1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam hàn quốc nghệ an

111 477 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

là cuộc hành trình với nhiều hướng đi, trong đó đào tạo nghề là hướng đi chủ yếu trong cuộc hành trình này.” Để thích ứng với sự biến động của nền kinh tế trong giai đoạn mới, công tác đ

Trang 1

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

-

luận văn thạc sỹ khoa học ngành: Sư phạm kỹ thuật

Xây dựng chương trình đào tạo nghề Hàn theo mô đun tại trường Kỹ thuật công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc Nghệ an

Nguyễn Hồng Hưng

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Khang

Hà nội 2006

Trang 2

Bảng các cụm từ viết tắt

Cnh – hĐh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

Trang 3

Mục lục

Chương I Khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về

xây dựng chương trình đào tạo theo mô đun 10

1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng chương trình theo mô đun 10

1.1.1 Đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện 10

1.1.2 Những vấn đề về xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật nghề 17

1.1.3 Tích hợp nội dung đào tạo trong đào tạo nghề 19

1.1.4 Các kiểu cấu trúc chương trình đào tạo 21

1.1.5 Xây dựng chương trình đào tạo nghề theo NLTH 27

1.1.6 Những thành phần cơ bản trong cấu trúc CMT 31

1.1.7 Mối quan hệ của các thành phần trong CTM 41

1.2 Thực trạng đào tạo nghề theo mô đun ở Việt Nam 46

1.2.1 Quá trình chuyển giao đào tạo nghề theo mô đun vào Việt Nam

46 1.2.2 Thực trạng đào tạo nghề theo mô đun ở Việt Nam 47

1.2.3 Một số vấn đề tồn tại – Nguyên nhân 50

Chương 2 Xây dựng chương trình đào tạo nghề Hàn theo

mô đun tại trường KTCN Việt Nam – Hàn Quốc 52 2.1 Giới thiệu về trường Kỹ thuật công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc 52

2.1.2 Phân tích điều kiện đáp ứng cho việc dạy học theo mô đun 53 2.2 Phân tích, đánh giá chương trình đào tạo hiện hành 56

Trang 4

2.2.2 Về chương trình các môn học 57

2.2.3 Những hạn chế của chương trình đào tạo hiện hành 59

2.3 Xây dựng chương trình đào tạo nghề Hàn theo mô đun 60

2.3.1 Một số nguyên tắc khi xây dựng chương trình 60

2.3.2 Phân tích các căn cứ pháp lý cho việc xây dựng chương trình

61 2.3.3 Tổ chức kiểm tra thi cử và xác nhận trình độ 64

2.3.4 Cấu trúc chương trình đào tạo theo mô đun 64

2.3.6 Chương trình đào tạo nghề Hàn theo mô đun 77

2.4 Những yêu cầu để triển khai việc tổ chức đào tạo theo mô đun 88

2.5 Tổng hợp thăm dò ý kiến chuyên gia, cán bộ giáo viên 88

Trang 5

Phần 1 mở đầu

1 Lý do nghiên cứu đề tài và lịch sử vấn đề nghiên cứu:

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự phát triển năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang vừa là những thời cơ vừa là những thách thức mới đặt ra cho nền giáo dục Việt Nam nói chung

và cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam nói riêng

Hệ thống giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là công tác đào tạo nghề trong những năm vừa qua đã đạt được những thành tựu đáng kể, đặc biệt là trong việc thực hiện đa dạng hoá mục tiêu, nội dung, phương thức đào tạo, góp phần quan trọng vào việc đào tạo một số lượng lao động đáng kể phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ( CNH – HĐH ) đất nước “Lực lượng lao

động đã qua đào tạo theo các loại hình và trình độ khác nhau chiếm 25% trong tổng số lao động cả nước, đạt chỉ tiêu định hướng Nghị quyết ĐH Đảng X đã

đề ra.”

Tuy nhiên trong quá trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần với cơ chế thị trường, công tác

đào tạo nghề đã bộ lộ những yếu kém, bất cập, đặc biệt là các chương trình

đào tạo, thiếu linh hoạt, kém mềm dẻo, tỏ ra khó thích ứng được với sự biến

động của nền kinh tế đang phát triển

Sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là sự phát triển của khoa học công nghệ đang hàng ngày, hàng giờ làm thay đổi bộ mặt của nền sản xuất, dẫn đến sự thay đổi thường xuyên về tính chất và nội dung lao động nghề nghiệp, nhiều nghề mới xuất hiện, nhiều nghề cũ mất đi và những nghề còn lại cũng được thường xuyên phát triển Những thay đổi đó đặt ra yêu cầu khác nhau về đào tạo, đào tạo lại và đào tạo thay đổi nghề nghiệp Việc bồi dưỡng thường xuyên, liên tục đã trở thành nhu cầu của mọi người, nhu cầu cho sự phát triển của xã hội, trở thành xu thế tất yếu trên thế giới “ Học tập suốt đời

Trang 6

là cuộc hành trình với nhiều hướng đi, trong đó đào tạo nghề là hướng đi chủ yếu trong cuộc hành trình này.”

Để thích ứng với sự biến động của nền kinh tế trong giai đoạn mới, công tác đào tạo nghề, đặc biệt là các chương trình đào tạo cần được mềm hoá, đa dạng hoá nhằm phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu của người học, hình thành và phát triển tốt năng lực thực hiện ( NLTH ) của họ trong nghề nghiệp

Cách tổ chức quá trình đào tạo dựa trên NLTH, thể hiện một phương thức đào tạo mang tính hiệu đại, mềm dẻo, linh hoạt, đào tạo theo kiểu tích luỹ dẫn kiến thức Các kiến thức được bố trí thành các giai đoạn có tính cơ bản

và phần thành các mô đun và có thể lắp ghép được với nhau Học đến đâu, người học được công nhận trình độ đến đó theo một cơ chế đánh giá đủ tin cậy

Mặc khác, với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, gắn với nâng cao

ý thức, kỷ luật lao động, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, với việc làm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Đảng và Nhà nước đã xác định một trong những giải pháp phát triển đào tạo nghề là: “ đổi mới và chuẩn hoá nội dung, chương trình đào tạo theo hướng mềm dẻo, nâng cao kỹ năng thực hành, năng lực tự tạo việc làm, năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất kinh doanh, gắn kết chặt chẽ với việc làm trong xã hội, liên thông với các trình độ đào tạo khác.”

Do vậy đào tạo nghề dựa trên NLTH với các chương trình đào tạo được xây dựng theo mô đun là hướng đi đúng đắn, là những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề (ĐTN), đưa ĐTN nước ta bắt kịp với quá trình tổ chức đào tạo tiên tiến trên thế giới

Những ưu việt của đào tạo mô đun đã được các nhà đào tạo trên thế giới khai thác trong giáo dục, đào tạo ở tất cả các cấp học, các đối tượng, đặc biệt

Trang 7

đối với công nhân Nhiều nước đã áp dụng mô đun trong quá trình đào tạo công nhân kỹ thuật (CNKT )

Từ những năm 20 của thế kỷ 20, mô đun đã được sử dụng để đào tạo công nhân trong các dây chuyền ở Mỹ, sau đó Anh, Pháp, Thuỵ Điển, Oxtraylia, Liên Xô cũ ) và nhiều nước khác như Nam Triều Tiên, Thái Lan, Philipin … cũng như đã áp dụng mô hình này trong đào tạo nghề Theo thời gian và lịch sử, cách thức tổ chức đào tạo theo mô đun ở các nước có thể khác nhau nhưng những tính chất cơ bản nhất chung nhất cho đào tạo theo mô đun

thì vẫn giống nhau, đó là tính trọn vẹn, đơn lẻ, tự hoàn thiện và có thể tự lắp ghép phát triển Nó chứa đựng nội dung đào tạo và có mối quan hệ chặt chẽ

với các yếu tốt khác của quá trình đào tạo

Ngoài ra, UNESCO và ILO là hai tổ chức quốc tế không chỉ khuyến khích mà còn tạo điều kiện cho việc phát triển và ứng dụng các nhóm mô đun trong đào tạo nghề nói riêng và đào tạo nói chung

ở nước ta, phương thức đào tạo nghề theo mô đun cũng được các nhà khoa học trẻ thuộc Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề (nay là Viện chiến lược và Chương trình giáo dục ) quan tâm nghiên cứu từ những thập niên 80 của thế kỷ 20, sau đó một số Trung tâm dạy nghề đã thử nghiệm biên soạn tài liệu và đào tạo nghề ngắn hạn theo phương thức mô đun

Tuy nhiên phương thức đào tạo này vẫn còn là mới mẻ, chưa được tổ chức thực hiện một cách có hệ thống và phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, nhất là

đối với đào tạo dài hạn

Xuất phát từ nhu cầu và tình hình thực tế, việc nghiên cứu đề tài: “ Xây dựng chương trình đào tạo nghề Hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật Công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc Tỉnh Nghệ An” là cần thiết giúp cho nhà trường

có thể chủ động trong việc tổ chức đào tạo theo mô đun cho các nghề cơ khí, làm tiền đề để triển khai rộng rãi đào tạo nghề theo mô đun cho tất cả các nghề đào tạo tại trường, từng bước đáp ứng nhu cầu người học và của xã hội,

Trang 8

góp phần thúc đẩy sự phát triển của phương thức đào tạo nghề theo mô đun cho toàn bộ hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở nước ta

2 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tiến hành xây dựng chương trình đào tạo nghề Hàn theo mô đun tại Trường KTCN Việt Nam - Hàn Quốc Tỉnh Nghệ An

3 Giả thuyết khoa học:

Hiện nay chương trình đào tạo Nghề Hàn tại trường KTCN Việt Nam – Hàn Quốc Tỉnh Nghệ An vẫn theo kiểu truyền thống (theo môn học) Các chương trình này, ngày càng bộc lộ những nhược điểm trước sự phát triển của nền kinh tế, sự phát triển của khoa học công nghệ

Chương trình đào tạo Nghề Hàn sẽ khắc phục được những nhược điểm của chương trình đào tạo kiểu truyền thống, nếu chương trình này được xây dựng dựa trên NLTH theo cấu trúc mô đun

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình đào tạo các nghề Hàn tại trường KTCN Việt Nam - Hàn Quốc

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Chương trình đào tạo Nghề Hàn theo mô đun tại trường KTCN Việt Nam - Hàn Quốc Tỉnh Nghệ An

5 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

a, Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng chương trình đào tạo theo mô đun

b, Xây dựng chương trình đào tạo nghề Hàn theo mô đun tại trường KTCN Việt Nam - Hàn Quốc

Trang 9

5.2 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về xây dựng chương trình khung đào tạo

ở một số nghề cơ khí điển hình theo nhóm nghề, cụ thể là nghề Hàn

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

6.1 Phương pháp luận nghiên cứu

+ Vận dụng phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng

+ Phương pháp tiếp cận hệ thống

6.2 Phương pháp nghiên cứu:

a Phương pháp nghiên cứu lý luận:

+ Nghiên cứu sách, tài liệu, các văn bản pháp quy có liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, khái quát hoá phục vụ cho cơ sở lý luận

và kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan để có các cứ liệu giải quyết các vấn đề lý luận mà đề tài đặt ra

+ Phương pháp mô hình hoá: Phân tích mô hình mô đun làm cơ sở cho việc triển khai vận dụng

b Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp chuyên gia: Tổ chức khảo sát, trao đổi lấy ý kiến của những người có kinh nghiệm trong thực tiễn đào tạo, sản xuất, ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc xây dựng chương trình

+ Điều tra khảo sát bằng phiếu thăm dò

Trang 10

Phần 2 Nội dung

Chương 1 khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về xây

dựng chương trình đào tạo theo mô đun

1.1, Cơ sở lý luận về xây dựng chương trình theo mô đun

1.1.1, Đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện

1.1.1.1, Các khái niệm:

a, Năng lực thực hiện:

“ Năng lực thực hiện” (NLTH) là thuật ngữ khoa học xã hội, dịch từ tiếng Anh dùng trong các tài liệu của nhiều tác giả trình bày về quan điểm

“Giáo dục - Đào tạo dựa trên NLTH”

Có nhiều cách hiểu về NLTH, ngay trong các tài liệu nước ngoài, khái niệm “NLTH” cũng có nội hàm rộng, hẹp khác nhau chút ít Tuy nhiên chúng

có điểm chung là: NLTH liên quan đến nhiều thành tố cơ bản tạo nên nhân cách con người, nó thể hiện sự phù hợp ở mức độ nhất định của những thuộc tính tâm, sinh lý cá nhân với một hay một số hoạt động nào đó Nhờ có sự phù hợp như vậy mà con người thực hiện có kết quả các hoạt động ấy Chỉ thông qua sự thực hiện có kết quả, mọi người khác mới có thể công nhận người đó

có năng lực về hoạt động ấy

Theo tác gia Hanno Hortsch NLTH là sự thể hiện khả năng, trách nhiệm, trình độ trong mối quan hệ hoạt động nghề nghiệp Cũng theo đó thì NLTH bao gồm các thành phần cơ bản như năng lực chuyên môn, năng lực về phương pháp, năng lực xã hội và được hình thành trên cơ sở kiến thức, kỹ năng và thái độ

Trong kết quả nghiên cứu đề tài “Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên NLTH

và xây dựng tiêu chuẩn nghề” (B93 - 38 -24 ) tập thể các nhà khoa học giáo dục đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về NLTH: “NLTH là khả năng thực

Trang 11

hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt

ra đối với từng nhiệm vụ công việc đó”

Theo chúng tôi, khái niệm NLTH dùng trong nghiên cứu đề tài luận văn

này có thể hiểu như sau: NLTH là khả năng thực hiện các công việc của nghề dựa trên cơ sở kiến thức, kỹ năng, thái độ theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng công việc cụ thể

NLTH là các kỹ năng, kiến thức, thái độ đòi hỏi đối với một người thực hiện hoạt động có kết quả ở một công việc hay một nghề

b, Đào tạo nghề dựa trên NLTH

“Đào tạo nghề dựa trên NLTH” được sử dụng để mô tả phương thức đào tạo rất khác với đào tạo truyền thống ở chỗ phương pháp tiếp cần này dựa chủ yếu vào những tiêu chuẩn quy định và đào tạo theo các tiêu chuẩn đó Không nhất thiết phải học tất cả nội dung, đạt tất cả các tiêu chuẩn của nghề đó, mà học đến đâu công nhận kết quả đến đấy và điều đặc biệt là những kết quả trước đây của người học vẫn được công nhận nếu họ chứng minh được là có NLTH theo tiêu chuẩn đề ra

Đào tạo dựa trên NLTH là phát triển một lực lượng lao động có năng lực có thể thực hiện được các hoạt động lao động một cách ổn định, phù hợp với các tiêu chuẩn đặt ra trong việc làm ở các điều kiện nhất định

Trong đào tạo dựa trên NLTH, một cách rõ ràng là các tiêu chuẩn dựa trên kết quả đầu ra luôn luôn được sử dụng làm cơ sở lập kế hoạch

1.1.1.2, Đặc điểm của đào tạo nghề dựa trên NLTH

a, Định hướng đầu ra:

Theo tác giả Nguyễn Khang và các tác giả khác thì định hướng đầu ra

là đặc điểm quan trọng nhất Đào tạo nghề dựa trên NLTH là định hướng chú

ý vào kết quả, vào đầu ra của quá trình đào tạo Từng người có thể làm được gì trong một tình huống lao động nhất định đạt tiêu chuẩn đề ra

Trong đào tạo dựa trên NLTH, một người có NLTH là người:

Trang 12

- Có khả năng làm được cái gì đó (Điều này có liên quan tới nội dung

chương trình đào tạo)

- Có thể làm được cái đó tốt như mong đợi (Điều này có liên quan đến

việc đánh giá kết quả học tập của người học dựa vào tiêu chuẩn nghề)

Như vậy, mỗi người sẽ nắm vững và làm được cái gì đó sau một thời gian học dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào khả năng và nhịp độ học tập của người

đó Người học thực sự được coi là trung tâm, do vậy họ có cơ hội để phát huy tích cực, chủ động của mình

b, Mối quan hệ của các mục tiêu:

Để xác định được các NLTH, người ta phải tiến hành phân tích nghề và công việc trong thực tế nghề nghiệp

Giữa khu vực lao động nghề nghịêp thực tế và khu vực đào tạo nhân lực cho lao động có sự phân biệt về mục đích và các mục tiêu của chúng

Người lao động phải thực hiện được mục đích của một nghề, một việc nhất định trong thế giới lao động, đó là phải tạo ra được những sản phẩm hay dịch vụ xã hội Muốn vậy, người lao động phải có những kỹ năng, kiến thức

và thái độ tương ứng ở trình độ theo yêu cầu đặt ra

Đào tạo có mục đích là hình thành những kỹ năng, kiến thức và thái độ cho người học để sau khi học xong họ có thể thực hiện được các hoạt động lao

động tạo ra những sản phẩm hay dịch vụ cho xã hội

Tuy nhiên, mục đích của hai khu vực đó lại có quan hệ chặt chẽ với nhau Để đạt được các mục đích ấy, việc phát triển đào tạo dựa trên NLTH đã tiếp cận từ hai phía với các mục tiêu của các hoạt động hay thành phần tương ứng nhau ở hai khu vực ( xem hình 1.1 )

Trang 13

Khu vực lao động Khu vực đào tạo cho lao động

Mục đích của một nghề/việc

Nhằm cung cấp những sản

phẩm hay dịch vụ xã hội cần

đến những kỹ năng, kiến thức

và thái độ nhất định

Mục đích của đào tạo nghề

Nhằm cung cấp các cơ hội học tập cho học sinh nắm vững các kỹ năng, kiến thức và thái độ để bắt đầu một việc hoặc có trước khi làm việc

Các mục tiêu tiền đề

Mục tiêu thực hiện cuối cùng

Hoạt

động

Điều kiện

Tiêu chuẩn

Cho trước cái gì

ở đâu

Khi nào

Tiêu chuẩn

Tốc

độ

Sự chính xác

Chất lượng

Các mục tiêu về hành vi, về

sự thực hiện

Hình 1.1 Mối quan hệ của các mục tiêu

Trang 14

Theo tác giả Hanno Hortsch, NLTH thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa

lĩnh vực hoạt động trong nghề nghiệp, trong cuộc sống, trong xã hội với mục tiêu và nội dung đào tạo

1.1.1.3, Các thành phần của hệ thống đào tạo nghề dựa trên NLTH

Hệ thống này bao gồm 2 thành phần chủ yếu:

ã Dạy và học các NLTH

ã Đánh giá, xác nhận các NLTH

a, Thành phần dạy và học các NLTH

Lĩnh vực hoạt động là những nhiệm vụ phức hợp thống nhất với những

tình huống hoạt động có ý nghĩa về mặt nghề nghiệp cũng như về mặt cuộc

sống và xã hội (Nghề nghệp, công việc)

Lĩnh vực học tậplà lĩnh vực hoạt động được gia

công sư phạm, diễn ra thông qua các tình huống học

tập theo định hướng hoạt động bằng các giờ học cụ

thể (Học phần; các mô đun đào tạo)

Tình huống học tập là cụ thể hoá của lĩnh vực học tập Có thể coi đây

là những nội dung đào tạo cụ thể (Đơn nguyên học tập)

Hình 1.2: Mối quan hệ giữa lĩnh vực hoạt động, lĩnh

vực học tập và tình huống học tập

Trang 15

Một chương trình ĐTN được xem là dựa trên NLTH khi nó thoả mãn

hoàn toàn các đặc điểm của thành phần dạy và học các NLTH sau đây:

ã Đặc điểm của các NLTH mà người học sẽ tiếp thu trong quá trình dạy

học:

- Các NLTH được xác định từ việc phân tích nghề một cách chính xác

và đầy đủ Phương pháp có hiệu quả và được chú ý hơn cả là phương pháp DACUM do một Tiểu ban hay Hội đồng gồm những người đang hành nghề thành thạo trong thực tế và những người quản lý trực tiếp của họ tiến hành

- Các NLTH được trình bày dưới dạng công việc thực hành mà những người thực hành nghề thực tế phải làm hoặc dưới dạng các hành vi về mặt nhận thức và về thái độ tình cảm liên quan đến nghề

- Các NLTH được công bố cho người học biết trước khi vào học

ã Yêu cầu thiết kế việc dạy và học các NLTH:

- Các tài liệu dạy học thích hợp với các NLTH Kiến thức lý thuyết

được học ở mức độ cần thiết đủ hỗ trợ cho sự hình thành và phát triển của các NLTH

- Mỗi người học viên phải liên tục có được các thông tin phản hồi cụ thể

về sự phát triển NLTH của mình

- Mỗi người học phải có đủ điều kiện học tập cần thiết, đặc biệt là điều kiện thực hành nghề

- Người học có thể học hết chương trình của mình ở các mức độ, kết quả khác nhau

b, Thành phần đánh giá và xác nhận NLTH:

Đánh giá là thành phần quan trọng, là khâu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả đào tạo, đặc biệt là trong đào tạo dựa trên NLTH

Đánh giá là một quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những phán xét

về bản chất và phạm vi của sự tiến bộ theo những yêu cầu thực hiện đã được

Trang 16

xác định trong một tiêu chuẩn hay mục tiêu dạy học và đưa ra phán xét rằng NLTH đã được hay chưa ở một thời điểm nhất định

Việc đánh giá trong đào tạo dựa trên NLTH chỉ là theo tiêu chí Nó đo

sự thực hiện của một người hay nó xác định thành tích của người đó trong mối liên hệ với các tiêu chí, tiêu chuẩn chứ không có liên hệ, so sánh gì với thực hiện của người khác Các tiêu chí đánh giá NLTH có thể được xác định từ các tiêu chuẩn NLTH (kỹ năng) quốc gia, địa phương, xí nghiệp và một số quy

định tiêu chuẩn khác

Sự nắm vững các NLTH được đánh giá theo các quan điểm sau:

ã Người học phải thực hành các công việc giống như người công nhân trong thực tế lao động nghề nghiệp

ã Đánh giá riêng rẽ từng người học khi học hoàn thành công việc và nắm vững được một hay một nhóm các NLTH

ã Kiến thức liên quan và thái độ cần có đều là những bộ phận cấu thành trong việc đánh giá NLTH

ã Các tiêu chuẩn dùng trong đánh giá là những tiêu chuẩn ở mức tối thiểu đảm bảo sau khi học xong thì người học có thể bước vào làm việc được chứ không phải là đem so sánh với những người học khác

ã Các chỉ tiêu dùng cho đánh giá được công bố cho người học biết trước khi kiểm tra, thi cử

1.1.1.4 Đặc điểm về quản lý, tổ chức quá trình dạy học theo NLTH

Một chương trình đào tạo nghề dựa trên NLTH phải thể hiện được các

đặc điểm về mặt tổ chức, quản lý sau đây:

- Việc hoàn thành chương trình là dựa trên sự nắm vững tất cả các NLTH đã xác định trong chương trình khung

- Yêu cầu về số tiết học không đặt ra thành các chỉ tiêu cho việc hoán thành chương trình, người học có thể học khả năng và nhịp độ của riêng mình,

Trang 17

không phụ thuộc vào người khác Vì vậy người học có thể vào học và kết thúc việc học ở các thời điểm khác nhau

- Hồ sơ học tập của từng người học được ghi chép, lưu trữ và chúng phản ánh kết quả, thành tích của họ ở một thời điểm ấn định nào đó Người học được phép chuyển tiếp hoặc ra khỏi chương trình không cần học lại những NLTH đã nắm vững nhờ có hệ thống các tín chỉ đã được cấp

- Sự phân loại người học phản ánh mức độ đạt nắm vững các NLTH

1.1.2, Những vấn đề về xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề

Triết lý và đặc điểm cơ bản nhất của đào tại dựa trên NLTH là định hướng đầu ra - NLTH Tiêu chuẩn NLTH hay tiêu chuẩn nghề là yếu tố then chốt và là thước đo của các NLTH

Tiêu chuẩn nghề phản ánh mức độ phức tạp của nghề về đối tượng lao

động, công cụ lao động, quy trình lao động, tổ chức lao động và sản phẩm lao

động Mặt khác cũng phản ánh tiêu chuẩn nghề mà năng lực nghề nghiệp của người lao động phải đáp ứng Trong đó năng lực thực hành là cốt lõi, thường bao gồm kỹ năng thực hiện công việc cụ thể, kỹ năng quản lý công việc, kỹ năng xử lý và giải quyết sự cố, kỹ năng kiểm tra đánh giá kết quả công việc

Với người học, tiêu chuẩn nghề là căn cứ để lựa chọn nghề, lựa chọn mức trình độ để học tập phù hợp với năng lực và điều kiện của bản thân, nhằm

có nhiều cơ hội tìm việc làm Đó cũng là tiêu chuẩn phấn đấu để người học có thể vừa hành nghề vừa không ngừng học tập nâng cao trình độ nghề nghiệp

Trong phương thức đào tạo nghề dựa trên NLTH, khái niệm tiêu chuẩn (cũng chính là tiêu chuẩn NLTH) được hiểu tương đối thống nhất như sau

Tiêu chuẩn nghề là một tập hợp các quy định về công việc cần làm và chuẩn mực cần đạt được trong thực hiện các công việc đó tại chỗ làm ứng với các trình độ của học nghề

Theo định nghĩa trên, ứng với từng bậc trình độ của nghề tiêu chuẩn nghề chứa đựng hai nhóm thông tin về:

Trang 18

- Các đơn vị NLTH và các phần tử NLTH thuộc các đơn vị đó thực chất cho biết: những nhiệm vụ và công việc gì được thực hiện ở chỗ làm việc

- Các chỉ tiêu về thực hiện của các phần tử NLTH trên thực chất cho biết Những công việc đó phải thực hiện đạt tiêu chuẩn mức nào

Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 28/12/2001 có đề ra mục tiêu: “Hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, trong đó chú trọng phát triển đào tạo nghề ngắn hạn và đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao dựa trên nền học vấn trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp

Tiếp theo là quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002 -

2010 theo quyết định của thủ tướng chính phủ số 48/2002/QĐ -TTg ngày 11/4/2002 đã cụ thể hoá mục tiêu tiên tiến trên Theo đó, hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành sẽ thực hiện 3 cấp trình độ đào tạo bao gồm các chương trình dạy nghề ngắn hạn dưới một năm (bán lành nghề) và dài hạn từ một năm đến

ba năm (lành nghề và trình độ cao) như sau:

- Bán lành nghề: Được trang bị một số kiến thức và kỹ năng nghề nhất

định

- Lành nghề: Được trang bị kiến thức và kỹ năng nghề diện rộng hoặc

chuyên sâu có khả năng đảm nhiệm những công việc phức tạp

- Trình độ cao: được trang bị kỹ năng nghề thành thạo và kiến thức

chuyên môn kỹ thuật cần thiết dựa trên học vấn trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp để có khả năng vận hành các thiết bị hiện đại và xử

lý được các tình huống phức tạp, đa dạng trong các dây chuyền sản xuất tự

động, công nghệ hiện đại

Với ba cấp trình độ đã được quyết định, các nhà nghiên cứu đã đề xuất

“khung trình độ đào tạo kỹ thuật thực hành” mô tả các yêu cầu đối với từng trình độ định hướng theo cho việc xác định các kỹ năng cho từng cấp trình độ

Trang 19

Để xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn kỹ năng nghề đào tạo (TCKNNĐT) cần phải thiết lập các nhóm xây dựng TCKNNĐT cho từng ngành nghề đào tạo với các thành viên chủ yếu là các chuyên gia giỏi trong thực tế ở nghề đó

Quá trình xây dựng TCKNNĐT được các nhóm xây dựng TCKNNĐT tiến hành theo các bước chủ yếu sau:

1, Phân tích nghề ra các nhiệm vụ và các công việc (dùng phương pháp DACUM) Hoàn chỉnh sơ đồ DACUM sau khi lấy ý kiến chuyên gia

2, Xếp các công việc/kỹ năng vào các cấp trình độ đào tạo Hoàn chỉnh danh mục các công việc/kỹ năng theo các cấp trình độ đào tạo sau khi lấy ý kiến chuyên gia

3, Phân tích các công việc/kỹ năng Hoàn chỉnh các phiếu phân tích công việc sau khi lấy ý kiến chuyên gia

4, Soạn tiêu chuẩn nghề cho từng công việc, kỹ năng Hoàn chỉnh dự thảo TCKNNĐT sau khi lấy ý kiến chuyên gia

5, Tiến hành các thủ tục để hội đồng thẩm định xét duyệt và cấp có thẩm quyền ban hành bộ TCKNNĐT

Thông thường bước 1 và bước 3 trong quy trình xây dựng TCKNNĐT

trên đây có thể trùng với hai giai đoạn trong quy trình xây dựng chương trình

đào tạo

1.1.3 Tích hợp nội dung đào tạo trong đào tạo nghề:

Tích hợp nội dung đào tạo là một trong các kiểu cấu trúc nội dung đào tạo nhưng là một kiểu đặc biệt làm thay đổi chất lượng thành phần của tri thức, đảm bảo nội dung thích hợp với hoạt động nghề nghiệp Tích hợp nội dung đào tạo có thể hiểu là việc thống nhất các môn học (hay các phần kiến thức của nó) trong một hệ thống thống nhất và hình thành ở học sinh một hệ thống kiến thức – kỹ năng tổng hợp, có những thuộc tính mới này đảm bảo tính cơ bản, hiện đại, thiết thực và đáp ứng trực tiếp mục tiêu đào tạo

Trang 20

Ngày nay, để nghiên cứu một vấn đề nào đó các nhà khoa học thường phải

sử dụng những thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau hoặc nghiên cứu các mô hình tổng quát hơn theo mối quan hệ tổng thể Xu hướng này ảnh hưởng giáo dục và đào tạo nên một quá trình tích hợp, trong đó có sự tích hợp trong chương trình đào tạo Chúng ta có thể hiểu chương trình tích hợp là: “sự

tổ chức có hệ thống nội dung của chương trình đào tạo trong một mô hình lồng ghép có ý nghĩa theo các vấn đề” Vấn đề ở đây chúng ta có thể hiểu là tổ hợp bao gồm các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cần đưa vào nhà trường để dạy Nhưng không để kéo dài thời gian học mà ngược lại còn đòi hỏi phải giảm thời gian đào tạo Vì vậy cần phải tích hợp nội dung đào tạo, tránh sự trùng lặp nội dung kiến thức ở các vùng giao nhau, làm cho chương trình gọn nhự mà vẫn đảm bảo được mối quan hệ giữa chúng, đáp ứng thiết thực mục tiêu đào tạo

Trong các trường dạy nghề hiện nay, ngoài nội dung các môn học chung, nội dung đào tạo được cấu trúc theo 3 khối môn học: Văn hoá phổ thông (VHPT) - kỹ thuật cơ sở (KTCS) và lý thuyết chuyên môn thực hành nghề (LTCM - THN ) Trên cơ sở đó, chương trình tích hợp có thể xây dựng theo 3 hướng:

1, Chương trình tích hợp giữa các lĩnh vực khoa học với nhau: Thực chất là việc tích hợp giữa các mô trong từng khối các môn học VHPT, KTCS

Ta có thể mô tả các hướng tích hợp như hình 1.3

Trang 21

Như vậy: Tích hợp chương trình là việc xây dựng các chương trình đào tạo

mà khi chúng kết hợp với nhau tạo ra một hệ thống mở, có nghĩa là người học cần một trình độ cao hơn thì họ học thêm bất kỳ thời điểm nào, hình thức nào

và bất cứ nơi nào mà không có sự giãn cách hoặc trùng lặp nhau về kiến thức nói chung cũng như không có trở ngại đáng kể Nó tạo nên một hệ thống mềm dẻo, linh hoạt giúp người học được thuận tiện và học tập suốt đời

Với nhận xét trên, tích hợp chương trình mở ra định hướng cấu trúc chương trình đào tạo theo mô đun mà nội dung đào tạo được cấu trúc xoay quanh việc hình thành các NLTH

1.1.4 Các kiểu cấu trúc chương trình đào tạo

1.1.4.1 Một số thuật ngữ về chương trình đào tạo (CTĐT)

ã Chương trình đào tạo:

Xác định “Chương trình đào tạo là mối quan hệ cơ bản của việc ấn định mục tiêu học tập, ấn định nội dung học tập và ấn định tổ chức quá trình học tập”

LTCM – THN

1

VHPT

1

KTCS

1

232

Hình 1.3 Sơ đồ tích hợp nội dung đào tạo

2

Trang 22

Theo đó, CTĐT bao gồm:

- Mục tiêu đào tạo (trình độ đào tạo cần hướng tới)

- Nội dung đào tạo (đối tượng lĩnh hội mà mục tiêu đặt ra)

- Phương pháp (phương tiện và cách thức để đạt được mục tiêu)

- Tổ chức đào tạo (kế hoạch thực hiện)

- Đánh giá (kiểm tra kết quả dạy và học)

Ngoài ra xung quanh CTĐT còn có một số thuật ngữ liên quan:

ã Chương trình giáo dục: Theo nghị định 43/CP thì “Chương trình giáo

dục là văn bản cụ thể hoá mục tiêu giáo dục; quy định phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức hoạt động giáo dục, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và toàn bộ một bậc học, cấp học, trình độ đào tạo”

ã Chương trình dạy nghề: Theo quy định nguyên tắc xây dựng và tổ

chức thực hiện chương trình dạy nghề thì “chương trình dạy nghề quy định mục tiêu, kế hoạch, nội dung các hoạt động dạy nghề” Chương trình dạy nghề bao gồm:

- Mục tiêu đào tạo theo từng trình độ đào tạo

- Kế hoạch đào tạo

- Chương trình môn học hoặc mô đun đào tạo

- Kế hoạch hoạt động giáo dục hoạt động ngoại khoá

ã Chương trình giảng dạy (CTGD): Theo cách truyền thống thì chương

trình giảng dạy như CTĐT nhưng ngày nay khoa học giáo dục hiện đại không dùng cụm từ “Chương trình giảng dạy” thay thế cho CTGD bởi vì cụm từ này với hàm ý chỉ dành cho người dạy mà không chú ý đến người học, cho nên CTGD hiểu theo đúng nghĩa là một phần của CTĐT

ã Kế hoạch đào tạo: bao gồm kế hoạch giảng dạy và kế hoạch học tập

Trang 23

- Kế hoạch giảng dạy: là một bảng danh mục phân phối thời gian toàn bộ khoá học, các môn học và quy định việc kiểm tra nội dung học Nó là một phần của CTĐT dành cho người dạy

- Kế hoạch học tập: là bảng phân phối thời gian, tiến độ thực hiện, quy

định giáo viên giảng dạy, giáo viên hướng dẫn Semina, địa điểm học cho các môn học của từng học kỳ, dành cho người học

ã Chương trình môn học: là văn bản quy định mục tiêu, nội dung, phân

phối thời gian đến từng học trình, từng bài học, nhằm hướng dẫn người dạy thực hiện đúng tiến độ môn học, bài học và nội dung cơ bản cần có của môn học

Các thuật ngữ khái niệm trình bày trên tuy có thể gọi khác nhau nhưng đều

đề cập về khía cạnh của CTĐT Theo tác giả, khái niệm chương trình đào tạo ứng dụng trong luận văn này được hiểu như sau:

Chương trình đào tạo là toàn bộ việc kế hoạch hoá quá trình đào tạo, từ việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện cho đến các cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo

1.1.4.2 Kiểu chương trình đào tạo cho môn học:

Đây là kiểu chương trình đào tạo truyền thống, theo thời gian, lớp bài, khoá học Chương trình thường được xây dựng theo các môn học, chương, mục, …

ít bám sát với nghề Giáo viên tập trung vào bao quát tài liệu giảng dạy Người học hiếm khi biết chính xác họ sẽ học cái gì trong mỗi phần của chương trình

và ít có cơ hội để kiểm tra quá trình và không gian giờ học, vì vậy chương trình thiếu linh hoạt, mềm dẻo Cuối mỗi học kì một số học viên hoàn thành tốt chương trình, còn một số khác thì không hoàn thành tốt hoặc có thể không hoàn thành yêu cầu đặt ra

Trong kiểu chương trình theo môn học, các môn học được tạo thành bởi các “lát cắt” ngang Các môn chung, văn hoá phổ thông, các môn học kĩ thuật

Trang 24

cơ sở (KTCS), phần lí thuyết chuyên môn, phần thực hành nghề được cấu trúc riêng biệt, chúng liên kết với nhau một cách tương đối độc lập

Chương trình kiểu này thường hạn chế:

- Kỹ năng hành nghề chỉ được hình thành sau một thời gian học tập trung tương đối dài ở trường (thường là sau khoá học)

- Không tạo điều kiện cho người học tự chọn cho phù hợp với điều kiện cá nhân (về học vấn, về tài chính)

- Khó khăn khi cần phải thay đổi chương trình

- Không tạo điều kiện cho sự liên thông giữa các trình độ cũng như các phương thức đào tạo

1.1.4.3 Kiểu chương trình đào tạo theo mô đun kỹ năng hành nghề

Đây là một phương thức đào tạo nhằm cung cấp cho người học kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hành vi thái độ tương ứng với một nghề nghiệp nào đó trong xã hội ở các trình độ khác nhau

Mỗi mô đun là sự tích hợp của nhiều lĩnh vực khoa học, ở nhiều mức độ khác nhau và hứơng tới một mục tiêu rõ rệt, thường đó là một thao tác nghề nghiệp để làm được một công việc nhỏ nào đó Nội dung của các mô đun được soạn thảo đảm bảo tính lắp lẫn (để có thể dùng chung cho nhiều nghề) và tính xếp chồng (theo các trình độ khác nhau)

Trong chương trình đào tạo theo mô đun kỹ năng hành nghề (MKH), khái niệm môn học bị phá vỡ Toàn bộ nội dung kiến thức khoa học đã tích

“Lát cắt ngang” Thực hành nghề

Các môn học lý thuyết chuyên mônCác môn kỹ thuật cơ sởCác môn chung

Hình 1.4: Kiểu chương trình đào tạo theo cấu trúc môn học

Trang 25

hợp lý thuyết và thực hành, giúp người học nhanh chóng hình thành được các NLTH nghề nghiệp Có thể mô tả lối cấu trúc chương trình theo MKH bằng sơ

đồ hình 1.5 Các “lát cắt” dọc thay thế cho “lát cắt” ngang Chương trình được xây dựng trên các vấn đề trọn vẹn của các mô đun Trong trường hợp này ranh giới giữa các lĩnh vực kiến thức và kỹ năng không còn nữa

“MKH là một phần nội dung đào tạo của một hay một số nghề hoàn chỉnh

được cấu trúc theo các mô đun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành mà sau khi học xong học sinh có thể ứng dụng để hành nghề trong xã hội” Tiêu chí đánh giá của nó, chính là kỹ năng hành nghề hay cũng chính là các NLTH của người học

ã Ưu điểm của kiểu cấu trúc này:

- Mục tiêu đào tạo và cấu trúc nội dung đa dạng, thời gian đào tạo ngắn, phù hợp với nhu cầu của người học cũng như người sử dụng lao động

- Đào tạo ban đầu và nâng cao trình độ là một quy trình được thực hiện thường xuyên, tạo điều kiện cho người học có thể nhanh chóng đi vào nghề nghiệp cũng như có thể nâng cao trình độ nghề nghiệp tới đỉnh cao khi có điều kiện

“Lát cắt dọc”

Mô đun

1

Thực hành nghềCác môn học lý thuyết chuyên mônCác môn kỹ thuật cơ sởCác môn chung

Mô đun

n

Hình 1.5 : Kiểu chương trình đào tạo theo MKH

Trang 26

- Nội dung đào tạo được tích hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề, thực hiện tốt nguyên lý “học đi đôi với hành”, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo

- Nhanh chóng và kịp thời bổ sung được những kiến thức và kỹ năng nghề phù hợp với sự biến đổi nhanh chóng của tiến bộ kỹ thuật và công nghệ,

có điều kiện để tạo bám sát được yêu cầu của sản xuất Vì đây là hệ thống mở,

có thể bổ sung hoặc thay đổi các đơn nguyên học tập một cách dễ dàng

- Nâng cao tính mềm dẻo, linh hoạt của quá trình đào tạo nghề, tạo điều kiện liên thông giữa một nghề, đặc biệt đối với nghề cùng một lĩnh vực kỹ thuật nhờ vào việc sử dụng chung một số mô đun đơn vị

- Hiệu quả kinh tế và đào tạo cao, vì hầu hết các kiến thức và kỹ năng

đều có thể sử dụng ngay để hành nghề sau khi học xong mỗi MKH

- Người học có thể tự học, đánh giá nhờ vào các hướng dẫn, các bài tập kiểm tra, trắc nghiệm sau khi học xong mỗi đơn nguyên, mỗi mô đun

- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên, trong quá trình dạy học nhờ vào những quy định và hướng dẫn cụ thể

- Có điều kiện thực hiện “cá nhân hoá cao” trong đào tạo nhờ việc đánh giá khả năng, trình độ của từng học viên trước khi học và hướng dẫn lựa chọn các mô đun thích hợp để đạt yêu cầu học tập của họ cũng như mục tiêu đào tạo của nhà trường

ã Hạn chế của kiểu cấu trúc này

- Thiếu tính hệ thống chặt chẽ của từng bộ môn khoa học, kỹ thuật

- Cấu trúc nội dung đào tạo hoàn chỉnh cho toàn khoá của một nghề kém phần lôgíc

- Việc trang bị những kiến thức kỹ thuật cơ bản cho một nghề diện rộng

để tạo khả năng phát triển lâu dài cũng như tạo nên tính thích ứng cao của học sinh với sự biến đổi của khoa học và công nghệ bị hạn chế bởi thời gian đào tạo và cấu trúc lôgíc của quá trình đào tạo Mặt khác kiến thức lý thuyết chỉ

Trang 27

dừng ở mức thấp Người học khó có thể đạt được trình độ phân tích, đánh giá vấn đề

- Đào tạo theo MKH có thể kém hiệu quả đối với những MKH mà phần thực hành chiếm quá ít, hoặc khi các chuẩn đánh giá không được quy định rõ ràng

- Đào tạo theo MKH tốn kém hơn phương thức đào tạo truyền thống vì biên soạn tài liệu giảng dạy phức tạp, phương tiện, thiết bị giảng dạy cần hoàn chỉnh theo quy định

- Giáo viên cần có trình độ cao và phải được bồi dưỡng phương pháp giảng dạy theo MKH

Bởi vậy, đào tạo nghề theo MKH sẽ rất thuận lợi cho các loại hình đào tạo ngắn hạn, còn đối với hệ đào tạo dài hạn thì cần được vận dụng từng bước

và phối hợp giữa phương thức đào tạo theo MKH với phương thức đào tạo truyền thống hiện nay

1.1.4.4 Kiểu chương trình đào tạo kết hợp

Thực chất của kiểu chương trình này là sự kết hợp giữa chương trình

đạo tạo theo môn học (kiểu truyền thống) và chương trình theo MKH (hình 1.6)

Hình 1.6 Mô hình kiểu chương trình đào tạo kết hợp

Mô đun

n

Trang 28

Theo kiểu chương trình này, khối kiến thức các môn chung, các môn kỹ thuật cơ sở là một thành phần của chương trình đào tạo theo mô đun và được mô đun hoá thành các học phần Phần lý thuyết chuyên môn và thực hành nghề được tích hợp thành các mô đun (mô đun kỹ năng)

Chương trình đào tạo kết hợp giữa môn học và mô đun, sau đây gọi là Chương trình đào tạo theo mô đun (CTM), có nhiều ưu điểm, do kết hợp được hai kiểu chương trình đào tạo trên Với chương trình đào tạo kiểu này, nó sẽ tạo khả năng tốt để tổ chức quá trình đào tạo nghề một cách linh hoạt, năng

động, giảm thiểu tối đa sự trùng lặp nội dung do có sự tích hợp giữa lý thuyết chuyên môn và thực hành nghề, điều đặc biệt là nâng cao NLTH của người học

1.1.5 Xây dựng chương trình đào tạo nghề theo NLTH

1.1.5.1 Những định hướng cơ bản về đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình

a Đổi mới mục tiêu chương trình đào tạo

Một trong 5 giải pháp phát triển giáo dục, được xác định trong " Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010" [2, tr.27] là " Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục" theo hướng " chuẩn hoá, hiện đại hoá, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới"

Song song với hệ thống đào tạo theo "luồng hàn lâm" là chủ yếu, đang tồn tại hiện nay, đào tạo nghề cần có những bước đi thích hợp và nhanh chóng trong việc xây dựng hệ thống đào tạo theo "luồng công nghệ" hay "luồng nghề nghiệp" Cơ cấu mục tiêu đào tạo hay cơ cấu trình độ đào tạo phải là đào tạo trên diện rộng, đáp ứng công nghệ thấp nhằm mục tiêu phổ cập nghề; phải đào tạo mũi nhọn, đáp ứng công nghệ cao, cung cấp nguồn nhân lực thích hợp cho

sự nghiệp CNH-HĐH, trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

Trang 29

Những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, những thay đổi của tổ chức sản xuất và phân công lao động xã hội cũng như những đòi hỏi của nền kinh tế trí thức đang dần hình thành , đòi hỏi người công nhân, nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ cả sơ cấp và trung cấp phải được đào tạo ở trình độ cao hơn cả

về LT và đặc biệt là TH so với trình độ đào tạo hiện nay ở một số ngành nghề

có tính chất kỹ thuật hoặc công nghệ ngày càng đòi hỏi sự phân hoá mục tiêu

đào tạo đội ngũ CNKT hiện nay theo hai hướng nhân lực kỹ thuật thực hành như sau:

- Hoặc phải là nhân lực kỹ thuật thực hành trình độ "công nhân lành nghề" không những có khả năng trực tiếp vận hành và sản xuất một cách độc

lập mà còn có khả năng kiểm tra, hướng dẫn, giám sát người khác trong một

số công việc có độ phức tạp trung bình

- Hoặc phải là nhân lực kỹ thuật thực hành "trình độ cao" với những

khả năng mới cao hơn như: khả năng phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết

định về kỹ thuật, các giải pháp xử lý sự cố, tình huống có độ phức tạp tương

đối cao, trong hoạt động nghề nghiệp, khả năng giám sát và phần nào quản lý, lãnh đạo như một "thợ cả"

Bất luận ở cấp trình độ đào tạo nào, ở ngành nghề nào, ngày nay chúng

ta đều cần đặc biệt nhấn mạnh những giá trị và thái độ ưu tiên cần có ở người lao động, chúng phải được thể hiện rõ trong mục tiêu đào tạo Đó là những giá trị và thái độ: đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, tinh thần hợp tác, làm việc theo nhóm, ý thức pháp luật, kỷ luật lao động, v.v

b Đổi mới nội dung chương trình

Việc đổi mới nội dung chương trình đào tạo trong đào tạo nghề phải

đảm bảo được các yêu cầu chủ yếu như:

- Nội dung chương trình phải phù hợp với nhu cầu thị trường lao động về ngành nghề và các cấp trình độ khác nhau;

Trang 30

- Cấu trúc của các chương trình phải được thiết kế liên thông giữa các cấp trình độ đào tạo để đảm bảo tính mềm dẻo, linh hoạt, tạo điều kiện cho người lao động có thể học suốt đời, không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp

- Nội dung chương trình cần được xây dựng theo hướng tiếp cận"năng lực thực hiện" và dựa vào tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng và thái độ của các hoạt đọng lao động nghề nghiệp được xác định rõ ràng để đảm bảo chất lượng

đào tạo toàn diện, đồng thời bảo đảm khả năng hành nghề của người học sau khi tốt nghiệp

Như vậy, định hướng xây dựng nội dung chương trình đào tạo nghề theo mô đun trong tiếp cận "đào tạo theo năng lực thực hiện" là một định hướng

đúng đắn Định hướng này là phù hợp với xu hướng chung trong việc phát triển chương trình đào tạo nghề nghiệp của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay

1.1.5.2 Quan điểm tiếp cận xây dựng chương trình đào tạo nghề theo mô

đun Như phần trên đã trình bày, chương trình đào tạo nghề theo truyền

thống và chương trình đào tạo nghề theo NLTH đều có những mặt mạnh, mặt hạn chế nhất định

Mặt mạnh của kiểu chương trình theo môn học là ở chỗ, việc dạy và học theo các môn học giúp người học nhanh chóng nắm bắt được bản chất khoa học của các sự vật và hiện tượng Kiến thức của người học được hình thành một cách hệ thống theo lôgic của các bộ môn khoa học tương ứng Đó là cơ sở giúp người học có khả năng tư duy sáng tạo và có tiềm năng phát triển trong nghề nghiệp Mặt hạn chế của cấu trúc theo các môn học chính là ở chỗ không có

được những đặc trưng ưu điểm mà kiểu cấu trúc mô đun có

Quan điểm xây dựng chương trình đào tạo nghề sao cho có thể kế thừa, phát huy được tối đa những ưu điểm hay mặt mạnh và loại trừ được càng nhiều càng tốt những hạn chế của cả hai loại cấu trúc nội dung chương trình,

đã hình thành nên kiểu chương trình kết hợp môn học và mô đun (gọi tắt là chương trình theo mô đun) cũng đã trình bày ở trên

Trang 31

Tiếp cận xây dựng chương trình đào tạo theo mô đun thể hiện cụ thể như sau:

- Hình thành loại chương trình kết hợp giữa đào tạo theo NLTH với

đào tạo theo các môn học truyền thống

- Khối kiến thức chung, văn hoá bổ trợ hoặc khoa học cơ bản và lý thuyết cơ sở được xây dựng thành các môn học

- Khối kiến thức lý thuyết chuyên môn và kỹ năng nghề được xây dựng thành các mô đun kỹ năng nghề

1.1.6 Những thành phần cơ bản trong cấu trúc CTM

1.1.6.1 Mô đun

a Khái niệm về mô đun

Từ xa xưa, mô đun có xuất xứ từ thuật ngữ La tinh "modulus", với nghĩa

là "thước đo" chủ yếu được dùng trong xây dựng Cho đến đầu thế kỷ 20 thuật ngữ mô đun vẫn được dùng trong xây dựng và để chỉ các bộ phận xây dựng

được tiêu chuẩn hoá Cho đến giữa thế kỷ 20, khái niệm mô đun mới được truyền tải sang lĩnh vực kỹ thuật Nó được dùng để chỉ các bộ phận cấu thành của thiết bị kỹ thuật có các chức năng riêng biệt và có mối liên hệ lẫn nhau, không nhất thiết phải hoạt động độc lập Sau này, người ta đã chuyển khái niệm mô đun trong kỹ thuật sang khái niệm mô đun trong đào tạo, với việc khai thác các tính chất đặc trưng của nó

Tuỳ thuộc mục đích và cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu giáo dục,

đào tạo, đã có quan niệm và định nghĩa khá phong phú về mô đun dạy học (hoặc mô đun đào tạo)

Trong cuốn "The Modular Curriculum" của David Warwich [31],

"khái niệm mô đun được hiểu như là một đơn vị độc lập, tự bản thân nó đã hoàn thiện, những đơn vị này có thể dùng thêm vào những đơn vị khác để nhằm hướng tới thành công của một nhiệm vụ lớn hơn hoặc lâu dài hơn"

"Mô đun là một đơn vị học tập liên kết tất cả các yếu tố (Aspeets) của các môn học lý thuyết (Academic disciplines) các kỹ năng (Skills) và các kiến

Trang 32

thức liên quan (Related knowledge) để tạo một năng lực chuyên môn" [12, tr.48]

"Mỗi một mô đun là một đơn vị trọn vẹn về mặt chuyên môn Vì vậy, nhờ những điều kiện cơ bản của mỗi mô đun tương ứng với một khả năng tìm việc Điều đó có nghĩa là việc kết thúc một cách thành công việc học tập mô

đun này tạo ra những kỹ năng tối thiểu cần thiết cho tìm việc làm Đồng thời, mỗi mô đun có thế hình thành một bộ phận nhỏ của chuyên môn của một thợ lành nghề" [19, tr.19]

Các mô đun đào tạo có thể được người học lựa chọn một cách tự do hoặc được định hướng, có thể được nối ghép với nhau theo cách thức tích luỹ kiến thức, kỹ năng nhằm đạt được các trình độ khác nhau một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện cá nhân người học và yêu cầu xã hội

Theo ILO, "Mô đun là đơn vị học tập liên kết tất cả các yếu tố của các môn học lý thuyết, các kỹ năng và kiến thức liên quan để tạo ra một năng lực chuyên môn Mỗi mô đun là đơn vị trọn vẹn về mặt chuyên môn, vì vậy tương ứng với một khả năng tìm việc Điều đó có nghĩa là việc kết thúc thành công việc học một mô đun sẽ tạo ra những kỹ năng tối thiểu cần thiết cho việc tìm việc làm Đồng thời, mỗi mô đun có thể hình thành một phần nhỏ chuyên môn của một người thợ lành nghề" [30]

Trong cấu trúc nội dung đào tạo nghề theo MKH, để thuận lợi cho quá trình giảng dạy và học tập cũng như để có khả năng dùng chung một số kiến

thức, kỹ năng nghề cho nhiều nghề đào tạo khác nhau, mỗi MKH được chia thành nhiều mô đun, tương ứng với công việc hợp thành mô đun kỹ năng hành nghề đó Với cấu trúc vậy, "mô đun là một phần của MKH, được phân chia

một cách logic theo từng công việc (task) hợp thành của một nghề nào đó, có

mở đầu và kết thúc rõ ràng" [8.tr.14]

Trang 33

b Các quan điểm về mô đun

Tuy có nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu về mô đun, song cũng thống nhất ở 3 quan điểm sau: [32, tr.180]

ã Quan điểm 1: Mô đun được hiểu là những thành phần trình độ được đào

tạo ngắn hạn, khép kín và kiểm tra đánh giá được Trình độ tổng thể được phân ra thành các mô đun, học xong mỗi mô đun đều được kiểm tra và cấp văn bằng chứng chỉ Người học, học đến đâu có thể sử dụng ngay đến đó, không cần phải tổ chức thi tốt nghiệp

ã Quan điểm 2 : Mô đun được hiểu là những phần trình độ có thể được

đánh giá xác nhận Nhưng các mô đun thành phần đó luôn là một bộ phận của trình độ nghề tổng thể Việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận kết quả theo các mô

đun đơn lẻ không thay cho kỳ thi tốt nghiệp

Quan điểm này phù hợp ý tưởng đào tạo theo mô đun đối với hệ chính quy dài hạn, nhưng không hạn chế áp dụng cho đào tạo ngắn hạn

ã Quan điểm 3: Mô đun được hiểu thuần tuý là đơn vị học tập (học

phần) Nội dung đào tạo được chia nhỏ theo mục tiêu đào tạo thành phần được thực hiện bằng phương pháp dạy học theo dự án và hình thức tổ chức đào tạo cuốn chiếu theo môn học

Tuy có những quan điểm khác nhau về mô đun, nhưng đều thống nhất ở chỗ: Mô đun là những phần trình độ xác định, được kiểm tra đánh giá xác nhận Đào tạo theo mô đun mang tính mềm dẻo, linh hoạt Nó cho phép thích ứng liên tục với chương trình nhằm đảm bảo sự phù hợp của nó với nhu cầu

Trang 34

tạo Nó được thực hiện bởi thứ tự các giờ học dưới hình thức giờ học định hướng vấn đề, giờ học dự án

Ngoài ra, mô đun mang tính chất trọn vẹn, đơn lẻ, tích hợp, tự hoàn thiện và có thể lắp ghép phát triển

c Những dấu hiệu của mô đun

Như đã trình bày ở trên, có rất nhiều khái niệm và quan điểm về mô

đun, tuy nhiên chúng cũng có những điểm chung, thống nhất, đặc biệt là các dấu hiệu của nó Có thể xét ở đây một số dấu hiệu sau của mô đun : [11] , [16]

ã Dấu hiệu trọn vẹn

Tính trọn vẹn thể hiện bản chất của mô đun đào tạo Nó thể hiện sự

"trọn gói" trong cấu trúc, nội dung và quy trình thực hiện để đạt được mục tiêu, trong việc hình thành kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp Tính trọn vẹn thể hiện qua các khả năng "làm được" của người kết thúc mô đun đào tạo Vì vậy có thể áp dụng cách diễn giải của ILO [30] "mô đun là nhiệm vụ (task) có sự bắt đầu và kết thúc rõ ràng"

Dấu hiệu trọn vẹn là tính chất cơ bản nhất của mô đun đào tạo, nó không những chỉ ra bản chất của mô đun mà còn giúp các nhà thiết kế đưa ra

được kích thước của mô đun đào tạo Kích thước lớn hay nhỏ của mô đun phụ

thuộc vào nội dung cần thiết nhằm tạo ra một khả năng thực hiện thành công trọn vẹn công việc

ã Dấu hiệu tích hợp

Tính tích hợp được thực hiện theo những con đường khác nhau Tích hợp giữa các ngành, bộ môn khoa học, tích hợp giữa lý thuyết và thực hành và tích hợp các phương pháp truyền tải nội dung Nhờ tích hợp mà mô đun trở lên trọn vẹn

Dấu hiệu tích hợp nhằm giúp các nhà thiết kế nhận diện được mức độ

và cách thức tích hợp của mô đun đào tạo

Trang 35

mức tối đa Điều này cho phép tạo ra chương trình mềm dẻo, dễ dàng với việc

tổ chức đào tạo theo lớp, nhóm hoặc cá nhân Đồng thời người học có thể xuất phát từ năng lực hiện có để tiếp thu các mô đun đào tạo theo nhịp độ khác nhau, thời lượng khác nhau

ã Đánh giá liên tục và hiệu quả

Dấu hiệu này thể hiện một phương pháp đánh giá đặc thù của mô đun

đào tạo Đánh giá liên tục để nhắc nhở chuẩn mực, để giảm sức ép tâm lý, để gia tăng động cơ học tập "Đánh giá liên tục theo mức độ thuần thục nghề " [19, tr.22]

Đánh giá trong đào tạo theo mô đun không nhằm đánh trượt người học,

nó theo nhịp độ của người học và chủ yếu do người học tự kiểm tra đánh giá

mình Việc kiểm tra đánh giá này được xây dựng trên nguyên tắc là: các kết quả đánh giá phải theo những chuẩn thực hiện về kỹ năng và có thể mô tả, đo,

đếm, quan sát được

ã Dấu hiệu lắp ghép phát triển

Dấu hiệu này thể hiện khả năng lắp ghép và sử dụng nhiều lần của mô

đun đào tạo trong phát triển chương trình do tính chất trọn vẹn mà các mô đun

có được Các mô đun có thể chủ định ghép theo "chiều ngang" nếu như cần

trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản rộng của nhiều lĩnh vực công việc, nghề nghiệp khác nhau Cũng có thể ghép theo "chiều dọc" ( xếp chồng) một số lượng nhất định mô đun cùng về chuyên môn, khác nhau về trình độ

Trang 36

Trên đây là những dấu hiệu cơ bản của mô đun Có thể nói, đây là những dấu hiệu nhận biết mô đun đào tạo Những dấu hiệu này được sử dụng trong việc xác định các mô đun và trong xây dựng CTM Trong các tính chất

đã nêu, trọn vẹn và tích hợp là hai dấu hiệu cơ bản là những dấu hiệu phân

biệt mô đun với môn học, "Môn học có thể có hoặc có thể không bao gồm cả

lý thuyết và kỹ năng thực hành, và có thể không là một nội dung trọn vẹn

Mô đun phải đồng thời tích hợp và trọn vẹn" [11, tr.52] Chính trọn vẹn và tích hợp là hai dấu hiệu thể hiện bản chất của một mô đun đào tạo Chúng giúp người thiết kế chương trình không những nhận dạng được mô đun đào tạo mà còn giúp phân biệt được mô đun với môn học, CTM với chương trình truyền thống

Ngoài những dấu hiệu kể trên, còn có thể bắt gặp nhiều dấu hiệu khác như tính mềm dẻo, tích lũy được, mục đích cao Tuy nhiên, các dấu hiệu này

có chung nội hàm với các dấu hiệu cơ bản

Việc sử dụng các dấu hiệu đã giúp cho việc định ra "kích thước" của mô

đun, một công việc thường gặp khi phân tích nghề để xác định mô đun Công việc phân tích này, trước tiên nhằm chia và xác lập ra các nhiệm vụ hay phần việc Tuy nhiên, các nhiệm vụ này có tương đương với kích thước một mô đun

đào tạo hay không còn tuỳ thuộc vào các dấu hiệu nhận biết, nói một cách khác, khi sử dụng các dấu hiệu nhận biết người ta có thể chia nhỏ hơn hay gộp các nhiệm vụ (task) để có thể hình thành một mô đun

d Cấu trúc của một mô đun đào tạo

Tiếp cận hệ thống đối với đào tạo nói chung đều cho thấy quá trình phát triển và thực hiện chương trình đào tạo có mối quan hệ khăng khít với quá trình phân tích thế giới lao động và công việc (đầu vào) và với quá trình đánh giá và xác nhận kết quả đào tạo đối với người tốt nghiệp (đầu ra) Những thông tin phản hồi về sự phù hợp của lực lượng lao động (người tốt nghiệp), về sự đáp ứng với các mục tiêu kinh tế, xã hội sẽ giúp cho các nhà đào tạo có những

điều chỉnh kịp thời trong việc phát triển và thực hiện chương trình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo Điều đó được sơ đồ hoá đơn giản bằng hình 1.7:

Trang 37

Hình 1.7 Mô hình phát triển chương trình

Mô hình phát triển chương trình này đã ảnh hưởng mạnh đến mô hình cấu trúc của mô hình đào tạo Mỗi một mô hình bao gồm nhiều thành phần từ mục tiêu, nội dung đến cách thức thực hiện trong quá trình đào tạo Các thành phần trong cấu trúc có quan hệ chặt chẽ, và cũng được điều khiển bằng các thông tin phản hồi Có thể tóm tắt cấu trúc của mô đun bằng sơ đồ hình 1.8 [16, tr.1]:

Hình 1.8 Cấu trúc của mô đun đào tạo

Thế giới lao động

và công việc

Phát triển và thực hiện chương trình

Người tốt nghiệp thành thạo

Các mục tiêu

Kiến thức,

KN

Con

đường l.hội

Tổng kết

Khuyến cáo, chỉ dẫn

Các hướng dẫn

và khuyến cáo

Đơn vị học tập (1)

Đơn vị học tập (2)

Test Trung gian

Test kết thúc

Trang 38

Theo tác giả, mô hình cấu trúc của mô đun dùng trong nghiên cứu luận văn này có thể được thể hiện đơn giản qua sơ đồ hình 1.9:

Mô đun giống như những viên gạch xây dựng chương trình, có thể thay đổi dễ dàng để thích ứng với sự phát triển của kỹ thuật Có thể chỉ thay đổi về nội dung trong một mô đun mà không bắt buộc đối với các mô đun khác, đơn giản

là có thể chỉ cải tiến những phần riêng biệt

1.1.6.2 Đơn nguyên học tập

Nội dung đào tạo của mỗi mô đun được chia thành từng nhân tố gọi là

đơn nguyên học tập (ĐNHT), nên có thể nói ĐNHT là bộ phận cấu thành của mô đun, có kích thước nhỏ hơn mô đun Mỗi ĐNHT trình bày một vấn đề chuyên biệt về kiến thức và kỹ năng của một nghề nào đó, nhằm hình thành một năng lực thực hiện

Ví dụ: Để có được năng lực hoàn thành một phần việc trọn vẹn "Quản lý

hồ sơ" trong nghề Thư ký văn phòng, người học cần phải thực hiện được 4 công việc sau:

1 Thu thập hồ sơ, 2 Phân loại, 3 Lưu trữ, 4 Tìm kiếm

Trong trường hợp này các công việc trên được gọi là các đơn nguyên học tập, hay là các đơn nguyên

Mỗi đơn nguyên học tập thường được cấu trúc bởi các phần sau:

- Mục tiêu cho người học;

Trang 39

- Danh mục các phương tiện, thiết bị, vật liệu ,v.v cần cho việc học tập;

- Danh mục các đơn nguyên học tập có liên quan;

- Tài liệu học tập;

- Các câu hỏi kiểm tra trắc nghiệm để đánh giá kết quả học tập

1.1.6.3 Mô đun kỹ năng hành nghề (MKH)

Như chúng ta đã biết, mỗi một mô đun đào tạo có thể giúp người học có

được các kỹ năng thực hiện để hoàn thành một nhiệm vụ trọn vẹn Như vậy, khi

đã hoàn thành một mô đun, người học đã có khả năng đảm nhiệm thành công một công việc cụ thể, ví dụ một sản phẩm hay đảm nhận được một vị trí trong dây chuyền sản xuất Bằng cách đó họ có thể giải quyết được mọi vấn đề học tập của mình (Ví dụ có thể kiếm được việc làm)

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, ví dụ để có được việc làm, người học cần có khả năng thực hiện được một số nhiệm vụ, đảm nhận được một số chức năng của nghề nghiệp Thực tế khiến cho việc học tập chỉ một mô đun không còn đáp ứng được

nữa Thay vào đó người học cần lựa chọn và học tập một số lượng mô đun nhất

định để có thể có việc làm

Trong "Mô đun kỹ năng hành nghề - Phương pháp tiếp cận hướng dẫn biên soạn áp dụng" - Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-07, tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng: "mô đun kỹ năng hành nghề là một phần nội dung đào tạo của một hoặc một số nghề hoàn chỉnh được cấu trúc theo các mô đun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành mà sau khi học xong học sinh có thể ứng dụng để hành nghề trong xã hội" [8, tr.13]

Sự hành nghề của mỗi nghề rất đa dạng trên diện rộng, hẹp, trình độ cao, thấp khác nhau, tuỳ thuộc vào tổ chức, bố trí, phân công lao động, quy mô sản xuất và trình độ công nghệ được áp dụng trong doanh nghiệp Ví dụ

người thợ may trong một doanh nghiệp may, chỉ cần biết may thành thạo một

bộ phận của chiếc áo là đã có thể hành nghề được Nhưng người thợ may trong một cửa hàng may thì lại phải biết đo, cắt, may tất cả các kiểu quần áo

Trang 40

Theo tác giả Nguyễn Khang trong "Nghiên cứu ứng dụng phương thức

đào tạo nghề theo mô đun kỹ năng hành nghề", thì "Một tập hợp hữu hạn có mô đun nhằm giúp người học có khả năng giải quyết được vấn đề (ví dụ kiến việc làm) được gọi là mô đun kỹ năng hành nghề hay mô đun hành nghề " [19, tr.27]

1.1.6.4 Môn học

Môn học là một bộ phận cấu thành của CTM, nó được mô đun hoá dưới dạng các học phần, học trình Mỗi đơn vị học trình (ĐVHT) được tính là 15 tiết Trong CTM các môn học ở đây bao gồm các môn chung và các môn kỹ thuật cơ sở

Khối kiến thức các môn chung: do Nhà nước quy định, gồm các môn

bắt buộc như Chính trị, Pháp luật, Giáo dục thể chất, Quốc phòng, Ngoại ngữ, Tin học

Khối kiến thức các môn kỹ thuật cơ sở: được xây dựng theo nhóm nghề

nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng nền tảng cúa nhóm nghề để giúp người học lĩnh hội các kiến thức chuyên môn cũng như hình thành NLTH Đối với các nghề cơ khí, môn kỹ thuật cơ sở bao gồm: Dung sai - Đo lường, Vật liệu cơ khí, Điện kỹ thuật,

Cơ kỹ thuật, Vẽ kỹ thuật

Việc sắp xếp thứ tự và khối lượng các môn học vào từng cấp trình độ dựa vào các tiêu chuẩn cho các công việc để hình thành NLTH ở cấp trình độ nghề đó Tỷ lệ được quy định trong khung trình độ đào tạo thực hành nghề quốc gia [20]

- Đối với trình độ bán lành nghề: 20% - 30% lý thuyết

- Đối với trình độ lành nghề: 30% - 50% lý thuyết

- Đối với trình độ cao: 40% - 60% lý thuyết

Ngày đăng: 18/07/2017, 21:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1      Mối quan hệ của các mục tiêu - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
Hình 1.1 Mối quan hệ của các mục tiêu (Trang 13)
Hình 1.2: Mối quan hệ giữa lĩnh vực hoạt động, lĩnh - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa lĩnh vực hoạt động, lĩnh (Trang 14)
Hình 1.3 Sơ đồ tích hợp nội dung đào tạo - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
Hình 1.3 Sơ đồ tích hợp nội dung đào tạo (Trang 21)
Hình 1.4: Kiểu chương trình đào tạo theo cấu trúc môn học - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
Hình 1.4 Kiểu chương trình đào tạo theo cấu trúc môn học (Trang 24)
Hình 1.5: Kiểu chương trình đào tạo theo  MKH - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
Hình 1.5 Kiểu chương trình đào tạo theo MKH (Trang 25)
Hình 1.6. Mô hình kiểu chương trình đào tạo kết hợp - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
Hình 1.6. Mô hình kiểu chương trình đào tạo kết hợp (Trang 27)
Hình 1.8. Cấu trúc của mô đun đào tạo. - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
Hình 1.8. Cấu trúc của mô đun đào tạo (Trang 37)
Hình 1.10.  Mối quan hệ giữa các thành phần của CTM - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
Hình 1.10. Mối quan hệ giữa các thành phần của CTM (Trang 41)
1.1.8.1. Sơ đồ quy trình xây dựng CTM - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
1.1.8.1. Sơ đồ quy trình xây dựng CTM (Trang 42)
Bảng 2.1.  Phân phối thời gian các môn học - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
Bảng 2.1. Phân phối thời gian các môn học (Trang 57)
Hình 2.1 : Sơ đồ cấu trúc hệ thống các môn học lý thuyết - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc hệ thống các môn học lý thuyết (Trang 68)
Hình 2.2: Sơ đồ cấu trúc chương trình - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc chương trình (Trang 72)
Bảng 2.3: Tổng hợp các thành phần cấu trúc ch−ơng trình nghề Hàn - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
Bảng 2.3 Tổng hợp các thành phần cấu trúc ch−ơng trình nghề Hàn (Trang 75)
4  Bảng TN mạch điều khiển  “  2  24.655.000  49.310.000 - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
4 Bảng TN mạch điều khiển “ 2 24.655.000 49.310.000 (Trang 96)
1  Bảng thực hành (bàn)  Bộ 60  7.071.000  424.260.000 - Xây dựng chương trình đào tạo nghề hàn theo mô đun tại trường kỹ thuật công nghiệp việt nam   hàn quốc nghệ an
1 Bảng thực hành (bàn) Bộ 60 7.071.000 424.260.000 (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w