1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự việt nam

107 576 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là sự đổi mới, thể hiện sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp, phù hợp yêu cầu thể chế hóa đường lối cải cách tư pháp về thủ tục rút gọn đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng,

Trang 1

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ THU VÂN

XÂY DỰNG THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG

TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017

Trang 2

ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ THU VÂN

XÂY DỰNG THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG

TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số : 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS.Lê Thu Hà

Hà Nội – 2017

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu đó.Luận văn này chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thu Vân

Trang 4

iv

PHẦN MỞ ĐẦU ………1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 9

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 9

1.1.1 Khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 9

1.1.2 Đặc điểm của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 13

1.1.3 Ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 19

1.2 Cơ sở quy định thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự 21

1.2.1 Đường lối của Đảng về cải cách tư pháp - cơ sở lý luận của việc xây dựng thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam 21

1.2.2 Thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự hiện nay - yêu cầu cấp thiết xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 23

1.2.3 Mối quan hệ giữa thủ tục rút gọn với các nguyên tắc xét xử cơ bản 25

1.3 Lịch sử hình thành các quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay 31

1.3.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1959 31

1.3.2 Thời kỳ từ năm 1960 đến năm 2004 33

1.3.3 Thời kỳ từ năm 2004 đến nay 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN 39

2.1 Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn 39

2.2 Về cấp xét xử theo thủ tục rút gọn 44

2.3 Về thành phần xét xử khi giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn 45

2.4 Về thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn 46

Trang 5

v

2.4.1 Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm 46

2.4.2 Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp phúc thẩm 48

2.5 Về trình tự thủ tục giải quyết vụ án 49

2.5.1 Trình tự thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm 50

2.5.1.1 Thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn và thời điểm áp dụng thủ tục rút gọn 50

2.5.1.2 Phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn 53

2.5.2 Trình tự thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp phúc thẩm 57

2.5.2.1 Về quyền kháng cáo, kháng nghị 57

2.5.2.2 Lập hồ sơ vụ án phúc thẩm 58

2.5.2.3 Phiên tòa xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn 59

2.6 Về cơ chế chuyển hóa từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường 61

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65

CHƯƠNG 3 TỔ CHỨC THỰC THI VÀ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 67

3.1 Thực tiễn giải quyết vụ án dân sự liên quan đến yêu cầu xét xử theo thủ tục rút gọn 67

3.2 Tổ chức thực thi các quy định thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự 74

3.3 Tiếp tục hoàn thiện quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 79

3.3.1 Nguyên tắc và yêu cầu hoàn thiện các quy định về thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 79

3.3.2 Nhóm giải pháp ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục rút gọn 80

3.3.3 Nhóm giải pháp hoàn thiện thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự 84

KẾT LUẬN 94

Trang 6

vi

Trang 7

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn xét xử các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động tại Tòa án các cấp cho thấy, có nhiều loại tranh chấp đơn giản, giá trị tranh chấp thấp, các bên đều thống nhất về nội dung tranh chấp và chứng cứ rõ ràng… nhưng Tòa án vẫn phải tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định chung của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án dẫn tới thời gian giải quyết kéo dài, tốn kém tiền bạc của Nhà nước và của các đương sự

Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến

năm 2020 đã chỉ rõ cần phải « Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo

hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại toà làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp… » Tiếp đó, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của

Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng chỉ rõ: «…Xây

dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định »; “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự… »,

Thủ tục rút gọn được coi là một ngoại lệ của nguyên tắc hai cấp xét xử và đã được ghi nhận trong Hiến pháp (HP) năm 2013 Theo quy định tại khoản 1 và

khoản 4 Ðiều 103 Hiến pháp năm 2013 thì "Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân

dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn" và "Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn"

Trang 8

2

Vì vậy, xây dựng một chế định về thủ tục tố tụng rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự đầy đủ, hoàn thiện và hợp lý là một yêu cầu cấp thiết đối với các nhà lập pháp nước ta Bởi lẽ thiết lập thủ tục tố tụng dân sự rút gọn sẽ giúp loại bỏ sự rườm rà, bảo đảm tính linh hoạt, mềm dẻo của thủ tục tố tụng dân sự

Ngày 25/11/2015, Quốc hội khóa XIII thông qua Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) số 92/2015/QH13 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016, thay thế cho BLTTDS năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm

2011 BLTTDS năm 2015 dành hai chương riêng là Chương XVIII và Chương XIX thuộc Phần thứ tư để quy định về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn Đây

là sự đổi mới, thể hiện sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp, phù hợp yêu cầu thể chế hóa đường lối cải cách tư pháp về thủ tục rút gọn đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, giá trị tranh chấp thấp , là sự cụ thể hóa quy định của HP năm

2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (Luật tổ chức TAND) năm 2014 về việc Tòa án xét xử tập thể, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn, phù hợp với yêu cầu của với thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự trong thời gian qua

Tuy nhiên những nghiên cứu về thủ tục tố tụng rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam chưa nhiều, các quan điểm khoa học về vấn đề này còn chưa thống nhất

do xuất phát từ các phương diện nghiên cứu khác nhau

Với những lý do trên luận văn thạc sỹ với đề tài “Xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam” mong muốn đưa ra nghiên cứu cơ bản và toàn diện

về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, báo cáo, bài viết trên các báo, tạp chí, đề cập đến những khía cạnh khác nhau của chế định thủ tục rút gọn trong tố tụng dân

Trang 9

3

sự thời gian qua Có thể phân loại các công trình nghiên cứu này thành ba nhóm lớn

như sau:

- Nhóm các luận văn:

Trực tiếp nghiên cứu đến vấn đề này phải kể đến Luận văn thạc sỹ của tác giả

Trần Anh Tuấn “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng thủ tục rút

gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam, HN – năm 2000”, luận văn đã đề cập đến sự

cần thiết phải xây chế định thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, giải quyết được những vấn đề cơ bản về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn, cũng như những kiến nghị về xây dựng mô hình thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam Tuy nhiên, luận văn này đã được thực hiện từ năm 2000, trong khi đường lối, chính sách của Đảng; tình hình kinh tế - xã hội cũng như hiện trạng pháp luật thời điểm này cũng đã thay đổi nhiều so với thời điểm luận văn này được thực hiện

Gần đây nhất, phải kể đến Luận án tiến sỹ của tác giả Đặng Thanh Hoa “Thủ

tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Hồ Chí Minh – năm 2015”, song luận án này chỉ tập trung nghiên

cứu thủ tục rút gọn để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, cụ thể là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự; phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án Việt Nam làm cơ sở xây dựng thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại; làm rõ các yêu cầu và đưa ra các đề xuất xây dựng thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án Việt Nam

- Nhóm báo cáo, chuyên đề nghiên cứu:

Một số công trình nghiên cứu đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự tại Việt Nam và đồng thời nêu quan điểm về việc xây dựng thủ tục rút gọn ở Việt Nam phải kể đến đó là đề tài nghiên cứu khoa học cấp

bộ “Một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân

Trang 10

4

sự, năm 1996” do TAND tối cao thực hiện có một số nội dung đề cập về thủ tục rút

gọn, cụ thể về các loại việc phát sinh từ thực tiễn có thể giải quyết theo thủ tục rút

gọn; đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Vấn đề xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút

gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay – Thực trạng

và giải pháp, năm 2014” do TS Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm đề tài; và “Báo cáo nghiên cứu và đề xuất cơ chế, mô hình giải quyết tranh chấp dân sự theo thủ tục rút gọn tại Tòa án Việt Nam” là công trình nghiên cứu do nhóm chuyên gia của Dự án Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền thực hiện năm 2015 Các báo cáo này

đã phân tích mô hình tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay, một số vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh nghiệm của một số nước áp dụng thủ tục rút gọn, phân tích kết quả điều tra xã hội học về một số vấn đề liên quan đến

thủ tục rút gọn và đề xuất mô hình thủ tục rút gọn tại Tòa án Việt Nam

- Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí:

Các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật như “Sự cần thiết phải quy định thủ

tục rút gọn trong pháp luật TTDS” của Ngô Anh Dũng (Tạp chí Tòa án nhân dân,

số 4/2002); “Thủ tục xét xử nhanh trong BLTTDS Pháp và yêu cầu xây dựng thủ tục

rút gọn trong BLTTDSVN” của ThS Trần Anh Tuấn (Tạp chí dân chủ và pháp luật,

số 2/2004); “Cần bổ sung thủ tục đơn giản vào BLTTDS” của Cao Hồng Sơn (Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 11/2010); “Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập

quốc tế và phát triển bền vững” của TS Trần Anh Tuấn (Nxb Công an nhân dân,

Hà Nội, 2009); “ Giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng theo thủ tục rút gọn” của Đặng Thanh Hoa (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 8/2013) và “Khả năng áp

dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự ở Việt Nam” Tạp chí Viện nhà nước và

pháp luật số 12/2011; “Vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và thành lập Tòa

giản lược trong hệ thống Tòa án nhân dân” – Chánh án TAND tối cao Trương Hòa

Bình (Tạp chí TAND số 04/2014), “Cần có quy định thủ tục rút gọn trong BLTTDS”

Trang 11

5

– Đỗ Văn Chỉnh và Phạm Thị Hằng (Tạp chí TAND số 03/2013); “Bổ sung thủ tục

rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi)” của TS Lê Thu Hà (Tạp chí Nhà

nước và Pháp luật số 2/2015); “Một vài ý kiến về hòa giải khi xây dựng thủ tục tố

tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam” của TS Nguyễn Thị Thu Hà(Tạp chí Nhà nước và

Pháp luật số 2/2015); “Một số vấn đề về thủ tục rút gọn quy định tại Bội luật tố tụng

dân sự năm 2015” của TS Đặng Thanh Hoa (Tạp chí TAND số 9, 10/2016) Các

bài viết kể trên đã đề cập đến các vấn đề cơ bản của thủ tục rút gọn, nhu cầu xây dựng thủ tục rút gọn, phạm vi loại việc được áp dụng thủ tục rút gọn, mối liên hệ của việc xây dựng thủ tục rút gọn với một số nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự và kinh nghiệm của một số nước có quy định thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự, nhưng

do tính chất của một bài viết nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh hoặc một trường hợp cụ thể liên quan mà không phân tích toàn diện các khía cạnh của vấn đề này Như vậy, hiện nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu, đầy đủ và có hệ thống về chế định thủ tục rút gọn theo BLTTDS 2015 Do đó, công trình sẽ không phải là sự lặp lại của bất kỳ công trình nào trước đó

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn này làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự: hệ thống khái niệm, đặc trưng, ý nghĩa và vai trò của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Nghiên cứu có hệ thống và đầy đủ về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và nghiên cứu một cách có hệ thống về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và đổi mới thủ tục

tố tụng dân sự, các nguyên tắc hiến định và các quy phạm pháp luật liên quan trong

tố tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án Từ đó

Trang 12

6

khẳng định tính tất yếu, cần thiết và phù hợp phải xây dựng thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, phân tích nội dung của chế định thủ tục rút gọn trong BLTTDS năm 2015, rút ra những điểm hợp lý và còn hạn chế

để đề xuất hướng hoàn thiện trong thời gian tới

Cuối cùng, dựa trên kết quả đã nghiên cứu được, cùng với việc phân tích thực tiễn giải quyết một số loại tranh chấp tại Tòa án Việt Nam để làm cơ sở định hướng hoàn thiện chế định thủ tục rút gọn trong BLTTDS Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, tác giả đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Phân tích và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự hiện nay; yêu cầu của một mô hình thủ tục rút gọn cần phải có

- Phân tích nội dung của chế định thủ tục rút gọn trong BLTTDS năm 2015

- Phân tích thực tiễn giải quyết các vụ án đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục rút gọn tại Tòa án Việt Nam; đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục rút gọn trong BLTTDS Việt Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn, cơ

sở quy định thủ tục rút gọn trong BLTTDS Việt Nam và thực tiễn các hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án để giải quyết một số loại vụ án nhằm làm rõ sự cần thiết phải xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn Những quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam bao gồm cả thủ tục tố tụng thông thường và thủ tục tố tụng rút gọn qua các thời kỳ Đồng thời, tác giả cũng có sự nghiên cứu, so sánh với thủ tục rút gọn trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự một số nước trên thế giới

Trang 13

7

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu toàn bộ hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Đồng thời, luận văn có mở rộng nghiên cứu về vấn đề này ở một số quốc gia khác để có sự so sánh và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, từ đó tiếp thu những điểm tiến bộ và phù hợp với thực tiễn Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp các phương pháp chủ yếu như phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Để đạt được mục tiêu nghiên cứu tác giả có

sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: Phương pháp phân tích luật học; phương pháp phân tích - so sánh; phương pháp tổng hợp; phương pháp trích dẫn, phương

pháp hệ thống…

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

- Luận văn hệ thống hóa và phân tích khái niệm về thủ tục rút gọn, làm sáng

tỏ những dấu hiệu đặc trưng của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự, mục đích, ý nghĩa của thủ tục rút gọn góp phần thống nhất nhận thức về vấn đề này Làm rõ yêu cầu tất yếu phải xây dựng thủ tục rút gọn trong BLTTDS Việt Nam và đề xuất một

mô hình thủ tục rút gọn nhằm giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số loại vụ án hiện nay

- Luận văn khái quát và phân tích nội dung của các quy định pháp luật về thủ tục rút gọn trong BLTTDS năm 2015

- Từ những ví dụ cụ thể về thực tiễn áp dụng pháp luật, rút ra những quy định chưa phù hợp, những điểm còn hạn chế của thủ tục rút gọn trong BLTTDS năm

2015 Trên cơ sở đó, luận văn kiến nghị một số giải pháp có tính chất khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và tiến tới hoàn thiện pháp luật về thủ tục rút gọn

Trang 14

8

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

NĂM 2015 VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN

Chương 3: TỔ CHỨC THỰC THI VÀ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CHẾ

ĐỊNH THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

Trang 15

9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG

từ tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ Hán Việt (NXB Văn Nghệ TP HCM, 1999) giải thích chi tiết hơn: "Tố tụng" là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ "tố" là vạch tội; chữ "tụng" là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái" [48,tr.1027,1028]

Hiểu một cách đơn giản: "Tố tụng" là việc thưa kiện ở tòa án

Thời Pháp thuộc, người ta dùng chữ "tố tụng" để dịch chữ "procédure" (chữ Pháp procédure hay chữ Anh procedure đều bắt nguồn từ chữ La tinh processus nghĩa là quá trình, trình tự, thủ tục), như hai bộ luật Bắc kỳ dân sự, thương sự tố tụng; Trung kỳ dân sự, thương sự tố tụng Và trước năm 1975, ở miền Nam Việt Nam cũng có Bộ luật Hình sự tố tụng, Bộ luật Dân sự và Thương sự tố tụng năm

Trang 16

10

Tố tụng dân sự là trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, các vụ án dân sự tại tòa án; trình tự, thủ tục thi hành án dân sự

- Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Việc nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới cho thấy bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường các nước đều xây dựng thêm một thủ tục tố tụng giản đơn hoặc thủ tục ra lệnh áp dụng đối với những tranh chấp đơn giản, rõ ràng hoặc giá ngạch thấp

Theo Từ điển thuật ngữ luật học của Pháp thì thủ tục tố tụng thông thường (Procédure ordinaire) là thủ tục tố tụng chung, thường được áp dụng để giải quyết các vụ kiện trước Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng và trước Tòa phúc thẩm

Bên cạnh thủ tục chung nói trên tồn tại các quy định về thủ tục giải quyết các

vụ kiện có giá ngạch thấp, thủ tục ra lệnh thanh toán và thủ tục buộc làm một công việc Theo đó, trong thủ tục giải quyết các vụ kiện có giá ngạch thấp thì đương sự không được quyền kháng cáo phúc thẩm Thủ tục buộc làm một công việc là thủ tục cho phép đạt được một Án lệnh của Thẩm phán cấp thẩm nhằm buộc thi hành bằng hiện vật một nghĩa vụ phải thực hiện cũng như buộc giao đồ vật, trả lại một tài sản, cung cấp một dịch vụ do tính chất của nghĩa vụ là rõ ràng, Đó là một thủ tục đơn giản cho phép đạt được lệnh buộc làm một công việc từ Thẩm phán Tòa án thẩm quyền hẹp hoặc Thẩm phán hòa giải Thủ tục buộc thanh toán là thủ tục cực kỳ đơn giản cho phép đòi thanh toán những khoản nợ dân sự hoặc thương mại rõ ràng bằng cách yêu cầu Thẩm phán hòa giải, Thẩm phán Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp, Chánh

án Tòa thương mại cấp cho một lệnh buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán Nếu bên

có nghĩa vụ không phản kháng lệnh trả nợ, lệnh này sẽ có giá trị cưỡng chế thi hành [44, tr.289]

Theo từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt, Nhà pháp luật Việt – Pháp,

NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.706 , thủ tục rút gọn là “thủ tục tố tụng theo đó

Trang 17

11

các thủ tục được đơn giản hóa hơn so với thủ tục tố tụng thông thường, được áp dụng trước các Tòa án theo thông luật hoặc trước các Tòa án có thẩm quyền chung trong những trường hợp đặc biệt”

BLTTDS của Pháp, Nga, Trung Quốc và Đài Loan đều có những quy định

về thủ tục ra lệnh thanh toán nợ với những khoản nợ có chứng cứ rõ ràng như có

khế ước vay nợ viết, nợ do cam kết nhận hoặc rút hối phiếu (LC), ký nhận một kỳ phiếu…Ngoài ra, BLTTDS của những nước này và một số nước như Mỹ, Australia

và một số nước Châu Á có điều kiện gần gũi và tương đồng với Việt Nam như Nhật

Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore… đều có những quy định về thủ tục giản đơn

đối với những vụ kiện có giá trị nhỏ (đòi món nợ nhỏ) do một Thẩm phán giải quyết

và phán quyết được đem ra thi hành ngay, đương sự không có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc hạn chế quyền kháng cáo phá án của đương sự [56, tr.53]

Ở Việt Nam, thủ tục rút gọn là một khái niệm mới và được du nhập từ thủ tục

tố tụng của các nước Tuy nhiên, một số nội dung của thủ tục rút gọn đã từng được thể hiện trong pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam ngay từ trước năm 1945 khi quy định về giải quyết một số loại án có giá ngạch thấp bởi Tòa án cấp sơ thẩm và không được phép kháng cáo Trong nghiên cứu khoa học pháp lý ở Việt Nam, nhiều khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn đã được các nhà làm luật, các nhà nghiên

cứu luật học đưa ra Theo GS Nguyễn Huy Đẩu thì “Thủ tục giản lược (procédure

sommaire) là một thủ tục ít nệ thức, đỡ tốn kém, và mau chóng hơn, được nhà lập pháp dự liệu như biệt lệ đối với thủ tục tố tụng thông thường” Theo đó, thủ tục giản

lược được áp dụng đối với “…các việc kiện về đối nhân động sản có chứng khoán

không bị tranh nại, các đơn kiện này không có chứng khoán nhưng dưới 90.000 quan, các tố quyền bất động sản hoa lợi đồng niên dưới 8.000 quan, các đơn thỉnh cầu tạm thời hoặc kiện về tiền thuê nhà, lúa ruộng” [34] Khái niệm trên đã xác

định được điều kiện áp dụng và một vài đặc trưng của thủ tục rút gọn trong tố tụng

Trang 18

12

dân sự là loại thủ tục có thời gian giải quyết ngắn hơn thủ tục thông thường do giản lược một số thủ tục tố tụng; đồng thời đưa ra được ý nghĩa của việc áp dụng thủ tục rút gọn là đỡ tốn kém và mau chóng hơn Tuy nhiên nó chưa phản ánh được đầy đủ bản chất của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Đề cập ở mức độ cụ thể và chi tiết

hơn, đề tài khoa học cấp bộ “Vấn đề xây dựng thủ tục TTDS rút gọn theo yêu cầu

cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” do TS Trần Anh Tuấn là

chủ nhiệm đề tài cho rằng: “Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là loại hình thủ tục tố

tụng giản lược, do một Thẩm phán tiến hành giải quyết đối với các vụ kiện dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động có nội dung đơn giản, rõ ràng hoặc có giá trị nhỏ theo một trình tự tố tụng đơn giản, nhanh chóng, phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật ngay hoặc có thể bị phản kháng để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thông thường hoặc thủ tục phúc thẩm được giản lược” [40, tr.15] Và

dựa trên các đặc trưng cơ bản của thủ tục rút gọn, tác giả Trần Thanh Hoa cho rằng:

“Thủ tục rút gọn là một thủ tục đơn giản, gọn nhẹ hơn so với thủ tục tô tụng dân sự

thông thường về mặt thành phần, trình tự, thủ tục và thời gian giải quyết tranh chấp, được áp dụng đối với một số loại tranh chấp đơn giản, đương sự thừa nhận nghĩa vụ hoặc chứng cứ rõ ràng hoặc có giá trị thấp” [41, tr.24]

Chế định thủ tục rút gọn lần đầu tiên được pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định trong BLTTDS năm 2015 bao gồm các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến lúc ra một phán quyết hoặc quyết định có hiệu lực thi hành đối với các đương sự được giản lược so với thủ tục thông thường Khái niệm thủ tục rút gọn lần đầu tiên được diễn giải tại khoản 1

Điều 316 BLTTDS năm 2015 như sau: “Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp

dụng để giải quyết các vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật” Khái niệm này

Trang 19

13

tương đối đầy đủ, đã chỉ ra thủ tục rút gọn chỉ áp dụng cho một số vụ án dân sự có

đủ điêu kiện nhất định với trình tự, thủ tục đơn giản hơn so với thủ tục tố tụng thông thường và ý nghĩa của việc áp dụng thủ tục này trong thực tiễn

Từ những phân tích trên, trong phạm vi luận văn có thể đưa ra khái niệm của

thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự như sau: Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là loại

thủ tục tố tụng giản lược về thủ tục và rút ngắn về thời gian so với thủ tục tố tụng dân sự thông thường, được áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự có đủ điều kiện nhất định theo quy định của BLTTDS nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và quyền lợi hợp pháp của các đương sự theo quy định của pháp luật

1.1.2 Đặc điểm của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự

Qua việc nghiên cứu khái niệm thủ tục rút gọn, nhận thấy đây là một thủ tục

tố tụng đặc biệt trong tố tụng dân sự có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, rút ngắn về thời gian tố tụng

Đặc trưng của thủ tục rút gọn so với thủ tục thông thường là có sự rút ngắn về thời gian tố tụng Pháp luật quy định một thời hạn tố tụng tối đa để tiến hành các hoạt động tố tụng ở các giai đoạn tố tụng nhất định nhằm bảo đảm vụ án giải quyết được chính xác, kịp thời và đúng pháp luật Tuy nhiên, một số vụ án có các điều kiện nhất định cho phép việc giải quyết nhanh hơn so với thời hạn thông thường, nếu áp dụng thời hạn chung để giải quyết sẽ gây ra sự lãng phí về thời gian, tiền bạc, công sức của cả đương sự và các cơ quan tiến hành tố tụng Điều 126 và Điều

128 của BLTTDS Nga quy định, thời gian từ khi thụ lý đơn cho đến khi lệnh của Tòa án có hiệu lực thi hành là 15 ngày (nếu người có nghĩa vụ phải thi hành không phản đối), trong khi thời gian từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường cho đến khi có bản án, quyết định của Tòa án trung bình mất khoảng 3 tháng đến 6 tháng Tại Trung Quốc, thời hạn giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn là không quá 03

Trang 20

14

tháng; Hàn Quốc là 2,5 tháng so với thủ tục thông thường là 06 tháng Đối với việc

ra lệnh thanh toán, thủ tục này được rút ngắn có khi chỉ vài tuần kể từ thời điểm thụ

lý yêu cầu như tại các nước Nga, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc [41, tr.60]

Thứ hai, thủ tục rút gọn chỉ áp dụng đối với một số vụ án nhất định

Bản chất của thủ tục rút gọn là giản lược về thủ tục và rút ngắn về thời gian cũng như về thành phần giải quyết và tham gia tố tụng nên không thể là một thủ tục

áp dụng chung cho việc giải quyết tất cả các tranh chấp dân sự Đối với những tranh chấp phức tạp, chứng cứ không rõ ràng hoặc các đương sự không thừa nhận nghĩa vụ,… bắt buộc phải áp dụng nguyên tắc tranh tụng, trong đó có thu thập chứng cứ, tiến hành các hoạt động đối chất, hòa giải và việc xét xử cần thông qua một tập thể

để bảo đảm phán quyết đưa ra là đúng đắn Ngược lại, đối với những vụ án đơn giản, giá trị tranh chấp nhỏ hoặc các đương sự đã thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ, việc giải quyết vụ án không cần tốn nhiều thời gian, phải tiến hành tất cả những hoạt động tố tụng và phải xét xử vụ án bởi một tập thể mà vẫn bảo đảm vụ án được giải quyết một cách chính xác, đúng đắn và tiết kiệm được thời gian, chi phí của đương

sự và Tòa án, đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Chính

vì vậy, thủ tục rút gọn là một thủ tục chỉ áp dụng giải quyết cho những tranh chấp đặc thù, đáp ứng các điều kiện cơ bản như tranh chấp đơn giản, chứng cứ rõ ràng, các đương sự thừa nhận nghĩa vụ hoặc giá trị tranh chấp thấp

Thủ tục rút gọn của một số nước đều có chung tiêu chí xác định loại vụ án áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự là những tranh chấp tài sản có giá trị tranh chấp thấp Ví dụ như ở Pháp, những tranh chấp có giá trị nhỏ không vượt quá 4.000 EUR được giải quyết theo thủ tục rút gọn bởi một Thẩm phán tại Tòa sơ thẩm có thẩm quyền hẹp hoặc Tòa án cơ sở Ở Đức, thủ tục rút gọn được áp dụng đối với những vụ khiếu kiện nhỏ có giá ngạch dưới 6.000 EUR và được giải quyết bởi Tòa

Trang 21

15

án địa hạt Ở Mỹ, pháp luật các bang về cơ bản đều quy định vụ án có giá ngạch thấp được coi là vụ kiện nhỏ và được giải quyết theo thủ tục giản lược, giá ngạch thấp do từng tiểu bang quy định, cơ bản trong khoảng từ 2.500 USD đến 25.000 USD Và ở Nhật Bản quy định các vụ kiện có giá trị dưới 900.000 JPY được giải quyết theo thủ tục rút gọn [41, tr.44] Như vậy, kinh nghiệm nước ngoài cho thấy chỉ cần một tiêu chí giá ngạch thấp là đủ để vụ án được giải quyết theo thủ tục giản lược hoặc thủ tục rút gọn Giá ngạch bao nhiêu được coi là thấp phụ thuộc vào quy định của từng nước và dựa trên tính khả thi của quy định về thủ tục rút gọn

Ngoài tiêu chí giá ngạch thấp, kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy các tranh chấp đơn giản, chứng cứ rõ ràng mà không phụ thuộc vào giá trị tranh chấp cũng được giải quyết theo thủ tục rút gọn

Ở Pháp, Điều 1405 BLTTDS Pháp và Luật số 81-1 ngày 2/1/1981 khuyến khích tín dụng doanh nghiệp của Pháp, thủ tục ra lệnh thanh toán nợ là một thủ tục

giản đơn được thực hiện bởi Tòa án trong những trường hợp có yêu cầu về:(i)

khoản nợ có nguồn gốc từ một hợp đồng hoặc từ một nghĩa vụ theo điều lệ và là một số tiền nhất định; nếu là do hợp đồng thì được xác định theo các điều khoản của hợp đồng, kể cả điều khoản phạt (nếu có); (ii) Nợ do cam kết nhận hoặc rút hối phiếu, ký nhận một kỳ phiếu, chuyển nhượng hoặc bảo lãnh các loại tín phiếu ấy hoặc nhận chuyển nhượng một khoản nợ Theo Điều 1425-1 BLTTDS Pháp, thủ tục

ra lệnh buộc thực hiện một công việc: nếu giá trị của trái vụ không vượt quá thẩm

quyền của Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp, đương sự có thể làm đơn đề nghị Tòa

sơ thẩm thẩm quyền hẹp cho thanh toán bằng hiện vật trái vụ phát sinh từ hợp đồng giữa người không phải là thương nhân

Ở nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ, các vụ kiện về nợ không được thanh toán, tiền thuê còn thiếu, hoàn trả tiền kỹ quỹ, tài sản bị hư hại hay bị thiệt hại, các hóa đơn

Trang 22

16

bác sỹ hoặc hóa đơn bệnh viện và một số tranh chấp đơn giản khác đều được coi là các yêu cầu nhỏ và được giải quyết theo thủ tục rút gọn

Tại Nhật Bản, Điều 382 BLTTDS nước này cũng quy định việc áp dụng thủ tục rút gọn đối với thủ tục ra lệnh thanh toán là những yêu cầu thanh toán tiền, những vật thay thế hoặc một số lượng nhất định chứng khoán có thể chuyển nhượng

Tại Trung Quốc, Điều 189 BLTTDS Trung Quốc quy định thủ tục yêu cầu thanh toán nợ được áp dụng khi chủ nợ yêu cầu người mắc nợ thanh toán tiền hoặc một chứng khoán có thể chuyển nhượng, theo đó chủ nợ có thể nộp đơn lên Tòa án

có thẩm quyền yêu cầu một lệnh trả nợ, nếu đáp ứng được hai yêu cầu sau: Chủ nợ

và người mắc nợ không liên quan đến nghĩa vụ tranh chấp khác và lệnh đòi nợ có thể tống đạt được đến người mắc nợ

Thứ ba, rút gọn về thành phần tiến hành tố tụng

Cơ chế xét xử bởi một thẩm phán mà không có sự tham gia của bồi thẩm đoàn hay hội thẩm nhân dân được thừa nhận chung Việc giải quyết và xét xử chỉ do một Thẩm phán tiến hành từ khi thụ lý cho đến khi xét xử sơ thẩm nhằm đẩy nhanh tiến trình giải quyết vụ án , giảm bớt chi phí tố tụng, tiết kiệm cho ngân sách Nhà nước và chi phí của đương sự; đồng thời nâng cao trách nhiệm cá nhân của thẩm phán

Về sự tham gia của Viện kiểm sát, phần lớn các nước đều quy định cơ quan công tố không có vai trò trong việc giải quyết các vụ án dân sự, họ chỉ có trách nhiệm chính là truy tố và buộc tội trong các vụ án hình sự Ở Việt Nam, vai trò của Viện kiểm sát còn mở rộng trong việc giám sát hoạt động xét xử của Tòa án, vì vậy, Viện kiểm sát có vai trò, chức năng với các mức độ khác nhau và tùy vào từng thời điểm lịch sử cụ thể, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

Thứ tư, rút gọn về trình tự và các bước tố tụng

Trang 23

17

Khác với thủ tục tố tụng thông thường, yêu cầu Tòa án và đương sự phải tiến hành đầy đủ và tất cả các hoạt động tố tụng như thu thập, cung cấp chứng cứ, hòa giải và tiến hành đầy đủ các bước trình tự phiên tòa,… việc áp dụng thủ tục rút gọn

sẽ đơn giản hóa về trình tự, thủ tục hoặc giai đoạn tố tụng, giản lược một số thủ tục không cần thiết như: không phải tiến hành thu thập chứng cứ, không phải hòa giải khi đương sự không có yêu cầu; không có thủ tục tranh luận tại phiên tòa; không có quyền kháng cáo trong một số trường hợp… Có quốc gia quy định đột phá ngay từ khâu yêu cầu khởi kiện của đương sự theo hướng đương sự có thể trình bày trực tiếp yêu cầu khởi kiện bằng miệng mà không cần phải làm đơn khởi kiện Như Hàn Quốc, nguyên đơn có thể đến Tòa án trực tiếp trình bày yêu cầu khởi kiện với cán

bộ thụ lý vụ án mà không cần làm đơn khởi kiện bằng văn bản, cán bộ thụ lý có trách nhiệm ghi chép lại nội dung yêu cầu của nguyên đơn Và ở Trung Quốc, đương sự cũng có thể khởi kiện bằng miệng đối với loại vụ án đơn giản [41,tr.55]

Về trình tự tiến hành thủ tục rút gọn tại phiên tòa, các nước theo hệ thống Thông luật cũng có những hình thức giải quyết tranh chấp thông qua phiên tòa nhưng thủ tục được rút gọn nhằm giảm chi phí và thời gian giải quyết tranh chấp tương tự như thủ tục rút gọn trong hệ thống dân luật Vụ kiện sẽ được giải quyết bằng một Thẩm phán, Thẩm phán có thể bỏ qua các bước không cần thiết và chỉ tuyên phần quyết định của Tòa án về việc giải quyết vụ án, còn phần nội dung vụ

án, nhận định của Tòa án được ghi ngay trong biên bản phiên tòa

Thứ năm, rút gọn về cấp xét xử

Về cơ chế kháng cáo phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm được giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định của các nước không giống nhau Nhưng nhìn chung, pháp luật tố tụng dân sự ở nhiều quốc gia không cho phép kháng cáo hoặc cho phép kháng cáo phúc thẩm nhưng nội dung kháng cáo bị hạn chế ở việc chỉ cho phép kháng cáo về áp dụng pháp luật của Tòa án sơ thẩm

Trang 24

18

Ở Pháp, đương sự không có quyền kháng cáo phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm được giải quyết theo thủ tục rút gọn nếu giá ngạch của vụ án dưới 4.000 EUR

Ở Đức, là những tranh chấp có giá ngạch dưới 6.000 EUR Ở Trung Quốc, các phán quyết sơ thẩm khi giải quyết theo thủ tục rút gọn có giá trị chung thẩm, đương sự không có quyền kháng cáo nhưng cho phép người có nghĩa vụ trả nợ được quyền phản đối với thủ tục ra lệnh thanh toán của Tòa án Điều 191 BLTTDS Trung Quốc quy định trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được lệnh buộc thanh toán, người có nghĩa vụ trả nợ phải thanh toán hết nợ hoặc có thể đưa ra một yêu cầu phản đối bằng văn bản và gửi đến Tòa án Trường hợp lệnh buộc thanh toán không thực hiện được hoặc có yêu cầu phản đối, theo quy định tại Điều 192 BLTTDS Trung Quốc, Tòa án ra quyết định kết thúc vụ án theo thủ tục rút gọn và yêu cầu buộc thanh toán

sẽ hết hiệu lực ngay lập tức Khi đó, chủ nợ có thể khởi kiện lại theo thủ tục thông thường

Một số nước vẫn cho phép kháng cáo đối với một số hoặc toàn bộ phán quyết khi áp dụng thủ tục rút gọn Ở Đức, chỉ cho phép đương sự kháng cáo đối với tranh chấp có giá ngạch từ 6.000 EUR trở lên hoặc khi được Tòa án sơ thẩm cho phép và ghi rõ trong bản án Đối với Anh, đương sự có quyền kháng cáo với điều kiện đương sự đó đã tham gia phiên tòa và yêu cầu kháng cáo có cơ sở và được đưa ra ngay sau khi kết thúc phiên tòa Có thể đưa ra kháng cáo đối với các phán quyết cho các vụ kiện nhỏ chỉ trong trường hợp có sự sai sót về luật pháp hoặc một số vi phạm nghiêm trọng khác trong các thủ tục tố tụng thông thường Ở Thái Lan, đương sự không có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về vấn đề sự kiện của vụ án mà chỉ có quyền kháng cáo về vấn đề áp dụng pháp luật [41, tr.58] Đối với Pháp, các phán quyết của Tòa án giải quyết các tranh chấp có giá ngạch thấp sẽ có hiệu lực pháp luật ngay mà không bị kháng cáo theo trình tự phúc thẩm Đối với các phán quyết của Tòa án ra lệnh thanh toán nợ, người mắc nợ có quyền phản đối lệnh trả nợ Đơn

Trang 25

19

kháng án tùy trường hợp sẽ phải gửi đến Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp đã ra lệnh trả

nợ hoặc Chánh án Tòa thương mại đã ra quyết định Đối với trường hợp Tòa án bác đơn ra lệnh thanh toán hoặc buộc thực hiện một công việc, người yêu cầu không có quyền kháng cáo nhưng có quyền khởi kiện lại theo thủ tục thông thường hoặc có thể yêu cầu vụ việc được chuyển ngay đến Tòa án có thẩm quyền

Tại Hoa Kỳ, đương sự có thể kháng cáo đối với quyết định trong vụ kiện nhỏ Tuy nhiên, đương sự chỉ được quyền kháng cáo nếu đủ chứng cứ cho rằng phán quyết của Tòa án rõ ràng là sai

Tại Nhật Bản, Điều 397 BLTTDS Nhật Bản quy định , phán quyết cuối cùng của Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn không được kháng cáo lên Tòa phúc thẩm Trong thời hạn 02 tuần kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án, đương

sự có thể đưa ra yêu ầu phản đối quyết định đó Trong trường hợp yêu cầu phản đối hợp lệ, vụ kiện sẽ được khôi phục lại đến giai đoạn trước khi kết thúc việc tranh luận và chuyển sang thủ tục thông thường

1.1.3 Ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự

Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn có ý nghĩa quan trọng không chỉ cho các đương sự, Tòa án mà còn có ý nghĩa cho cả xã hội

Thứ nhất, thủ tục rút gọn làm giảm nhẹ đáng kể gánh nặng chi phí tố tụng cho đương sự

Vì vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng nên Tòa án không cần tiến hành nhiều thủ tục tố tụng mà gần như chỉ cần căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương

sự cung cấp nên không phát sinh các chi phí tố tụng như giám định, thẩm định, định giá và các biện pháp thu thập chứng cứ khác, mặt khác, để tạo điều kiện cho người dân khởi kiện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp thay vì lựa chọn những cách tiêu cực để giải quyết tranh chấp nên pháp luật của các quốc gia có quy định về thủ tục rút gọn

Trang 26

20

đều quy định án phí vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn thấp hơn án phí vụ án giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường

Thứ hai, thủ tục rút gọn có vai trò quan trọng làm giảm áp lực về công việc cho Tòa án, tiết kiệm cho Nhà nước về nguồn lực con người và chi phí

Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường thì các tranh chấp dân

sự, kinh doanh thương mại, lao động phát sinh ngày càng phức tạp với chiều hướng gia tăng Do vậy, số lượng các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, hình sự ngày càng nhiều, ngành Tòa án phải chịu một áp lực lớn về số lượng công việc Trong khi đó, số lượng thẩm phán và chất lượng xét xử của thẩm phán chưa đồng bộ Giải pháp đặt ra là nếu chúng ta tăng số lượng Thẩm phán tại các Tòa án đồng nghĩa với việc tăng kinh phí của Nhà nước cho hoạt động xét xử của Tòa án gây tốn kém cho ngân sách Nhà nước Cho nên, song song với việc khắc phục tình trạng mất cân đối giữa số lượng công việc và thẩm phán, cần tính đến lược bỏ những khâu rườm rà, không cần thiết ngay trong các hoạt động tố tụng của Tòa án là giải pháp tiết kiệm cho Nhà nước cả về nguồn lực con người và chi phí đồng thời giải quyết tốt các vụ án phát sinh tại Tòa án Một thủ tục tố tụng đơn giản hơn, nhanh chóng hơn thủ tục tố tụng thông thường để giải quyết dứt điểm, đúng pháp luật các tranh chấp đơn giản, chứng cứ rõ ràng tạo điều kiện cho Tòa án có thể tập trung thời gian và nguồn lực con người vào những vụ án khó khăn, phức tạp hơn

là một trong những giải pháp để khắc phục tình trạng áp lực lớn về công việc của ngành Tòa án

Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận công lý, lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp hiệu quả

Xét xử theo thủ tục rút gọn tạo nhiều thuận lợi cho đương sự trong việc khởi kiện, tham gia tố tụng và các hoạt động tố tụng khác Trong các vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng thì các đương sự đều không phải trải qua tất cả các giai đoạn tố

Trang 27

21

tụng như thủ tục xét xử thông thường mà chỉ cần thực hiện một số thủ tục luật định cần thiết Việc xét xử theo thủ tục rút gọn cũng khuyến khích người dân sử dụng Tòa án như một cách thức hiệu quả để giải quyết tranh chấp Từ đó hạn chế việc người dân sử dụng các cách thức tiêu cực khác như bắt nợ, đòi nợ thuê… Những điều này góp phần ngăn chặn, hạn chế những tiêu cực của vụ việc dân sự, góp phần

ổn định các mối quan hệ xã hội

1.2 Cơ sở quy định thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự

1.2.1 Đường lối của Đảng về cải cách tư pháp - cơ sở lý luận của việc xây dựng thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa về kinh tế ngày càng sâu rộng hiện nay, Đảng và Nhà nước xác định đặt cải cách hệ thống pháp luật, trong đó cải cách hoạt động tư pháp làm trung tâm của những cải cách về kinh tế và chính trị Quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp là đổi mới, cải cách thủ tục tố tụng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân tiếp cận công lý để nhanh chóng bảo về quyền lợi hợp pháp của mình Nghị quyết lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương

Đảng khóa VIII đã chỉ rõ: “Hoạt động tư pháp phải nhằm … bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của công dân … Nghiên cứu áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử kịp thời một số vụ án đơn giản, rõ ràng” Nghị quyết 49/TW ngày 02/6/2005 tiếp tục chủ

trương: “Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một

trình tự, thủ tục rất chặt chẽ nhằm thực hiện mục tiêu xét xử khách quan, công bằng, đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Nhưng chính những quy định chặt chẽ đó vô hình chung đã hình thành nên những thiết chế tố tụng phức tạp, khó tuân thủ và gây tốn kém Qua công tác tổng kết thực tiễn xét xử của TANDTC thì hàng năm các tranh chấp dân sự phát sinh ngày càng nhiều, tính chất phức tạp ngày càng tăng lên dẫn đến tình trạng quá tải của tòa án các cấp; lực lượng cán bộ Tòa án

Trang 28

22

không đáp ứng đủ yêu cầu giải quyết vụ án dân sự Thực tiễn giải quyết vụ án dân

sự cho thấy, có nhiều vụ án dân sự đơn giản nhưng thời gian giải quyết lại kéo dài, mặc dù các Thẩm phán có thể giải quyết nhanh hơn nếu không phải thực hiện đầy

đủ các trình tự, thủ tục được quy định, nhưng vẫn đảm bảo được các mục tiêu

mà pháp luật tố tụng đã đặt ra Điều này khiến cho các đương sự và ngay cả Thẩm phán mong muốn có một thủ tục đơn giản hơn, thuận lợi, ít tốn kém hơn cho những

vụ án đơn giản, giá trị tranh chấp nhỏ, có chứng cứ rõ ràng Vì vậy, cải cách hoạt động tố tụng dân sự của Toà án theo hướng xây dựng một quy trình tố tụng đơn giản đối với các loại vụ án này là một giải pháp cần thiết xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Theo quy định của HP năm 2013, bên cạnh thủ tục thông thường, việc xét xử

có thể tiến hành theo thủ tục rút gọn Khoản 1 và khoản 4 Điều 103 quy định: “Việc

xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” và “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” Nguyên tắc này mở ra yêu cầu xây

dựng thủ tục xét xử rút gọn trong tố tụng dân sự, không phải trong tất cả mọi trường hợp đều áp dụng nguyên tắc xét xử sơ thẩm phải có Hội thẩm tham gia; xét xử tập thể và quyết định theo đa số mà mở ra ngoại lệ cho các vụ án có tính chất đơn giản được áp dụng một trình tự, thủ tục giải quyết ngắn hơn và đơn giản hơn so với thủ tục thông thường nhằm đơn giản hóa thủ tục tố tụng để giải quyết nhanh chóng vụ

án, tiết kiệm thời gian và chi phí giải quyết án nhưng vẫn đảm bảo đúng pháp luật Trên cơ sở HP năm 2013 thì Điều 10 Luật tổ chức TAND năm 2014 cũng quy định

“Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử

theo thủ tục rút gọn Thành phần Hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử do luật tố tụng quy định” Việc xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự là một trong những

nhiệm vụ cần thiết để thể chế hóa HP năm 2013 và Luật tổ chức TAND năm 2014

Trang 29

23

Như vậy, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc nghiên cứu xây dựng thủ tục tố tụng rút gọn là cơ sở lý luận chỉ đạo cho việc xây dựng một thủ tục tố tụng rút gọn trong BLTTDS Noí cách khác, việc xây dựng thành công thủ tục rút gọn trong BLTTDS tạo cơ sở pháp lý cho đổi mới hoạt động tố tụng dân sự của Toà

án trong thời gian tới cũng là nhằm thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp, phù hợp với tinh thần hoàn thiện nhà nước pháp quyền mà Đảng và Nhà nước đã đề xướng

1.2.2 Thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự hiện nay - yêu cầu cấp thiết xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự

Theo số liệu thống kê của TANDTC từ năm 2005 đến năm 2014 về hoạt động xét xử của các Tòa án, số lượng các loại vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án liên tục gia tăng, trung bình mỗi năm tăng khoảng 15%, làm cho công việc của các Tòa án ngày càng quá tải Tính từ tháng 10/2012 đến ngày 30/09/2013, toàn hệ thống Tòa án nhân dân đã giải quyết được 364.819 vụ án các loại trong tổng số 395.415 vụ án đã thụ lý (đạt tỷ lệ 92,3%); số vụ án còn lại hầu hết

là mới thụ lý và còn trong thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật So với cùng kỳ năm trước, số vụ án đã thụ lý tăng 34.474 vụ; đã giải quyết tăng 31.951 vụ;

tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán giảm 0,12% Về số lượng cán bộ, Thẩm phán, cho đến nay tổng biên chế toàn hệ thống Tòa án nhân dân hiện có 12.763 người; trong đó TANDTC có 645 người (104 Thẩm phán), Tòa án nhân dân cấp tỉnh có 3525 người (1.042 Thẩm phán) và Tòa án nhân dân cấp huyện có 8.593 người (3.813 Thẩm phán) So với biên chế được phân

bổ, hiện toàn hệ thống còn thiếu 761 người, chủ yếu là ở cấp huyện (498 người/695 huyện) Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị, 100% Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, 95% Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh và cấp huyện có trình độ

cử nhân luật; 90% Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, 66% Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh và 20% Thẩm phán Tòa án cấp huyện có trình độ cử nhân chính trị hoặc cao

Trang 30

24

cấp lý luận chính trị Về phẩm chất đạo đức, 100% Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, đa số đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức đối với người cán bộ, Đảng viên theo quy định của Trung ương [66]

Qua nghiên cứu các số liệu thống kê trên, thấy rằng tình trạng tồn đọng án hàng năm cao là do số lượng án ngày một tăng và phức tạp, trong khi đó số lượng thẩm phán còn thiếu, không đáp ứng đủ cho khối lượng công việc ngày càng tăng Mặt khác, từ thực tiễn của hoạt động tố tụng hiện nay cho thấy một số loại vụ án không phải mất thời gian để thu thập chứng cứ, điều tra, xác minh lẽ ra có thể và cần phải giải quyết nhanh chóng nhưng lại được giải quyết trong thời gian dài, qua nhiều lần xét xử gây lãng phí thời gian, phí tổn cho đương sự và Nhà nước một cách không cần thiết trong khi lợi ích của tranh chấp không lớn Đây là do các quy định của pháp luật tố tụng dân sự thời gian qua chưa thực sự mềm dẻo, linh hoạt cho phù hợp với tính chất của từng loại tranh chấp phát sinh

Thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự cho thấy không ít những vụ án có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ rang, giá ngạch thấp mà Tòa án vẫn phải áp dụng thủ tục tố tụng thông thường để giải quyết làm thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài, đồng thời làm căng thẳng thêm mâu thuẫn giữa các bên, làm cho tính chất của vụ án

từ đơn giản thành phức tạp và đôi khi từ một tranh chấp dân sự nhưng không được giải quyết kịp thời đã phát triển thành vụ án hình sự, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng Ví dụ yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng vay taì sản hay thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng mà bị đơn không phản đối nghĩa vụ nhưng không chịu thực hiện nghĩa vụ vì lý do nào đó; hay những vụ kiện mà bị đơn không thừa nhận nghĩa vụ nhưng có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng, việc áp dụng pháp luật giải quyết vụ án không phức tạp; hoặc những vụ án có giá ngạch thấp thì lợi ích của tranh chấp có khi còn thấp hơn chi phí mà đương sự và Nhà

Trang 31

25

nước bỏ ra Do đó, đây là các loại vụ án mà Tòa án có thể đưa ra phán quyết buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ mà không phải xét xử qua các bước thông thường Vì vậy, cần có một thủ tục rút gọn để giải quyết nhanh chóng và dứt điểm những loại

vụ án như trên để bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

Việc xây dựng thủ tục rút gọn trong BLTTDS hiện nay là yêu cầu cấp thiết, góp phần giải quyết lượng án tồn đọng, tiết kiệm thời gian, tiền bạc của Nhà nước nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đương sự khi tham gia quan hệ pháp luật, đồng thời bảo đảm sự phù hợp giữa BLTTDS với các chủ trương, đi ̣nh hướng cải cách tư pháp đã được xác định trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng và Nhà nước

1.2.3 Mối quan hệ giữa thủ tục rút gọn với các nguyên tắc xét xử cơ bản

Các nguyên tắc xét xử được quy định trong HP là các nguyên tắc hiến định, bắt buộc phải tuân thủ và không có ngoại lệ Các quy định của HP năm 2013 và Luật tổ chức TAND năm 2014 về nguyên tắc xét xử đã thể chế hóa các quan điểm, định hướng của Đảng về cải cách tư pháp, các nguyên tắc đó là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng thủ tục rút gọn ở Việt Nam hiện nay để giải quyết nhanh, gọn, hiệu quả các vụ án dân sự đơn giản, chứng cứ rõ ràng nhằm tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong công tác giải quyết, xét xử các vụ án dân sự hiện nay Đối với các nguyên tắc luật định, không nhất thiết phải tuân thủ khi xây dựng thủ tục rút gọn mà sẽ được vận dụng linh hoạt trong từng hoàn cảnh

Thứ nhất, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

Tranh tụng là cơ chế tố tụng có hiệu quả đảm bảo cho Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết vụ án đúng đắn vụ việc, đảm bảo sự công bằng và bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia đố tụng [65, tr.41] Khoản 5 Điều

103 HP năm 2013 ghi nhận “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”,

Trang 32

26

đây là nguyên tắc hiến định chi phối toàn bộ trình tự, thủ tục tố tụng dân sự từ khi tòa thụ lý đến hoạt động cung cấp, giao nộp, thu thập chứng cứ, hòa giải, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả giám đốc thẩm, tái thẩm

Yêu cầu hoàn thiện BLTTDS là phải nâng cao chất lượng tranh tụng, bảo đảm tiết kiệm được thời gian, không làm kéo dài quy trình tố tụng một cách không cần thiết, gây phiền hà đến những người tham gia tố tụng, đây cũng chính là mục đích của việc xây dựng thủ tục rút gọn trong BLTTDS Để phát huy ý nghĩa của thủ tục rút gọn cần phát huy sự tham gia tích cực và chủ động của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, muốn vậy cần bảo đảm hoàn thiện đồng

bộ nguyên tắc tranh tụng với hoàn thiện các quy định của thủ tục rút gọn Thông qua việc tranh tụng trước phiên tòa sẽ làm rõ vụ án có đủ điều kiện để xét xử theo thủ tục rút gọn hay không, việc tranh tụng cũng có thể làm vụ án xét xử theo thủ tục thông thường chuyển hóa thành xét xử theo thủ tục rút gọn, bởi lẽ khi tình tiết vụ án

đã rõ; tài liệu, chứng cứ được giao nộp đầy đủ; đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ dù trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào, toàn bộ thủ tục tố tụng sẽ thay đổi theo hướng không còn “tranh tụng” nữa, khi đó chỉ còn trách nhiệm của Thẩm phán là kiểm tra lại hồ sơ vụ án và đưa ra phán quyết đúng pháp luật và đúng sự thật khách quan

Nếu bảo đảm tranh tụng tốt, có hiệu quả thì mọi nội dung của tranh chấp được làm rõ, phán quyết của Tòa án sẽ khách quan và đúng pháp luật nên không cần thiết phải có cơ chế xem xét lại phán quyết của Tòa án cấp dưới Việc quy định quyền kháng cáo của đương sự và kháng nghị của viện kiểm sát trong trường hợp này khi đó cũng không còn cần thiết nữa

Muốn đạt được kết quả này, cần thiết phải bảo đảm quyền tiếp cận, công khai chứng cứ giữa các đương sự, bảo đảm tăng cường sự công khai, minh bạch, tạo điều kiện tốt hơn cho các đương sự thực hiện quyền tranh tụng của mình và bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của họ Bởi lẽ, chỉ khi có đủ chứng cứ (thông

Trang 33

27

tin) thì đương sự mới so sánh thiệt hơn trong việc theo đuổi vụ kiện và quyết định việc chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ kiện

Thứ hai, về nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm

Khoản 6 Điều 103 HP năm 2013 quy định: “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc

thẩm được bảo đảm” Căn cứ vào quy định nêu trên thì chế độ xét xử sơ thẩm, phúc

thẩm phải được bảo đảm trong mọi trường hợp mà không ngoại lệ, kể cả trường hợp

vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn Có thể thấy, mục đích của việc đặt ra nguyên tắc này là để tạo điều kiện cho Toà án có thể xem xét sự việc một cách kỹ lưỡng, tránh những sai sót, đảm bảo cho việc giải quyết vụ kiện của Toà án là đúng đắn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự song đối với những vụ kiện đơn giản, chứng cứ rõ ràng, bị đơn thừa nhận nghĩa vụ; hoặc có giá ngạch thấp thì việc phải

xử qua hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm sẽ kéo dài thời gian giải quyết, gây tổn phí cho Nhà nước và đương sự một cách không cần thiết Mặt khác, phán quyết của Tòa

án không phải chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân mà còn phải có tác dụng bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, tránh việc đương sự lạm dụng quyền kháng cáo của mình để kéo dài vụ án nhằm trốn tránh nghĩa vụ Vì vậy, cần nghiên cứu quy định ngoại lệ cho nguyên tắc này, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn giải quyết các tranh chấp hiện nay

Thứ ba, về nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự

Khoản 1 Điều 107 HP năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực

hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” Đa số các nước trên thế giới, cơ

quan Công tố không có vai trò trong các vụ án dân sự, nhưng ở Việt Nam, từ trước

đến nay Viện kiểm sát có nhiệm vụ “thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động

tư pháp” Chức năng “kiểm sát hoạt động tư pháp” của Viện kiểm sát được quy

định trong các đạo luật về tố tụng Phạm vi tham gia của Viện kiểm sát trong hoạt

Trang 34

28

động tố tụng dân sự vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau, ví dụ Viện kiểm sát thực hiện giám sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án chỉ nên thông qua quyền kháng nghị hoặc có quan điểm khác cho rằng nên quy định sự tham gia của Viện kiểm sát

như quy định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2015 “Viện kiểm sát nhân dân

tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp

là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương

sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần” Như vậy,

nguyên tắc kiểm sát trong tố tụng dân sự nói chung và trong xét xử theo thủ tục rút gọn nói riêng được thực hiện thông qua hình thức nào là vấn đề phụ thuộc vào quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Thứ tư, nguyên tắc giám đốc việc xét xử

Khoản 2 Điều 104 HP năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân tối cao giám

đốc việc xét xử của các Tòa án khác, trừ trường hợp do luật định” Khoản 2 Điều

20 Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của TANDTC:

“Giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác, trừ trường hợp do luật định” Khoản 2

Điều 29 Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án

nhân dân cấp cao: “2 Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực

pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vụ thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng” Do đó, xét xử

theo thủ tục rút gọn có thuộc đối tượng giám đốc hay không là tùy vào quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Thứ năm, về nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

Điều 5 BLTTDS 2015 quy định: “1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi

kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải

Trang 35

29

quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó 2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”

Đây là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, gần như thể hiện bản chất khác nhau của tố tụng dân sự và tố tụng hình sự Đương sự có toàn quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện đó

Theo quy định trên, ý chí chủ quan của đương sự “có ý nghĩa quyết định” không chỉ làm phát sinh vụ án tại Tòa án mà còn trong quá trình giải quyết các vụ

án và Tòa án phải có trách nhiệm tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, trừ trường hợp quyền quyết định và tự định đoạt đó là “trái pháp luật và đạo đức xã hội” Tinh thần của nguyên tắc này phù hợp với một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là thừa nhận tính có hiệu lực pháp lý của giao dịch dân sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật dân sự rằng

giao dịch dân sự có hiệu lực là giao dịch mà “mục đích và nội dung của giao dịch

không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”

Trong một vụ án mà toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã được bị đơn thừa nhận ngay từ khi khởi kiện hay trong quá trình giải quyết vụ án, về thực chất, Tòa án chỉ xem xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội hay không, nếu không có sự vi phạm, Tòa án buộc phải ghi nhận trong phán quyết của mình các yêu cầu khởi kiện đã được bị đơn thừa nhận đó Do đó, trong trường hợp bị đơn đã thừa nhận toàn bộ những yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, áp dụng thủ tục đơn giản và gọn nhẹ hơn

Trang 36

30

thủ tục thông thường vẫn hoàn toàn bảo đảm sự tuân thủ nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

Thứ sáu, về nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự

Theo Điều 10 BLTTDS 2015 quy định: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành

hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” Nguyên tắc này cũng nhằm đề

cao hơn sự tự quyết và khuyến khích các đương sự thỏa thuận được với nhau về những vấn đề cần giải quyết và tạo điều kiện để cho các bên có cơ hội thương lượng

về những yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để tìm ra giải pháp chung mà theo đó

bị đơn đáp ứng toàn bộ hay một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Như vậy, việc hòa giải mang tính chất bắt buộc phải được hiểu rằng chỉ áp dụng khi bị đơn không thừa nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nói cách khác, trường hợp bị đơn thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với nguyên đơn nhưng vì lý do nào đó bị đơn không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nguyên đơn thì việc hòa giải không bắt buộc phải áp dụng

Tuy nhiên, để hài hòa với nguyên tắc tôn trọng và tạo điều kiện cho các bên tranh chấp hòa giải để các bên có thể tự thỏa thuận, tự thương lượng về những vấn

đề yêu cầu Tòa án giải quyết thì thiết nghĩ dù vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn nhưng khi đương sự có yêu cầu Tòa án tổ chức việc hòa giải, Tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải để giúp đỡ cho các đương sự thống nhất về phương thức, thời gian… thực hiện nghĩa vụ Trong trường hợp không có yêu cầu hòa giải từ một trong các đương sự, như đã nêu trên, Tòa án không có nghĩa vụ phải hòa giải

Thứ bảy, về nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể

Khoản 1 Điều 103 HP năm 2013 quy định: “Về việc xét xử sơ thẩm của Tòa

án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”

Tiếp theo, khoản 4 Điều 103 HP năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân xét xử tập

Trang 37

31

thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” Bản chất

nguyên tắc này là thể hiện tính dân chủ trong tố tụng, nhằm bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ, khách quan, công bằng trong việc xét xử, song đối với vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, bị được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì chỉ cần 01 thẩm phán xem xét giải quyết vẫn bảo đảm đúng pháp luật và đạt hiệu quả, tiết kiệm về thời gian cho những người tham gia tố tụng, đồng thời phát huy được vai trò và trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán trong việc giải quyết tranh chấp Thời gian qua, trình

độ và năng lực chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán không ngừng được bồi dưỡng

và nâng cao; phần lớn Thẩm phán hiện nay đều có bằng cử nhân luật chính quy và phải trải qua đào tạo chức danh Thẩm phán tại Học viện Tòa án trước khi được bổ nhiệm Vì vậy, họ có đủ năng lực chuyên môn để hoàn thành tốt công tác xét xử các loại vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn Như vậy, có cơ sở để không áp dụng nguyên tắc xét xử tập thể khi xét xử theo thủ tục rút gọn ở cả hai cấp

sơ thẩm và phúc thẩm

1.3 Lịch sử hình thành các quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân

sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay

1.3.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1959

Từ năm 1945 đến năm 1950, Nhà nước cách mạng đã ban hành một loạt các Sắc lệnh về Nhà nước và pháp luật, trong đó các văn bản liên quan đến tổ chức tư pháp và thủ tục tố tụng đặc biệt được chú trọng, đặc biệt nhất là Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về “Tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán” đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên quy định thẩm quyền của Tòa án xét xử các tranh chấp về dân sự,

mà trước đó các tranh chấp loại này chỉ thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban hòa giải của Ủy ban Hành chính cấp tỉnh và Ủy ban Hành chính cấp huyện Đồng thời các quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án trong Sắc lệnh này cũng cho thấy những quy định đầu tiên về thủ tục xét xử rút gọn

Trang 38

32

Theo Điều 3 Sắc lệnh số 13/SL thì Ban tư pháp xã có quyền “Phạt các việc vi cảnh nhưng chỉ có quyền phạt tiền từ năm hào đến sáu đồng bạc” Sau đó Sắc lệnh

số 51/SL có ghi nhận “hiệu lực tư chứng thư” của biên bản hòa giải thành do Ban tư

pháp xã lập Tiếp đến, Điều 7 Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 ghi nhận thẩm

quyền chung thẩm của Ban tư pháp xã đối với “Những vụ vi cảnh phạt bạc từ 5

đồng đến 30 đồng; Những việc đòi bồi thường hoặc bồi hoàn từ 300 đồng trở xuống

do người bị thiệt hại thỉnh cầu trong đơn kiện” Đây chính là thẩm quyền của Tòa

giản lược, chủ yếu xét xử theo thủ tục tối giản (một loại thủ tục rút gọn) mà một số nước trên thế giới đang thực hiện

Sắc lệnh số 13/SL còn quy định về thành phần Hội đồng xét xử và thẩm quyền của Thẩm phán ở các cấp Tòa án có sự khác nhau, phụ thuộc vào sự đơn giản hoặc phức tạp của tranh chấp và giá trị tranh chấp của từng loại quan hệ tranh chấp

để xác định thành phần Hội đồng xét xử là một thẩm phán hoặc một Chánh án hay phải có thêm Hội thẩm tham gia Ở Tòa án sơ cấp khi xét xử việc hộ và việc hình,

“Thẩm phán xét xử một mình, lục sự giữ bút ký, lập biên bản án từ” (Điều 10) Đối với Tòa án đệ nhị cấp khi xét xử về dân sự và thương sự “Chánh án xử một mình

nhưng khi xử các việc tiểu hình, phải có thêm hai viên phụ thẩm nhân dân góp ý kiến” (Điều 17) Ở Tòa án thượng thẩm, “các vấn đề liên can đến thủ tục tạm tha, đòi bồi thường, việc hộ và thương mại, ông Chánh án và hai hội thẩm quyết định lấy, phụ thẩm nhân dân không tham dự” (Điều 43)

Sau đó, Sắc lệnh 51/SL ngày 17/4/1946 về “Ấn định thẩm quyền các Tòa án

và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án” quy định việc phân định thẩm quyền giữa Tòa án các cấp còn căn cứ theo giá ngạch của vụ kiện và quy định thẩm quyền chung thẩm của Tòa án các cấp như sau: Tòa án sơ cấp có thẩm quyền xét xử

chung thẩm về dân sự và thương sự: (1) Những việc kiện dân sự, thương sự về động

sản mà giá ngạch do nguyên đơn định không quá 150 đồng; (2) Những việc kiện về

Trang 39

33

các khoản lệ phí đã phát sinh ra trước Tòa án ấy, không cứ giá ngạch nào (Điều 6)

Tòa án đệ nhị cấp có thẩm quyền xét xử chung thẩm về dân sự và thương sự: (1)

Những án của tòa sơ cấp bị kháng cáo;(2) Những việc kiện về bất động sản mà giá ngạch theo thời giá hôm khởi tố hay theo văn tự không quá 150 đồng; (3) Những việc kiện về động sản mà giá ngạch trên 450 đồng nhưng dưới 750 đồng (Điều 11)

Có thể thấy thời kỳ này, cơ chế xét xử chung thẩm (xét xử một lần) được áp dụng cả ở Tòa án sơ cấp và Tòa án đệ nhị cấp để xử những vụ án mà đối tượng tranh chấp là những tài sản có giá trị nhỏ (định theo giá ngạch), án tuyên có hiệu lực ngay, đương sự không có quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm Như vậy thủ tục xét

xử một lần đã được quy định từ giai đoạn đầu tổ chức bộ máy tòa án, nhưng hình thức và phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn còn hạn chế, chỉ có cơ chế xét xử chung thẩm và chỉ áp dụng đối với vụ kiện có giá ngạch thấp

Đến năm 1959, thủ tục giải quyết nhanh cũng được áp dụng để giải quyết khiếu nại danh sách cử tri Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại

về danh sách cử tri, Toà án phải giải quyết xong; quyết định của Toà án là quyết định cuối cùng [Điều 9, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959] Thực chất đây là khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự

1.3.2 Thời kỳ từ năm 1960 đến năm 2004

* Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1980

Sau khi ban hành HP năm 1959, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

đã thông qua Luật tổ chức TAND năm 1960, việc ban hành Luật tổ chức TAND năm 1960 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong ngành Tư pháp nước ta nói chung và trong luật tố tụng dân sự nói riêng Theo quy định của HP năm 1959 và Luật tổ chức TAND năm 1960, việc xét xử được thực hiện theo chế độ hai cấp là sơ thẩm

và phúc thẩm, vì vậy không còn áp dụng các quy định về cơ chế xét xử chung thẩm

Trang 40

34

như trước đây Trong giai đoạn này, nguyên tắc Tòa án thực hành chế độ xét xử tập thể và quyết định theo đa số được ghi nhận là nguyên tắc xét xử cơ bản nhưng tùy thuộc vào tính chất đơn giản hoặc phức tạp của vụ kiện mà việc xét xử có thể do một Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử (gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm) tiến hành [13, Điều 12]

* Giai đoạn từ năm 1981 đến năm 2004

Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Nhà nước ta đã xây dựng thành công

HP năm 1980 và Luật tổ chức TAND năm 1981, Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức TAND năm 1988 Theo các văn bản này thì việc xét xử vẫn được thực hiện theo hai cấp là sơ thẩm và phúc thẩm, đồng thời vẫn quy định về cơ chế xét xử một lần Tuy nhiên, cơ chế xét xử một lần trong thời kỳ này có sự thay đổi về bản chất của nó Nếu trước năm 1960 cơ chế xét xử một lần chỉ áp dụng ở Tòa án sơ cấp và Tòa án

đệ nhị cấp, thì theo Điều 21 Luật tổ chức TAND năm 1981 và Điều 27 Luật sửa đổi

bổ sung Luật Tổ chức TAND năm 1988, thẩm quyền sơ thẩm đồng thời chung thẩm chỉ thuộc về TANDTC, áp dụng cho các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp (Khoản 1 Điều 27), đây không còn là thủ tục rút gọn với ý nghĩa là thủ tục đơn giản, nhanh chóng về thời gian và trình tự tố tụng và thực tế từ khi quy định thủ tục sơ thẩm đồng thời là chung thẩm của TANDTC cho đến nay chưa ghi nhận một vụ án dân sự nào được TANDTC xét xử theo thủ tục này

Giai đoạn này việc xét xử tập thể và quyết định theo đa số đã được chính thức ghi nhận thành một nguyên tắc tại điều 132 HP năm 1980 và được Luật tổ chức TAND năm 1981 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức TAND năm 1988 ghi nhận

là nguyên tắc xét xử cơ bản Vì vậy, các quyết định của Tòa án tại phiên tòa đều do một Hội đồng xét xử quyết định theo đa số, các quy định về việc xét xử sơ thẩm bằng một Thẩm phán không còn được áp dụng Riêng việc giải quyết khiếu nại danh sách cử tri, Điều 25 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 1983 quy

Ngày đăng: 18/07/2017, 22:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
40. Trần Anh Tuấn chủ nhiệm đề tài (2014), Đề tài khoa học cấp bộ “Vấn đề xây dựng thủ tục TTDS rút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xây dựng thủ tục TTDS rút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Tác giả: Trần Anh Tuấn chủ nhiệm đề tài
Năm: 2014
45. Nguyễn Quang Du (2004), “Một số vấn đề về thủ tục rút gọn trong sự thảo BLTTDS – Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức”, Kỷ yếu các tọa đàm tổ chức tại Việt Nam trong khuôn khổ dự án JICA, quyển 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về thủ tục rút gọn trong sự thảo BLTTDS – Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức
Tác giả: Nguyễn Quang Du
Năm: 2004
47. Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Trường thi xuất bản, Sài Gòn Đào Duy Anh, Từ điển Hán Việt, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1957, tr.302 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1957
48. Lê Gia (1999), Tiếng nói nôm na, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, tr.1027-1028.Tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng nói nôm na
Tác giả: Lê Gia
Nhà XB: NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
1. Bộ chính trị (2002), Nghị quyết 08 – NQ/TW ngày 02/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp Khác
2. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết số 48 – NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị, ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa IX về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020 Khác
3. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị, ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa IX về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
4. Nghị quyết lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1997), NQ về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ngày 18/6/1997Văn bản pháp luật Khác
5. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 Khác
6. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959 Khác
7. Hiếp pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 Khác
8. Hiếp pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Khác
9. Hiếp pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Khác
10. Bộ luật dân sự nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 Khác
11. Bộ luật tố tụng dân sự nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2004 Khác
12. Bộ luật tố tụng dân sự nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2015 Khác
13. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 14. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 Khác
18. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Khác
19. JICA (1998), Japanese law (Luật Nhật Bản), tập III, NXB Thanh Niên, Hà Nội Khác
20. Bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga (2005), NXB Tư pháp, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w