1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện các quy định của pháp luật việt nam về cấp giấy phép lao động nước ngoài

95 339 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 857,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa theo nghĩa rộng: Giấy phép lao động của người nước ngoài tại Việt Nam hay còn gọi là Giấy phép lao động nước ngoài là một loại giấy phép, chứng nhận do cơ quan nhà nước hoặc c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN TỬ KHUÊ

HOµN THIÖN C¸C QUY §ÞNH CñA PH¸P LUËT VIÖT NAM

VÒ CÊP GIÊY PHÐP LAO §éNG N¦íC NGOµI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN TỬ KHUÊ

HOµN THIÖN C¸C QUY §ÞNH CñA PH¸P LUËT VIÖT NAM

VÒ CÊP GIÊY PHÐP LAO §éNG N¦íC NGOµI

Chuyên ngành : Luật quốc tế

Mã số : 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Lan Nguyên

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Tử Khuê

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

PHÉP LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA 7 1.1 Lao động nước ngoài và chế định pháp luật cấp giấy phép lao động ngoài tại Việt Nam 7 1.1.1 Khái niệm về lao động nước ngoài và giấy phép lao động của người nước ngoài 7 1.1.2 Các dạng giấy phép lao động của người nước ngoài tại Việt Nam 9 1.1.3 Vai trò của cấp giấy phép Lao động nước ngoài: 10 1.1.4 Lược sử của chế định pháp luật sử dụng lao động nước ngoài có liên quan đến cấp giấy phép lao động nước ngoài tại Việt Nam 12 1.2 Pháp luật quy định về cấp phép lao động của một số quốc gia 17 Chương 2: NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY PHÉP LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI 20 2.1 Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép cho người lao động nước ngoài 20 2.1.1 Đối tượng áp dụng 20 2.1.2 Đối tượng người lao động nước ngoài không phải cấp giấy phép lao động 22 2.1.3 Xác định công việc được sử dụng người lao động nước ngoài 28 2.1.4 Điều kiện cấp giấy phép lao động 30 2.1.5 Quy định trường hợp không phải thực hiện xác định nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài 33 2.1.7 Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động 35

Trang 6

2.1.8 Cấp lại giấy phép lao động 45

2.2 Thực tiễn áp dụng các qui định pháp luật về cấp giấy phép cho người lao

động nước ngoài 49

2.2.1 Một số kết quả đạt được 49

2.2.2 Những hạn chế bất cập về cấp giấy phép cho người lao động nước

ngoài 51

2.2.3 Nguyên nhân chủ yếu của những bất cập của pháp luật cấp giấy phép

cho người lao động nước ngoài 64

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN

3.2.2 Kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về cấp giấy

phép lao động nước ngoài tại Việt Nam 78

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu là xu thế khách quan, di cư

quốc tế là vấn đề của nhiều quốc gia Hiện nay nhà nước đang thực hiện các

chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, doanh nhân nước ngoài đầu tư

vào Việt Nam, làm cho môi trường đầu tư, kinh doanh tại nước ta không

ngừng phát triển Kéo theo đó là sự phát triển của việc ứng khoa học công

nghệ vào sản xuất, kinh doanh và đòi hỏi tất yếu là cần nguồn lao động có tay

nghề cao, đã được đào tạo chuyên môn để điều hành, vận hành Khi lao động

Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu đó thì việc di chuyển chất xám từ nước

ngoài vào trong nước để phục vụ nền kinh tế là điều cần thiết Việc số lao

động nước ngoài tăng mạnh trong khi thủ tục pháp lý bị buông lỏng đã bộc lộ

sự bất cập trong việc quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt Giấy

phép lao động là công cụ quản lý hữu hiệu người lao động nước ngoài, là căn

cứ để trục xuất người lao động không có giấy phép Vì vẫn còn tình trạng rất

nhiều lao động không có giấy phép đang ở Việt Nam Không chỉ lao động cao

cấp và kỹ thuật vào Việt Nam mà lao động phổ thông các nước cũng bắt đầu

đến Việt Nam để hành nghề, cho dù đến thời điểm này chúng ta chưa cho

phép lao động phổ thông nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Gần đây, báo chí trong nước liên tục phản ánh về tình trạng lao động

nước ngoài làm việc bất hợp pháp tại Việt Nam Thực tế này đặt ra nhiều câu

hỏi về năng lực quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng về việc sử dụng

lao động nước ngoài trong các tổ chức, doanh nghiệp

Vấn đề lao động nước ngoài tại Việt Nam, bên cạnh nhiều tác động tích

cực thì cũng có những tác đô ̣ng tiêu cực đến thi ̣ trường lao đô ̣ng Viê ̣t Nam, áp

lực cạnh tranh, đến các vấn đề xã hội, an ninh trật tự cũng như vấn đề ô nhiễm

môi trường từ công nghê ̣ bẩn, chất thải…Đặc biệt với việc hình thành cộng

Trang 8

đồng kinh tế chung Asean vào 31/12/2015, hiệp định đối tác xuyên Thái Bình

Dương (TPP) đàm phán thành công sẽ tạo điều kiện cho người lao động nước

ngoài làm việc tại Việt Nam càng tăng mạnh TPP không những sẽ tạo ra

hàng triệu việc làm mới cho công nhân 12 nước mà sẽ còn khuyến khích việc

quan tâm tới các vấn đề về môi trường cũng như lao động, điều giúp cho thoả

thuận khung này mang tính lâu dài cho nhiều thế hệ tương lai Luật lao động

năm 2012 và nghị định 11/2016/NĐ-CP ra đời thay thế nghị định cũ Do được

nghiên cứu và thảo luận sâu rộng và đúc rút từ quá trình thực hiện lâu dài của

Luật lao động 2012 và nghị định 102/2013/NĐ-CP, nghị định mới năm 2016

hứa hẹn sẽ mang lại những điều kiện thuận lợi trong việc cấp giấy phép lao

động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Tuy nhiên thực tế luôn

luôn đa dạng và biến đổi từng ngày nên cần được kiểm nghiệm trên thực tế

trong một thời gian mới có thể phát hiện những vướng mắc bất cập phát sinh

và kể những bất cập còn tồn tại từ nghị định 102/2013/NĐ-CP về cấp giấy

phép lao động nước ngoài đến nghị định 11/2016/NĐ-CP chưa được sửa đổi,

bổ sung cho phù hợp với tình hình hiện nay

Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện các quy định của pháp luật

Việt Nam về cấp giấy phép lao động nước ngoài” nhằm đánh giá thực trạng

cấp giấy phép lao động nước ngoài ở Việt Nam, tìm ra những bất cập về việc

cấp giấy phép động nước ngoài để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm góp

phần hoàn thiện các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng được hiệu quả

hơn Với nhận thức còn hạn chế, thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp nên còn

nhiều thiếu sót, em rất mong nhận những góp ý và giúp đỡ của các thày cô

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao

động nước ngoài là một đề tài khá mới mẻ trên cả bình diện lý luận và thực

tiễn Đã có một vài công trình và bài báo đề cập về vấn đề này:

Trang 9

- Luận văn thạc sỹ luật học (2011), “ pháp luật về sử dụng lao động

nước ngoài tại Việt Nam”, học viên Trần Thu Hiền, chuyên ngành Luật Kinh

tế, Khoa Luật, ĐHQGHN

- Luận văn thạc sỹ luật học (2014), “Hoàn thiện pháp luật về quyền của

người lao động di trú ở Việt Nam”, học viên Bùi Thị Hòa, chuyên ngành

Pháp luật về quyền con người, Khoa Luật, ĐHQGHN

- Luận văn thạc sỹ luật học (2015), “Pháp luật về sử dụng lao động

nước ngoài tại Việt Nam”, học viên Trần Thu Hiền, chuyên ngành Luật Kinh

tế, Khoa Luật, ĐHQGHN

- Luận văn thạc sỹ luật học (2015), “ Hoàn thiện pháp luật về quản lý

lao động nước ngoài tại Việt Nam”, học viên Phạm Thị Hương Giang, chuyên

ngành Luật Kinh tế, Khoa Luật, ĐHQGHN

Ngoài ra, còn một số bài báo cũng đề cập đến lao động nước ngoài tại

Việt Nam như Cao Nhất Linh (2009), “Về giấy phép lao động cho người nước

ngoài ở Việt Nam”, Nhà nước và Pháp luật -Viện Nhà nước và Pháp luật (02),

tr 26 - 29, 34 và ngoài ra một số bài báo trên Internet nêu ra một vấn đề mang

tính tản mạn chưa khái quát thành một hệ thống

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu, một số tạp chí và bài báo, chủ

yếu tiếp cận vấn đề từ khía cạnh xã hội mà chưa quan tâm nhiều đến khía

cạnh pháp lý hoặc chỉ nêu chung chung một vấn đề quản lý lao động nước

ngoài tại Việt Nam Do vậy, có thể nói rằng, đề tài " Hoàn thiện các quy

định của pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao động nước ngoài " là

công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, việc nghiên cứu có hệ thống vấn

đề này mang tính thời sự cao Với kết quả đạt được, luận văn hy vọng là tài

liệu tham khảo hữu ích cho những người làm công tác nghiên cứu, học tập,

thực thi pháp luật, những người muốn tìm hiểu về cấp giấy phép lao động

nước ngoài tại Việt Nam

Trang 10

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề pháp lý liên quan

đến cấp giấy phép lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Phạm vi

nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các quy định của pháp luật hiện tại của

Việt Nam liên quan đến việc cấp giấy phép lao động nước ngoài làm việc tại

Việt Nam Cụ thể, luận văn nghiên cứu về các quy định mới của pháp luật

hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng pháp luật về cấp giấy

phép lao động nước ngoài, tác giả đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị cụ

thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cấp giấy phép

lao động nước ngoài

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:

Luận văn được trình bày dựa trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác

– Lenin về nhà nước và pháp luật và những quan điểm của Đảng và Nhà nước về

phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thời kỳ đổi mới

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày, luận văn sử dụng kết hợp các

phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau bao gồm: phương pháp duy vật

biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp,

phương pháp so sánh đối chiếu…để giải quyết vấn đề khoa học của luận văn

và kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả

thực thi pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoà

Trong luận văn thạc sĩ tác giả sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Phân tích và làm sáng tỏ các quy định về các quy pháp luật và thực tiễn

áp dụng các quy định pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài tại Việt

Nam, đặc biệt những quy định được bổ sung trong nghị định mới năm 2016

- Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao

hiệu quả thực thi các quy pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài tại

Việt Nam

Trang 11

5 Dự kiến những kết quả nghiên cứu mới của luận văn:

Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ tác giả sẽ phân tích, so sánh,

đánh giá một các tổng quát về thực trạng và những hạn chế các quy định pháp

luật Việt Nam hiện hành về cấp giấy phép lao động nước ngoài, phân tích

nhưng điểm mới và chỉ ra những điểm còn chưa hợp lý từ đó đưa ra phương

hướng hoàn thiện trong thời gian tới Phù hợp với tình hình thực tế, là một

trong những cách thức quan trọng góp phần quản lý người lao động nước

ngoài vào làm việc tại Việt Nam So sánh để thấy rõ những điểm tiến bộ của

nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ quy định chi

tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm

việc tại Việt Nam (gọi tắt là nghị định 11/2016/NĐ-CP) so với nghị định

102/2013/NĐ-CP đặc biệt tập trung vào vấn đề liên quan đến các quy định

pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài Từ đó rút ra được những bài

học áp dụng thực tế hiện nay, có thể góp phần hoàn thiện thông tư hướng dẫn

nghị định 11/2016/NĐ-CP trong năm 2016

- Đề tài được lựa chọn mang tính cập nhật, có tính thời sự cao, đặc biệt

khi Việt Nam là thành viên của khối cộng đồng ASEAN thành lập 31/12/2015

và tham gia Hiệp định Hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương

(TPP) gồm 12 quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam, đã kết thúc đàm

phán đang hoàn thiện quá trình phê chuẩn

Trang 12

6 Cơ cấu của luận văn

Ngoài mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận, danh

mục tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao động

nước ngoài và pháp luật của một số quốc gia

Chương 2: Nội dung quy định của pháp luật Việt Nam và Thực tiễn áp

dụng quy định pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

Việt Nam về cấp giấy phép lao động nước ngoài

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CẤP

GIẤY PHÉP LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT

SỐ QUỐC GIA 1.1 Lao động nước ngoài và chế định pháp luật cấp giấy phép lao động

ngoài tại Việt Nam

1.1.1 Khái niệm về lao động nước ngoài và giấy phép lao động của người

nước ngoài

* Khái niệm quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài

Khoản 6 điều 2 BLLĐ năm 2012 định nghĩa: “Quan hệ lao động là quan

hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa

người lao động và người sử dụng lao động” Bộ luật này không có định nghĩa

về quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài

Tuy vậy, căn cứ điều 1 và Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005, thì có thể

hiểu: “Quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài là quan hệ lao động có ít nhất

một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người

Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ lao động giữa các bên

tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi,

chấm dứt quan hệ lao động đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước

ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”

Như vậy, các yếu tố nước ngoài trong quan hệ lao động có yếu tố nước

ngoài bao gồm:

- Công dân Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp nước ngoài tại

Việt Nam, trong khu công nghiệp, khu kinh tế và khu chế xuất, trong các cơ

quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam hoặc làm việc cho cá

nhân là công dân nước ngoài tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam

và được pháp luật bảo vệ (Khoản 2 điều 68 BLLĐ năm 2012)

-Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định

của pháp luật lao động Việt Nam hoặc theo thỏa thuận quốc tế giữa Việt Nam

Trang 14

và các đối tác nước ngoài liên quan

Quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài còn có thể là quan hệ lao động

của công dân Việt Nam đi là việc ở nước ngoài theo hợp đồng [22, 405-406]

Như vậy, yếu tố nước ngoài trong pháp luật lao động thể hiện ở quốc tịch

của người lao động khác với "quốc tịch” của người sử dụng lao động hoặc

quốc gia mà họ đang làm việc

* Khái niệm người lao động nước ngoài

Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú

và các thành viên của gia đình họ (được thông qua theo Nghị quyết

A/RES/45/158 ngày 18/12/1990 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc), khoản 1

Điều 2 Công ước quy định: Người lao động nước ngoài cũng có thể giải thích

bằng thuật ngữ “người lao động di trú” để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một

công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân.

Theo Công ước về Lao động di trú (số 97) Công ước về người lao động

di trú (xét lại năm 1949) của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) (ngày có hiệu

lực: 22/1/1952) tại Điều 11 quy định theo mục đích của Công ước này, từ “lao

động di trú” là chỉ một người di trú từ một nước này sang một nước khác

nhằm làm thuê cho người khác; Thuật ngữ “người di trú vì việc làm” được

hiểu là một người di cư từ một quốc gia này tới quốc gia khác để tìm kiếm

việc làm, bao gồm bất kỳ người nào được tuyển dụng một cách lâu dài như là

một người di trú vì việc làm Công ước này không áp dụng với những người

lao động qua lại ở các vùng biên giới; những nghệ sỹ và người có chuyên

môn hành nghề tự do đến làm việc ở nước khác trong thời gian ngắn; các thủy

thủ Theo Công ước số 143 (1975) về lao động di cư (Công ước về di trú

trong những điều kiện bị lạm dụng và về xúc tiến bình đẳng cơ may và đối xử

đối với người lao động di trú), thuật ngữ “người lao động di trú” có nghĩa là

người di cư hoặc đã di cư từ một nước này sang một nước khác vì mục đích

được tuyển dụng lao động chứ không phải tự lực lao động, và bao gồm cả

Trang 15

những người được chính thức tuyển làm lao động di trú Hai Công ước 97 và

143 của ILO điều chỉnh người lao động nước này đi làm việc ở một nước

khác Pháp luật lao động của Việt Nam không gộp chung trong một khái niệm

“người lao động di trú” mà tách riêng quy định về người Việt Nam đi làm

việc ở nước ngoài và về người nước ngoài làm việc ở Việt Nam

Theo nghị định 11/2016/NĐ-CP, lao động nước ngoài là công dân nước

ngoài làm việc tại Việt Nam theo hình thức hợp đồng lao động và các hình

thức khác Dựa trên việc phân tích các quy định trong Công ước Quốc tế về

bảo vệ quyền của tất cả người lao động di trú và thành viên gia đình họ năm

1990, lao động nước ngoài được hiểu là người lao động không có quốc tịch ở

nước sở tại

Nghị định 11/2016/NĐ-CP tại Điều 3 định nghĩa: “Người lao động nước

ngoài là người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp, tình nguyện viên, chuyên

gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành và lao động kỹ thuật”

* Khái niệm của giấy phép lao động nước ngoài

Định nghĩa theo ngĩa hẹp: Giấy phép lao động theo quy định là loại giấy

tờ pháp lý căn cứ theo Bộ luật lao động của Việt Nam cho phép người nước

ngoài đến Việt Nam làm việc, lâu dài và hợp pháp

Định nghĩa theo nghĩa rộng:

Giấy phép lao động của người nước ngoài tại Việt Nam hay còn gọi là Giấy

phép lao động nước ngoài là một loại giấy phép, chứng nhận do cơ quan nhà

nước hoặc cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam cấp cho một người nước ngoài

cụ thể cho phép người đó được lao động hợp pháp với một ngành nghề và thời

gian nhất định tại Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam

1.1.2 Các dạng giấy phép lao động của người nước ngoài tại Việt Nam

Giấy phép lao động gồm 3 dạng:

- Cấp mới giấy phép lao động (Theo quy định pháp luật và khoản 8 điều

10 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP):

Trang 16

+ Người lao động chưa từng có giấy phép lao động

+ Người lao động đã có giấy phép lao động còn hiệu lực, làm việc cho

người sử dụng lao động khác, cùng vị trí công việc

+ Người lao động đã có giấy phép lao động còn hiệu lực, làm việc cho

người sử dụng lao động cũ, khác vị trí công việc

+ Người lao động có giấy phép lao động hết hiệu lực, muốn tiếp tục làm

việc cùng vị trí

+ Người lao động có giấy phép lao động được cấp trước ngày 1/4/2016

thời điểm Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ quy

định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước

ngoài làm việc tại Việt Nam (có hiệu lực ngày 01/4/2016)

- Cấp lại giấy phép lao động (điều 13 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP):

+ Giấy phép lao động còn thời hạn bị mất, bị hỏng hoặc thay đổi nội

dung ghi trong giấy phép lao động, trừ các trường hợp đặc biệt

+ Giấy phép lao động còn thời hạn ít nhất 5 ngày nhưng không quá 45 ngày

- Không thuộc diện cấp giấy phép lao động: Theo Điều 7 của Nghị định

số 11/2016/NĐ-CP, có rất nhiều trường hợp được miễn cấp giấy phép lao

động, nhưng yêu cầu người lao động nước ngoài phải làm thủ tục xác nhận

với Sở LĐ-TB&XH

1.1.3 Vai trò của cấp giấy phép Lao động nước ngoài:

- Giấy phép lao động được xem là điều kiện pháp lý cơ bản mà người

lao động nước ngoài phải có nếu muốn làm việc hợp pháp và lâu dài tại

Việt Nam

- Là căn cứ để gải quyết vấn đề lao động “chui"- lao động bất hợp pháp,

là một trong những biện pháp quan trọng trong việc quản lý lao động nước

ngoài tại Việt Nam

Đối với tất cả các trường hợp người lao động nước ngoài vào Việt Nam

làm việc theo hợp đồng lao động thì bắt buộc phải có giấy phép lao động, phải

Trang 17

xuất trình giấy phép lao động khi làm thủ tục liên quan đến xuất, nhập cảnh

và khi có yêu cầu, không có giấy phép lao động sẽ bị trục xuất Người sử

dụng lao động chịu trách nhiệm về điều kiện giấy phép, nếu bị phát hiện sử

dụng công dân nước ngoài làm việc cho mình không có giấy phép lao động sẽ

bị xử lý

Vấn đề lao động nước ngoài không phép tràn lan đã và đang là vấn đề

nhức nhối của Bộ LĐTBXH, cũng như các bộ, ngành có liên quan từ nhiều

năm nay Lực lượng lao động "chui" này không chỉ gây mất trật tự an ninh xã

hội, mà còn cạnh tranh không lành mạnh với lao động Việt Nam

Theo Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2012 tại Điều 171 quy định:

+ Người lao động là công dân nước ngoài phải xuất trình giấy phép lao

động khi làm các thủ tục liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh và xuất trình

theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

+ Công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam không có giấy phép

lao động sẽ bị trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Chính phủ

+ Người sử dụng lao động sử dụng công dân nước ngoài mà không

có giấy phép lao động làm việc cho mình thì bị xử lý theo quy định của

pháp luật

- Đảm bảo cho quyền lợi hợp pháp của người lao động trong nước và an

ninh trật tự xã hội

Đối với cả người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài thì

việc tiến hành các thủ tục để được cấp Giấy phép lao động cho người lao

động nước ngoài là hành vi tuân thủ pháp luật và là cơ sở pháp lý để bảo vệ

quyền và lợi ích chính đáng cho mình vì ở nước ta chưa cấp giấy phép cho

lao động phổ thông nước ngoài nhưng nhiều lao động “chui” cũng chỉ có trình

độ tương đương lao động trong nước sẽ tạo ra sức ép cạnh tranh không cần

thiết với lao động trong nước

Trang 18

Ngoài ra có thể hạn chế tội phạm lừa đảo lao động, nạn buôn người núp

bóng lao động di trú cũng như bảo vệ quyền lợi của người lao động di trú,

đặc biệt trong không gian Cộng đồng ASEAN vừa thành lập mà Việt Nam

nước thành viên

- Tận dụng nguồn lực chất xám, lao động chất lượng cao của lao động

nước ngoài

Nước ta đang trong quá trình hội nhập, việc đẩy nhanh quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà bằng việc ứng dụng khoa học công nghệ để

phát triển đất nước, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước

công nghiệp nên rất cần lao động động tay nghề cao, trình độ kỹ thuật cao

trong khi lao động Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu đó thì việc di

chuyển chất xám từ nước ngoài vào trong nước để phục vụ nền kinh tế là điều

cần thiết

- Đảm bảo quyền lợi của người sử dụng lao động

Theo quy định của pháp luật Việt Nam (BLLĐ 2012 và Nghị định

11/2016-NĐ-CP) thì người nước ngoài muốn lao động hợp pháp ở Việt Nam

phải tiến hành thủ tục xin cấp giấy phép lao động Doanh nghiệp, tổ chức sử

dụng lao động nước ngoài phải có trách nhiệm xin cấp giấy phép lao động cho

người nước ngoài (gồm thủ tục cấp mới giấy phép lao động và thủ tục cấp lại

giấy phép lao động), lúc đó các khoản chi lương cho người nước ngoài mới

được đưa vào chi phí hợp lý cho đơn vị sử dụng lao động

1.1.4 Lược sử của chế định pháp luật sử dụng lao động nước ngoài có

liên quan đến cấp giấy phép lao động nước ngoài tại Việt Nam

* Giai đoạn trước khi có Bộ luật lao động

Trong giai đoạn này, với sự hợp tác trên tinh thần giúp đỡ các tổ chức

kinh tế Việt Nam cũng như nền kinh tế Việt Nam sau chiến tranh, nhiều

chuyên gia nước ngoài đã đến Việt Nam làm việc chủ yếu trong các xí nghiệp

Trang 19

quốc doanh và xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sau khi Luật Đầu tư nước

ngoài tại Việt Nam năm 1987 ra đời, Nghị định 233-HĐBT ngày 22/06/1990

của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quy chế Lao động đối với các xí nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài và Thông tư 19-LĐTBXH/TT ngày 31/12/1990 hướng

dẫn thi hành Quy chế Lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất về việc sử dụng lao động nước ngoài tại

Việt Nam

* Giai đoạn sau khi Bộ luật Lao động được ban hành

- Giai đoạn từ 1994 đến 2001:

Bộ luật có quy mô, điều chỉnh nhiều vấn đề của lĩnh vực lao động nhưng

các quy định dành cho lao động nước ngoài lại rất khiêm tốn, trong một mục

chung dành cho "lao động cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam,

người nước ngoài lao động tại Việt Nam, lao động ở nước ngoài" (Mục V -

Chương XI - Bộ luật Lao động năm 1994) và rải rác từ Điều 131 đến Điều

133 và Điều 184 Hướng dẫn Bộ luật Lao động về lĩnh vực này có hai văn bản

là Nghị định 58/CP ngày 03/10/1996 của Chính phủ về cấp Giấy phép lao

động cho người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt

Nam và Thông tư 09/LĐTBXH-TT ngày 18/03/1997 của Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện việc cấp Giấy phép lao động cho

người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam; Nghị

định 169/1999/NĐ-CP ngày 03/12/1999 sửa đổi, bổ sung một

08/2000/TT-BLĐTB&XH ngày 29/03/2000 thay thế Thông tư 09/LĐTBXH-TT

- Giai đoạn từ 2002 đến 2006:

Năm 2002, Bộ luật Lao động được sửa đổi, bổ sung, mặc dù chỉ sửa đổi,

bổ sung hai điều nhưng với những nội dung rất quan trọng Đó là quy định về

tỉ lệ lao động nước ngoài mà các doanh nghiệp, tổ chức được phép tuyển

dụng, thời hạn của Giấy phép lao động, các trường hợp phải xin cấp Giấy

Trang 20

phép lao động và các đối tượng được phép sử dụng lao động nước ngoài tại

Việt Nam Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định 105/2003/NĐ-CP

ngày 17/09/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ

luật Lao động về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam

thay thế Nghị định 58/CP và Nghị định 196/1999/NĐ-CP Tiếp sau đó, Bộ

Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư

04/2004/TT-BLĐTBXH ngày 10/03/2004 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định

105/2003/NĐ-CP ngày 17/09/2003 về tuyển dụng và quản lý lao động nước

ngoài tại Việt Nam thay thế Thông tư 09/LĐTBXH-TT và Thông tư

08/2000/TTBLĐTBXH Hai văn bản này điều chỉnh các vấn đề về tuyển dụng

và quản lý lao độngnước ngoài làm việc tại Việt Nam chứ không chỉ về việc

cấp Giấy phép lao động như các văn bản trước đây

- Giai đoạn từ 2007 đến 2011:

Từ ngày 11/01/2007 Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức

Thương mại thế giới (WTO) Theo thông lệ quốc tế và quy định của pháp luật

Việt Nam, tất cả các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO phải được ưu

tiên áp dụng so với pháp luật quốc gia Theo cam kết WTO, nhiều đối tượng

là người lao động nước ngoài chưa được pháp luật lao động trước đó điều

chỉnh Khắc phục thiếu sót đó, Nghị định 34/2008/NĐ-CP ngày 25/03/2008

quy định về tuyển dụng và quản lý số điều của Nghị định 58/CP về cấp Giấy

phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở

Việt Nam và Thông tư người nước ngoài làm việc tại Việt Nam và Thông tư

08/2008/TTBLĐTBXH ngày 10/06/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của

Nghị định 34/2008/NĐ-CP ngày 25/03/2008 của Chính phủ quy định về tuyển

dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam được ban hành

- Giai đoạn từ 2012 đến nay

Ngày 05/9/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 102/2013/NĐ-CP

quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước

Trang 21

ngoài làm việc tại Việt Nam (sau đây viết tắt là Nghị định số

102/2013/NĐ-CP) Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định số 102/2013/NĐ-CP đã kịp

thời điều chỉnh quan hệ lao động với người lao động nước ngoài, tạo điều

kiện thuận lợi để doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức tuyển dụng người lao động

nước ngoài, đồng thời giúp cho công tác quản lý người lao động nước ngoài

được chặt chẽ hơn Chính phủ cũng ban hành một loạt các nghị quyết, nghị

định quan trọng: Nghị quyết số 47/NQ-CP ngày 08/7/2014 Phiên họp Chính

phủ thường kỳ tháng 6/2014 trong đó quy định điều kiện đối với lao động là

người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam; Nghị định số 95/2013/NĐ-CP

ngày 22/8/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động,

bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm; Nghị định số

88/2015/NĐ-CP ngày 7/10/2015 sửa đổi, bổ sung Nghị định 95/2013/NĐ-CP;

Nghị định số 73/2012/NĐ-CP ngày 26/09/2012 quy định về hợp tác, đầu tư

của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục; Nghị định số 87/2014/NĐ-CP ngày

22/9/2014 về thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người Việt

Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và

công nghệ tại Việt Nam; Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014 quy

định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu

Bộ Lao động Thương binh và xã hội ban hành Thông tư số

03/2014/TT-BLĐTBXH ngày 20/1/2014 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số

102/2013/NĐ-CP Các Bộ, ngành liên quan cũng đã ra các văn bản hướng dẫn

tạo thành khung pháp lý đồng bộ về vấn đề này: Thông tư liên tịch số

01/2012/TTLT/BCA-BNG ngày 03/01/2012 sửa đổi, bổ sung Thông tư liên

tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG ngày 29/01/2002 và Thông tư liên tịch số

05/2009/TTLT/BCA-BNG ngày 12/5/2009 trong lĩnh vực xuất nhập cảnh;

Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP

ngày 10/05/2012 về hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi,

cung cấp thông tin lý lịch tư pháp; Thông tư 02/2012/TT-BCA ngày

Trang 22

05/01/2013 về việc ban hành, hướng dẫn sử dụng và quản lý các loại mẫu

giấy tờ liên quan đến công tác quản lý xuất, nhập cảnh; Thông tư số

25/2013/TT-BCA ngày 12/06/2014 sửa đổi, bổ sung Điều 2 của Thông tư số

02/2012/TT-BCA; Thông tư 04/2015/TT-BCA ngày 5/1/2015 quy định mẫu

giấy tờ liên quan đến việc nhập cảnh xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài

tại Việt Nam; Thông tư số 31/2015/TT-BCA ngày 6/7/2015 hướng dẫn một

số nội dung về cấp thị thực, cấp thẻ tạm trú, cấp giấy phép xuất nhập cảnh,

giải quyết thường trú cho người nước ngoài vào Việt Nam

Trong quá trình thực hiện Nghị định số 102/2013/NĐ-CP và Thông tư số

3/2014/TT-BLĐTBXH thì thực tiễn có phát sinh một số vấn đề pháp lý: Có

một số quy định bất hợp lý, khó thực hiện hoặc gây vướng mắc, một số thủ

tục hành chính cần phải cải cách và rút gọn hơn nữa để tạo điều kiện thuận lợi

cho các bên; ngược lại, cần bổ sung một số quy định để quản lý người lao

động nước ngoài chặt chẽ hơn [41]

Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện

tử; Ngày 3/2/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy

định chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về lao động nước

ngoài làm việc tại Việt Nam (sau đây viết tắt là Nghị định số 11/2016/NĐ-CP)

thay thế cho Nghị định số 102/2013/NĐ-CP Nghị định số 11/2016/NĐ-CP có

hiệu lực từ ngày 1/4/2016; ngày 25/10/2016 BLĐTBXH ban hành Thông tư

40/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định

11/2016/NĐ-CP về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; Thông tư 35

ngày 28/12/2016 của Bộ công thương Quy định việc xác định người lao động

nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi mười một

ngành dịch vụ trong biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam với tổ chức

thương mại thế giới không thuộc diện cấp giấy phép lao động Các văn bản

pháp luật vừa ban hành với những điểm mới quan trọng trong việc điều chỉnh

Trang 23

người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong đó có nhiều điểm mới

về cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài tại Việt Nam

1.2 Pháp luật quy định về cấp phép lao động của một số quốc gia

Việc tiếp nhận lao động nước ngoài đến nước mình làm việc được các

nước điều tiết chặt chẽ Việc các nước tư bản phát triển ngày càng hạn chế lao

động nước ngoài đến nước họ tìm kiếm việc làm và chính vì vậy mà trình tự

thủ tục cấp phép cho lao động nước ngoài càng trở nên nghiêm ngặt hơn [22,

tr 408-409]

* Cộng hòa Pháp

Bộ luật Lao động của Pháp có riêng một phần về "lao động nước ngoài

và việc bảo vệ lợi ích của lao động trong nước" Theo điều 341-2 để được

thuê làm việc tại Pháp, ngoài hộ chiếu, thị thực và các giấy tờ tùy thân khác,

người nước ngoài cần phải xuất trình cho cơ quan có thẩm quyền cuả Pháp

hợp đồng lao động, được cơ quan hành chính phê duyệt hoặc cấp giấy phép

lao động và chứng nhận y tế Phần này của Bộ luật lao động Pháp còn quy

định: Việc bảo vệ quyền của người nước ngoài khi được thuê làm việc trái với

quy định của pháp luật; thủ tục xử phạt đối với những người thuê lao động vi

phạm quy định về thuê người nước ngoài; nghiêm cấm thu của người nước

ngoài các khoản lệ phí phi pháp vì lợi ích của người thuê lao động Tất cả các

hoạt động liên quan đến việc thuê và tuyển dụng lao động nước ngoài đến

Pháp làm việc hay việc làm thủ tục cho bất kỳ người nước nào ra nước ngoài

làm việc do cục nhập cư quốc gia quản lý.[22, tr 408-409]

* Cộng hòa nhân dân Bungari và Cộng hòa dân chủ Đức

Các quy định pháp luật về sử dụng lao động Việt Nam của hai nước này quy

định rất cụ thể về điều kiện tuyển chọn; Các giấy tờ cần thiết khi đến làm việc; Hình

thức lao động; Quyền lợi và nghĩa vụ và Quản lý lao động tại các đơn vị sản xuất

* Malaixia

Trang 24

Từ tháng 2 năm 2002, Chính phủ Malaixia thực hiện chính sách mới về

việc tiếp nhận lao động nước ngoài Theo đó, việc tuyển dụng lao động nước

ngoài phải dựa trên các Hiệp định cấp Chính phủ giữa hai nước về cung ứng

và tiếp nhận lao động Trong đó, mỗi Hiệp định sẽ có những thỏa thuận cụ thể

về quyền, nghĩa vụ của người lao động nhưng thời hạn lao động theo hợp

đồng lao động tối đa là 3 năm và được gia hạn 2 năm đối với lao động phổ

thông và 3 năm đối với lao động chuyên môn

* Hàn Quốc

Năm 2003, Hàn Quốc ban hành Luật Cấp phép cho người lao động nước

ngoài, trong đó quy định cụ thể về đối tượng áp dụng, cơ quan quản lý, kế

hoạch tuyển dụng, quy trình tuyển dụng, thời hạn làm việc, quyền và nghĩa vụ

của người lao động nước ngoài khi làm việc tại Hàn Quốc

* Đài Loan

Lao động nước ngoài tại nước này chịu sự điều chỉnh của Luật Tiêu

chuẩn lao động Đài Loan Ngoài các quyền, nghĩa vụ cơ bản của người lao

động nước ngoài, văn bản này còn quy định cụ thể về việc khám sức khỏe

định kỳ, việc cấp Giấy phép lao động và Thẻ cư trú và nghĩa vụ nộp thuế của

người lao động nước ngoài.[26]

Trên cơ sở việc tìm hiểu pháp luật của một số quốc gia nêu trên có thể

đánh giá một cách chung nhất, có thể nhận thấy:

Thứ nhất, pháp luật việt Nam cần có văn bản pháp luật quốc gia về việc

cấp giấy phép lao động nước ngoài một thống nhất đồng thời ký Hiệp định về

việc cấp giấy phép lao động với các nước

Thứ hai, pháp luật Việt Nam cần có chế định riêng quy định cụ thể trong

Bộ Luật Lao động hoặc tách ra thành đạo luật riêng về cấp giấy phép lao động

nước ngoài

Có thể thấy pháp luật Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào có định

nghĩa chung về cấp giấy phép lao động nước ngoài, quy định về cấp giấy

phép lao động nằm trong văn bản luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm

Trang 25

1987, tiếp theo là Bộ luật lao động sửa đổi và các văn bản pháp luật có liên

quan, mới nhất trong Bộ luật Lao động năm 2012 và nghị định

11/2016/NĐ-CP Vai trò của việc cấp giấy phép Lao động không chỉ quan trọng với Việt

Nam, mà còn quan trọng với bất kỳ quốc gia nào trong việc quản lý lao động

Với việc tham khảo pháp luật về cấp giấy phép lao động của một số quốc gia

và việc thực thi pháp luật về cấp giấy phép LĐNN của nước ta hiện nay, sẽ

giúp cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về vấn đề này của Việt

Nam trong thời gian tới sát với thực tiễn hơn

Trang 26

Chương 2: NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ

THỰC TIỄN ÁP QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY PHÉP LAO

ĐỘNG NƯỚC NGOÀI

2.1 Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về cấp giấy

phép cho người lao động nước ngoài

2.1.1 Đối tượng áp dụng

2.1.1.1 Các hình thức lao động nước ngoài là đối tượng cấp giấy phép

lao động

Người nước ngoài vào Việt Nam làm việc dưới nhiều hình thức bao gồm

cả người lao động nước ngoài làm việc theo hợp đồng lao động Khoản 1

Điều 169 Bộ Luật Lao động do Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 18/6/2012

có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2013 (sau đây viết tắt là Bộ luật Lao động

năm 2012) quy định người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam là “công

dân nước ngoài” (xác định bởi hai yếu tố “quốc tịch” và “tư cách công dân”)

và đưa ra các điều kiện của công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam:

“a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ b) Có trình độ chuyên môn, tay nghề

và sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc; c) Không phải là người phạm tội

hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam

và pháp luật nước ngoài; d) Có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có

thẩm quyền cấp, trừ các trường hợp theo quy định” Bộ luật Lao động năm

2012 còn quy định chỉ được tuyển dụng lao động là công dân nước ngoài đối

với công việc quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật

mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu, sản xuất kinh doanh

và phải giải trình nhu cầu sử dụng và được sự chấp thuận của cơ quan nhà

nước có thẩm quyền

Người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc theo nhiều hình thức

khác nhau được bổ sung nhiều so với quy định trước đây nhằm phù hợp với

Trang 27

cam kết WTO như: ký hợp đồng lao động, di chuyển nội bộ doanh nghiệp,

nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng, chào bán dịch vụ, v.v

Cụ thể, Nghị định 11/2016/NĐ-CP tại Điều 2 quy định Lao động là

công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam (sau đây viết tắt là người lao

động nước ngoài) được liệt kê theo các hình thức sau đây:

Thực hiện hợp đồng lao động; Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp;

Thực hiện các loại hợp đồng hoặc thỏa thuận về kinh tế, thương mại, tài

chính, ngân hàng, bảo hiểm, khoa học kỹ thuật, văn hóa, thể thao, giáo dục,

giáo dục nghề nghiệp và y tế; Nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng; Chào bán

dịch vụ; Làm việc cho tổ chức phi chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế tại

Việt Nam được phép hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam; Tình

nguyện viên; Người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại; Nhà

quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật; Tham gia thực

hiện các gói thầu, dự án tại Việt Nam

2.1.1.2 Các đối tượng phải xin cấp giấy phép lao động cho người lao

động nước ngoài khi sử dụng lao động nước ngoài

Các đối tượng này vẫn giữ nguyên theo quy định cũ, theo khoản 2 điều 2

nghị định 11/2016/NĐ-CP, người sử dụng người lao động nước ngoài, bao

gồm: Doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư hoặc

theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành

viên; Nhà thầu nước ngoài hoặc trong nước tham dự thầu, thực hiện hợp

đồng; Văn phòng đại diện, chi nhánh của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức

được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập; Cơ quan nhà nước, tổ chức

chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ

chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; Tổ chức phi chính phủ nước ngoài,

tổ chức quốc tế tại Việt Nam; Tổ chức sự nghiệp được thành lập theo quy

định của pháp luật; Văn phòng của dự án nước ngoài hoặc của tổ chức quốc tế

tại Việt Nam; Văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp

Trang 28

đồng hợp tác kinh doanh hoặc của nhà thầu nước ngoài được đăng ký hoạt

động theo quy định của pháp luật; Các tổ chức hành nghề luật sư tại Việt Nam

theo quy định của pháp luật; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và

hoạt động theo Luật Hợp tác xã; Hội, hiệp hội doanh nghiệp được thành lập

theo quy định của pháp luật; Hộ kinh doanh, cá nhân được phép hoạt động

kinh doanh theo quy định của pháp luật

- Thông tư 40/2016/TTBLĐTBXH: Quy định chi tiết hơn về một số đối tượng

thuộc Điều 2 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP như:

+ Người lao động nước ngoài là nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng và chào

bán dịch vụ (khoản 2 điều 2)

+ Người sử dụng lao động nước ngoài trong một số trường hợp đặc biệt là các

đối tượng theo quy định tại điểm c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 Nghị định số

11/2016/NĐ-CP (khoản 3 điều 2)

2.1.2 Đối tượng người lao động nước ngoài không phải cấp giấy phép

lao động

* Các đối tượng người lao động nước ngoài được miễn giấy phép lao

động theo điều 172 Bộ luật Lao động 2012 gồm:

Thành viên góp vốn hoặc là chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu

hạn; Thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần; Trưởng văn phòng

đại diện, dự án của tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam; Vào

Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ; Vào Việt

Nam với thời hạn dưới 03 tháng để xử lý những sự cố, tình huống kỹ thuật,

công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới

sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước

ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được; Luật sư nước ngoài đã được

cấp giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của Luật luật sư;

Trang 29

Theo quy định của Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là thành viên; Là học sinh, sinh viên học tập tại Việt Nam làm việc tại Việt

Nam nhưng người sử dụng lao động phải báo trước 07 ngày với cơ quan quản

lý nhà nước về lao động cấp tỉnh

* Các trường hợp người lao động nước ngoài khác không thuộc diện

cấp giấy phép lao động theo điều 8 nghị định 11/2016/NĐ-CP:

Ngoài những trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo

quy định cũ như: Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11

ngành dịch vụ trong biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương

mại thế giới, bao gồm: kinh doanh, thông tin, xây dựng, phân phối, giáo dục,

môi trường, tài chính, y tế, du lịch, văn hóa giải trí và vận tải; Vào Việt Nam

để cung cấp dịch vụ tư vấn về chuyên môn và kỹ thuật hoặc thực hiện các

nhiệm vụ khác phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng, thẩm định, theo

dõi đánh giá, quản lý và thực hiện chương trình, dự án sử dụng nguồn hỗ trợ

phát triển chính thức (ODA) theo quy định hay thỏa thuận trong các điều ước

quốc tế về ODA đã ký kết giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước

ngoài; Được Bộ Ngoại giao cấp giấy phép hoạt động thông tin, báo chí tại Việt

Nam theo quy định của pháp luật; Được cơ quan, tổ chức của nước ngoài cử

sang Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu tại trường quốc tế thuộc phạm vi quản lý

của cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam

hoặc được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận vào giảng dạy, nghiên cứu tại các

cơ sở giáo dục, đào tạo tại Việt Nam; Tình nguyện viên có xác nhận của cơ

quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam

- Thông tư 41/2014/TT-BCT của Bộ Công Thương ngày 05/11/2014 (có

hiệu lực ngày 22/12/2014) gọi tắt là thông tư 41/2014/TT-BCT, tại khoản 2

điều 4 quy định căn cứ để xác định người lao động nước ngoài di chuyển trong

nội bộ doanh nghiệp nước ngoài thuộc các ngành dịch vụ được nêu bao gồm:

Trang 30

+ Doanh nghiệp nước ngoài đã thành lập hiện diện thương mại trên lãnh

thổ Việt Nam

+ Hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài trên lãnh thổ Việt

Nam hoạt động thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ tương ứng với từng vị trí

+ Người nước ngoài đã được doanh nghiệp nước ngoài tuyển dụng ít

nhất 12 tháng trước khi được cử sang Việt Nam làm việc tại hiện diện thương

mại của doanh nghiệp nước ngoài này trên lãnh thổ Việt Nam

Theo quy định của điều 3 thông tư 41/2014/TT-BCT, hiện diện thương

mại của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam bao gồm các hình thức như

hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100%

vốn nước ngoài, văn phòng đại diện, chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài

Theo quy định tại khoản 1 điều 5 thông tư 41/2014/TT-BCT, các giấy tờ

chứng minh người nước ngoài thuộc trường hợp di chuyển trong nội bộ doanh

nghiệp và không phải xin giấy phép lao động bao gồm:

+ Văn bản của doanh nghiệp nước ngoài cử sang làm việc cho hiện diện

thương mại tại Việt Nam có ghi rõ thời hạn làm việc

+ Văn bản xác nhận người nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều

hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật

+ Văn bản chứng minh rằng người nước ngoài đã được doanh nghiệp

nước ngoài tuyển dụng ít nhất 12 tháng trước khi cử sang Việt Nam làm việc

+ Văn bản chứng minh hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước

ngoài tại Việt Nam hoạt động trong phạm vi các ngành dịch vụ theo quy định

của pháp luật như giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận

đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành

lập văn phòng đại diện, chi nhánh do cơ quan có thẩm quyền cấp

Các giấy tờ được liệt kê nêu trên nếu bằng tiếng nước ngoài thì được

miễn hợp pháp hóa lãnh sự nhưng phải dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo

quy định của pháp luật Việt Nam

Trang 31

* Theo Nghị định 11/2016/NĐ-CP bổ sung những trường hợp người

nước ngoài thuộc diện không phải cấp giấy phép lao động (Theo Khoản 2

Điều 7), cụ thể:

- Người lao động được cơ quan, tổ chức của nước ngoài cử sang Việt

Nam giảng dạy, nghiên cứu tại trường quốc tế thuộc phạm vi quản lý của cơ

quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam hoặc

được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận vào giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ

sở giáo dục, đào tạo tại Việt Nam (điểm đ)

- Những người vào Việt Nam làm việc tại vị trí chuyên gia, nhà quản lý,

giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30

ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm (điểm e)

Theo quy định trước đây (điểm e khoản 2 điều 7 Nghị định

102/2013/NĐ-CP) giới hạn là người có trình độ từ thạc sĩ trở lên hoặc tương

đương thực hiện tư vấn, giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại

học, cơ sở dạy nghề trình độ cao đẳng với thời gian không quá 30 ngày)

- Học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường, cơ sở đào tạo ở

nước ngoài có thỏa thuận thực tập trong các cơ quan, tổ chức, doanh

nghiệp tại Việt Nam;

- Thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam

làm việc sau khi được Bộ Ngoại giao cấp phép, trừ trường hợp điều ước

quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có

quy định khác;

- Người có hộ chiếu công vụ vào làm việc cho cơ quan nhà nước, tổ chức

chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

Điều 9 thông tư 40/2016/TTBLĐTBXH giải thích cụ thể: Thời gian cộng

dồn trong 1 năm quy định tại điểm e khoản 2 Điều 7 Nghị định số

11/2016/NĐ-CP được hiểu là trong thời gian đủ 12 tháng liên tục và được

tính kể từ ngày người lao động nước ngoài bắt đầu làm việc tại Việt Nam

Trang 32

Lưu ý: Người sử dụng lao động đề nghị Sở Lao động - Thương binh và

Xã hội nơi người nước ngoài dự kiến làm việc xác nhận người lao động nước

ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động trước ít nhất 07 ngày làm

việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài bắt đầu làm việc, trừ các trường

hợp: người lao động vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để thực hiện

chào bán dịch vụ, xử lý những sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp

nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh

mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt

Nam không xử lý được và các chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành

hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng

dồn không quá 90 ngày trong 01 năm; vì việc chuẩn bị giấy tờ trong hồ sơ đề

nghị cấp giấy phép lao động mất nhiều thời gian trong khi thời gian làm việc

rất ngắn đặc biệt trong trường hợp để xử lý những sự cố, tình huống khẩn cấp

Đối với trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động, người

nước ngoài vẫn cần phải có giấy xác nhận của Sở Lao động Thương Binh và

Xã hội Thời hạn xác nhận không thuộc trường hợp cấp giấy phép lao động là

tối đa không quá 2 năm và theo thời hạn của một số trường hợp cụ thể (điều 8

nghị định 11/2016/NĐ-CP) Quy định cũ không quy định rõ thời hạn (điều 8

nghị định 102/2013/NĐ-CP)

* Xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy

phép lao động Điều 8 nghị định 11/2016/NĐ-CP quy định:

- Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có thẩm quyền xác nhận người

lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động

- Người sử dụng lao động đề nghị Sở Lao động - Thương binh và Xã hội

nơi người nước ngoài dự kiến làm việc xác nhận người lao động nước ngoài

không thuộc diện cấp giấy phép lao động trước ít nhất 07 ngày làm việc, kể từ

ngày người lao động nước ngoài bắt đầu làm việc, trừ các trường hợp quy

Trang 33

định tại Khoản 4, Khoản 5 Điều 172 của Bộ luật Lao động và Điểm e Khoản

2 Điều 7 Nghị định này

Thời hạn xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy

phép lao động không quá 02 năm và theo thời hạn của một trong các trường

hợp quy định tại Điều 11 Nghị định này

- Hồ sơ đề nghị xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động,

bao gồm:

+ Văn bản đề nghị xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc

diện cấp giấy phép lao động;

+ Danh sách trích ngang về người lao động nước ngoài với nội dung: họ,

tên; tuổi; giới tính; quốc tịch; số hộ chiếu; ngày bắt đầu và ngày kết thúc làm

việc; vị trí công việc của người lao động nước ngoài;

+ Các giấy tờ để chứng minh người lao động nước ngoài không thuộc

diện cấp giấy phép lao động;

+ Giấy tờ chứng minh người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp

giấy phép lao động là 01 bản chụp kèm theo bản gốc để đối chiếu hoặc 01 bản

sao có chứng thực, nếu của nước ngoài thì miễn hợp pháp hóa lãnh sự, nhưng

phải dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị xác

nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động, Sở Lao động - Thương binh

và Xã hội có văn bản xác nhận gửi người sử dụng lao động Trường hợp

không xác nhận thì có văn bản trả lời và nêu rõ lý do

Theo quy định mới Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy

định cơ quan xem xét xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện

cấp giấy phép lao động là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội “nơi người

nước ngoài dự kiến làm việc” Quy định này là phù hợp vì nếu theo quy định

cũ là Sở lao động thương binh xã hội “nơi người lao động nước ngoài thường

xuyên làm việc” là không thể xác định được nếu họ chưa vào Việt Nam làm

Trang 34

việc Giảm thiểu thủ tục hành chính trong quy định về những trường hợp

không phải làm thủ tục xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đối

với: người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc với thời hạn dưới 03

tháng để thực hiện chào bán dịch vụ, để xử lý những sự cố, tình huống kỹ

thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh mà các chuyên gia Việt Nam và các

chuyên gia nước ngoài hiện ở Việt Nam không xử lý được; vào làm việc tại vị

trí chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có

thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày

trong 01 năm

Bổ sung thời hạn xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện

cấp giấy phép lao động theo thời hạn của từng trường hợp quy định và không

quá 02 năm

Về Hồ sơ đề nghị xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cơ

bản không thay đổi so với quy định cũ chỉ yêu cầu chặt chẽ hơn về giấy tờ

chứng minh người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao

động là “01 bản chụp kèm theo bản gốc để đối chiếu hoặc 01 bản sao có

chứng thực” (điểm d)

2.1.3 Xác định công việc được sử dụng người lao động nước ngoài

Mục I chương II Nghị định 11/2016: Sử dụng người lao động nước

ngoài (Điều 4 Nghị định 11/2016/NĐ-CP):

Theo quy định mới Nghị định số 11/2016/NĐ-CP Điểm a Khoản 1 Điều

4 bỏ quy định “hằng năm” người sử dụng lao động phải xác định nhu cầu sử

dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc, vì thực tế điều

này là bất hợp lý Việc xác định trước nhu cầu trong một năm khó đảm bảo

chính xác và nhu cầu sử dụng lao động còn có thể phát sinh đột xuất Bổ sung

điểm b khoản 1 về các trường hợp không phải xác định nhu cầu sử dụng

người lao động nước ngoài Đây chính là các trường hợp không thuộc diện

cấp giấy phép lao động, quy định mới nhằm giảm bớt thủ tục hành chính cho

Trang 35

đối tượng này Quy định chủ thể có thẩm quyền xem xét chấp thuận nhu cầu

sử dụng lao động nước ngoài là Chủ tịch UBND cấp tỉnh “nơi người lao động

dự kiến làm việc”, vì nếu quy định như trước đây là Chủ tịch UBND cấp tỉnh

nơi “người sử dụng lao động nước ngoài có trụ sở chính” thì không đảm bảo

được hiệu quả quản lý (Ví dụ: Có nhiều trường hợp người lao động nước

ngoài không làm việc tại trụ sở chính của người sử dụng lao động)

- Sử dụng người lao động nước ngoài của nhà thầu (Điều 5 Nghị

định 11/2016/NĐ-CP)

Trước thực tế về nhu cầu sử dụng lao động phổ thông của nhà thầu nước

ngoài, nhà nước cũng bỏ quy định “cấm” sử dụng lao động nước ngoài thực

hiện các công việc mà người lao động Việt Nam có khả năng thực hiện và đáp

ứng yêu cầu của gói thầu đặc biệt là lao động phổ thông, lao động không qua

đào tạo kỹ năng nghiệp vụ Khoản 1 và 2 Điều 5 Nghị định số

11/2016/NĐ-CP tiếp tục quy định về việc ưu tiên tuyển dụng lao động Việt Nam và chỉ cho

phép sử dụng lao động nước ngoài khi không tuyển dụng được lao động Việt

Nam Bỏ quy định “việc đánh giá, lựa chọn nhà thầu phải thực hiện các quy

định về sử dụng lao động đã nêu trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và các

quy định của pháp luật đấu thầu Việt Nam” vì không khả thi Tăng trách

nhiệm của chủ đầu tư trong việc “giám sát, yêu cầu nhà thầu thực hiện đúng

nội dung đã kê khai về việc sử dụng người lao động Việt Nam và người lao

động nước ngoài” (Khoản 3 Điều 5)

- Báo cáo sử dụng người lao động nước ngoài (Điều 6 Nghị định

11/2016/NĐ-CP)

Bổ sung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý lao

động nước ngoài:“Định kỳ hằng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu, Ủy ban

nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã

hội về nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài, chấp thuận nhu cầu sử

Trang 36

dụng người lao động nước ngoài và tình hình quản lý người lao động nước

ngoài làm việc trên địa bàn.” (Khoản 1 Điều 6)

2.1.4 Điều kiện cấp giấy phép lao động

Trong thời đại toàn cầu hóa, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi

Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO, cùng ASEAN xây dựng một

cộng đồng chính trị - kinh tế - xã hội chung, thì việc dần dần phải loại bỏ

các rào cản, tiến tới mở cửa thị trường lao động là xu hướng không thể tránh

khỏi Vì thế, chúng ta không nên có thái độ cực đoan khi nhìn nhận hiện

tượng người Lao động nước ngoài, cho dù từ bất kỳ quốc gia nào, có mặt

hợp pháp tại Việt Nam Nếu hiện nay ở nước ta có trên bảy vạn người nước

ngoài đang làm việc, thì hàng năm cũng có bằng ấy người Việt ra nước

ngoài lao động theo thỏa thuận của Chính phủ với các quốc gia Tuy nhiên,

nếu LĐNN bất hợp pháp mà làm việc tại Việt Nam sẽ gây ra rất nhiều hệ

lụy Trước tiên, họ tước đi cơ hội việc làm của người lao động Việt Nam,

trong khi sức ép giải quyết công ăn việc làm đang là gánh nặng cho Chính

phủ và xã hội Điều đáng buồn là đại đa số những lao động trái phép bị phát

hiện lại đang làm những công việc giản đơn hoặc những loại việc mà người

lao động Việt Nam hoàn toàn có thể đảm đương được Thêm nữa, tình trạng

này có thể tạo ra làn sóng nhập cư, định cư “lậu” khó kiểm soát, gây ra những

vấn đề nan giải về xã hội, văn hóa, thậm chí là an ninh Cần thiết có những

điều kiện bắt buộc cho lao động nước ngoài làm việc hợp pháp pháp của Việt

Nam thông qua việc cấp giấy phép lao động Điều kiện để cấp phép lao động

nước ngoài cũng cần phù hợp với điều kiện công việc và từng giai đoạn

Nghị định 11/2016/NĐ-CP tại Điều 9 quy định điều kiện chung cấp giấy

phép lao động nước ngoài:

Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật; Có sức

khỏe phù hợp với yêu cầu công việc; Là nhà quản lý, giám đốc điều hành,

Trang 37

chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật; Không phải là người phạm tội hoặc bị

truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp

luật nước ngoài; Được chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có

thẩm quyền về việc sử dụng người lao động nước ngoài

Ngoài các điều kiện chung nêu trên như lao động Việt Nam, người lao

động nước ngoài còn phải đáp ứng nhiều điều kiện riêng như việc yêu cầu

trong hồ sơ cấp giấy phép lao động và được quy định đối với từng đối tượng

cụ thể như:

- Người làm công việc quản lý, điều hành ở những nơi mà người lao

động Việt Nam chưa đáp ứng được vị trí công việc đó Người làm việc theo

hình thức di chuyển nội bộ phải có văn bản của doanh nghiệp nước ngoài cử

sang Việt Nam làm việc, v.v Trước đây theo Nghị định 102/2013-NĐ-CP,

chuyên gia nước ngoài được được định nghĩa là cá nhân có bằng đại học trở

lên và có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc Theo Nghị định

11/2016-NĐ-CP, yêu cầu số năm kinh nghiệm tối thiểu giảm xuống còn 3 năm Mặc dù có

quy định về miễn giấy phép lao động, trong một số trường hợp người sử dụng

lao động cần có xác nhận người nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép

lao động trước ít nhất 07 ngày làm việc kể từ ngày người lao động nước ngoài

bắt đầu làm việc/học tập/ giảng dạy

Bên cạnh những khái niệm về vị trí công việc hiện tại, Nghị định

11/2016/NĐ-CP bổ sung thêm khái niệm đối với các vị trí khác mà người lao

động nước ngoài đảm nhiệm

Quy định mới đã bỏ điều kiện hành nghề đối với người lao động nước

ngoài hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh tại

Việt Nam hoặc làm việc trong lĩnh vực giáo dục đào tạo và dạy nghề vì pháp

luật chuyên ngành đã quy định

Trang 38

Ngoài ra nghị định 11/2016/NĐ-CP có một số quy định mới về điều kiện

cấp giấy phép lao động nước ngoài như sau:

-Thay đổi điều kiện xác định là chuyên gia nước ngoài Tại khoản 3

điều 3 Nghị định 11/2016/NĐ-CP quy định, Người lao động nước ngoài được

xem là chuyên gia đáp ứng một trong hai điều kiện:

+ Có văn bản xác nhận là chuyên gia của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

tại nước ngoài (trước ngày 01 tháng 4 năm 2016 không bắt buộc);

+ Có bằng đại học trở lên hoặc tương đương và có ít nhất 3 năm kinh

nghiệm làm việc trong chuyên ngành được đào tạo phù hợp với vị trí công

việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam; trường

hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định

- Quy định chi tiết về người lao động nước ngoài là Nhà quản lý, giám

đốc điều hành

Trường hợp người lao động nước ngoài được xem là nhà quản lý, giám

đốc điều hành:

+ Nhà quản lý là người quản lý doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 18

Điều 4 Luật Doanh nghiệp hoặc là người đứng đầu, cấp phó của người đứng

đầu của cơ quan, tổ chức;

+ Giám đốc điều hành là người đứng đầu và trực tiếp điều hành đơn vị

trực thuộc cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

Theo thông tư 03/2014TT-BLĐTBXH: Nhà quản lý, giám đốc điều

hành: Là người lao động nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý trong tổ chức,

doanh nghiệp bao gồm việc chỉ đạo tổ chức, doanh nghiệp hoặc đơn vị trực

thuộc tổ chức, doanh nghiệp đó; giám sát và kiểm soát công việc của các nhân

viên chuyên môn, nhân viên quản lý hoặc nhân viên giám sát khác (khoản 3

điều 2 thông tư 03/2014TT-BLĐTBXH)

Hiện nay điều kiện Cấp giấy phép lao động đối với giáo viên là người nước

ngoài được quy định cụ thể điều kiện ít nhất phải có trình độ đại học sư phạm

Trang 39

hoặc tương đương (có trình độ đại học và có chứng chỉ sư phạm hoặc chứng chỉ

giảng dạy giáo dục phổ thông) giảng dạy tại các cơ sở giáo dục phổ thông

Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản số 1493/TTg-KGVX ngày

19/8/2016 về việc triển khai thực hiện Nghị định số 11/2016/NĐ-CP

Theo đó, căn cứ Nghị định số 124/2014/NĐ-CP sửa đổi Khoản 6 Điều

31 Nghị định số 73/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về hợp tác, đầu tư

của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục và Điểm b Khoản 3 Điều 3 Nghị định

số 11/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của

Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam;

Xét ý kiến của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Văn bản số

2461/LĐTBXH-VL ngày 01/7/2016, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý trường

hợp cấp giấy phép lao động đối với giáo viên là người nước ngoài ít nhất phải

có trình độ đại học sư phạm hoặc tương đương (có trình độ đại học và có

chứng chỉ sư phạm hoặc chứng chỉ giảng dạy giáo dục phổ thông) giảng dạy

tại các cơ sở giáo dục phổ thông

Có thể thấy điều kiện đối với người nước ngoài khi làm việc ở Việt Nam

khá chặt chẽ, khắt khe và chỉ tuyển dụng lao động có trình độ, chuyên môn

cao, không tuyển lao động phổ thông dù bỏ quy định “cấm” sử dụng lao động

nước ngoài thực hiện các công việc mà người lao động Việt Nam có khả năng

thực hiện và đáp ứng yêu cầu của gói thầu đặc biệt là lao động phổ thông, lao

động không qua đào tạo kỹ năng nghiệp vụ nhưng quá trình thực thi rất khó

khăn, đặc biệt sử dụng lao động phổ thông của nhà thầu nước ngoài

2.1.5 Quy định trường hợp không phải thực hiện xác định nhu cầu sử

dụng người lao động nước ngoài

Trường hợp người lao động nước ngoài vào Việt Nam với thời hạn dưới

03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ, xử lý những sự cố, tình huống kỹ

thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh

Trang 40

hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên

gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được; Các chuyên gia, nhà

quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc

dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm hoặc

học sinh, sinh viên học tập tại Việt Nam làm việc tại Việt Nam nhưng người

sử dụng lao động phải báo trước 07 ngày với cơ quan quản lý nhà nước về lao

động cấp tỉnh (điểm b khoản 2 điều 4 nghị định 11/2016/NĐ-CP)

2.1.6 Về trình tự, thủ tục cấp giấy phép lao động nước ngoài làm việc

tại Việt Nam

Vấn đề này được quy định rất cụ thể Tuy nhiên việc thực hiện trên thực

tế có nhiều sai phạm

Quy định này chỉ áp dụng đối với người nước ngoài vào Việt Nam làm

việc theo hình thức thực hiện hợp đồng lao động

-Trình tự cấp giấy phép lao động (Điều 12 nghị định 11/2016/NĐ-CP)

+ Trước ít nhất 15 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài

dự kiến bắt đầu làm việc cho người sử dụng lao động thì người sử dụng lao

động đó phải nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động cho Sở Lao động -

Thương binh và Xã hội nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc

+ Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp

giấy phép lao động, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cấp giấy phép lao

động cho người lao động nước ngoài theo mẫu do Bộ Lao động - Thương

binh và Xã hội quy định Trường hợp không cấp giấy phép lao động thì có

văn bản trả lời và nêu rõ lý do

+ Đối với người lao động nước ngoài theo quy định tại Điểm a Khoản 1

Điều 2 Nghị định này, sau khi người lao động nước ngoài được cấp giấy phép

lao động thì người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài phải ký

Ngày đăng: 18/07/2017, 22:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[9]. Bộ lao động Thương binh và Xã hội (2016), Thông tư 40/2016/TT- BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 11/2016/NĐ-CP về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được ban hành ngày 25/10/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 40/2016/TT- BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 11/2016/NĐ-CP về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được ban hành ngày
Tác giả: Bộ lao động Thương binh và Xã hội
Năm: 2016
[18] Chính phủ (2016), nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (có hiệu lực ngày 01/4/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
[19]. Cao Nhất Linh (2009), “Về giấy phép lao động cho người nước ngoài ở Việt Nam”, Nhà nước và Pháp luật -Viện Nhà nước và Pháp luật (02), tr.26 - 29, 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giấy phép lao động cho người nước ngoài ở Việt Nam”, "Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Cao Nhất Linh
Năm: 2009
[22]. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, (2013), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư pháp quốc tế
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
[24]. Luận văn thạc sỹ luật học (2014), “ Hoàn thiện pháp luật về quyền của người lao động di trú ở Việt Nam”, học viên Bùi Thị Hòa, chuyên ngành Pháp luật về quyền con người, Khoa Luật, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về quyền của người lao động di trú ở Việt Nam
Tác giả: Luận văn thạc sỹ luật học
Năm: 2014
[25]. Luận văn thạc sỹ luật học (2015), “ Pháp luật về sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam”, học viên Trần Thu Hiền, chuyên ngành Luật Kinh tế, Khoa Luật, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Luận văn thạc sỹ luật học
Năm: 2015
[26]. Luận văn thạc sỹ luật học (2015), “ Hoàn thiện pháp luật về quản lý laođộng nước ngoài tại Việt Nam”, học viên Phạm Thị Hương Giang, chuyên ngành Luật Kinh tế, Khoa Luật, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về quản lý laođộng nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Luận văn thạc sỹ luật học
Năm: 2015
[27]. Lê Phương (2015), “Quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam: Hài hòa giữa yêu cầu và lợi ích”, Báo Lao động, thứ bảy ngày 12/09/ 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam: Hài hòa giữa yêu cầu và lợi ích”, "Báo Lao động
Tác giả: Lê Phương
Năm: 2015
[28]. Phan Huy Đường và Đỗ Thị Dung (2011), Một số vấn đề đặt ra trong thực hiện các qui định pháp luật về LĐNN ở Việt Nam và hướng hoàn thiện, Tạp chí Lao động và Xã hội số 403 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra trong thực hiện các qui định pháp luật về LĐNN ở Việt Nam và hướng hoàn thiện
Tác giả: Phan Huy Đường và Đỗ Thị Dung
Năm: 2011
[33]. Quốc hội (2013), Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
[38]. Trần Thúy Hằng (2012), “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về lao động nước ngoài tại Việt Nam phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”, Tạp chí Tòa án nhân dân (14), tr15-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về lao động nước ngoài tại Việt Nam phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Trần Thúy Hằng
Năm: 2012
[39]. Vũ Minh Tiến (2014), Sách chuyên khảo “Quản lý nhà nước về lao động trong doanh nghiệp ở Việt Nam”, do Nhà xuất bản Lao động phát hành năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về lao động trong doanh nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Minh Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động phát hành năm 2014
Năm: 2014
[41]. “ Bàn về điểm mới của Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam” truy cập tại địachỉhttp://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap luat.aspx?ItemID=260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “" Bàn về điểm mới của Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam"”
[46]. Nguồn: http://moj.gov.vn/UserControls/News/pFormPrint.aspx? Cổng thông tin điện tử Bộ tƣ pháp ngày 29/04/2009 Link
[1] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2008), Thông tư sô 08/2008/TT- LĐTBXH ngày 10/6/2008 của Bộ Lao động – TB&XH hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 của Chính phủ qui định về việc tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Khác
[2]. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2011) ,Thông tư số 31/2011/TT- BLĐTBXH ngày 03/11/2011 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 34/2008/ND-CP và Nghị định sô 46/2011/NĐ-CP của Chính phủ Khác
[3]. Bộ Y tế (2013), Thông tư số 14/2013/TT-BYT ngày 06/05/2013 của Bộ Y tế về Hướng dẫn khám sức khỏe Khác
[5]. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2014), Thông tư 24 quy định chi tiết thi hành Khoản 6 Điều 14 của Nghị định 87 ngày 22/9/2014 của Chính phủ về thu hút cá nhân hoạt động KH&CN là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động KH&CN tại Việt Nam Khác
[7]. Bộ lao động Thương binh và Xã hội (2016), Dự thảo Thông tư hướng Khác
[11]. Chính Phủ (2008), Nghị định 34/2008/NĐ-CP ngày 25/03/2008; Nghị định 46/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 của Chính phủ quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w