Nói cách khác, quan hệ gia đình cần được hiểu theo nghĩa rộng, Trước thực tiễn đó đòi hỏi phải nghiên cứu để làm sáng tỏ về gia đình từ đó xây dựng những quy phạm pháp luật điều chỉnh cá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN DUY
GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN DUY
GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số : 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN PHƯƠNG LAN
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Văn Duy
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
Chương 1 11
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH 11
1.1 Khái niệm gia đình 11
1.1.1 Gia đình theo quan điểm triết học 11
1.1.2 Gia đình theo quan điểm xã hội học 13
1.1.3 Gia đình theo quan điểm luật học 16
1.2 Khái niệm thành viên gia đình 19
1.3 Các chức năng cơ bản và đặc điểm của gia đình trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay 21
1.3.1 Các chức năng cơ bản của gia đình 22
1.3.2 Đặc điểm và mục tiêu của gia đình Việt Nam 24
1.4 Khái quát sự điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình về gia đình qua các thời kỳ 28
1.4.1 Gia đình theo quy định của pháp luật phong kiến Việt Nam 28
1.4.2 Gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc 31
1.4.3 Gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến nay 32
1.5 Sự cần thiết điều chỉnh của pháp luật về gia đình 36
Chương 2 40
PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC QUAN HỆ CỦA GIA ĐÌNH 40
2.1 Quan hệ giữa vợ và chồng 40
2.1.1 Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng 41
2.1.2 Quan hệ tài sản giữa vợ chồng 47
Trang 52.1.3 Quyền đại diện giữa vợ và chồng 59
2.2 Quan hệ giữa cha, mẹ và con 65
2.2.1 Cơ sở phát sinh quan hệ giữa cha, mẹ và con 65
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ - con 73
2.3 Quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình 78
2.3.1 Quan hệ giữa anh chị em với nhau 78
2.3.2 Quan hệ giữa ông bà và cháu 81
2.3.3 Quan hệ giữa cô, dì, chú, bác, cậu, cháu 84
CHƯƠNG 3 88
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIA ĐÌNH, MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH 88
3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định về gia đình 88
3.1.1 Những vướng mắc về quy định đại diện cho nhau giữa vợ và chồng 88
3.1.2 Những vướng mắc về quy định chế độ tài sản vợ chồng 92
3.1.3 Những khó khăn thực thi quy định về mang thai hộ 95
.3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình 97
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định đại diện giữa vợ và chồng 97
3.2.2 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng .100
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Số thứ
tự
1 Luật HN&GĐ Luật hôn nhân và gia đình
7 Nghị định
126/2014/NĐ-CP
Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng
12 năm 2014 Quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Lời nói đầu của Luật HN&GĐ năm 2000 đã thể hiện tầm quan trọng của gia
đình: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”
Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Mỗi ngành khoa học có cách nhìn khác nhau, nghiên cứu về gia đình với những mục tiêu khác nhau Nói đến gia đình là nói đến các thành viên gia đình cùng chung sống, đùm bọc và giúp đỡ nhau Dưới góc độ pháp lý, nghiên cứu về gia đình nhằm xác định thành viên gia đình, mối quan hệ giữa những thành viên gia đình để từ đó quy định nghĩa
vụ và quyền tương ứng đối với mỗi thành viên Trải qua các thời kỳ, thành viên gia đình cũng có sự thay đổi nhất định Tuy nhiên, xác định quan hệ gia đình vẫn dựa trên các mối quan hệ chính là quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng Gia đình cơ bản được xây dựng trên cơ sở nền tảng của các mối quan
và các con của người nhận nuôi với người con nuôi Pháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành không sử dụng các thuật ngữ mà trong đời sống hàng ngày người Việt Nam vẫn sử dụng như quan hệ họ hàng, thân thuộc
Trang 9Gia đình được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa các thành viên gia đình Khái niệm gia đình và khái niệm thành viên gia đình có mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, có thể nhận thấy có sự không phù hợp giữa lý luận và đời sống thực tiễn trong việc xác định thành viên gia đình Dưới góc độ pháp lý, các mối quan hệ giữa các thành viên gia đình chưa được điều chỉnh đầy đủ, chưa rõ ràng và còn có nhiều cách hiểu khác nhau Ví dụ: Trong quan hệ nuôi dưỡng, mối quan hệ giữa người được nhận nuôi với những thành viên khác trong gia đình cha
mẹ nuôi, quan hệ chung sống giữa những người họ hàng trong cùng gia đình, quan
hệ cụ và chắt, quan hệ giữa con dâu và cha mẹ chồng Từ việc không có quy phạm pháp luật điều chỉnh nên không định hướng cho hành vi của các thành viên trong gia đinh, dẫn đến các thành viên gia đình có thể có những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nhau Hơn nữa, Việt Nam hiện đang hội nhập với nền kinh tế thế giới, trong đó sự tương đồng của các quy phạm pháp luật cũng là điều cần thiết và tạo điều kiện tốt hơn cho hội nhập Tìm hiểu quy định của pháp luật một số nước ở Châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan, In-Đô-Nê-Xi-a cũng dễ dàng nhận ra quy định về thành viên gia đình của những nước này rất rộng Nói cách khác, quan hệ gia đình cần được hiểu theo nghĩa rộng,
Trước thực tiễn đó đòi hỏi phải nghiên cứu để làm sáng tỏ về gia đình từ đó xây dựng những quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình, sao cho các hành vi của các thành viên gia đình phù hợp đúng chuẩn mực đạo đức
xã hội Nghiên cứu đề tài “Gia đình theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”
nhằm phục vụ cho mục đích đó
Trang 10Hiện nay đã có nhiều học giả nghiên cứu về gia đình, không chỉ có riêng ngành luật mà nhiều ngành khoa học khác cũng nghiên cứu vấn đề này Trong lĩnh vực pháp luật, chuyên ngành Luật HN&GĐ đã có nhiều bài viết về các khía cạnh của gia đình nhƣ: Quan hệ nhân thân giữa vợ chồng; quan hệ cha mẹ con, … Một
số công trình nghiên cứu đã đề cập đến thành viên gia đình nhƣ: Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập I – Gia đình , NXB Trẻ TP.HCM của TS.Nguyễn Ngọc Điện (2002); Việt Nam dân luật lược giảng – Luật gia đình
Quyển tập 1, tập 1 của Vũ Văn Mẫu (1973); Ngoài ra còn có các cuốn sách chuyên
khảo về những vấn đề liên quan đến HN&GĐ: Hỏi đáp về chế độ kết hôn và ly hôn theo luật Hôn nhân và gia đình 2000 do tác giả Lê Thi biên soạn, NVB Khoa học
xã hội (2004); Gia đình Việt Nam quan hệ quyền lực và xư hướng biến đổi do tác
giả Vũ Hào Quang do NXB Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2006 PGS.TS
Nguyễn Văn Cừ đã viết nhiều cuốn sách khác nhau nhƣ: Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (NXB Tƣ Pháp), Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình 2000 xuất bản năm 2002
(NXB Chính trị quốc gia) Bên cạnh đó còn có nhiều luận văn, luận án hay những khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về những vấn đề khác nhau trong HN&GĐ Tuy nhiên, những tác phẩm này mới chỉ phân tích một số quan hệ cụ thể trong gia đình chƣa có cách nhìn một cách hệ thống về gia đình
Đây là công trình nghiên cứu về gia đình một cách có hệ thống và hoàn chỉnh theo luật HN&GĐ 2014, có sự so sánh đối chiếu với công trình nghiên cứu của một số ngành khoa học khác, có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để đánh giá sự điều chỉnh của pháp luật về gia đình một cách phù hợp nhất Công trình là cái nhìn xuyên suốt các quy phạm pháp luật quy định về thành viên gia đình, mô hình gia đình trong hệ thống pháp luật HN&GĐ Việt Nam
Trang 11Mục đích của đề tài là nghiên cứu vấn đề lý luận chung về gia đình, cơ sở để phát sinh, hình thành gia đình, mối quan hệ, quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình theo quy định của pháp luật HN&GĐ Đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các thành viên gia đình, từ đó làm rõ những điểm đã đạt được, vướng mắc hạn chế cần khắc phục, hoàn thiện
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận gia đình từ nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là từ góc độ luật HN&GĐ Nghiên cứu về các mối quan hệ tạo thành gia đình theo luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014, trên cơ sở phân tích, so sánh với các quy định điều chỉnh quan hệ gia đình trong các văn bản pháp luật trước đây Đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định điều
chỉnh về gia đình trong cuộc sống hiện tại
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về gia đình theo quan điểm luật học; những quy định của pháp luật HN&GĐ điều chỉnh về gia đình và các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình; Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về gia đình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của luận văn, vấn đề gia đình được xem xét, nghiên cứu theo Luật HN&GĐ năm 2014 theo 3 mối quan hệ cơ bản tạo thành gia đình là quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình Trong quá trình nghiên cứu có sự so sánh, đối chiếu với các quy định điều chỉnh về gia đình trong hệ thống pháp luật HN&GĐ Việt Nam Trên cơ
sở đó đánh giá về hiệu quả điều chỉnh, việc áp dụng các quy định hiện hành về gia đình để phát hiện những điểm vướng mắc, bất cập và đưa ra các đề xuất, kiến nghị
Trang 125 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin với phép biện chứng duy vật và lịch sử, gắn kết tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng và pháp luật nhà nước về vấn đề gia đình trong pháp luật HN&GĐ
Mác-Bên cạnh đó, các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành được sử dụng để thực hiện đề tài cụ thể như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, hệ thống, diễn giải, quy nạp để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra
6 Tính mới và đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tương đối toàn diện, có hệ thống về sự điều chỉnh của pháp luật về gia đình từ góc độ lý luận và thực tiến theo Luật HN&GĐ năm 2014
Luận văn đã phân tích khái quát trên cơ sở khoa học để xây dựng khái niệm gia đình và thành viên gia đình, cũng như khắc họa được những chức năng cơ bản của gia đình trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, để từ đó làm rõ cơ sở xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình hiện nay một cách hiệu quả…
Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh gia đình về quyền
và nghĩa vụ giữa các thành viên gia đình, tính khả thi, hiệu quả điều chỉnh cũng như những vướng mắc, bất cập còn tồn tại cần khắc phục, sửa đổi và đề xuất hướng hoàn thiện
7 Kết cấu của Luận văn
Trang 13Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về gia đình
Chương 2 Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình
Chương 3 Thực tiễn thực hiện các quy định về gia đình và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH 1.1 Khái niệm gia đình
1.1.1 Gia đình theo quan điểm triết học
Triết học nghiên cứu gia đình trong quá trình phát triển của lịch sử và các hình thái kinh tế - xã hội Theo quan điểm triết học, HN&GĐ không ngừng vận động và phát triển Theo C.Mac – Ph.Anghen thì quan hệ hôn nhân tương ứng có với ba giai đoạn phát triển của nhân loại: Ở thời đại mông muội có chế độ quần hôn; ở thời đại dã man có chế độ hôn nhân cặp đôi; ở thời đại văn minh có chế độ một vợ một chồng [2; tr.55 - 129]
Gia đình là một phạm trù lịch sử, các hình thái và chức năng của gia đình là
do tính chất của quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội cũng như trình độ phát triển văn hóa của xã hội quyết định Trong lịch sử của xã hội loài người đã trải qua bốn hình thái gia đình, đó là gia đình huyết tộc, gia đình pu-na-lu-an, gia đình cặp đôi, gia đình một vợ một chồng
Gia đình huyết tộc là hình thái gia đình đầu tiên trong lịch sử Lúc này các
quan hệ hôn nhân hình thành theo thế hệ: Trong phạm vi gia đình, tất cả ông và bà đều là vợ chồng với nhau; các con của ông bà tức là các người cha và các bà mẹ cũng là vợ chồng với nhau; đến lượt con cái của những người này tức là cháu của ông bà cũng hợp thành một nhóm vợ chồng thứ ba; đến lượt con cái của những người con ấy là chắt của ông bà lại hợp thành nhóm vợ chồng thứ tư Như vậy, những người cùng thế hệ là vợ chồng của nhau, những người khác thế hệ không có quyền và không có nghĩa vụ vợ chồng với nhau Quan hệ hôn nhân được ngăn cấm lần đầu tiên theo hệ dọc giữa các thế hệ Các nhóm hôn nhân được hình thành theo thế hệ và chỉ được phép quan hệ tính giao với nhau trong phạm vi nhóm đó Vì
Trang 15cấm quan hệ tính giao theo hệ dọc trên cơ sở huyết thống trực hệ giữa các thế hệ với nhau, nên gia đình này được gọi là gia đình huyết tộc
Gia đình pu-na-lu-an: Khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, một
hay nhiều nhóm chị em gái trở thành vợ chung của cộng đồng những người đàn ông khác không cùng họ mẹ; còn những anh em trai cùng mẹ của họ lại trở thành chồng chung của cộng đồng và những chị gái khác Bằng cách này mà từ hình thái gia đình huyết tộc đã xuất hiện hình thái gia đình pu-na-lu-na Theo hình thái gia đình pu-na-lu-an, một số chị em gái cùng mẹ hay xa hơn đều là vợ chung của một
số người chồng, trừ những anh em trai cùng mẹ của những người chị em gái này Ngược lại, một số người anh em trai sẽ là người chồng chung của các chị em gái, trừ những chị em gái do cùng một mẹ đẻ ra Lúc đó, những người này gọi nhau là
“người bạn đường” hay “người cùng hội cùng thuyền” Một cách tương tự, một số
anh em trai cùng mẹ hoặc xa hơn, đều lấy chung một số vợ không phải là chị em gái của họ và những người vợ ấy đều gọi nhau là pu-na-lu-a Đây là hình thức cổ điển của một kết cấu gia đình có đặc trưng là: Chung chồng, chung vợ với nhau trong phạm vi nhất định, nhưng phải loại trừ những anh em trai của các người vợ, đồng thời cũng loại trừ những chị em gái của những người chồng
Gia đình cặp đôi: Là một loại hình thức kết hôn từng cặp, lúc bấy giờ, trong
số những người vợ của mình, người đàn ông có một vợ chính, và trong số nhiều người chồng khác, anh ta là người chồng chính của người đàn bà ấy Do thị tộc
ngày càng phát triển và những nhóm “anh em trai” và “chị em gái” không còn có
thể lấy nhau được nữa ngày càng nhiều, càng mở rộng và phát triển hơn nữa thì tất
cả những người bà con họ hàng cùng dòng máu đều không được lấy nhau Trong tình trạng cấm kết hôn ngày càng phức tạp thì chế độ quần hôn ngày càng không thể thực hiện được, chế độ ấy đang bị gia đình cặp đôi ngày càng lấn át và thay thế Một người đàn ông sống với một người đàn bà với một sự gắn bó với nhau rất lỏng
Trang 16lẻo, mối liên hệ vợ chồng vẫn có thể bị bên này hay bên kia cắt đứt một cách dễ dàng và con cái lúc này cũng chỉ thuộc về người mẹ
Gia đình một vợ một chồng: Gia đình một vợ một chồng nảy sinh từ gia đình
cặp đôi, nó đánh dấu cho buổi ban đầu của thời đại văn minh Gia đình ấy dựa trên
sự thống trị của người chồng, nhằm chủ đích là làm cho con cái sinh ra phải có cha
đẻ rõ ràng không ai tranh cãi được và sự rõ ràng về dòng dõi đó là cần thiết, vì những đứa con đó sau này sẽ được thừa hưởng tài sản của người cha với tư cách là người kế thừa trực tiếp Gia đình một vợ một chồng khác với gia đình cặp đôi ở chỗ là quan hệ vợ chồng chặt chẽ hơn nhiều, hai bên không còn có thể tùy ý bỏ nhau được nữa
Qua bốn hình thái gia đình trên ta thấy triết học nghiên cứu gia đình trong sự vận động và phát triển của nó theo các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Các hình thái gia đình cũng vận động và phát triển theo quy luật tự nhiên và của sự vận động phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội
1.1.2 Gia đình theo quan điểm xã hội học
Các ngành nghiên cứu về gia đình cố gắng đưa ra khái niệm về gia đình như các nhà triết học, tâm lý học, giáo dục học, văn hóa… nhưng chưa có ngành nào nghiên cứu về gia đình nhiều như ngành xã hội học Tuy nhiên đến nay vẫn chưa
có một khái niệm thống nhất về gia đình Tùy vào từng lĩnh vực nghiên cứu mà mỗi nhà khoa học lại có một khái niệm gia đình riêng phù hợp với lĩnh vực mà mình nghiên cứu Có thể nói, chưa có ngành nào lại đưa ra nhiều khái niệm gia đình như ngành xã hội học
Trong tập bài giảng Xã hội học của trường đại học Luật Hà Nội, nhóm tác giả
đã nêu hai khái niệm về gia đình để phục vụ cho việc giảng dạy:
Trang 17Gia đình là một thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ ruột thịt (hoặc đặc biệt cùng chung sống) Gia đình là một phạm trù biến đổi mang tính lịch
sử và phản ánh văn hóa của dân tộc và thời đại Gia đình là trường học đầu tiên
có mối quan hệ biện chứng với tổng thể xã hội [38; tr.335]
Gia đình – đơn vị xã hội (nhóm xã hội nhỏ), là hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ vợ chồng, giữa cha và mẹ, giữa anh chị em và người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung [38; tr.335]
Môn Xã hội học được giảng dạy ở trường Đại học Luật là môn học nhằm mục đích giúp người học hiểu biết hơn về xã hội nhằm nhanh chóng tiếp cận hiểu biết pháp luật từ đó thực hiện ba chức năng cơ bản là chức năng nhận thức, chức năng thực tiễn và chức năng tư tưởng Khái niệm gia đình được các tác giả đưa ra cũng không nằm ngoài ba chức năng trên Vì vậy, có thể thấy hai khái niệm trên chưa phản ánh một cách đầy đủ về khái niệm gia đình Ngoài hai khái niệm trên thì còn
có những khái niệm khác nhau của các tác giả xã hội học khác khi nghiên cứu về gia đình
Trong cuốn “Gia đình trong bối cảnh đổi mới”, gia đình được định nghĩa như
sau: Gia đình là một nhóm người có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống, hoặc quan hệ nuôi dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có chung ngân sách[39; tr114] Do trong thực tiễn tồn tại nhiều loại
mô hình gia đình nên việc nghiên cứu gia đình và giới trong thời kỳ đổi mới nhằm thực hiện quản lý xã hội của các nhà quản lý cũng chỉ nghiên cứu những gia đình mang tính chất tiêu chuẩn Do vậy, khái niệm nêu trên cũng chưa thực sự đầy đủ và bao quát hết mọi gia đình trong xã hội
Trang 18Khi nghiên cứu xã hội học về “Một số lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học”, nhóm tác giả là GS Phạm Tất Long – TS Lê Ngọc Hùng đã đưa ra khái niệm về
gia đình cho lĩnh vực mình nghiên cứu như sau: Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù,một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi,bởi tính cộng đồng
về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người[15; tr310] Khái niệm do nhóm tác giả đưa cũng chưa phản ánh đầy đủ
về gia đình bởi hình thức gia đình rất đa dạng Khái niệm này khá tương đồng với quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014
Mặc dù chưa có một khái niệm chung về gia đình nhưng các nhà xã hội học đều ghi nhận gia đình là một nhóm xã hội nhỏ, trong đó các thành viên có quan hệ quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng, cùng chung sống Bởi tính đa dạng của gia đình mà làm cho bất cứ một khái niệm nào về gia đình cũng trở nên lỏng lẻo, điều này đã tạo nên nhiều tranh luận giữa các nhà khoa học,
nó đã và đang thách thức các nhà xã hội học đưa ra một khái niệm về gia đình
Xã hội học coi gia đình là một thể chế xã hội luôn vận động và phát triển Vì gia đình là một thể chế nên mỗi con người từ khi sinh ra đã đặt vào những quan hệ nhất định Gia đình là một cơ thể sống, nằm trong quá trình phát triển không ngừng, gắn với sự phát triển chung của xã hội Khi xã hội phát triển, sự phân chia lao động càng được đẩy mạnh, gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa
sẽ dẫn đến sự xé nhỏ gia đình, từ gia đình lớn trong đó có nhiều thế hệ chuyển sang gia đình nhỏ chỉ có bố mẹ và con cái Sự phát triển từ gia đình gia trưởng sang gia đình hạt nhân trở thành một quá trình có tính quy luật
Nhìn chung thì các nhà xã hội học vẫn nhìn nhận gia đình là một thiết chế xã hội gồm những người dựa trên ba mối quan hệ truyền thống là quan hệ hôn nhân,
Trang 19quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng mà chưa có nhà xã hội học nào mở rộng ba mối quan hệ trên khi nghiên cứu về gia đình
1.1.3 Gia đình theo quan điểm luật học
Luật học nhìn nhận gia đình là sự liên kết của nhiều người có quan hệ với nhau do có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng Hôn nhân là mối quan hệ giữa vợ và chồng, là tiền đề để xây dựng gia đình
Khoản 1 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải thích: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ
và chồng sau khi kết hôn” Quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam, nữ được xác lập
khi tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn
và phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn Như vậy, khi một người nam và một người nữ kết hôn với nhau thì giữa hai người này tồn tại quan hệ hôn nhân và hai người trở thành những thành viên của gia đình
Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa cha mẹ và con; ông bà và cháu; cụ và chắt; cô, dì, chú, bác, cậu và cháu; anh chị em với nhau… phát sinh do sự kiện sinh đẻ Cụ là người sinh ra ông bà và các anh em của ông bà, thế hệ ông bà là thế
hệ tiếp theo của cụ; ông bà là người sinh ra cha mẹ và các anh em của cha mẹ như
cô dì chú bác cậu, thế hệ này lại là thế hệ tiếp theo của ông bà; đến lượt cha mẹ là người sinh ra các con, các con trở thành thế hệ tiếp theo của cha mẹ Sự nối tiếp giữa các thế hệ dựa trên sự kiện sinh đẻ để tạo ra thế hệ tương lai, các thế hệ này được sinh ra từ một gốc, nên giữa họ có quan hệ huyết thống với nhau
Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ phát sinh do sự kiện nuôi con nuôi Do việc nhận nuôi con nuôi, người nhận con nuôi được gọi là cha mẹ nuôi và người được nhận làm con nuôi được gọi là con nuôi Người con nuôi trở thành thành viên gia đình của người nuôi, bình đẳng với những người con đẻ của người nuôi Theo quy định trên người con nuôi có đầy đủ quyền và nghĩa vụ với các thành viên gia đình
Trang 20của cha mẹ nuôi theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật hôn nhân và gia đình Người con nuôi sẽ bình đẳng với mọi người con khác trong gia đình về quyền
và nghĩa vụ Những người này có quan hệ với nhau do cùng quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, cùng nhau xây dựng kinh tế gia đình và cũng cùng nhau vun đắp phát triển khối tài sản chung của gia đình Trong trường hợp, nếu một trong số những người này có khối tài sản riêng thì người đó phải đóng góp tài sản để duy trì đời sống chung phù hợp với thu nhập, khả năng thực tiễn của mình Những thành viên gia đình là những người tích cực trong việc giúp
đỡ nhau về mặt tinh thần, là chỗ dựa tinh thần của nhau, là nơi động viên, an ủi những thành viên khác tốt nhất khi gặp khó khăn, thất bại trong cuộc sống Đồng thời, gia đình cũng là nơi để các thành viên gia đình chia sẻ thành công của nhau một cách chân tình nhất Các thành viên gia đình có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, nghĩa vụ của người này là quyền của người kia và ngược lại
Không phải gia đình nào cũng có đầy đủ các mối quan hệ nêu trên, trong từng trường hợp cụ thể, gia đình có thể chỉ có một mối quan hệ như chỉ có quan hệ hôn nhân hoặc chỉ có quan hệ nuôi dưỡng, cũng có thể có hai, ba hoặc có nhiều mối quan hệ
Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986 không giải thích về gia
đình, Luật HN&GĐ năm 2000 tại khoản 10 Điều 8 đã giải thích: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan
hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”
Theo Từ điển luật học thì gia đình là: “Tập hợp những người gắn bó với nhau
do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình.Gia đình Việt nam thường bao gồm nhiều thế hệ cùng chung sống như: ông
Trang 21bà, cha mẹ, con cháu… Họ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, sinh đẻ hay nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt nam Gia đình có các chức năng cơ bản: 1) chức năng sinh đẻ; 2) chức năng giáo dục; 3) chức năng kinh tế Bên cạnh chức năng cơ bản đó, gia đình còn phải thực hiện chức năng quan tâm và chăm sóc người cao tuổi” [1; tr.282] Giải thích trên
về gia đình tương đồng với khoản 2 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 Từ điển đã giải thích ngắn gọn về gia đình Việt Nam trong đó có các thành viên của nhiều thế
hệ chung sống, chăm sóc và giúp đỡ nhau, cùng với đó là nêu lên chức năng cơ bản của gia đình
Giáo trình Luật HN&GĐ của Trường Đại học luật Hà Nội đã đưa khái niệm
về gia đình theo Luật HN&GĐ như sau: “Gia đình theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau
về vật chất và tinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội” Khái niệm gia đình phù hợp với quy định của pháp luật
HN&GĐ
Như vậy các khái niệm gia đình trên đều chưa bao quát được các trường hợp trong thực tiễn khi nghiên cứu về thành viên gia đình Trong thực tiễn, gia đình không chỉ có ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng mà còn có những mối quan hệ khác như cấp dưỡng,… nhằm thể hiện sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm gia đình của mình:
“Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống quan hệ nuôi dưỡng hoặc những người từ ba mối quan hệ đó mà cùng
Trang 22sống chung với nhau, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.”
1.2 Khái niệm thành viên gia đình
Tìm hiểu gia đình trong thưc tế cho thấy thành viên gia đình được xác định dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng nhưng phạm vi xác định rộng hơn so với quy định của pháp luật Thực tiễn xác định thành viên gia đình dựa trên
ba cơ sở
Quan hệ hôn nhân trong thực tiễn không chỉ những người có đăng ký kết hôn
mà bao gồm cả những người chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng
ký kết hôn Giữa những người này có tổ chức đám cưới hoặc không tổ chức đám cưới, họ chung sống với nhau với mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình lâu bền Người thân của những người có quan hệ hôn nhân sống cùng nhà với nhau vẫn được xem là thành viên của gia đình Một trong những quan hệ phổ biến của quan
hệ này là con dâu sống cùng cha mẹ chồng, con rể sống cùng bố mẹ vợ Có thể hôn nhân giữa người con dâu và người con trai đã chấm dứt khi một trong hai người chết hoặc mất tích không làm chấm dứt hôn nhân, nhưng người con dâu vẫn được coi là con trong gia đình và là thành viên của gia đình Thực tiễn ghi nhận có nhiều trường hợp sau khi chồng chết con dâu đã sống cùng cha mẹ chồng, chăm sóc cha
mẹ chồng cho đến khi cha mẹ chồng chết để trọn đạo làm con thay cả cho chồng Cũng có trường hợp cha mẹ chồng không còn thì người con dâu còn về nhà anh trai chồng sinh sống để nhờ cậy chăm sóc con cái Trong quan điểm người Việt Nam cho rằng khi đã lấy chồng là thuộc về nhà chồng và là người của dòng họ chồng, nếu chồng chết thì anh em bên nhà chồng sẽ có nghĩa vụ thay chồng chăm sóc nuôi dạy các cháu Khi đó, người con dâu và các con trở thành thành viên gia đình trong nhà anh trai chồng Như vậy, từ quan hệ hôn nhân dẫn đến những người được xem là thành viên gia đình bao gồm: những người có quan hệ hôn nhân,
Trang 23những người đang tồn tại hôn nhân thực tế và quan hệ giữa những người do quan
hệ hôn nhân mang lại
Quan hệ huyết thống, do đặc điểm của người Việt Nam là tính cộng đồng rất lớn nên những người thuộc chi, nhánh, họ đều được xem là có cùng huyết thống Theo quy khoản 17 và 18 Điều 3 luật HN&GĐ 2014 quy định về những người cùng dòng máu trực hệ và những người có họ trong phạm vi ba đời Những người cùng dòng máu trực hệ hiển nhiên được xem là thành viên gia đình nếu họ có nơi sinh sống chính ở trong gia đình đó Trong trường hợp nhưng người có cùng dòng máu trực hệ này chuyển đi đến nơi khác sống một thời gian thì tư cách thành viên trong gia đình chính không bị mất đi, như con cái đi học đại học, bố mẹ đi công tác một thời gian nhất định Những người có họ trong phạm vi ba đời, những người trong họ hàng (trừ những người trên) thì chỉ được xem là thành viên gia đình khi
họ cùng sống chung trong gia đình Như vậy tư cách thành viên gia đình của những người có cùng dòng máu trực hệ thì luôn được ghi nhận, từ các thành viên gia đình của những người còn lại có quan hệ huyết thống chỉ được ghi nhận khi họ cùng sống chung trong một gia đình Những người có quan hệ huyết thống trực hệ, trong phạm vi ba đời, họ hàng ở trên suy cho cùng thì họ có chung nguồn gốc
Quan hệ nuôi dưỡng Người con nuôi là thành viên của gia đình người nhận nuôi con nuôi, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi Nhưng nếu trường hợp con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi thì quan hệ con nuôi chấm dứt Nhưng thực tiễn thì người con này vẫn là thành viên của gia đình nếu người con này vẫn sống với những thành viên còn lại trong gia đình Như vậy những người có quan hệ nuôi dưỡng hay đã từng có quan hệ nuôi dưỡng khi sống cùng nhau thì tư cách thành viên gia đình vẫn được thừa nhận trong thực tiễn
Trang 24Quy định về khái niệm thành viên gia đình có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu
đề tài bởi lẽ việc xác định mối quan hệ giữa các thành viên gia đình tạo nên giá trị gia đình Việt Nam với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc Qua nhiều thời kỳ phát triển, cấu trúc và quan hệ trong gia đình Việt Nam có những thay đổi, nhưng chức năng cơ bản của gia đình vẫn còn tồn tại
và gia đình vẫn là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong sự phát triển kinh
tế- xã hội của đất nước Tại Khoản 16 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014 quy định “Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha
mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng
mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô,
dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.” Quy định trên liệt kê những người được coi là
thành viên của gia đình dù họ sống chung hay không sống chung với nhau Những người này được xác định từ trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và những người do quan hệ hôn nhân hợp pháp mang lại Thiết nghĩ với một khái niệm về thành viên gia đình mang tính chất liệt kê như trên sẽ hạn chế tính chất của sự phát triển mang tính truyền thống của gia đình Việt Dựa trên những phân tích trên, tác giả rút ra khái niệm về thành viên gia đình như sau:
“Thành viên gia đình bao gồm những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng và những người có mối quan
hệ với nhau do quan hệ hôn nhân hợp pháp mang lại cùng sống chung hoặc không cùng sống chung với nhau nhưng quan tâm, giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần”
1.3 Các chức năng cơ bản và đặc điểm của gia đình trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay
Trang 251.3.1 Các chức năng cơ bản của gia đình
Gia đình là một hiện tượng xã hội có tính chất tự nhiên Bất cứ xã hội nào cũng đều quan tâm tới gia gia đình, tập hợp các gia đình để hình thành nên xã hội Ngược lại, xã hội muốn tồn tại và phát triển thì cần dựa trên nền tảng gia đình Theo quy luật tự nhiên, mỗi người khi sinh ra đều có gia đình, lớn lên trong gia đình đó Khi trưởng thành lại thành lập một gia đình mới Gia đình có địa vị rất quan trọng và thường được coi là nền tảng quốc gia Về nguyên tắc để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến gia đình pháp luật thường sử dụng các quy phạm, quy định có tính chất hướng dẫn: Các thành viên gia đình không thể tự ý thỏa thuận gạt
bỏ các điều khoản ấy được Mỗi gia đình được coi là một tế bào của xã hội Để góp phần xây dựng quốc gia vững mạnh thì mỗi gia đình phải vững mạnh Để xây dựng gia đình vững mạnh thì mỗi thành viên gia đình phải có cách xử sự phù hợp Để mọi người trong gia đình nói riêng và trong cả cộng đồng xã hội nói chung có cách
xử sự phù hợp thì cần có những quy định chung cho cách xử sự đó Do đó, bất kỳ quốc gia nào cũng đều dùng pháp luật để điều chỉnh vấn đề gia đình và bắt buộc mọi người trong xã hội phải tuân theo Khi có thành viên không tuân theo thì phải chịu những chế tài do pháp luật dự liệu Chẳng hạn, Luật HN&GĐ quy định nữ từ
đủ 18 tuổi trở lên được đăng ký kết hôn thì khi nữ chưa đủ 18 tuổi thì không được thỏa thuận kết hôn khi chưa đạt độ tuổi luật định
Trong gia đình, luân thường đạo lý là yếu tố quan trọng giữ vững trật tự gia đình mà ở đó mỗi thanh viên gia đình phải tuân theo Trong mỗi cộng đồng hay dân tộc đều đỏi hỏi phải có đạo đức, luân thường đạo lý của cộng đồng, dân tộc đó, song chưa có nơi nào luân thường đạo lý lại được thể hiện rõ nét như trong gia đình Lịch sử nhân loại chứng tỏ rằng nền tảng và tổ chức gia đình chỉ bền vững, nếu dựa trên một nền đạo lý nghiêm chỉnh Cũng vì lẽ ấy, ở các quốc gia mà gia đình có một tổ chức bền vững, các điều khoản trong luật gia đình thường cũng có
Trang 26thể coi như những quy chế trong đạo lý Các điều được quy định trong luật có tính chất luân thường đạo lý như vợ chồng chung thủy, con cái phải thương yêu kính trọng ông bà, cha mẹ đã nói lên điều đó
Ở bất kỳ thiết chế xã hội nào thì gia đình cũng có các chức năng cơ bản sau:
Chức năng sinh đẻ (hay còn gọi một cách khác là chức năng tái sản xuất con
người): Là chức năng quyết định, đảm bảo duy trì và phát triển thế hệ tương lai Gia đình, là nơi các thế hệ tiếp theo được sinh ra, tồn tại và phát triển, là nơi tái sản xuất ra con người để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của gia đình và xã hội Chức năng sinh đẻ giúp con người duy trì nòi giống từ thế hệ này sang thế hệ khác, đảm bảo một mạch sống liên tục của con người trên hành tinh, duy trì sự phát triển và
ổn định của xã hội loài người Nếu không thực hiện chức năng sinh đẻ, gia đình một ngày nào đó bị tuyệt vong do thế hệ trước chết đi, không còn thế hệ sau phát triển để thay thế Nhìn rộng ra cả một dân tộc, nếu các gia đình không thực hiện chức năng sinh đẻ thì các gia đình dần dần sẽ bị lụi tàn, dẫn đến dân tộc đó cũng không thể tồn vong Tương tự như vậy, quốc gia bị diệt vong nếu các gia đình trong quốc gia đó không thực hiện chức năng sinh đẻ Nói một cách khác, chức năng sinh đẻ có tính chất quyết định sự tồn vong của một dân tộc, một quốc gia và của cả loài người
Chức năng giáo dục: Là chức năng chủ yếu của gia đình, nó rất quan trọng
trong việc hình thành, phát triển nhân cách của các thế hệ trong gia đình, đặc biệt
là thế hệ trẻ Giáo dục trong gia đình phải kết hợp với giáo dục nhà trường và giáo dục ngoài xã hội Tuy nhiên, gia đình là môi trường giáo dục, môi trường xã hội hóa đầu tiên đối với mỗi con người Gia đình là nơi mỗi con người từ khi sinh ra được học những bài học đầu tiên, trong quá trình hình thành và phát triển con người được các thành viên gia đình giáo dục, chỉ dạy những điều đúng, sai để nhận thức và hình thành nên nhân cách của con người Do vậy, gia đình thực hiện chức
Trang 27năng giáo dục có hiệu quả hay không phụ thuộc vào nhận thức của các thế hệ đi trước Trong mỗi gia đình, nhận thức về các sự vật, hiện tượng trong xã hội cũng
có thể không giống nhau, đặc biệt là các thế hệ đi trước Thế hệ trước nhận thức một cách đúng đắn thì sẽ truyền lại cho thế hệ sau sự nhận thức đó, thế hệ sau có
cơ hội tiếp thu tư tưởng đúng đắn Ngược lại, nhận thức sai lầm của thế hệ trước có thể dẫn đến việc truyền thụ những nhận thức sai lầm đó cho thế hệ sau Do đó, nhân cách của con người được hình thành và phát triển thông qua chức năng giáo dục của gia đình, gia đình có chức năng giáo dục để hình thành tư duy của các
thành viên gia đình đó một cách đúng đắn, phù hợp với các chuẩn mực của xã hội Chức năng kinh tế: Gia đình được coi như một đơn vị kinh tế cơ bản, độc lập
của xã hội Mỗi gia đình trong xã hội điều tham gia vào quá trình lao động sản xuất
để tạo ra của cải vật chất Của cải vật chất này trước hết dùng để nuôi sống các thành viên gia đình, làm giàu cho xã hội Mỗi gia đình đều thực hiện các chức năng kinh tế, trong đó đa phần các thành viên gia đình tham gia vào quá trình sản xuất
để tạo ra tài sản cho xã hội và khối tài sản chung cho gia đình Khối tài sản chung này trước hết được dùng vào việc phục vụ nhu cầu chung của tất cả các thành viên gia đình, tạo ra tài sản dự trữ cho gia đình Các thành viên gia đình tùy theo khả năng và năng lực của từng người có trách nhiệm tạo dựng khối tài sản ngày càng lớn hơn Trong một cộng đồng cùng chung sống nhưng các gia đình đều có cách tạo dựng kinh tế để bảo đảm sự độc lập về kinh tế cho gia đình của mình Ngoài đảm bảo cơ sở vật chất, kinh tế gia đình còn góp phần tích cực vào việc gia đình thực hiện các chức năng xã hội như sinh đẻ, nuôi dạy, giáo giục các thành viên gia đình Như vậy, chức năng kinh tế giúp gia đình tạo dựng cơ sở vật chất để đảm bảo cuộc sống của các thành viên, giúp thực hiện tốt các chức năng khác của gia đình
1.3.2 Đặc điểm và mục tiêu của gia đình Việt Nam
* Đặc điểm của gia đình Việt Nam
Trang 28Có thể nói gia đình là vấn đề của mọi dân tộc và thời đại Đặc biệt trong vài năm trở lại đây, vấn đề gia đình nổi lên như một tiêu điểm trọng yếu được cả giới hàn lâm và giới chính trị quan tâm Nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa – đô thị hóa với quy mô và tốc độ ngày càng gia tăng Đồng thời với quá trình này là sự chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường Cố nhiên, những biến chuyển kinh tế –
xã hội mạnh mẽ đó không thể không tác động sâu sắc đến thiết chế gia đình, một thiết chế lâu đời và bền vững song cũng hết sức nhạy cảm với mọi biến đổi đa chiều của xã hội Thiết chế có tính bền vững này cũng đang vận động, đổi mới và thích ứng với nhu cầu của thời đại
Đặc điểm của gia đình Việt Nam truyền thống được cho là loại gia đình chứa nhiều yếu tố dường như bất biến, ít đổi thay, ra đời từ nôi văn hóa bản địa, được bảo lưu và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Là sản phẩm của nền văn minh Á Đông chịu ảnh hưởng của Khổng giáo: chẳng hạn như trọng nam kinh nữ, con trai nối dõi tông đường nhằm lưu truyền nòi giống và thờ phụng, nhớ ơn sinh thành của
tổ tiên, tôn sư trọng đạo, kính trên nhường dưới… Nhưng tựu chung lại có thể kể
ra những đặc điểm mang tính chất truyền thống trong gia đình Việt Nam như sau:
+ Đề cao tính cộng đồng: Gia đình truyền thống được coi là đại gia đình mà các thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống Trong gia đình này có thể cùng chung sống từ 3 thế hệ trở lên: ông bà – cha mẹ – con cái mà người ta quen gọi là "tam, tứ, ngũ đại đồng đường" Kiểu gia đình này khá phổ biến và tập trung nhiều nhất ở nông thôn Bắc Bộ Nền kinh tế tiểu nông là cơ sở phát sinh và tồn tại của nó Về mặt tâm lý, người Việt Nam luôn có xu hướng quần
tụ con cái xung quanh mình Điều đó thể hiện địa vị chi phối tuyệt đối của tập thể gia đình đối với mỗi thành viên Tinh thần vì lợi ích chung, vừa coi trọng đúng mức vai trò cá nhân đồng thời vừa coi trọng tập thể gia đình
Trang 29+ Gia đình mang tính Phụ quyền, gia tường được đề cao, chi phối các thành viên khác của gia đình: ngoài tư tưởng trọng nam khinh nữ, con cái trong gia đình thường được mang họ bố Người nam giới trong gia đình có vai trò, vị trí quan trọng trong việc quyết định các vấn đề lớn trong gia đình Trong một cộng đồng lớn mang tính chất huyết thống như gia tộc (dòng họ) người đứng dầu được chọn là nam giới
+ Đặc điểm duy tình: Tình nghĩa trong gia đình người Việt được đề cao như tình nghĩa vợ chồng, cha mẹ với con cái, anh trong nhà, tình nghĩa gia đình với họ tộc, làng xóm láng giềng…trong cách xử sự thường trọng tình mà ít trọng lý
*Mục tiêu xây dựng gia đình Việt nam trong giai đoạn hiện nay
Gia đình Việt Nam đang trong bước chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại trên nhiều phương diện và xu hướng khác nhau Đó là sự chuyển đổi hết sức phức tạp và trong xã hội còn tồn tại những quan niệm khác nhau về giá trị, chuẩn mực trong các mối quan hệ gia đình Gìn giữ những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống nhưng cũng luôn cập nhật, tiếp thu những giá trị văn hóa hiện đại của xu hướng toàn cầu hóa Mục đích hướng tới để phát triển gia đình trong xã hội hiện nay là xây dựng gia đình: Bình đẳng, no ấm, hòa thuận, hạnh phúc, bền vững xây dựng trên cơ sở gắn bó tình yêu thương
Về yếu tố “bình đẳng”: Trước hết, cơ sở của bình đẳng là nhận thức của các thành
viên gia đình theo hướng các gia đình tạo cơ hội bình đẳng và công bằng cho tất cả các thành viên, trong đó có bình đẳng nam nữ Cơ hội bình đẳng là sự điều hòa giữa văn hóa cá nhân và văn hóa tập thể, giữa nhu cầu của cá nhân và điều kiện thực tế của gia đình, giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của các thành viên, giữa cơ hội của cá nhân cụ thể với sự nhường nhịn của các thành viên khác Nhận thức đúng về bình đẳng trong cơ hội sẽ tạo điều kiện cho tất cả các thành viên
Trang 30trong gia đình được phát triển, không lạm dụng sự hy sinh vô điều kiện của thành viên này và ưu đãi đặc biệt cho thành viên khác, không tạo sự kỳ thị, phân biệt đối
xử giữa các thành viên Gia đình nào có xử sự công bằng đối với các thành viên sẽ tạo được sự đoàn kết bền vững, tính hợp tác tự nguyện và có hiệu quả của các thành viên Bình đẳng giới là quan điểm hiện đại đối lập với chủ nghĩa nam quyền
“trọng nam, khinh nữ” trong chế độ phong kiến Sự tôn trọng phụ nữ khiến cho người phụ nữ có vai trò chủ động, sáng tạo trong các hoạt động sản xuất, hoạt động gia đình và cộng đồng
Về yếu tố “no ấm”: No ấm là việc các thành viên trong gia đình bảo đảm sự chu
cấp đầy đủ cho nhau về vật chất nhằm tạo điều kiện cho mọi người phát triển về thể chất, tinh thần Mặc dù có sự phân tầng xã hội nhưng nhìn chung kinh tế của nhiều gia đình Việt Nam đang tăng lên, đây là cơ sở cho việc thực hiện các tiêu chí
“no ấm” Sự phu ̣c hồi nền kinh tế có ảnh hưởng tới cuô ̣c sống của các gia đình Điều tra xã hội học của Viện Nghiên cứu Giới và Phát triển (năm 2014) về tiêu chí
“no ấm” cho thấy, nhiều gia đình đã đạt được tiêu chí cao hơn là “ăn ngon, mặc đẹp” Mức sống kinh tế và văn hóa của nhiều gia đình đã đạt ngang bằng nhiều nước trên thế giới Trên thực tế, hai tiêu chí “ít con” và “no ấm “ đã gắn bó không thể tách rời
Về yếu tố “hạnh phúc”: Để đạt được hạnh phúc, hầu hết những người được hỏi
đều thừa nhận gia đình Việt Nam hiện nay cần phải được kế thừa các giá trị truyền thống Đó là tình thương yêu trong gia đình, các chuẩn mực về cha mẹ nhân từ, con cái hiếu thảo, anh em như thể tay chân, vợ chồng hòa thuận Gia đình là nơi thực hiện giáo dục kiến thức, văn hóa, đạo đức; là nơi các thành viên gắn bó, yêu thương và cùng xây dựng hạnh phúc Bên cạnh đó, gia đình Việt Nam phải kết hợp với tinh hoa của nhân loại Đó là quyền cá nhân, trong đó có quyền của phụ nữ và trẻ em, bình đẳng giới và các tiêu chí văn minh khác Gia đình có hạnh phúc thì
Trang 31mới đảm bảo sự bền vừng, ngược lại, bền vững sẽ củng cố hạnh phúc gia đình và các thành viên trong gia đình
Qua phân tích, có thể đi đến kết luận rằng, gia đình Việt Nam đã và đang biến đổi dưới sự tác động của những biến đổi về kinh tế, xã hội và giao lưu văn hoá toàn cầu Sự biến đổi đó không tách rời hoàn toàn với những đặc trưng của gia đình truyền thống mà là sự điều chỉnh, thích nghi với những hoàn cảnh và điều kiện xã hội mới Thực tế, gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức và phải lựa chọn cho mình một khuôn mẫu phù hợp, trong đó có sự cân bằng giữa việc bảo lưu những yếu tố truyền thống bền vững với những thay đổi không ngừng của xã hội hiện đại Với khả năng thích ứng cao trên nền tảng văn hoá truyền thống, gia đình Việt Nam vẫn hoàn toàn có khả năng gìn giữ được những nét bản sắc đặc trưng của nó ngay trong điều kiện phát triển của thế giới hiện đại
1.4 Khái quát sự điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình về gia đình qua các thời kỳ
1.4.1 Gia đình theo quy định của pháp luật phong kiến Việt Nam
Nước ta đã trải qua một thời kỳ dài lịch sử với nhiều triều đại phong kiến thay thế nhau cai trị Các tư liệu về luật cổ đến nay không còn nhiều do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong thời kỳ phong kiến nước ta có hai bộ luật tiêu biểu là Bộ luật Hồng Đức được ban hành dưới thời Lê và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) được ban hành dưới thời Nguyễn Trong thời kỳ này, pháp luật chịu
sự chi phối của một số yếu tố và có đặc điểm chung sau:
Thứ nhất, pháp luật thời kỳ này được quyết định bởi điều kiện kinh tế - xã hội
phong kiến Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng nên nó chịu ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế - xã hội của thời kỳ này Trong xã hội phong kiến, sự phân hóa giàu nghèo rất sâu sắc, đặc biệt là hai giai tầng trong xã hội lúc bấy giờ,
Trang 32giai cấp phong kiến và giai nông dân Điều này dẫn đến thành viên gia đình của hai giai tầng xã hội này cũng rất khác nhau Cùng với sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội là chế độ trọng nam khinh nữ đã ảnh hưởng đến pháp luật thời kỳ này là bất bình đẳng giữa nam và nữ, vai trò của người chồng được đề cao và quyền lực gia đình tập trung trong tay người chồng
Thứ hai, pháp luật thời kỳ này chịu ảnh hưởng không nhỏ của Nho giáo và
pháp luật Trung Hoa Nho giáo đã vào Việt Nam rất sớm, nhưng mãi đến những năm 1460 nhờ vua Lê Thánh Tông mà Nho giáo đã trở thành Quốc giáo và trở thành nền tảng tư tưởng thời bấy giờ Nho giáo đã giúp giai cấp thống trị củng cố địa vị thống trị được vững chắc hơn Tư tưởng của Nho giáo đã được nhà làm luật của thời kỳ này đưa vào các quy định của pháp luật và các chế định về hôn nhân và gia đình cũng không nằm ngoài quy luật đó Do đó, các quy định về hôn nhân và gia đình cũng chịu chung tư tưởng này Trong thời kỳ phong kiến, nước ta nhiều lần bị Trung Hoa đô hộ, thêm vào đó nhà làm luật cũng đã tham khảo hệ thống luật Trung Hoa để soạn thảo nên đã bị ảnh hưởng những tư tưởng của luật này, nhưng các Bộ luật của ta thời bấy giờ đã được lọc bỏ, sửa đổi và sáng tạo đi rất nhiều để phù hợp với văn hóa, phong tục tập quán của người Việt Nam Cũng vào thời kỳ này, văn hóa Trung Hoa đang có ảnh hưởng rất lớn đối với rất nhiều nước trong đó
có Việt Nam
Thứ ba, pháp luật thời kỳ này chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán Phong
tục tập quán ảnh hưởng đến pháp luật không kém gì ảnh hưởng của Nho giáo vì nhiều nguyên nhân khác nhau như trình độ dân trí thấp, người dân gắn liền với đồng ruộng và lũy tre làng nên ít giao lưu với thế giới bên ngoài Những kiến thức thế hệ sau có được là do học hỏi từ ngay chính những người của thế hệ trước trong làng về các quy phạm đạo đức, lối sống… nên hệ tư tưởng của họ trở thành phong tục tập quán điều chỉnh các hành vi trong gia đình
Trang 33Do những yếu tố ảnh hưởng trên mà pháp thời kỳ này có những nét đặc trưng
có ảnh hưởng đến thành viên gia đình là thừa nhận và bảo vệ chế độ đa thê cùng với bảo vệ quyền gia trưởng của người đàn ông trong gia đình
Ở nước ta, tục đàn ông được lấy nhiều vợ (đa thê) đã có từ lâu đời Điều này
là do quan niệm có nhiều con là có phúc và phúc là điều đầu tiên để chúc nhau; cần con trai để nối dõi tông đường; để có thêm lao động, gia đình quan lại giàu có thì đây là hãnh diện Trong quan niệm của người xưa, việc người đàn ông có nhiều vợ
là chuyện bình thường “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng” Do đó, trong nhà vào thời bấy giờ, nhất là những nhà giàu có, thường có
rất nhiều vợ; không chỉ lấy vợ hai mà còn lấy vợ ba, vợ tư… Ngoài vợ ra, người đàn ông còn có thể có thêm nàng hầu và cũng có thể có nhiều nàng hầu trong nhà Quyền gia trưởng được pháp luật phong kiến bảo vệ nên người cha, người chồng là chủ gia đình có nhiều ưu thế Gia trưởng là người đứng đầu trong gia đình đối với tất cả mọi người cùng chung sống trong nhà, kể cả những người có quan hệ như người hầu, người học nghề… con cháu ở cùng nhà với ông bà nội, cha mẹ thì phải thuộc quyền gia trưởng trong nhà Với quy định này, những người thuộc quyền quản lý của gia trưởng đều là thành viên của gia đình Gia đình phong kiến được chia thành hai mô hình: Đại gia đình và tiểu gia đình Đại gia đình là một mô hình gia đình lớn, gồm một tập thể những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng cùng chung sống với nhau mấy đời liên tiếp, trong đại gia đình có nhiều thế hệ cùng chung sống, thậm chí đến năm đời gọi là
“ngũ đại đồng đường” Tiểu gia đình là mô hình gia đình nhỏ gồm có vợ chồng và
con cái Mô hình gia đình phổ biến là đại gia đình, gồm các tôn thuộc như các cụ, ông bà, cha mẹ, chú bác và ty thuộc như con, cháu, chắt
Như vậy, do ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế - xã hội, Nho giáo và pháp luật Trung Hoa cũng như ảnh hưởng tập quán mà đặc trưng của gia đình Việt Nam lúc
Trang 34bấy giờ phổ biến là đại gia đình Trong gia đình đó đặt dưới sự quản lý của người gia trưởng Điểm đặc biệt trong các thành viên của gia đình thời bấy giờ là có nhiều người được gọi là vợ, ngoài vợ còn có nàng hầu những người này đều có quan hệ hôn nhân Trong các con có con chính hay có giá thú mà sinh ra, con hoang, con nuôi Ngoài những thành viên gia đình có quan hệ như trên thì trong gia đình còn có những thành viên khác như người hầu, người học nghề…
1.4.2 Gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc
Thời Pháp thuộc, thực hiện chính sách chia để trị, thực dân Pháp chia nước
ta thành ba miền Bắc, Trung, Nam Vì vậy, có ba bộ luật được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình Ở Bắc Kỳ, áp dụng các quy định trong bộ dân luật Bắc Kỳ (1931) Trung kỳ áp dụng bộ dân luật Trung Kỳ (1936) và ở Nam
Kỳ áp dụng các quy định trong bộ dân luật Giản yếu (năm 1883)
Về kỹ thuật lập pháp, ba bộ luật này đều ảnh hưởng từ Bộ Dân luật pháp Các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình tập hợp thành một chế định của Luật dân sự Về mặt nội dung, xét một cách tổng quát, Bộ dân luật Bắc Kỳ và dân luật Trung Kỳ phản ánh nhiều nét phong tục tập quán truyền thống của Việt Nam về hôn nhân và gia đình Bộ dân luật Giản yếu chịu ảnh hưởng của bộ luật Pháp năm 1804 cho nên có nhiều cách tân theo quan điểm các nhà làm luật phương Tây
Chẳng hạn trong bộ dân luật Giản yếu có điểm tiến bộ như trong điều kiện kết hôn đã trao cho người kết hôn quyền được phép ưng thuận Đặc biệt còn quy định cụ thể kết hôn phải khai trước Hộ lại như: tên, tuổi và chỗ ở của người kết hôn; họ tên cha mẹ và chủ hôn, người mai mối nếu có Sau đó người nói trên cùng
Hộ lại cùng ký tên và đóng dấu làng Điều này cho phép suy đoán rằng về mặt hình thức kết hôn pháp luật thời kỳ này đã có sự phân định giữa nghi thức truyền thống
và nghi thức dân sự Tuy nhiên tựu trung lại, chế độ hôn nhân gia đình do nhà nước
Trang 35thực dân – phong kiến quy định trong các bộ luật vẫn duy trì nét cơ bản của thời kỳ phong kiến trước đó như: Bộ dân luật Bắc Kỳ và dân luật Trung Kỳ đã quy dịnh cho vợ chồng tự do lập hôn ước, chế độ tài sản pháp định chỉ đặt ra khi vợ chồng không lập hôn ước Theo chế độ này, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tất cả của cải, hoa lợi của chồng cũng như của vợ, không kể tài sản đó được tạo ra trước hay trong thời kỳ hôn nhân
Dân luật Giản yếu không thừa nhận người vợ có tài sản riêng, do đó không thể có cộng đồng tài sản giữa vợ và chồng mà toàn bộ tài sản trong gia đình đều thuộc quyền sở hữu duy nhất của người chồng…
Như vậy, trong chế độ cũ, chế độ tài sản của vợ chồng thể hiện sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ chồng trong gia đình
Có thể thấy, pháp luật thời kỳ Pháp thuộc thực chất là sự chuyển tiếp về nội dung các quy định pháp luật thời kỳ phong kiến Bởi lẽ, nội dung các quy định pháp luật phong kiến khá phù hợp với chính sách “nô dịch, ngu dân” của thực dân Pháp Mặt khác, các quy định của pháp luật phong kiến đã ăn sâu vào thói quen, cách ứng xử của người dân Việt Nam, cho nên các nhà cầm quyền Pháp cũng không chủ chương phá vỡ nó Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật lập pháp, pháp luật thời
kỳ này ít nhiều ảnh hưởng pháp luật Pháp
1.4.3 Gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến nay
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước ta đã trải quan nhiều giai đoạn khác nhau, thời kỳ đấu tranh chống thực dân, thời kỳ chống đế quốc xâm lược Đứng trước muôn vàn khó khăn về kinh tế, chính trị nhưng Nhà nước ta đã không ngừng ban hành các văn bản pháp luật để ổn định đời sống cho nhân dân Trong những văn bản pháp luật đó thì Luật HN&GĐ được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Điều này được thể hiện qua lời dạy của Bác Hồ vào tháng 4 năm 1959:
“Luật hôn nhân và gia đình là Luật liên quan đến mọi người trong xã hội Sau
Trang 36Hiến pháp, nó quan trọng thứ nhì, cho nên phải tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được góp ý về nội dung và kỹ thuật thể hiện” [33; tr45] Từ năm 1945 đến
nay có thể chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954, Giai đoạn tiếp theo là từ năm 1954 đến năm 1975, Giai đoạn cuối là từ năm 1975 đến nay
Giai đoạn năm 1945 -1954: Nước ta trải qua thời kỳ cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân Đây là giai đoạn nước ta vô cùng khó khăn về mọi mặt Quan hệ sản xuất phong kiến vẫn tồn tại, việc xóa bỏ các tàn tích phong kiến lạc hậu không dễ dàng Các chế độ hôn nhân và gia đình lạc hậu ăn sâu vào trong đời sống và tiềm thức của nhân dân Thêm vào đó, thực dân Pháp lại âm mưu trở lại xâm lược nước
ta một lần nữa Năm 1946 kháng chiến chống Pháp đã bùng nổ Đứng trước tình hình đó Nhà nước ta chưa ban hành một đạo luật cụ thể nào để điều chỉnh các quan
hệ hôn nhân và gia đình Thay vào đó Sắc lệnh 90 – SL ngày 10/10/1945 quy định vẫn cho phép vận dụng những quy định trong pháp luật cũ có chọn lọc, theo nguyên tắc không trái với lợi ích của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và lợi
ích của nhân dân lao động Cùng với đó tiến hành phong trào “vận động đời sống mới” để vận động nhân dân tự nguyện xóa bỏ những hủ tục phong kiến lạc hậu
trong đời sống hôn nhân và gia đình Năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà
nước ta được ban hành Điều 9 Hiến pháp 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”, đây là cơ sở pháp lý để giải phóng phụ nữ và
đấu tranh xóa bỏ các chế độ hôn nhân và gia đình lạc hậu Một biểu hiện rất rõ lúc bấy giờ là phụ nữ đã tham gia vào các công việc xã hội đồng thời cũng thoát khỏi những ràng buộc của chế độ đại gia đình phong kiến Năm 1950, Nhà nước ta đã ban hành hai Sắc lệnh điều chỉnh quan hệ HN&GĐ là Sắc lệnh 97 về sửa đổi một
số quy lệ và chế định trong dân luật, Sắc lệnh 159 quy định về vấn đề ly hôn Hai Sắc lệnh này đã góp phần không nhỏ vào cuộc cách mạng văn hóa, xóa bỏ chế độ
Trang 37HN&GĐ phong kiến lạc hậu, giải phóng con người và thúc đẩy sự phát triển của
gia đình là vấn đề tư tưởng, tư tưởng gia trưởng và đa thê đã từng bước bị xóa bỏ Giai đoạn từ 1954-1975: Đây là giai đoạn đất nước ta thực hiện hai nhiệm vụ Cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam Mặc dù năm 1954 cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhưng nước
ta vẫn tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị hoàn toàn khác biệt Miền Bắc đã trải qua một số sự kiện làm thay đổi sâu sắc đời sống các gia đình trong xã hội là cuộc cải cách ruộng đất năm 1957, ban hành Hiến pháp năm
1959, Luật HN&GĐ năm 1959 Điều 24 Hiến pháp năm 1959 ghi nhận: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Cùng việc làm như nhau, phụ
nữ được hưởng lương ngang với nam giới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”
Luật HN&GĐ năm 1959 ghi nhận bốn nguyên tắc: Nguyên tắc hôn nhân tự do và tiến bộ; nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng; nguyên tắc nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình; nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái Những sự kiện này đã khẳng định bản chất pháp luật của nhà nước dân chủ cộng hòa, mục đích là để phục vụ lợi ích của nhân dân lao động Quyền lợi của các
Trang 38thành viên gia đình được bảo đảm và được Nhà nước bảo vệ Từ các quan hệ ngoài
xã hội cho đến các quan hệ trong gia đình, bình đẳng nam nữ đã được đưa lên một tầm cao mới Người phụ nữ trước đây chỉ biết phục tùng thì nay đã có các quyền như nam giới Không chỉ có người vợ trong gia đình mà quyền lợi của các con cũng đã được ghi nhận và bảo vệ
Như vậy quan hệ giữa các thành viên gia đình đã có nhiều thay đổi, người vợ
từ người “vô năng lực về mặt hộ” đã trở thành người có quyền năng đầy đủ như người chồng “Trong gia đình, vợ chồng đều bình đẳng về mọi mặt” (Điều 21, Luật
HN&GĐ 1959) Không chỉ người vợ mà các con cũng được pháp luật ghi nhận và
bảo vệ quyền lợi, giữa cha mẹ và con đã được ghi nhận “Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái Con cái có nghĩa vụ kính yêu, săn sóc, nuôi dưỡng cha mẹ” (Điều 17, Luật HN&GĐ 1959), các con trong gia đình cũng không còn sự phân biệt con trai hay con gái “Con trai và con gái có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình” (Điều19, Luật HN&GĐ 1959)
Miền Nam dưới chính quyền Ngụy Sài Gòn cũng đã ban hành các văn bản pháp luật như: Luật gia đình 1959, Sắc luật số 15/64, Bộ dân luật năm 1972 Các văn bản pháp luật này đều nghiêm cấm chế độ đa thê, nhưng vẫn quy định chế độ bất bình đẳng giữa vợ và chồng, bảo vệ quyền gia trưởng, phân biệt đối xử giữa các con… Một trong những quy định không phù hợp với thực tiễn là cấm ly hôn Với những quy định này thì quan hệ giữa các thành viên gia đình cũng đã có nhiều thay đổi so với thời kỳ phong kiến, nhưng nhìn chung vẫn là sự bất bình đẳng, do
đó không thể tránh khỏi sư xâm phạm quyền lợi giữa các thành viên
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: Nước ta hoàn toàn độc lập, kết thúc cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa VI đã thống nhất đặt tên nước, cùng với đó Nghị quyết 76/1977/CP của Hội đồng chính phủ quy định về việc thực hiện pháp luật thống nhất trên phạm vi cả nước
Trang 39Năm 1980, Quốc hội khóa VI, kỳ hợp thứ 7 đã chính thức thông qua bản Hiến pháp thứ ba Bản Hiến pháp này dành bốn Điều 38, 47, 63, 64 để quy định về các nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa Lúc này tình hình đất nước đã có nhiều thay đổi, nhiều quan hệ xã hội nói chung và quan hệ trong gia đình nói riêng đã không còn như những năm 1959 Luật HN&GĐ 1959 đã hoàn thành vai trò của nó Đòi hỏi của thực tiễn cần có luật HN&GĐ mới phù hợp để thúc đẩy xã hội phát triển Năm 1986, Luật HN&GĐ mới được thông qua, trên cơ
sở đã kế thừa luật HN&GĐ 1959 Luật HN&GĐ năm 1986 được xây dựng trên năm nguyên tắc, một số nguyên tắc đã được sửa đổi cho phù hợp với thực tế Đó là: Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ; nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng; nguyên tắc vợ chồng bình đẳng; bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con; bảo
vệ bà mẹ và trẻ em Luật HN&GĐ năm 1986 đã góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ, xây dựng gia đình xã hội chủ nghĩa thật sự dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc và bền vững, góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Tình hình trong nước và thế giới thay đổi nhanh chóng đã tác động không nhỏ đến các quan hệ hôn nhân và gia đình Thêm vào đó, Luật HN&GĐ năm 1986 ban hành vào đầu thời kỳ đổi mới, sau hơn 10 năm thực hiện, thực tiễn cho thấy đã có nhiều vướng mắc trong giải quyết tranh chấp, điều này đòi hỏi cần phải sửa đổi Luật HN&GĐ cụ thể và toàn diện hơn cho phù hợp với tình hình mới Năm 1992, Quốc hội đã ban hành Hiến pháp mới, Hiến pháp năm 1992 này đã dành năm điều
là 30, 35, 40, 63, 64 để quy định về chế độ hôn nhân và gia đình Trên cơ sở pháp
lý này luật HN&GĐ đã được ban hành năm 2000 và mới đây nhất là luật HN&GĐ
đã được ban hành năm 2014 tiếp tục kế thừa và phát triển hệ thống luật HN&GĐ trước đây Nhiều quy định trong luật HN&GĐ thể hiện tính phù hợp với sự nghiệp đổi mới đất nước của Đảng và phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường
1.5 Sự cần thiết điều chỉnh của pháp luật về gia đình
Trang 40Trong chừng mực nào đó, có thể hiểu hôn nhân và gia đình là tập hợp các quy định chi phối sự thành lập và vận hành của gia đình Có ba sự kiện cơ bản liên quan đến gia đình mà từ việc phân tích ba sự kiện ấy, người làm luật đề ra các quy tắc của mình: sự phối hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhằm xây dựng cuộc sống chung; sự sinh con và việc giáo dục con Vai trò của luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được xác định tùy theo kết quả xác định mối quan hệ giữa Nhà nước và gia đình, hay đúng hơn, tùy theo mức độ tự chủ của gia đình đối với Nhà nước, trong quá trình hình thành và phát triển của các sự kiện ấy
Pháp luật điều chỉnh về gia đình có sự khác nhau trong từng giai đoạn lịch
sử, tùy thuộc vào vị trí vai trò của gia đình trong xã hội mỗi thời kỳ Gia đình tự chủ, về phần mình, được tổ chức theo mô hình Nhà nước quân chủ và được đứng đầu bởi một người chủ gia đình với những quyền hạn rộng rãi trong quan hệ với các thành viên khác Quyền tự do cá nhân trong gia đình tự chủ thường được đặt ở
vị trí thứ yếu so với lợi ích của gia đình
Luật đóng vai trò tích cực, một khi gia đình được coi như một tập hợp nhỏ của một số thành viên của xã hội khi gia đình xã hội đều được trao trách nhiệm đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của thành viên đó, nghĩa là trong điều kiện quan hệ gia đình cần được xã hội hóa Gia đình xã hội hóa được tổ chức theo
mô hình của Nhà nước dân chủ Quyền tự do cá nhân trong gia đình được luật thừa nhận và bảo vệ; quan hệ giữa các thành viên trong gia đình chịu sự chi phối của cùng hệ thống quy tắc áp dụng để điều chỉnh quan hệ giữa các thành viên trong xã hội
Luật cũng có thể đóng vai trò phụ trợ trong một số trường hợp và tích cực trong một số trường hợp khác, một khi gia đình được coi như một tập hợp nhỏ của một số thành viên của xã hội, nhưng lại là một tập hợp đặc biệt gồm các thành viên gắn bó với nhau do quan hệ thân thuộc hoặc hôn nhân Gia đình được tổ chức dựa