1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ÔN tập tài nguyên khoáng sản biển

24 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 72,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ÔN TẬP TNKS BIỂN Câu 1. Các đặc điểm cơ bản của các yếu tố địa mạo cơ bản đáy đại dương: Thềm lục địa: Thềm lục địa hay cao nguyên lục địa bám vào đất liền có độ sâu không lớn (trung bình 70 80m) thay đổi từ 0 đến 200m và chiều rộng khá lớn (trung bình 70 80km). Đây là một phần ngập nước của lục địa và khác với lục địa ở chỗ là có lớp nước mỏng bao phủ và quá trình trầm tích liên quan với hoạt động địa chất trong Đệ tứ từ Pleistocen sớm đến hiện đại. Thềm lục địa theo độ sâu có thể chia làm hai đới: đới trong hay đới biển nông ven bờ, có độ sâu từ 0 – 50m nước và đới ngoài có độ sâu đến 200m. Đối với rìa lục địa tích cực độ sâu thềm lục địa có thể đạt tới vài ngàn mét song bề rộng lại hẹp hơn rìa thụ động. Sườn lục địa: Sườn lục địa có độ sâu tối thiểu là 200m và chìm sâu đến 3000 4000m trong trường hợp rìa thụ động và đến 5000 10.000m ở rìa lục địa tích cực. Góc nghiêng sườn lục địa từ 4 – 5o, có khi dốc có khi thoải song độ dốc này gấp khoảng 200 lần độ dốc trung bình của thềm lục địa. Kể cả thềm lẫn sườn lục địa đều bị chia cắt bởi các thung lũng và rãnh sâu (Canhon). Đỉnh của chúng có khi nằm sát đường bờ Trong phạm vi rìa lục địa thụ động sườn lục địa dần dần nghiêng về phía đại dương và chuyển sang chân lục địa. Ở đây chân lục địa có độ dốc 0,15 – 1o và có độ sâu 4000 5000m. Trên đó bị phân cắt bởi nhiều thung lũng, máng, lòng chảo có khi tạo nên hình khung cánh quạt. Chúng có thể nằm trên vỏ lục địa nhấn chìm hoặc vỏ đại dương Sườn và chân lục địa có địa hình lởm chởm phức tạp với nhiều ngọn núi, đồng bằng dưới nước và có những ngọn núi cao 2.000 3.000m đứng riêng lẻ (Seamounts)

Trang 1

ÔN TẬP TNKS BIỂN Câu 1

*Các đặc điểm cơ bản của các yếu tố địa mạo cơ bản đáy đại dương:

- Thềm lục địa:

Thềm lục địa hay cao nguyên lục địa bám vào đất liền có độ sâu không lớn (trung bình 70 - 80m) thay đổi từ 0 đến 200m và chiều rộng khá lớn (trung bình 70 - 80km) Đây là một phần ngập nước của lục

địa và khác với lục địa ở chỗ là có lớp nước mỏng bao phủ và quátrình trầm tích liên quan với hoạt động địa chất trong Đệ tứ từPleistocen sớm đến hiện đại Thềm lục địa theo độ sâu có thể chia làmhai đới: đới trong hay đới biển nông ven bờ, có độ sâu từ 0 – 50mnước và đới ngoài có độ sâu đến 200m Đối với rìa lục địa tích cực độsâu thềm lục địa có thể đạt tới vài ngàn mét song bề rộng lại hẹp hơnrìa thụ động

- Sườn lục địa:

Sườn lục địa có độ sâu tối thiểu là 200m và chìm sâu đến 3000 4000m trong trường hợp rìa thụ động và đến 5000 - 10.000m ở rìa lụcđịa tích cực Góc nghiêng sườn lục địa từ 4 – 5o, có khi dốc có khithoải song độ dốc này gấp khoảng 200 lần độ dốc trung bình của thềmlục địa Kể cả thềm lẫn sườn lục địa đều bị chia cắt bởi các thung lũng

-và rãnh sâu (Canhon) Đỉnh của chúng có khi nằm sát đường bờ

Trong phạm vi rìa lục địa thụ động sườn lục địa dần dần nghiêng vềphía đại dương và chuyển sang chân lục địa Ở đây chân lục địa có độdốc 0,15 – 1o và có độ sâu 4000 - 5000m Trên đó bị phân cắt bởinhiều thung lũng, máng, lòng chảo có khi tạo nên hình khung cánhquạt Chúng có thể nằm trên vỏ lục địa nhấn chìm hoặc vỏ đại dương Sườn và chân lục địa có địa hình lởm chởm phức tạp với nhiều ngọnnúi, đồng bằng dưới nước và có những ngọn núi cao 2.000 - 3.000mđứng riêng lẻ (Seamounts)

- Trũng đại dương:

Địa hình các trũng đại dương phần lớn được xác định bởi bản chất cácrìa lục địa liên quan với chúng.Chẳng hạn như chân của sườn lục địarìa thụ động thường gắn liền với vùng đồng bằng biển thẳm Trên bềmặt của chúng nhô lên một số ngọn núi đơn lẻ dưới nước và gặp ítthung lũng nông thuộc phần kéo dài các hẻm sâu từ sườn lục địa

Trong khi đó đáy đại dương rìa tích cực thường bị băm nát bởi các đứt

Trang 2

gãy Ở đây ngoài các núi cao trên 1.000m còn có vô số các đồi núibiển thẳm cao vài trăm mét Các đồi núi này ở rìa lục địa thụ động(yên tĩnh) cũng khá nhiều song bị chôn vùi dưới lớp trầm tích dày vàchỉ thấy trên mặt cắt địa chấn

- Sống núi trung tâm đại dương:

Các sống núi trung tâm đại dương chiếm khoảng 1/3 diện tích đạidương và có địa hình dương khá rõ nét của đại dương thế giới Trêncác sống núi nằm ở sâu khoảng 5000m, đỉnh núi thường đạt độ cao2500m, đôi khi nhô lên khỏi mặt biển Đây là đới "động" bởi hoạtđộng địa chấn tăng cao và hoạt động núi lửa mạnh Các sống núi nàykéo dài qua tất cả các đại dương và đạt trên 70.000km

Các sống núi bị chia cắt bởi rất nhiều đứt gãy chuyển dạng (đứt gãyngang) làm cho các khối bị xê dịch tương đối với nhau Các trục đốixứng của sống núi (đường sống lưng hay đỉnh núi) thường trùng vớithung lũng trung tâm với chiều rộng tương đối hẹp (gần 30km) và cắtsâu xuống (đến 2km) Các thung lũng này tương tự như rift lục địa chonên gọi là rift đại dương

Hình vẽ thể hiện các yếu tố địa mạo cơ bản đáy đại dương (theoLogvinenco, 1980)

*Một số loại hình khoáng sản biển: dầu khí, băng cháy, sa khoáng

biển, kết hạch sắt – mangan…

Trang 3

Câu 2

Định nghĩa

Dầu mỏ là một hỗn hợp hóa chất hữu cơ tự nhiên ở thể lỏng đậm đặc

màu nâu hoặc ngả lục có thành phần chính là những hợp chất củahydro carbon

Khí thiên nhiên là hỗn hợp chất khí cháy được bao gồm phần lớn là

các hydro cacbon, không ngưng tụ ở nhiệt độ khoảng và áp suất khíquyển, phổ biến nhất là khí mêtan

Ngay trong cùng một bể tỷ trọng dầu thô có xu thế giảm theo độ sâu

do nhiệt độ và lượng khí hòa tan tăng lên

+ Độ nhớt của dầu phụ thuộc vào lượng khí hòa tan và nhiệt độ Độnhớt tăng khi lượng khí và nhiệt độ giảm

+ Tính chất bay hơi và mùi: mỏ dầu luôn chứa lượng khí và chất bayhơi và có mùi khác nhau phụ thuộc vào thành phần của chất khí hòatan và bay hơi

+ Nhiệt lượng: nhiệt lượng của dầu mỏ thay đổi từ 9000 – 11000kcal/kg, dầu paraffin giàu hydro nên có nhiệt lượng cao hơn dầunaften và thơm

Trang 4

- Ngày 27 tháng 8 năm 1859 ở Oil Creek, Pennsylvania (Hoa kỳ)Edwin L.Drake tiến hành công cuộc khoan dầu được toàn thế giới biếtđến và tìm thấy mỏ dầu lớn đầu tiên chỉ ở độ sâu 21,2 m.

+ Ở Việt Nam

- Ngày 27/11/1961, Tổng cục Địa chất ra quyết định số 271-DC thànhlập đoàn thăm dò dầu lửa 36 Đây là tổ chức đầu tiên có nhiệm vụ tìmkiếm và thăm dò dầu khí ở Việt Nam

- Tháng 3/1975 đã phát hiện dòng khí thiên nhiên và condensat có giátrị thương mại tại giếng khoan 61 Tiền Hải-Thái Bình và đến năm

1981 bắt đầu khai thác từ mỏ khí Tiền Hải-Thái Bình

- Ngày 9/8/1975, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản ViệtNam ra quyết định số 224/NTQW về việc triển khai thăm dò dầu khítrên cả nước Ngày 3/9/1975, Chính phủ ban hành nghị định 170/CPthành lập Tổng cục dầu mỏ và khí đốt Việt Nam

- Ngày 6/7/1990, Chính phủ ra Quyết định số 250-HĐBT về việcthành lập Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trực thuộc Bộ công nghiệpnặng đến tháng 4/1992 trực thuộc chính phủ

- Ngày 29/5/1995, Chính phủ ban hành Quyết định số 37-CP và tổchức Tổng công ty Dầu khí Việt Nam và Quyết định 330/TTg về việcthành lập Tổng công ty Dầu khí Việt Nam có tên giao dịch quốc tế làViet Nam Oil and Gas Corporation, viết tắt là Petrovietnam

- Ngày 29/8/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số199/2006/QĐ-TTg thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí ViệtNam

Trang 5

+ Khi nguội đi các vật chất cứng hút lấy các khí đó, cuối cùng chúngngưng tụ trong vỏ quả đất tạo nên các mỏ dầu khí

- Nguồn gốc magma:

+ Các hydro cacbon là thành phần của dung thể magma trong điềukiện nhiệt độ và áp suất cao, cacbon và hydro kết hợp với nhau tạothành các hợp chất hydrocacbua, ban đầu chủ yếu là dạng mêtan

+ Tiếp theo khi nhiệt độ áp suất giảm xảy ra các quá trình trung hợpcác nguyên tử cacbon tạo nên các dạng hợp chất dưới dạng CnHm vàtùy theo trị số của n mà những hợp chất này có thể ở dạng thái khí (nnhỏ) và trạng thái lỏng (khi n lớn)

+ Hydrocacbua có thể thành tạo trong lòng quả đất do tác động củanước lên cacbua kim loại (chủ yếu là sắt) theo phản ứng:

+ Trong lịch sử địa chất, thời gian thuận lợi nhất co sự tạo dầu mỏ lànhững thời kỳ tạo núi, trong thời kỳ này đã hình thành các khe nứt sâutạo nên những con đường đi lên của hydrocacbua

- Nguồn gốc hữu cơ

+ Nguồn gốc động vật: Dầu mỏ được thành tạo từ mỡ các động vật bịchết, các chất mở biến thành dầu mỏ do sự chưng cất trong điều kiệnnhiệt độ và áp suất cao

+ Nguồn gốc thực vật: Sự biến đổi các di tích thực vật cạn trong điềukiện tích tụ là lớp phủ trầm tích xảy ra theo hướng tạo than, còn điềukiện lớp phủ không thấm và có áp suất lớn thì xảy ra theo hướng tạodầu

+ Nguồn gốc hỗn hợp: Đa số các nhà nghiên cứu ngày nay cho rằngvật liệu hữu cơ tạo nên dầu mỏ có nguồn gốc hỗn hợp

*Khu vực tích tụ và bảo tồn dầu mỏ thường là những miền biển nông, thềm lục địa, vũng vịnh là do:

+ Các loài sinh vật trong các miền ven bờ đều rất đa dạng và phongphú để cung cấp nguồn vật liệu hữu cơ sau khi chúng bị chết và chìmlắng xuống cùng các trầm tích vô cơ

Trang 6

+ MT không sâu lắm bởi vì sau khi chết sinh vật rơi xuống đáy chậmchạp, nếu lớp nước quá sâu, sinh vật sẽ bị oxy hóa và phân hủy bởi vikhuẩn ưa khí.

+ Chế độ thủy động học phải tương đối yên tĩnh, trầm tích vô cơ lắngđọng cùng với vật liệu hữu cơ phải là hạt mịn (sét, vôi, silic) để tránh

sự phá hủy của vi khuẩn ưa khí

+ Hidrocacbua tạo trong trầm tích phải là loại hạt mịn, lắng đọngkhông phải ở các đới ven bờ (nơi có sóng và giàu oxy), cũng khôngphải ở những đới quá sâu (nơi vật liệu hữu cơ dễ bị phân hủy trước khilắng đọng xuống đáy) mà ở những nơi có độ sâu vừa phải, môi trườngnước tương đối yên tĩnh và nghèo oxy

+ Quá trình sụt lún kiến tạo và đền bù trầm tích xảy ra liên tục tươngđối cân bằng, nhịp nhàng trong một giai đoạn địa chất lâu dài

+ Vật chất hữu cơ trong đá chịu quá trình biến đổi trong điều kiệnnhiệt độ và áp suất tăng cao đạt tới cửa sổ tạo dầu (ngưỡng sinh thànhhydrocacbon)

*Lô và phân lô:

+ Để quản lý được hoạt động dầu khí (tìm kiếm thăm dò, khai thác…)triển khai trên biển cả mênh mông, trải rộng toàn thềm lục địa ViệtNam với diện tích khoảng 1triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền) thìphải phân chia thành các lô và mã hóa tên cho chúng

+ Phân chia diện tích của một khu lớn thành những diện tích nhỏ hơngọi là “phân lô hoặc chia lô” Việc phân chia này rất cần thiết phục vụthuận lợi cho công tác quản lý

+ Để quản lý hoạt động dầu khí triển khai trên bển cả mênh mông trảirộng toàn thềm lục địa Việt Nam với diện tích khoảng 1 triệu km2 thìphải phân chia thành các lô và mã hóa tên cho chúng Phân lô thềmlục địa phía Nam Việt Nam (Diện tích 4000-6000km2, giới hạn bởicác đường kinh tuyến và vỹ tuyến)

Trang 7

* Hiện nay chúng ta mới hoạt động trên 160 lô của thềm lục địa Sau

khi phân lô, ta đặt tên cho chúng bằng cách đánh số thứ tự để mã hóa.Như vậy, ta có lần lượt lô số 01 đến lô 160 Mỗi lô mang tên số và tọa

độ (kinh độ-vĩ độ) 4 góc của lô

Những nước mà hoạt động dầu khí tiến hành trên đất liền (đồng bằng,đồi núi hoặc sa mạc) người ta cũng phân lô dựa trên cùng một nguyêntắc là các lô bị giới hạn bởi các đường kinh tuyến và vĩ tuyến

+ Khái niệm “Bể trầm tích” chỉ dùng cho những khu vực có chiều dày

trầm tích tương đối lớn (hàng nghìn m) và có chế độ kiến tạo tích cực Khái niệm này không dùng cho các khu vực có các thành tạo trầm tích

có chiều dày tương đối mỏng, phân bố rộng trên bề mặt đại dương.Hình dạng, kích thước bồn trầm tích: đa dạng, từ 3-5km2 đến hàngtrăm, hàng ngàn km2

Một bể trầm tích có thể tồn tại các mỏ và tích tụ dầu khí, bể trầm tích

đó được gọi là bể trầm tích dầu khí

*Quá trình hình thành dầu khí trong một bể trầm tích dầu khí:

+ Trầm tích lắng đọng trong các bể thành lớp này chồng lên lớp kháctheo thời gian Đồng thời, trong trầm tích có chứa vật chất hữu cơ ởdạng phân tán hay tập trung tuỳ thuộc vào loại đất đá và môi trườnglắng đọng

+ Đất đá chứa vật chất hữu cơ được chôn vùi trong bể trầm tích đếnmột độ sâu nhất định sẽ chịu tác động của nhiệt độ, từ đó vật chất hữu

cơ sẽ chuyển hoá thành bitum và tiếp tục bitum chuyển hoá thành dầuthô và khí hydro cacbon (hay còn gọi là khí thiên nhiên)

+ Tầng hoặc lớp đá chứa hàm lượng vật chất hữu cơ đủ lớn để có thểsinh ra dầu khí được các nhà địa chất gọi là tầng hoặc lớp đá sinh + Sau khi dầu khí được sinh ra, dưới tác động của thủy động lực tronglòng đất và lực trọng trường, chúng sẽ dịch chuyển hay còn gọi là di

cư đến những lớp đất đá có lỗ hổng để trú ngụ ở đó Tầng đất đá cónhiều lỗ hổng có dầu khí trú ngụ được gọi là tầng chứa dầu khí

Trang 8

+ Thông thường các lớp hoặc tầng đá có cấu trúc dạng mái vòm làthuận lợi nhất để tích trữ dầu khí và còn được gọi là vỉa hay tích tụdầu khí.

+ Thể tích hoặc khối lượng dầu khí tồn tại trong một hay nhiều vỉadầu khí được các nhà địa chất tính toán chính là trữ lượng của tích tụdầu khí đó

+ Nếu tích tụ dầu khí có trữ lượng đủ lớn, tức là có giá trị thương mạikhi tiến hành khai thác được coi là mỏ dầu khí

*Một số bể trầm tích có triển vọng về dầu khí trên thềm lục địa của Việt Nam: Bể Sông Hồng, bể Hoàng Sa, bể Phú Khánh, bể Cửu Long,

bể Nam Côn Sơn, bể Tư Chính- Vũng Mây, bể Trường Sa, bể Mã lai-Thổ Chu

Câu 6

*Trình bày đặc điểm cơ bản và tiềm năng dầu khí của các bể trầm tích Sông Hồng, Cửu Long và Nam Côn Sơn

-

Bể trầm tích Sông Hồng có diện tích khoảng 110.000 km vuông, bao

gồm toàn bộ vùng lãnh hải của Việt Nam từ Móng Cái đến QuãngNgãi và phần đất liền thuộc đồng bằng Bắc Bộ của các tỉnh HưngYên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình và Nam Định Bề dày trầmtích Cenozoic chỗ sâu nhất lên tới 12km bao gồm chủ yếu các tập cát,bột, sét nằm xen kẽ nhau Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở đâyđược tiến hành từ những năm 60 của thế kỷ trước với sự giúp đỡ củacác chuyên gia địa chất Liên Xô

Các giếng khoan đầu tiên gặp biểu hiện dầu khí chủ yếu nằm ở cáctỉnh Thái Bình và Hưng Yên ở độ sâu từ 1000m đến hơn 3000m Mỏkhí đầu tiên được phát hiện là mỏ “Tiền Hải C” và được đưa vào khaithác từ năm 1981, trở thành biểu tượng ngọn lửa của Ngành Côngnghiệp Dầu khí Việt Nam Cho đến nay, ở bể trầm tích Sông Hồng,ngoài mỏ Tiền Hải C, chúng ta đã có các mỏ và phát hiện dầu khí khácnhư: Đông Quan D, B10, Hồng Long, Hoàng Long, Yên Tử, HàmRồng, Hàm Rồng Nam, Hàm Rồng Đông, Thái Bình, Hạ Mai, BáoVàng, Báo Đen, Báo Gấm, Bạch Trĩ, Cá Voi Xanh Về tiềm năng dầukhí, bể trầm tích Sông Hồng được xếp thứ 3 ở trên thềm lục địa ViệtNam, đứng sau các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn

Trang 9

- Bể trầm tích dầu khí Cửu Long có diện tích khoảng 36.000 km2,

nằm dọc theo bờ biển Vũng Tàu- Bình Thuận Ranh giới phía Tây vàTây Bắc của bề là đất liền, phía Bắc và Đông Bắc là Đới nâng PhanRang ngăn cách bể với bể Phú Khánh, Phía Đông và Nam là Đới nângCôn Sơn ngăn cách bể với bể Nam Côn Sơn Độ sâu nước biển ởtrong phạm vi của bể nhìn chung là nông, nơi sâu nhất đến 80- 90 m.Trầm tích Cenozoic ở đây chủ yếu là các tập cát, sét và bột xen kẽnhau, đôi chỗ có mặt đá núi lửa với tổng bề dày đạt tới khoảng 8.000

m Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở đây được bắt đầu từ nhữngnăm 70 của thế kỷ trước Ở bể trầm tích dầu khí Cửu Long đã có mộtkhối lượng khảo sát địa chấn và khoan lớn nhất trong tất cả các bểtrầm tích dầu khí của Việt Nam và đã phát hiện các mỏ dầu khí lớnnhư Bạch Hổ, Rồng, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Sư Tử Trắng, Sư TửNâu, Tê Giác Trắng, Hải Sư Trắng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, KìnhNgư Trắng Hiện nay, sản lượng khai thác dầu hàng năm của bể trầmtích dầu khí Cửu Long chiếm hơn 80% tổng sản lượng khai thác củaNgành Dầu khí

Bể trầm tích dầu khí Nam Côn Sơn nằm ở vùng Đông Nam thềm lục

địa Việt Nam với diện tích khoảng 100.000 km2 Tiếp giáp phía Bắccủa bể là bể trầm tích Phú Khánh, phía Đông là bể trầm tích TưChính- Vũng Mây, phía Nam là Đới nâng Natuna, còn về phía Tây làĐới nâng Côn Sơn ngăn cách với bể trầm tích dầu khí Cửu Long Độsâu nước biển trong phạm vi của bể thay đổi rất lớn từ Tây sang Đông,nơi sâu nhất đạt đến 1000 m Trầm tích Cenozoic ở đây bao gồm chủyếu là các tập đá cát, sét và bột xen kẽ nhau Ở một số vùng tồn tạitrầm tích cacbonat và đá núi lửa Tổng bề dày trầm tích Cenozoic nơisâu nhất lên tới 11.000m- 12.000m Công tác tìm kiếm thăm dò dầukhí ở bể trầm tích Nam Côn Sơn đã được tiến hành từ những năm 70của thế kỷ trước Đến nay, ngoài một khối lượng lớn khảo sát thu nổđịa chấn, hơn 110 giếng khoan đã được khoan và đã phát hiện đượcnhiều mỏ dầu khí như Đại Hùng, Lan Tây- Lan Đỏ, Rồng Đôi Tây,Chim Sáo, Hải Thạch, Mộc Tinh, Thiên Ưng, Cá Rồng Đỏ, Dừa, ĐạiNguyệt, Kim Cương Tây, Gấu Chúa Tiềm năng dầu khí cũng như sảnlượng khai thác hàng năm của bể trầm tích Nam Côn Sơn được đánhgiá đứng thứ 2 trên thềm lục địa Việt Nam, sau bể trầm tích dầu khíCửu Long

Trang 10

* Những tiền đề trực tiếp để đánh giá và dự báo triển vọng dầu khí là:

- Cấu trúc bể (bể bậc 1 và bể bậc 2, bậc 3 );

- Môi trường trầm tích và thành phần trầm tích;

- Tổ hợp cộng sinh tướng theo không gian và thời gian;

- Kiến trúc bẫy;

- Chất lượng tầng đá mẹ (hàm lượng và loại vật chất hữu cơ);

- Chất lượng tầng chứa (Colectơ);

- Colectơ vụn: Độ rỗng (Me), độ thấm (K), hàm lượng và loại ximăng, thành phần khóang vật, độ chọn lọc, độ mài tròn, độ bão hòa ;

- Đá colectơ nứt nẻ (đá magma, đá cacbonat): Độ rỗng khe nứt, độthấm, độ thu hồi, mức độ phong hóa ;

- Đá chắn tốt

Câu 7.

*Khái niệm Băng cháy là hỗn hợp rắn của khí hydrocarbon (chủ yếu

là methan) và nước được hình thành được tồn tại trong điều kiện ápsuất cao nhiệt độ thấp Băng cháy có cầu trúc lồng phân tử nước, khí

tự nhiên chủ yếu là methan Các phân tử khí trong băng cháy có thể diđộng và thoát khỏi cấu trúc của lồng

*Cấu tạo băng cháy

+ Băng cháy không phải là hợp chất hoá học

+ Trong tự nhiên, băng cháy có thể trong suốt hay mờ đục, dạng tinhthể màu trắng, xám hoặc vàng, trong đó các phân tử khí chiếm giữnhững cái “lồng” được tạo nên bởi các phân tử nước

+ Những cái lồng này không bền vững khi rỗng, có thể đổ sập tạothành cấu trúc tinh thể băng thông thường nhưng chúng sẽ trở nên ổnđịnh khi chứa các phân tử khí có kích thước thích hợp

+ Thường gặp 2 dạng cấu trúc tinh thể lập phương (loại I và loại II);hiếm gặp hơn là loại cấu trúc lục phương (loại H)

+ Ô cơ sở loại I gồm 46 phân tử nước, loại II gồm 136 phân tử nước

và loại H có 34 phân tử nước

*Nguồn gốc và cơ chế

Phần lớn GH chứa methane có nguồn gốc sinh học, được thành tạo do

bẻ gãy sinh học của vật chất hữu cơ phân hủy trong trầm tích đáy biểnđược chôn vùi ở độ sâu thích hợp GH cũng có thể có nguồn gốc sâu,

Trang 11

do khí di cư lên theo các đứt gãy từ các tích tụ dầu khí đã hình thành ởcác độ sâu lớn hơn trong các bể trầm tích

*Băng cháy là nguồn năng lượng mới được rất nhiều quốc gia quan tâm vì trữ lượng khổng lồ và khả năng tác động tới biến đổi khí

hậu toàn cầu của nó

Câu 8

*Khoanh vùng triển vọng GH dựa theo các tiền đề địa chất, các dấu

hiệu: địa mạo, BSR, đới phản xạ trắng, có biểu hiện thoát khí,

Phân chia được 4 vùng : Loại A, Loại B, Loại C, Loại D

- Loại A – Vùng được đánh giá có triển vọng nhất

+ Vùng này nằm trong sườn lục địa có chiều sâu nước 500-2000m, tồntại các dạng địa mạo do khí thoát tạo nên như kiểu lông chim, tỏa tia,

hố lỏm…, biểu hiện BSR, đới PXT tốt

+ Là nơi có vật liệu trầm tích dồi dào, giàu vật chất hữu cơ và đượclắng động nhanh nên VCHC ít bị ôxy hóa và chuyển hóa thành khí + Có hệ thống đứt gãy sâu cùng tạo rift dẫn khí từ dưới sâu đi lên tầngnông

+ Vùng có đáy biển hoạt động tân kiến tạo, núi lửa trẻ tương đối yếu + Các trầm tích đáy biển sâu là bùn vôi và cát bột- sét

- Loại B – Vùng được đánh giá triển vọng tương đối

+ Vùng nằm trong phần giữa - dưới sườn lục địa có chiều sâu nước2000-3500m, không có biểu hiện các dạng địa mạo do khí thoát tạonên; BSR, PXT bảo tồn tốt

+ Có bể trầm tích dạng địa hào, bán địa hào sinh khí đồi dào, nhất làtrầm tích Oligocen, Miocen dưới và các đới nâng

+ Vùng đáy biển có các hoạt động tân kiến tạo, hoạt động núi lủa trẻyếu

- Loại C – Vùng được đánh giá có triển vọng thấp

+ Vùng nằm trong phần dưới sườn lục địa, chân lục địa và đáy biểnthẳm có chiều sâu nước trên 3000m, không tồn tại các dạng địa mạo

do khí thoát tạo nên; BSR, PXT bảo tồn tốt

+ Có bể trầm tích dạng địa hào, bán địa hào sinh khí đồi dào, nhất làtrầm tích Oligocen, Miocen dưới và các đới nâng rìa

+ Có hệ thống đứt gãy cùng tạo rift và sau rift dẫn khí từ dưới sâu đilên tầng nông

Trang 12

+ Có trầm tích đáy là bùn trùng lỗ biển sâu, bùn vôi bán sâu đến sâu,cát bột sét và các rạn san hô, sản phẩm tạo trầm tích của chúng.

- Loại D – Vùng được đánh giá không có triển vọng

+ Đây là vùng có chiều sâu nước nhỏ hơn 500 m ở thềm lục địa vàquanh các đảo chìm cũng như đảo nổi, nơi không đủ điều kiện P-Tbền vững GH

+ Vùng sườn lục địa độ sâu 2000-3500m nước ở tâm các bể tạo saurift có trầm tích Miocen trên-Pliocen-Đệ tứ nằm ngang và dày trên2000m, rất hiếm đứt gãy xuyên cắt, giàu turbidit và đáy biển thẳm sâutrên 4000m

*Triển vọng khí hydrát ở vùng biển sâu Việt Nam rất lớn vì có đủ các

điều kiện thành tạo cũng như tàng trữ và có nhiều dấu hiệu gián tiếptốt sự có mặt của GH theo kết quả luận giải các dạng địa mạo đáybiển, các dị thường địa chấn sâu 2D và dị thường địa hóa

Câu 9

*Sa khoáng là tụ điểm trên mặt các khoáng vật nặng có giá trị như

ilmenit, zircon, casiterit, vàng…hình thành do quá trình sàng lọc, phân

dị, tích tụ cơ học các hạt hoặc mảnh vụn khoáng vật từ vật liệu phonghóa (Từ điển Địa chất Mỹ)

*Sa khoáng biển là các sa khoáng nằm ven biển có nguồn gốc biển

và dưới đáy biển có nguồn gốc biển và lục địa (nguồn gốc aluvi sông,suối hay do gió)

*Các đặc điểm cơ bản của các thành phần khoáng vật các loại đá tỉnh cung cấp vật liệu

- Sự thành tạo sa khoáng liên quan với các quá trình không ngừngnghỉ phá hủy đá xâm nhập, biến chất và trầm tích cũng như các mỏkhoáng nguyên sinh tạo nên vật liệu vụn của chúng ở các cấp hạt khácnhau Một phức hệ các đá và mỏ khoáng có giới hạn về không gian vàsản phẩm phá hủy của chúng tham gia vào hình thành một hệ sa

khoáng được gọi là tỉnh cung cấp vật liệu của hệ thống sa khoáng đó.

- Các khoáng vật thường gặp trong sa khoáng liên quan tới các loại đá

mẹ tạo ra chúng và là chỉ thị đặc điểm thạch học nguồn cung cấp vậtliệu

- Thành phần khoáng vật các loại đá tỉnh cung cấp vật liệu: bao gồmcác loại đá magma, đá biến chất, đá trầm tích

Ngày đăng: 18/07/2017, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w