thải rắn được xử lý bằng công nghệ chôn lấp không vượt quá 15% tổng lượng chất thải rắn thu gom được Tỷ lệ chất thải rắn được xử lý bằng các công nghệ khác (tái chế, tái sử dụng, chế biến phân hữu cơ…) 85%
Theo quy chuẩn này, các công trình xử lý chất thải (như lò đốt, nhà máy chế biến phân vi sinh, bãi chôn lấp) trong khu liên hợp xử lý chất thải rắn phải được đầu
tư xây dựng theo đúng qui định đối với từng công trình riêng lẻ Quy mô khu liên
Trang 37hợp và các công trình xử lý đi kèm phải được xác định trên cơ sở khối lượng của chất thải rắn cần được xử lý, công nghệ áp dụng để xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn
và tính liên vùng, liên đô thị
Trong Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp đến năm 2020 cũng dự báo nhu cầu đầu tư cho lĩnh vực này sẽ lên đến 30 nghìn tỷ đồng vào năm 2020 Tuy nhiên, với hiện trạng và chi phí cho hoạt động quản lý chất thải rắn như hiện nay, để có thể đạt được những mục tiêu của Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, nhu cầu đầu tư này dự kiến phải tăng lên đến 40 nghìn tỷ đồng Tuy nhiên, để hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị nói chung, quản lý chất thải rắn đô thị nói riêng phát triển bền vững, cần lưu ý đến việc xây dựng các cơ chế tài chính phù hợp để đảm bảo duy trì vận hành, duy
tu, bảo dưỡng các hệ thống này [3]
Với chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, Chính phủ khuyến khích các công ty tư nhân và các tổ chức hoạt động dựa vào cộng đồng cộng tác chặt chẽ với các địa phương trong quản lý thu gom chất thải rắn Nghị định của Chính phủ về quản lý chất thải rắn (Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007)
- Nhà nước khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư, xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn, các công trình phụ trợ thông qua các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
- Xã hội hóa trong công tác quản lý chất thải rắn tại các tỉnh/thành phố đã bắt đầu được đưa vào trong các văn bản địa phương về công tác quản lý chất thải rắn
Trang 38CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
TẠI THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình, địa chất
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Hải Dương là thành phố đô thị loại II, ở miền Bắc Việt Nam, nằm
ở vị trí trung tâm tỉnh Hải Dương, có tọa độ địa lý 200
57' vĩ độ Bắc, 106005' kinh
độ Đông, nằm trên đường quốc lộ 5A, cách thành phố Hải Phòng 46 km về phía
, dân số 221.743 người, mật độ dân số là 3.090 người/km2 (2012) Ranh giới hành chính:
- Phía Bắc giáp huyện Nam Sách
- Phía Đông giáp huyện Kim Thành và Thanh Hà
- Phía Tây giáp huyện Cẩm Giàng
- Phía Nam giáp huyện Gia Lộc
- Phía Đông Nam giáp huyện Thanh Hà và Tứ Kỳ
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Thành phố Hải Dương nằm trong vùng có địa hình bằng phẳng, thấp trũng,
có hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ độ cao +2,00 ÷ +2,40 m thấp dần xuống +1,50 ÷ +1,00 m, có vùng thấp trũng cao độ từ +0,50 ÷ +0,80 m, cụ thể từng khu vực như sau:
- Vùng có cao độ từ + 2,10 - 2,40 m có diện tích 450 ha thuộc xã Tứ Minh, phường Việt Hòa
- Khu vực có cao độ +1,50 ÷ +2,00 m có diện tích khoảng 400 ha thuộc các phường Cẩm Thượng, Bình Hàn, khu vực phía Nam đường 5 cũ của phường Thanh Bình
- Khu vực có cao độ từ +1,00 ÷ +1,40 m có diện tích 150 ha tập trung ở các phường Ngọc Châu, Hải Tân và Thanh Bình
Trang 39- Khu vực có cao độ từ +0,80 ÷ +1,00 m rải rác ở các phường xã chủ yếu là các chân trũng
Trong thành phố có nhiều ao hồ, kênh rạch nối liền với nhau thành 1 hệ thống liên hoàn thông với các sông, chia cắt thành phố thành các lưu vực nhỏ
2.1.1.3 Đặc điểm địa chất [16]
Thành phố Hải Dương nằm trung tâm tỉnh Hải Dương, là nơi phát triển các trầm tích Đệ tứ, đặc trưng cho vùng đất yếu Các tài liệu nghiên cứu địa chất của khu vực đã khẳng định thành phố Hải Dương có các trầm tích Holocen lộ ra trên mặt, với sự có mặt của hệ tầng Thái Bình và hệ tầng Hải Hưng
Quy luật cấu trúc theo chiều đứng, từ trên xuống có:
- Hệ tầng Thái Bình, tuổi Holocen muộn (Q2 tb)
- Hệ tầng Hải Hưng, tuổi Holocen sớm – giữa (Q21-2hh)
Quy luật cấu trúc theo chiều ngang, trầm tích hệ tầng Thái Bình chỉ phân bố thành những dải hẹp ven các con sông, hồ nguyên thủy Trầm tích hệ tầng Hải Hưng phân bố rộng rãi ở nhiều nơi dưới dạng các vòm nâng tương đối tân kiến tạo, cục
bộ Thành phố Hải Dương là một khu vực sụt lún sâu nhất, còn tồn tại nhiều hồ móng ngựa, là khu vực trũng nhất, là nơi thu nước của các khu vực xung quanh, cũng vì thế khu vực thành phố Hải Dương còn đọng lại trầm tích hệ tầng Thái Bình với bề dày không nhỏ do đó bề mặt địa hình trong khu vực thành phố có đặc điểm
gồ ghề, lượn sóng
2.1.1.4 Điều kiện về khí tượng [5]
Khí hậu của thành phố Hải Dương mang đầy đủ tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm từ năm 2006 - 2012 dao động từ 23,00C đến 24,30C Tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm là 12,40C (tháng 01/2011) và tháng có thiệt độ trung lớn nhất là 30,30C (tháng 6,7 năm 2010) Nhiệt
độ không khí trung bình tháng 6 và tháng 7 cao nhất trong các tháng, chu kỳ sau 2 năm mức nhiệt tăng, giảm từ 1 - 20C (năm 2007 nhiệt độ lên đến 30,00C, năm 2008,
2009 ở mức 28,00C - 29,70C đến năm 2010 mức nhiệt lại tăng lên đến 30,30C)
Trang 40Năm 2012 nhiệt độ không khí trung bình trong các tháng có xu hướng tăng hơn so với năm 2010 từ 0,3 – 3,1C Nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm 2012
là 29,7C (tháng 6) Nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm là 12,40C (tháng 1 năm 2011)
- Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình hàng năm dao động 1.128 - 1.950
mm Số ngày mưa trong năm vào khoảng 130 - 140 ngày
+ Mùa mưa: Kéo dài 6 tháng, từ tháng 5 đến tháng 10 Trong mùa mưa tập trung tới 80% lượng mưa cả năm Lượng mưa tăng dần từ đầu mùa tới giữa mùa, đạt tới cực đại vào tháng 8, khoảng 215 - 305 mm Các tháng 6, 7, 8 mỗi tháng cũng
có lượng mưa trung bình khoảng 154 - 550 mm
+ Mùa ít mưa: 6 tháng còn lại là mùa ít mưa, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Đặc biệt, tháng 11/2008 có lượng mưa đột biến lên 408 mm Lượng mưa trung bình của các tháng này vào khoảng 20 - 40 mm Tháng có lượng mưa cực tiểu
là tháng 1, và 12 với lượng mưa khoảng 5 - 11 mm
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình các năm dao động từ 81 - 83% Độ ẩm trung bình cả năm có xu hướng giảm, từ năm 2006 đến năm 2008 ổn định ở mức 83%, đến năm 2009, 2010 độ ẩm giảm xuống 1% ở mức 82%, tiếp sang năm 2011 giảm tiếp1% và ở mức 81%, năm 2012 độ ẩm tăng lên ở mức 84%
- Chế độ gió: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (mùa khô) chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và từ tháng 5 đến tháng 10 (mùa mưa) chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam Tốc độ gió trung bình tại khu vực đạt 1,5 m/s
2.1.1.5 Điều kiện về thủy văn [5]
ở cầu Phú Lương mức nước sông Thái Bình như sau: