Như vậy, vấn đề về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng được quy định khá cụ thể, chi tiết trong Luật cũng như Nghị định, tạo cơ sở pháp lý quan
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THỊ LAN ANH
SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THỊ LAN ANH
SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số : 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ LAN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực.Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHAN THỊ LAN ANH
Trang 4HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG 7 1.2 Ý NGHĨA CỦA VIỆC SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG 12 1.2.1 Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng là kết quả của việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực
y học 12 1.2.2 Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp 14 1.2.3 Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng giúp đảm bảo khả năng thực hiện chức năng cơ bản của gia đình - chức năng tái sản xuất con người 15 1.3 SƠ LƯỢC PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT
HỖ TRỢ SINH SÁN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG 16 1.4 QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT
HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TÌNH TRÙNG 21 1.4.1 Quy định về người hiến tinh trùng 21
Trang 51.4.2 Lấy tinh trùng sau khi chết 23
Chương 2 25
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG 25
2.1 NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN 25
2.1.1 Quyền được sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 25
2.1.2 Nguyên tắc tự nguyện 27
2.1.3 Nguyên tắc bí mật 28
2.1.4 Thực hiện theo quy định do Bộ Y tế ban hành 29
2.2 ĐIỀU KIỆN SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 33
2.2.1 Người gửi tinh trùng vào ngân hàng tinh trùng 33
2.2.2 Người nhận tinh trùng 40
2.3 HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 46
2.3.1 Xác định cha, mẹ trong trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng 46
2.3.2 Xác định cha, mẹ trong trường hợp vợ chồng vô sinh sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng 48
2.3.3 Xác định cha, mẹ trong trường hợp con sinh ra không trong thời kỳ hôn nhân 51
Chương 3 53
Trang 6NHỮNG VƯỚNG MẮC BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG 53 3.1 NHỮNG VƯỚNG MẮC BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI CÓ NGUYỆN VỌNG LƯU GIỮ TINH TRÙNG 53 3.2 NHỮNG VƯỚNG MẮC BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON 57 3.2.1 Những vướng mắc bất cập và giải pháp hoàn thiện quy định về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người chồng chết 57 3.2.2 Những vướng mắc bất cập và giải pháp hoàn thiện quy định về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp vợ chồng ly hôn 62 3.3 NHỮNG VƯỚNG MẮC BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CẤY TINH TRÙNG GIỮA NHỮNG NGƯỜI CÙNG DÕNG MÁU
VỀ TRỰC HỆ VÀ GIỮA NHỮNG NGƯỜI KHÁC GIỚI CÓ HỌ TRONG PHẠM VI BA ĐỜI 64 3.4 NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ CHO VÀ NHẬN TINH TRÙNG 65 3.5 NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ LẤY TINH TRÙNG CỦA NGƯỜI CHỒNG SAU KHI CHẾT 74 KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Số
thứ tự
126/2014/NĐ-CP
Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014Quy định chi tiết một
số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình
67/2015/NĐ-CP
Nghị định 67/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm
2013 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tƣ pháp, hành chính tƣ pháp, hôn nhân gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Trang 8Thông tƣ liên tịch số 01 ngày 06 tháng
01 năm 2016 giữa Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao -
Bộ Tƣ pháp
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Điều tra mới nhất cho thấy, tại Việt Nam tỉ lệ vô sinh chiếm khoảng 8% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản Như vậy, ở nước ta có đến hàng triệu cặp vợ chồng có nhu cầu sinh con nhưng vẫn chưa thể thực hiện được
mơ ước của mình Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời, thực sự đã mang lại hạnh phúc lớn lao cho biết bao cặp vợ chồng Theo đó, vấn đề sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng đang ngày càng phổ biến và mang ý nghĩa vô cùng quan trọng, việc xác định cha, mẹ, con cũng có những nét đặc trưng riêng
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng đó là việc sử dụng các kỹ thuật y học hiện đại để can thiệp vào quá trình thụ thai của người phụ nữ với mục đích giúp những cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh hoặc phụ nữ độc thân có thể mang thai và có những đứa con như họ ước muốn
Mặt khác, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng đã thể hiện sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, giải quyết được tình trạng vô sinh của phụ nữ và nam giới do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như môi trường, hóa chất, hậu quả chiến tranh đem lại hạnh phúc và hi
vọng cho không ít các gia đình Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung
Như vậy, vấn đề về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng được quy định khá cụ thể, chi tiết trong Luật cũng như Nghị định, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện, áp dụng Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn những hạn chế, bất cập cần được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp
Trang 10Có thể thấy, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng là vấn đề khá phức tạp, đặc biệt về mặt pháp lí, bởi nó làm thay đổi những quan niệm truyền thống về mặt huyết thống giữa cha mẹ
và con Nhưng phương pháp đã đáp ứng được nguyện vọng mong mỏi, tha thiết được làm cha, là mẹ của những cặp vợ chồng không may bị hiếm muộn hay vô sinh Hơn nữa, nó còn thể hiện được giá trị nhân đạo cao đẹp và sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật
Hiện nay, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân
hàng tinh trùng được áp dụng ở rất nhiều nước trên thế giới và ở cả Việt Nam
Thực tế cho thấy sinh con theo phương pháp này có rất nhiều ưu điểm vượt bậc, nhưng bên cạnh đó cũng có không ít những khó khăn khi thực hiện Vì vậy, cần có những văn bản pháp lý quy định và hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về vấn đề này
Đặc biệt, khi tranh chấp phát sinh trong xác định cha, mẹ, con; quyền nhân thân và quyền tài sản của đứa trẻ, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết; do đó gây ra nhiều thiệt thòi, ảnh hưởng đến quyền lợi của đứa trẻ cũng như của các bên liên quan
Từ những bất cập của pháp luật và thực tiễn của cuộc sống cần phải nghiên cứu một cách toàn diện và nghiêm túc về vấn đề này để từ đó xây dựng hành lang pháp lý vững chắc làm cơ sở giải quyết tranh chấp phát sinh
Đó chính là lý do để tôi lựa chọn đề tài "Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng theo pháp luật Việt Nam"
Luận văn đã cố gắng phân tích các khía cạnh của vấn đề sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, nhất là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng như khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tình trùng, nhìn dưới góc độ y học, pháp lý; ý nghĩa của
Trang 11việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng; các yếu tố ảnh hưởng tới việc xây dựng pháp luật về nội dung này đồng thời nêu lên thực trạng của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng trong bối cảnh hiện nay Tác giả cũng hi vọng với những đóng góp của luận văn, các thông tin trong đây sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người nghiên cứu luật pháp về vấn
đề tuy không còn mới mẻ nhưng rất hấp dẫn này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng không phải là một vấn đề mới Với sự ra đời của ba em bé thụ tinh trong ống nghiệm ở Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ năm 1998, pháp luật Việt Nam lần đầu tiên đề cập đến vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại khoản 2 Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với thuật ngữ sinh con theo phương pháp khoa học Kể từ năm 2000 đến nay, sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng được đề cấp đến trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau: Nghị định số 12/2003/NĐ-CP, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, Thông tư số 07/2003/TT-BYT, Thông tư số 12/2012/TT-BYT, Thông tư số 57/2015/TT-BYT, Luật Hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Tuy nhiên số lượng bài viết, công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp luật có liên quan đến sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
là không nhiều Bài viết "Sinh con theo phương pháp khoa học và một số vấn đề
pháp lí có liên quan", của TS Nguyễn Thị Lan, đăng trên Tạp chí Luật học,
số 2/2003, là một trong những bài đầu tiên đề cập tới vấn đề này Bài viết đã
đề cấp tới nhiều khía cạnh pháp lý như phân tích điều kiện cho và nhận tinh trùng, quyền làm cha, làm mẹ đối với đứa trẻ được sinh ra theo phương pháp khoa học, cũng như các xác định quan hệ cha, mẹ, con và những bất cập trong
Trang 12quy định này… Có thể thấy đây là bài viết điển hình đầu tiên đề cập đến những vấn đề có liên quan đến sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng một cách khái quát nhất, toàn diện nhất dưới góc độ pháp lý
Cho đến thời gian gần đây khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
đã quy định chi tiết cụ thể hơn về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản so với quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị định
số 10/2015/NĐ-CP có hiệu lực bãi bỏ Nghị định số 12/2003/NĐ-CP đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về những thay đổi, bổ sung trong quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Các bải viết này chủ yếu tập trung vào vấn đề mang thai hộ, ít đề cập đến sinh con bằng kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng Bài viết "Thụ tinh
trong ống nghiệm và những vấn đề pháp lí phát sinh", của TS Nguyễn Thị
Lan, đăng trên Tạp chí Luật học, số 2/2016, là bài viết đề cập đến nhiều nhất những vấn đề pháp lý liên quan đến sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng Bài viết đề cập điều kiện để người phụ nữ độc thân hoặc cặp vợ chồng vô sinh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm; những vấn đề pháp lí phát sinh từ việc áp dụng các điều kiện này, đặc biệt là trong vấn đề sử dụng noãn, tinh trùng, phôi khi một bên vợ, chồng chết hoặc vợ chồng li hôn Ngoài ra, bài viết còn đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất, có hiệu quả trên thực tế
3 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề là những vấn đề lý luận về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng; là các quy định của pháp luật cũng như khả năng áp dụng quy định vào thực tiễn hiện nay từ đó đưa ra một số kiến nghị
Trang 13Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng là một lĩnh vực rất rộng vừa liên quan đến y học vừa liên quan đến pháp luật Tuy nhiên, trong luận văn này chỉ nghiên cứu đến khía cạnh pháp
lý liên quan đến vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng
từ ngân hàng tinh trùng, đặc biệt chỉ nghiên cứu đến việc tinh trùng đƣợc gửi vào ngân hàng tinh trùng vì mục đích sinh sản, không đề cập đến các mục đích khác khi gửi tinh trùng vào ngân hàng tinh trùng trong luận văn
Luận văn tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất thuộc nội dung của
đề tài khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng, cũng nhƣ chủ thể trong quan
hệ này, nguyên tắc khi áp dụng và hậu quả pháp lý nảy sinh Từ đó đánh giá khả năng áp dụng pháp luật và đƣa ra một số kiến nghị
4 Mục đích nghiên cứu
* Mục tiêu tổng quát
Luận văn nghiên cứu phân tích và làm rõ nội dung quy định về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng theo pháp luật Việt Nam đã cụ thể và sát thực tiễn hay chƣa? Qua đó đánh giá khả năng áp dụng quy định đã nêu vào thực tiễn
Trang 14Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp bình luận được sử dụng trong chương 1 của luận văn khi nghiên cứu những vấn đề chung như khái niệm, ý nghĩa về sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
- Phương pháp phân tích được sử dụng ở chương 2 của luận văn khi nghiên cứu làm rõ các quy định của pháp luật về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
- Phương pháp tổng hợp khi nghiên cứu quy định quy định của các nước đánh giá khả năng áp dụng pháp luật và một số kiến nghị về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
Chương 2: Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ
ngân hàng tinh trùng theo pháp luật Việt Nam
Chương 3: Những vướng mắc bất cập và giải pháp hoàn thiện quy định
pháp luật Việt Nam về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
Trang 15Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG
TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT
HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH
TRÙNG
Từ khi phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) thành công năm
1978 ở Anh, khái niệm các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hình thành và phát triển rất mạnh trên toàn thế giới Ở các nước phát triển, hiện có khoảng 1-5% số em
bé sinh ra hiện nay là từ các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (không kể thụ tinh nhân tạo) Người ta ước tính có trên nửa triệu chu kỳ hỗ trợ sinh sản được thực hiện mỗi năm trên toàn thế giới Trên thế giới đã có hàng triệu em bé ra đời từ các
kỹ thuật điều trị vô sinh, trong đó, có chọc hút trứng và đem trứng ra bên ngoài cơ thể Tuy nhiên, trong điều kiện các kỹ thuật điều trị vô sinh ở Việt Nam kỹ thuật thụ tinh nhân tạo được đưa vào là một trong các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Thụ tinh nhân tạo - Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (Intra Uterine Insemination - IUI) Thụ tinh nhân tạo là một trong những kỹ thuật điều trị vô
sinh phổ biến nhất, đặc biệt trong hoàn cảnh nước ta hiện nay Hiện nay, hầu
Trang 16hết các trung tâm trên thế giới đều áp dụng kỹ thuật kỹ thuật bơm tinh trùng sau chuẩn bị vào buồng tử cung để thực hiện thụ tinh nhân tạo Do đó, khi nói đến thụ tinh nhân tạo, có thể hiểu là kỹ thuật bơm tinh trùng vào tử cung với tinh trùng đã chuẩn bị Một số kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hiện nay không còn hoặc ít được sử dụng như bơm tinh trùng đã chuẩn bị vào cổ tử cung, bơm môi trường chứa tinh trùng vào đến vòi trứng và ổ bụng
Thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển phôi (In-vitro Fertilization/
embryo transfer - IVF/ET) Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm có nghĩa là cho
trứng và tinh trùng kết hợp với nhau trong phòng thí nghiệm (thay vì trong vòi trứng người phụ nữ) Sau đó, phôi hình thành sẽ được chuyển trở lại vào buồng tử cung Quá trình phát triển của phôi và thai sẽ diễn ra bình thường trong tử cung người mẹ Tỉ lệ thành công trung bình trên thế giới hiện nay khoảng 25% Tỉ lệ này phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân, chỉ định điều trị và phác
đồ điều trị của từng trung tâm
Một số kỹ thuật phát sinh từ thụ tinh trong ống nghiệm: Chuyển giao
tử vào vòi trứng (GIFT), chuyển hợp tử vào vòi trứng (ZIFT) chuyển phôi vào vòi trứng (TET) Các kỹ thuật này chỉ có thể thực hiện cho những trường hợp
có ít nhất một vòi trứng hoàn toàn bình thường về mặt giải phẫu và chức năng Kỹ thuật chuyển giao tử hoặc phôi vào vòi trứng phải được thực hiện qua phẫu thuật nội soi ổ bụng Tỉ lệ thành công của các kỹ thuật này nói chung không cao hơn kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, trong khi đó chi phí cao hơn, cần nhiều trang bị phức tạp hơn, tỉ lệ tai biến cao hơn và tỉ lệ thai ngoài tử cung cũng cao hơn Do đó, các kỹ thuật này hiện chỉ được áp dụng rất ít, chủ yếu vì lý do tín ngưỡng
Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (Intracytoplasmic Sperm Injection - ICSI) Kỹ thuật được ra đời nhằm khắc phục tình trạng tỉ lệ thụ tinh thấp hoặc không thụ tinh khi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm do bất thường quá trình
Trang 17thụ tinh hay chất lượng tinh trùng thấp Với kỹ thuật này, người ta có thể tạo một hợp tử hoàn chỉnh bằng một trứng và một tinh trùng duy nhất Đây được xem là một cuộc cách mạng trong điều trị vô sinh do nguyên nhân ở nam giới
Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng hiện nay đã chiếm khoảng 50% các chu kỳ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và là một kỹ thuật không thể thiếu ở một trung tâm hỗ trợ sinh sản Kỹ thuật này có thể cho tỉ lệ thụ tinh cao hơn, làm số phôi có được nhiều hơn, nhiều khả năng chọn lọc được phôi tốt để chuyển vào buồng tử cung Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng hiện nay có thể thực hiện với tinh trùng tươi hoặc sau trữ lạnh; tinh trùng trong tinh dịch hoặc tinh trùng sinh thiết từ mào tinh và tinh hoàn
Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với sự tham gia của "người thứ ba" Các kỹ thuật điều trị trên cũng dựa trên cơ sở kỹ thuật của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm, chuyển giao tử vào vòi trứng, chuyển hợp tử vào vòi trứng, chuyển phôi vào vòi trứng, tiêm tinh trùng vào bào tương trứng Tuy nhiên, do tính chất của bệnh lý vô sinh, để điều trị, cần có sự hỗ trợ về sinh học của người thứ ba Đây là những kỹ thuật điều trị có liên quan nhiều đến các vấn đề y học, pháp lý, nhân đạo và quan niệm đạo đức xã hội
Các kỹ thuật này bao gồm:
Xin tinh trùng: kỹ thuật này để điều trị cho các trường hợp vô sinh nam hoàn toàn không có tinh trùng
Xin noãn: kỹ thuật này áp dụng cho những trường hợp người vợ bị cắt buồng trứng, buồng trứng bị suy yếu Noãn xin từ người thứ ba có thể để thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm hoặc tiêm tinh trùng vào bào tương trứng với tinh trùng chồng sau đó chuyển phôi lại vào tử cung người vợ
Trang 18Xin phôi: phôi dư từ các cặp vợ chồng làm thụ tinh trong ống nghiệm sau khi đã thành công, có đủ con, được tự nguyện hiến lại cho ngân hàng phôi Phôi được chuyển vào tử cung người xin
Mang thai hộ: kỹ thuật này thường được áp dụng cho những trường hợp người phụ nữ có buồng trứng bình thường nhưng đã bị cắt tử cung hoặc
bị bệnh lý nội khoa nặng (Ví dụ: bệnh tim) khiến việc mang thai có thể nguy hiểm đến tính mạng của mẹ và con Tinh trùng chồng và trứng người vợ được cho thụ tinh trong ống nghiệm Sau đó phôi được chuyển vào tử cung người mang thai hộ
Ngoài ra, còn có các kỹ thuật hỗ trợ khác như: trữ lạnh tinh trùng, rã đông tinh trùng, trữ lạnh mô tinh hoàn, rã đông mô tinh hoàn, trữ lạnh noãn,
rã đông noãn, trữ lạnh phôi, rã đông phôi, phẫu thuật lấy tinh trùng, hỗ trợ phôi thoát màng [37]
Trước sự phát triển của các kỹ thật hỗ trợ sinh sản và việc áp dụng thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm trong việc điều trị vô sinh ở Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của ba em bé lần đầu tiên được sinh ra nhờ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm năm 1998 Pháp luật Việt Nam lần đầu tiên đề cập đến các khái niệm noãn, phôi, thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm trong Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học Trong đó sinh con theo phương pháp khoa học được hiểu là việc sinh con được thực hiện bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không còn sử dụng thuật ngữ sinh con theo phương pháp khoa học mà thay bằng sử dụng thuật ngữ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải thích
"sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm"
Trang 19Tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP giải thích: "Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi"
Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định số 10/2015/NĐ-CP không giải thích thụ tinh nhân tạo nhưng căn cứ khoản 2 Điều 3 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP thì thụ tinh nhân tạo được hiểu là: "Thụ tinh nhân tạo là thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi"
Tại khoản 3, 4, 5 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP giải thích: Noãn là giao tử của nữ; tinh trùng là giao tử của nam; phôi là sản phẩm của quá trình kết hợp giữa noãn và tinh trùng
Vậy sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc áp dụng một trong các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để lấy noãn, tinh trùng ra khỏi cơ thể sau đó tạo điều kiện thuận lợi cho noãn và tinh trùng kết hợp với nhau và khi tạo thành phôi thì phôi sẽ được phát triển trong tử cung của người mẹ
Tinh trùng sau khi được lấy ra khỏi cơ thể người nam sẽ được bảo quản bằng cách làm đông lạnh ở -196 độ C và được lưu giữ tại ngân hàng tinh trùng và khi cần sử dụng tinh trùng sẽ được rã đông cung ứng cho người sử dụng Vậy ngân hàng tinh trùng là nơi tập hợp các mẫu tinh trùng được gửi vào để lưu giữ, bảo quản tinh trùng phục vụ cho việc thực hiện sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc vì nguyện vọng lưu giữ cà nhân Ngoài ra ngân hàng tinh trùng còn có chức năng cung ứng tinh trùng cho cặp vợ chồng vô sinh hoặc phụ nữ độc thân muốn sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc hiến tặng cho các cơ sở làm nghiên cứu khoa học
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng là việc ngân hàng tinh trùng cung ứng tinh trùng cho người phụ nữ
có nhu cầu để họ thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Vậy
Trang 20đây là trường hợp người phụ nữ dùng noãn của chính mình kết hợp với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng tạo thành phôi Phôi được phát triển trong tử cung của người phụ nữ đó Đứa trẻ sinh ra có chung huyết thống của người phụ nữ sinh ra đứa trẻ đó và huyết thống của người đã gửi tinh trùng vào ngân hàng tinh trùng
1.2 Ý NGHĨA CỦA VIỆC SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG
1.2.1 Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng là kết quả của việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực y học
Tại Việt Nam mặc dù thụ tinh trong ống nghiệm được thực hiện thành công khá muộn so với các nước trên thế giới và trong khu vực Tuy nhiên trong những năm qua, lĩnh vực điều trị vô sinh của nước ta đã có những tiến
bộ vượt bậc Hiện nay, chúng ta đã thực hiện thành công các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phổ biến trên thế giới với tỉ lệ thành công khá cao và ổn định
Nhu cầu điều trị vô sinh ở nước ta ngày một tăng, các cơ sở khám chữa bệnh phụ khoa và trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng đã thành lập các đơn vị điều trị vô sinh, đặc biệt vào năm 2011, với sự ra đời của Trung tâm nghiên cứu về di truyền và sức khỏe sinh sản (Khoa Y Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), Việt Nam trở thành một trong bốn trung tâm đào tạo về hỗ trợ sinh sản lớn nhất của Châu Á (cùng với Singapore, Ấn Độ, Trung Quốc) và hiện mỗi năm tiếp nhận đào tạo, huấn luyện đào tạo cho nhiều bác sĩ nước ngoài
Theo Hội nội tiết sinh sản - vô sinh Thành phố Hồ Chí Minh,
cả nước hiện có 15 Trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm và đến nay, hơn 10.000 trẻ đã ra đời nhờ kỹ thuật này Ngoài ra, Việt Nam
là nơi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm nhiều nhất khu vực Đông
Trang 21Nam Á Kỹ thuật và tỷ lệ thành công của thụ tinh trong ống nghiệm
ở Việt Nam ngang bằng các nước tiên tiến trên thế giới, có thể thực hiện được hầu hết các kỹ thuật hiện đại của thế giới [36, tr 40] Giáo sư - Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Bệnh viện Phụ sản Từ
Dũ, Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, từ năm 2000, Việt Nam bắt đầu nhận thụ tinh trong ống nghiệm cho người nước ngoài và ngày càng thu hút họ đến nước ta Cũng theo bác sĩ:
Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ riêng ba trung tâm lớn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là bệnh viện An Sinh, bệnh viện Vạn Hạnh, bệnh viện Từ Dũ, mỗi trung tâm tiếp nhận, điều trị, hỗ trợ sinh sản thụ tinh trong ống nghiệm cho khoảng 200 trường hợp người nước ngoài/năm và con số này ngày càng gia tăng Trong đó, bệnh viện An Sinh mỗi năm có 100-150 trường hợp điều trị thụ tinh trong ống nghiệm cho người nước ngoài [36, tr 40]
Trong khi đó, theo các chuyên gia y tế, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm của Việt Nam hiện đã phát triển thành công dù đi sau nhờ nhiều yếu tố Đó là được đầu tư thiết bị tiên tiến, cán bộ y tế lĩnh vực này đều trẻ, được đào tạo bài bản ở nước ngoài, có kinh nghiệm và kiến thức nền tảng tốt, tổ chức được những hội thảo nhóm hằng năm có chất lượng chuyên môn cao, đi sâu vào học thuật, đội ngũ bác sĩ, nhân viên hỗ trợ LAB, điều dưỡng… giao tiếp tiếng Anh tốt
Một trong những yếu tố góp phần vào thành công này là do chi phí thấp Cụ thể, một ca thụ tinh trong ống nghiệm ở Việt Nam chỉ bằng 1/4 hoặc 1/3 với khu vực và 1/6 -1/8 so với Mỹ [36, tr 40]
Thành tựu gần đây nhất Bệnh viện Từ Dũ đã thành công trong việc thực hiện kỹ thuật nuôi trưởng thành noãn trong ống nghiệm Đây là một kỹ thuật khó, trên thế giới ít có bệnh viện nào có thể thực hiện được Với thành công này Việt Nam được xem như một trong những quốc gia hàng đầu trong
Trang 22kỹ thuật này, nhiều chuyên gia của Việt Nam được mời sang nước ngoài để giảng dạy kỹ thuật trên cũng như thu hút nhiều học viên các nước khác tìm đến Việt Nam để học tập Điều này đã từng bước khẳng định được vị trí của Việt Nam trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, không chỉ về kinh nghiệm điều trị, nghiên cứu khoa học mà còn là một trung tâm đào tạo cho khu vực, công nghệ cao và thực hiện hầu hết các kỹ thuật điều trị vô sinh trên thế giới
Với những kết quả đã đạt được, cùng rất nhiều cơ hội mới từ việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật của các nước trên thế giới vào Việt Nam, trong tương lai chắc chắn các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, trong đó có những kĩ thuật hỗ trợ sinh sản liên quan đến vấn đề đảm bảo an toàn, hiệu quả cho hỗ trợ sinh sản với tinh trùng sẽ ngày một phát triển hơn Chúng ta, với tư cách là những công dân của đất nước, chắc chắn sẽ được tiếp nhận những thành tựu, những lợi ích và thành quả mà y học mang lại
1.2.2 Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp
Tỷ lệ vô sinh ở nước ta khá cao, theo kết quả điều tra dân số năm 1982, tỷ lệ vô sinh chung là 13% Nghiên cứu của tác giả Âu Nhật Luân (1995), tỷ lệ vô sinh ở nước ta vào khoảng 7% đến 10% dân số Gần đây hơn, kết quả điều tra của tác giả Phạm Văn Quyền (2000) và Trần Thị Phương Mai (1999) cho thấy tỷ lệ vô sinh ở nước ta khoảng từ 10% - 15% dân số [33, tr 42]
Đây là một vấn đề lớn không chỉ riêng cho ngành y tế mà là chung cho toàn xã hội Các quy định pháp luật về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời không chỉ mang lại niềm vui cho những người bị vô sinh
mà còn là hành lang pháp lý quan trọng cho giới chuyên môn và cho những người muốn điều trị vô sinh
Trang 23Thêm nữa, cuộc sống công nghiệp hiện đại cùng nhịp sống hối hả không những cuốn hút phái nam mà cả phái nữ Càng ngày càng có nhiều phụ
nữ độc thân lựa chọn biện pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và thường nằm ở đối tượng phụ nữ thành đạt
Bên cạnh đó, việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra: quy định này phù hợp với nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là: "việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận" [12, khoản 4 Điều 3] Lý do mà pháp luật quy định như vậy xuất phát
từ việc chính cặp vợ chồng vô sinh và người phụ nữ độc thân là người đem lại
sự sống cho đứa trẻ và họ cũng là người mong muốn có đứa trẻ chứ không phải là người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi Quy định trên cũng nhằm tránh những tranh chấp về quan hệ cha, mẹ, con của các chủ thể liên quan, là cơ
sở đảm bảo ổn định mối quan hệ cha, mẹ, con, giúp cặp vợ chồng, người phụ
nữ độc thân yên tâm nuôi dạy đứa trẻ trong điều kiện tốt nhất
Vì thế, hoàn toàn có thể khẳng định rằng, việc tiến hành các biện pháp
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, trong đó có hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng là hoàn toàn phù hợp thực tế, mang ý nghĩa nhân văn cao cả
1.2.3 Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng giúp đảm bảo khả năng thực hiện chức năng cơ bản của gia đình - chức năng tái sản xuất con người
Là một trong những thiết chế cơ bản của xã hội, gia đình đảm nhận chức năng tái sản xuất con người; tái tạo, bảo dưỡng sức lao động cho xã hội Tái sản xuất con người là một chức năng cơ bản và riêng có của gia đình Hoạt động sinh con đẻ cái trước hết xuất phát từ nhu cầu tồn tại của chính con người, của xã hội Việc thực hiện chức năng này không chỉ nhằm thỏa mãn
Trang 24nhu cầu, mong ước của người vợ, người chồng mà còn là vấn đề xã hội, vấn
đề duy trì tính liên tục của xã hội
Theo Ph Ăngghen, "con người ta thay đổi hàng ngày cuộc sống của mình, bắt đầu sản xuất ra những con người khác tức là tự tái sản xuất, đó là quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, giữa cha mẹ và con cái, đó là gia đình" [1] Nếu không có sản xuất và tái sản xuất, kể cả tái sản xuất con người thì xã hội không phát triển, thậm chí không tồn tại được Gia đình không chỉ tái sản xuất con người về mặt thể chất mà còn tái sản xuất ra đời sống tình cảm, tâm hồn, văn hóa tức là quá trình xã hội hóa con người, quá trình biến đứa trẻ từ một sinh vật người thành con người xã hội
Nhờ có kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
mà chức năng duy trì nòi giống của các cặp vợ chồng hiếm muộn được đảm bảo đồng thời đáp ứng được nhu cầu sinh con cùng huyết thống, cùng mã gen với bố mẹ Yếu tố huyết thống không chỉ là cơ sở để xác định cha, mẹ, con
mà còn là cơ sở xác định nguồn gốc, dòng họ, gia phả với những giá trị văn hóa tinh thần, đạo đức và truyền thống của dòng họ gắn với mỗi con người cụ thể Đó cũng là lý do để những cặp vợ chồng hiếm muộn vẫn luôn khao khát
có đứa con mang dòng máu của mình và các biện pháp kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được tiến hành, trong đó phải kể đến kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
Rõ ràng, các biện pháp kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã giúp đảm bảo khả năng thực hiện chức năng cơ bản của gia đình - chức năng tái sản xuất con người
1.3 SƠ LƯỢC PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ SINH CON BẰNG KỸ
THUẬT HỖ TRỢ SINH SÁN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG
Năm 1978 là một trong những mốc quan trọng trong lịch sử y học thế giới Tại Anh, em bé đầu tiên được sinh ra nhờ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, đó là sự khởi đầu cho sự phát triển của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trên
Trang 25người Sau đó, trong những năm 80, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đã phát triển rất mạnh và lần lượt được báo cáo thành công tại nhiều nước trên thế giới, kể cả ở Châu Á Năm 1983, Singapore thực hiện thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Đây cũng là quốc gia Châu Á đầu tiên thực hiện thành công kỹ thuật này
Tại Việt Nam, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được thực hiện thành công khá muộn so với các nước trên thế giới và trong khu vực Năm
1997, Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ bắt đầu triển khai thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, đến ngày 30/4/1998, 03 em bé thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên ra đời ở Việt Nam Từ năm 1998 đến năm 2000, sau thành công ban đầu này, Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ bước đầu đào tạo và chuyển giao công nghệ cho các Viện: Học viện Quân y, Bệnh viện Hùng Vương, Viện Bảo vệ
bà mẹ và sơ sinh, Bệnh viện Phụ sản Quốc tế và bác sĩ do Sở Y tế Cần Thơ
cử Việc đào tạo và chuyển giao công nghệ đã có những bước thành công nhất định Năm 2001, Viện Bảo vệ bà mẹ và sơ sinh, Bệnh viện Phụ sản Quốc tế
đã thành công trong việc áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
Pháp luật lần đầu tiên đề cập vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại khoản 2 Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09 tháng 06 năm 2000 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2001 quy định: "Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định"
Vậy, sau hai năm kể từ khi đứa trẻ đầu tiên được sinh ra nhờ kỹ thuật thụ tinh nhân tạo thì pháp luật mới đề cập đến sinh con theo phương pháp khoa học chứ chưa có một quy định cụ thể nào về vấn đề này
Ngày 12 tháng 02 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/2003/NĐ-CP về sinh con theo phương pháp khoa học (sau nay gọi là sinh
Trang 26con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản) Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định việc thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm; quy định việc cho tinh trùng, nhận tinh trùng; cho noãn, nhận noãn; cho phôi, nhận phôi; cơ
sở lưu giữ tinh trùng, lưu giữ phôi và xác định cha, mẹ cho trẻ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Nghị định này áp dụng đối với các cặp vợ chồng vô sinh, phụ nữ sống độc thân muốn sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; người cho tinh trùng, người nhận tinh trùng, người gửi tinh trùng; người cho noãn, người nhận noãn; người cho phôi, người nhận phôi; cơ sở lưu giữ tinh trùng, lưu giữ phôi; các cơ sở y tế được Bộ Y tế cho phép áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để sinh con Lần đầu tiên một văn bản quy phạm pháp luật giải thích: Sinh con theo phương pháp khoa học, thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm, cặp vợ chồng vô sinh, noãn, phôi Ngoài ra nghị định đã đưa ra nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cũng như các hành vi bị nghiêm cấm
Sau ba tháng kể từ khi Nghị định số 12/2003/NĐ-CP được ban hành
Bộ Y tế cũng có hướng dẫn cho các cơ sở y tế về Nghị định này Thông tư số 07/2003/TT-BYT ngày 28 tháng 5 năm 2003 do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học Thông tư này quy định thẩm quyền, thủ tục cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản, lưu giữ tinh trùng, lưu giữ phôi Bên cạnh đó thông tư này quy định trách nhiệm các cơ sở y tế được phép thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cũng như các hành vi nghiêm cấm các cơ cơ sở y tế hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được làm Nếu như Nghị định số 12/2003/NĐ-CP nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ và sinh sản vô tình thì Thông tư số 07/2003/TT-BYT
mớ rộng các hành vi nghiêm cấm trong thực hiện kỹ thuật sinh sản Các hành
vi bị nghiêm cấm được quy định tại Điều 4 Thông tư này đó là mang thai hộ; sinh sản vô tính; thực hiện việc cho phôi đối với phụ nữ độc thân; thực hiện
Trang 27việc cho, nhận noãn, cho nhận, tinh trùng cho, nhận phôi đối với người nước ngoài Trừ các trường hợp người vợ là người gốc Việt Nam; kinh doanh tinh trùng, noãn, phôi; tiết lộ các thông tin có liên quan đến tên, tuổi, địa chỉ, hình ảnh của người cho tinh trùng, người nhận tinh trùng, người cho phôi, người nhận phôi
Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2007 cũng có đề cập đến sinh con bằng kỹ thuật sinh sản Tại Điều 6 Luật này đã quy định về quyền hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo đã là căn cứ pháp lý quan trọng đối với cá nhân có ý nguyện hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo giúp họ thực hiện được ý nguyện của mình Bên cạnh đó khoản 3, 4 Điều 3 giải thích một số khái niệm dùng trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Bên cạnh đó cũng quy định các hành vi bị nghiêm cấm đó là: "Cấy tinh trùng, noãn, phôi giữa những người cùng dòng máu về trực hệ và giữa những người khác giới có họ trong phạm vi
ba đời", được quy định tại khoản 7 Điều 11 luật này
Để thống nhất các quy trình khám, chẩn đoán và kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm và lưu giữ tinh trùng, lưu giữ noãn, lưu giữ phôi, lưu giữ mô tinh hoàn của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Bộ trưởng Bộ Y tế đã có Thông tư số 12/2012/TT-BYT ngày 05 tháng 7 năm 2012 ban hành Quy trình kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm Thông tư này quy định về quy trình khám, chẩn đoán vô sinh và quy trình kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm và lưu giữ tinh trùng, lưu giữ noãn, lưu giữ phôi, lưu giữ
mô tinh hoàn
Trang 28Ngày 19/6/2014 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thay vì cấm mang thai hộ như trong Nghị định số 12/2003/NĐ-CP và để tránh việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo bị biến thể, Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014 quy định điều kiện mang thai hộ, căn cứ xác định cha mẹ và con, quyền
và nghĩa vụ của bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ, giải quyết tranh chấp… Ngoài ra, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 còn quy định chi tiết
về việc: xác định cha, mẹ, giải quyết tranh chấp, xử lý hành vi vi phạm, cũng như thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2015 Nghị định này đã bãi bỏ Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học Nghị định này quy định về việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận noãn, cho và nhận phôi; thẩm quyền, thủ tục cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm; điều kiện mang thai
hộ vì mục đích nhân đạo; lưu giữ tinh trùng, lưu giữ noãn, lưu giữ phôi; thông tin, báo cáo.Việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo được thực hiện theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cá nhân là người nước ngoài thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ tại Việt Nam
Trang 29Thông tư số 57/2015/TT-BYT ngày 30 tháng 12 năm 2015 của Bộ Y
tế quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 02 năm 2016 Thông tư số 07/2003/TT-BYT ngày 25 tháng 3 năm 2003 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học và mục IV Quy trình thụ tinh trong ống nghiệm quy định tại Thông tư số 12/2012/TT-BYT ngày 15 tháng 7 năm 2012 của Bộ Y tế ban hành quy trình kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực Thông tư này quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con; cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân sự của cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm; quy trình khám, chẩn đoán vô sinh; quy trình kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm; lưu giữ, chia sẻ thông tin Ngoài ra thông tư này áp dụng đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện quy định tại Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
1.4 QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ SINH CON BẰNG KỸ
THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TÌNH TRÙNG
1.4.1 Quy định về người hiến tinh trùng
Quy định của các nước về sinh con bằng kỹ thuật sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng là khác nhau, đặc biệt là quy định về người hiến
Trang 30tinh trùng Đơn cử như Pháp, quy định các lần hiến tinh trùng cách nhau 15 năm; Trung Quốc thì quy định là một lần trong khi Singapo quy định số lần hiến tinh trùng tối đa là ba lần; Anh, Mỹ, Đan Mạch, Canada và một số nước khác không quy định số lần được hiến tinh tinh trùng.[17]
Hơn nữa, pháp luật của mỗi nước cũng quy định rất khác nhau về số tiền người hiến tình trùng được nhận Trung Quốc quy định người hiến tinh trùng được hỗ trợ 5.000 nhân dận tệ khi hiến tại ngân hàng cộng cộng, trong khi các nước Anh, Mỹ, Đan Mạch… không quy định rõ mức chi trả mà chỉ đề cập là do sự thỏa thuận giữa người hiến tinh trùng và ngân hàng tinh trùng, phụ thuộc vào từng ngân hàng cũng như “chất lượng” của người hiến tinh trùng Pháp luật một số nước cũng quy định cấm trả tiền cho người hiến tinh trùng do lo ngại về việc thương mại hóa quá trình sinh sản của con người trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến là Canada [19]
Ngoài ra, còn có sự khác biệt trong việc giữ bí mật thông tin về người hiến tinh trùng Theo quy định pháp luật Việt Nam, người hiến tinh trùng được bảo đảm bí mật về thông tin cá nhân Điều này có nghĩa là cơ sở cung cấp tinh trùng không được phép cung cấp thông tin có liên quan đến người hiến tính trùng như: tên, tuổi, địa chỉ, hình ảnh của người cho tinh trùng cho bất cứ ai kể cả người nhận tình trùng lẫn đứa trẻ được sinh ra vì bất cứ mục đích nào Nhưng, ở các nước khác, đa số sẽ chia thông tin của người hiến tinh trùng thành hai loại thông tin:
Thứ nhất, đó là các thông tìn về: trình độ học vấn, các thành tích mà
họ đạt được cũng như các trường mà họ đã học, nghề nghiệp hiện tại; thông tin về đặc điểm nhận dạng bao gồm các thông tin chủng tộc, chiều cao, cân nặng, màu da, màu tóc, màu mắt…; thông tin về tình trạng sức khỏe nhóm máu, các bệnh đã từng bị, sự dụng thuốc; thông tin mô tả về tính cách…
Thứ hai là tên, địa chỉ, cách thức liên lạc của người cho tinh trùng
Trang 31Ví dụ như pháp luật Mỹ quy định chỉ được phép cung cấp cho người nhận tinh trùng thông tin loại thứ nhất không được phép cung cấp cho người nhận tinh trùng thông tin loại thứ hai Nhưng ở một số bang yêu cầu những người cho tinh trùng phải cho phép bất kỳ đứa con trong tương lai nào của họ liên lạc với bố đẻ của mình khi chúng đủ 18 tuổi Quy định này là một phần
hệ thống “nhận dạng mở” [21]
Hay như theo quy định pháp luật của Anh, từ năm 2005 chấm dứt quyền nặc danh của người hiến tinh trùng [17]
Còn có Đan Mạch cho phép người hiến tinh trùng có thể lựa chọn giữ
bí mật danh tính hoặc đồng ý cho ngân hàng tinh trùng tiết lộ thân phận nếu những đứa trẻ tương lai yêu cầu khi chúng 18 -21 tuổi [23]
1.4.2 Lấy tinh trùng sau khi chết
Pháp luật của các nước đều cho phép nam giới có quyền được lưu giữ tinh trùng của mình tại ngân hàng tinh trùng để phục vụ mục đích sinh sản của mình Tuy nhiên, vấn đề có được phép lưu giữ tinh trùng sau khi chết không thì quy định tại các nước là khác nhau Một số nước cho phép, một số nước thì không
Pháp, Đức, Thụy Điển, Canada là các quốc gia cấm trích xuất tinh trùng từ cơ thể người chết
Anh chỉ cho phép trong trường hợp người đàn ông trước khi chết đã viết giấy tờ cho phép
Isarel chỉ cần người có tinh trùng tỏ ý chấp thuận là đủ, người chết không cần phải để lại giấy tờ viết tay, mà người vợ chỉ cần nói cô tin rằng anh
sẽ cho phép điều này nếu anh còn sống Chính phủ thậm chí cung cấp cả gói
hỗ trợ tài chính: bảo hiềm sức khỏe quốc gia sẽ trả cho tất cả những lần thụ tinh trong ống nghiệm cần thiết để sinh được hai em bé [18]
Trang 32Pháp luật của Mỹ về vấn đề này khá rắc rối và khó hiểu, thậm chí đôi khi còn ra những quyết định trái ngược nhau về vấn đề này Theo quy định của pháp luật nước này, hoạt động quản lý mô và hiến nội tạng thuộc về cấp liên bang nhưng lại không nhất thiết áp dụng cho tinh trùng vì tinh trùng được xếp vào nhóm mô có thể tái sử dụng Thụ tinh trong ống nghiệm thuộc phạm
vi điều chỉnh cấp tiểu bang Trong khi đó, năm 2006, một thẩm phán khi diễn giải chính sách hiến nội tạng nói rằng nội tạng bao gồm cả tinh trùng, có thể được hiến tặng bởi cha mẹ của người đàn ông sau khi chết, miễn là người đàn ông khi còn sống không từ chối việc cho đi như vậy Điều này dẫn tới cách hiểu khác nhau trong áp dụng pháp luật tại bệnh viện của Mỹ, có bệnh viện thực hiện trích xuất tinh trùng từ người chết có bệnh viện không Nếu một bác
sĩ hay một bệnh viện không thấy thoải mái trong việc thực hiện quy trình này,
họ có thể chuyển cái xác đó cho bệnh viện khác, bác sỹ khác thực hiện Hiệp hội Sức khỏe sinh sản Mỹ giữ quan điểm: các yêu cầu lấy tinh trùng của người chết chỉ được chấp thuận nếu người yêu cầu là người phối ngẫu hay bạn đời của người đã mất và cần phải có thời gian tưởng niệm trước khi tinh trùng được đưa vào sử dụng “Nếu không có văn bản nêu rõ ý nguyện cụ thể của người đã mất, thì sẽ là hợp lý khi kết luận bác sỹ không buộc phải tuân thủ bất cứ yêu cầu nào từ phía người phối ngẫu hay bạn tình còn sống trong việc trích xuất tinh trùng hay sử dụng tinh trùng đã trích xuất.” Hiệp hội cũng
tư vấn các trung tâm y tế “không có trách nhiệm phải tham gia các hoạt động trích xuất tinh trùng, nhưng trong bất cứ trường hợp nào cũng nên xây dựng
bộ văn bản quy tắc hoạt động trong lĩnh vực này.” Như vậy là, quy định pháp luật của Mỹ được phép lấy tinh trùng từ người chết nêu người phối ngẫu hay bạn đời của người chêt đồng ý và việc trích xuất tinh trùng này được thực hiện nếu trung tâm y tế đồng ý.[18]
Trang 33Chương 2
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG
TINH TRÙNG
2.1 NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN
2.1.1 Quyền được sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Quyền được có con, quyền được làm cha, làm mẹ là một trong những quyền thiêng liêng của con người Tuyên ngôn toàn cầu về quyền tình dục (được thông qua tại Hội nghị thế giới lần thứ 14 về tình dục, tổ chức tại Hồng Kông, Trung Quốc, năm 1999) có đề cập đến quyền được tự do quyết định một cách có trách nhiệm về việc sinh đẻ (the right to make free and responsible reproductive choices): Quyền này nói đến sự tự do của các cá nhân được tự do quyết định có hay không có con, số lượng con và khoảng cách giữa những lần
có con, và quyền được tiếp cận với các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình
Tại khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi điều 10 của Pháp lệnh Dân số
có quy định về quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện cuộc vận động dân số và kế hoạch hóa gia đình đó là quyền được chăm sóc sức khỏe sinh sản; quyền được quyết định thời gian và khoảng cách sinh con;
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như môi trường, hóa chất, hậu quả chiến tranh… dẫn tới không phải cặp vợ chồng, cá nhân nào cũng có khả năng thực hiện quyền được có con, được làm cha, làm mẹ Với sự ra đời của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã giúp cho những người có có khó khăn trong việc sinh sản được thực hiện quyền có những đứa con như họ ước muốn Với quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP: "Cặp vợ chồng vô
Trang 34sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo" [12] Pháp luật Việt Nam đã cho phép những người có khó khăn trong việc sinh sản được phép sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Để có thể thực hiện được quyền này pháp luật cho phép các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không những được tiếp cận, tiếp thu các thành tựu khoa học tiên tiến trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà còn cho phép các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện được phép thực hiện kỹ thuật này Để đảm bảo cho những người có khó khăn trong việc sinh sản được tiếp cận dịch vụ y tế tốt nhất khi thực hiện quyền được sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản Nhà nước đã ban hành các quy định điều kiện về nhân sự, trang thiết bị, cơ sở vật chất,… để một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật sinh sản Bên cạnh đó ban hành các quy trình khám, chấn đoán
vô sinh; quy trình thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để chuẩn hóa việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Ngoài ra, còn tạo hành lang pháp lý cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thành lập ngân hàng tinh trùng để lưu giữ tinh trùng tạo nguồn tinh trùng cho việc thực hiện phương pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, quy định các trường hợp được phép gửi tinh trùng vào ngân hàng tinh trùng cũng như những chủ thể nào có quyền trên
Với việc quy định cho họ có quyền được sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản pháp luật cho phép cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân được nhận tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng để thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, cho phép họ được phép áp dụng các thành tựu và được hưởng những thành quả khoa học trong lĩnh vực sinh sản
Bảo vệ quyền hợp pháp này, pháp luật công nhận quyền làm cha, làm
mẹ đối với đứa trẻ được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Bên cạnh đó đặt
Trang 35ra các chế tài để xử lý vi phạm về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, khi các bên vi phạm điều kiện, quyền, nghĩa vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo trách nhiệm dân sự, hành chính, hình sự
2.1.2 Nguyên tắc tự nguyện
Nguyên tắc tự nguyện là một trong những nguyên tắc được coi trọng hàng đầu trong quan hệ dân sự nói chung và trong việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nói riêng
Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng [30]
Khoản 3 điều 3 Nghị định 10/2015/NĐ-CP: "Việc thụ tinh trong ống nghiệm, cho và nhận noãn, cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện" [12]
Sự tự nguyện thể hiện các chủ thể có quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự; các bên tự mình muốn tham gia quan hệ dân sự, không bên nào được quyền áp đặt, cấm đoạt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào Mọi hành vi tác động làm ảnh hưởng đến sự tự nguyện của chủ thể có thể làm cho giao dịch dân sự mà các chủ thể đó xác lập vô hiệu Sự
tự do cam kết, thỏa thuận đó được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận
đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
Những cam kết, thỏa thuận hợp pháp là cơ sở để xác lập các quyền và nghĩa vụ của chủ thể, các quyền và nghĩa vụ đó được đảm bảo thực hiện và phải được các chủ thể khác tôn trọng
Trang 36Trong việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng sự tự nguyện của các chủ thể hiến tinh trùng thể hiện thông qua sự bày tỏ mong muốn muốn được hiến tinh trùng của mình, tự nguyện từ bỏ quyền sở hữu đối với tinh trùng của mình Chấm dứt quyền và nghĩa vụ phát sinh đối với tinh trùng, từ bỏ quyền làm cha đối với đứa trẻ được sinh ra Trong khi đó sự tự nguyện của người nhận tinh trùng thể hiện tự bản thân mong muốn được nhận tinh trùng từ người hiến; mong muốn được sinh con với tinh trùng của người hiến tinh trùng; mong muốn được làm mẹ đứa trẻ được sinh ra
2.1.3 Nguyên tắc bí mật
Nguyên tắc bí mật là một trong những nguyên tắc chung, quan trong trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh được quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh Giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong bệnh án là nghĩa vụ của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đồng thời là quyền của người bệnh Pháp luật chỉ cho phép được tiết lộ thông tin trong một số trường hợp nhất định đó là khi người bệnh đồng
ý hoặc để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị người bệnh giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh hoặc trong trường hợp phục vụ cho việc nghiên cứu hoặc công tác chuyên môn kỹ thuật hoặc theo quy định của pháp luật một số chủ thể có quyền được mượn hồ sơ bệnh án tại chỗ để đọc hoặc sao chép phục vụ nhiệm vụ được giao theo thẩm quyền cho phép hoặc trong trường hợp người bệnh hoặc người đại diện của người bệnh được nhận bản tóm tắt hồ sơ bệnh án
Ngoài ra, trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không những người cho, nhận tinh trùng được giữ bí mật về tình trạng sức
Trang 37khỏe mà còn được giữ bí mật về thông tin cá nhân có liên quan đến người hiến và người nhận tinh trùng từ nguồn hiến tinh trùng Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho cũng như người nhận tinh trùng Việc cho và nhận tinh trùng được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận Nguyên tắc này được quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, đây là nguyên tắc nhằm bảo đảm trật tự các quan hệ xã hội đồng thời bảo vệ những người hiến, nhận về mặt riêng tư cá nhân Nguyên tắc này rất quan trọng, nó cho phép tránh mọi áp lực không cần thiết về mặt tinh thần cũng như vật chất từ phía người hiến và người nhận đối với nhau Nguyên tắc vô danh là mọi thông tin
về người hiến, nhận đều phải được mã hóa, bảo mật, người hiến không được biết về căn cước người nhận và ngược lại; cấm tiết lộ những thông tin nào cho phép xác định người hiến, nhận Bảo mật thông tin là nghĩa vụ bắt buộc của các cơ sở thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Ngoài ra tại khoản 1 Điều 33 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định
"phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin về tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho, nhận tinh trùng, phôi" [9]
2.1.4 Thực hiện theo quy định do Bộ Y tế ban hành
Có thể thấy, khác với ba nguyên tắc nêu trước đó nhấn mạnh vào việc nhà nước cho phép và công nhận việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, nguyên tắc thứ tư lại cho thấy các điều kiện mà nhà nước đặt ra đối với kỹ thuật thụ hỗ trợ sinh sản cụ thể là kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Nguyên tắc quy định: "Việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải tuân theo quy trình kỹ thuật; quy định tiêu chuẩn sức khỏe của người được thực
Trang 38hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành" đã thể hiện hai điều kiện sau đây:
Thứ nhất, việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải tuân
theo quy trình kỹ thuật Quy trình kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được quy định cụ thể tại Chương 4, Thông tư số 57/2015/TT-BYT ngày 30/12/2015 của Bộ Y tế, quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP,
và Thông tư này đã có hiệu lực kể từ ngày 15/2/2016
Trước khi thực hiện việc thụ tinh trong ống nghiệm, cơ sở được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải tư vấn cho cặp vợ chồng thụ tinh trong ống nghiệm về quy trình điều trị, thời gian thực hiện, tỉ lệ thành công, các tai biến có thể xảy ra và chi phí điều trị (Điều 9 Thông tư số 57/2015/TT-BYT) cũng như một số tư vấn trong những trường hợp đặc biệt khác theo luật định (Điều 10 Thông tư số 57/2015/TT-BYT)
Quy trình thụ tinh trong ống nghiệm được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 11 Thông tư số 57/2015/TT-BYT, quy định các bước thực hiện thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mỗi bước tiến hành cũng có quy định quy trình kỹ thuật cụ thể, chi tiết từng kĩ thuật để thực hiện Quy định này thực sự cần thiết, bởi hoạt động y khoa nói chung và việc thụ tinh trong ống nghiệm nói riêng có liên quan trực tiếp tới sức khỏe và tính mạng của con người cũng như vấn đề đạo đức của y, bác sĩ nói riêng và đạo đức xã hội nói chung Thêm vào đó, xây dựng một quy trình kỹ thuật chung dựa trên những kiến thức y khoa cụ thể sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện trên thực tế được chính xác, hiệu quả, cũng như dễ dàng xác định trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức vi phạm hoặc gây hậu quả và kịp thời có phương án khắc phục
Bên cạnh đó, người trực tiếp thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải đáp ứng yêu cầu: Có văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận đã được đào tạo về kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm; Có xác nhận đã trực tiếp thực
Trang 39hiện ít nhất 20 chu kỳ điều trị vô sinh bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm;
và có chứng chỉ hành nghề theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh
Đi kèm với quy định về quy trình thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, Thông tư số 57/2015/TT-BYT cũng đặt ra những yêu cầu cần có đối với cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế của cơ sở được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm tại Điều 4 và Điều 5 Theo đó, cơ sở được thực hiện kỹ
thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải có bộ phận chăm sóc trẻ sơ sinh non
tháng, hồi sức cấp cứu, xét nghiệm nội tiết sinh sản có thể cung cấp kết quả trong ngày; có đơn nguyên riêng cho việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong
(kể cả lối đi) và các phòng tiếp đón bệnh nhân, khám nam, nữ, chọc hút noãn, lấy tinh trùng, lab nuôi cấy, siêu âm
và xét nghiệm và lọc rửa tinh trùng đáp ứng các tiêu chuẩn theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới Đồng thời, cơ sở được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải có đủ các trang thiết bị y tế tối thiểu như 02 tủ cấy
Thứ hai, sức khỏe của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong
ống nghiệm, mang thai và sinh con phải đảm bảo quy định tiêu chuẩn do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Các quy định tiêu chuẩn về sức khỏe của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con cũng được quy định chi tiết tại Chương 2 của Thông tư số 57/2015/TT-BYT
Tiêu chuẩn sức khỏe của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được quy định tại Điều 3 của thông tư số 57/2015/TT-BYT với hai tiêu chuẩn là: Không đang mắc bệnh lý mà không đủ sức khỏe để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai, sinh con; không đang mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV, bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, B; không bị bệnh di truyền có ảnh hưởng đến tính mạng và sự phát triển của trẻ khi sinh ra; không bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà
Trang 40không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; và người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải có kết luận bằng văn bản của người đứng đầu cơ sở được phép thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm xác định đủ sức khỏe để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai
và sinh con
Như đã phân tích, thụ tinh trong ống nghiệm là một phương pháp hỗ trợ sinh sản mà tinh trùng và trứng được kết hợp ở ngoài cơ thể Nếu hiện tượng thụ tinh xảy ra, sẽ tạo thành phôi, sau đó phôi được chuyển vào buồng
tử cung Phôi làm tổ và phát triển thành thai nhi như trong thụ thai tự nhiên
Để đảm bảo cho trẻ sinh ra có sức khỏe và sự phát triển một cách bình thường, thì ngay từ khi bắt đầu, cần đảm bảo người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải đáp ứng được các tiêu chuẩn về sức khỏe có thể trạng và tinh thần tốt nhất cho sự mang thai và sinh con Ngoài tiêu chuẩn
về sức khỏe để người phụ nữ có thể mang thai họ còn phải đáp ứng yêu cầu không đang mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV, bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, B; không bị bệnh di truyền có ảnh hưởng đến tính mạng và sự phát triển của trẻ khi sinh ra Khi họ mắc các bệnh trên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đứa trẻ, đứa trẻ có thể bị những dị tật bẩm sinh hoặc mắc một số bệnh di truyền ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ cũng như thể chất của trẻ Như vậy, nguyên tắc thứ tư đặt ra nhằm hướng đến đảm bảo cho con sinh ra được khỏe mạnh, nòi giống phái triển lành mạnh, bảo đảm sức khỏe cho người phụ nữ khi mang thai, giảm thiểu tối đa ảnh hưởng xấu đến bà mẹ
và trẻ em Nên đây có thể coi là nguyên tắc mang tính bắt buộc, là những điều kiện cần thiết liên quan trực tiếp tới yếu tố con người