Trong thực tiễn tố tụng đã phát sinh rất nhiều bất cập liên quan đến người đại diện theo pháp luật của đương sự như xác định sai về địa vị pháp lý của người đại diện theo pháp luật, quyề
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ THU HOÀI
ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA ĐƯƠNG
SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ THU HOÀI
ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA ĐƯƠNG
SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN ANH TUẤN
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực.Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHẠM THỊ THU HOÀI
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự 8
1.1.1 Khái niệm về người đại diện theo pháp luật của đương sự 8
1.1.2 Đặc điểm của người đại diện theo pháp luật của đương sự 12
1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về người đại diện theopháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự 15
1.2.1 Đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân 16
1.2.2 Đảm bảo quyền tranh tụng của đương sự 16
1.2.3 Đảm bảo người đại diện có đủ khả năng bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự 18
1.2.4 Mối liên hệ giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng dân sự trong việc xây dựng các quy định về người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự 19
1.2.5 Đảm bảo điều chỉnh phù hợp đối với từng loại đại diện 21
1.3 Vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam 22
1.4 Lược sử về sự hình thành và phát triển các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự 23
1.4.1 Nguồn gốc xuất hiện của quy định về đại diện 23
1.4.2 Quy định về đại diện theo Luật Hồng Đức và Luật Gia Long 24
1.4.3 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945 25
1.4.4 Giai đoạn từ Cách Mạng tháng Tám 1945 đến năm 2004 26
1.4.5 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay 27
Trang 51.5 Pháp luật một số nước trên thế giới về người đại diện theo pháp luật của
đương sự trong tố tụng dân sự 29
1.5.1 Quy định về người đại diện của đương sự trong BLTTDS của Cộng hòa Pháp 30
Bộ Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam năm 2004 (BLTTDS) về cơ bản cũng được xây dựng trên cơ sở thủ tục tố tụng xét hỏi của các nước theo hệ thống luật châu Âu lục địa như BLTTDS mới của Pháp năm 1975 nhưng có kết hợp các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng của các nước theo hệ thống pháp luật án lệ Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều quy định về đại diện theo quy định của BLTTDS pháp, đặc biệt là những quy định về người đại diện của đương sự cụ thể là các quy định của BLTTDS Pháp về phạm vi những người đại diện: cha, mẹ, người trực thuộc bàng hệ, hay người thân thích Quy định về chấm dứt đại diện cũng được Bộ Luật tố tụng dân sự 2004 áp dụng và được thay thế bằng BLTTDS năm 2015 30
1.5.2 Quy định về người đại diện của đương sự trong BLTTDS của Liên Bang Nga 31
1.5.3 Quy định về người đại diện của đương sự trong BLTTDS của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 32
NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 35
2.1 Các quy định về chủ thể đại diện 35
2.2 Các quy định về điều kiện của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự 42
2.2.1 Căn cứ pháp lý xác lập quyền đại diện 43
2.2.2 Điều kiện về chủ thể 44
2.2.3 Điều kiện về hình thức 50
2.3 Quy định về phạm vi tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự 51
2.3.1 Phạm vi tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật 51
2.3.2 Vượt quá phạm vi đại diện và hậu quả pháp lý 53
2.4 Quy định về quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự 53
Trang 62.4.1.Quyền và nghĩa vụ chung của người đại diện theo pháp luật 53
2.4.1.1 Quyền của người đại diện theo pháp luật của đương sự 53
2.4.1.2 Nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự 58
2.4.2 Về quyền và nghĩa vụ tố tụng cụ thể của người đại diện 59
2.5 Các quy định về chấm dứt đại diện và hậu quả pháp lý 61
2.5.1 Về các trường hợp chấm dứt đại diện theo pháp luật 61
2.5.2 Về hậu quả pháp lý của việc chấm dứt đại diện theo pháp luật 63
CHƯƠNG 3 65
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ 65
3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định về đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự 65
3.1.1 Về kết quả thực thi pháp luật 65
3.1.2 Về hạn chế, vướng mắc trong thực hiện quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự 68
3.1.3 Về nguyên nhân của hạn chế trong thực tiễn thực hiện các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự 80
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự 81
KẾT LUẬN CHUNG 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Người đại diện là một chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.Và với xu thế phát triển của xã hội văn minh, đại diện luôn là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội cũng như trong môi trường pháp lý Điều 16
Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị
phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế văn hóa xã hội” Đó cũng là
một trong những nguyên tắc quan trọng của tố tụng dân sự theo đó mọi cá nhân, tổ chức đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng đã quy định về nguyên tắcbình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự Theo đó, trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, địa vị xã hội.Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án.Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự Các đương sự đều được pháp luật trao cho các quyền tố tụng dân sự làm phương tiện để bảo vệ quyền lợi của mình trước Tòa án, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ tố tụng nhất định, hợp tác với Tòa án trong giải quyết vụ việc dân sự Tuy nhiên, trong những trường hợp đương sự là cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì bản thân họ không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức thì việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của họ cũng cần phải được thực hiện thông những chủ thể đại diện được pháp luật thừa nhận Do vậy, cần có cơ chế đại diện để bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự được thực hiện trên thực tế
Quan hệ tố tụng dân sự là quan hệ hình thức phản ánh các quan hệ pháp luật nội dung thuộc các ngành luật khác như luật dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, thương mại nên quan hệ tố tụng dân sự phản ánh thuộc tính của các quan hệ pháp luật nội dung như tính bình đẳng, thoả thuận, tự do, tự nguyện và quyền tự định
Trang 9đoạt của các đương sự Việc đặt đương sự vào vị trí trung tâm của toàn bộ quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, xác định tư cách của các đương sự, quyền và nghĩa vụ của các đương sự, mối quan hệ giữa người tham gia tố tụng với cơ quan tiến hành tố tụng, với người tiến hành tố tụng được xem là vấn đề trọng tâm của ngành luật tố tụng dân sự Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015 thay thế sửa đổi BLTTDS năm 2004, được sửa đổi bổ sung năm 2011 Bộ luật này được xây dựng trong quá trình nước ta có những chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, xã hội, nhằm thể chế hóa những đường lối chính sách, quan điểm, tư tưởng trong xây dựng pháp luật và cải cách tư pháp của Đảng, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và phát triển các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng trước đây Người đại diện theo pháp luật là một trong những bộ phận không thể thiếu trong
tố tụng dân sự Việc xác định đúng người đại diện theo pháp luật, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật là một điều hết sức quan trọng Vai trò và các hoạt động của người đại diện theo pháp luật có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với đương sự mà còn có vai trò quan trọng đối với cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng, đảm bảo quyền lợi của đương sự Chế định
về người đại diện hợp pháp của đương sự trong BLTTDS năm 2015 kế thừa và phát triển các quy định về người đại diện hợp pháp trong các văn bản pháp luật trước đó như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996, Bộ luật dân sự 1995, Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật tố tụng dân sự
2004, BLTTDS sửa đổi năm 2011 Người đại diện của đương sự được quy định tại Mục 2 Chương VI (từ Điều 85 tới Điều 90) và tại Phần thứ sáu Chương XXIII (Điều
367, Điều 368, Điều 369, 370) của BLTTDS năm 2015 Các quy định về người đại diện của đương sự tại BLTTDS năm 2015 đã khắc phục được đáng kể những hạn chế, bất cập trong các văn bản tố tụng trước đó Tuy nhiên, một số quy định về người đại diện của đương sự trong BLTTDS năm 2015 còn chưa đầy đủ, nhiều quy định còn thiếu tính cụ thể, rõ ràng, có những vấn đề cần thiết nhưng chưa được luật hóa…Các quy định về đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự của BLTTDS năm 2015 chủ yếu được dẫn chiếu tới các quy định chung về đại diện theo
Trang 10pháp luật trong Bộ luật dân sự 2015 Nhìn chung các quy định về đại diện theo pháp luật trong BLTTDS năm 2015 vẫn giữ nguyên các quy định trong Bộ luật Tố tụng dân
sự 2004 và phát triển trên cơ sở các quy định về đại diện trong Bộ luật dân sự 2015
Trong thực tiễn tố tụng đã phát sinh rất nhiều bất cập liên quan đến người đại diện theo pháp luật của đương sự như xác định sai về địa vị pháp lý của người đại diện theo pháp luật, quyền và nghĩa vụ của người được đại diện chưa cụ thể, chưa có các quy định rõ ràng về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, đại diện giữa vợ
và chồng khi ly hôn mà một bên bị mắc bệnh tâm thần, các quy định về vấn đề này có
có nhiều mâu thuẫn với các quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chưa quy định rõ các nội dung mà người đại diện theo pháp luật đại diện cho đương
sự khi tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho họ, quyền kháng cáo, kháng nghị của người đại diện theo pháp luật dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tố tụng, đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng dân sự.Đây có phải là do các quy định của pháp luật tố tụng dân sự chưa đầy đủ hay do ý thức, sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể tham gia tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng
Xuất phát từ vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự, thực tiễn pháp luật và thực tiễn trong quá trình tố tụng, vì vậy việc nghiên cứu về chế định người đại diện theo pháp luật của đương sự là nhu cầu cần thiết Các quy định của pháp luật hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về đại diện theo pháp luật của đương sự, cần phải có một sự nghiên cứu rõ ràng về chế định người đại diện theo pháp luật của đương
sự Vì vậy luận văn đã đi vào nghiên cứu một cách chi tiết và cụ thể về đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, từ lý luận đến thực tiễn để nghiên cứu và hoàn thiện hơn các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả về người đại diện của đương sự nói chung, và người đại diện theo ủy quyền Chẳng hạn như Luận văn thạc
sỹ luật học “Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn
Thị Ngọc Hà năm 2012 đã khái quát một cách chung nhất về đại diện theo pháp luật
và đại diện theo ủy quyền của đương sự; Khóa luận tốt nghiệp “Chế định người đại
Trang 11diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của Hồ Nguyên Bình
năm 2012; Bài viết in trên trang chủ của Bộ tư pháp - Mục nghiên cứu trao đổi về đề
tài: “Đại diện của đương sự-một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Minh Nhất đã
phân tích rõ được vai trò của người đại diện khi tham gia vào quá trình tố tụng; bài
viết “Bố mẹ có quyền đại diện cho con bị tâm thần khởi kiện xin li hôn hay không” của Tưởng Duy Lượng, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2006; “Người mù
không có người đạidiện có quyền khởi kiện dân sự” của Từ Văn Thiết, đăng trên Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 18/2006; các bài viết này đã đề cập đến các quy định trong trường hợp một trong các đương sự bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc
không có người đại diện thì ai là người đại diện cho họ Bài viết "Đại diện theo ủy
quyền, từ pháp luật nội dung đến tố tụng dân sự", của Nguyễn Minh Hằng, đăng trên
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5/2005 Bài viết “Một số suy nghĩ về Đại diện của
đương sự trong tố tụng dân sự” của Tưởng Duy Lượng, đăng trên Tạp chí khoa học
pháp luật, số 01(38), 2007; “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam
- nhìn từ góc độ Luật so sánh”, của tác giả Ngô Huy Cương, đăng trên Tạp chí Nhà
nước và pháp luật số 4/2009 đã phân tích khái niệm đại diện, so sánh quy định về đại diện trong pháp luật Việt Nam với các quy định của pháp luật các nước trong cùng hệ thống pháp luật từ đó rút ra những điểm mạnh và hạn chế của quy định đó
Các công trình nghiên cứu về người đại diện theo pháp luật của đương sự còn
có nhiều hạn chế đã có một số bài viêt sau: “Một số vấn đề về người đại diện theo ủy
quyền và người đại diện do tòa án chỉ định trong tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn
Thị Hạnh- GV Học viện tư pháp đăng trên Tạp chí Nghề Luật số 06/2010; bài viết
“Giám hộ, đại diện trong Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự” của Thạc sỹ
Nguyễn Việt Cường - Chánh tòa Lao động TANDTC năm 2010, một số bài viết khác liên quan đến đại diện giữa vợ và chồng khi li hôn, đại diện theo pháp luật của pháp nhân….Cáccông trình trên được thực hiện trước khi có BLDS năm 2015 và BLTTDS năm 2015 và chủ yếu khai thác dưới góc độ bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự hoặc mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số khía cạnh về người đại diện theo pháp luật của đương sự, chỉ ra một số vướng mắc nhất định khi thực hiện quy định về đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng, chứ chưa nghiên c ứu một cách toàn di ện
Trang 12và chuyên sâu về đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Mới đây nhất có tác phẩm Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 do Thạc sỹ luật Đoàn Tấn Minh và luật gia Nguyễn Ngọc Điệp là những người có nhiều kinh nghiệm trong công tác xét xử đối với án dân sự biên soạn Tác phẩm đã phân tích được những điểm mới về đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự và những hạn chế của khi áp dụng thực tiễn các quy định Kết quả nghiên cứu của các công trình này là cơ sở, tiền đề quan trọng cho việc thực hiện một công trình nghiên cứu chuyên sâu về đại diện theo pháp luật của đương sự theo tinh thần của BLDS năm 2015 và BLTTDS năm 2015
Trên tình hình thực tế như vậy, Luận văn muốn đưa ra một nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện quy định về đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự từ lý luận đến thực tiễn, để từ đó đưa ra các kiến nghị để bổ sung và hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiên hành về đại diện theo pháp luật của đương sự, và làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về sau
Tìm ra nguyên nhân và đưa ra những giải pháp, đề xuất các kiến nghị nhằm xác định và nâng cao vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong
tố tụng dân sự
4 Tính mới và đóng góp của đề tài
Trang 13Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu cụ thể quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Các công trình chỉ dừng lại ở một mức độ khái quát về chế định người đại diện nói chung
Luận văn phân tích toàn diện, chuyên sâu về khái niệm, đặc điểm, vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự, việc phân loại đại diện, cơ sở xây dựng các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Luận văn đã phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về người đại diện theo pháp luật của đương sự cũng như thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật,
từ đó rút ra những hạn chế và đề xuất một số giải pháp nhằm kiến nghị và hoàn thiện pháp luật về người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong tố tụng dân sự Luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Người đại diện theo pháp luật của đương sự Luận văn không nghiên cứu về đại diện theo pháp luật trong hoạt động thi hành án, mà chỉ tập trung nghiên cứu về đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự tại Toà án Luận văn không nghiên cứu sâu toàn bộ các quy định về đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự từ trước đến nay, không nghiên cứu chuyên sâu về người đại diện của đương sự trong việc dân sự
mà chỉ tập trung nghiên cứu về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong vụ
án dân sự, đặc biệt là các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật dân
sự 2015 (có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017) và một số văn bản pháp luật khác có liên quan đến người đại diện theo pháp luật của đương sự trong vụ án dân sự
Tuy nhiên, để có thể triển khai đề tài một cách sâu sắc, việc nghiên cứu về lược sử các quy định có liên quan đến vấn đề nghiên cứu cũng được tiến hành Bên cạnh đó, Luận văn cũng nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp một số nước về người đại diện theo pháp luật như pháp luật Pháp, Nga, Trung Quốc để so sánh, tham khảo Ngoài ra, Luận văn còn nghiên cứu về thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật
về đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự tại một số Tòa án nhằm làm rõ hơn
Trang 14những hạn chế, vướng mắc, làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật về người đại diện theo pháp luật của đương sự
6 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận đề nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của học thuyết Mác-Lê Nin, gắn kết tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của đảng và pháp luật của Nhà nước về Hôn nhân và gia đình nói chung và việc chế định người đại diện theo pháp luật
Phương pháp nghiên cứu đề tài bao gồm một số phương pháp như phương pháp phân loại pháp lý, so sánh pháp luật, phân tích quy phạm, mô hình hóa và điểm hình hóa các quan hệ xã hội, phương pháp phân tích lịch sử, phân tích quan điểm, quan niệm, hệ thống hóa, thống kê, điều tra xã hội học.Phương pháp phân loại pháp lý được
sử dụng để xác định vấn đề cần làm rõ thuộc điều chỉnh của ngành luật nào, chế định nào được sử dụng để xác minh tính đúng đắn của vấn đề mà đề tài đang nghiên cứu
Phương pháp phân tích lịch sử, so sánh pháp luật được sử dụng trong nghiên cứu đề tài Bởi lẽ, chế định đại diện theo pháp luật của đương sự, phải được đặt trong mối liên hệ với lịch sử, với các quan điểm khác nhau về nó, so sánh với pháp luật mỗi quốc gia, để nhận thấy những giá trị đích thực của các quy phạm điều chỉnh về vấn đề đại diện theo pháp luật của đương sự
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự
Chương 2: Người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự theo pháp luật hiện hành
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT
CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự
1.1.1 Khái niệm về người đại diện theo pháp luật của đương sự
Thuật ngữ “Tố tụng dân sự” được hiểu là trình tự, thủ tục hoạt động do pháp
luật quy định cho việc xem xét giải quyết và thi hành các vụ việc dân sự Trong tố tụng dân sự, các chủ thể tham gia tố tụng bao gồm đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đại diện của đương sự, người làm chứng, người phiên dịch, người giám định Trong đó, người đại diện theo pháp luật của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự là một chủ thể đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tố tụng dân sự Để tìm hiểu rõ khái niệm người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự thì trước hết cần phải làm rõ bản chất của đại diện chủ thể có thể là người đại diện của đương sự
“Đương sự” là một khái niệm cơ bản khi tiếp cận dưới nhiều góc độ Đã có
nhiều khái niệm về đương sự được đưa ra nhưng theo Từ điển Tiếng Việt thì “đương
sự là người, là đối tượng trực tiếp của một việc đang giải quyết” [24, tr.346], còn theo
Từ điển Từ và ngữ Hán Việt thì đương sự là người có liên quan trực tiếp đến một việc Trong khoa học pháp lý thì đương sự được hiểu “là người có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong một việc khiếu nại hoặc một vụ án” [7, tr.165].Trong lĩnh vực
tố tụng dân sự, đương sự được hiểu là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách Về phương diện pháp luật, Khoản 1 Điều 68 BLTTDS năm 2015
đã đi theo hướng liệt kê các chủ thể có thể được coi là đương sự Theo đó, đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ
Trang 16liên quan BLTTDS năm 2015 đã quy định rõ hơn về đương sự so với BLTTDS sửa đổi năm 2011 theo hướng có sự phân biệt đương sự trong việc dân sự và trong vụ án dân sư Khi tham gia vào quan hệ pháp luật, các chủ thể thường tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ.Tuy vậy, trong một số trường hợp, các chủ thể khác có thể thay mặt đương sự để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ và từ đó hình thành quan hệ đại diện.Xét về lý luận thì yếu tố quyền, lợi ích là yếu tố chủ yếu để phân biệt đương sự với người đại diện của họ
Đại diện là một quan hệ pháp lý theo đó người đại diện độc lập thực hiện sự thể hiện ý chí làm phát sinh hậu quả pháp lý trực tiếp đối với người được đại diện Xét từ góc độ lý luận có thể thấy đại diện là một chế định pháp lý thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong cách thức tham gia vào giao dịch dân sự của các chủ thể.Vấn đề đại diện trong dân sự đã được đề cập trong một số giáo trình giảng dạy của các cơ sở đào tạo luật học Trang 157, Giáo trình Luật Dân sự của Trường Đại học Luật Hà
Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2002 định nghĩa “Đại diện là một quan hệ
pháp luật” Chủ thể của quan hệ pháp luật đó bao gồm người đại diện và người được
đại diện.Người đại diện nhân danh người được đại diện xác lập quan hệ với người thứ
ba vì lợi ích của người được đại diện Người được đại diện tiếp nhận những hậu quả pháp lý từ quan hệ do người được đại diện xác lập, thực hiện đúng thẩm quyền đại diện
Nghiên cứu pháp luật cho thấy BLDS năm 2015 đã định nghĩa “Đại diện là
việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập và thực hiện giao dịch dân sự” (Điều 134, khoản 1 BLDS 2015) Định nghĩa đại diện theo quy
định của BLDS 2015 đã chỉ rõ chủ thể đại diện là cá nhân và pháp nhân, khác với BLDS 2005 chỉ xác định đại diện là “một người” Nếu hiểu theo nghĩa hẹp của BLDS năm 2005 trước đây thì chỉ có cá nhân được tham gia đại diện cho chủ thể khác khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự BLDS 2015 đã mở rộng hơn chủ thể về đại diện, theo đó pháp nhân cũng là người đại diện, nhân danh cá nhân hoặc pháp nhân để tham gia quan hệ pháp luật Tuy nhiên, định nghĩa về đại diện trong Điều 139 BLDS
Trang 17năm 2005 và Điều 134 BLDS năm 2015 đều đi theo hướng đại diện là việc chủ thể này nhân danh và vì lợi ích của chủ thể khác Khi bình luận quy định của BLDS năm
2005 về đại diện, TS.Ngô Huy Cương đã nhận định nếu phân tích theo đúng chữ nghĩa của định nghĩa này, thì hành động của người được đại diện vượt ra ngoài phạm
vi đại diện, và việc gây thiệt hại cho người khác do phạm vi của người đại diện trong khi thực hiện đại diện có thể không nằm trong phạm vi điều chỉnh của chế định đại diện.Người đại diện thực hiện hành vi nhân danh người được đại diện nên cần phải có một giới hạn nhất định cho hành vi đó
Dưới góc độ tố tụng dân sự thì người đại diện của đương sự là người tham gia
tố tụng thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước tòa án Việc tham gia tố tụng dân sự của người đại diện của đương sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong trường hợp họ là người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi
tố tụng, giúp cho đương sự, cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ được sự thật của vụ việc, vụ án dân sự
Việc nghiên cứu cho thấy pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thường không có các quy định chi tiết về việc đại diện trong tố tụng dân sự Vấn đề đại diện trong tố tụng dân sự được dẫn chiếu theo các quy định của pháp luật dân sự Xét về bản chất thì đại diện trong tố tụng dân sự được thiết lập trên nguyên lý của đại diện trong quan hệ dân sự.Theo đó, người đại diện trong tố tụng dân sự phải nhân danh và vì lợi ích của đương sự trong phạm vi đại diện Đương sự được đại diện trong tố tụng dân sự có thể là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Họ là người đại diện theo pháp luật, tiếp nhận các hậu quả pháp lý từ quan hệ đại diện trong phạm vi thẩm quyền đại diện Đương sự được đại diện có thể là cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng dân sự chưa đủ hoặc bị hạn chế năng lực hành vi tố tụng nên theo quy định của pháp luật phải có người đại diện Các chủ thể là pháp nhân, tổ chức đại diện tập thể lao động đều hoạt động thông qua hành vi của những người có thẩm quyền đại diện cho chủ thể đó Cơ quan cá nhân, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Trang 18người khác cũng được coi là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ (khoản 2 Điều 85 BLTTDS năm 2015)
Pháp luật tố tụng dân sự không quy định như thế nào là người đại diện theo pháp luật của đương sự mà chỉ liệt kê người đại diện theo pháp luật của đương sự Theo Từ điển Luật học thì người đại diện là cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.Việc nghiên cứu cho thấy BLDS năm 2015 không quy định trực tiếp về khái niệm người đại diện theo pháp luật như đã được quy
định tại Điều 140 BLDS năm 2005: “Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật
quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định” Tuy nhiên, Điều 135 Bộ
luật này đã có quy định về căn cứ xác lập đại diện: “Quyền đại diện được xác lập
theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật)”
BLDS năm 2015 đã chia các loại đại diện theo pháp luật thành hai Điều khoản riêng biệt là đại diện theo pháp luật của pháp nhân (Điều 136 BLDS năm 2015) và đại diện theo pháp luật của pháp nhân (Điều 137 BLDS năm 2015) Theo đó, người đại diện theo pháp luật đối với cá nhân bao gồm cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định Người đại diện theo pháp luật đối với cá nhân còn có thể bao gồm người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện cho người chưa thành niên, người được giám hộ, người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án BLDS năm 2015 đã bỏ quy định về tại Khoản 5, khoản 6 Điều 141 BLDS năm 2005 về đại diện của chủ hộ gia đình đối với gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác
Trang 19Các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong Điều 85 BLTTDS năm 2015 đã dẫn chiếu tới các quy định về người đại diện theo pháp luật trong quan hệ dân sự được quy định tại Khoản 2 Điều 85 BLDS năm 2015 Theo quy định tại Điều 85 BLTTDS năm 2015 thì người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật; Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ BLTTDS năm 2015 có những quy định cụ thể hơn về người đại diện so với quy định tại Điều 75 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, Bộ luật này đã quy định rõ hơn về tổ chức đại diện tập thể người lao động tại
Khoản 3 Điều 85 BLTTDS năm 2015: “Tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại
diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động bị xâm phạm; tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng khi được người lao động ủy quyền”
Với những luận giải trên có thể nhận thấy về bản chất thì người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự là cá nhân, pháp nhân tham gia tố tụng nhân danh và vì lợi ích của đương sự, thay mặt đương sự trước Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật
Người đại diện theo pháp luật của đương sự khi tham gia vào quá trình tố tụng
có một vai trò rất quan trọng Một là, việc tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật của đương sự có tác dụng đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, nhất là trong trường hợp họ là những người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi tố tụng dân sự Hai là, việc tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật của đương sự còn có tác dụng nhất định trong việc làm rõ sự thật về vụ việc dân sự
1.1.2 Đặc điểm của người đại diện theo pháp luật của đương sự
Người đại diện theo pháp luật của đương sự mang đầy đủ các đặc điểm của đương sự - Người tham gia tố tụng, ngoài ra còn có một số đặc trưng:
Trang 20+ Người đại diện theo pháp luật của đương sự nhân danh đương sự tham gia
tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Người đại diện theo pháp luật cho đương sự không phải là chủ thể quan hệ của pháp luật nội dung đang tranh chấp, nên họ tham gia với tư cách là người thay mặt đương sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy nhiên, khác với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là tham gia tố tụng song song cùng đương sự và có vị trí pháp lý độc lập và không thay mặt cho đương sự, thì người đại diện theo pháp luật của đương sự thường tham gia tố tụng dân sự khi đương sự không tham gia tố tụng được hoặc không đủ khả năng để tham gia tố tụng tại Tòa án để nhân danh người được đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện
+ Người đại diện theo pháp luật của đương sự tham gia tố tụng trên cơ sở quan hệ đại diện
Người đại diện theo pháp luật của đương sự đồng thời tham gia hai mối quan hệ: quan hệ đại diện và quan hệ tố tụng Quan hệ đại diện là cơ sở để người đại diện của đương sự tham gia vào quan hệ tố tung Quan hệ đại diện có thể được xác lập trước hoặc sau khi Toà án tiến hành tố tụng Quan hệ đại diện là cơ sở để người đại diện của đương sự tham gia vào quan hệ tố tụng Quan hệ đa ̣i diê ̣n này có thể được hình thành trên cơ sở thỏa thuận ý chí giữa các bên (đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền) hoặc theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t (đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣t)
Đối với đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣t thì ph ạm vi các trường hợp người đại diện trong tố tụng dân sự được xác định theo pháp luật là tương đối rộng Quan hệ đại diện trong tố tụng dân sự có thể hình thành trên cơ sở quan hệ đại diện trong các quan hệ pháp luật nội dung hoặc được hình thành thông qua quyết định của Toà án Quan hệ đại diện trong tố tụng dân sự có thể mang tính đương nhiên do chủ thể đại diện đã là người đại diện trước đó trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động (trên cơ sở quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ giám hộ hoặc đại diện) hoặc có thể mới được Toà án chỉ định là người đại diện thay mặt cho đưong sự trong tố tụng dân sự
Trang 21Đây là một trong những đặc điểm quan trọng để phân biệt người đại diện với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự - một chủ thể tham gia tố tụng cũng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự nhưng không thay mặt cho đương sự như người đại diện.Khác với người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng với vị trí pháp lý tương đối độc lập với đương sự.Họ tham gia tố tụng trên cơ sở hợp đồng ký kết với đương sự hoặc người đại diện của đương
sự và được sự chấp thuận của Tòa án
+ Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự phụ thuộc vào quyền và nghĩa vụ của đương sự và bản chất của quan hệ đại diện
Người đại diện theo pháp luật của đương sự là người thay mặt đương sự thực hiện những quyền và nghĩa vụ mà bản thân đương sự đáng lẽ ra phải thực hiện Chính vì vậy quyền và nghĩa vụ của họ phụ thuộc vào đương sự và bản chất của quan hệ đại diện.Người đại diện của đương sự không tự nhiên có các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự Họ có các quyền, nghĩa vụ này là do pháp luật quy định hoặc do đương sự quyết định thông qua hợp đồng ủy quyền
Đối với đại diện theo pháp luật thì quyền, nghĩa vụ của người đại diện của đương
sự là quyền, nghĩa vụ của đương sự; còn đối với người đại diện theo ủy quyền thì họ chỉ
có các quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng ủy quyền Như vậy, dù là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền thì quyền và nghĩa vụ của người đại diện cũng đều phụ thuộc vào quyền, nghĩa vụ của đương sự và không vượt quá phạm vi các quyền và nghĩa vụ đó
Trong khi đó, vì có tư cách độc lập nên người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có các quyền và nghĩa vụ tố tụng riêng và được pháp luật quy định cụ thể Các quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không phụ thuộc vào hợp đồng pháp lý giữa họ với đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự Sở dĩ họ có các quyền, nghĩa vụ riêng biệt là do họ có tư cách độc lập, tham gia tố tụng nhân danh mình chứ không như người đại diện - nhân danh người khác
+ Đương sự là cơ quan tổ chức
Trang 22Người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan tổ chức khi tham gia tố tụng đối với những vụ việc mà đương sự đó tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, kinh doanh thương mại, lao động Còn đối với đương sự là cá nhân thì phạm vi tham gia tố tụng của họ không bị hạn chế trong bất cứ loại việc nào, bao gồm cả các quan hệ về hôn nhân gia đình Vì vậy, người đại diện theo pháp luật có toàn quyền khởi kiện và tham gia
tố tụng để bảo vệ quyền cho người được đại diện, kể cả quan hệ về nhân thân
Để thực hiện việc đại diện thì người đại diện của đương sự phải là người có năng lực hành vi tố tụng dân sự Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự Năng lực hành vi tố tụng dân sự có mối quan hệ mật thiết với năng lực hành vi dân sự Một chủ thể được xác định là có năng lực hành vi tố tụng dân sự nếu chủ thể có năng lực hành vi dân sự Người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì không thể thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước Tòa án được Theo quy định của pháp luật hiện hành, người có năng lực hành vi tố tụng dân sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên Vì vậy, chỉ những người này mới có thể trở thành người đại diện cho đương sự trong tố tụng dân sự
Cá nhân có năng lực dân sự từ khi sinh ra, pháp nhân có năng lực từ khi được thành lập hoặc đăng ký hoạt động Tuy nhiên, không phải cứ có năng lực pháp luật dân
sự là cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của mình ngay được mà phải đáp ứng được một số yêu cầu nhất định về độ tuổi, trí tuệ (đối với cá nhân); người đại diện (đối với pháp nhân) Ngoài ra, quyền và nghĩa vụ của người đại diện luôn gắn với quyền và nghĩa vụ của người được đại diện theo pháp luật, phụ thuộc vào người được đại diện Bởi lẽ, người đại diện theo pháp luật là người “thay mặt” cho đương sự thực hiện những quyền và nghĩa vụ của đương sự Chính là “thay mặt” nên người đại diện theo pháp luật chỉ có thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ của đương sự Người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự không tự nhiên có các quyền, nghĩa vụ khác ngoài quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự
1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về người đại diện theopháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự
Trang 231.2.1 Đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân
Quyền tiếp cận công lý là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức được biết về quá trình giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự, hành chính, lao động và các vụ án của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc quyền được biết quá trình giải quyết các vụ việc hoặc vụ án của cơ quan nhà nước thì quyền tiếp cận công lý chỉ là quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực tư pháp và chưa cho thấy mục đích của tiếp cận công lý Nếu chỉ là sự tiếp cận các quy trình tố tụng thì quyền tiếp cận công lý đồng nhất với quyền tham gia tố tụng của công dân, cơ quan, tổ chức.Những quyền này chỉ được thực hiện và đảm bảo thực hiện khi quá trình tố tụng đã được phát động
Quyền tiếp cận công lý với tư cách là quyền con người, đó là khả năng của chủ thể yêu cầu nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để sử dụng pháp luật nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của mình tại cơ quan nhà nước khi có tranh chấp hoặc xử
lý vi phạm pháp luật, thể hiện ở những mặt sau: quyền tiếp cận thông tin pháp luật; quyền trợ giúp pháp lý, quyền tiếp cận giáo dục đào tạo pháp luật các quyền này được thực hiện bởi một hệ thống tư pháp công bằng và hiệu quả
Muốn tiếp cận công lý một cách dễ dàng, dân chúng phải có trình độ hiểu biết nhất định về pháp luật Quyền tiếp cận công lý của người dân là một trong những yếu
tố cơ bản để xây dựng quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự; người đại diện theo pháp luật của đương sự có tham gia vào quá trình tố tụng, hiểu biết được pháp luật và những quy tắc xử sự khi áp dụng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện Vì vậy, việc có những quy định rõ ràng về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự, góp phần dảm bảo quyền và lợi ích của đương sự, đảm bảo các quyền tiếp cận công lý của công dân
1.2.2 Đảm bảo quyền tranh tụng của đương sự
Khi xét xử, Tòa án phải đảm bảo mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp,
Trang 24người đại diện để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện người đại diện theo pháp luật của đương sự tham gia vào quá trình tố tụng Để thực hiện nhiệm vụ nay, BLTTDS đã có nhiều quy định đề cao vai trò của đương sự trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án cũng như các quy định bảo đảm cho các bên đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình như nguyên tắc cung cấp chứng cứ vào chứng minh (Điều 6, Điều 7 BLTTDS năm 2015), nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của các đương sự (Điều 9 BLTTDS năm 2015), các quy định về quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự (từ Điều 70 đến Điều 74 BLTTDS năm 2015)…
Quyền tranh tụng của đương sự đã được quy định tại khoản 20 Điều 70 BLTTDS năm 2015 và nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong xét xử được quy định tại Điều 24 BLTTDS năm 2015 Theo quy định này thì các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền tranh luận trong suốt quá trình Tòa
án giải quyết vụ án dân sự kể từ khi đương sự có yêu cầu và Tòa án thụ lý cho đến khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền đưa ra yêu cầu; có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu trữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án; có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp cần thiết để bảo đảm chứng cứ trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc say này khó có thể thu thập được; có quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ
án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá…Các đương sự được bình đẳng trong việc thực hiện quyền tranh luận nên Tòa án không được phân biệt đối xử giữa họ
Ngoài ra, Tòa án còn có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tạo điều kiện cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh luận để ra bản án, quyết định đúng pháp luật như các
Trang 25đương sự đều phải được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng, giải thích cho đương sự quyền tranh luận của họ, tạo điều kiện cho họ biết, sao chụp các chứng cứ, tài liệu do người khác cung cấp hoặc Tòa án thu thập
Người đại diện theo pháp luật của đương sự đại diện cho đương sự tham gia vào quá trình tố tụng, nhân danh đương sự thực hiện các hoạt động hành vi liên quan đến vụ kiện, vì vậy người đại diện theo pháp luật của đương sự có đầy đủ các quyền
và nghĩa vụ giống như đương sự, có quyền tranh tụng như đương sự, tham gia vào quá trình tranh tụng để đảm bảo Tòa án có thể đưa ra bản án đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự theo đúng quy định của pháp luật
1.2.3 Đảm bảo người đại diện có đủ khả năng bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự
Quá trình tố tụng nói chung và quá trình tố tụng dân sự nói riêng khá phức tạp,
vì vậy không phải ai cũng có thể làm tốt việc bảo vệ quyền và lợi ích cho người khác
Do vậy, về chủ quan người đại diện của đương sự phải có đủ năng lực cần thiết, có những mối liên hệ nhất định đủ tin cậy để có thể suy đoán việc tham gia tố tụng của
họ là vì quyền lợi của đương sự và về khách quan, họ cần phải được pháp luật trao cho các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định để thực thi vai trò của mình Cụ thể như sau:
- Về mặt chủ quan:
Người đại diện phải là người có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, nếu có hiểu biết pháp luật thì càng tốt Việc người đại diện có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự là để họ có đủ khả năng đại diện, tự mình thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng, không bị phụ thuộc vào chủ thể khác Và đây cũng là lý do
để cơ quan, tổ chức không thể là người đại diện cho đương sự Hơn nữa; cơ quan, tổ chức là thực thể pháp lý; các hoạt động của nó đều phải thông qua một con người cụ thể, nên việc quy định cơ quan, tổ chức làm đại diện sẽ làm phức tạp hóa mối quan hệ (Đại diện hai lần) Ngoài ra, không phải ai cũng có thể làm một việc (tham gia tố tụng) vì lợi ích của người khác nên thường thì người đại diện phải là người được đương sự tin tưởng, giao phó hoặc có một mối liên hệ nhất định với đương sự như là
Trang 26cha mẹ, người giám hộ, người đại diện của cơ quan, tổ chức, trong các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.v.v Góc tiếp cận này là cơ sở để xây dựng các quy định về điều kiện của chủ thể có thể tham gia tố tụng dân sự với tư cách người đại diện của đương sự
- Về mặt khách quan:
Người đại diện theo pháp luật thay mặt đương sự tham gia tố tụng, họ phải bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Về mặt logic, người ta chỉ có thể đối đáp lại những gì mà họ biết; do đó để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự, người đại diện theo pháp luật của đương sự phải biết được đầy đủ và toàn diện các yêu cầu, chứng cứ và lý lẽ của những người tham gia tố tụng khác
Như vậy, trong quá trình tranh tụng người đại diện theo pháp luật của đương
sự phải được biết tất cả các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ, căn cứ pháp lý và lý lẽ chứng minh của đối phương hoặc chứng cứ do Tòa án thu thập Người đại diện theo pháp luật phải cung cấp chứng cứ của vụ kiện trong thời gian nhất định, hợp lý do Thẩm phán ấn định đủ để các bên tìm kiếm, thu thập chứng cứ và chuẩn bị cho việc biện hộ Góc tiếp cận này chính là nền tảng quan trọng để xác lập và xây dựng các quy định về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của người đại diện theo pháp luật của đương sự
1.2.4 Mối liên hệ giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng dân sự trong việc xây dựng các quy định về người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Việc xây dựng các quy định về đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự dựa trên bản chất của quan hệ pháp luật nội dung Quan hệ đại diện ra đời là để bảo
vệ những đối tượng thiệt thòi trong xã hội như người bị mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hay những người chưa thành niên đồng thời xác định cá nhân có thể đại diện cho một tổ chức tham gia tố tụng Cùng là quan
hệ đại diện, đại diện trong tố tụng dân sự và đại diện trong dân sự đều phải thể hiện được mục đích này.Chính vì vậy, các quy định về đại diện trong tố tụng dân sự sẽ có những điểm tương đồng với các quy định về đại diện trong luật dân sự
Trang 27Khác với các quan hệ hình sự hay hành chính thường manh tính chất áp đặt, bất bình đẳng giữa một bên mang và nhân danh quyền lực Nhà nước với một bên bị buộc phải tuân theo những quyết định mà không thể nhờ người khác làm thay, quan hệ đại diện theo pháp luật chủ yếu có mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho những người không có đủ điều kiện thực hiện những hành vi nhất định để tự bảo vệ, hay đem lại quyền lợi cho chính mình Đại diện theo pháp luật trong dân sự hay đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự đều thể hiện được mục đích này
Hơn nữa, hoạt động tố tụng dân sự có mục đích là giải quyết các tranh chấp trong dân sự, nên các chủ thể đại diện cho các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp trong các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thông thường sẽ tiếp tục là chủ thể đại diện trong quan hệ tố tụng dân sự, trừ trường hợp đại diện mang tính chất vụ việc Ngoài ra, quan hệ đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự chỉ xuất hiện khi có căn cứ nhất định, có thể trong quá trình tố tụng quan hệ đại diện mới phát sinh, và khi đó đại diện trong tố tụng dân sự sẽ không đồng nhất với đại diện trong quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
Với đặc trưng của hoạt động TTDS, người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự phải thỏa mãn những điều kiện riêng Nếu như trong giao dịch dân sự các chủ thể được bình đẳng với nhau thì trong hoạt động tố tụng dân sự, với sự tham gia của chủ thể mang quyền lực nhà nước là Toà án thì sự bình đẳng chỉ giới hạn trong số những người tham gia tố tụng Cần phải đảm bảo cho hoạt động của Toà án được khách quan, vô tư vì quyền lợi hợp pháp của đương sự
Do vậy, người đại diện của đương sự không thể đồng thời là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân giải quyết vụ việc, Toà án cần là chủ thể được trao quyền trong việc xác định điều kiện trở thành người đại diện của đương sự Đây là cơ sở cho việc xây dựng các quy định về phạm vi đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự
Trang 281.2.5 Đảm bảo điều chỉnh phù hợp đối với từng loại đại diện
Việc phân loại đại diện được thiết lập dựa trên cơ sở của việc hình thành quan
hệ đại diện là theo ý chí của đương sự hay theo quy định của pháp luật Đối với các quan hệ đại diện được xác lập do pháp luật quy định trước là người đại diện theo pháp luật Quan hệ đại diện được xác lập trên cơ sở nào sẽ quyết định ai sẽ là người
có thể đại diện, quyền và nghĩa vụ tố tụng của chủ thể này và sự chấm dứt của quan
hệ đại diện Chính vì vậy, căn cứ vào cơ sở của việc hình thành quan hệ đại diện là theo ý chí của đương sự hay theo quy định của pháp luật sẽ có hai loại đại diện tương ứng là người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo uỷ quyền
Với mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, pháp luật xác định cụ thể chủ thể có thể là người đại diện của đương sự hoặc cho phép một cơ quan có thẩm quyền quyết định theo trình tự, thủ tục luật định mà không xét đến ý chí của đương sự Trong trường hợp này, người được đại diện không có đủ năng lực hành vi nên pháp luật quy định cho người đại diện toàn quyền, nghĩa vụ của đương sự mà họ đại diện Đối với các chủ thể khác thuộc quan
hệ pháp luật nội dung thì chủ thể đại diện trong tố tụng dân sự được xác định là chủ thể đại diện trong quan hệ pháp luật nội dung trước đó
Như phân tích ở phần “Đảm bảo mối liên hệ giữa các quy định về người đại diện trong quan hệ nội dung và người đại diện trong tố tụng dân sự” thì ngoài trường hợp người đại diện trong quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động đương nhiên trở thành người đại diện cho đương sự trong tố tụng dân sự, trong tố tụng còn xuất hiện một loại đại diện theo pháp luật đó là đại diện do Toà án chỉ định khi đương sự chưa có người đại diện hoặc người đại diện thuộc trường hợp bị giới hạn (không được làm đại diện trong tố tụng dân sự)
Như vậy, nếu dựa trên sự khác biệt về cơ sở hình thành đại diện như tính chất đương nhiên của quan hệ đại diện hay theo ý chí của Toà án, sự khác biệt về thời điểm hình thành và chấm dứt việc đại diện có thể phân chia đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự làm hai loại là đại diện đương nhiên và đại diện do Toà án chỉ định Tuy nhiên, nếu căn cứ vào những điểm tương đồng như việc hình thành quan hệ
Trang 29đại diện không dựa theo ý chí của đương sự mà theo quy định của pháp luật, sự tương đồng về quyền và nghĩa vụ tố tụng được xác lập thì có thể coi người đại diện theo pháp luật bao hàm cả người đại diện đương nhiên và đại diện do Toà án chỉ định
1.3 Vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam
Theo cách giải thích trong Từ điển tiềng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm
2003 thì khái niệm “vai trò” được hiểu là “tác dụng, chức năng của một vật, một cá thể, một sự kiện một cái gì đó” [24, tr.1095]
Như vậy nói đến vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong
tố tụng dân sự là nói đến những tác động, ảnh hưởng của người đại diện theo pháp luật đối với từng cá nhân tổ chức trong tố tụng dân sự, thông qua hoạt động đại diện của mình, nói đến những tác động, ảnh hưởng của người đại diện đối với từng cá nhân tổ chức trong tố tụng dân sự thông qua hoạt động đại diện của mình, là nói đến những tác động, ảnh hưởng của đại diện đối với quá trình xây dựng và phát triển tạo lập công bằng xá hội Vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự được thể hiện ở những đặc điểm sau:
Một là, việc tham gia tố tụng của họ có tác dụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, nhất là trong các trường hợp họ không có, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi tố tụng dân sự
Hai là, việc tham gia tố tụng của họ còn có tác dụng nhất định trong việc là rõ sự thật của vụ việc dân sự.Bên cạnh đó hoạt động của họ còn thúc đẩy sự dân chủ tiến bộ của xã hội, góp phần hoàn thiện, bảo vệ nên pháp chế xã hội chủ nghĩa Việc xác định đúng đắn vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng Các hoạt động của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự có tác động không chỉ đến hoạt động của những người tham gia tố tụng mà đến cả hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng
Đối với đương sự, việc xác định đúng vị trí, vai trò của người đại diện sẽ giúp cho họ phân biệt được tư cách tham gia tố tụng của người đại diện (chủ thể thay mặt
Trang 30đương sự) và người bảo vệ quyền lợi của đương sự (chủ thể giúp đỡ, hỗ trợ đương sự
về mặt pháp lý).Từ đó họ có thể nhận thức và lựa chọn được cách thức bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình cho phù hợp Ngoài ra, thông qua việc lựa chọn người đại diện của đương sự là những người am hiểu pháp luật như luật sư sẽ giúp đương sự
có thể bảo vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình Người đại diện của đương sự không có năng lực hành vi tố tụng dân sự sẽ có năng lực cần thiết để thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng được pháp luật quy định để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự
Đối với cơ quan tiến hành tố tụng thì việc đánh giá đúng vai trò của người đại diện sẽ tạo ra sự phối hợp cần thiết giữa Tòa án và người đại diện trong việc đi tìm ra sự thật, qua đó đảm bảo những quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà mình đại diện Đối với đương sự, việc xác định đúng vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự sẽ giúp cho họ biết được cách thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Qua người đại diện theo pháp luật, không những họ bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn nâng cao được hiểu biết
về pháp luật, tôn trọng, tuân thủ pháp luật Ngoài ra, chính bản thân người đại diện theo pháp luật của đương sự cũng cần được xác định đúng vai trò của mình trong
tố tụng dân sự Nếu xác định đúng vị trí, vai trò của mình, họ sẽ tự tin chủ động hơn trong việc thay mặt đương sự thực hiện những quyền và nghĩa vụ nhất định.Họ biết mình sẽ phải làm gì và làm như thế nào để thực hiện tốt chức trách của họ - những người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự
1.4 Lược sử về sự hình thành và phát triển các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự
1.4.1 Nguồn gốc xuất hiện của quy định về đại diện
Chế định đại diện xuất hiện đầu tiên trong luật La Mã Nhưng vào thời gian trao đổi buôn bán đã phát triển mạnh, Luật La Mã vào thời kỳ phát triển nhất vẫn chưa có việc một người đại diện cho người khác ký kết một hợp đồng, nguyên nhân Luật La Mã vẫn không chấp nhận vấn đề đại diện do tính cách trọng hình thức đối
Trang 31với hợp đồng và thời kỳ đó đã tồn tại một quy tắc mà theo đó hợp đồng phải do chính
cá nhân ký kết “ai không tham gia vào quan hệ trách nhiệm thì trách nhiệm không
ảnh hưởng tới người đó” Những mầm mống đầu tiên về đại diện đã xuất hiện trong
việc: “Những người phụ thuộc gia chủ không bao giờ có thể làm đại diện Gia chủ có
quyền hạn và trách nhiệm từ những hợp đồng do họ ký kết không phụ thuộc vào ý chí của người được ủy quyền và tất cả do người ủy quyền Trách nhiệm từ những hợp đồng này trước hết thuộc về người ký (gia chủ), còn những người phụ thuộc gia chủ chỉ nhận một phần trách nhiệm mà thôi”.Điều này thể hiện việc gia chủ sẽ đại diện
cho những người phụ thuộc thực hiện các giao dịch, người phụ thuộc thực hiện các giao dịch, người phụ thuộc tuy chỉ nhận phần nhỏ nhưng vẫn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi và chịu trách nhiệm từ giao dịch này Xã hội ngày càng phát triển thì việc đại diện càng quang trọng và có ý nghĩa to lớn thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển và đại diện cũng là một thước đo đánh giá sự phát triển của một xã hội Do đó các nước trên thế giới đã đưa chế định đại diện vào hệ thống pháp luật của mình trong đó có Việt Nam
1.4.2 Quy định về đại diện theo Luật Hồng Đức và Luật Gia Long
Nước Âu Lạc là nhà nước đầu tiên của chúng ta xuất hiện trên lịch sử Nhà nước phong kiến tự chủ của ta do các nhà Ngô - Đinh - Lê - Lý xây dựng dần dần thành nước Đại Việt ở thời nhà Lý Tuy nhiêm chưa có tài liệu nào ghi chép được sự ban hành pháp luật trong các thời vua nói trên Ngô, Đinh và Tiền Lê
Thời đại triều Lý (1010 - 1225) mở ra một giai đoạn mới của lịch sử dân tộc
và dưới triều lý đã có Luật thành văn Do đó, nên pháp luật thành văn đầu tiên ở nước
ta là nền pháp luật nhà Lý Mặc dù còn sơ khai nhưng cách thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các lĩnh vực của đời sống xã hội đã được nhà Lý quy định Luật pháp thời Lý cũng chưa có các quy định về người đại diện theo pháp luật
- Chế định đại diện theo Luật Hồng Đức:
Giai đoạn này là thời kỳ đỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền, nhiều lĩnh vực được chú trong phát triển đặc biệt là sự quan tâm đến hoạt động lập pháp với mục đích đáp ứng nhu cầu phát triển của bộ máy nhà nước phong kiến vào thế kỷ XV
Trang 32Đánh dấu mốc phát triển của hoạt động lập pháp trong giai đoạn này Bộ luật Hồng Đức đã giành hẳn hai chương: hôn độ và điền sản để quy định các mối quan hệ trong đời sống như thừa kế, hợp đồng, nghĩa vụ…chưa kể các quy định liên quan đến quan hệ pháp luật còn nằm rải rác ở các chương khác hoặc các văn bản luật riêng lẻ mà không đưa vào bộ luật Dù chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc các nhà làm luật nhà Lê vẫn xây dựng những đặc điểm riêng biệt của đời sống pháp luật Việt Nam
- Chế định đại diện theo Luật Gia Long:
Thời nhà Nguyễn đã bị ảnh hưởng, phụ thuộc nhiều vào chế độ phong kiến phương Bắc cho nên về Luật dân sự Bộ luật Gia Long hầu như chỉ lấy lại câu chữ của các quy định liên quan trong Bộ luật nhà Thanh Cho nên về cấu trúc thì Bộ luật Gia Long hoàn toàn khác với Bộ luật Hồng Đức
1.4.3 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945
Trước thời Pháp thuộc, pháp luật Việt Nam dường như không có sự phân biệt rạch ròi giữa dân sự và hình sự, cơ quan tài phán và cơ quan quản lý Các tranh chấp
về dân sự được giải quyết bởi người đứng đầu bộ máy cai trị các cấp theo các quy tắc chung về tố tụng được thiết lập để giải quyết các việc kiện cáo trong dân Dưới thời
Lê (1428 – 1788) các quy định này được ghi nhận trong Quốc triều Hình luật (1483)
và Quốc triều khám tụng điều lệ (1777).Đến thời Nguyễn (1802 – 1858 và 1858 – 1945) các quy định này tiếp tục được kế thừa trong bộ Hoàng Việt luật lệ (1812) Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của nho giáo nên pháp luật về tố tụng trong thời kỳ này đã hạn chế quyền đi kiện của một số thành viên trong gia đình
Việc nghiên cứu cho thấy các quy định về thủ tục tố tụng dân sự với tư cách là một thủ tục tố tụng riêng biệt có lẽ chỉ chính thức được du nhập vào miền Nam Việt Nam dưới thời Pháp thuộc bằng Nghị định 16/3/1910 Tiếp theo đó là Bộ dân sự tố tụng Bắc ban hành năm 1917 và Bộ Hộ sự thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942,
áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ BLDS Bắc kỳ và Dân luật Trung Kỳ quy định:
“Người ta phải chịu trách nhiệm không những tổn hại tự mình làm ra mà cả về sự tổn
Trang 33hại do những người mà mình phải bảo lãnh hay do những vật mình phải trông coi nữa”
Đoạn điều luật trên quy định về nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự của người giám hộ (bảo lãnh) nếu người được giám hộ gây thiệt hại, vì người giám hộ không thực hiện tốt nghĩa vụ giám hộ của mình nên phải chịu thay cho người được giám hộ
Có thể nhận xét rằng các quy định về tố tụng dân sự của Việt Nam dưới thời Pháp thuộc được xây dựng trên cơ sở tham chiếu và giản lược các quy định của BLTTDS Pháp 1807 cho phù hợp với đời sống của người dân bản địa Do vậy, các quy định về
tố tụng dân sự trong những bộ luật này chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật tố tụng dân sự Pháp
1.4.4 Giai đoạn từ Cách Mạng tháng Tám 1945 đến năm 2004
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, bộ máy tư pháp được tổ chức lại; Chủ tịch nước Hồ Chí Minh là người luôn quan tâm đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong giai đoạn này các quy định về đại diện của đương sự nói chung và đại diện theo pháp luật của đương sự nói riêng không được quy định cụ thể rõ ràng Từ năm 1989 trở đi với sự đổi mới cơ chế và mở cửa đất nước đã thúc đẩy sự ra đời của các văn bản về thủ tục tố tụng trong lĩnh vực tư pháp dân sự Vấn đề đại diện theo pháp luật của đương sự được quy định trong một số văn bản mới ban hành mặc dù vẫn còn rời rạc chưa thống nhất như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự 1989; Pháp lênh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994, BLDS năm 1995; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động 1996 Theo Khoản 3 Điều 21 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự, trong trường hợp đương sự là người vì có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không thể tham gia tố tụng được thì phải có người đại diện tham gia tố tụng hoặc nếu không có ai đại diện cho người chưa thành niên, người có nhược điểm
về thể chất hoặc tâm thần, người vắng mặt không có tin tức thì TA cử một người thân thích của đương sự hoặc một thành viên của một tổ chức xã hội làm người đại diện cho
họ [47] Quy định này đã trở thành tiền đề quan trọng để các nhà làm luật Việt Nam xây dựng các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong BLTTDS
Trang 34Theo Điều 22 Pháp lệnh này thì đương sự là công dân, người đại diện của đương sự theo quy định tại Điều 21 của Pháp lệnh có thể làm giấy ủy quyền cho luật sư hoặc người khác thay mặt mình trong tố tụng, trừ việc ly hôn và hủy việc kết hôn trái pháp luật
Đây là những văn bản quan trọng về TTDS, trong đó có các quy định về người đại diện của đương sự Nếu những quy định về người đại diện của đương sự trong giai đoạn trước quy định chưa cụ thể về chủ thể đại diện, quyền và nghĩa vụ của họ, việc thay đổi chấm dứt đại diện thì đến các văn bản này, những quy định về người đại diện của đương sự đã được sửa đổi và bổ sung khá nhiều, tạo điều kiện cho việc áp dụng trong thực tế.BLDS năm 1995 được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/06/2996 Có thể nói rằng BLDS 1995 là thành tựu lớn nhất của mười năm xây dựng hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam thời hiện đại Từ khi BLDS năm 1995 có hiệu lực đã hoàn thiện về chế định đại diện được quy định trước đó, cơ sở pháp lý được quy định cụ thể từ Điều 148 đến Điều 157
Đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự chưa được quy định bằng một văn bản có hệ thống và hoàn chỉnh, chỉ được áp dụng chủ yếu những văn bản của chế độ cũ (ở miền Nam), hoặc các văn bản hướng dẫn của TANDTC và một số cơ quan khác ở miền Bắc Khi áp dụng một số quy định mang tính chung nhất về đại diện theo pháp luật của BLDS năm 1995 vào thực tiễn đã bộc lộ nhiều thiếu sót bất cập, chưa cụ thể, chi tiết còn mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật và văn bản hướng dẫn
Đến năm 2001, để phát triển đội ngũ luật sư đáp ứng nhu cầu bào chữa của bị can, bị cáo; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ngày 25/07/2001, Nhà nước
đã ban hành Pháp lệnh Luật sư thay thế Pháp lệnh Luật sư năm 1987, Pháp lệnh này khẳng định luật sư tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hoặc người bảo vệ lợi ích hợp pháp cho các đương sự trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động và hành chính
1.4.5 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
Với những thiếu sót và sự không nhất quán của các Pháp lệnh trong giai đoạn
từ 1989 đến 2004, quá trình áp dụng pháp luật về người đại diện của đương sự đã gặp không ít khó khăn Trên cơ sở kế thừa và phát triển ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng
Trang 35trước đó đồng thời tiếp thu những thành tựu lập pháp của nhiều nước trên thế giới như Cộng hoà Pháp, Nga, Trung Quốc Năm 2004 các nhà lập pháp đã xây dựng BLTTDS chung thống nhất được Quốc hội thông qua ngày 15/05/2004, tại kỳ họp thứ năm BLTTDS 2004 đã được công bố vào ngày 24/06/2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005
BLTTDS 2004 đã dành 6 Điều (từ Điều 73 đến Điều 78) để quy định về vấn
đề người đại diện của đương sự Nhà nước ta cũng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định về phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS 2004; Nghị quyết Số 02/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của BLTTDS; Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “Chứng minh và chứng cứ”; Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm của BLTTDS”…Trong đó, đặc biệt là các quy định tại Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP
có hướng dẫn áp dụng các quy định về người đại diện của đương sự trong BLTTDS
Qua một thời gian thi hành BLTTDS năm 2004 đã xảy ra nhiều bất cập về xác định người đại diện, pháp nhân có được coi là người đại diện theo pháp luật cho cơ quan
tổ chức hay không, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự còn bị hạn chế trong nhiều loại việc Để kịp thời thực hiện công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự theo đúng quy định của pháp luật, hạn chế những vướng mắc của Luật
cũ Quốc Hội ban hành Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 Nghị quyết số: 60/2011/QH12 Nghị quyết về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự 65/2011/QH12 Nghị quyết 01/2012 Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “những quy định chung” của Bộ luật dân sự đã được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự Đã quy định và hướng dẫn giải thích các quy định về đại diện của đương sự
Ngày 25 tháng 11 năm 2015, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XII đã thông qua BLTTDS năm 2015 BLTTDS năm 2015 ra đời trên cơ sở kế thừa sửa đổi và bổ sung
Trang 36BLTTDS 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) BLTTDS năm 2015 đã dành 6 Điều ( từ Điều 86 đến Điều 90) để quy định về vấn đề người đại diện của đương sự So với những quy định của pháp luật tố tụng trước đây, vấn đề người đại diện của đương sự trong BLTTDS năm 2015 được quy định rõ ràng, cụ thể và có nhiều điểm mới, tiến bộ hơn nhưng cũng dựa trên các quy định về đại diện trong BLTTDS năm 2004 Theo Bộ Luật
tó tụng dân sự 2015, người đại diện của đương sự gồm có người đại diện theo pháp luật
và người đại diện theo ủy quyền Người đại diện theo pháp luật được thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình đại diện BLTTDS năm 2015
đã cho phép cha mẹ, người thân thích của người vợ hoặc người chồng làm đại diện khi một trong hai bên mất năng lực hành vi dân sự Ngoài ra, Bộ luật này còn có quy định cả
về những trường hợp không được làm người đại diện, việc chỉ định người đại diện trong
tố tụng dân sự, chấm dứt đại diện và hậu quả pháp lý của việc chấm dứt đại diện, bổ sung các quy định về phạm vi đại diện hơn so với quy định về phạm vi đại diện trong BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011
BLTTDS năm 2015 ra đời, chưa có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, Nhà nước
ta cũng ban hành văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị quyết số 103/2015/QH13 Nghị quyết về việc thi hành BLTTDSBLTTDS năm 2015; Nghị quyết 02/2016/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội về việc thi hành BLTTDS và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội về thi hành Luật tố tụng hành chính
BLTTDS năm 2015 đã quy định cụ thể hơn các quy định về đại diện đã quy định chi tiết và đầy đủ hơn so với BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 Nhưng vẫn có nhiều quy định chưa rõ ràng, có những vấn đề cần thiết nhưng chưa được luật hóa Chưa
có nhiều các văn bản hướng dẫn chi tiết về quy định đại diện theo pháp luật của đương
sự Tuy nhiên, vấn đề này sẽ được trình bày cụ thể và sâu sắc hơn tại Chương 2 của luận văn.Dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu kinh nghiệm lập pháp một số nước về người đại diện để có thêm cơ sở cho việc đánh giá luật thực định của Việt Nam về người đại diện của đương sự và đưa ra những kiến nghị cho phù hợp
1.5 Pháp luật một số nước trên thế giới về người đại diện theo pháp luật
Trang 37của đương sự trong tố tụng dân sự
1.5.1 Quy định về người đại diện của đương sự trong BLTTDS của Cộng hòa Pháp
BLTTDS của Cộng hòa Pháp với 1507 điều, ban hành năm 1806 và liên tục được sửa đổi, bổ sung nhiều lần cho tới nay Theo quy định tại Điều 18 Mục 7 Chương I, Thiên I BLTTDS Pháp: “Các đương sự có thể tự bào chữa cho mình, trừ các trường hợp phải có đại diện bắt buộc (BLTTDS mới – các Điều 751; 797; 813; 867; 950; 959; 973) Các trường hợp đại diện bắt buộc đó là các vụ việc được giải quyết tại Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng, Tòa thương mại sơ thẩm và Tòa phá án Nội dung cụ thể của chế định đại diện được quy định từ Điều 411 đến Điều 420 của Bộ luật này dưới tên gọi “Đại diện và trợ giúp tại Tòa án”
Pháp luật tố tụng dân sự Pháp quy định, “Một bên đương sự chỉ có thể nhờ một trong những người, thể nhân hoặc pháp nhân, có đủ tư cách theo quy định của pháp luật
để đại diện cho mình tại Tòa án” (Điều 414) Như vậy, Pháp luật tố tụng dân sự Pháp xác định rõ là một bên đương sự chỉ có thể có một đại diện, cá nhân hoặc pháp nhân
BLTTDS Pháp quy định cụ thể người được ủy quyền đại diện tại Tòa án được coi như có quyền hạn đặc biệt để rút đơn hoặc chấp nhận việc rút đơn, để đề xuất hoặc chấp nhận một lời đề nghị, một lời tự thú, một sự thỏa thuận (Điều 417) Tuy nhiên, quy định này có phần làm hạn chế quyền tự định đoạt của đương sự.Ngoài ra, Điều 419 Bộ luật này còn quy định về việc chấm dứt đại diện Theo đó, nếu muốn chấm dứt việc đại diện, người đại diện chỉ được miễn nhiệm sau khi đã thông báo ý định của mình cho người ủy quyền, cho thẩm phán và bên tranh chấp kia biết Trong trường hợp việc đại diện là bắt buộc, luật sư bào chữa hoặc luật sư đại diện chỉ được miễn nhiệm kể từ ngày có người thay thế do đương sự chọn hoặc do chủ nhiệm đoàn luật sư chỉ định (Điều 419)
Bộ Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam năm 2004 (BLTTDS) về cơ bản cũng được xây dựng trên cơ sở thủ tục tố tụng xét hỏi của các nước theo hệ thống luật châu Âu lục địa như BLTTDS mới của Pháp năm 1975 nhưng có kết hợp các yếu tố của thủ
Trang 38tục tố tụng tranh tụng của các nước theo hệ thống pháp luật án lệ Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều quy định về đại diện theo quy định của BLTTDS pháp, đặc biệt là những quy định về người đại diện của đương sự cụ thể là các quy định của BLTTDS Pháp về phạm vi những người đại diện: cha, mẹ, người trực thuộc bàng hệ, hay người thân thích Quy định về chấm dứt đại diện cũng được Bộ Luật tố tụng dân
48 đến Điều 54) để quy định về vấn đề người đại diện của đương sự
Khác với pháp luật Pháp, pháp luật Nga quy định “Việc tự mình tham gia tố tụng không cản trở sự tham gia tố tụng của người đại diện” (Điều 48).Với quy đinh này, đương sự và người đại diện của họ có thể cùng tham gia tố tụng
Về chủ thể, thông thường người đại diện của đương sự là các cá nhân.Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định những trường hợp người đại diện là cơ quan Cụ thể là “việc tham gia tố tụng để giải quyết tranh chấp của các tổ chức do người đại diện hoặc do cơ quan của những tổ chức đó thực hiện trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật, điều lệ cho phép” (Điều 48)
Về phân loại người đại diện, pháp luật tố tụng dân sự Liên bang Nga chia người đại diện thành người đại diện trong tố tụng dân sự, người đại diện
do Tòa án chỉ định và người đại diện theo pháp luật:
- Người đại diện trong tố tụng dân sự là “người có năng lực hành vi đầy
đủ và có văn bản ủy quyền theo đúng quy định của pháp luật, trừ những người quy định tại Điều 51 của Bộ luật này” (Điều 49) Như vậy, người đại diện trong
Trang 39tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Liên bang Nga tương
tự với người đại diện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
- Người đại diện do Tòa án chỉ định là luật sư do Tòa án chỉ định “làm người đại diện trong trường hợp bị đơn không có người đại diện, không rõ nơi sinh sống hoặc những trường hợp Liên bang quy định” (Điều 50)
- Người đại diện theo pháp luật gồm, “cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, người đỡ đầu, người giám hộ hoặc người khác được luật Liên bang quy định là người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người không có năng lực hành vi hoặc của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự” (Điều 52)
Về những trường hợp không được làm đại diện, BLTTDS năm 2003 của Liên bang Nga chỉ quy định “Thẩm phán, dự thẩm viên, kiểm sát viên không được làm đại diện trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp họ tham gia với tư cách đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách người đại diện theo pháp luật” (Điều 51)
BLTTDS năm 2003 của Liên bang Nga quy định về vấn đề đại diện có
sự giống nhau với các quy định về đại diện của Pháp luật Việt Nam BLTTDS năm 2003 của Liên bang Nga và BLTTDS năm 2015 của Việt Nam đều xây dựng các quy định về đại diện theo hướng: chủ thể có quyền đại diện, phạm vi đại diện, chỉ định người đại diện trong trường hợp các bên không thống nhất hoặc không có người đại diện, những trường hợp không được làm đại diện, chấm dứt và hậu quả chấm dứt hành vi đại diện đó
1.5.3 Quy định về người đại diện của đương sự trong BLTTDS của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
BLTTDS của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 7 thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 09/04/1991.Trong đó quy định một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là nguyên tắc đương sự có quyền tự mình hoặc nhờ người khác thay mặt mình tham gia tố tụng Người đại diện tố tụng này có thể là: “luật sư, những nhân
Trang 40thân gần gũi của đương sự, những người được toàn thể xã hội hữu quan hoặc người
do đơn vị sở tại cử và những công dân khác đều có thể được ủy nhiệm là người đại diện tố tụng” (Điều 58) Đối với những việc công nhân, thay đổi, từ bỏ yêu cầu tố tụng, tiến hành hòa giải, đưa ra yêu cầu phản tố hoặc kháng cáo, người ủy nhiệm phải
có sự ủy nhiệm đặc biệt của đương sự (Điều 59) Trong trường hợp quyền hạn của người đại diện trong tố tụng có thay đổi hoặc xóa bỏ, đương sự phải viết giấy báo cho Tòa án biết và Tòa án sẽ thông báo cho phía đương sự bên kia (Điều 60)
Luật tố tụng dân sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có những quy định khá giống với quy định của luật tố tụng dân sự Việt Nam, cụ thể là tại điều 58,
59 quy định về người đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền có nội dung rất gần với quy định tại Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam; Điều 61 quy định
về luật sư của đương sự có nội dung gần với quy định tại Điều 76 về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam Tuy nhiên, về vấn đề đại diện theo pháp luật của đương sự, Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam có quy định cụ thể và chặt chẽ hơn so với luật tố tụng dân sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa