Các số liệu thống kê tại làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá theo loại hình sản xuất đối với lượng sản phẩm và lượng chất thải .... Mặt khác do quy mô sản xuất nhỏ lẻ và trình độ kỹ thuật
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Kỹ thuật môi trường
Hà Nội – Năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Kỹ thuật môi trường
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
PGS.TS Nguyễn Ngọc Lân
Hà Nội – Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã tham gia cùng Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Trường Đại
học Bách khoa Hà Nội thực hiện Dự án “Đầu tư công trình xử lý môi trường làng nghề đúc nhôm xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh” và được người chịu
trách nhiệm Dự án là PGS TS Nguyễn Ngọc Lân đồng ý cho việc sử dụng kết quả của Dự án cho Luận văn thạc sĩ của tôi
TÁC GIẢ
Trần Thị Thu Thuỷ
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHÔM VĂN MÔN 2
I.1 Hiện trạng sản xuất và ô nhiễm môi trường làng nghề tái chế kim loại 3
I.1.1 Công nghệ sản xuất 4
I.1.2 Hiện trạng môi trường làng nghề tái chế kim loại 7
I.2 Làng nghề tái chế nhôm xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 9
I.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá, xã Văn Môn 10
I.2.2 Tình hình sản xuất nghề tại làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá 19
I.2.3 Thực trạng ô nhiễm môi trường ở làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá và tác động đến sức khỏe người dân 23
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC CỦA LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHÔM XÃ VĂN MÔN 29
II.1 Nguồn phát sinh và hiện trạng thu gom nước thải .29
II.2 Hiện trạng môi trường nước mặt .32
II.3 Hiện trạng môi trường nước thải .35
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XỬ LÝ, QUẢN LÝ NƯỚC THẢI CHO LÀNG NGHỀ VĂN MÔN 40
III.1 Phân tích, lựa chọn phương án thu gom nước thải .40
III.2 Lựa chọn quy mô hệ thống thoát nước và trạm xử lý nước thải .40
III.3 Các hạng mục đầu tư xây dựng .42
III.3.1 Hệ thống thu gom 42
III.3.2 Hệ thống xử lý nước thải tập trung 42
III.4 Phân tích lựa chọn công nghệ cho trạm xử lý nước thải .42
III.4.1 Yêu cầu thiết kế 42
Trang 5III.4.2 Cơ sở tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải 43
III.5 Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề .66
III.5.1 Hoàn thiện bộ máy quản lý môi trường cấp phường, xã, thị trấn 66
III.5.2 Áp dụng các công nghệ xử lý chất thải làng nghề 70
III.5.3 Xã hội hóa công tác BVMT 70
III.5.4 Tăng cường và đa dạng hóa đầu tư tài chính cho BVMT 72
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 77
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Làng nghề và lao động tại Đồng bằng sông Hồng 2
Bảng 1.2 Lượng sản phẩm tại một số làng nghề tái chế kim loại 3
Bảng 1.3 Lượng mưa trung bình tháng 13
Bảng 1.4 Các số liệu thống kê tại làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá theo loại hình sản xuất đối với lượng sản phẩm và lượng chất thải 20
Bảng 1.5 Phân chia diện tích sản xuất của các hộ gia đình 24
Bảng 1.6 Số liệu chất lượng không khí khu vực làng nghề Mẫn Xá 25
Bảng 2.1 Kết quả phân tích môi trường nước mặt 33
Bảng 2.2 Vị trí lấy mẫu nước thải 36
Bảng 2.3 Kết quả phân tích môi trường nước thải 36
Bảng 3.1 Dự báo lượng nước thải phát sinh của xã Văn Môn đến năm 2015 41
Bảng 3.2 Các thông số đầu ra của nước thải sau xử lý 44
Bảng 3.3 Các hạng mục xây dựng phần xử lý nước thải 59
Bảng 3.4 Hạng mục thiết bị phần xử lý nước thải 60
Bảng 3.5 Chi phí chuyển giao công nghệ vận hành trạm xử lý nước thải 61
Bảng 3.6 Định mức chi phí cho 1m3 nước thải 64
Bảng 3.7 Phân công chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, cá nhân trong quản lý môi trường làng nghề 67
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ công nghệ xử lý kim loại màu kèm dòng thải ……… 5
Hình 1.2 Sơ đồ công nghệ tái chế và gia công sắt thép kèm dòng thải………6
Hình 1.3 Cơ cấu sử dụng đất tại xã Văn Môn 9
Hình 1.4 Sơ đồ vị trí địa lý làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá, xã Văn Môn 11
Hình 1.5 Xỉ nhôm đổ bừa bãi trên đường làng 20
Hình 1.6 Quy trình tái chế, cô đúc phế liệu nhôm 21
Hình 1.7 Hình ảnh một lò đúc nhôm 22
Hình 1.8 Một hộ tái chế nhôm, phế liệu mua về không có kho lưu giữ mà để xung quanh nhà 22
Hình 1.9 Ống khói của một cơ sở đúc nhôm thôn Mẫn Xá 24
Hình 1.10 Bãi chứa tạm thời chất thải rắn sinh hoạt của thôn Mẫn Xá 26
Hình 1.11 Xỉ nhôm bị thải bỏ khắp đường làng 27
Hình 1.12 Tác hại của rác thải đối với sức khỏe con người 28
Hình 2.1 Bã, xỉ nhôm vứt bừa bãi ngay cạnh cống lộ thiên thu gom nước thải 30
Hình 2.2 Ao trong làng chứa rất nhiều chất thải 31
Hình 2.3 Hình ảnh buổi phỏng vấn người dân và cán bộ xã Văn Môn 32
Hình 2.4 Biểu đồ so sánh kết quả BOD5 các quý năm 2013 34
Hình 2.5 Biểu đồ so sánh kết quả COD các quý năm 2013 35
Hình 2.6 Biểu đồ so sánh kết quả TSS các quý năm 2013 35
Hình 2.7 Biểu đồ so sánh kết quả COD tại các vị trí trong 4 quý năm 2013 38
Hình 2.8 Biểu đồ so sánh kết quả TSS tại các vị trí trong 4 quý năm 2013 38
Hình 2.9 Biểu đồ so sánh kết quả Amoni tại các vị trí trong 4 quý năm 2013 39
Hình 3.1 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải được lựa chọn 45
Hình 3.2 Sơ đồ kỹ thuật điều khiển hệ thống xử lý nước thải 58
Hình 3.3 Sơ đồ quản lý, tổ chức vận hành công trình 64
Hình 3.4: Cơ cấu quản lý môi trường cấp xã 66
Trang 8COD Nhu cầu oxy hóa học
DO Lượng oxy hòa tan trong nước
QCCP Quy chuẩn cho phép
TCXD Tiêu chuẩn xây dựng
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
TSS Tổng các chất rắn lơ lửng
SS Chất rắn lơ lửng
XLNT Xử lý nước thải
UBND Ủy ban nhân dân
VSMT Vệ sinh môi trường
VSV Vi sinh vật
Trang 9MỞ ĐẦU
Làng nghề tiểu thủ công nghiệp ở Bắc Ninh đã có lịch sử tồn tại và phát triển từ lâu đời, phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh và hoạt động hầu hết ở các ngành kinh tế chủ yếu Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Các sản phẩm làm ra ngày càng phong phú
và đa dạng đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, một số mặt hàng đã
có chỗ đứng xuất khẩu ra nước ngoài được bạn hàng ưa chuộng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh
Toàn tỉnh có 62 làng nghề, trong đó 30 làng nghề truyền thống, tiêu biểu như một số làng nghề [19]: Tái chế giấy Phong Khê, tái chế giấy Phú Lâm, sản xuất rượu Đại Lâm, tái chế nhôm Văn Môn, sản xuất sắt thép tái chế Đa Hội, sản xuất đồ
gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, đúc đồng Đại Bái, làm bún Khắc Niệm với đặc điểm: Quy
mô sản xuất nhỏ lẻ, cả làng cùng sản xuất ra những sản phẩm giống nhau, có dây chuyền công nghệ mang tính thủ công và lạc hậu, tiêu tốn nhiều nguyên, nhiên liệu,
ý thức của doanh nghiệp trong làng nghề về bảo vệ môi trường còn chưa cao Vì vậy, ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ngày càng nghiêm trọng Mục tiêu chung của nghiên cứu là góp phần đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề tái chế nhôm xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, đặc biệt là ô nhiễm môi trường nước thải Những mục tiêu cụ thể như sau:
- Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường nước thải của làng nghề tái chế nhôm Văn Môn
- Đề xuất giải pháp kỹ thuật và quản lý cho việc thu gom và xử lý nước thải nhằm cải thiện môi trường làng nghề làng nghề Văn Môn
- Đề xuất giải pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề
Trang 10CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHÔM VĂN MÔN
Các làng nghề ở nông thôn Việt Nam phát triển rất đa dạng và phong phú đã tạo ra một lượng lớn hàng hóa, tạo công ăn việc làm và giúp phần phát triển kinh tế
xã hội của khu vực nông thôn Hiện nay, Việt Nam có khoảng 1450 làng nghề; trong đó khu vực đồng bằng sông Hồng có khoảng 735 làng nghề (chiếm trên 50%) [21] Lao động trung bình hàng năm tại mỗi làng nghề là 813 người không bao gồm những lao động làm thuê Trong tổng số 735 làng nghề, làng nghề truyền thống chỉ chiếm khoảng 29,4%, trong khi đó làng nghề mới chiếm khoảng 70,6% (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Làng nghề và lao động tại Đồng bằng sông Hồng [21]
(người) Tổng Làng nghề truyền
thống
Làng nghề mới
Bên cạnh tạo việc làm cho người lao động, các sản phẩm của làng nghề không chỉ có giá trị trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài Tổng số lượng sản phẩm hàng năm từ các làng nghề chiếm số lượng quan trong trong nền kinh tế quốc gia
Trang 11Tại Bắc Ninh, trong năm 2012, tổng giá trị sản phẩm từ 62 làng nghề là 3.045 tỷ VNĐ chiếm 22% tổng sản phẩm công nghiệp của tỉnh [7]
Tuy nhiên sự phát triển của làng nghề chủ yếu mang tính tự phát, quy mô nhỏ chủ yếu là hộ gia đình, trình độ công nghệ thấp, thiết bị và công cụ sản xuất lạc hậu phần lớn là chế tạo trong nước hoặc mua lại thiết bị đó thanh lý của các cơ sở công nghiệp Lao động của làng nghề hầu hết chưa được đào tạo đầy đủ, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Mặt khác do quy mô sản xuất nhỏ lẻ và trình độ kỹ thuật tại các làng nghề còn hạn chế nên khó khăn trong đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ, các hộ sản xuất nằm rải rác khắp trên địa bàn làng xã không theo quy hoạch, tạo ra những nguồn thải nhỏ phân tán, hầu như không được xử lý mà thải thẳng ra môi trường
I.1 Hiện trạng sản xuất và ô nhiễm môi trường làng nghề tái chế kim loại
Làng nghề tái chế kim loại trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ Qua tìm hiểu công nghệ sản xuất tại các làng nghề tái chế kim loại cho thấy ngoài sản xuất theo quy mô nhỏ tại các hộ gia đình như các loại hình sản xuất khác thì tại các làng nghề tái chế kim loại lớn đó xuất hiện các cụm công nghiệp sản xuất tập trung Nhờ vậy hoạt động sản xuất tại các làng nghề tái chế kim loại dường như có quy mô hơn và ngày một phát triển mạnh
Sản phẩm của các làng nghề tái chế này rất đa dạng cả về mẫu mã, chủng loại
và chất lượng Lượng sản phẩm tại một số làng nghề điển hình được đưa ra trong bảng 1.2
Bảng 1.2 Lượng sản phẩm tại một số làng nghề tái chế kim loại [3]
TT Tên làng nghề Loại sản phẩm Lượng sản phẩm (tấn/năm)
1 Đa Hội – Bắc Ninh Luyện và tái chế sắt
15.000
Sắt (tấm): 450.000 500.000
Đinh các loại: 500
Trang 12 Lưới, dây thép loại: 500
Máy tuốt: 2.500 chiếc/năm
Máy trộn bờ tông: 100 chiếc/năm
Sản phẩm đúc: 350 tấn/năm
Vành xe đạp: 18.000 đôi/năm
I.1.1 Công nghệ sản xuất
Qua tìm hiểu công nghệ sản xuất tại các làng nghề tái chế kim loại có thể phân chia hoạt động sản xuất của chúng thành các nhóm công nghệ sau:
- Nhóm công nghệ tái chế kim loại màu
- Nhóm công nghệ tái chế và gia công các mặt hàng sắt thép
Sơ đồ dây chuyền nghệ được miêu tả tóm tắt trong hình 1.1 và 1.2 sau:
Trang 13Kim loại vụn Tiếng ồn Bụi
Khí thải: CO, SO 2 , CO 2 NO x , bụi
Xỉ than, xỉ kim loại
Vỏ lon bia, nước giải khát, đồng, chì, …
Trang 15I.1.2 Hiện trạng môi trường làng nghề tái chế kim loại
I.1.2.1 Môi trường nước
Nước thải từ các quá trình tái chế kim loại chủ yếu là nước sử dụng trong quá trình sản xuất các sản phẩm kim loại tái chế từ sắt thép phế liệu, chủ yếu là nước để làm mát và vệ sinh máy móc thiết bị
- Nước làm mát: Nguồn nước thải này chứa nhiều bụi bẩn, rỉ sắt và dầu mỡ
- Nước từ quá trình tẩy rửa và mạ kim loại: Nước thải này có chứa hóa chất HCl, NaOH, CN-, Cr, Ni,
- Nước vệ sinh thiết bị, nhà xưởng: nước thải này chứa dầu mỡ bụi bẩn và một lượng nhỏ hóa chất
Đặc tính nước thải tại một số làng nghề điển hình
Theo kết quả phân tích chất lượng nước tại một số làng nghề tái chế kim loại như: Vân Chàng - Nam Định, Chỉ Đạo – Văn Lâm, Đồng Tiến – Khoái Châu, thì tại đây hàm lượng chất hữu cơ trong nước luôn đạt QCCP; nhưng các chỉ tiêu SS, dầu mỡ luôn vượt QCCP (TS = 236 812 mg/l; SS = 22 511 mg/l; dầu mỡ = 0,08
1,5 mg/l) Ngoài ra, trong nước thải có chứa nhiều ion kim loại như Fe3+, CN-,
Zn2+, Cr3+, Ni2+, sinh ra từ hoạt động thu mua nguyên liệu, từ quá trình gia công kim loại [3]
Kết quả phân tích cho thấy các kim loại nặng trong nước tại làng nghề Vân Chàng – Nam Định có hàm lượng rất lớn, như Cr = 63,1 187,4; dầu mỡ = 1,5 1,8 mg/l, vượt QCCP nhiều lần
I.1.2.2 Môi trường không khí
Ô nhiễm môi trường không khí là vấn đề cần quan tâm tại các làng nghề táí chế kim loại, đây là nguồn gây ô nhiễm chính trong loại hình tái chế này Các thành phần khí ô nhiễm chủ yếu là: CO, CO2, SO2, NOx, nhiệt, hơi axit, hơi kim loại, bụi kim loại,
Trang 16Môi trường không khí tại một số làng nghề điển hình:
Theo kết quả điều tra khảo sát tại một số làng nghề tái chế kim loại điển hình cho thấy: Bụi trong không khí dao động trong khoảng 0,098 2mg/m3, vượt QCCP trung bình 1 giờ và trung bình 24 giờ tương ứng là 1 10 và 1 15 lần, đặc biệt khu vực cạnh các lò đúc thép hàm lượng bụi rất cao (khoảng 2 mg/m3) Bên cạnh
đó, từ quá trình gia công cơ khí, vận chuyển nguyên vật liệu và sản phẩm sau quá trình sản xuất sinh ra lượng bụi lớn Lượng bụi này có chứa kim loại mà chủ yếu là
Fe với nồng độ 0,5 mg/m3 làm không khí có mùi tanh Hàm lượng các chất khí khác khi khảo sát thấp hơn tiêu chuẩn, nhưng cần lưu ý rằng các cơ sở sản xuất tại các làng nghề này hoạt động suốt ngày đờm, do đó mặc dự hàm lượng các khí như
SO2, CO, NO2 không vượt quá QCVN trung bình trong 1 giờ nhưng ảnh hưởng của chúng tới sức khỏe của cộng đồng là rất lớn [2,3]
I.1.2.3 Chất thải rắn
Theo số liệu điều tra tại một số làng nghề cho thấy lượng rác thải này tương đối lớn, làng nghề Đa Hội lượng chất thải rắn bao gồm xỉ than, kim loại vụn và phế loại từ công đoạn phân loại khoảng 11 tấn/ngày, một số làng nghề khác do quy mô hoạt động nhỏ nên lượng chất thải rắn ít hơn đáng kể như: Đình Bảng- Bắc Ninh: 1,4 tấn/ ngày ; Vân Chàng khoảng 7 tấn/ngày; Văn Môn- Bắc Ninh 0,6 tấn/ngày [2,3,7]
Chất lượng môi trường đất khảo sát tại một số làng nghề cho thấy, đất đang có nguy cơ nhiễm kim loại nặng, hàm lượng kim loại phát hiện được, Ni = 0,005 - 0,01
mg/l, Zn = 0,02 - 0,025mg/l, là tương đối cao so với các khu vực khác
Nhìn chung, chất thải rắn của quá trình sản xuất tái chế có hàm lượng kim loại rất cao (từ 3 5 g/kg nguyên liệu) Bên cạnh đó, còn chất thải rắn chứa dầu mỡ, các chất khoáng với hàm lượng dao động từ 1 6 mg/kg nguyên liệu, hiện nay hầu như
Trang 17chưa có giải pháp xử lý thích đáng Việc thải bỏ chất thải rắn không theo quy hoạch
và không được quản lý nên đã ảnh hưởng tới chất lượng đất của làng nghề, hàm lượng kim loại trong đất khá cao (khoảng 2 3 g/kg) Lượng chất độc này dễ ngấm vào đất, tích tụ lại lâu dần sẽ làm suy thoái môi truờng đất.[1,2,3,7]
I.1.2.4 Vi khí hậu
Kết quả điều tra khảo sát tại một số làng nghề tái chế kim loại điển hình cho thấy hầu hết tại các điểm khảo sát tiếng ồn đều vượt quá QCVN từ 5 15 dBA Tiếng ồn, nhiệt độ và độ ẩm cao đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân trong làng [3]
Nhiệt độ môi trường tại đây thường xuyên cao hơn điểm nền 3 50C
I.2 Làng nghề tái chế nhôm xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Xã Văn Môn thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Xã Văn Môn có 5 thôn: Quan Độ, Quan Đình, Mẫn Xá, Phú Xá và thôn Tiền Tổng diện tích là 424,84 ha, trong đó có 224,28 ha đất nông nghiệp chiếm 52,79%, 159,15 ha là đất phi nông nghiệp chiếm 37,46% và 41,41 ha đất chưa sử dụng chiếm 9,74% [21] Đa số người dân ở Văn Môn đang tham gia vào sản xuất nông nghiệp và sản xuất thủ công hộ gia đình như tái chế nhôm, làm mộc và buôn bán phế liệu
đất nông nghiệp 52.79%
đất phi nông nghiệp 37.46%
đất chưa
sử dụng 9.75%
Hình 1.3: Cơ cấu sử dụng đất tại xã Văn Môn
Trang 18Sản xuất thủ công là thế mạnh tại Văn Môn Văn Môn hiện có 5 hợp tác xã nông nghiệp dịch vụ, 65 công ty, 33 doanh nghiệp tư nhân, 1 nhà máy và 4 hợp tác
xã cổ phần Trong xã có 340 hộ gia đình tham gia vào nghề tái chế nhôm, gần 700
hộ gia đình tham gia vào nghề khắc mộc mỹ nghệ Ngoài ra, người dân ở Văn Môn cũng đang tham gia hoạt động sản xuất bia rượu, hàn và xây dựng Hiện có hơn 1.500 hộ gia đình với hơn 3.000 lao động tham gia vào sản xuất thủ công đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế địa phương [21] Những hộ gia đình tham gia vào hoạt động tái chế nhôm chủ yếu tại thôn Mẫn Xá Vì vậy, điểm nóng về ô nhiễm môi trường do hoạt động tái chế nhôm gây ra chủ yếu là tại thôn Mẫn Xá
I.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá, xã Văn Môn
I.2.1.1 Điều kiện môi trường tự nhiên
Bắc Ninh là tỉnh nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng, thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ Vị trí địa lý nằm trong phạm vi từ 20o 58’ đến 21o 16’ vĩ độ Bắc và
105o 54’ đến 106o 19’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; Phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh Hải Dương; Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên; Phía Tây giáp thành phố Hà Nội
a) Vị trí địa lý
Yên Phong là một huyện ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Ninh Xã Văn Môn thuộc huyện Yên Phong có vị trí như sau:
- Phía Đông và Đông Bắc giáp với xã Đông Thọ;
- Phía Tây và Tây Bắc giáp với xã Yên Phụ và thị trấn Chờ;
- Phía Nam giáp với xã Hương Mạc
Trang 19Hình 1.4 Sơ đồ vị trí địa lý làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá, xã Văn Môn
Làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá là một trong năm thôn thuộc xã Văn Môn Đây là một làng nghề truyền thống với các nghề chính: Cô và đúc nhôm, tái chế hợp kim nhôm, kẽm Ngoài ra, ở đây còn nhận dát mỏng kim loại, gia công cơ khí, v.v
Mẫn Xá là một làng nổi tiếng về nghề cô đúc nhôm của Bắc Ninh Nghề này
đã góp phần không nhỏ trong việc giải quyết công ăn việc làm của người dân nơi đây Tuy nhiên nhiều năm nay, nhân dân trong thôn đã phải chịu đựng sự ô nhiễm nặng nề từ khói thải của các cơ sở sản xuất thủ công này
b) Điều kiện về địa hình
Xã Văn Môn thuộc huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh, với vị trí nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên địa hình khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình tại địa phương không lớn Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có độ cao phổ biến từ 3 – 7m so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ Địa hình trung du đồi núi chiếm tỷ lệ rất
Trang 20nhỏ khoảng (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ, các đỉnh núi có độ cao phổ biến từ 60 – 100m, đỉnh cao nhất là núi Bàn Cờ (thành phố Bắc Ninh) cao 171m, tiến đến là núi Bu (huyện Quế Võ) cao 103m, núi Phật Tích (huyện Tiên Du) cao 84m và núi Thiên Thai (huyện Gia Bình) cao 71m
c) Điều kiện về địa chất
Đặc điểm địa chất lãnh thổ Bắc Ninh mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất thuộc vùng trũng sông Hồng, có bề dày trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt của cấu trúc mỏng Tuy nhiên nằm trong miền kiến tạo Đông Bắc – Bắc Bộ nên cấu trúc địa chất lãnh thổ Bắc Ninh có những nét còn mang tính chất của vòng cung Đông Triều vùng Đông Bắc Trên lãnh thổ Bắc Ninh có mặt loại đất đá có tuổi từ Pecmi, Trias đến Đệ tứ, song chủ yếu là thành tạo Đệ tứ bao phủ gần như toàn tỉnh Lớp thành tạo Đệ tứ chiếm ưu thế về địa tầng lãnh thổ, nằm trên các thành tạo cổ,
có thành phần thạch học chủ yếu là bồi tích, bột, cát bột và sét bột Bề dày các thành tạo đệ tứ biến đổi theo quy luật trầm tích rất rõ ràng, có độ dày tăng dần từ 5m đến 10m ở các khu vực chân núi tới 20m đến 30m ở các vùng trũng và dọc theo các con sông chính như sông Cầu, sông Thái Bình, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê Các thành tạo Trias muộn và giữa phân bố hầu hết ở trên các núi và dãy núi, thành phần thạch học chủ yếu là cát kết, sạn kết và bột kết Bề dày các thành tạo khoảng từ 200m đến 300m Với đặc điểm này địa chất của tỉnh Bắc Ninh có tính ổn định hơn
so với Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng Bắc Bộ khác trong việc xây dựng công trình
d) Điều kiện về khí tượng
Làng nghề nằm trong địa bàn huyện Yên Phong, đây là một khu vực thuộc đồng bằng Bắc Bộ nên vị trí xây dựng dự án chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm Thời tiết trong năm chia thành hai mùa mưa và mùa khô, xen
kẽ là mùa chuyển tiếp
Trang 21* Lượng mưa
Mưa có tác dụng làm sạch môi trường không khí và pha loãng chất thải lỏng, lượng mưa càng lớn thì mức độ ô nhiễm càng giảm Vì vậy vào mùa mưa, mức độ ô nhiễm thấp hơn mùa khô
Bảng 1.3 Lượng mưa trung bình tháng đo tại trạm Bắc Ninh (mm) [10]
Nguồn: Trạm khí tượng Bắc Ninh
I.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Văn Môn
Làng nghề tái chế kim loại Mẫn Xá thuộc xã Văn Môn, có số dân là 4.000 dân trên tổng số 11.000 dân của toàn xã (theo số liệu năm 2013 do cán bộ xã cung cấp) Tình hình kinh tế - xã hội xã Văn Môn được đưa ra cụ thể theo Báo cáo số 05/BC-UB của UBND xã Văn Môn ngày 09/01/2013 về Báo cáo tình hình kinh tế -
xã hội năm 2012, phương hướng nhiệm vụ chủ yếu năm 2013 như sau:
a Sản xuất nông nghiệp
* Trồng trọt
Năm 2012 đầu vụ xuân có nhiều đợt rét đậm rét hại bổ sung liên tiếp kéo dài
từ trung tuần tháng 01 đến đầu tháng 03, đến vụ mua gieo cấy chậm, sâu bệnh lại
Trang 22phát triển gây cho việc sản xuất gặp nhiều khó khăn Song được sự lãnh chỉ đạo sát sao của Huyện ủy - HĐND - UBND và các ngành chức năng trên huyện và trực tiếp
là Đảng ủy - HĐND - UBND, các ban ngành đoàn thể của xã đã nắm bắt tình hình kịp thời, hướng dẫn bằng nhiều biện pháp thiết thực, cụ thể đến các hợp tác xã dịch
vụ nông nghiệp và các hộ nông dân Đề án phát triển nông nghiệp đạt hiệu quả kinh
tế cao tiếp tục được thực hiện Đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -
2014 đã được xây dựng và bổ sung Công tác quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp được quan tâm Việc chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng được quan tâm chỉ đạo Công tác làm thủy lợi cải tạo đất, khoanh vùng chống úng chống hạn được coi trọng Việc cấy các giống lúa có năng suất chất lượng cao được khuyến khích Việc đưa cơ giới và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất được coi trọng, cả xã có 29 máy cày nhỏ và 19 máy tuốt lúa liên hoàn tham gia vào các khâu sản xuất Công tác bơm dẫn nước, điều tiết nước phục vụ sản xuất hoạt động tích cực Việc phòng trừ sâu bệnh, diệt ốc bươu vàng, diệt chuột được thực hiện thường xuyên, được huyện
và xã hỗ trợ tiền thuốc sinh học diệt chuột, các HTX đã tích cực diệt chuột tạo điều kiện cho sản xuất phát triển Công tác bảo vệ đồng ruộng được các HTX quan tâm Kết quả cụ thể như sau:
- Diện tích lúa xuân: 623 mẫu = 224,28 ha, đạt 100% kế hoạch;
- Diện tích lúa mùa: 623 mẫu = 224,28 ha, đạt 100% kế hoạch;
- Diện tích màu vụ đông: Rau màu các loại: 22 mẫu = 7,92 ha, đạt 22% kế hoạch
Tổng diện tích gieo trồng cả năm là 1.268 mẫu = 456,48 ha, đạt 94,2% kế hoạch năm Hệ số quay vòng đất là 2,04 lần
Năng suất lùa bình quân: Vụ xuân 63,9 tạ/ha = 230 kg/sào; vụ mùa 50 tạ/ha =
180 kg/sào, màu vụ đông 69,4 triệu/ha = 2,5 triệu/sào
Trang 23Tổng sản lượng thóc cả năm là 2.554,3 tấn, so với năm 2011 giảm 11,5 tấn (do
vụ xuân cấy giảm hơn 5 mẫu) Lương thực bình quân đầu người 246 kg/năm, so năm 2011 giảm 5 kg/năm
Tổng giá trị thu nhập ngành trồng trọt là 15.876 triệu đồng, so năm 2012 giảm
395 triệu đồng, chiếm 32,5% thu trong nông nghiệp, có thu nhập 70,8 triệu/ha canh tác, so năm 2011 giảm 1,1 triệu/ha
Về trồng cây phủ xanh
Xã đã triển khai kế hoạch trồng cây phủ xanh, phát động tết trồng cây và ra quân vào ngày 06 tết Nhâm Thìn Đến nay cả xã trồng được 720 cây các loại, đạt 72% kế hoạch năm, điển hình là trường THCS trồng được 500 cây
* Chăn nuôi
Phong trào chăn nuôi được duy trì Công tác tiêm phòng dịch bệnh cho đàn gia súc gia cầm được quan tâm thực hiện thường xuyên, nhất là phòng cúm gia cầm, bệnh lở mồm long móng, bệnh tai xanh Trong năm trên địa bàn xã không có dịch bệnh xảy ra Theo thống kê, cả xã có 6 con trâu, so với năm 2011 tăng 2 con, có 26 con bò, so với năm 2011 giảm 1 con, có 15 con hươu, bằng năm 2011; đàn lợn có 5.900 con, giảm hơn năm 2011 là 3.000 con, trong đó có 365 con lợn nái và 84 hộ nuôi trên 10 con Đàn gà có 10.100 con, so với năm 2011 tăng 1.500 con, trong đó
có 9 hộ nuôi công nghiệp 5.800 con, đàn ngan 400 con, đàn vịt 2.500 con Về nuôi thả cá: Tổng diện tích nuôi thả cá là 26,68 ha, các HTX đều cho đấu thầu hoặc giao cho các tổ chức đoàn thể quản lý
Ước tính thu từ chăn nuôi cả năm là 32.973 triệu đồng, chiếm 67,5% trong nông nghiệp, so năm 2011 tăng 674 triệu đồng
b Tiểu thủ công nghiệp - thương nghiệp dịch vụ
Đây vẫn là thế mạnh của địa phương, ngoài 5 HTX dịch vụ nông nghiệp cả xã
có 65 công ty, 33 doanh nghiệp tư nhân, 1 xí nghiệp, 4 HTX cổ phần hoạt động Nghề cô đúc được duy trì ở 17 hộ đúc và 290 hộ cô Nghề làm mộc và chạm khắc
Trang 24mỹ nghệ hoạt động ở gần 700 hộ Nghề làm men, nấu rượu, gò hàn, nề, v.v đáp ứng tiêu dùng và xây dựng trong nhân dân Kinh doanh phế liệu, thuận tiện sinh hoạt nhân dân Kinh doanh phế liệu, thương mại dịch vụ hoạt động nhộn nhịp, khu chợ đông vui, hàng hóa đa dạng, phong phú, phục vụ thuận tiện sinh hoạt nhân dân Cả
xã có gần 200 ô tô các loại, 4 xe ngựa, trên 2.000 mô tô, trên 5.000 điện thoại các loại là những yếu tố thuận tiện để phát triển sản xuất kinh doanh Cả xã có trên 1.500 lượt hộ với hơn 3.000 lượt lao động tham gia làm nhiều nghề tạo ra nhiều của cải vật chất đem lại lợi nhuận lớn thúc đấy nền kinh tế phát trển
Ước tính thu nhập từ TTCN - TNDV cả năm là 135.486 triệu đồng so với năm
2011, tăng 4.168 triệu, chiếm 73,5% tổng thu Tổng thu cả năm là 184.335 triệu đồng, đưa thu nhập đầu người lên 17,7 triệu đồng/năm, so với năm 2011 tăng 0,1 triệu/năm
c Giao thông - Xây dựng - Thủy lợi - Quản lý đất đai
* Giao thông
Làm tốt công tác giải tỏa hành lang giao thông đảm bảo đường thông hè thoáng Đã nghiệm thu nâng cấp bê tông trục xã Văn Môn (Chợ đi Quan Độ - Quan Đình - Phù Xá) dài 1.000 m Khởi công nâng cấp bê tông đường Phù Xá đi Yên Phụ dài 800 m, kinh phí 3.900 triệu theo dự án Quan Độ hoàn thành bê tông đường từ Trạm nước sạch xuống đê Đồng Be dài 700 m = 1.199 triệu Quan Đình đẩy nhanh xây dựng bê tông đường GTNT giai đoạn 3 = 2.996 triệu, giai đoạn 4 = 2.204 triệu Mẫn Xá xây dựng bê tông GTNT giai đoạn 1 = 2.564 triệu theo dự án Xây dựng bê tông đường trước cổng trường THCS mới dài 150 m và rải đá bây dài 130 m
Cả xã đầu tư xây dựng giao thông nông thôn là 12.863 triệu theo các dự án
* Xây dựng
Đã hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng trường THCS mới, chuyển trường THCS cũ cho trường Tiểu học và đã sửa chữa, cải tạo hoàn thành Cơ bản hoàn thành xây dựng trạm nước sạch sinh hoạt cho 4 thôn Quan Độ xây hồ bán
Trang 25nguyệt ở khu di tích Miễu Đô 98 triệu, Thôn Quan Đình hoàn thành xây dựng Nhà Nghè 570 triệu, nhà tổ (chùa) 1.235 triệu, hệ thống đèn chiếu sáng 72 triệu, sân thể thao 50 triệu Phù Xá xây dựng nhà mẫu (chùa) gần 500 triệu Công tác xây dựng
cơ bản và đầu tư xây dựng do thôn chủ động đầu tư còn chưa đúng quy định, xã quản lý đối với thôn còn chưa chặt chẽ
* Thủy lợi
Các HTX tích cực làm thủy lợi nội đồng, nạo vét kênh mương Đến nay đã đào đắp, nạo vét được 7.000 m3 Khởi công xây dựng hoàn thành cứng hóa kênh mương nội đồng thôn Mẫn Xá dài 750 m = 4.764 triệu đồng theo dự án Đã đại tu máy số 2 trạm bơm Quan Độ bị cháy 17 triệu đồng Làm tốt công tác bơm dẫn nước, điều tiết nước phụ vụ sản xuất Đã triển khai kế hoạch phòng chống úng, lụt bão từ xã đến thôn, nhân vật lực được chuẩn bị sẵn sàng để tình huống xảy ra là huy động được ngay Thực hiện khảo sát để lập dự toán xây dựng mương tiêu ao cá Bác
Hồ
* Công tác quản lý đất đai
Thực hiện kiểm kê, thống kê đất năm 2012, thống kê lấn chiếm đất, cấp bán đất trải thẩm quyền, lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015 - 2020 Thực hiện giao đất cho các hộ tại dự án giãn dân Mẫn Xá Thực hiện lập và xác nhận tờ khai đất phi nông nghiệp trên cả xã Thực hiện quy chủ khu trung tâm hành chính xã và nhà văn hóa Tiền Thôn Lập hồ sơ điều chỉnh bổ sung dự án giãn dân Mẫn Xá Giải quyết 2 trường hợp tranh chấp đất đai, lập biên bản 13 trường hợp lấn chiếm đất, lập
hồ sơ cưỡng chế thu hồi đất nông nghiệp 1 hộ tại dự án giãn dân và 8 hộ chiếm đất công ở Mẫn Xá Hoàn thiện 16 hồ sơ giao quyền sử dụng đất, 26 hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, 45 hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 3
hồ sơ tách thửa đất, 2 hồ sơ thay đổi chủ sử dụng đất
Trang 26d Sự nghiệp y tế - dân số KHHGĐ - Môi trường
* Sự nghiệp y tế
Thường xuyên tuyên truyền chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm Trong năm thực hiện khám cho hơn 6.000 lượt bệnh nhân, điều trị an toàn không xảy ra tai biến Các chương trình y tế thực hiện tốt Công tác chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ sơ sinh thực hiện tốt Đã tổ chức khám và cấp thuốc miễn phí cho các đối tượng là 205 người với hơn 17 triệu đồng Công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe cộng đồng, vệ sinh phòng dịch thường xuyên được quan tâm Trong năm trên địa bàn xã không có dịch bệnh xảy ra Đề nghị cấp trên xếp loại xã có phong trào y tế mạnh
* Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGĐ)
Mạng lưới cộng tác viên được duy trì và hoạt động đều Đã triển khai 2 đợt chiến dịch CSSKSS - KHHGĐ và tổ chức hội nghị về DS - KHHGĐ, giới tính khi sinh Đã vận động được 559 đối tượng áp dụng các biện pháp tránh thai Kết quả:
Tỷ lệ sinh là 2,45%, so với năm 2011 tăng 0,65% Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 2,13% so năm 2011 tăng 0,63 %, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 23,1% so năm 2011 tăng 6,8%
* Vệ sinh môi trường
Công tác vệ sinh đường làng ngõ xóm quan tâm thực hiện chưa thường xuyên
Tổ thu gom rác thải ở trung tâm xã và các thôn hoạt động chưa đều Rác thải sinh hoạt và công nghiệp chưa được phân loại, việc đổ rác thải của một bộ phận nhân dân còn bừa bãi, chưa đúng nơi quy định Việc xây dựng các công trình vệ sinh được khuyến khích Đến nay cả xã có 2.239 giếng khoan, 766 hộ dùng trạm nước sạch, 1.894 hố xí tự hoại, 110 hố xí thô sơ, 503 bể khí biogas Được tỉnh hỗ trợ đã xây dựng và đưa vào sử dụng 4 bãi tập kết rác thải của 4 thôn, còn 1 thôn chưa hoàn thành
Trang 27e Thực hiện chính sách xã hội
* Về xóa đói giảm nghèo
Đã tạo điều để các hộ nghèo vay vốn sản xuất kinh doanh, phổ biến hướng dẫn
kỹ thuật phát triển kinh tế, đoàn viên hội viên giúp nhau làm kinh tế Đến nay ngân hàng chính sách xã hội đã cho các hộ nghèo vay gần 2 tỷ đồng để phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo Kết quả phân loại kinh tế hộ như sau:
- Hộ giàu 545 hộ = 22,1% so 2011 tăng 0,1%
- Hộ khá 840 hộ = 34,0% so 2011 tăng 0,0%
- Hộ trung bình 966 hộ = 39,2% so 2011 tăng 0,7%
- Hộ nghèo 116 hộ = 4,7% so 2011 giảm 0,8%
I.2.2 Tình hình sản xuất tại làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá
Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, trong làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá hầu hết các hộ có máy móc sản xuất, đã giảm thiểu lớn thời gian và sức lao động của người dân làng nghề, trong đó có những nhà có quy mô sản xuất rất lớn
Do đó, kinh tế người dân trong làng nghề ngày được nâng cao
Tổng số hộ sản xuất trong làng là 340 hộ (số liệu năm 2013) [21], trong đó có
200 nhà chuyên nấu các loại bã, chất thải nhà máy, 100 nhà chuyên nấu các loại nhôm, 30 nhà chuyên nấu các loại kẽm, gang và 10 nhà làm đúc xoong
Song song với sự phát triển của làng nghề là sự gia tăng ô nhiễm môi trường Nguyên nhân chủ yếu là việc rác thải của các hộ làm nghề cô bã nhôm, v.v đổ bừa bãi ra môi trường, nước thải của các hộ làm nghề không được quy hoạch vào khu tập trung để xử lý mà đổ trực tiếp ra các lòng sông, ao hồ, mương máng; Các hộ đúc, cô phế liệu chưa xây dựng ống khói đạt tiêu chuẩn, đã làm ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ của nhân dân trong làng
Trang 28Hình 1.5: Xỉ nhôm đổ bừa bãi trên đường làng
Hiện tại, hầu hết các ao hồ trong làng đã bị lấp do lượng bã thải thải ra một ngày quá lớn và không có bãi rác tập trung Mỗi ngày, lượng chất thải rắn thải ra của làng là khoảng hơn 80 tấn, trong đó 60 tấn là do loại hình cô nhôm từ bã, chất thải nhà máy, 12 tấn là do nấu các loại nhôm, 7 tấn từ nấu các loại kẽm, gang và 2 tấn từ các nhà đúc xoong
Bảng 1.7 đưa ra các số liệu thống kê theo loại hình sản xuất tại làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá
Bảng 1.4 Các số liệu thống kê tại làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá theo loại hình sản xuất đối với lượng sản phẩm và lượng chất thải [20]
Loại hình sản xuất Đúc xoong Nấu các loại
nhôm
Nấu các loại kẽm, gang
Nấu các loại
bã, chất thải nhà máy
Các sản phẩm chính: Xoong, nồi Phôi nhôm Phôi kẽm Phôi nhôm Lượng sản phẩm: 1,5 tấn 120 tấn 70 tấn 40 tấn
Trang 29Loại hình sản xuất Đúc xoong Nấu các loại
nhôm
Nấu các loại kẽm, gang
Nấu các loại
bã, chất thải nhà máy
đồng ruộng đồng ruộng đồng ruộng đồng ruộng Loại chất thải rắn chính: Bã các loại Bã các loại Bã các loại Bã các loại
Số lượng lò đốt: 20 lò 400 lò 15 lò 800 lò
Số lượng lò có ống khói: 30% 30% 30% 30%
Quy trình sản xuất tại làng nghề
Hình 1.6 Quy trình tái chế, cô đúc phế liệu nhôm
Thuyết minh quy trình cô đúc phế liệu nhôm
Phế liệu nhôm gồm các vật liệu, đồ dùng bằng nhôm không còn sử dụng, được người thu mua về bán lại cho các hộ sản xuất trong thôn, các loại bã thải có chứa nhôm của các nhà máy sản xuất Phế liệu này sau khi được mua về sẽ được phân loại theo ba loại: tốt, trung bình và xấu Sau đó phế liệu nhôm sẽ được sơ chế bằng cách nghiền, nhặt bỏ rác và các kim loại khác Tiếp theo phế liệu nhôm được đưa vào lò nung trong khoảng 2- 5 tiếng, nhôm nóng chảy được rót vào khuôn theo hình
Trang 30dáng tùy theo nhu cầu của khách hàng Cuối cùng, phôi nhôm được lấy ra từ khuôn sau khi đã làm nguội
Hình 1.7: Hình ảnh một lò đúc nhôm
Hình 1.8: Một hộ tái chế nhôm, phế liệu mua về không có kho lưu giữ mà để
xung quanh nhà
Trang 31I.2.3 Thực trạng ô nhiễm môi trường ở làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá và tác động đến sức khỏe người dân
Ô nhiễm môi trường đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân trong làng nghề Do đặc thù làng nghề, toàn bộ số cơ sở sản xuất nằm xen kẽ trong khu dân cư, các xưởng sản xuất nằm tại các hộ gia đình Các chất thải trong quá trình sản xuất đã làm ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí, gây tiếng ồn, v.v Sản xuất trong làng nghề có cường độ cao, làm việc trong môi trường nhiều hóa chất độc hại nên dễ mắc các bệnh như: bệnh lao lực, lao phổi, ù tai, giảm trí nhớ Đường giao thông nhanh chóng bị xuống cấp do lượng xe vận chuyển hàng hóa nhiều Những hoạt động này không chỉ ảnh hưởng đến chính thôn Mẫn Xá mà còn ảnh hưởng sang các thôn lân cận Các hoạt động này cùng với hệ thống thoát nước trong thôn kém càng làm cho môi trường làng nghề bị ô nhiễm Theo đánh giá của người dân: ao, hồ, không khí, giếng khơi, giếng khoan đều bị ô nhiễm nghiêm trọng Hệ thống thoát nước trong thôn được người dân cho là bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất Nước tại các cống thoát nước có màu đen và mùi khó chịu Tất cả các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người dân đều đổ thẳng ra hệ thống thoát nước này mà không qua xử lý
Về không khí
Do cô nhôm, tái chế các phế phẩm thải ra từ các nhà máy, đồ dân dụng sử dụng lâu ngày, các vỏ kim loại, đồ cơ khí điện tử có nhiều kim loại, chất thải độc hại như thiếc, nhôm, chì kẽm dính hóa chất Khi vào lò cô đúc đã thải ra khí độc hại trong khi các ống khói lò đúc vừa bé vừa thấp không có biện pháp xử lý đã bay ra môi trường không khí xung quanh, làm cho người dân hô hấp trực tiếp ảnh hưởng ngay đến cơ thể Đặc điểm của làng nghề tái chế nhôm Mẫn Xá là các hộ gia đình sản xuất nhỏ lẻ, mọi diện tích đều được tận dụng tối đa cho sản xuất, các hộ dân cư thường được ngăn cách với nhau bằng những bức tường nên không khí, bụi và các chất độc hại lưu thông kém
Trang 32Bảng 1.5: Phân chia diện tích sản xuất của các hộ gia đình
STT Diện tích sản xuất Chỉ tiêu về sản xuất (m 2 ) Tỷ lệ (%)
Không khí thoát ra, tùy thời tiết của từng mùa, từng thời gian nung phế liệu
mà mức độ và nồng độ khí thải khác nhau Có hộ gia đình sản xuất với quy mô lớn, như gia đình anh Tiến chủ doanh nghiệp sản xuất Tân Tiến, ngày nào họ cũng nung phế liệu, ít nhất 4 tiếng/ngày, với 3 lò nung, lượng khí thải, bụi bẩn thải ra rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến người thợ làm nghề Trong khi đó, dụng cụ bảo hộ chống bụi là hoàn toàn không có, chỉ có những chiếc khẩu trang bán trên thị trường và kính đeo để chống bụi
Hình 1.9: Ống khói của một cơ sở đúc nhôm thôn Mẫn Xá
Để có thể thấy rõ hơn mức độ tác động của hoạt động sản xuất đến môi trường không khí, tác giả đã thu thập những số liệu về chất lượng không khí tại khu vực làng nghề trong các năm
Trang 33Bảng 1.6: Số liệu chất lượng không khí khu vực làng nghề Mẫn Xá
(Nguồn: Báo cáo kết quả mạng quan trắc tỉnh Bắc Ninh năm 2011, 2012)
Qua bảng kết quả trên ta có thể nhận xét chất lượng môi trường không khí xung quanh làng nghề có dấu hiệu bị ô nhiễm nặng Hàm lượng các chất ô nhiễm đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép đối với chất lượng môi trường không khí xung quanh
Tại khu vực lò nung kim loại của các hộ gia đình, hàm lượng bụi (bụi than, bụi kim loại) và hàm lượng các khí thải đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép rất nhiều lần
Để tạo ra được 2 tạ nhôm nóng chảy phải cần thời gian ít nhất là 1 tiếng và cần đến khoảng 0,4 tạ than cám Lò nung thường nằm ngay cạnh khu nhà ở Trong những năm gần đây, các hộ gia đình nhôm đều đầu tư xây dựng ống khói với chiều cao khoảng 5 – 10m nhưng hầu như chưa có hệ thống xử lý khí thải từ lò nung khi phát tán ra môi trường, ống khói chỉ có tác dụng đưa khí thải lên trên cao Do vậy, khu vực xung quanh lò nung bị ô nhiễm nghiêm trọng
Về nguồn nước
Hiện nay làng nghề Mẫn Xá chưa có nguồn nước máy để dùng, người dân khoan giếng lấy nước ngầm để sinh hoạt Nhưng do bã thải sau cô đúc nhôm bị đổ thải bừa bãi ra ao hồ trong làng, lâu ngày nước mưa thấm xuống khiến mạch nước ngầm bị ô nhiễm nặng, nên việc sử dụng 100% nguồn nước ngầm ở làng nghề là hết sức nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ đối với sức khỏe
Làng nghề đúc nhôm nên nhu cầu về nước sản xuất cũng không nhiều, nhưng nước thải sản xuất bị nhiễm các chất độc hại, đặc biệt là kim loại nặng
Trang 34Về chất thải rắn thải làng nghề
Những nguồn phát sinh chất thải rắn chủ yếu tại xã Văn Môn gồm có:
- Rác thải sinh hoạt: Nguồn rác thải sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình trong xã; từ các hoạt động dịch vụ, chợ và các nơi bán hàng; từ trạm xá, trường học, đường phố, cơ quan hành chính xã Thành phần rác thải này bao gồm rau quả hỏng, giấy bìa cacton, nhựa, gỗ, thuỷ tinh, kim loại, tro, vỏ xe, cành cây, lá cây, xác động vật Khối lượng khoảng 3 tấn/ngày
- Rác thải từ quá trình sản xuất tái chế của làng: xỉ kim loại, than xỉ, tạp chất lẫn trong nguyên vật liệu, phế liệu,các khuôn bằng đất sau khi gia thành phẩm bị đập bỏ…chỉ có một số ít được dùng để rải đường, xây tường…còn lại được tập trung thành đống và không được xử lí Khối lượng phát sinh khoảng 80 tấn/ngày Hiện tại, thôn Mẫn Xá có 01 bãi chứa tạm thời chất thải rắn sinh hoạt, tuy nhiên bãi chứa này đã quá đầy, chất thải bị đổ tràn ra ngoài
Hình 1.10: Bãi chứa tạm thời chất thải rắn sinh hoạt của thôn Mẫn Xá
Chất thải rắn sản xuất thì bị vứt, đổ bừa bãi ở ngoài ruộng, trong vườn nhà, ngõ xóm, những bãi đất trống, v.v mà chưa có các biện pháp thu gom, xử lý tập trung, làm
Trang 35mất mỹ quan khu vực, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Đã xuất hiện nhiều khu vực tập trung rác tự phát, những điểm tập trung này rác đã được chất thành ụ cao Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng hơn do rác bị phát tán bởi gió, chuột, ruồi muỗi, khi trời mưa, nồm mùi hôi thối càng nồng nặc và lan rộng ra các khu vực xung quanh
Hình 1.11: Xỉ nhôm bị thải bỏ khắp đường làng
Nhận xét:
Làng nghề Mẫn Xá sản xuất chủ yếu cô nhôm, tái chế kim loại và một số nghề phụ trợ khác Việc sản xuất ở làng nghề thường hạn chế, thiếu ánh sáng và không thông thoáng, làm các khí, hơi độc không phát tán được, gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người lao động trực tiếp cũng như người dân xung quanh, làm tăng tỷ lệ mắc bệnh
về đường hô hấp, da, mắt, v.v của người dân
Trong đó nhóm cộng đồng nhạy cảm nhất với sự ô nhiễm không khí là những người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em, người đang mắc bệnh, v.v Mức độ ảnh hưởng của từng người phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, nồng độ, loại chất ô nhiễm và thời gian tiếp xúc với môi trường ô nhiễm
Trang 36Hình 1.12. Tác hại của rác thải đối với sức khỏe con người
Trong giai đoạn nung nhôm thải ra rất nhiều khí độc như CO, CO2, SO2, hơi kim loại,… người lao động luôn phải tiếp xúc với nhôm và bụi nhôm gây viêm vòm họng và đường hô hấp Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi thọ trung bình của người dân tại làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc và so với làng không làm nghề tuổi thọ này cũng thấp hơn từ 5-10 năm Theo trạm trưởng trạm y tế xã Văn Môn cho biết các bệnh phổ biến là bệnh hô hấp, tai mũi họng, bụi phổi, thần kinh đặc biệt là bệnh ung thư Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do sự phát thải khí độc, nguồn nhiệt cao và bụi kim loại từ các lò đúc, nấu kim loại,…trong quá trình sản xuất
Môi trường không khí
Người, động vật
KLN, chất độc Nước mặt
hô hấp
Qua chuỗi thực phẩm
Ăn uống, tiếp xúc qua da
Trang 37CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC CỦA LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHÔM XÃ VĂN MÔN
II.1 Nguồn phát sinh và hiện trạng thu gom nước thải
Nước thải làng nghề tương đối phức tạp, bao gồm nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất và nước mưa cuốn trôi bề mặt (trong quá trình sản xuất và vận chuyển phế liệu, bụi than, dầu mỡ, kim loại vương vãi trên đất)
Nước thải sản xuất phát sinh từ những hoạt động sau:
- Nước phát sinh từ quá trình sơ chế nguyên liệu: Theo khảo sát thực tế, hiện tại chỉ có 3 cơ sở có quá trình sơ chế nguyên liệu trước khi đưa vào lò nung Phế liệu mua về có chứa dầu, được nhúng qua nước nóng để giảm bớt lượng dầu mỡ trước khi đưa vào lò nung Nước thải từ quá trình này chứa nhiều chất lơ lửng và dầu mỡ khoáng, phát sinh khoảng 3 m3/ngày
- Nước vệ sinh chân tay, bảo hộ lao động của công nhân, nước vệ sinh nhà xưởng sản xuất: Hiện tại có 340 cơ sở sản xuất với lượng công nhân là khoảng 2.400 người, lượng nước thải phát sinh khoảng 200 m3/ngày
- Nước từ bãi chứa xỉ nhôm thải: chất thải rắn sản xuất (bao gồm bã và xỉ nhôm, xỉ than) được vứt bỏ bừa bãi trên đường làng, cạnh các tuyến cống lộ thiên thu gom nước thải của làng, lượng chất thải này gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường nước
- Nước từ hệ thống xử lý khí thải: Theo khảo sát, có 10 cơ sở sản xuất có hệ thống xử lý khí thải bằng phương pháp hấp thụ bằng dung dịch nước vôi trong, nước thải được tuần hoàn, tuy nhiên cặn thải của bể tuần hoàn được thải vào hệ thống thoát nước thải chung của làng nghề
Trang 38
Hình 2.1: Bã, xỉ nhôm vứt bừa bãi ngay cạnh cống lộ thiên thu gom nước thải
Hiện trạng thu gom
Hệ thống thu gom nước thải và nước mưa chung nhau, được chảy dọc theo tuyến cống chính dọc theo đường làng, sau đó đổ vào sông, hồ, kênh, mương hoàn toàn chưa qua xử lý Ngoại trừ tuyến cống chính dọc theo làng đã được đậy kín, các tuyến cống phụ tại các ngõ xóm hầu như lộ thiên, gây mùi hôi thối, khó chịu cho người dân sống tại đó
Diện tích ao, hồ của xã Văn Môn trong những năm gần đây ngày càng bị thu hẹp và ô nhiễm Chất lượng nước ao, hồ ngày càng xuống cấp do chúng trở thành nơi chứa đựng nước thải và rác thải
Trang 39Hình 2.2: Ao trong làng chứa rất nhiều chất thải
Tác giả luận văn đã tổ chức một cuộc phỏng vấn nhỏ với đối tượng là những cán bộ xã, người dân trong 02 thôn Mẫn Xá và thôn Quan Độ về mức độ tác động của nước thải đến cuộc sống của người dân
Hầu hết người dân trong làng cho rằng hoạt động sản xuất tác động rất nhiều đến môi trường nước, không chỉ đối với nước mặt mà cả với nước ngầm Điều này chứng tỏ rằng, môi trường nước tại làng nghề đã bị ô nhiễm và mức độ ô nhiễm sẽ ngày càng tăng nếu chính quyền, và chính người dân làng nghề không có biện pháp bảo vệ và cải tạo nguồn nước thích hợp
Họ cảm thấy bất an khi sống trong môi trường ô nhiễm nước thải trầm trọng
và hàng ngày phải sử dụng nguồn nước ngầm không đảm bảo chất lượng để ăn, uống, vệ sinh Những người dân đã kiến nghị việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải, trạm cấp nước sạch để người dân có thể yên tâm về nguồn nước mà hàng ngày
họ sử dụng
Trang 40Hình 2.3: Hình ảnh buổi phỏng vấn người dân và cán bộ xã Văn Môn
II.2 Hiện trạng môi trường nước mặt
Tác giả luận văn đã kết hợp với Viện Khoa học và Công nghệ môi trường ĐHBK HN thực hiện lấy mẫu nước mặt nhằm phân tích đánh giá chất lượng môi trường nước mặt khu vực làng nghề tái chế nhôm thôn Mẫn Xá Các kết quả khảo sát chất lượng môi trường nước mặt được trình bày ở Bảng 2.1
Vị trí lấy mẫu: VMNM1: Mẫu nước tại Ao tiếp nhận nước thải của làng (tọa
độ X = 21°10’15,1” N; Y = 105°56’06,4” E)