1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Xây dựng giáo trình môn điện lạnh theo môđun cho hệ đào tạo công nhân kỹ thuật tại trường cao đẳng công nghiệp việt đức thái nguyên

148 368 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 784,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thích ứng với sự biến động của nền kinh tế trong giai đoạn mới, công tác đào tạo nghề, đặc biệt là các chương trình đào tạo cần được mềm hoá, đa dạng hoá nhằm phù hợp hơn với nhu cầu

Trang 1

-

luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

ngành: sư phạm kỹ thuật

Xây dựng giáo trình môn điện lạnh theo môđun

cho hệ đào tạo công nhân kỹ thuật

tại trường CđCN Việt đức - Thái nguyên

Đoàn vân khánh

Hà nội 2006

Trang 2

Nội dung

Mở đầu

Chương 1: Khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về xây Dựng

chương trình đào tạo theo môđun

1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng chương trình đào tạo theo mô đun

1.1.1 Đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện

1.1.2 Tích hợp nội dung đào tạo trong đào tạo nghề

1.1.3 Các kiểu cấu trúc chương trình đào tạo

1.1.4 Xây dựng chương trình đào tạo nghề theo NLTH

1.1.5 Những thành phần cơ bản trong cấu trúc CTM

1.1.6 Mối quan hệ của các thành phần trong CTM

1.1.7 Quy trình xây dựng CTM

1.2 Thực trạng đào tạo nghề theo môđun

1.2.1 Thực trạng đào tạo nghề theo môđun trên thế giới

1.2.2 Thực trạng đào tạo nghề theo môđun ở Việt Nam

Chương 2: Cấu trúc sư phạm Cho môđun dạy học kỹ thuật

2.2.2 Cách viết mục tiêu

Chương 3: Xây dựng giáo trình môn điện lạnh theo môđun

cho hệ đào tạo cnkt tại trường CĐCN việt đức

3.1 Giới thiệu về trường CĐCN Việt Đức

3.1.1 Một số đặc điểm của Trường

3.1.2 Phân tích điều kiện đáp ứng cho việc dạy học theo mô đun

3.2 Xây dựng giáo trình môn điện lạnh theo mô đun

Trang 3

3.2.2.1 Nguyên tắc chia môn Điện lạnh thành các môđun

3.2.2.2 Các ký hiệu

3.2.2.3 Thực hiện chia

3.2.3 Sơ đồ lôgic giữa các môđun

3.3 Xây dựng giáo trình cụ thể một số Môđun

3.3.1 Xây dựng giáo tình cụ thể một số môđun

3.3.1.1 Môđun I: Nguyên lý làm lạnh

3.3.1.2 Môđun II: Tủ lạnh gia đình

3.3.1.3 Môđun III: Máy điều hoà nhiệt độ cửa sổ

3.3.2 Yêu cầu để triển khai tổ chức đào tạo Điện lạnh theo môđun

3.3.3 Tổng hợp ý kiến cán bộ chuyên gia, giáo viên và học sinh

3.3.3.1 Tổng hợp ý kiến cán bộ chuyên gia và giáo viên

Trang 4

Lời cảm ơn

Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám Hiệu, các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ - Giảng viên của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và các Giáo sư giảng viên thuộc các trường Đại học, Viện nghiên cứu tại Hà Nội đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Sư phạm kỹ thuật khoá 2004 - 2006

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Sư Phạm Kỹ Thuật, Trung tâm Bồi dưỡng và Đào tạo sau đại học - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo điều kiện

để tác giả có thể thực hiện luận văn này

Đặc biệt tác giả xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Khang - Phó trưởng khoa Sư Phạm kỹ thuật - Trường ĐHBK Hà Nội, người trực tiếp hướng dẫn đã dành nhiều thời gian, công sức để chỉ dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Trong quá trình thực hiện luận văn, do trình độ bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp bổ xung của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Đoàn Vân Khánh

Trang 5

Lời cam đoan

Luận văn Thạc sĩ “Xây dựng giáo trình môn điện lạnh theo môđun cho hệ

đào tạo Công nhân kỹ thuật tại Trường CĐCN Việt đức - Thái Nguyên” được hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân và sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Khang

Tôi xin cam đoan toàn bộ những nội dung của luận văn này là kết quả từ sự nghiên cứu, phân tích, ứng dụng và điều tra thực nghiệm của bản thân Các kết quả

đưa ra đều có được từ quá trình nghiên cứu và điều tra thực nghiệm thực sự, còn các kết quả tham khảo so sánh đều được nêu ra với nguồn tài liệu rõ ràng

Hà Nội, ngày 30 tháng 09 năm 2006

Tác giả

Đoàn Vân Khánh

Trang 6

Danh mục các thuật ngữ viết tắt

CTM Chương trình đào tạo theo môđun

DACUM Develop A Curricumlum

GD-ĐT Giáo dục - Đào tạo

Trang 7

Mở đầu

Trong quá trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, sang nền kinh tế nhiều thành phần với cơ chế thị trường, công tác đào tạo nghề đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, đặc biệt là các chương trình đào tạo, thiếu linh hoạt, kém mềm dẻo, tỏ ra khó thích ứng được với sự biến động của nền kinh tế đang phát triển

Để thích ứng với sự biến động của nền kinh tế trong giai đoạn mới, công tác

đào tạo nghề, đặc biệt là các chương trình đào tạo cần được mềm hoá, đa dạng hoá nhằm phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu của người học, hình thành và phát triển tốt Năng lực thực hiện của họ trong nghề nghiệp

Cách tổ chức quá trình đào tạo dựa trên năng lực thực hiện, thể hiện một phương thức đào tạo mang tính hiện đại, mềm dẻo, linh hoạt, đào tạo theo kiểu tích luỹ dần kiến thức Các kiến thức được bố trí thành các giai đoạn có tính cơ bản và phân thành các môđun có thể lắp ghép được với nhau

Do vậy đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện với các chương rình đào tạo

được xây dựng theo môđun là hướng đi đúng đắn, là những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đưa đào tạo nghề nước ta bắt kịp với quá trình tổ chức đào tạo tiên tiến trên thế giới

Những ưu việt của đào tạo theo môđun đã được các nhà đào tạo trên thế giới khai thác trong giáo dục, đào tạo ở tất cả các cấp học, các đối tượng, đặc biệt đối với công nghân Nhiều nước đã áp dụng môđun trong quá trình đào tạo công nhân

kỹ thuật

ở nước ta, phương thức đào tạo nghề theo môđun cũng được các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu khoa học Dạy nghề (nay là Viện chiến lược và Chương trình giáo dục) quan tâm nghiên cứu từ những thập niên 80 của thế kỷ 20, sau đó một số Trung tâm dạy nghề đã thử nghiệm biên soạn tài liệu và đào tạo nghề ngắn

Trang 8

hạn theo phương thức môđun Tuy nhiên phương thức đào tạo này vẫn còn là mới

mẻ, chưa được tổ chức thực hiện một cách có hệ thống và phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, nhất là đối với đào tạo dài hạn

Xuất phát từ nhu cầu và tình hình thực tế, việc nghiên cứu đề tài "Xây dựng giáo trình môn điện lạnh theo môđun cho hệ đào tạo CNKT tại Trường CĐCN Việt

Đức - Thái Nguyên" là cần thiết, giúp nhà trường có thể chủ động trong việc tổ chức đào tào theo môđun cho môn Điện lạnh, làm tiền đề để triển khai rộng rãi đào tạo nghề theo môđun cho các môn học khác trong ngành Điện cũng như tất cả các ngành nghề đào tạo của trường, từng bước đáp ứng nhu cầu của người học và của xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của phương thức đào tạo nghề theo môđun cho toàn bộ hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở nước ta

1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tiến hành xây dựng giáo trình đào tạo Điện lạnh theo môđun và vận dụng vào giảng dạy tại Trường Cao Đẳng Công Nghiệp Việt Đức - Thái Nguyên

2 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, giáo trình đào tạo Điện lạnhôch hệ CNKT tại Trường CĐCN Việt

Đức vẫn theo kiểu truyền thống Giáo trình này, ngày càng bộc lộ những nhược

điểm trước sự phát triển của khoa học công nghệ

Giáo trình đào tào Điện lạnh dựa trên năng lực thực hiện, theo cấu trúc môđun sẽ khắc phục được những nhược điểm của giáo trình đào tạo Điện lạnh theo kiểu truyền thống trước đây

3 Đối tượng nghiên cứu

Giáo trình đào tạo Điện lạnh theo mô đun cho hệ CNKT tại trường Cao Đẳng Công Nghiệp Việt Đức - Thái Nguyên

Trang 9

4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu tổng quan về dạy học theo phương pháp tiếp cận mô đun

- Nghiên cứu để áp dụng phương pháp đó cho môn học Điện lạnh

4.2 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện về mặt thời gian nên đề tài chỉ tập chung nghiên cứu về xây dựng giáo trình đào tạo điện lạnh theo mô đun, cụ thể:

- Nghiên cứu phân chia môn học thành các mô đun

- Phân chia mỗi mô đun thành các mô đun con (tiểu mô đun)

- Xác định kết cấu logic giữa các mô đun

- Soạn chi tiết một số mô đun điển hình

5 Phương pháp nghiên cứu

1 Nghiên cứu lý luận: Khái niệm về mô đun, cấu trúc mô đun…

2 Nghiên cứu phân tích hệ thống: Chia môn học thành các mô đun dựa trên cơ sở nào? Cấu trúc của một mô đun…

3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp chuyên gia: Tổ chức khảo sát, trao đổi lấy ý kiến của những người có kinh nghiệm trong thực tiễn đào tạo, sản xuất, ý kiến của các chuyên gia

có kinh nghiệm trong việc xây dựng chương trình

- Điều tra khảo sát bằng phiếu thăm dò

Trang 10

Chương 1:

Khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về xây

Dựng chương trình đào tạo theo môđun

1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng chương trình đào tạo theo mô đun

1.1.1 Đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện

1.1.1.1 Các khái niệm

a Năng lực thực hiện

"Năng lực thực hiện" (NLTH) là thuật ngữ khoa học xã hội, dịch từ tiếng Anh dùng trong các tài liệu của nhiều tác giả trình bày về quan điểm "Giáo dục -

Đào tạo dựa trên NLTH"

NLTH liên quan đến nhiều thành tố cơ bản tạo nên nhân cách con người, nó thể hiện sự phù hợp ở mức độ nhất định của những thuộc tính tâm, sinh lý cá nhân với một hay một số hoạt động nào đó Nhờ có sự phù hợp như vậy mà con người thực hiện có kết quả các hoạt động ấy Chỉ thông qua sự thực hiện có hiệu quả, mọi người khác mới có thể công nhận người đó có năng lực về hoạt động ấy

Trong kết quả nghiên cứu đề tài "Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề" tập thể các nhà khoa học giáo dục do PGS TS Nguyễn Đức Trí là chủ nhiệm đề tài, đã đưa ra định nghĩa ngắn gọn về NLTH: "Năng lực thực hiện là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ công việc đó"

Theo chúng tôi, khái niệm NLTH dùng trong nghiên cứu đề tài luận văn này

có thể hiểu như sau: Năng lực thực hiện là khả năng thực hiện được các công việc của nghề dựa trên cơ sở kiến thức, kỹ năng, thái độ theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng công việc cụ thể

b Đào tạo nghề (ĐTN) dựa trên NLTH

"Đào tạo nghề dựa trên NLTH" được sử dụng để mô tả phương thức đào tạo

Trang 11

rất khác với đào tạo truyền thống ở chỗ, phương pháp tiếp cận này dựa chủ yếu vào những tiêu chuẩn quy định và đào tạo theo các tiêu chuẩn đó Không nhất thiết phải học tất cả nội dung, đạt tất cả các tiêu chuẩn của nghề đó, mà học đến đâu công nhận kết quả đến đấy, và điều đặc biệt là những kết quả trước đây của người học vẫn được công nhận nếu họ chứng minh được là có NLTH theo tiêu chuẩn đề ra

"Đào tạo dựa trên NLTH là phương thức đào tạo dựa vào khái niệm trung tâm

là NLTH, coi nó vừa là khởi điểm vừa là mục tiêu cuối cùng của quá trình đào tạo"

1.1.1.2 Đặc điểm của đào tạo nghề dựa trên NLTH

a Định hướng đầu ra

Theo tác giả Nguyễn Đức Trí và các tác giả khác thì định hướng đầu ra là

đặc điểm quan trọng nhất Đào tạo nghề dựa trên NLTH là định hướng và chú ý vào kết quả, vào đầu ra của quá trình đào tạo Từng người có thể làm được gì trong một tình huống lao động nhất định đạt tiêu chuẩn đề ra

Trong đào tạo dựa trên NLTH, một người có NLTH là người:

- Có khả năng làm được cái gì đó (Điều này liên quan đến nội dung chương

trình đào tạo)

- Có thể làm được cái đó tốt như mong đợi (Điều này có liên quan đến việc

đánh giá kết quả học tập của người học dựa vào tiêu chuẩn nghề)

Như vậy, mỗi người sẽ nắm vững và làm được cái gì đó sau một thời gian học dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào khả năng và nhịp độ học tập của người đó Người học thực sự được coi là trung tâm, do vậy họ có cơ hội để phát huy tính tích cực, chủ

động của mình

b Mối quan hệ của các mục tiêu

Để xác định được các NLTH, người ta phải tiến hành phân tích nghề và công việc trong thực tế nghề nghiệp

Giữa khu vực lao động nghề nghiệp thực tế và khu vực đào tạo nhân lực cho lao động có sự phân biệt về mục đích và các mục tiêu của chúng

Trang 12

Tuy nhiên, mục đích của hai khu vực đó lại có quan hệ chặt chẽ với nhau Để

đạt được các mục đích ấy, việc phát triển đào tạo dựa trên NLTH đã tiếp cận từ hai phía với các mục tiêu của các hoạt động hay thành phần tương ứng nhau ở hai khu vực (Xem hình 1.1)

Khu vực lao động Khu vực đào tạo cho lao động

Hình 1.1 Mối quan hệ của các mục tiêu

Mục đích của đào tạo nghề

Nhằm cung cấp các cơ hội học tập cho học sinh nắm vững các

kỹ năng, kiến thức và thái độ để bắt đầu một việc hoặc có trước khi làm việc

Phân tích nghề và công việc Mục tiêu dạy học chung

Điều kiện

Cho trước cái gì

ở đâu

Khi nào

Tiêu chuẩn

Tốc độ

Sự chính xác

Chất lượng

Các mục tiêu tiền đề

Mục tiêu thực hiện cuối cùng

Hoạt

động

Điều kiện

Tiêu chuẩn

Các mục tiêu về hành vi, về

sự thực hiện

Đánh giá

(Dựa vào các mục tiêu)

Kỹ năng

Kiến thức

Thái

độ NLTH

Trang 13

Theo tác giả Hanno Hortsch, NLTH thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa lĩnh vực hoạt động trong nghề nghiệp, trong cuộc sống, trong xã hội với mục tiêu và nội dung đào tạo

Hình 1.2 Mối quan hệ giữa lĩnh vực hoạt động, lĩnh vực học tập

và tình huống học tập

1.1.1.3 Các thành phần của hệ thống đào tạo nghề dựa trên NLTH

Hệ thống này bao gồm hai thành phần chủ yếu:

* Đặc điểm của các NLTH mà người học xẽ tiếp thu trong quá trình dạy học:

Lĩnh vực hoạt động là những nhiệm vụ phức hợp thống nhất với

những tình huống hoạt động có ý nghĩa về nặt nghề nghiệp cũng như

về mặt cuộc sống và xã hội (Nghề nghiệp, công việc)

Lĩnh vực học tập là lĩnh vực hoạt động được

gia công sư phạm, diễn ra thông qua các tình huống học tập theo định hướng hoạt động bằng các giờ học cụ thể (Học phần; các môđun đào tạo)

Tình huống học tập là cụ thể hoá của lĩnh vực học tập Có thể coi

đây là những nội dung đào tạo cụ thể (Đơn nguyên học tập)

Trang 14

- Các NLTH được xác định từ việc phân tích nghề một cách chính xác và đầy

đủ Phương pháp có hiệu quả và được chú ý hơn cả là phương pháp DACUM do một Tiểu ban hay Hội đồng gồm nhứng người đang hành nghề thành thạo trong thực tế và những người quản lý trực tiếp của họ tiến hành

- Các NLTH được trình bầy dưới dạng các công việc thực hành mà những người hành nghề thực tế phải làm hoặc dưới dạng các hành vi về mặt nhận thức và

về thái độ, tình cảm liên quan đến nghề

- Các NLTH được công bố cho người học biết trước khi vào học

* Yêu cầu thiết kế việc dạy và học các NLTH

- Các tài liệu dạy học thích hợp với các NLTH Kiến thức lý thuyết được học

ở mức độ cần thiết đủ hỗ trợ cho sự hình thành và phát triển các NLTH

- Mỗi người học phải liên tục có được các thông tin phản hồi cụ thể về sự phát triển NLTH của mình

- Người học có thể học hết chương trình của mình ở các mức độ, kết quả khác nhau

Việc đánh giá trong đào tạo dựa trên NLTH chỉ là theo tiêu chí Nó đo sự thực hiện của một người hay nó xác định thành tích của người đó trong mối liên hệ với các tiêu chí, tiêu chuẩn chứ không có liên hệ, so sánh gì với thực hiện của người khác Các tiêu chí đánh giá NLTH có thể được xác định từ các tiêu chuẩn NLTH (kỹ năng) quốc gia, địa phương, xí nghiệp và một số quy định tiêu chuẩn khác

Sự nắm vững các NLTH được đánh giá theo các quan điểm sau:

Trang 15

- Người học phải thực hành các công việc giống như người công nhân trong thực tế lao động nghề nghiệp

- Đánh giá riêng rẽ từng người học khi học hoàn thành công việc và nắm vững được một hay một nhóm các NLTH

- Các tiêu chuẩn dùng trong đánh giá là những tiêu chuẩn ở mức tối thiểu

đảm bảo sau khi học xong thì người học có thể bước vào làm việc được chứ không phải là đem so sánh với những người học khác

- Các chỉ tiêu dùng cho đánh giá được công bố cho người học biết trước khi kiểm tra, thi cử

1.1.1.4 Đặc điểm về quản lý, tổ chức quá trình dạy học theo NLTH

Một chương trình đào tạo nghề dựa trên NLTH phải thể hiện được các đặc

điểm về mặt tổ chức, quản lý sau đây:

- Việc hoàn thành chương trình là dựa trên sự nắm vững tất cả các NLTH đã xác định trong chương trình khung

- Yêu cầu về số tiết học không đặt ra thành các chỉ tiêu cho việc hoàn thành chương trình, người học có thể học theo khả năng và nhịp độ của riêng mình, không phụ thuộc vào người khác Vì vậy người học có thể vào học và kết thúc việc học ở các thời điểm khác nhau

- Hồ sơ học tập của từng người học được ghi chép, lưu trữ và chúng phản ánh kết quả, thành tích của họ ở một thời điểm ấn định nào đó Người học được phép chuyển tiếp hoặc ra khỏi chương trình không cần học lại những NLTH đã nắm vững nhờ có hệ thống các tín chỉ đã được cấp

- Sự phân loại người học phản ánh mức độ đạt nắm vững các NLTH

1.1.2 Tích hợp nội dung đào tạo trong đào tạo nghề

Tích hợp nội dung đào tạo là một trong các kiểu cấu trúc nội dung đào tạo nhưng là một kiểu đặc biệt làm thay đổi chất lượng thành phần của tri thức, đảm bảo nội dung thích hợp với hoạt động nghề nghiệp Tích hợp nội dung đào tạo có thể hiểu là việc thống nhất các môn học (hay các phần kiến thức của nó) trong một

Trang 16

hệ thống thống nhất và hình thành ở học sinh một hệ thống cũ Hệ thống kiến thức,

kỹ năng mới này đảm bảo tích cơ bản, hiện đại, thiết thực và đáp ứng trực tiếp mục tiêu đào tạo

Ngày nay, để nghiên cứu một vấn đề nào đó các nhà khoa học thường phải sử dụng những thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau hoặc nghiên cứu các mô hình tổng quát hơn theo mối quan hệ tổng thể Xu hướng này ảnh hưởng giáo dục và đào tạo nên một quá trình tích hợp, trong đó có sự tích hợp trong chương trình đào tạo Chúng ta có thể hiểu chương trình tích hợp là "Sự tổ chức có hệ thống nội dung của chương trình đào tạo trong một mô hình lồng ghép có ý nghĩa theo các vấn đề" Vấn đề ở đây chúng ta có thể hiểu là tổ hợp bao gồm các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hành vi, thái độ đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn mà người học cần

đạt được, giúp người học, gắn việc học với thực tiễn tốt hơn

Mặt khác trong bối cảnh bùng nổ thông tin số lượng thông tin vô cùng lớn do cuộc cách mạng khoa học - công nghệ mang lại Dẫn đến khối lượng tri thức loài người tích luỹ ngày càng lớn (các nhà khoa học dự tính cứ sau 5 - 10 năm thì khối lượng tri thức loài người tăng gấp đôi) Đó là lượng kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cần đưa vào nhà trường để dạy Nhưng không để kéo dài thời gian học mà ngược lại còn đòi hỏi phải giảm thời gian đào tạo Vì vậy cần phải tích hợp nội dung đào tạo, tránh sự trùng lặp nội dung kiến thức ở các vùng giao nhau, làm cho chương trình gọn nhẹ mà vẫn đảm bảo được mối quan hệ giữa chúng, đáp ứng thiết thực mục tiêu

đào tạo

Trong các trường dạy nghề hiện nay, ngoài nội dung các môn học chung, nội dung đào tạo được cấu trúc theo 3 khối môn học: Văn hoá phổ thông (VHPT) - kỹ thuật cơ sở (KTCS) và lý thuyết chuyên môn thực hành nghề (LTCM - THN) Trên cơ sở đó, chương trình tích hợp có thể xây dựng theo 3 hướng:

1 Chương trình tích hợp giữa các lĩnh vực khoa học với nhau: Thực chất là việc tích hợp giữa các môn trong từng khối các môn học VHPT, KTCS và LTCM - THN

2 Chương trình tích hợp giữa khoa học với kỹ thuật công nghệ: Chương trình tích

Trang 17

hợp giữa các lĩnh vực khoa học của VHPT, KTCS với LTCM - THN và VHPT với LTCM - THN

3 Chương trình tích hợp giữa lý thuyết và thực hành: Chương trình tích hợp giữa các lĩnh vực khoa học của ba khối môn học VHPT, KTCS và LTCM-THN với nhau

Ta có thể mô tả các hướng tích hợp như hình 1.3

Hình 1.3 Sơ đồ tích hợp nội dung đào tạo

Như vậy: Tích hợp chương trình là việc xây dựng các chương trình đào tạo

mà khi kết hợp chúng với nhau tạo ra một hệ thống mở, có nghĩa là người học cần một trình độ cao hơn thì họ học thêm bất kỳ thời điểm nào, hình thức nào và bất cứ nơi nào mà không có sự giãn cách hoặc trùng lặp nhau về kiến thức nói chung cũng như không có những trở ngại đáng kể Nó tạo nên một hệ thống mềm dẻo, linh hoạt giúp người học được thuận tiện và học tập suốt đời

Với nhận xét trên, tích hợp chương trình mở ra định hướng cấu trúc chương trình đào tạo theo mô đun mà nội dung đào tạo được cấu trúc xoay quanh việc hình thành các năng lực thực hiện

1.1.3 Các kiểu cấu trúc chương trình đào tạo

1.1.3.1 Một số thuật ngữ về chương trình đào tạo (CTĐT)

* Chương trình đào tạo:

Chương trình đào tạo bao gồm:

- Mục tiêu đào tạo (trình độ đào tạo cần hướng tới)

LTCM - THN

1

2 2 3 VHPT 2 KTCS

1 1

Trang 18

- Nội dung đào tạo (đối tượng lĩnh hội mà mục tiêu đặt ra)

- Phương pháp (phương tiện và cách thức để đạt được mục tiêu)

- Tổ chức đào tạo (kế hoạch thực hiện)

- Đánh giá (kiểm tra kết quả dạy và học)

Ngoài ra, xung quanh CTĐT còn có một số thuật ngữ liên quan:

* Chương trình giáo dục: Theo Nghị định 43/CP thì "Chương trình giáo dục là văn

bản cụ thể hoá mục tiêu giáo dục; quy định phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức hoạt động giáo dục, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và toàn bộ một bậc học, trình

độ đào tạo."

* Chương trình dạy nghề: Theo Quy định nguyên tắc xây dựng và tổ chức thực hiện

chương trình dạy nghề thì "Chương trình dạy nghề quy định mục tiêu, kế hoạch, nội dung các hoạt động dạy nghề" Chương trình dạy nghề bao gồm:

- Mục tiêu đào tạo theo từng trình độ đào tạo

- Kế hoạch đào tạo

- Chương trình môn học hoặc mô đun đào tạo

- Kế hoạch hoạt động giáo dục hoạt động ngoại khoá

* Chương trình giảng dạy (CTGD): Theo cách hiểu truyền thống thì chương trình

giảng dạy như CTĐT, nhưng ngày nay khoa học giáo dục hiện đại không dùng cụm

từ "chương trình giảng dạy" thay thế cho CTĐT bởi vì cụm từ này với hàm ý chỉ dành cho người dạy mà không chú ý đến người học, cho nên CTGD hiểu theo đúng nghĩa là một phần của CTĐT

* Kế hoạch đào tạo: Bao gồm kế hoạch giảng dạy và kế hoạch học tập

- Kế hoạch giảng dạy: Là một bảng danh mục phân phối thời gian toàn bộ khoá học, các môn học và quy định việc kiểm tra nội dung học Nó là một phần của CTĐT, dành cho người dạy

- Kế hoạch học tập: Là bảng phân phối thời gian, tiến độ thực hiện, quy định giáo viên giảng, giáo viên hướng dẫn, địa điểm học cho các môn học của từng học

Trang 19

kỳ, dành cho người học

* Chương trình môn học: Là văn bản quy định mục tiêu, nội dung, phân phối thời

gian đến từng học trình, từng bài học, và nội dung cơ bản cần có của môn học

Các thuật ngữ, khái niệm trình bầy trên, tuy có tên gọi khác nhau, nhưng đều

đề cập về các khía cạnh của CTĐT Theo tác giả, khái niệm chương trình đào tạo ứng dụng trong luận văn này được hiểu như sau:

Chương trình đào tạo là toàn bộ việc kế hoạch hoá quá trình đào tạo, từ việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, cho đến cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo

1.1.3.2 Kiểu chương trình đào tạo theo môn học

Đây là kiểu chương trình đào tạo truyền thống, theo thời gian, lớp bài, khoá học Chương trình thường được xây dựng theo các môn học, chương, mục… ít bám sát với nghề Giáo viên tập trung vào bao quát tài liệu giảng dạy Người học hiếm khi biết chính xác họ sẽ học cái gì trong mỗi phần của chương trình và ít có cơ hội

để kiểm tra quá trình và không gian giờ học, vì vậy chương trình thiếu linh hoạt, mềm dẻo Cuối mỗi học kỳ một số học viên hoàn thành tốt chương trình, còn một

số khác thì không hoàn thành tốt hoặc có thể không hoàn thành yêu cầu đặt ra

Trong kiểu chương trình theo môn học, các môn học được tạo thành bởi các

"lát cắt" ngang Các môn chung, văn hoá phổ thông, phần thực hành nghề được cấu trúc riêng biệt, chúng liên kết với nhau một cách tương đối độc lập

Hình 1.4 Kiểu chương trình đào tạo theo cấu trúc môn học

Thực hành nghề Các môn lý thuyết chuyên mônCác môn kỹ thuật cơ sởCác môn chung

"Lát cắt ngang"

Trang 20

Chương trình kiểu này thường có hạn chế:

- Kỹ năng hành nghề chỉ được hình thành sau một thời gian học tập trung tương đối dài ở trường (thường là sau khoá học)

- Không tạo điều kiện cho người học tự lựa chọn cho phù hợp với điều kiện cá nhân (về học vấn, về tài chính)

- Khó khăn khi cần phải thay đổi chương trình

- Không tạo điều kiện cho sự liên thông giữa các trình độ cũng như các

phương thức đào tạo

1.1.3.3 Kiểu chương trình đào tạo theo môđun kỹ năng hành nghề

Đây là một phương thức đào tạo nhằm cung cấp cho người học có kiến thức,

kỹ năng, kỹ xảo, hành vi thái độ tương ứng với một nghề nghiệp nào đó trong xã hội ở các trình độ khác nhau

Mỗi môđun là sự tích hợp của nhiều lĩnh vực khoa học, ở nhiều mức độ khác nhau và hướng tới một mục tiêu rõ rệt, thường đó là một thao tác nghề nghiệp để làm được một công việc nhỏ nào đó Nội dung của các mô đun được soạn thảo đảm bảo tính lắp lẫn (để có thể dùng chung cho nhiều nghề) và tính xếp chồng (theo các trình độ khác nhau)

Trong chương trình đào tạo theo MKH, khái niệm môn học bị phá vỡ Toàn

bộ nội dung kiến thức khoa học đã tích hợp lý thuyết và thực hành, giúp người học nhanh chóng hình thành được các năng lực hoạt động nghề nghiệp Có thể mô tả lối cấu trúc chương trình theo MKH bằng sơ đồ hình 1.5 Các "lát cắt" dọc thay thế cho

"lát cắt" ngang Chương trình được xây dựng trên các vấn đề trọn vẹn của các mô

đun Trong trường hợp này, ranh giới giữa các lĩnh vực kiến thức và kỹ năng không còn nữa

"MKH là một phần nội dung đào tạo của một hay một số nghề hoàn chỉnh

được cấu trúc theo các mô đun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành mà sau khi học xong học sinh có thể ứng dụng để hành nghề trong xã hội" Tiêu trí đánh giá của

nó, chính là kỹ năng hành nghề hay cũng chính là các NLTH của người học

Trang 21

Hình 1.5 Kiểu chương trình đào tạo theo MKH

* Ưu điểm của kiểu cấu trúc này

- Mục tiêu đào tạo và cấu trúc nội dung đa dạng, thời gian đào tạo ngắn, phù hợp với nhu cầu của người học cũng như người sử dụng lao động

- Đào tạo ban đầu và nâng cao trình độ là một quy trình được thực hiện thường xuyên, tạo điều kiện cho người học có thể nhanh chóng đi vào nghề nghiệp cũng như có thể nâng cao trình độ nghề nghiệp tới đỉnh cao khi có điều kiện

- Nội dung đào tạo được tích hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề, thực hiện tốt nguyên lý "học đi đôi với hành", nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo

- Nhanh chóng và kịp thời bổ xung được những kiến thức và kỹ năng nghề phù hợp với sự biến đổi nhanh chóng của tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, có điều kiện để đào tạo bám sát được yêu cầu của sản xuất Vì vậy là hệ thống mở, có thể

bổ xung hoặc thay đổi các đơn nguyên học tập một cách dễ dàng

- Nâng cao tính mềm dẻo, linh hoạt của quá trình đào tạo nghề, tạo điều kiện liên thông giữa một nghề, đặc biệt đối với những nghề cùng một lĩnh vực kỹ thuật nhờ vào việc sử dụng chung một số môđun đơn vị

Thực hành nghềCác môn lý thuyết chuyên mônCác môn kỹ thuật cơ sởCác môn chung

Môđun

n

Trang 22

- Hiệu quả kinh tế và đào tạo cao, vì hầu hết các kiến thức và kỹ năng đều có thể được sử dụng ngay để hành nghề sau khi học xong mỗi MKH

- Người học có thể tự học, tự đánh giá nhờ vào các hướng dẫn, các bài tập kiểm tra, trắc nghiệm sau khi học xong mỗi đơn nguyên, mỗi mô đun

- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên, trong quá trình dạy học nhờ vào những quy định và hướng dẫn cụ thể

- Có điều kiện thực hiện "Cá nhân hoá cao" trong đào tạo, nhờ việc đánh giá khả năng, trình độ của từng học viên trước khi học và việc hướng dẫn lựa chọn các mô đun thích hợp để đạt yêu cầu học tập của họ cũng như mục tiêu đào tạo của nhà trường

* Hạn chế của kiểu cấu trúc này

- Thiếu tính hệ thống chặt chẽ của từng bộ môn khoa học, kỹ thuật

- Cấu trúc nội dung đào tạo hoàn chỉnh cho toàn khoá của một nghề kém phần logic

- Việc trang bị những kiến thức kỹ thuật cơ bản cho một nghề diện rộng để tạo khả năng phát triển lâu dài cũng như tạo nên tính thích ứng cao của học sinh với

sự biến đổi của khoa học và công nghệ bị hạn chế bởi thời gian đào tạo và cấu trúc logic của quá trình đào tạo Mặt khác, kiến thức lý thuyết chỉ dừng ở mức thấp Người học khó có thể đạt được trình độ phân tích, đánh giá các vấn đề

- Đào tạo theo MKH có thể kém hiệu quả đối với những MKH mà phần thực hành chiếm quá ít, hoặc khi các chuẩn đánh giá không được quy định rõ ràng

- Đào tạo theo MKH tốn kém hơn phương thức đào tạo truyền thống vì biên soạn tài liệu giảng dạy phức tạp, phương tiện, thiết bị giảng dạy cần hoàn chỉnh theo quy định

- Giáo viên cần có trình độ cao và phải được bồi dưỡng phương pháp giảng dạy theo MKH

Bởi vậy, đào tạo nghề theo MKH sẽ rất thuận lợi cho các loại hình đào tạo ngắn hạn, còn đối với hệ đào tạo dài hạn thì cần được vận dụng từng bước và phối

Trang 23

hợp giữa phương thức đào tạo theo MKH với phương thức đào tạo truyền thống hiện nay

1.1.3.4 Kiểu chương trình đào tạo kết hợp

Thực chất của kiểu chương trình này là sự kết hợp giữa chương trình đào tạo theo môn học (kiểu truyền thống) và chương trình theo MKH (hình 1.6)

Theo kiểu chương trình này, khối kiến thức các môn chung, các môn kỹ thuật cơ sở là một thành phần của chương trình đào tạo theo mô đun và được mô đun hoá thành các học phần Phần lý thuyết chuyên môn và thực hành nghề được tích hợp thành các mô đun (mô đun kỹ năng)

Chương trình đào tạo kết hợp giữa môn học và môđun, sau đây gọi là Chương trình đào tạo theo môđun (CTM), có nhiều ưu điểm, do kết hợp được hai kiểu chương trình đào tạo trên Với chương trình đào tạo kiểu này, nó sẽ tạo khả năng tốt

để tổ chức quá trình đào tạo nghề một cách linh hoạt, năng động, giảm thiểu tối đa

sự trùng lặp nội dung do có sự tích hợp giữa lý thuyết chuyên môn và thực hành nghề, điều đặc biệt là nâng cao NLTH của người học

Hình 1.6 Mô hình kiểu chương trình đào tạo kết hợp

1.1.4 Xây dựng chương trình đào tạo nghề theo NLTH

1.1.4.1 Những định hướng cơ bản về đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình

Thực hànhCác môn lý thuyết chuyên mônCác môn kỹ thuật cơ sởCác môn chung

Môđun

n

Trang 24

a Đổi mới mục tiêu chương trình đào tạo

Một trong 5 giải pháp phát triển giáo dục, được xác định trong "Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010" là "Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục theo hướng "chuẩn hoá, hiện đại hoá, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực

và thế giới"

Song song với hệ thống đào tạo theo "luồng hàn lâm" là chủ yếu, đang tồn tại hiện nay, đào tạo nghề cần có những bước đi thích hợp và nhanh chóng trong việc xây dựng hệ thống đào tạo theo "luồng công nghệ" hay "luồng nghề nghiệp" Cơ cấu mục tiêu đào tạo hay cơ cấu trình độ đào tạo phải là đào tạo trên diện rộng, đáp ứng công nghệ thấp nhằm mục tiêu phổ cập nghề; phải đào tạo mũi nhọn, đáp ứng công nghệ cao, cung cấp nguồn nhân lực thích hợp cho sự nghiệp CNH - HĐH, trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

Những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, những thay đổi của tổ chức sản xuất và phân công lao động xã hội cũng như những đòi hỏi của nền kinh tế trí thức đang dần hình thành…., đòi hỏi người công nhân, nhân viên kỹ thuật nghiệp

vụ cả sơ cấp và trung cấp phải được đào tạo ở trình độ cao hơn cả về LT và đặc biệt

là TH so với trình độ đào tạo hiện nay ở một số ngành nghề có tính chất kỹ thuật hoặc công nghệ ngày càng đòi hỏi sự phân hoá mục tiêu đào tạo đội ngũ CNKT hiện nay theo hai hướng nhân lực kỹ thuật thực hành như sau:

- Hoặc phải là nhân lực kỹ thuật thực hành trình độ "công nhân lành nghề"

động nghề nghiệp, khả năng giám sát và phần nào quản lý, lãnh đạo… như một

"thợ cả"

Trang 25

Bất luận ở cấp trình độ đào tạo nào, ở ngành nghề nào, ngày nay chúng ta đều cần đặc biệt nhấn mạnh những giá trị và thái độ ưu tiên cần có ở người lao động, chúng phải được thể hiện rõ trong mục tiêu đào tạo Đó là những giá trị và thái độ:

Đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, tinh thần hợp tác, làm việc theo nhóm, ý thức pháp luật, kỷ luật lao động, v.v…

b Đổi mới nội dung chương trình

Việc đổi mới nội dung chương trình đào tạo trong đào tạo nghề phải đảm bảo

được các yêu cầu chủ yếu như:

- Nội dung chương trình phải phù hợp với nhu cầu thị trường lao động về ngành nghề và các cấp trình độ khác nhau;

- Cấu trúc của các chương trình phải được thiết kế liên thông giữa các cấp trình độ đào tạo để đảm bảo tính mềm dẻo, linh hoạt, tạo điều kiện cho người lao

động có thể học suốt đời, không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp

- Nội dung chương trình cần được xây dựng theo hướng tiếp cận "năng lực thực hiện" và dựa vào tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng và thái độ của các hoạt động lao động nghề nghiệp được xác định rõ ràng để dẩm bảo chất lượng đào tạo toàn diện, đồng thời bảo đảm khả năng hành nghề của người học sau khi tốt nghiệp Như vậy, định hướng xây dựng nội dung chương trình đào tạo nghề theo mô

đun trong tiếp cận "đào tạo theo năng lực thực hiện" là một định hướng đúng đắn

Định hướng này là phù hợp với xu hướng chung trong việc phát triển chương trình

đào tạo nghề nghiệp của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay

1.1.4.2 Quan điểm tiếp cận xây dựng chương trình đào tạo nghề theo mô đun

Như phần trên đã trình bày, chương trình đào tạo nghề theo truyền thống và chương trình đào tạo nghề theo NLTH đều có những mặt mạnh, mặt hạn chế nhất

định

Mặt mạnh của kiểu chương trình theo môn học là ở chỗ, việc dạy và học theo các môn học giúp người học nhanh chóng nắm được bản chất khoa học của các sự vật và hiện tượng Kiến thức của người học được hình thành một cách hệ thống theo

Trang 26

lôgic của các bộ môn khoa học tương ứng Đó là cơ sở giúp người học có khả năng tư duy sáng tạo và có tiềm năng phát triển trong nghề nghiệp Mặt hạn chế của cấu trúc theo các môn học chính là ở chỗ không có được những đặc trưng ưu điểm mà kiểu cấu trúc mô đun có

Quan điểm xây dựng chương trình đào tạo nghề sao cho có thể kế thừa, phát huy được tối đa những ưu điểm hay mặt mạnh và loại trừ được càng nhiều càng tốt nhứng hạn chế của cả hai loại cấu trúc nội dung chương trình, đã hình thành nên kiểu chương trình kết hợp môn học và mô đun (gọi tắt là chương trình theo mô đun) cũng đã trình bày ở trên

Tiếp cận xây dựng chương trình đào tạo theo mô đun thể hiện cụ thể như sau:

- Hình thành lợi chương trình kết hợp giữa đào tạo theo NLTH với đào tạo theo các môn học truyền thống

- Khối kiến thức chung, văn hoá bổ trợ hoặc khoa học cơ bản và lý thuyết cơ

a Khái niệm về môđun

Từ xa xưa, môđun có xuất xứ từ thuật ngữ La tinh "modulus", với nghĩa là

"thước đo" chủ yếu được dùng trong xây dựng Cho đến đầu thế kỷ 20 Thuật ngữ môđun vẫn được dùng trong xây dựng và để chỉ các bộ phận xây dựng được tiêu chuẩn hoá Cho đến giữa thế kỷ 20, khái niệm môđun mới được truyền tải sang lĩnh vực kỹ thuật Nó được dùng để chỉ các bộ phận cấu thành của thiết bị kỹ thuật có các chức năng riêng biệt và có mối liên hệ lẫn nhau, không nhất thiết phải hoạt

động độc lập Sau này, người ta đã chuyển khái niệm môđun trong kỹ thuật sang môđun trong đào tạo, với việc khai thác các tính chất đặc trưng của nó

Trang 27

Tuỳ thuộc mục đích và cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu giáo dục, đào tạo, đã có quan niệm và định nghĩa khá phong phú về môđun dạy học (hoặc môđun

Các môđun đào tạo có thể được người học lựa chọn một cách tự do hoặc được

định hướng, có thể được nối ghép với nhau theo cách thức tích luỹ kiến thức, kỹ năng nhằm đạt được các trình độ khác nhau một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện cá nhân người học và yêu cầu xã hội

Theo ILO, "Môđun là đơn vị học tập liên kết tất cả các yếu tố của các chuyên môn học lý thuyết, các kỹ năng và kiến thức liên quan để tạo ra một năng lực chuyên môn Mỗi môđun là đơn vị chọn vẹn về mặt chuyên môn, vì vậy tương ứng với một khả năng tìm việc Điều đó có nghĩa là việc kết thúc thành công việc học một môđun sẽ tạo ra những kỹ năng tối thiểu cần thiết cho việc tìm việc làm Đồng thời, mỗi môđun có thể hình thành một phần nhỏ chuyên môn của một người thợ lành nghề."

Trong cấu trúc nội dung đào tạo nghề theo MKH, để thuận lợi cho quá trình giảng dạy và học tập cũng như để có khả năng dùng chung một số kiến thức, kỹ năng nghề cho nhiều nghề đào tạo khác nhau, mỗi MKH được chia thành nhiều mô

đun, tương ứng với công việc hợp thành mô đun kỹ năng hành nghề đó Với cấu trúc vậy, "mô đun là một phần của MKH, được phân chia một cách logic theo từng công việc (task) hợp thành của một nghề nào đó, có mở đầu và kết thúc rõ ràng"

b Các quan điểm về môđun

Trang 28

Tuy có nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu về môđun, song cũng thống nhất ở

3 quan điểm sau:

* Quan điểm 1: Môđun được hiểu là những phần trình độ được đào tạo ngắn hạn, khép kín và kiểm tra đánh giá được Trình độ tổng thể được phân ra thành các môđun, học xong mỗi môđun đều được kiểm tra và cấp văn bằng chứng chỉ Người học, học đến đâu có thể sử dụng ngay đến đó, không cần phải tổ chức thi tốt nghiệp

Quan điểm này bị phê phán là dễ dẫn đến phát triển con người một cách phiến diện Về phương diện quản lý cần có những quy định chặt chẽ trong việc kiểm tra đánh giá xác nhận kết quả các môđun tạo thành trình độ

* Quan điểm 2: Môđun được hiểu là những phần trình độ có thể được đánh giá xác nhận Nhưng các môđun thành phần đó luôn là một bộ phận của trình độ nghề tổng thể Việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận kết quả theo các môđun đơn lẻ không thay cho kỳ thi tốt nghiệp

Quan điểm này phù hợp ý tưởng đào tạo theo môđun đối với hệ chính quy dài hạn, nhưng không hạn chế áp dụng cho đào tạo ngắn hạn

* Quan điểm 3: Môđun được hiểu thuần tuý là đơn vị học tập (học phần) Nội dung đào tạo được chia nhỏ theo mục tiêu đào tạo thành phần được thực hiện bằng phương pháp dạy học theo dự án và h.thức tổ chức đào tạo cuốn chiếu theo môn học

Tuy có những quan điểm khác nhau về mô đun, nhưng đều thống nhất ở chỗ: Môđun là những phần trình độ xác định, được kiểm tra đánh giá xác nhận

Đào tạo theo mô đun mang tính mềm dẻo, linh hoạt Nó cho phép thích ứng liên tục với chương trình nhằm đảm bảo sự phù hợp của nó với nhu cầu "mở" của thị trường lao động Đào tạo theo môđun vừa mang tính độc lập tương đối vừa mang tính liên thông đảm bảo nguyên lý tích luỹ trình độ Vì vậy giúp người học hoàn thiện trình

độ ở mức tổng thể cao hơn Môđun có thể ảnh hưởng tới việc tổ chức, kết cấu của quá trình đào tạo Nó được thực hiện bởi thứ tự các giờ học dưới hình thức giờ học

định hướng vấn đề, giờ học dự án

Trang 29

Ngoài ra, môđun mang tính chất trọn vẹn, đơn lẻ, tích hợp, tự hoàn thiện và

có thể lắp ghép phát triển

Ví dụ về môđun

Trong ngành Sửa chữa thiết bị cơ khí có các môđun: Gia công nguội cơ bản, Hàn và gia công biến dạng, Kỹ thuật đo cơ bản, Gia công cắt gọt cơ bản, Tháo lắp bảo dưỡng… Trong môđun Gia công nguội cơ bản có các tiểu môđun: Sử dụng dụng cụ, vạch dấu, đục kim loại, giũa kim loại, uốn nắn và cưa cắt kim loại Một học sinh sau khi học xong một môđun nào thì có thể làm công việc ứng với môđun

đó như chuyên vạch dấu, chuyên đục hoặc chuyên giũa kim loại,…

Trong nghề Hàn có các môđun: Hàn điện hồ quang, hàn hơi, hàn MIG, hàn MAG, hàn TIG Nếu một học sinh học xong môđun hàn điện hồ quang thì sẽ làm

được thợ hàn điện hồ quang nhưng không thể hàn hơi hoặc hàn MIG được và ngược lại, những học sinh chỉ học môđun hàn hơi thì không thể làm thợ hàn điện được

c Những dấu hiệu của môđun

Như đã trình bày ở trên, có rất nhiều khái niệm và quan điểm về môđun, tuy nhiên chúng cũng có những điểm chung, thống nhất, đặc biệt là các dấu hiệu của

nó Có thể xét ở đây một số dấu hiệu sau của môđun:

* Dấu hiệu trọn vẹn:

Tính chọn vẹn thể hiện bản chất của môđun đào tạo Nó thể hiện sự "trọn gói"trong cấu trúc, nội dung và quy trình thực hiện để đạt được mục tiêu, trong việc hình thành kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp Tính trọn vẹn thể hiện qua các khả năng "làm được" của người kết thúc môđun đào tạo Vì vậy có thể áp dụng cách diễn giải của ILO "mô đun là nhiệm vụ có sự bắt đầu kết thúc rõ ràng"

Dấu hiệu trọn vẹn là tính chất cơ bản nhất của mô đun đào tạo, nó không những chỉ ra bản chất của mô đun mà còn giúp các nhà thiết kế đưa ra được kích thước của mô đun đào tạo Kích thước lớn hay nhỏ của mô đun phụ thuộc vào nội dung cần thiết nhằm tạo ra một khả năng thực hiện thành công trọn vẹn công việc

* Dấu hiệu tích hợp:

Trang 30

Tính tích hợp được thực hiện theo những con đường khác nhau Tích hợp giữa các ngành, bộ môn khoa học, tích hợp giữa lý thuyết và thực hành và tích hợp các phương pháp truyền tải nội dung Nhờ tích hợp mà môđun trở nên trọn vẹn

Dấu hiệu tích hợp nhằm giúp các nhà thiết kế nhận diện được mức độ và cách thức tích hợp của môđun đào tạo

* Cá nhân hoá người học:

Dấu hiệu này còn được sử dụng dưới thuật ngữ "theo nhịp độ người học, thể hiện sự đáp ứng các điều kiện cá nhân người học về trình độ, lứa tuổi, thời gian Việc cá nhân hoá bao giờ cũng gắn với hoạt động thực tế của người học, đảm bảo

để người học đạt được mục đích yêu cầu đặt ra, mặt khác khuyến khích, khai thác

được những tiềm năng phát triển ở người học đến mức tối đa Điều này cho phép tạo

ra chương trình mềm dẻo, dẽ dàng với việc đào tạo theo lớp, nhóm hoặc cá nhân

Đồng thời người học có thể xuất phát từ năng lực hiện có để tiếp thu các mô đun

đào tạo theo nhịp độ khác nhau, thời lượng khác nhau

* Đánh giá liên tục và hiệu quả:

Dấu hiệu này thể hiện một phương pháp đánh giá đặc thù của mô đun đào tạo Đánh giá liên tục để nhắc nhở chuẩn mực, để giảm sức ép tâm lý, để gia tăng

động cơ học tập "Đánh giá liên tục theo mức độ thuần thục nghề

Đánh giá trong đào tạo theo mô đun không nhằm đánh trượt người học, nó theo nhịp độ của người học và chủ yếu do người học tự kiểm tra đánh giá mình Việc kiểm tra đánh giá này được xây dựng trên nguyên tắc là: Các kết quả đánh giá phải theo những chuẩn thực hiện về kỹ năng và có thể mô tả, đo, đếm, quan sát

được

* Dấu hiệu lắp ghép phát triển:

Dấu hiệu này thể hiện khả năng lắp ghép và sử dụng nhiều lần của mô đun

đào tạo trong phát triển chương trình do tính chất trọn vẹn mà các mô đun có được Các mô đun có thể chủ định ghép theo "chiều ngang" nếu như cần trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản rộng của nhiều lĩnh vực công việc, nghề nghiệp khác

Trang 31

nhau Cũng có thể ghép theo "chiều dọc" (xếp chồng) một số lượng nhất định mô

đun cùng về chuyên môn, khác nhau về trình độ

Trên đây là những dấu hiệu cơ bản của môđun Có thể nói, đây là những dấu hiệu nhận biết môđun đào tạo Những dấu hiệu này được sử dụng trong việc xác

định các môđun và trong xây dựng CTM Trong các tính chất đã nêu, trọn vẹn và tích hợp là hai dấu hiệu cơ bản và là những dấu hiệu phân biệt môđun với môn học

"Môn học có thể có hoặc có thể không bao gồm cả lý thuyết và kỹ năng thực hành,

và có thể không là một nội dung trọn vẹn… Môđun phải đồng thời tích hợp và trọn

vẹn" Chính trọn vẹn và tích hợp là hai dấu hiệu thể hiện bản chất của một môđun

đào tạo Chúng giúp người thiết kế chương trình không những nhận dạng được môđun đào tạo mà còn giúp phân biệt được môđun với môn học, CTM với chương trình truyền thống

Ngoài những dấu hiệu kể trên, còn có thể bắt gặp nhiều dấu hiệu khác như tính mềm dẻo, tích luỹ được, mục đích cao… Tuy nhiên, các dấu hiệu này có chung nội dung hàm với các dấu hiệu cơ bản

Việc sử dụng các dấu hiệu đã giúp cho việc định ra "kích thước" của môđun, một công việc thường gặp khi phân tích nghề để xác định môđun Công việc phân tích này, trước tiên nhằm chia và xác lập ra các nhiệm vụ hay phần việc Tuy nhiên, các nhiệm vụ này có tương đương với kích thước một môđun đào tạo hay không còn phụ thuộc vào các dấu hiệu nhận biết, nói một cách khác, khi sử dụng các dấu hiệu nhận biết người ta có thể chia nhỏ hơn hay gộp các nhiệm vụ để có thể hình thành một môđun

d Cấu trúc của một môđun đào tạo

Tiếp cận hệ thống đối với đào tạo nói chung đều cho thấy quá trình phát triển

và thực hiện chương trình đào tạo có mối quan hệ khăng khít với quá trình phân tích thế giới lao động và công việc (đầu vào) và với quá trình đánh giá và xác nhận kết quả đào tạo đối với người tốt nghiệp (đầu ra) Những thông tin phản hồi về sự phù hợp của lực lượng lao động (người tốt nghiệp), về sự đáp ứng với các mục tiêu kinh

Trang 32

tế, xã hội… sẽ giúp cho các nhà đào tạo có những điều chỉnh kịp thời trong việc phát triển và thực hiện chương trình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả

đào tạo Điều đó được sơ đồ hoá đơn giản bằng hình 1.7:

Hình 1.7 Mô hình phát triển chương trình

Mô hình phát triển chương trình này đã ảnh hưởng mạnh đến mô hình cấu trúc của môđun đào tạo Mỗi một môđun bao gồm nhiều thành phần từ mục tiêu, nội dung đến cách thức thực hiện trong quá trình đào tạo Các thành phần trong cấu trúc có quan hệ chặt chẽ, và cũng được điều khiển bằng các thông tin phản hồi Có thể tóm tắt cấu trúc của mô đun bằng sơ đồ hình 1.8:

Hình 1.8 Cấu trúc của môđun đào tạo

Theo tác giả, mô hình cấu trúc của môđun dùng trong nghiên cứu luận văn này có thể được thể hiện đơn giản qua sơ đồ hình 1.9:

Thế giới lao động và

công việc

Phát triển và thực hiện chương trình

Người tốt nghiệp thành thạo

Các mục tiêu

Kiến thức

KN

Con

đường l.hội

Tổng kết

Test kết thúc

Khuyến cáo, chỉ dẫn

Các

mục

tiêu

Test vào

Đơn vị học tập (2)

Đơn vị học tập (1)

Test trung gian Các hướng dẫn

và khuyến cáo

Trang 33

Hình 1.9 Mô hình cấu trúc môđun đào tạo

Môđun giống như những viên gạch xây dựng chương trình, có thể thay đổi dễ dàng để thích ứng với sự phát triển của kỹ thuật Có thể chỉ thay đổi về nội dung trong một môđun mà không bắt buộc đối với các môđun khác, đơn giản là có thể chỉ cải tiến những phần riêng biệt

1.1.5.2 Đơn nguyên học tập

Nội dung đào tạo của mỗi môđun được chia thành từng phân tố gọi là đơn nguyên học tập (ĐNHT), nên có thể nói ĐNHT là bộ phận cấu thành của môđun, có kích thước nhỏ hơn môđun Mỗi ĐNHT trình bày một vấn đề chuyên biệt về kiến thức và kỹ năng của một nghề nào đó, nhằm hình thành một năng lực thực hiện

Ví dụ: Để có được năng lực hoàn thành một phần việc trọn vẹn "Quản lý hồ sơ" trong nghề thư ký văn phòng, người học cần phải thực hiện được 4 công việc sau:

1 Thu thập hồ sơ; 2 Phân loại; 3 Lưu trữ; 4 Tìm kiếm

Trong trường hợp này các công việc trên được gọi là các đơn nguyên học tập, hay là các đơn nguyên

Mỗi đơn nguyên học tập thường được cấu trúc bởi các phần sau:

- Mục tiêu cho người học

Trình độ đầu ra

Trang 34

- Danh mục các phương tiện, thiết bị, vật liệu, v.v… Cần cho việc học tập

- Danh mục các đơn nguyên học tập có liên quan

cụ thể, ví dụ một sản phẩm hay đảm nhận được một vị trí trong dây chuyền sản xuất… Bằng cách đó họ có thể giải quyết được mọi vấn đề học tập của mình (ví dụ

có thể kiếm được việc làm)

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, ví dụ để có được việc làm, người học có thể thực hiện được một số nhiệm vụ, đảm nhận được một số chức năng của nghề nghiệp Thực tế này khiến cho người học tập chỉ một môđun không còn đáp ứng

được nữa Thay vào đố người học cần lựa chọn và học tập một số lượng môđun nhất

định để có thể có việc làm

Trong "môđun kỹ năng học nghề - phương pháp tiếp cận hướng dẫn biên soạn và áp dụng" - Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX - 07, tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng: "môđun kỹ năng hành nghề là một phần nội dung

đào tạo của một hoặc một số nghề hoàn chỉnh được cấu trúc theo các môđun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành mà sau khi học xong học sinh có thể ứng dụng để hành nghề trong xã hội"

Sự hành nghề của mỗi nghề rất đa dạng trên diện rộng, hẹp, trình độ cao, thấp khác nhau, tuỳ thuộc vào tổ chức, bố trí, phân công lao động, quy mô sản xuất và trình độ công nghệ được áp dụng trong doanh nghiệp Ví dụ người thợ may trong

một doanh nghiệp may, chỉ cần may thành thạo một bộ phận của chiếc áo là đã có

thể hành nghề được Nhưng người thợ may trong một cửa hàng may thì lại phải biết

đo, cắt, may tất cả các kiểu quần áo

Trang 35

Theo tác giả Nguyễn Đức Trí trong "nghiên cứu ứng dụng phương thức đào tạo nghề theo môđun kỹ năng hành nghề" - Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục, thì "Một tập hợp hữu hạn các môđun nhằm giúp người học có khả năng giải quyết

được vấn đề (ví dụ tìm kiếm việc làm) được gọi là môđun kỹ năng hành nghề hay môđun hành nghề"

1.1.5.4 Môn học

Môn học là một bộ phận cấu thành của CTM, nó được môđun hoá dưới dạng các học phần, học trình Mỗi đơn vị học trình (ĐVHT) được tính làm 15 tiết Trong CTM các môn học ở đây bao gồm các môn chung và các môn kỹ thuật cơ sở

Khối kiến thức các môn chung: Do Nhà nước quy định, gồm các môn bắt

buộc như chính trị, pháp luật, giáo dục thể chất, quốc phòng, ngoại ngữ, tin học

Khối kiến thức các môn kỹ thuật cơ sở: Được xây dựng theo nhóm nghề

nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng nền tảng của nhóm nghề để giúp người học lĩnh hội các kiến thức chuyên môn cũng như hình thành NLTH Đối với các nghề cơ khí, môn kỹ thuật cơ sở bao gồm: Dung sai - Đo lường, vật liệu cơ khí, điện kỹ thuật, cơ kỹ thuật, vẽ kỹ thuật

Việc sắp xếp thứ tự và khối lượng các môn học vào từng cấp trình độ dựa vào các tiêu chuẩn cho các công việc để hình thành NLTH ở cấp trình độ nghề đó Tỷ lệ

được quy định trong khung trình độ dào tạo thực hành nghề không gian

- Đối với trình độ bán lành nghề: 20% - 30% lý thuyết

- Đối với trình độ lành nghề: 30% - 50% lý thuyết

- Đối với trình độ cao: 40% - 60% lý thuyết

1.1.6 Mối quan hệ của các thành phần trong CTM

Như đã trình bày ở trên, môđun kỹ năng và môn học là những thành phần cơ bản trong CTM Ngay trong cùng một cấp trình độ đào tạo, các thành phần này có mối quan hệ với nhau nhằm giải quyết vấn đề của người học (hình 1.10)

Trang 36

Hình 1.10 Mối quan hệ giữa các thành phần của CTM

Môđun kỹ năng (M): Hình thành NLTH một nhiệm vụ nghề

Học phần môn học (MH): Những kiến thức môn chung, KTCS góp phần hình thành NLTH cũng như trình độ đào tạo

Thể hiện mối quan hệ chính thức Thể hiện mối quan hệ có thể

Trong mối quan hệ này, các đường mũi tên nét đứt thể hiện mối quan hệ có thể Mối quan hệ này xảy ra trong các trường hợp khi một học phần môn học có thể tham gia vào việc hình thành nhiều NLTH (môđun) trong cùng trình độ hoặc có thể tham gia vào việc hình thành NLTH ở trình độ cao hơn (dưới dạng các đơn vị học trình) Mối quan hệ này thể hiện tính mềm dẻo trong xây dựng CTM

1.1.7 Quy trình xây dựng CTM

1.1.7.1 Sơ đồ quy trình xây dựng CTM

Với quan niệm xây dựng chương trình đào tạo nghề đang phổ biến, người ta chú trọng tới việc phân tích nghề theo phương pháp DACUM (Developing A curriculun) Ngày nay phương pháp này được coi là sự đổi mới trong kỹ thuật phân

Trình độ đào tạo

Môđun kỹ năng M1

Học phần môn học MH1

Môđun kỹ năng M1

Môđun kỹ năng M1

Học phần môn học MH2

Học phần môn học MHn

Trang 37

tích nghề để soạn thảo nội dung chương trình đào tạo nhằm đáp ứng những yêu cầu sát thực của các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ xã hội

Bản chất của phương pháp phân tích này là làm rõ các nhiệm vụ, công việc, bước công việc và phần công việc của nghề, với trọng tâm là nêu bật các kỹ năng thực hành nghề Các nhiệm vụ và công việc được mô tả rõ yêu cầu, cần thiết về kiến thức, kỹ năng, thái độ để thực hiện trong hoạt động nghề thực tiễn theo các chuẩn trình độ kỹ thuật nghề xác định, từ đó hình thành các môđun đào tạo tương ứng với một nhiệm vụ của nghề

Các giai đoạn xây dựng chương trình có thể mô hình hoá bằng hình 1.11

Hình 1.11 Các giai đoạn xây dựng chương trình đào tạo nghề theo môđun

1.1.7.2 Nội dung các bước trong quy trình xây dựng CTM

Bước 1 Nghiên cứu

- Xác định nhu cầu đào tạo;

- Lựa chọn nghề cần biên soạn chương trình;

- Đưa ra mục tiêu và phạm vi các chương trình cần biên soạn;

- Xác định mục tiêu và chiến lược đào tạo trong nhà trường

Sản phẩm: Báo cáo kết quả nghiên cứu

Trang 38

Bước 2 Phân tích nghề

Nội dung:

- Lựa chọn phương pháp DACUM, bởi vì đây là phương pháp phân tích nghề tiên tiến, đã áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới trong quá trình phát triển chương trình đào tạo nghề

- Để khắc phục sự hạn chế của phương pháp DACUM, cần sử dụng thêm phương pháp chuyên gia để hoàn chỉnh sơ đồ phân tích nghề và bổ xung những

định hướng phát triển của nghề trong tương lai

Sản phẩm: Danh mục các nhiệm vụ và các công việc trong nghề

- Xác định các kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện từng bước c việc

- Xác định các vấn đề về an toàn trong từng bước thực hiện công việc

- Xác định các quyết định, tín hiệu và lỗi thường gặp trong từng bước c việc

Trang 39

- Xác định những kiến thức khoa học, công nghệ cần thiết để thực hiện các công việc theo trình độ đào tạo và phát triển chương trình trong tương lai

- Hệ thống và nhóm các kiến thức theo logic khoa học và logic nhận thức thành các môn học

-Hệ thống và nhóm các kiến thức, kỹ năng theo logic hành nghề thành các môđun

- Xác định thời lượng cần thiết để dạy các môn học và môđun

- Phân tích logic trình tự dạy học theo các môn học và môđun trong ch.trình

- Xác định các vấn đề về tổ chức đào tạo

- Xác định các yêu cầu và công cụ đánh giá kết quả học tập của học viên theo mục tiêu đào tạo đã đề ra

- Xác định các nguồn lực và giới hạn cần thiết để thực hiện ch.trình đào tạo

Sản phẩm: Đề cương chương trình đào tạo

Bước 5 Biên soạn chương trình

- Viết mục tiêu và mục tiêu thực hiện các môđun/ môn học

- Xác định nội dung và thời lượng cho các môđun/ môn học

- Xác định các yêu cầu và công cụ đánh giá kết quả học tập của học viên theo mục tiêu thực hiện của các môđun/ môn học

- Xác định các nguồn lực cần thiết để dạy và học theo môđun

- Xác định số lượng các bài dạy và viết mục tiêu thực hiện cho các bài

- Xác định nội dung và thời lượng dành cho các bài

- Biên soạn chương trình đào tạo theo mẫu định dạng quy định

Sản phẩm: Chương trình đào tạo nghề hoàn chỉnh

Bước 6 Thử nghiệm chương trình đào tạo

- Xác định phạm vi và quy mô đào tạo thử nghiệm

- Biên soạn các công cụ giám sát và quản lý đào tạo thử nghiệm

Trang 40

- Tiến hành đào tạo thử nghiệm một số nội dung trong điều kiện thực tế

- Tổ chức đúc rút kinh nghiệm

- Điều chỉnh, bổ xung chương trình đào tạo

Sản phẩm: Chương trình đào tạo đã hiệu chỉnh

Bước 7 Đánh giá chương trình

- Đánh giá tính chấp nhận được của chương trình đào tạo

- Đánh giá hiệu suất và hiệu quả trong của quá trình đào tạo (chất lượng đào tạo so với các mục tiêu đã đề ra, chi phí nguồn lực hợp lý)

- Đánh giá hiệu quả ngoài của quá trình đào tạo (chất lượng đào tạo tác động tới tổ chức sử dụng người tốt nghiệp, tới xã hội người học)

Sản phẩm: Các khuyến nghị về chương trình đào tạo và việc triển khai

Bước 8 Triển khai chương trình đào tạo

Nội dung:

- Quyết định ban hành và phạm vi sử dụng của chương trình đào tạo

- Kiểm định năng lực đào tạo tại các cơ sở đào tạo nghề

- Triển khai đào tạo ở những cơ sở có đủ điều kiện

- Thanh tra và quản lý việc đào tạo đúng theo chương trình đã ban hành

Sản phẩm: Các quy định ở cấp vĩ mô và các khoá đào tạo nghề

1.2 Thực trạng đào tạo nghề theo môđun

1.2.1 Thực trạng đào tạo nghề theo môđun trên thế giới

- Công nghệ môđun hóa nội dung và tổ chức đào tạo theo học phần đã được

áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trong đào tạo đại học, đào tạo nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên mấy thập kỷ qua ở các nước phương Tây, tiêu biểu là Mỹ, người

ta tổ chức đào tạo đại học trên cơ sở tính tự lực cao của sinh viên Điều này thể hiện

rõ trong “Niên giám” các trường đại học của họ Các trường đại học này thực hiện phân hóa, cá thể hóa trong quá trình đào tạo; lấy tự học, tự học có hướng dẫn của

Ngày đăng: 18/07/2017, 21:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Lê Dần, Bùi Hải (2000), Nhiệt Động kỹ thuật, NXB Khoa học và kỹ thuật 2. Phạm Lê Dần, Đặng Quốc Phú (2005), Cơ sở kỹ thuật nhiệt, NXB Giáo dục 3. Nguyễn Minh Đ−ờng (1993), Môđun kỹ năng hành nghề – Ph−ơng pháp tiếp cận, h−ớng dẫn biên soạn và áp dụng, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệt Động kỹ thuật", NXB Khoa học và kỹ thuật 2. Phạm Lê Dần, Đặng Quốc Phú (2005), "Cơ sở kỹ thuật nhiệt", NXB Giáo dục 3. Nguyễn Minh Đ−ờng (1993), "Môđun kỹ năng hành nghề – Ph−ơng pháp tiếp cận, h−ớng dẫn biên soạn và áp dụng
Tác giả: Phạm Lê Dần, Bùi Hải (2000), Nhiệt Động kỹ thuật, NXB Khoa học và kỹ thuật 2. Phạm Lê Dần, Đặng Quốc Phú (2005), Cơ sở kỹ thuật nhiệt, NXB Giáo dục 3. Nguyễn Minh Đ−ờng
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật 2. Phạm Lê Dần
Năm: 1993
9. Tổng cục dạy nghề (2002), Tài liệu giới thiệu bộ chương trình đào tạo nghề theo môđun, Dự án tăng c−ờng các trung tâm dạy nghề, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giới thiệu bộ ch−ơng trình đào tạo nghề theo môđun
Tác giả: Tổng cục dạy nghề
Năm: 2002
10. Nguyễn Đức Trí (1995), Nghiên cứu ứng dụng phương thức đào tạo nghề theo môđun kỹ năng hành nghề, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ B94-5210PP, Viên nghiên cứu và phát triển giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng ph−ơng thức đào tạo nghề theo môđun kỹ năng hành nghề
Tác giả: Nguyễn Đức Trí
Năm: 1995
11. Nguyễn Đức Trí (1996), Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ B93-52-24, Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề
Tác giả: Nguyễn Đức Trí
Năm: 1996
12. Nguyễn Đức Trí (2004), Phát triển chương trình đào tạo nghề theo năng lực thực hiện, Tài liệu tập huấn xây dựng ch−ơng trình ĐTN, Bộ Giao thông vận tải, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ch−ơng trình đào tạo nghề theo năng lực thực hiện
Tác giả: Nguyễn Đức Trí
Năm: 2004
13. Tr−ờng CNKT Việt Đức (1996), Ch−ơng trình môn học Điện Lạnh - Hệ CNKT, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch−ơng trình môn học Điện Lạnh - Hệ CNKT
Tác giả: Tr−ờng CNKT Việt Đức
Năm: 1996
14. Tr−ờng CNKT Việt Đức (1996), Giáo trình Điện Lạnh cơ bản - Hệ CNKT, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Điện Lạnh cơ bản - Hệ CNKT
Tác giả: Tr−ờng CNKT Việt Đức
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm