DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 2 Sơ đồ các phương pháp kiểm tra đánh giá 28 Hình 3 Sơ đồ các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 40 Hình 4 Biểu đồ mục đích của việc kiểm tra đánh giá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM ĐỒ HỌA CHO MÔN TIN HỌC VĂN PHÒNG TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ
VÀ KINH TẾ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
CHUYÊN SÂU: SƯ PHẠM KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Người hướng dẫn: GS TS NGUYỄN XUÂN LẠC
Hà Nội – 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bộ luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Xuân Lạc Các số liệu trích dẫn được nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả luận văn là trung thực
Hà Nội, ngày 27 tháng 12 năm 2013
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 3MỤC LỤC
TRANG BÌA
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 9
LỜI NÓI ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Mục đích nghiên cứu 12
3 Đối tượng nghiên cứu 13
4 Giả thuyết khoa học 13
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 13
6 Phương pháp nghiên cứu 13
7 Cấu trúc luận văn: 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM 15
1.1 Tổng quan về kiểm tra đánh giá 15
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 15
1.1.1.1 Kiểm tra 15
1.1.1.2 Đánh giá 16
1.1.1.3 Trắc nghiệm 17
1.1.1.4 Trắc nghiệm khách quan 20
Trang 41.1.2.1 Mục đích của việc kiểm tra đánh giá 20
1.1.2.2 Vai trò của việc kiểm tra đánh giá 21
1.1.2.3 Các yêu cầu của việc kiểm tra đánh giá 22
1.1.3 Mục tiêu của kiểm tra đánh giá 25
1.1.4 Các phương pháp kiểm tra đánh giá 28
1.1.4.1 Phương pháp quan sát 28
1.1.4.2 Phương pháp vấn đáp 29
1.1.4.3 Phương pháp kiểm tra viết 29
1.1.4.4 Phương pháp trắc nghiệm khách quan 31
1.1.5 Phương pháp và kỹ thuật trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập 32
1.1.5.1 Lịch sử nghiên cứu 32
1.1.5.2 Các loại trắc nghiệm 33
a) Trắc nghiệm chủ quan (Trắc nghiệm tự luận) 33
b) Trắc nghiệm khách quan 33
c) Trắc nghiệm chuẩn hóa 34
d) Trắc nghiệm do người dạy thiết kế 34
1.1.5.3 Các tiêu chuẩn của một đề trắc nghiệm được xây dựng tốt 34
1.1.5.4 Kỹ thuật soạn một bài trắc nghiệm 35
a) Giai đoạn chuẩn bị 35
b) Giai đoạn thực hiện 37
c) Viết câu nhiễu trong TNKQ 38
1.1.6 Nghiên cứu việc ứng dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan 39
1.1.6.1 Một số quan niệm không đúng về trắc nghiệm khách quan 39
Trang 51.1.6.2 Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 40
a) Câu hỏi nhiều lựa chọn (Multiple Choice Question) 40
b Câu hỏi đúng - sai 41
c Câu hỏi ghép đôi 42
d Câu hỏi dạng điền khuyết 43
e Câu hỏi xếp thứ tự 44
1.2 Tác dụng của hình ảnh trong kiểm tra đánh giá 45
1.2.1 Khái niệm hình ảnh tĩnh và hình ảnh động 45
1.2.2 Tác dụng của hình ảnh trong KTĐG 45
Kết luận chương 2 47
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ MÔN TIN HỌC VĂN PHÒNG TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ KINH TẾ HÀ NỘI 47
2.1 Ý nghĩa của việc giảng dạy môn Tin học văn phòng tại các trường ở Việt Nam 47
2.2 Thực trạng của việc kiểm tra đánh giá tại trường Cao đẳng CN&KT Hà Nội 47
2.3 Chương trình môn “Tin học văn phòng” 59
2.3.1 Mục tiêu môn học 59
2.3.3 Đặc điểm của môn học 59
2.3.2 Nội dung chính của môn học 60
2.3.4 Nhận xét chung về chương trình 61 2.4 Khả năng vận dụng hình thức thi trắc nghiệm đồ họa vào quá trình
Trang 62.5 Giới thiệu chung về một số phần mềm kiểm tra đánh giá 63
Chương 3: XÂY DỰNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM ĐỒ HỌA TRONG KTĐG MÔN “TIN HỌC VĂN PHÒNG” 65
3.1 Quy trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm đồ họa 65
3.1.1 Xác định các mục tiêu đánh giá 66
3.1.2 Xác định bảng phân bổ câu hỏi 68
3.1.3 Viết ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm 69
3.1.4 Chọn ngôn ngữ mô phỏng 72
3.1.5 Các chuyên gia bộ môn góp ý 76
3.1.6 Hoàn thiện câu hỏi trắc nghiệm 77
a) Thử nghiệm trên nhóm người học mẫu 77
b) Phân tích câu hỏi và kết quả thử nghiệm 77
3.2 Xây dựng một số câu hỏi TNĐH cho môn “Tin học văn phòng” 79
3.2.1 Câu hỏi đúng - sai 79
3.2.2 Câu hỏi gợi chọn 82
3.2.3 Câu hỏi điền khuyết 84
3.2.4.Câu hỏi ghép đôi 87
Chương 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 89
4.1 Mục đích thực nghiệm 89
4.2 Đối tượng thực nghiệm 89
4.3 Nội dung thực nghiệm 89
4.4 Tiến trình thực nghiệm 90
4.5 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM KỸ THUẬT….101 PHỤ LỤC 103
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT
Trang 9Bảng 3 Ý nghĩa của môn “Tin học văn phòng” đối với nghề nghiệp
của sinh viên
Bảng 10 Kết quả đánh giá theo mục tiêu bài trắc nghiệm 91 Bảng 11 Kết quả đánh giá câu hỏi trắc nghiệm 93 Bảng 12 Bảng tổng hợp đánh giá câu hỏi qua mức độ khó 93 Bảng 13 Bảng tổng hợp đánh giá câu hỏi hỏi qua mức độ phân biệt 94 Bảng 14 Các loại điểm ở lớp thực nghiệm và đối chứng 94
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2 Sơ đồ các phương pháp kiểm tra đánh giá 28 Hình 3 Sơ đồ các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 40 Hình 4 Biểu đồ mục đích của việc kiểm tra đánh giá 53
Hình 5 Biểu đồ mục tiêu kiến thức người dạy yêu cầu đối với
người học
54
Hình 6 Biểu đồ Ý nghĩa của môn “Tin học văn phòng” đối với
nghề nghiệp của người học
Hình 9 Biểu đồ tần suất áp dụng các hình thức kiểm tra - đánh giá
đối với môn “Tin học văn phòng”
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật cũng như những công trình nghiên cứu, những phát minh mới ra đời một cách nhanh chóng thì sự thay đổi trong giáo dục nhằm đào tạo ra những con người nhanh nhạy, có kiến thức, năng lực và tay nghề vững vàng để theo kịp sự phát triển của xã hội đang là vấn đề trọng tâm của nền giáo dục Nhưng làm thế nào để xác định được năng lực thực sự của những con người mới này, điều này phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đánh giá chất lượng người học
Đánh giá chất lượng người học trong quá trình đối tượng là một vấn đề rất được quan tâm ở nhiều trường nói riêng cũng như của Bộ Giáo dục và Đào tạo nói chung Việc đánh giá được thể hiện thông qua các bài thi, bài kiểm tra kết thúc môn học Chính vì vậy cần phải lựa chọn hình thức thi nào để có thể đánh giá được người học đầu đủ, chính xác và khách quan nhất Trong những năm gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo đã sử dụng hình thức thi trắc nghiệm vào một số môn trong đợt thi tốt nghiệp cũng như thi tuyển sinh năm 2007 Điều đó cho thấy rằng không những đánh giá chất lượng đầu ra mà cả việc chọn lọc người học cũng đã trở thành một vấn đề đang được quan tâm hàng đầu trong nền giáo dục Việt Nam hiện nay
Vậy lựa chọn hình thức thi nào là phù hợp? Thực tế trong các nhà trường Việt Nam từ xưa đến nay thì phương pháp kiểm tra tự luận vẫn đang được áp dụng phổ biến nhất, ngoài ra còn có các phương pháp khác như thi vấn đáp, thi thực hành, thi trắc nghiệm khách quan, trong đó mỗi phương pháp lại có những
ưu, nhược điểm riêng Và với những ưu điểm nhất định thì hình thức thi trắc nghiệm khách quan đang là sự quan tâm, ứng dụng ngày càng nhiều
Bên cạnh việc chọn hình thức thi cho phù hợp với môn học, người dạy ngày nay còn phải biết tạo hứng thú trong thi, kiểm tra cho môn học đó nhằm tạo
Trang 12căng thẳng sẽ giúp cho kết quả thi được tốt hơn và đánh giá được đúng hơn Trong quá trình dạy học, người dạy có thể đưa vào những hình ảnh sinh động, những tình huống khác nhau nhằm gây sự chú ý của người học Còn trong đánh giá kiểm tra trắc nghiệm đòi hỏi người người dạy phải đa dạng câu hỏi, đồng thời cũng có thể sử dụng những hình ảnh nhằm lôi cuốn sinh viên, tạo ra những cơ sở gợi ý cho sinh viên, từ đó giúp họ có hứng thú hơn và chịu khó tìm tòi hơn
Ngày nay với sự trợ giúp của công nghệ thông tin thì việc sử dụng máy tính để tiến hành kiểm tra đánh giá không còn là vấn đề khó khăn Thuận lợi của việc sử dụng máy tính trong kiểm tra đánh giá là: Quản lý bài thi đơn giản, người học có hứng thú hơn trong khi làm bài đặc biệt là khi bài thi có sử dụng những hình ảnh đồ họa sẽ có tác dụng gợi ý sáng tạo hơn cho người học đồng thời khâu chấm bài cũng sẽ dễ dàng và khách quan hơn
Đối với môn “Tin học văn phòng”, do đặc điểm của môn học là môn thực hành là chính Sau khi học xong môn này, yêu cầu người học phải biết thực hiện các thao tác đơn giản đối với các phần mềm Microsoft Word, Microsoft Excel và PowerPoint nên việc tiến kiểm tra - đánh giá trên giấy là không hiệu quả, còn nếu kiểm tra - đánh giá bằng thực hành thì việc đánh giá sẽ chưa thật đầy đủ, toàn vẹn cho chương trình môn học Hơn nữa trắc nghiệm đồ họa hiện chưa có tiền lệ Nhất là đối với ngành kỹ thuật khi học thì người học phải học bằng hai thứ ngôn ngữ Ngôn ngữ thứ nhất là ngôn ngữ nói và viết; ngôn ngữ thứ hai là ngôn ngữ bằng đồ họa Vì người học trong ngành công nghệ có sự khác biệt rất nhiều so với các ngành khác, họ muốn nói với người khác bằng ngôn ngữ đồ họa chứ không nói bằng văn viết Ngôn ngữ đồ họa rất quan trọng, nó có thể dùng cho người câm hoặc những người không hề biết tiếng của nhau cũng có thể sử dụng được… Cho nên luận văn này tác giả có tham vọng có thể dùng nó để trao đổi với người nước ngoài,… Ngôn ngữ đồ họa bao giờ cũng được ưa chuộng rất nhiều Ví dụ như trong ngành hàng không người ta dùng ưu tiên cho đồ họa (đôi khi cần thì chú thích ở dưới hình ảnh đó) Giả sử khi khách hàng tới sân bay có thể họ không thạo tiếng nước đó, muốn biết nơi gửi đồ ở đâu họ sẽ tìm nơi có
Trang 13biểu tượng chiếc Vali, … Tất cả những điêu đó đối với những người bình thường
đã là rất quan trọng vậy thì đối với ngành kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ đồ họa là rất cần thiết Hơn nữa vì đồ họa chưa có nhiều TNĐH là một lĩnh vực học tập rất mới mẻ, và nó chưa được sử dụng tốt trong ngành kỹ thuật Vì vậy với luận văn này sẽ đóng góp thêm vào mặt chưa tốt của ngành Ngoài ra, đặc điểm của môn THVP là dùng rất nhiều biểu tượng nên việc sử dụng đồ họa cho người học trong ngành kỹ thuật là rất quan trọng
Do đó nếu sử dụng hình thức thi TNĐH trên máy tính kết hợp với thi thực hành cho môn học này sẽ đảm bảo được chất lượng của quá trình kiểm tra đánh giá
Có thể nói dạy học và kiểm tra đánh giá người học là hai khâu luôn đi song hành với nhau Từ đó giúp cho việc đánh giá cả người dạy và người học được chính xác hơn nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ người dạy và chất lượng đào tạo sinh viên, nhưng cũng cần phải đảm bảo được tính chính xác, toàn diện, khách quan, đặc biệt cần phải tạo được hứng thú cho người học Do vậy, tác giả luận văn
đã chọn đề tài “Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm đồ họa cho môn Tin học văn
phòng tại trường Cao Đẳng Công nghệ và Kinh tế Hà Nội”
2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp trắc nghiệm khách quan
trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập
- Khảo sát tình hình kiểm tra đánh giá tại Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Hà Nội
- Nghiên cứu nội dung chương trình môn học “Tin học văn phòng” trên cơ
sở đó xây dựng câu hỏi TNKQ đồ họa cho môn học đó
- Thực nghiệm sư phạm đối với hệ thống câu hỏi đã xây dựng để kiểm tra đánh giá độ tin cậy, tính khả thi và hiệu quả của giả thuyết khoa học đã đề ra và hoàn thiện các đề xuất
Trang 143 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm đồ họa cho môn Tin học văn phòng nhằm nâng cao hiệu quả đánh giá kiểm tra kết quả học tập của người học tại Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Hà Nội
4 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn “Tin học văn phòng” của sinh viên chuyên ngành tin học tại Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Hà Nội
5 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các câu hỏi trắc nghiệm đồ học trong ngân hàng câu hỏi một cách khoa học và phù hợp với mục tiêu dạy học sẽ góp phần đánh giá được người học một cách chính xác, đầy đủ khách quan, đồng thời tạo được hứng thú trong kiểm tra đối với môn học này
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Từ những tài liệu có liên quan đến những vấn đề cần nghiên cứu, phân tích, tổng hợp để rút ra cơ sở lý luận của vấn
7 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có: 04 chương
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp trắc nghiệm
Trang 15Chương II: Thực trạng về đánh giá kết quả môn Tin học văn phòng tại Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Hà Nội
Chương III: Thiết kế bộ câu hỏi trắc nghiệm đồ họa
Chương IV: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM
1.1 Tổng quan về kiểm tra đánh giá
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Kiểm tra
Định nghĩa:
Là bộ phận hợp thành của quá trình hoạt động dạy-học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của người học, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy-học.
Đối với quá trình dạy học việc kiểm tra sẽ giúp đánh giá được chất lượng dạy của người dạy và đặc biệt là khẳng định được sự cố gắng nỗ lực cũng như chất lượng của người học, họ đã biết gì và làm được gì sau khi học xong một môn học nào đó
Tuy nhiên, để đánh giá đúng chất lượng của việc học và việc dạy thì phải tiến hành kiểm tra hay thực hiện một hình thức kiểm tra sao cho phù hợp chính xác và khách quan
1.1.1.2 Đánh giá
Định nghĩa đánh giá:
Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng cần đánh giá và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các thang đo hoặc các tiêu chí đã được đưa ra trong các tiêu chuẩn hay chuẩn mực Đánh giá có thể là đánh giá định lượng dưa vào các con số hoặc định tính dựa vào các ý kiến và giá trị
Trang 17Định nghĩa đo lường:
Đo lường là xác định độ lớn của một đại lượng bằng cách so sánh với một đại lượng cũng loại được họn làm đơn vị
Để việc đánh giá được đúng đắn phải triển khai đo lường: muốn so sánh vật nào nặng hơn trong hai vật có bề ngoài không khác nhau người ta phải đem cân chúng lên Việc dạy và học đã xuất hiện trong lịch sử loài người hàng nghìn năm trước đây, và để tuyển dụng người giỏi người ta phải tạo ra các hình thức thi để so sánh các thí sinh với nhau
Trong thực tiễn, sau khi thực hiện kiểm tra và thu được kết quả, người ta tiến hành đánh giá kết quả đó có đúng hay không, có phù hợp với thực tiễn hay không để có biện pháp cải tiến hay thay đổi quá trình
Trong dạy học, việc đánh giá việc học của người học thông qua kiểm tra đánh giá cuối kỳ sẽ biết được họ đã thu được gì trong quá trình học tập Việc đánh giá chính xác kết quả học tập của người học sẽ giúp cho nhà trường thấy được mục tiêu đào tạo của mình có phù hợp không, có đạt chất lượng không để
có thể có được một phương pháp giáo dục thích hợp
Như vậy, đánh giá là sự khẳng định lại trên cơ sở kiểm tra và bao giờ cũng
đi liền với kiểm tra Quá trình kiểm tra nghiêm túc, phù hợp với trình độ người học đồng thời với quá trình đánh giá chính xác, khách quan trình độ của người học sẽ mang lại một kết quả tốt cho thực tiễn cuộc sống
1.1.1.3 Trắc nghiệm
Định nghĩa: Trắc nghiệm là một phép thử (kiểm tra) để nhận dạng, xác
định, thu thập những thông tin phản hồi về những khả năng, thuộc tính, đặc tính, tính chất của một sự vật hiện tượng nào đó
Ví dụ: trắc nghiệm đo chỉ số thông minh (IQ), trắc nghiệm đo thị lực mắt, trắc nghiệm đo nồng độ cồn ở người lái xe,…
Trang 18Trắc nghiệm trong giảng dạy cũng là một phép thử (một phương pháp kiểm tra - đánh giá) nhằm đánh giá khách quan trình độ, năng lưc cũng như kết quả học tập của người học trước, trong quá trình và khi kết thúc một giai đoạn học tập nhất định (phần hoặc bài giảng lý thuyết hoặc thực hành); một chương hoặc một chương trình đào tạo
Định nghĩa: Là phương pháp dùng bài TNKQ để đo lường mức độ mà cá
nhân đạt được các mục tiêu đặt ra Một bài TNKQ thường bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu thường được trả lời bằng một dấu hiệu đơn giản
Loại này cung cấp một phần hay tất cả các thông tin cần thiết và đòi hỏi người học phải chọn một câu để tả lời hoặc chỉ cần cung cấp thêm vài từ Dạng thi này được gọi là khách quan bởi vì chúng đạt tính khách quan khi chấm điểm, tính chất chủ quan chỉ gặp phải ở việc lựa chọn nội dung thi, kiểm tra và ở việc định ra câu trả lời
a) Cơ sở lý luận của TNKQ dựa trên Quy luật số lớn (hoặc luật về giá trị trung bình):
Luật số lớn được chứng minh chặt chẽ trong lý thuyết xác suất Ở đây chỉ xin nêu tới nội dung bản chất của nó (Tương ứng với các ví dụ, xem trong phần phụ lục 5 – Lý thuyết xác suất – Trang 105) luật số lớn được phát biểu như sau:
Khi số lượng phép thử tăng lên đủ lớn, giá trị tần suất sẽ tiến dần đến giá trị xác suất
Trang 19Có thể kiểm tra lại luật số lớn bằng một cách rất đơn giản là chọn một con xúa xắc và tiến hành gieo xúc xắc, đếm số lần gieo và số lần xuất hiện mặt lục ta
sẽ thấy sau khi tăng số lần gieo xúc xắc lên vài trăm, tỷ lệ số lần xuất hiện mặt lục trên tổng số lần gieo sẽ tiến dần đến rất gần giá trị xác xuất 1/6
b) Các loại trắc nghiệm khách quan:
- Câu hỏi gợi chọn
- Câu hỏi đúng sai
- Câu hỏi điền khuyết
- Câu hỏi ghép đôi
Chi tiết xem ở mục 1.1.6.2 Các dạng câu hỏi TNKQ - trang 42
c) Các yêu cầu kiểm tra - đánh giá
1 Kiểm tra - đánh giá là một bộ phận cấu thành nội dung của quá trình đào tạo nói chung và bài giảng nói riêng
2 Kiểm tra - đánh giá được thực hiện liên tục, thường xuyên, trong và kết thúc quá trình dạy - học hay bài giảng
3 Kiểm tra - đánh giá mang tính tự thực hiện việc kiểm tra - đánh giá và tự điều chỉnh quá trình học tập của người học
4 Kiểm tra - đánh giá hướng tới việc khuyến khích và giúp người học củng
cố, nắm vững nội dung học tập, tự đánh giá kết quả học tập
5 Kiểm tra - đánh giá mang tính đơn mục tiêu Mỗi một trắc nghiệm kiểm tra - đánh giá chỉ nhằm xác định được mức độ nhận thức (kiến thức) hoặc mức độ hình thành kỹ năng với một nội dung cụ thể
6 Kiểm tra - đánh giá phải có khả năng đo đếm, lượng giá, quan sát hoặc
mô tả được (định tính và định lượng)
7 Kết quả kiểm tra - đánh giá là nguồn thông tin phản hồi để đánh giá, nhận xét, điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy học
Bảo đảm khách quan, quy chuẩn, giá trị, toàn diện và phát triển
Trang 20Để nghiên cứu định lượng tỉ mỉ các CH hoặc đề trắc nghiệm, người ta phải đưa vào các tham số đặc trưng Khi soạn thảo xong một CH hoặc một ĐTN người soạn thảo chưa biết độ lớn của tham số đó Chúng chỉ được xác định bằng phương pháp thống kê từ kết quả trả lời của các TS đối với các CH
Độ tin cậy
Trắc nghiệm là một phép đo: dùng thước đo là ĐTN để đo lường một năng lực nào đó của TS Độ tin cậy của ĐTN chính là đại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo nhờ ĐTN
Chi tiết xem ở Phụ lục 6 Các tham số đặc trưng cho một câu hỏi trắc nghiệm và một đề trắc nghiệm (Trang 106)
Độ giá trị :
Yêu cầu quan trọng nhất của ĐTN với tư cách là một phép đo lường trong giáo dục là phép đo ấy đo được cái cần đo Nói cách khác, phép đo ấy cần phải đạt được mục tiêu đề ra cho nó Chẳng hạn, mục tiêu đề ra cho tuyển sinh đại học
là kiểm tra xem TS có nắm chắc những kiến thức và kỹ năng cơ bản của chương trình phổ thông trung học hay không để chọn vào học đại học Phép đo bởi ĐTN đạt được mục tiêu đó là phép đo có giá trị Nói cách khác, độ giá trị của ĐTN là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mục tiêu đề ra cho phép đo nhờ ĐTN
Để ĐTN có độ giá trị cao, cần phải xác định tỉ mỉ mục tiêu cần đo qua ĐTN và bám sát mục tiêu đó trong quá trình xây dựng ngân hàng CHTN cũng như khi tổ chức triển khai kỳ thi Nếu thực hiện các quá trình nói trên không
Trang 21đúng thì có khả năng kết quả của phép đo sẽ phản ánh một cái gì khác chứ không phải cái mà ta muốn đo bằng ĐTN
Có thể xét độ giá trị của một ĐTN dưới nhiều góc độ khác nhau, và cũng
có các cách đánh giá định lượng độ giá trị
Chi tiết xem ở Phụ lục 6 Các tham số đặc trưng cho một câu hỏi trắc nghiệm và một đề trắc nghiệm (Trang 106)
1.1.2 Mục đích, vai trò các yêu cầu của việc kiểm tra đánh giá
1.1.2.1 Mục đích của việc kiểm tra đánh giá
Trong mọi lĩnh vực, kiểm tra đánh giá là khâu quan trọng nhằm góp phần trả về xã hội những sản phẩm có chất lượng tốt và đảm bảo theo nhu cầu xã hội
Trong giáo dục, kiểm tra đánh giá có tác động tới việc hình thành kỹ năng,
kỹ xảo của người học Đặc biệt đối với bậc đại học, cao đẳng sẽ tạo ra những kỹ
sư tài năng cho đất nước, cần phải thích ứng nhanh nhạy với sự thay đổi của khoa học công nghệ Khi đó việc kiểm tra đánh giá lại càng cần phải đảm bảo phản ánh đúng nhất, chất lượng nhất
Như vậy, kiểm tra đánh giá có tác động tới mọi đối tượng trong hệ thống giáo dục:
* Đối với người dạy: Kiểm tra đánh giá giúp người dạy xác định được năng lực, mục đích cũng như trình độ của người học, để điều chỉnh nội dung sao cho phù hợp
Ví dụ: Các lớp chính quy so với lớp tại chức hay các lớp đào tạo ngắn hạn
sẽ có trình độ khác nhau, mục đích khác nhau nên lượng kiến thức đưa đến cho các đối tượng này cũng khác nhau
* Đối với người học: Kiểm tra đánh giá góp phần phản ánh năng lực của người học dựa vào kết quả mà họ đạt được, do đó người học sẽ tự ý thức được nhiệm vụ của mình muốn gì, cần gì để từ đó tự giác phấn đấu để đạt được sự tiến
bộ và mục tiêu của mình
Trang 22* Đối với các nhà quản lý giáo dục:
Dựa vào kết quả kiểm tra đánh giá để xác nhận năng lực của người học, từ đó làm cơ sở để cấp văn bằng, chứng chỉ cho họ, đồng thời cũng là
để đánh giá kết quả học tập của người học có đảm bảo cho quá trình tiếp tục học tập hay không và có biện pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường mình
Cũng nhờ vào kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học, nhà trường mới đánh giá được phần nào hoạt động dạy, năng lực thực hành nghề của người dạy, từ đó sẽ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao đối với những người dạy chưa
có đủ kỹ năng sư phạm và kỹ năng nghề cần có
1.1.2.2 Vai trò của việc kiểm tra đánh giá
Trong một nhà trường, hoạt động chủ yếu là quá trình dạy học Quá trình này bao gồm những khâu chủ yếu được mô tả trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 - Quá trình dạy học
Trong sơ đồ trên, kiểm tra - đánh giá có tác động trở lại các đối tượng như sau:
Liên hệ ngược ngoài
Liên hệ ngược trong
Mục tiêu dạy học
Thầy
(phương
pháp dạy)
Nội dung dạy học
Trò (phương pháp học)
Thi kiểm tra
Kết quả dạy học
Trang 23 Đối với người dạy: Kiểm tra đánh giá cho những thông tin về kết quả dạy học, giúp cho người dạy đánh giá được kết quả dạy của người dạy và học của người học, qua đó có thể rút ra kinh nghiệm
về nội dung và phương pháp dạy nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng dạy học
Đối với người học: Kiểm tra đánh giá sẽ cho những thông tin về kết quả học, giúp cho người học tự đánh giá được kết quả của mình đồng thời có tác dụng rèn luyện cho người học khả năng tự lực đặt ra vấn đề và giải quyết vấn đề, phản ứng nhanh nhạy linh hoạt trước những tình huống “có vấn đề”, khả năng lý giải các vấn đề tư duy logic…, tác phong kỷ luật ghép mình vào khuôn khổ, thúc đẩy việc học của người học Ngoài ra kiểm tra đánh giá cũng góp phần giúp cho người học năng lực giảng dạy của người dạy, để từ đó lựa chọn cho mình những người dạy giỏi có thể giúp họ có được những kiến thức mà họ cần cho tương lai, nhất là trong môi trường đào tạo mới như hiện nay, đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Đối với các nhà quản lý giáo dục: Kết quả thi và kiểm tra là những căn cứ pháp lý cơ bản để xử lý người học, là những thông tin rất quan trọng làm rõ cơ sở cho việc điều hành, chỉ đạo quá trình đào tạo trong trường Dựa vào kết quả đánh giá người học để nhà trường có thể sàng lọc những người học có đủ điều kiện, tố chất cho việc đào tạo những ngành nghề phù hợp, đồng thời cũng sàng lọc cả những người người dạy không đủ trình độ, năng lực để đứng trên bục giảng
1.1.2.3 Các yêu cầu của việc kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá có tác động tới mọi đối tượng: người dạy, người học
và các nhà quản lý Vì vậy việc kiểm tra đánh giá cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
Trang 24 Đảm bảo tính quy chuẩn:
Việc kiểm tra để có được kết quả đánh giá chất lượng giáo dục là rất cần thiết cho mọi cấp học, bậc học Tuy nhiên việc kiểm tra đánh giá là nhằm mục đích xác định lượng kiến thức mà người học thu được nên nó cần phải tuân theo một số chuẩn mực nhất định để đảm bảo sự chính xác, tính khách quan tính quy chuẩn trong kiểm tra đánh giá được thể hiện ở một số vấn đề cần được xác định rõ ràng:
- Mục tiêu đánh giá nhằm xác định những tiêu chuẩn cụ thể đối với người được đánh giá
- Đối tượng đánh giá: để có thể đưa ra những nội dung đánh giá cho phù hợp
- Nội dung đánh giá: Cần phải phù hợp với đối tượng được đánh giá, tránh tình trạng bài kiểm tra quá khó hoặc quá dễ, không phản ánh được chất lượng học sinh
- Phương pháp và phương tiện sử dụng: phải phù hợp với từng môn học cụ thể
- Hình thức đánh giá: Tùy thuộc vào tính chất của môn học để có được cách kiểm tra thích hợp, có thể là viết, vấn đáp hoặc thực hành…
- Chuẩn đánh giá (barem điểm) đúng đắn, rõ ràng, công khai
Đảm bảo tính khách quan và tin cậy:
Đây là yêu cầu quan trọng trong quá trình tiến hành kiểm tra đánh giá Nó khẳng định đúng chất lượng của người học và được thể hiện ở một
số điểm sau:
- Tính khách quan được thể hiện ở nội dung kiểm tra phải phù hợp với yêu cầu của chương trình, không xuất phát từ ý muốn chủ quan của người ra đề
Trang 25- Việc tổ chức kiểm tra - đánh giá nghiêm túc theo đúng quy chế: bí mật
đề thi, coi kiểm tra, thi nghiêm túc, tránh hiện tượng nhìn bài, xem tài liệu,… xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm
- Cuối cùng là khách quan trong chấm bài, không theo chủ ý của người chấm, mỗi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng nhất
Đảm bảo tính toàn diện và hệ thống
- Quá trình đánh giá là đầy đủ nếu người được đánh giá hiểu biết sâu sắc
và toàn bộ vấn đề mà người dạy truyền đạt Chính vì vậy việc giao đề phải bao quát toàn bộ chương trình cả khối lượng và chất lượng kiến thức, kỹ năng, năng lực tư duy; năng lực tự học, tính sáng tạo, tinh thần, thái độ học tập Điều này đảm bảo người học có hiểu biết các kiến thức, biết vận dụng, thậm chí nếu có thể thì đánh giá được cả sự sáng tạo của người học
- Đảm bảo tính kiểm tra đánh giá thường xuyên, có hệ thống để thu được “thông tin ngược” về kết quả dạy học, từ đó có cơ sở để đánh giá
và điều chỉnh hoạt động dạy học, tạo động lực kích thích tính tích cực học tập của người học
- Trong dạy học, người dạy cần tuân thủ nghiêm ngặt chế độ kiểm tra, thi: kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra tổng kết, thi… Các kỳ kiểm tra phải được tổ chức, tiến hành một cách khoa học, có kế hoạch và có hệ thống
Đảm bảo tính công khai:
Kiểm tra đánh giá phải được tổ chức và tiến hành công khai về kế hoạch, nội dung kiểm tra và công khai về kết quả
Cần đảm bảo thống nhất giữa nội dung chương trình dạy học với nội dung kiểm tra
Trang 26Kết quả kiểm tra cần được công bố kịp thời để mỗi người học xem xét, tự đánh giá, xếp hạng trong học tập của bản thân cũng như có sự phối hợp giữa các thành viên trong lớp nhằm nâng cao chất lượng lớp học
Đảm bảo tính phát triển:
Kiểm tra phải tác động tích cực vào người học, đòi hỏi phải xem xét theo hướng phát triển Do đó cần kiểm tra đánh giá cả quá trình học tập trên cơ sở xem xét kết quả từng khâu, từng giai đoạn học tập của người học
Người dạy cần biết trân trọng những cố gắng, đánh giá cao những nỗ lực, thành tích của người học, đồng thời uốn nắn, sửa chữa những sai sót, hạn chế của
họ và mở ra triển vọng và hướng phát triển
1.1.3 Mục tiêu của kiểm tra đánh giá
Trong giáo dục, khi đào tạo một thế hệ chúng ta phải xác định đào tạo ai (đối tượng), đào tạo cái gì (nghề), đào tạo như thế nào (phương pháp) và yêu cầu đối với đối tượng được đào tạo là gì (kỹ năng) Đó là những mục đích mà cần phải đặt ra và đạt được Mục tiêu là sự lượng giá của mục đích tại những thời điểm nhất định, tại thời điểm đó người học cần nhận thức được gì, chỉ cần nắm bắt được kiến thức hay đòi hỏi phải thực hành được công việc cụ thể nào đó
Như vậy mục tiêu dạy học chính là:
- Định ra phương hướng, tiêu chí cần đạt được để từ đó quyết định đến nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học
- Xác định cái mà người học phải đạt được sau mỗi phần học và kết quả đánh giá được phản ánh thông qua kiểm tra đánh giá
Để đạt được tốt mục tiêu dạy học, người người dạy phải thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học và giúp người học hình thành nên mức độ nhận thức mà họ phải đạt được qua môn học Còn người học sẽ phải tự biết tìm cho mình một phương pháp hoc tập thích hợp nhằm đạt được kết quả mong muốn
Cấu trúc học tập, theo Bloom (1956) được phân thành 6 mức nhận thức như sau:
Trang 27Hình 1- Thang nhận thức của Bloom
Mức 1: Nhận biết
Mức này yêu cầu người học chỉ cần nắm bắt, ghi nhớ những kiến thức mà người dạy truyền đạt Đó thường là những định nghĩa, thuật ngữ, sự kiện, các quy ước,…
Mức 2: Hiểu
Đến đây người học không chỉ nắm bắt, ghi nhớ mà còn cần phải biết tự giải thích, trình bày vấn đề theo cách riêng của mình Xác định nội dung chính vấn đề đưa ra, từ đó phát triển lên theo ý hiểu của mình
Mức 3: Áp dụng
Bên cạnh việc biết và hiểu vấn đề, người học còn phải biết vận dụng những kiến thức đã học vào trường hợp cụ thể Đây là mức hiểu nên việc kiểm tra đánh giá ở mức này được thông qua kết quả, sản phẩm cụ thể mà người học tạo ra
Trang 28Mức 4: Phân tích
Đây là mức đòi hỏi người học phải tự biết phân tích, đánh giá một vấn đề,
từ đó xác lập mối liên quan giữa các thành phần, các bộ phận, so sánh tìm ra sự giống và khác nhau giữa các vấn đề
Mức 5: Tổng hợp
Từ việc hiểu, biết, vận dụng vào trường hợp cụ thể và biết phân tích vấn
đề thì tổng hợp đòi hỏi người học phải biết lựa chọn, phối hợp những kiến thức
có liên quan và các kỹ năng đa dạng để hoàn thành các dạng bài tập khác nhau Như vậy, ở mức này yêu cầu khả năng tóm tắt, khái quát hóa, lập luận, sắp xếp
và giải quyết vấn đề
Mức 6: Đánh giá
Đây là mức cao nhất của việc kiểm tra đánh giá Ở mức này người học phải tự biết đánh giá vấn đề cụ thể, biết tìm ra cái đúng, cái sai, biết phê phán và đưa ra lời bình luận cho một vấn đề nào đó
Việc chia mục tiêu nhận thức thành 6 mức như trên cũng chỉ là tương đối nên khó có thể đánh giá hết được năng lực thực sự của người học đến mức nào Do đó chúng ta tổng hợp mục tiêu kiểm tra đánh giá lại thành hai phần:
* Mục tiêu cảm xúc:
Đó là việc đạt được những hứng thú trong học tập đối với người học từ đó tác động đến thái độ học tập, tiếp thu và làm tăng khả năng thích nghi đối với môn học
* Mục tiêu vận động tâm lý
Điều này liên quan tới khả năng vận động tư duy (động não), chịu khó tìm tòi để tiếp thu được kiến thức cũng như sáng tạo ra vấn đề mới trong bài học đang được nghiên cứu của người học Để hoàn thành được mục tiêu này, đòi hỏi người người dạy phải biết gợi ý để tác động đến mọi giác quan của người học, giúp cho họ cảm thụ được bài học và kích thích tính tò mò ở người học
Trang 291.1.4 Các phương pháp kiểm tra đánh giá
Hiện nay có nhiều hình thức kiểm tra đánh giá đang được thực hiện Tuy nhiên phương pháp nào là tối ưu, là hoàn thiện đang là mối quan tâm lớn của toàn xã hội Việc áp dụng phương pháp kiểm tra nào tùy thuộc vào đặc điểm của từng môn học cụ thể nhưng phải đảm bảo được tính chính xác, khách quan và toàn diện
Một số phương pháp đang được sử dụng hiện nay:
Hình 2 - Các phương pháp kiểm tra đánh giá
1.1.4.1 Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp kiểm tra tại chỗ và được vận dụng chủ yếu trong các bài thực hành, nhằm giúp người dạy xác định được các kỹ năng về nhận thức, thái độ và mức độ vận dụng kiến thức vào tình huống cụ thể
Các phương pháp quan sát giúp xác định những thái độ, những sự phản ứng vô ý thức, những kỹ năng thực hành và một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu
Nhược điểm của phương pháp này là:
- Không đánh giá được hết khả năng của người học trong toàn bộ chương trình môn học mà chỉ đánh giá được từng phần
- Vẫn mang tính chủ quan, phụ thuộc vào tâm trạng, thái độ của người dạy
Các phương pháp KTĐG
Tự luận Trắc nghiệm
khách quan
Trang 30Ưu điểm của phương pháp này là:
- Có được kết quả ngay sau khi kết thúc buổi thi
- Đòi hỏi người học phải hiểu kỹ vấn đề có thể phát triển lên (nếu cần)
- Giúp người học rèn luyện kỹ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói
Nhược điểm:
- Tốn nhiều thời gian nếu số lượng người học lớn, khi đó sẽ ảnh hưởng tới thái độ, gây cho người dạy trạng thái mệt mỏi và do đó tác động không tốt tới việc chấm điểm Đồng thời người học cũng sẽ mệt mỏi, căng thẳng
- Mức độ khó, dễ trong các đề thi là không tương đương
- Cách hỏi của các người dạy là khác nhau nên việc đánh giá người học
là không chính xác
1.1.4.3 Phương pháp kiểm tra viết
Đây là phương pháp được thực hiện thường xuyên và nhiều nhất trong các
kỳ kiểm tra đánh giá, do dễ tổ chức, dễ thực hiện và trong cùng một lúc có thể kiểm tra đánh giá được nhiều người học Phương pháp này được chia làm hai hình thức thực hiện là trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Trang 31Trắc nghiệm tự luận là phương pháp người dạy đưa ra câu hỏi dưới dạng phân tích, tổng hợp Người học suy nghĩ và diễn đạt ý hiểu của mình bằng ngôn ngữ viết, có dẫn chứng để chứng minh những ý kiến mà mình đưa ra
Có nhiều cách để thực hiện một đề trắc nghiệm tự luận như: viết, tiểu luận, bài tập lớn,… và trong một khoảng thời gian nhất định
Ưu điểm:
- Phương pháp này mang tính tổng hợp nhiều chương, nhiều phần nên
có thể đánh giá được mức độ hiểu vấn đề, phân tích vấn đề của người học đến đâu
- Có thể thực hiện kiểm tra cùng một lúc nhiều người (cả lớp) và trong một khoảng thời gian ngắn nên đỡ gây căng thẳng cho cả người học và người dạy
- Tạo điều kiện cho người học phát triển một cách tự do theo ý hiểu của mình, nhờ đó cũng giúp người dạy tìm ra được những ví dụ hay, những sáng tạo mới mà có khi ngay cả người dạy cũng chưa nghĩ tới
- Người học tự do hơn trong việc trình bày bài làm, thể hiện những hiểu biết, những lập luận và có thể đưa ra ý kiến riêng của mình để so sánh, giải thích, thiết lập các mối quan hệ giữa các vấn đề đang nghiên cứu Nhược điểm:
- Mỗi đề thi thường có ít câu hỏi trên không thể bao trùm hết toàn bộ nội dung chương trình môn học, do đó không thể đánh giá hết trình độ của người học đối với môn học đó như thế nào
- Số lượng người học kiểm tra trong cùng một lúc là nhiều nên dễ nảy sinh nhiều kiểu gian lận trong thi cử như mở sách, xem bài của bạn, học tủ,…
Trang 32- Khó xác định được tiêu chí đánh giá, thường chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và bằng cảm tính nên khó chấm điểm, số lượng bài thi lớn nên tốn nhiều thời gian cho việc chấm bài
- Điểm thi có độ tin cậy thấp do phụ thuộc rất nhiều yếu tố như yếu tố tâm lý, tình trạng sức khỏe của người chấm, thậm chí không tránh khỏi hiện tượng quen biết, xin điểm trong khi chấm bài
Trong tình hình hiện nay các loại hình đào tạo đang được mở rộng với rất nhiều ngành nghề, trường lớp Vì vậy việc sử dụng phương pháp thi vấn đáp và thi trắc nghiệm tự luận là khó có thể thực hiện được và cũng không được khuyến khích thực hiện
1.1.4.4 Phương pháp trắc nghiệm khách quan
Hình thức thi trắc nghiệm khách quan là một bài thi gồm nhiều câu hỏi với các lựa chọn do người dạy đưa ra, người học chỉ việc lựa chọn một đáp án nào là đúng nhất hoặc chỉ cần điền thêm một số từ còn thiếu vào chỗ trống
Trong vấn đề kiểm tra đánh giá hiện nay thì phương pháp trắc nghiệm khách quan đang được khuyến khích sử dụng nhiều nhất Ngay cả trong việc thi tuyển sinh và thi tốt nghiệp là hai cuộc thi quan trọng hàng năm cũng đang được
Bộ giáo dục và đào tạo tiến hành thực hiện theo hình thức thi này
Ưu điểm:
- Trong một thời gian ngắn KTĐG được nhiều kiến thức cụ thể, đi vào những khía cạnh khác nhau của một kiến thức, kỹ năng Nội dung kiểm tra - đánh giá “rộng” có tác dụng chống lại khuynh hướng học tủ, học lệch Số lượng câu hỏi nhiều, đủ cơ sở tin cậy, đủ cơ sở để đánh giá chính xác trình độ của người học thông qua KTĐG
- Tuy việc biên soạn câu hỏi tốn thời gian, song việc chấm bài nhanh chóng và chính xác Lượng thông tin phản hồi lớn, làm cơ sở điều chỉnh quá trình dạy học
Trang 33- Gây hứng thú và tích cực học tập cho người học Giúp người học phát triển kỹ năng nhận biết, hiểu, vận dụng ở mức thấp và mức cao
- Do số lượng câu hỏi nhiều, thời gian dành cho mỗi câu ít nên người học phải tranh thủ đọc, hiểu, suy nghĩ và đưa ra lựa chọn nên tránh được hiện tượng nhìn bài bạn hay mở sách, Đặc biệt việc áp dụng công nghệ mới vào việc soạn ĐTN cũng hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng nhìn bài hay trao đổi bài
Cùng với những ưu điểm như trên thì trắc nghiệm khách quan cũng gặp phải một số nhược điểm:
- Việc soạn thảo được ngân hàng câu hỏi sẽ tốn rất ít thời gian và đòi hỏi người dạy phải nắm chắc kiến thức môn học
- Không tránh khỏi việc đoán mò, may rủi trong khi thi
- Kết quả bài thi không thể đánh giá được hết năng lực của người học, đặc biệt là tính năng động và khả năng sáng tạo của người học do câu hỏi đã có sẵn đáp án Đồng thời hạn chế trong việc đánh giá năng lực diễn đạt viết hoặc nói của người học
Những nhược điểm trên đây đối với phương pháp thi trắc nghiệm khách quan là có thể sửa chữa được một cách dễ dàng dựa vào số lượng thời gian, kinh nghiệm giảng dạy của người học, họ sẽ dễ dàng bổ sung vào ngân hàng câu hỏi ngày càng phong phú hơn, đa dạng hơn
1.1.5 Phương pháp và kỹ thuật trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập
1.1.5.1 Lịch sử nghiên cứu
(Xem phụ lục 4 - lịch sử TNKQ trang 103)
Trong hai năm gần đây 2007 và 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định lựa chọn hình thức thi trắc nghiệm khách quan trong kỳ thi tốt nghiệp trung
Trang 34phương pháp trắc nghiệm khách quan đang dần chiếm được vị trí và hiệu quả trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và trong giáo dục
Riêng đối với trường Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Hà Nội thì phương pháp thi TNKQ còn được vận dụng rất hạn chế Do vậy cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu, xây dựng và ứng dụng trắc nghiệm khách quan vào lĩnh vực dạy học nói chung và trong môn “Tin học văn phòng” nói riêng
1.1.5.2 Các loại trắc nghiệm
a) Trắc nghiệm chủ quan (Trắc nghiệm tự luận)
Là loại bài kiểm tra viết, bao gồm các câu hỏi cho phép có sự tự do tương đối để trả lời một vấn đề được đặt ra, đồng thời lại đòi hỏi người học phải nhớ lại những thông tin, kiến thức đã được học và phải biết sắp xếp, diễn đạt nội dung theo lời văn của mình nhưng phải chính xác, sáng sủa
Đây là một dạng câu hỏi mở Câu trả lời có thể là một đoạn văn ngắn, một bài viết tóm tắt, một bài diễn giải hoặc một bài tiểu luận
Hình thức trắc nghiệm này vẫn được xem là chủ quan vì việc đánh giá, cho điểm có thể phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan của người chấm thi từ khâu xây dựng đáp án, thang điểm, xác định các tiêu chí đánh giá đến khâu chấm bài Thông thường một bài thi trắc nghiệm chủ quan gồm ít câu hỏi, nhưng mỗi câu hỏi thường bao hàm hiều ý, nhiều nội dung khác nhau
b) Trắc nghiệm khách quan
Cũng là một bài kiểm tra viết nhưng mỗi đề thi bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi về một nội dung cụ thể nào đó và có kèm phương án trả lời và phương án nhiễu Tuy nhiên trong tổng thể bài thi sẽ bao hàm được toàn bộ chương trình học
Với dạng thi trắc nghiệm khách quan, người học cần lựa chọn được phương án trả lời là đúng hoặc đúng nhất hoặc chỉ cần điền thêm một vài từ Loại câu hỏi này còn được gọi là câu hỏi đóng, người dạy giữ vai trò lựa chọn nội
Trang 35dung thi và định ra các phương án trả lời có sẵn, người học có nhiệm vụ lựa chọn phương án trả lời mà không bổ sung hay thay đổi cách giải
c) Trắc nghiệm chuẩn hóa
Là loại trắc nghiệm do các chuyên gia thuộc về lĩnh vực đó xây dựng một cách công phu, đã qua thử nghiệm, có thể dùng đại trà trong nhiều năm, phương
án được yêu cầu chuẩn mực trong chương trình, phù hợp với trình độ, năng lực chung của người học cùng lứa tuổi, cùng khối lớp
Những trắc nghiệm chuẩn thường thẩm định, thông qua hội đồng cấp quốc gia, được sử dụng cho các kỳ thi cuối cấp để đánh giá kiến thức, kỹ năng, trình
độ, được sử dụng rộng rãi trong ngành giáo dục giúp người dạy đối chiếu, so sánh trình độ người học của mình giảng dạy với trình độ chung
d) Trắc nghiệm do người dạy thiết kế
Hiện nay với sự phát triển của công nghệ thông tin thì mọi lĩnh vực đều có những chuẩn mực nhất định Vì vậy mọi thứ đầu có sẵn kể cả những mẫu bài thi,
đề thi và đáp án Tuy nhiên những mẫu bài này nhiều khi không đáp ứng được nhu cầu của người dạy ở các trường hoặc không thích hợp với mục tiêu giảng dạy của họ Do đó người dạy phải tự soạn những đề thi của riêng họ để đánh giá kết quả học tập trong môn học mình giảng dạy, trong đó có cả các ĐTN khách quan
Đề trắc nghiệm do người dạy thiết kế là loại trắc nghiệm được người dạy
tự xây dựng để sử dụng vào mục đích cụ thể, phù hợp với từng đối tượng học cụ thể và có nội dung được giới hạn trong nội dung bài giảng
1.1.5.3 Các tiêu chuẩn của một đề trắc nghiệm được xây dựng tốt
- Độ giá trị tốt, tức là nó phải đo được cái định đo
- Độ tin cậy tức là phải đo được cái cần đo ở mức độ chắc chắn và chính xác nhất có thể được
Trang 36Ví dụ: Chúng ta cần có một độ tin tưởng nào đó vào thứ tự sắp xếp người học tương ứng kết quả của một ĐTN đặc biệt nào đó Khi đó nếu ta thực hiện ĐTN hai lần trên cùng một đối tượng, trong cùng một điều kiện như nhau thì hai kết quả thu được sẽ gần giống nhau đến mức nào?
- Tránh gây ra những tác dụng không mong muốn về mặt giáo dục Chẳng hạn, nếu đã thống nhất là không nên học vẹt, thì một ĐTN không nên khuyến khích khuynh hướng này trong người học bằng cách làm cho người học có lối học đó được lợi
- Trình bày một cách sáng sủa, với những chỉ dẫn rõ ràng, xác định đối với người học Ngôn ngữ sử dụng cần chính xác và ở mức độ phù hợp với sự trưởng thành của người học
Điều này có ý nghĩa là việc đưa ra câu hỏi trắc nghiệm nhằm đánh giá, phát hiện kiến thức và khả năng của người học Những công việc làm cho họ lúng túng, không thu hút được người học sẽ được coi như thất bại trong việc thu thập chứng
cứ thích hợp hoặc do làm cho người học xao nhãng với công việc đã định trước
Những công việc để đánh giá hợp lý là những việc mà người học muốn tìm cách giải quyết, là những việc nêu một cách rõ ràng những gì đòi hỏi ở người học và cung cấp bằng chứng về năng lực trí tuệ của người học
* Thuận tiện cho việc quản lý và thuận tiện đối với việc cho điểm
1.1.5.4 Kỹ thuật soạn một bài trắc nghiệm
a) Giai đoạn chuẩn bị
Để soạn ra một bộ đề thi hay một ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm phải đòi hỏi mất nhiều thời gian cũng như công phu soạn thảo Những câu hỏi đó phải đáp ứng được một số yêu cầu nhất định như: có phù hợp với mục tiêu đánh giá không? Có nằm trong chương trình giảng dạy không? Như vậy, để có được bộ câu hỏi trắc nghiệm đạt hiệu quả, ta cần phải lứu ý một số nguyên tắc sau:
- Phân tích nội dung và phác thảo đề trắc nghiệm
Trang 37Sự phân tích nội dung sẽ cung cấp một bản tóm tắt những ý đồ của chương trình giảng dạy được diễn đạt theo nội dung Nội dung nào được coi như bao trùm trong khung chương trình học? Có những chương nào quan trọng trong nội dung đó
- Xác định rõ mục tiêu muốn kiểm tra đánh giá: Có nghĩa là phải xác định được những hành vi, kiến thức, trình độ mà người dạy muốn người học đạt được qua môn học là gì? Điều quan trọng là người học biết gì, có thể làm gì, giải quyết như thế nào?
- Lập bảng phân bố các câu hỏi một cách chi tiết trước khi soạn bài trắc nghiệm: Bảng phân bố được lập bằng cách dùng một ma trận, với các mục tiêu ở phía trên và các đề mục hay nội dung ở phía dưới như mẫu sau:
(số câu hỏi)
Hiểu (số câu hỏi)
Vận dụng (số câu hỏi)
Tổng số câu hỏi
Đối với từng mức độ nhận thức cũng có thể đưa ra số lượng câu hỏi khác nhau Điều này căn cứ vào mức độ cần thiết để hình thành và phát triển những năng lực ở người học và yêu cầu của người dạy đối với người học khi tham gia môn học đó phải đạt được yêu cầu nào
Số câu hỏi trong toàn bộ bài kiểm tra trắc nghiệm không quá nhiều cũng không quá ít nhưng phải bao quát được toàn bộ nội dung môn học Đồng thời số lượng câu hỏi phải phụ thuộc vào thời gian dành cho nó sao cho ngay cả những người học làm chậm cũng có thể trả lời được
Trang 38b) Giai đoạn thực hiện
Sau khi đã thực hiện đầy đủ những yêu cầu như phân tích nội dung, xác định mục tiêu kiểm tra đánh giá, lập bảng phân bố thì đi đến xây dựng bộ câu hỏi hay đề thi trắc nghiệm theo quy tắc sau:
- ĐTN phải được soạn và công bố công khai cho người học nhiều ngày trước khi tiến hành thi (kiểm tra)
- Tổng số câu hỏi trong bộ câu hỏi phải nhiều hơn số câu hỏi thường dùng
- Mỗi câu hỏi có liên quan đến một nội dung cụ thể và phải nằm trong chương trình học
- Xây dựng câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, sử dụng ngôn ngữ đơn giản, tránh tối nghĩa Nên chọn những từ có nghĩa chính xác
- Đưa tất cả những thông tin cần thiết vào trong câu dẫn nếu có thể được
- Không cố tăng mức độ khó của câu hỏi bằng cách diễn đạt câu hỏi theo cách phức tạp hơn - trừ khi muốn kiểm tra về mặt đọc hiểu
- Tránh cung cấp những dữ kiện dẫn đến câu trả lời
- Tránh những câu dập khuôn hay những câu trích dẫn từ sách giáo khoa hay bài giảng vì điều này sẽ khuyến khích người học học vẹt để tìm được câu trả lời đúng
- Khi viết câu hỏi không nên đưa ra những từ hay câu thừa
- Tránh những câu hỏi mang tính chất đánh lừa hay gài bẫy và những câu
có sự mơ hồ về mặt ý nghĩa trong câu nhận định và trong câu ý nghĩa
- Tránh sử dụng những câu hỏi đan cài với nhau hay phụ thuộc lẫn nhau
- Khi lên kế hoạch cho một bộ câu hỏi cần chú ý sao cho một câu hỏi không cung cấp đầu mối cho việc trả lời một hay nhiều câu hỏi khác
- Trong bộ câu hỏi, nên sắp xếp các câu trả lời đúng theo cách ngẫu nhiên
Trang 39- Trong bộ câu hỏi hay đề thi nên đề ra phương thức cho điểm cho mỗi câu để giúp người học tự xác định được thang điểm cũng như lựa chọn câu hỏi để trả lời sao cho đạt được số điểm cao nhất
- Các câu hỏi phải được viết như thế nào để chỉ có một câu trả lời đúng duy nhất cho câu hỏi đó
c) Viết câu nhiễu trong TNKQ
Để viết câu nhiễu trong TNKQ:
- Thứ nhất phải hiểu cấu trúc câu TNKQ
- Thứ hai cần phân tích được mối quan hệ trong cấu trúc của câu trắc nghiệm Câu hỏi TNKQ gồm hai phần: Câu dẫn và các phương án lựa chọn
+ Câu dẫn (phần gốc) : Là một câu hỏi hoặc một câu chưa hoàn chỉnh yêu cầu người học phải lựa chọn một trong các đáp án để hoàn thành câu hoàn chỉnh Câu dẫn có nội dung viết ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu không viết dài dòng gây mất thời gian khi người học đọc, tránh gây nhầm lẫn cho người học
+ Phần dẫn có khi là một câu hỏi
+ Phần dẫn có khi là một mệnh đề được dùng làm dữ liệu cho nhiều câu mồi
+ Phần dẫn có khi là một câu chưa đầy đủ còn có để trống
- Các phương án lựa chọn: Mỗi câu TNKQ có 4 phương án lựa chọn, trong đó chỉ có 1 phương án đúng và có 3 phương án gây nhiễu
* Các câu nhiễu: phải là các câu sai trông như có vẻ đúng, có vẻ hợp lý, thu hút sự lựa chọn của người học có nhận thức kém, còn đối với người học khá giỏi thì nó chỉ có tín dụng là câu gây nhiễu mà thôi
- Phương án đúng thể hiện sự hiểu biết của người học khi chọn đáp án chính xác Người học phải nắm vững kiến thức mới phân biệt được
Trang 40- Phương án nhiễu là câu trả lời sẽ dễ gây nhầm lẫn đối với người học học bài chưa kỹ hay kiến thức chưa vững Các câu nhiễu có nội dung hấp dẫn ngang nhau đối với phương án đúng Đây là loại câu trắc nghiệm có độ khó, độ phân biệt cao, thể hiện mức độ yêu cầu kiến thức và kĩ năng ở mức độ hiểu biết và vận dụng Các câu nhiễu có nội dung tương phản với phương án chính xác Người học nắm vững kiến thức mới phân biệt được
1.1.6 Nghiên cứu việc ứng dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan
1.1.6.1 Một số quan niệm không đúng về trắc nghiệm khách quan
- Trắc nghiệm khách quan có tính chất may mắn nhiều hơn: Quan niệm này cũng có một phần nào đúng trong trường hợp câu hỏi có chất lượng thấp, các phương án sai quá lộ liễu hoặc nhìn thấy phương án đúng quá rõ ràng Tuy nhiên người học không thể may mắn được trong tất cả các câu hỏi của bài thi vì bài thi trắc nghiệm khách quan thường có rất nhiều câu hỏi và các câu trả lời thướng sát nhau về nghĩa, nên nếu chỉ đoán mò hay lựa chọn ngẫu nhiên mà không cần đến
sự học tập thì người học chắc chắn cũng sẽ không đạt được điểm cao
- Trắc nghiệm khách quan chỉ đánh giá khả năng ghi nhớ mà không phát huy khả năng tư duy, sáng tạo: Thông thường các bài thi chỉ nhằm mục đích kiểm tra kiến thức người học tiếp thu được đối với môn học và tư duy sáng tạo là một phần rất nhỏ cần đạt được trong mỗi bài kiểm tra Với phương pháp trắc nghiệm khách quan các câu hỏi dưới dạng điền khuyết là đủ để đánh giá được khả năng ghi nhớ, tư duy của người học vì nó buộc họ phải biết lựa chọn từ đúng nhất, thích hợp nhất cho chỗ trống đó
- Phương pháp này dễ sao chép bài hơn: Đây là một quan niệm sai lầm vì mỗi bài thi có rất nhiều câu hỏi và bao trùm toàn bộ chương trình môn học, thời gian dành cho mỗi câu hỏi là ngắn, thang điểm chia đều cho tất cả các câu không thể xem nhẹ câu nhiều điểm hay ít điểm Trong khi hình thức thi trắc nghiệm tự luận thì thang điểm được chia theo từng câu theo mức độ khó, dễ khác nhau, khi làm bài người học chỉ cần đưa ra được ý chính, chủ yếu nhất của câu hỏi là đã đạt