1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tái thẩm trong tố tụng dân sự việt nam

109 260 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 692,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Thời hạn kháng nghị, thay đổi, bổ sung và rút kháng nghị Những người tham gia phiên tòa tái thẩm Chuẩn bị phiên tòa tái thẩm Thủ tục tiến hành

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

MAI HỒNG ANH

TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

MAI HỒNG ANH

TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Ngọc Khánh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Mai Hồng Anh

Trang 4

Đặc điểm của tái thẩm

Ý nghĩa của tái thẩm trong tố tụng dân sự

Ý nghĩa pháp lý của tái thẩm

Ý nghĩa chính trị của tái thẩm

Ý nghĩa xã hội của tái thẩm

Sự hình thành và phát triển của các quy định về tái thẩm

trong pháp luật Việt Nam

Sự hình thành và phát triển của tái thẩm trong Luật tổ chức

Tòa án nhân dân

Sự hình thành và phát triển của những quy định về tái thẩm

trong các văn bản quy phạm pháp luật khác

Tái thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự một số

nước trên thế giới

Liên bang Nga

SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ TÁI THẨM

30

Trang 5

2.2.1 Căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm 31 2.2.2 Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm 41 2.2.3

Đối tượng kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Thời hạn kháng nghị, thay đổi, bổ sung và rút kháng nghị

Những người tham gia phiên tòa tái thẩm

Chuẩn bị phiên tòa tái thẩm

Thủ tục tiến hành phiên tòa tái thẩm

Chương 3: THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ KIẾN NGHỊ

NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Việt Nam về tái thẩm

Công tác giải quyết đơn đề nghị xem xét lại bản án, quyết

định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm

Công tác kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Thực tiễn hoạt động xét xử tái thẩm

67

68

73

82 3.2 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tái thẩm trong tố tụng

dân sự Việt Nam

84

3.2.2 Một số kiến nghị về thực hiện chế định tái thẩm 92

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một bản án được xét xử nghiêm minh, công bằng, đúng pháp luật là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và cũng là mong muốn của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ được bảo vệ một cách kịp thời và đúng đắn Tuy nhiên, trên thực tế có tình trạng một số bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực nhưng vẫn bị phát hiện là có thiếu sót hoặc sai lầm vì những nguyên nhân khác nhau Khi đó, những bản

án, quyết định kể trên cần phải được xem xét và sửa chữa theo một thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng quy định Việc xét lại bản án , quyết định đã có hiệu lực không chỉ là yêu cầu đặt ra của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

mà còn là sự thể hiện của nguyên tắc công bằng xã hội trong hoạt động xét

xử, đảm bảo cho tất cả các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật tuyệt đối không được trái pháp luật

Tái thẩm là một trong hai phương thức xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, được quy định thành một chương (chương 19) trong Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 và được sửa đổi, bổ sung năm 2011 theo Luật số 65/2011/QH12, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 Trong thời gian qua, thực tiễn áp dụng thủ tục tái thẩm dân sự đã gặp phải không ít những vướng mắc, bất cập Tình hình khiếu nại bản án, quyết định dân sự đã

có hiệu lực pháp luật của người dân đang tăng Công tác giải quyết đơn khiếu nại của Toà án các cấp cũng gặp nhiều vấn đề phức tạp, quá tải; nhiều vụ án kéo dài nên chưa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân và gây bức xúc trong dư luận Nhiều quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục tái thẩm

đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện

Ngày 25 tháng 11 năm 2015, Quốc hội thông qua Bộ luật tố tụng dân sự

Trang 8

mới thay thế Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011), nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật Thủ tục tái thẩm được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn hiện hành; đồng thời, sửa đổi, bổ sung quy định nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn Tuy nhiên Bộ luật tố tụng dân sự mới vẫn chưa giải quyết được triệt để Tuy thủ tục tái thẩm trong Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện thêm một bước những vẫn còn nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến thủ tục này chưa được làm rõ như: Căn cứ kháng nghị tái thẩm, địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng trong thủ tục tái thẩm, thời hạn kháng nghị tái thẩm, phạm vi xét xử tái thẩm, những vấn đề liên quan đến công tác nghiên cứu, giải quyết đơn khiếu nại của đương sự đề nghị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Vì vậy, vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của tái thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam để từ đó có những đề xuất thiết thực, cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật

về tái thẩm và nâng cao hiệu quả công tác tái thẩm của Tòa án, Viện kiểm sát

Vì những lý do trên, học viên đã chọn đề tài "Tái thẩm trong tố tụng

dân sự Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến đề tài “Tái thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam”, hiện tại

trong khoa học luật tố tụng dân sự chưa có một công trình nghiên cứu khoa học riêng biệt và chuyên sâu về vấn đề này Tuy nhiên, có một số công trình nghiên cứu về “Thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật”, “Thủ tục giám đốc thẩm dân sự” có nhiều nét tương đồng với đề tài,

Trang 9

chúng ta có thể kể đến:

Luận văn thạc sĩ luật học: "Thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã

có hiệu lực pháp luật theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam", của Ngô Anh

Dũng, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, 1996; luận án tiến sĩ luật học:

"Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong

tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam", của Đào Xuân Tiến, bảo vệ tại Viện Nhà

nước và Pháp luật, 2009; luận án tiến sĩ luật học: "Giám đốc thẩm trong tố

tụng dân sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", của Mai Ngọc

Dương, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010;

Đề tài khoa học cấp bộ của Viện khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát nhân

dân tối cao: “Thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam” do Tiến

sĩ Trần Văn Trung làm chủ nhiệm đề tài, 2003; đề tài khoa học cấp Bộ năm

2012 "Thực trạng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án

nhân dân tối cao" của TANDTC, do tiến sĩ Nguyễn Huy Du làm chủ nhiệm

đề tài

Một số chuyên đề, bài viết của các tác giả đăng trong các sách, báo, tạp

chí chuyên ngành như: "Chế định giám đốc thẩm, tái thẩm và những vấn đề

đặt ra trong việc thi hành", của Trần Anh Tuấn, Tạp chí Luật học, số Đặc san

về tố tụng dân sự năm 2005; "Bàn về Dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn

Điều 284B Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011", của Nguyễn

Hồng Nam, Tạp chí TAND, tháng 5, 2012 (kỳ 2) và tháng 6, 2012 (kỳ 1);

chuyên đề "Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự và thủ tục xem xét lại các

quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao", của Trần Anh

Tuấn, trong cuốn Bình luận khoa học BLTTDS sửa đổi năm 2011

Các công trình nghiên cứu trên chỉ nghiên cứu một cách tổng thể về thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật hoặc tập trung nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm mà chưa tập trung nghiên cứu thủ tục tái

Trang 10

thẩm trong tố tụng dân sự Cho đến nay, sau khi Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

2014 có hiệu lực thi hành, nhất là khi Quốc hội đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy

đủ, toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về tái thẩm trong tố tụng dân sự

Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ những vấn đề lý luận

và thực tiễn về tái thẩm trong tố tụng dân sự, từ đó, phân tích các điểm chưa hợp lý trong quy định của pháp luật và đưa ra những giải pháp khắc phục nhằm hạn chế những vướng mắc trong thực tiễn tái thẩm, nâng cao hiệu quả tái thẩm

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết những vấn đề cụ thể sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về tái thẩm trong tố tụng dân sự như: Khái niệm, đặc điểm pháp lý, ý nghĩa, quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về tái thẩm dân sự

- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

về tái thẩm

- Phản ánh thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tái thẩm trong phạm vi từ khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) có hiệu lực đến trước khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành (trước ngày 01/7/2016)

- Tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế trong việc quy định và thi hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tái thẩm, từ đó đưa

ra các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả tái thẩm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Trang 11

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung về tái thẩm trong tố tụng dân sự; pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tái thẩm; thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về tái thẩm ở Việt Nam

Tuy nhiên, trong khuôn khổ phạm vi luận văn thạc sĩ việc nghiên cứu đề tài chỉ tập trung vào một số vấn đề sau:

- Về mặt lý luận, luận văn nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và quá trình phát triển của các quy định về tái thẩm dân sự ở Việt Nam

- Đối với pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tái thẩm, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về tái thẩm được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), trong đó phân tích và so sánh những điểm tương đồng, những điểm khác biệt với giám đốc thẩm dân sự, đồng thời phân tích những điểm mới, những quy định được sửa đổi, bổ sung về tái thẩm dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

- Việc khảo sát thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tái thẩm chủ yếu thực hiện tại Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và trong những năm gần đây (trước khi Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015 có hiệu lực thi hành)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -

Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về cải cách tư pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử nói chung và xét xử các vụ án dân sự nói riêng Trên cơ sở đó, luận văn

sử dụng các biện pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương

Trang 12

pháp lịch sử, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn… để nghiên cứu vấn

đề này

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện các vấn đề về tái thẩm trong tố tụng dân sự Làm rõ thêm những vấn đề lý luận về tái thẩm dân sự; đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về tái thẩm So sánh, phân tích, đánh giá những điểm mới, điểm sửa đổi, bổ sung về tái thẩm dân sự được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Luận văn cũng giúp người đọc hình dung được thực tiễn công tác tái thẩm của ngành Toà án, Viện kiểm sát trong những năm qua, những mặt còn tồn tại, nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác tái thẩm

Đề xuất một số kiến nghị xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự

về tái thẩm, góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện các quy định pháp luật

về tái thẩm, xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về tái thẩm trong thực tiễn áp dụng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tái thẩm trong tố tụng dân sự

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về

tái thẩm

Chương 3: Thực tiễn thi hành và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tái

thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam

Trang 13

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁI THẨM

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm tái thẩm dân sự

Theo pháp luật Việt Nam, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được tiến hành theo hai loại thủ tục, đó là thủ tục giám đốc thẩm

và thủ tục tái thẩm Thủ tục tái thẩm được quy định khá sớm và luôn được hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện tổ chức của các cơ quan tư pháp nói chung và Toà án nói riêng, phù hợp với trình độ quản lý của Nhà nước và ý thức pháp luật của người dân, phù hợp với thông lệ quốc tế Các quy định này

đã tạo điều kiện thuận lợi cho Toà án và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp theo thủ tục tái thẩm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự

Theo Từ điển Tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên và xuất bản

năm 1992 có đưa ra khái niệm: “Tái thẩm là xét lại một bản án đã xử” [44]

Theo khái niệm này thì tái thẩm được hiểu như một hoạt động của chủ thể, đó

là Toà án Hoạt động này là hoạt động xét lại một bản án đã xử Thủ tục phúc thẩm cũng là xét lại một bản án đã xử, và thủ tục giám đốc thẩm cũng là việc xét lại một bản án đã xử Nên khái niệm như trên chưa giúp người đọc thấy được bản chất của thủ tục tái thẩm và nội hàm của khái niệm “thủ tục tái thẩm” trong tố tụng dân sự

Theo tác giả Đinh Văn Quế thì: “Tái thẩm là xét lại bản án hoặc quyết

định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó” [14, tr.102] Với khái niệm này, đã thấy được căn cứ kháng nghị tái thẩm

Trang 14

giả về việc xác định thủ tục tái thẩm là một giai đoạn tố tụng hay một thủ tục

tố tụng đặc biệt

Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của trường Đại học Luật

Hà Nội đã đưa ra khái niệm: “Tái thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết

định đã có hiệu lực pháp luật của toà án bị kháng nghị do mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà tòa án và các đương sự đã không biết được khi toà án giải quyết vụ án” [37, tr.352] Với khái niệm này, thì đối tượng của

việc xét lại theo thủ tục tái thẩm là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện được những tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ án nhưng lúc ra bản án, quyết định các đương sự và Toà án đã không thể biết Do mới phát hiện được những tình tiết của vụ án mà trước đó các đương sự và Toà án đã không biết được nên làm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án trở nên không phù hợp với thực tế khách quan của vụ án, không đúng đắn

Điều 304 BLTTDS quy định tính chất của tái thẩm, đồng thời cũng chính

là khái niệm pháp lý về tái thẩm: “Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà

án, các đương sự không biết được khi Toà án ra bản án, quyết định đó” [22]

Khái niệm pháp lý này tiếp tục được BLTTDS năm 2015 kế thừa và quy định tại Điều 351 [25]

Như vậy, có thể hiểu: Tái thẩm trong tố tụng dân sự là thủ tục tố tụng

đặc biệt của tố tụng dân sự, theo đó Hội đồng tái thẩm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền

vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án, các đương sự đã không biết và không thể biết được khi Tòa án ra bản án hoặc quyết định đó, nhằm đảm bảo sự thật

Trang 15

của vụ án được xác định khách quan, toàn diện và đầy đủ Tuy nhiên, để nhận

diện đầy đủ bản chất của tái thẩm cần làm rõ đặc điểm của tái thẩm trong tố tụng dân sự

1.2 Đặc điểm của tái thẩm

Tái thẩm là thủ tục đặc biệt trong hoạt động tố tụng dân sự, tính chất đặc biệt này được hình thành bởi những đặc trưng riêng và thông qua đó có thể phân biệt được thủ tục này với các thủ tục tố tụng khác Tái thẩm có những

đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, đối tượng của tái thẩm là những bản án, quyết định dân sự

của Toà án đã có hiệu lực pháp luật

Trước hết, bản án, quyết định của Tòa án được hiểu là văn bản pháp lý được Tòa án có thẩm quyền tuyên xử hoặc quyết định theo một trình tự tố tụng do luật định về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi hoặc quan

hệ pháp luật phát sinh từ một vụ án cụ thể Bên cạnh đó, đối với một bản án, quyết định của Tòa án không phải lúc nào cũng có hiệu lực pháp luật ngay lập tức, tùy vào từng loại bản án, quyết định có thời hạn khác nhau theo luật định Chẳng hạn, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự sẽ có hiệu lực pháp luật ngay hay bản án dân sự sơ thẩm nếu không có kháng cáo, kháng nghị thì sau 15 ngày kể từ ngày tuyên án sẽ có hiệu lực pháp luật Với tái thẩm chỉ đă ̣t ra vấn đề kháng nghi ̣ đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được cho là không đúng với thực tế khách quan do mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà trước đó Toà án và các đương sự không thể biết được khi giải quyết vụ việc dân sự Theo quy định của BLTTDS, các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật có thể trở thành đối tượng kháng nghị tái thẩm, bao gồm, bản án, quyết định của Toà

án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị; bản án, quyết định của Toà án cấp phúc

Trang 16

thẩm; quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm, trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC

Thứ hai, tái thẩm không xét xử lại vụ án mà là xem xét tình tiết mới

được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị

Như vậy, trước hết phải xem xét tình tiết được phát hiện có phải là tình tiết mới hay không Tình tiết được coi là mới khi thỏa mãn các điều kiện sau: Tình tiết đó tồn tại trước khi Tòa án ra bản án, quyết định; được phát hiện sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và Tòa án không biết được tình tiết đó khi ra bản án, quyết định Sau đó phải xem xét ý nghĩa của tình tiết mới đối với vụ án Tình tiết mới phải có ý nghĩa làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án thì mới là căn cứ để có thể làm phát sinh tái thẩm

Thứ ba, việc xét lại bản án, quyết định phải dựa trên kháng nghị của

người có thẩm quyền

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, cơ sở làm phát sinh thủ tục tái thẩm chỉ có thể là kháng nghị của người có thẩm quyền Tuy nhiên, nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự là nét đặc thù trong pháp luật tố tụng dân sự Vì vậy, đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở ưu tiên hàng đầu để Tòa

án xem xét, kiểm tra lại bản án, quyết định Không phải đơn đề nghị hoặc văn bản thông báo nào của đương sự, của cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng được kháng nghị và đưa ra để Hội đồng tái thẩm xem xét mà còn cần dựa trên các căn cứ kháng nghị theo quy định của pháp luật để người có thẩm quyền ra quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định Như vậy, quyền đề nghị xem xét lại theo thủ tục tái thẩm của đương sự chỉ là cơ sở để người có thẩm quyền kháng nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là căn cứ để Hội đồng tái thẩm xác định những tình tiết mới

Trang 17

có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Hội đồng tái thẩm chỉ xem xét lại bản án, quyết định đó tại phiên tòa tái thẩm trên cơ sở quyết định kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị

Thứ tư, phạm vi tái thẩm bị giới hạn bởi phạm vi của kháng nghị

Chỉ có phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị mới được đưa ra xem xét Phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị chỉ bị xem xét lại nếu nó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án [22, Điều 296] BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm trường hợp phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị cũng sẽ bị xem xét lại nếu nó xâm phạm đến lợi ích công cộng [25, Điều 342]

Thứ năm, phiên tòa tái thẩm không mở công khai Về thành phần tham

gia, chỉ đại diện VKS cùng cấp bắt buộc phải có mặt, những người tham gia

tố tụng và những người khác có liên quan đến việc kháng nghị chỉ được tham gia phiên tòa tái thẩm trong trường hợp Tòa án "xét thấy cần thiết" [22, Điều 292] [25, Điều 338]

Từ những đặc điểm trên, nhận thấy tái thẩm có khá nhiều điểm tương đồng với thủ tục giám đốc thẩm, bên cạnh đó cũng có nhiều điểm khác biệt,

cụ thể như sau:

* Giống nhau:

- Đối tượng kháng nghị: Đối tượng kháng nghị theo thủ tục giám đốc

thẩm, tái thẩm đều là những bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật

Trang 18

- Chủ thể có quyền kháng nghị: chỉ có Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện

trưởng VKSND cấp tỉnh (nay là Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao), Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC mới có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

- Hậu quả khi bị kháng nghị: quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái

thẩm chưa làm mất hiệu lực pháp luật của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị nếu người có thẩm quyền kháng nghị không ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án hoặc quyết định hoãn thi hành án

- Hiệu lực: Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ có hiệu lực ngay khi

Hội Đồng giám đốc thẩm, tái thẩm ra quyết định

Ngoài ra, tái thẩm và giám đốc thẩm vụ án dân sự còn giống nhau ở nội dung quyết định kháng nghị; thẩm quyền xét xử; Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa; trình tự, diễn biến phiên tòa; phạm vi xét xử; nội dung quyết định;

* Khác nhau:

- Về tính chất:

+ Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án

+ Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng

bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó

- Về căn cứ kháng nghị:

+ Giám đốc thẩm: Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan trong vụ án Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật

Trang 19

+ Tái thẩm: phát hiện được tình tiết mới trong vụ án mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án, có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc

có sự giả mạo chứng cứ, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật

- Về thời hạn kháng nghị:

+ Giám đốc thẩm: 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị, hoặc bản án, quyết định xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của đương sự, người thứ ba, Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm thì sẽ được kéo dài thêm 2 năm

+ Tái thẩm: 1 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

- Về thẩm quyền của Hội đồng xét xử:

Nếu như hội đồng giám đốc thẩm có quyền huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc phúc thẩm lại thì hội đồng tái thẩm chỉ có thẩm quyền hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật dể xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục chung

Như vậy, việc tách riêng thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm như hiện nay là hợp lý vì như đã phân tích ở trên, hai thủ tục này khác nhau về tính chất, dẫn đến các quy định về cơ chế xử lý và hậu quả pháp lý là khác nhau BLTTDS

đã có những quy định khá rõ ràng, và chi tiết về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nhưng pháp lý là một ngành khoa học đặc thù nên xung quanh những vấn đề mà luật đã quy định còn có nhiều ý kiến trái chiều Những quan điểm khác nhau cũng như những luận điểm mà các nhà nghiên cứu đưa ra sẽ góp phần xây dựng và hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật TTDS về hai thủ tục này

Trang 20

1.3 Ý nghĩa của tái thẩm trong tố tụng dân sự

1.3.1 Ý nghĩa pháp lý của tái thẩm

Tái thẩm có ý nghĩa pháp lý đặc biệt trong tố tụng dân sự Tái thẩm khắc phục sai lầm về sự việc trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, bảo đảm giải quyết vụ án khách quan, công bằng, góp phần bảo đảm quyền con người, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự, góp phần bảo đảm sự tồn tại của nguyên tắc Nhà nước pháp quyền trong mỗi quốc gia

Tái thẩm ý nghĩa với hoạt động lập pháp Khi tiến hành tái thẩm, Tòa án

có điều kiện phát hiện những chỉ dẫn mới của các ngành khoa học khác có liên quan cũng như của khoa học pháp lý có thể sử dụng trong quá trình xác định sự kiện thực tế đã xảy ra trên thế giới khách quan trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, tái thẩm dân sự bảo đảm tính pháp chế xã hội chủ nghĩa của

công tác xét xử

Việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm giúp cho Tòa án khắc phục được những thiếu sót trong bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không phụ thuộc vào thời gian của bản

án, quyết định có hiệu lực pháp luật và được thi hành từ bao giờ [37, tr.353] Chính vì lẽ đó mà tái thẩm là cơ sở pháp lý để khẳng định tính đúng đắn của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; là cơ sở để hủy bỏ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; từ đó chấm dứt tố tụng đối với vụ án hoặc khôi phục lại trình tự tố tụng đối với vụ án nhằm xác định chính xác sự thật khách quan của vụ án, giúp vụ án được giải quyết một cách đúng đắn, công bằng nhất

Thứ hai, tái thẩm còn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động lập pháp

Thông qua công tác tái thẩm, Tòa án phát hiện những bất hợp lý của

Trang 21

pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng dân sự, kiến nghị với cơ quan lập pháp kịp thời sửa đổi, bổ sung pháp luật thực định cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Tái thẩm là một hoạt động thực tiễn của ngành Tòa án nhằm kiểm nghiệm những lý luận của khoa học pháp lý và các văn bản pháp luật, là

cơ sở cho việc hoàn thiện, bổ sung và nâng cao hoạt động lý luận trong khoa học pháp lý và trong hoạt động xây dựng pháp luật

Thứ ba, thông qua hoạt động tái thẩm Tòa án cấp trên còn có thể tổng

kết, rút kinh nghiệm công tác xét xử, hướng dẫn xét xử cho Tòa án cấp dưới, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ xét xử

Hướng dẫn xét xử và áp dụng thống nhất pháp luật là công tác rất quan trọng của ngành Tòa án Các quyết định tái thẩm là nguồn tư liệu thực tế phong phú để TANDTC làm cơ sở đưa ra những kết luận, tổng kết kinh nghiệm xét xử cho các Tòa án địa phương hàng năm, nhằm nâng cao chất lượng xét xử, hạn chế những sai sót của Tòa án cấp dưới Thông qua công tác tái thẩm, TANDTC ban hành các văn bản hướng dẫn xét xử cho các Tòa án cấp dưới Do vậy, tái thẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Tòa án, nhất

là TANDTC trong việc thực hiện chức năng quan trọng là hướng dẫn xét xử đối với các Tòa án cấp dưới Các quyết định tái thẩm được công bố công khai cũng là nguồn tư liệu quý giá để các Thẩm phán tham khảo và rút kinh nghiệm trong quá trình xét xử, tránh lặp lại những sai lầm tương tự Ngoài ra, thông qua công tác tái thẩm TANDTC còn đánh giá được chất lượng Thẩm phán, để từ đó có kế hoạch cho việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ ngành TAND phù hợp với năng lực, đạo đức [5, tr.19]

1.3.2 Ý nghĩa chính trị của tái thẩm

Quy định về tái thẩm góp phần đáp ứng những đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền và là một trong những cơ chế để đảm bảo việc kiểm tra, giám sát pháp luật

Trang 22

Khi phát hiện những tình tiết mới trong bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Toà án có thẩm quyền tái thẩm sẽ huỷ bản án hoặc quyết định đó để xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án Thông qua hoạt động của mình, các Toà án này đã góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho các cán bộ làm công tác xét xử Những vụ án xét xử theo thủ tục tái thẩm được nêu trong các hội nghị tổng kết ngành, hội thảo về xét xử giúp cán bộ làm công tác xét xử nói chung có được nhận thức đúng đắn và tôn trọng pháp luật hơn Thông qua tái thẩm, TANDTC sẽ hướng dẫn việc áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, thống nhất, tránh việc nhận thức pháp luật sai lầm và áp dụng pháp luật một cách tuỳ tiện Không chỉ có ý nghĩa giáo dục ý thức pháp luật đối với cán bộ làm công tác xét xử mà nó còn góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho những người có liên quan đến vụ việc và người dân nói chung

Vấn đề bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân được coi là yêu cầu trung tâm của nội dung Nhà nước pháp quyền, thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta Toà án trong hoạt động của mình phải đảm bảo việc xét xử được đúng đắn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Tuy Toà án cấp tái thẩm không trực tiếp xét xử vụ án, không trực tiếp khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm nhưng bằng việc huỷ những bản án, quyết định sai, tạo cơ sở pháp lý để vụ án được phục hồi

và xét xử lại đã góp phần khắc phục những vi phạm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân

Tái thẩm có nhiệm vụ xét lại những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, vô hiệu các bản án, quyết định sai trái, đảm bảo việc xét xử hợp pháp và hợp hiến Với mục đích này, tái thẩm góp phần đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tính thống nhất, ổn định, chặt chẽ của Nhà nước và pháp luật

1.3.3 Ý nghĩa xã hội của tái thẩm

Trang 23

Tái thẩm góp phần đảm bảo công bằng xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Toà án, góp phần đảm bảo uy tín của cơ quan tư pháp

Việc đảm bảo pháp luật được giải thích và áp dụng thống nhất là điều kiện quan trọng để hành vi của công dân được điều chỉnh bởi một hệ thống pháp luật thống nhất, đảm bảo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Thủ tục tái thẩm cho phép người dân được quyền đề nghị kháng nghị một khi phát hiện những căn cứ làm cho việc xét xử trước đó là sai lầm, dẫn đến quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm Những bản án, quyết định này

có thể bị huỷ nếu có căn cứ, trình tự tố tụng để giải quyết vụ án sẽ được khôi phục lại Những quy định này giúp người dân tin tưởng hơn vào pháp luật, đồng thời góp phần củng cố lòng tin của người dân vào cơ quan tư pháp

1.4 Sự hình thành và phát triển của các quy định về tái thẩm trong pháp luật Việt Nam

1.4.1 Sự hình thành và phát triển của tái thẩm trong Luật tổ chức Tòa

án nhân dân

Những quy định về tái thẩm trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân bao gồm những quy định liên quan đến thẩm quyền kháng nghị cũng như thẩm quyền tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, từ Tòa án nhân dân tối cao cho đến các Tòa án địa phương khác

Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 là Luật tổ chức Tòa án nhân dân đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, những quy định về thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được ghi nhận một cách chính thức và đầu tiên tại văn bản này Theo đó, xét về thẩm quyền của Tòa án, Luật tổ chức TAND năm 1960 trao cho Tòa án nhân dân tối cao thẩm quyền xét lại những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị phát hiện là có sai lầm Các Tòa án cấp dưới chỉ được quyền xét lại

Trang 24

đối với những bản án, quyết định của Toà án địa phương và việc xét lại chỉ được thực hiện một khi các Tòa án cấp dưới này được Tòa án nhân dân tối cao phân, giao nhiệm vụ xét lại Một cách cụ thể Điều 12 Luật tổ chức TAND năm 1960 quy định:

Những bản án và q uyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật , nếu phát hiện có sai lầm thì được xét lại

Đối với bản án và quyết định của các Tòa án nhân dân địa phương

đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm thì Tòa án nhân dân tối cao có quyền xét lại hoă ̣c giao cho Tòa án nhân dân cấp dưới xét lại

Đối với những bản án và quyết định của Tòa án nhân dân tối cao đã

có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có sai lầm thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đưa ra Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét định

Đối với những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án mình hoă ̣c Tòa án cấp dưới nếu phát hiện có sai lầm thì Tòa

án nhân dân địa phương có quyền nêu lên để Tòa án nhân dân tối cao xét định

Mặc dù Điều luật này không quy định cụ thể việc xét lại thực hiện theo thủ tục giám đốc thẩm hay tái thẩm, tuy nhiên căn cứ vào tính chất của giám đốc thẩm thì đây là quy định dành cho thủ tục giám đốc thẩm chứ không phải tái thẩm Như vậy, ở văn bản này cơ bản quy định về tái thẩm vẫn chưa xuất hiện

Cùng với sự ra đời của Hiến pháp năm 1980 là Luật tổ chức TAND năm

1981, đây không chỉ là văn bản thay thế mà căn bản nó còn kế thừa những quy định của Luật Tổ chức TAND năm 1960 Đặc biệt đến giai đoạn này, lần đầu tiên cụm từ “thủ tục tái thẩm” xuất hiện trong một văn bản luật chính

Trang 25

thức Đồng thời, những quy định về giám đốc thẩm và tái thẩm cũng trở nên

rõ ràng hơn , một cách cụ thể nhất Điều 12 Luật tổ chức TAND năm 1981

quy định: “Những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật được xét lại

theo thủ tục giám đốc thẩm, nếu thấy có vi phạm pháp luật , hoặc được xét lại theo thủ tục tái thẩm, nếu phát hiện những tình tiết mới” Thông qua quy định

này có thể thấy, việc xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm sẽ được thực hiện nếu như có vi phạm pháp luật chứ không phải là “phát hiện có sai lầm” như ở Luật tổ chức TAND năm 1960, đồng thời bổ sung thêm việc xét lại theo thủ tục tái thẩm nếu phát hiện những tình tiết mới Việc thay đổi này đã tạo tiền

đề cho sự phát triển của những quy định về tái thẩm cũng như giám đốc thẩm

ở các văn bản sau này Ở Luật tổ chức TAND năm 1981 Tòa án nhân dân tối cao vẫn mang thẩm quyền cao nhất trong việc xét lại bản án , quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật , tuy nhiên thẩm quyền xét lại được mở rộng

ra đối với các Tòa án cấp dưới Chẳng hạn: Theo quy định tại khoản 4 Điều

33 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 thì Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương được trao

cho thẩm quyền “Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án và quyết định

đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án nhân dân huyện , quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” Thêm vào đó , Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh , thành phố

trực thuộc trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp dưới, tạm đình chỉ việc thi hành án nếu thấy cần thiết theo khoản 4 Điều

35 Luật tổ chức TAND năm 1981 Tuy nhiên, Luật tổ chức TAND năm 1981 không có quy định nào về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Như vậy, nhìn chung những quy định về giám đốc thẩm , tái thẩm ngày càng trở nên cụ thể và nguyên tắc hơn Việc mở rộng thẩm quyền xét lại bản án cũng như quyết định đã có hiệu lực pháp luật mang ý nghĩa quan trọng bởi lẽ, trong

Trang 26

khi xã hội ngày càng phát triển nhu cầu khởi kiện và yêu cầu khởi kiện của người dân cũng ngày một nhiều hơn, khi đó việc xét xử gặp sai sót dẫn đến kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm là điều không thể tránh khỏi Nếu thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực chỉ tập trung vào Tòa án nhân dân tối cao, sẽ dẫn đến tình trạng quá tải trong hoạt động giải quyết kháng nghị Bởi vậy, việc trao cho các Tòa án cấp dưới thêm thẩm quyền kháng nghị

và giải quyết kháng nghị là kịp thời và cần thiết

Luật tổ chức TAND năm 1992 và năm 2002 lần lượt ra đời thay thế các Luật tổ chức TAND trước đó Ở hai văn bản những quy định về giám đốc thẩm và tái thẩm được bổ sung, hoàn thiện hơn so với Luật tổ chức TAND năm 1981, đặc biệt là đã quy định thêm thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2014 Luật có hiệu lực từ ngày 01/4/2015 và thay thế Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 Theo quy định mới của luật, tổ chức Tòa án nhân dân gồm có: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương và Tòa án quân sự So với Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2002, Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 đã bổ sung thêm hình thức Tòa án nhân dân cấp cao Theo đó thẩm quyền tái thẩm cũng có sự thay đổi, TANDTC không thực hiện nhiệm vụ xét xử phúc thẩm mà chỉ thực hiện nhiệm vụ giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác; xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm 5 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Thẩm phán TANDTC; tổng kết thực tiễn xét xử; bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; quản lý các Toà án về tổ chức; xây dựng pháp luật theo sự phân công của Quốc hội,

Ủy ban thường vụ Quốc hội; bổ sung nhiệm vụ đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu

Trang 27

nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác của Tòa án Đồng thời, để cụ thể hóa quy định tại khoản 1 Điều

104 của Hiến pháp về việc “Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, tại khoản 4 Điều 22 của

Luật quy định: “Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm

phán Toà án nhân dân tối cao là quyết định cao nhất, không bị kháng nghị”

Về Toà án nhân dân cấp cao, theo quy định của Luật, Tòa án nhân dân cấp cao có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị bằng Hội đồng 3 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao

Về Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, theo quy định của Luật, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị và xét xử sơ thẩm một số vụ án không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; không thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm

1.4.2 Sự hình thành và phát triển của những quy định về tái thẩm trong các văn bản quy phạm pháp luật khác

Trước hết phải đề cập đến Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, đây là Pháp lệnh đầu tiên được ban hành với mục đích quy định về trình tự, thủ tục để giải quyết các vụ án dân sự nói chung và trình tự, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các vụ án dân sự nói riêng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự được ban hành vào ngày 29/11/1989, có hiệu lực

kể từ ngày 01/01/1990 Ở văn bản này, thủ tục tái thẩm được quy định tại

Trang 28

Chương 13 Điều 78 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định

04 căn cứ để bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, đó là:

1- Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự

đã không thể biết được;

2- Đã xác định được là lời khai của người làm chứng, kết luận giám định hoặc lời dịch của người phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật hoặc đã có sự giả mạo bằng chứng;

3- Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố tình kết luận trái pháp luật;

4- Bản án hình sự, dân sự hoặc quyết định của cơ quan, tổ chức mà Toà án đã dựa vào để giải quyết vụ án dã bị huỷ

Với những căn cứ này, một khi bản án cũng như quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có một trong những căn cứ kháng nghị trên thì có thể

sẽ bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Về thời hạn kháng nghị tái thẩm, theo quy định tại khoản 1 Điều 79 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì thời hạn kháng nghị tái thẩm là một năm kể từ ngày phát hiện được những căn

cứ để kháng nghị tại Điều 78 của Pháp lệnh này Theo đó, khi hết thời hạn kháng nghị thì mọi kháng nghị điều trở nên vô căn cứ, tuy nhiên, trong trường hợp kháng nghị theo hướng không gây bất lợi cho bất kỳ đương sự nào thì thời hạn kháng nghị sẽ không bị giới hạn Về người có quyền kháng nghị, khác với thủ tục giám đốc thẩm, quyền kháng nghị tái thẩm chỉ được Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trao cho Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và cấp tỉnh [8, Điều 79] chứ không bao gồm thêm Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao hay Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Bên cạnh đó, những quy định về thẩm quyền tái thẩm, thời hạn xét xử, phạm vi tái thẩm được Pháp lệnh thủ tục giải

Trang 29

quyết các vụ án dân sự ghi nhận tương tự như thủ tục giám đốc thẩm

Sau sự ra đời của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm

1989, đến năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16/3/1994, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/1994 Đây là văn bản ra đời nhằm giải quyết đúng pháp luật, kịp thời các vụ án kinh tế, cũng giống như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 dành ra một chương để quy định về thủ tục tái thẩm, cụ thể là tại Chương XII

Ở văn bản này, có thể thấy những quy định về tái thẩm được Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 quy định không khác nhiều so với văn bản ra đời trước đó là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm

1989 Sự khác biệt đến từ căn cứ kháng nghị tái thẩm, theo đó, khoản 2 Điều

82 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 quy định căn cứ

kháng nghị tái thẩm thứ hai là “Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám

định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo bằng chứng” thay vì “Đã xác định được là lời khai của người làm chứng , kết luận giám định hoặc lời dịch của người phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật hoặc đã có sự giả mạo bằng chứng” như ở khoản 2 Điều 78 của Pháp lệnh

thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Như vậy, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các

vụ án kinh tế đã bỏ đi phần căn cứ là lời khai của người làm chứng không đúng sự thật hoặc giả mạo bằng chứng Có thể hiểu trong trường hợp này, xuất phát từ bản chất là những vụ án kinh tế, bởi vậy, không phải lúc nào cũng có sự góp mặt, tham gia của người làm chứng; việc không đưa chi tiết lời khai của người làm chứng vào căn cứ kháng nghị là hợp lý

Đến năm 1996, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động được ban hành, cùng với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm

1989 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 giải quyết

Trang 30

các vấn đề phát sinh trong các lĩnh vực khác nhau như dân sự, kinh tế hay lao động Theo quy định của Pháp lệnh này, căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm về căn bản là giống với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 Nghĩa là, lời khai của người làm chứng không rõ ràng cũng là căn

cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Điều này khác với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế Qua đó, có thể thấy sự không thống nhất trong các quy định tại ba Pháp lệnh lúc bấy giờ Về thời hạn kháng nghị, thì thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là sáu tháng kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; nếu việc kháng nghị có lợi cho người lao động thì thời hạn đó là một năm [42, Khoản 1 Điều 75] Ngoài ra, trước khi ba Pháp lệnh trên ra đời, giám đốc thẩm và tái thẩm còn được quy định tại các Thông tư, chẳng hạn như: Thông tư số 01/TTLN ngày 01/02/1982 hướng dẫn về thủ tục giám đốc thẩm hình sự, giám đốc thẩm dân sự ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Thông tư số 83/TATC ngày 02/8/1982 hướng dẫn thủ tục giám đốc thẩm ở Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư 02/TTLN hướng dẫn thủ tục tái thẩm hình sự, tái thẩm dân sự ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh…Nhìn chung, các Pháp lệnh trên là những cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành các thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, vụ án kinh tế hay các tranh chấp lao động nói chung và thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nói riêng Những quy định về giám đốc thẩm, tái thẩm được thể hiện rõ nét, tuy nhiên, các Pháp lệnh này mới chỉ dừng lại ở việc quy định những nguyên tắc, thủ tục cơ bản mà còn thiếu nhiều những quy định cụ thể phát sinh trong quá trình giải quyết, nhiều quy định không đồng bộ và thống nhất với các văn bản pháp luật hiện hành Chính vì

sự không đồng bộ, thống nhất trong những quy định tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, thêm vào đó với chính sách

mở cửa và hội nhập quốc tế trong quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa

Trang 31

nước ta với các nước trong khu vực và thế giới đã dẫn đến một vấn đề cấp bách đó là phải hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp Trước bối cảnh đó,

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời như một tất yếu khách quan, là liều thuốc kích thích sự phát triển pháp luật quốc gia

Trên cơ sở kế thừa và phát triển ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng trước đó, đồng thời tiếp thu những thành tựu lập pháp của nhiều nước trên thế giới như Cộng hoà Pháp, Mỹ, Úc, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapore… năm 2004, nhà lập pháp Việt Nam đã xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự chung thống nhất Khi đó các vấn đề tố tụng về dân sự, kinh tế hay lao động đều được giải quyết thông qua văn bản là Bộ luật tố tụng dân sự Về căn cứ kháng nghị, Bộ luật tố tụng dân sự đưa ra 04 căn cứ đối với tái thẩm theo quy định tại Điều 305 BLTTDS Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được quy định cụ thể và rõ ràng hơn Theo đó, thời hạn kháng nghị của tái thẩm là 01 năm kể từ ngày phát hiện căn cứ để kháng nghị Như vậy, ở BLTTDS thời hạn kháng nghị bị giới hạn trong một khoảng thời gian nhất định chứ không giới hạn về thời gian đối với việc kháng nghị theo hướng không gây bất lợi cho bất kỳ đương sự nào trong vụ án như ở ba Pháp lệnh trước đó Việc quy định này nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan

có thẩm quyền trong việc bảo đảm tính hợp pháp cho bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Ngoài ra, nội dung BLTTDS còn xuất hiện thêm quy định mới để làm rõ hơn về thủ tục tái thẩm

Năm 2011, BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung Theo đó, việc sửa đổi, bổ sung những quy định về giám đốc thẩm cũng như tái thẩm chỉ được thực hiện đối với một số quy định tại Điều 284, 288, 297, 298 và Điều 299

Điều 284 BLTTDS năm 2004 quy định: “Đương sự hoặc cá nhân , cơ quan,

tổ chức khác , Tòa án , Viện kiểm sát có quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án , quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo

Trang 32

bằng văn bản đến những người có thẩm quyền kháng nghị” , không quy định

thời hạn gửi thông báo đến người có thẩm quyền kháng nghị trong thời hạn bao lâu Nhận thấy sự thiếu sót hiện nay Điều 284 đã được sửa đổi, bổ sung

cụ thể và chi tiết hơn, theo đó, “đối với đương sự nếu phát hiện vi phạm pháp

luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với những người có quyền kháng nghị để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Thời hạn đề nghị giám đốc thẩm của đương sự là một năm, kể

từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật”, đồng thời “đối với Tòa án , Viện kiểm sát hoặc các nhân , cơ quan, tổ chức khác , nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị” Việc quy định trong thời hạn một năm là nhằm để nâng cao trách

nhiệm và quyền định đoạt của đương sự trong việc đề nghị giám đốc thẩm Việc đương sự gửi đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được thực hiện như quy định của Bộ luật về thủ tục giám đốc thẩm Ngoài ra, đối với các sửa đổi, bổ sung còn lại trong BLTTDS hiện hành đa số đều mang tính chất làm rõ hơn quy định trước đó [29, tr.36-37]

Ngày 25 tháng 11 năm 2015, Quốc hội đã thông qua Bộ luật tố tụng dân

sự mới thay thế Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011) Thủ tục tái thẩm được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015 trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn hiện hành; đồng thời, sửa đổi, bổ sung quy định nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, phù hợp với quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; cụ thể là: Sửa đổi, bổ sung quy định về người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, theo đó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản

Trang 33

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ Bổ sung điều luật mới quy định đương sự được quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho người có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm nếu những tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý

do chính đáng hoặc những tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị tái thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm có thể tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án Bổ sung quy định về thủ tục tại phiên tòa tái thẩm, đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được Tòa án triệu tập đến phiên tòa tái thẩm trình bày ý kiến, tranh luận về những vấn đề mà Hội đồng tái thẩm yêu cầu…

Như vậy, tính đến thời điểm hiện nay có thể thấy rằng những quy định

về thủ tục tái thẩm phát triển từng ngày theo sự phát triển của dòng chảy lịch

sử Từ những quy định còn mang tính nguyên tắc, phân bố tản mạn, chồng chéo, giờ đây các quy định đó đã được tập hợp và pháp điển hóa một cách cụ thể, chi tiết cũng như rõ ràng hơn, nhờ đó việc áp dụng pháp luật vào việc giải quyết các vụ việc dân sự trở nên dễ dàng và thống nhất có hiệu quả hơn

1.5 Tái thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự một số nước trên thế giới

Trang 34

1.5.1 Liên bang Nga

Bộ luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga quy định chi tiết về việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, đồng thời có sự phân định rõ ràng về thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm BLTTDS Liên bang Nga quy định nguyên đơn, bị đơn, những người tham gia tố tụng có quyền yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án theo thủ tục tái thẩm khi có các căn cứ được quy định tại Điều 392 BLTTDS Nga:

1) Những tình tiết có ý nghĩa cơ bản đối với vụ án mà người gửi đơn không biết hoặc không thể biết;

2) Việc khai báo gian dối của người làm chứng, kết luận giám định gian dối, dịch gian dối, làm giả chứng cứ dẫn đến việc ra bản án, quyết định trái pháp luật hoặc không có căn cứ và được xác định bởi bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;

3) Hành vi phạm tội của nguyên đơn, bị đơn, những người tham gia

tố tụng khác, đại diện của họ, thẩm phán, được thực hiện trong quá trình xem xét, giải quyết vụ án và được xác định bởi bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;

4) Huỷ bỏ bản án, quyết định hoặc bản án kết tội của Toà án hoặc quyết định của cơ quan chính quyền nhà nước hoặc cơ quan chính quyền tự quản địa phương, nếu chúng là căn cứ của việc ra bản án, quyết định của Toà án

Đơn yêu cầu tái thẩm, đề nghị tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án được gửi đến Tòa án đã ra bản án, quyết định bởi nguyên đơn, bị đơn, những người tham gia tố tụng khác Đơn yêu cầu tái thẩm, đề nghị tái thẩm có thể được gửi trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày xác định được căn cứ tái thẩm (Điều 394 BLTTDS Nga) Khi giải quyết đơn yêu cầu xem xét lại bản

Trang 35

án, quyết định của tòa án theo thủ tục tái thẩm, tòa án có quyền bác đơn yêu cầu hoặc chấp nhận đơn yêu cầu và hủy bỏ bản án, quyết định của Tòa án (Điều 397 BLTTDS Nga) [10]

1.5.2 Công hòa Pháp

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự mới của Công hòa Pháp, đương sự, người đại diện của đương sự có quyền kháng cáo bản án đã có hiệu lực pháp luật để yêu cầu tòa án cấp trên xem xét lại theo thủ tục tái thẩm Thời hạn kháng cáo là 02 tháng kể từ ngày phát hiện ra tình tiết mới làm căn

cứ cho việc kháng cáo tái thẩm Căn cứ để kháng cáo tái thẩm là bản án được quyết định do có sự gian lận của bên được kiện; phát hiện được những chứng

cứ mới quan trọng do bên đương sự kia che giấu; việc ra quyết định của tòa

án dựa trên những tài liệu mà tòa án công nhận hoặc tuyên bố là giả mạo (Điều 595 BLTTDS mới) Trong trường hợp kháng cáo tái thẩm được chấp nhận thì tòa án xét xử nội dung vụ việc trừ trường hợp phải thẩm cứu bổ sung (Điều 601 BLTTDS mới) [37, tr.496]

Chương 1 tác giả đã tập trung làm sáng tỏ bản chất một số vấn đề lý luận

có liên quan đến nội dung nghiên cứu tái thẩm dân sự như : Khái niệm tái thẩm, đă ̣c điểm, ý nghĩa, lược sử hình thành và phát triển tái thẩm dân sự Đây

là những vấn đề lý luận cần thiết làm nền tảng để sử dụng phục vụ cho việc nghiên cứu thực tiễn quy định của pháp luật dân sự Việt Nam liên quan đến tái thẩm dân sự tại chương 2 và làm cơ sở cho việc chỉ ra những bất cập và đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng dân sự về nội dung này tại chương 3

Trang 36

Chương 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ TÁI THẨM

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, tại thời điểm nghiên cứu luận văn, BLTTDS 2015 chưa có hiệu lực thi hành, do đó, luận văn tập trung phân tích các quy định hiện hành của BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 về tái thẩm, đồng thời phân tích phân tích các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để làm nổi

bật điểm mới

2.1 Tính chất của tái thẩm

Việc làm rõ tính chất của tái thẩm có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định các quy định khác của BLTTDS về tái thẩm cũng như giúp cho việc phân biệt rõ thủ tục tái thẩm với những thủ tục tố tụng khác, đặc biệt là phân biệt với thủ tục giám đốc thẩm

Tái thẩm cũng là thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự như thủ tục giám đốc thẩm Trong đó, tòa án có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có kháng nghị Tuy vậy, việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục này là dựa trên cơ sở mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án chứ không phải trên cơ sở phát hiện được sai lầm, vi phạm pháp luật của tòa án trong việc giải quyết vụ

án

Tính chất của tái thẩm dân sự được quy định tại Điều 304 BLTTDS:

“Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án, các đương sự không biết được khi Toà án ra bản án, quyết định đó”

Trang 37

được đề cập đến tại Điều 304 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi,

bổ sung năm 2011) BLTTDS năm 2015 ra đời, tiếp tục kế thừa, giữ nguyên quy định về tính chất của tái thẩm như BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) tại Điều 351 BLTTDS năm 2015

2.2 Kháng nghị theo thủ tục tái thẩm dân sự

2.2.1 Căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Thủ tục tái thẩm và thủ tục giám đốc thẩm đều là những thủ tục đặc biệt trong tố tụng dân sự để xem xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị Chính vì vậy, giữa hai thủ tục này có rất nhiều điểm tương đồng Tuy nhiên, do tính chất của giám đốc thẩm và tái thẩm khác nhau nên đã chi phối các quy định của pháp luật về căn cứ kháng nghị Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định căn cứ kháng nghị tái thẩm tại Điều 305 BLTTDS; và được kế thừa tại Điều 352 BLTTDS năm 2015

Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong bốn căn cứ sau:

- Thứ nhất: Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà

đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án

Theo Điều 304 của BLTTDS thì tái thẩm là xét lại bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà toà

án, các đương sự không biết được khi toà án ra bản án, quyết định đó Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ “có những tình tiết mới được phát hiện có thể

làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà toà án, các đương

sự không biết được khi toà án ra bản án, quyết định đó” là chưa chính xác và

mâu thuẫn với quy định về căn cứ kháng nghị theo khoản 1 Điều 305 BLTTDS Bởi vì, theo khoản 1 Điều 305 BLTTDS thì bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi “Mới phát hiện

Trang 38

được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong

quá trình giải quyết vụ án” Xét về thuật ngữ thì việc “các đương sự không biết được” và việc “đương sự đã không thể biết được” là hoàn toàn khác nhau [38, tr.98] Vì vậy, các quy định của luật cần có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ để tránh những cách hiểu khác nhau, gây khó khăn trong việc

“Tình tiết quan trọng” trong căn cứ này phải là những tình tiết làm thay đổi nội dung của vụ án Ví dụ: trong quá trình giải quyết vụ án chia di sản thừa kế, các đương sự không biết được người để lại di sản thừa kế đã lập di chúc để lại toàn bộ khối di sản cho người con út, nên vụ án đã được giải quyết theo pháp luật Mấy năm sau, người con út mới phát hiện ra di chúc Việc phát hiện ra di chúc là tình tiết mới quan trọng làm thay đổi bản chất của vụ

án Bản án nếu so với di chúc thì khác nhiều và kết luận của bản án đã làm

Trang 39

thiệt hại đến lợi ích của người thừa kế được chỉ định trong di chúc Đây là tình tiết quan trọng để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

+ Những tình tiết mới được phát hiện làm căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm phải là những tình tiết Toà án muốn xác định được phải qua quá trình xét xử lại Những tình tiết đã có sẵn trong hồ sơ vụ án, Toà án không đánh giá sử dụng hoặc những tình tiết đã có vào lúc Toà án giải quyết vụ án nhưng do sai lầm nên Toà án không phát hiện được, không yêu cầu đương sự cung cấp thì không được coi là tình tiết mới [37, tr.356]

Hiện nay, đối với tái thẩm, vấn đề xác định “tình tiết mới được phát

hiện” của vụ án, hiện nay chưa có quy định nào mang tính hướng dẫn cũng

như giải thích cho “tình tiết mới” ở đây là những tình tiết như thế nào, từ đó

dẫn đến trên thực tế việc áp dụng quy định pháp luật về tái thẩm gặp rất nhiều khó khăn Sự nhầm lẫn trong việc nhìn nhận căn cứ kháng nghị giữa kháng nghị tái thẩm với giám đốc thẩm là một trong những khó khăn trong thực tiễn Một minh chứng thực tế: Bản án dân sự phúc thẩm số 10/2007/LHPT

ngày 17/8/2007 của TAND tỉnh H có phần quyết định: “Chấp nhận sự thỏa

nghiệp đã đo cấp Sổ lâm bạ ngày 27/01/1994 mang tên anh N…” bản án có

hiệu lực và chị S có đơn yêu cầu thi hành

Do quá trình giải quyết vụ án, TAND tỉnh H chỉ căn cứ vào Sổ lâm bạ do anh N cung cấp; không xác minh thực địa, không thành lập Hội đồng kiểm tra, đo đạc mà vẫn công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trên Khi tổ chức thi hành bản án, Chi cục thi hành án dân sự huyện C không thể xác định được vị trí của thửa đất; không phối hợp với các cơ quan chức năng để giải quyết vụ việc Sau đó UBND huyện C có văn bản với nội dung: Diện tích 5,3

ha đất sản xuất lâm nghiệp được cấp Sổ lâm bạ ngày 27/01/1994 mang tên anh N hiện nay không tồn tại trên thực tế vì diện tích đất này khi thực hiện

Trang 40

chính sách về đất đai qua kiểm tra, soát xét anh N chỉ thực tế sử dụng diện tích 12.443 m2

nên năm 1996 UBND huyện C đã cấp lại đất cho anh N với diện tích 12.443 m2

theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 728 ngày 10/01/1996 thay thế Sổ lâm bạ 5,3 ha đất sản xuất lâm nghiệp đã được cấp ngày 27/01/1994 Lúc này, Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự đã có hiệu lực pháp luật, do đó Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân

sự kiến nghị đến người có thẩm quyền theo thủ tục tái thẩm với nhận định

“tình tiết mới” là nội dung trong văn bản của UBND huyện C

Tuy nhiên, trong trường hợp này, không thể xem là tình tiết mới để kiến nghị theo thủ tục tái thẩm, vì Tòa án có thể xác minh thực địa, thành lập Hội đồng đo đạc, kiểm tra theo quy định của luật tố tụng dân sự Anh N là người biết rõ nhất vì năm 1994 Nhà nước cấp đất cho anh, nhưng đến năm 1996 đã cấp lại thành một diện tích khác Vụ án này cần kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, bởi lý do sau: tại thời điểm Tòa án nhân dân tỉnh H xét xử năm

2007, diện tích 5,3 ha đất sản xuất lâm nghiệp được cấp cho anh N theo sổ lâm bạ ngày 27/01/1994 đã không tồn tại trên thực tế , nhưng khi xét xử Tòa

án chưa làm rõ, chưa thu thập thông tin, chưa đánh giá đúng về chứng cứ dẫn tới việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc chia tài sản nhưng tài sản đó lại không có trên thực tế; Tòa án chỉ căn cứ vào Sổ lâm bạ để công nhận sự thỏa thuận nhưng Sổ lâm bạ này lại không có giá trị

- Thứ hai: Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch

của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ

Kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch là những phương tiện quan trọng được Tòa án sử dụng để xác định sự thật của vụ án

Có thể thấy, trong nhiều trường hợp nó còn mang tính chất quyết định đối với việc giải quyết vụ việc dân sự Về mặt lý luận, kết luận của người giám định

là sản phẩm của sự phân tích, đánh giá mà người giám định thực hiện đối với

Ngày đăng: 18/07/2017, 22:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huy Du (Chủ nhiệm đề tài) (2012), Thực trạng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao, những vướng mắc và kiến nghị, Đề tài khoa học cấp Bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao, những vướng mắc và kiến nghị
Tác giả: Nguyễn Huy Du (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2012
2. Mai Ngọc Dương (2010), Giám đốc thẩm dân sự, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám đốc thẩm dân sự, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Mai Ngọc Dương
Năm: 2010
3. Ngô Anh Dũng (1996), Thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Ngô Anh Dũng
Năm: 1996
4. Hà Thị Mai Hiên, Trần Văn Biên (2013), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung 2011, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung 2011
Tác giả: Hà Thị Mai Hiên, Trần Văn Biên
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2013
5. Hà Thị Thúy Hà (2014), Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa luật Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Hà Thị Thúy Hà
Năm: 2014
6. Nguyễn Thị Thu Hà (2009), "Về quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm dân sự của Viện kiểm sát", Luật học, (11), tr. 10-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm dân sự của Viện kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2009
8. Hội đồng nhà nước (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
Tác giả: Hội đồng nhà nước
Năm: 1989
9. Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật trung ương (2013), Pháp luật về tố tụng dân sự, Đặc san tuyên truyền pháp luật, (04), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về tố tụng dân sự
Tác giả: Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật trung ương
Năm: 2013
10. Nguyễn Ngọc Khánh (2005), Bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga
Tác giả: Nguyễn Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
11. Nguyễn Hồng Nam (2012), "Bàn về dự thảo thông tư liên tịch hướng dẫn Điều 284B Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011", Tòa án nhân dân, (11) tr. 10-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về dự thảo thông tư liên tịch hướng dẫn Điều 284B Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011
Tác giả: Nguyễn Hồng Nam
Năm: 2012
12. Nhà pháp luật Việt - Pháp (1998), Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp
Tác giả: Nhà pháp luật Việt - Pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
13. Nguyễn Thị Phượng (2009), “Giám đốc thẩm - “xét” chứ không “xử” , Nghiên cứu lập pháp, (13), tr. 55-56;62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám đốc thẩm - “xét” chứ không “xử” , "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Phượng
Năm: 2009
14. Đinh Văn Quế (1997), Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự, Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự, Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
16. Quốc hội (1960), Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Tòa án nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1960
18. Quốc hội (1981), Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Tòa án nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1981
20. Quốc hội (2002), Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Tòa án nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2002
22. Quốc hội (2011), Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2011
24. Quốc hội (2014), Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Tòa án nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
26. Đào Xuân Tiến (2009), Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam, luận án Tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam
Tác giả: Đào Xuân Tiến
Năm: 2009
27. Đào Xuân Tiến (2008), “Đảm bảo sự vô tư, khách quan của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao trong xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm về dân sự”, Nhà nước và pháp luật, (8), tr. 49-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo sự vô tư, khách quan của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao trong xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm về dân sự”, "Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đào Xuân Tiến
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w