1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện

82 530 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 4,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

kỹ thuật Nam Định 1.4.4 Các nghề đào tạo và quy mô đào tạo của trường 44 1.4.6 Thực trạng sử dụng bài giảng điện tử môn học Cung cấp điện tại trường 46 Chương II NGHIÊN CỨU BIÊN SOẠN BÀ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN MINH QUANG

XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ CHO MÔN HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

- NGUYỄN MINH QUANG

XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ CHO MÔN HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau sáu tháng nghiên cứu và làm việc khẩn trương, được sự giúp đỡ và

hướng dẫn tận tình của TS Phạm Hùng Phi luận văn với đề tài: " Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học Cung cấp điện " đã hoàn thành

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

TS Phạm Hùng Phi, đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này

Viện đào tạo sau đại học, Ban chủ nhiệm và các thầy cô giáo khoa Sư phạm

kỹ thuật, tập thể các thầy cô giáo trường đại học Bách Khoa Hà Nội, Ban giám hiệu trường Đại học sư phạm kỹ thuật Nam Định đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc học tập, nghiên cứu và tiến hành luận văn

Toàn thể các các bạn bè đồng nghiệp, gia đình và người thân đã quan tâm, động viên giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã rất cố gắng tuy nhiên luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2011 Tác giả

Nguyễn Minh Quang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, những gì tôi viết trong luận văn này là do tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể

Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào trên toàn quốc cũng như ở nước ngoài và cho đến nay chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan trên đây

Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Minh Quang

Trang 5

7.2.1 Phương pháp điều tra viết, phương pháp trò chuyện 14

Nội dung

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI

GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN HỌC CUNG CẤP ĐIỆN CHO HỆ CAO

ĐẲNG NGHỀ CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN CÔNG NGHIỆP

15

1.2 Công nghệ dạy học hiện đại và bài giảng điện tử 18

Trang 6

1.2.2.1 Khái niệm quá trình dạy học 19 1.2.2.2 Các nhân tố cơ bản của quá trình dạy học 20

1.3 Tiếp cận phương pháp dạy học qua bài giảng điện tử 26

1.3.2 Phương tiện dạy học và vai trò của phương tiện dạy học 27

1.3.2.5 Các yêu cầu đối với phương tiện dạy học 31

1.3.5.4 Lựa chọn các phần mềm mô phỏng để thể hiện bài dạy thành

chương trình cụ thể chính là xây dựng tiến trình bài học theo ý đồ sư

phạm

37

1.3.5.5 Chạy thử, sửa chữa và hoàn chỉnh bài dạy 38

1.4 Thực trạng dạy học môn học Cung cấp điện tại trường Đại học sư phạm 40

Trang 7

kỹ thuật Nam Định

1.4.4 Các nghề đào tạo và quy mô đào tạo của trường 44

1.4.6 Thực trạng sử dụng bài giảng điện tử môn học Cung cấp điện tại

trường

46

Chương II

NGHIÊN CỨU BIÊN SOẠN BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN HỌC

CUNG CẤP ĐIỆN HỆ CAO ĐẲNG NGHỀ CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN

CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NĐ

49

2.1.5 Đặc điểm của môn học và những phương pháp giảng dạy đặc trưng 51 2.2 Lựa chọn các chương trình để xây dựng bài giảng điện tử môn học Cung

cấp điện

53

2.3 Điều kiện để sử dụng hiệu quả bài giảng điện tử môn học Cung cấp điện

tại trường Đại học sư phạm kỹ thuật NĐ

61

2.4 Khả năng áp dụng bài giảng điện tử môn học Cung cấp điện tại trường

Đại học sư phạm kỹ thuật NĐ

62

Chương III

BIÊN SOẠN MINH HOẠ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN HỌC CUNG

CẤP ĐIỆN CHO HỆ CAO ĐẲNG NGHỀ CHUYÊN NGÀNH HỆ

THỐNG ĐIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NĐ

64

Trang 8

3.2 Kết quả nhận được qua khảo sát nghiên cứu thực tiễn 78

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

 BGĐT : Bài giảng điện tử

 CNTT : Công nghệ thông tin

 LAN : Local Area Networks

 WAN : Wide Area Networks

 GV : Giáo viên

 HS : Học sinh

 SV : Sinh viên

 PPDH : Phương pháp dạy học

 GDĐT : Giáo dục đào tạo

 TLTK : Tài liệu tham khảo

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Bảng 1: So sánh đặc điểm của giáo án điện tử và giáo án truyền thống

Bảng 2: Cơ cấu nhân sự của nhà trường

Bảng 3: Tỉ lệ HS - SV có chỗ ở trong ký túc xá

Hình 1-1: Sơ đồ bản chất của công nghệ dạy học hiện đại

Hình 1-2: Cấu trúc của bài giảng điện tử

Hình 1-3: Cơ cấu tổ chức của nhà trường

Hình 2-1 Giao diện chương trình MS Powerpoint

Hình 2-2 Giao diện chương trình Microsoft Frontpage

Hình 2-3 Giao diện chính chương trình Xara Webstyle

Hình 2-4 Giao diện chương trình Macromedia Flash

Hình 2-5 Giao diện chương trình Hot Potatoes

Hình 3-1: Giao diện bài giảng điện tử

Hình 3-2: Trang giới thiệu

Hình 3-3: Nội dung chương 1

Hình 3-4: Xem nội dung mục 1.1

Hình 3-5: Kiến thức phần khái niệm

Hình 3-6 :Kiến thức phần phân loai

Hình 3-7: Nội dung độ tin cậy cung cấp điện

Hình 3-8: Nội dung chất lượng điện

Hình 3-9:Nội dung phần tính kinh tế

Hình 4-0: Nội dung phần tính an toàn

Hình 4-1: Nội dung phần một số ký hiệu thường dùng

Hình 4-2: Chuyển sang chương 2

Hình 4-3: Giao diện chương 2

Hình 4-4

Hình 4-5 Mục lục chương 2

Hình 4-6: Lưới điện đô thị

Trang 10

Hình 4-6: Lưới điện nông thôn

Hình 4-7: Lưới điện xí nghiệp

Hình 4-8: Các loại dây dẫn

Hình 4-9: Các loại cáp

Hình 5-0: Một số định nghĩa liên quan

Hình 5-1: Cấu trúc đường dây trên không

Hình 5-2: Tài liệu tham khảo

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Thế giới hiện nay đang ở trong thời kì biến đổi cực kì nhanh chóng đi cùng sự phát triển mang tính xu thế tất yếu của kinh tế thị trường và sự phát triển bùng nổ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ đặc biệt là công nghệ truyền thông, đòi hỏi phải luôn có sự đổi mới tư duy giáo dục kịp thời Trong hoàn cảnh ấy giáo dục chính là yếu tố quyết định đến sự tiến bộ đó, giáo dục không những phải cung cấp cho sinh viên tri thức, kỹ năng mà còn giúp sinh viên rèn luyện về nhân cách, về thái độ để khi ra đời có thể học tập suốt đời và tham gia một cách chủ động, sáng tạo vào thế giới Giáo dục giúp mỗi người phát hiện và phát triển thêm tiềm năng sáng tạo của bản thân, phát huy tính độc lập tự chủ trong mỗi người điều đó sẽ giúp mỗi người trở nên "giàu có" về cả tri thức lẫn đạo đức, và quan trọng hơn đó là quá tình phát triển của mỗi con người và cũng là quá trình con người tự khẳng định mình, tự thể hiện mình trong cộng đồng, trong xã hội, nghĩa là giáo dục con người phát triển toàn diện Chính bởi vậy việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm mục đích phát huy tính độc lập sáng tạo của các học sinh, sinh viên trong các trường và thay đổi cách dạy học thụ động truyền thống là hết sức cấp thiết UNESCO đã đúc

kết: "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình", đó là

4 mục tiêu được coi là trụ cột của ngành giáo dục thế kỷ 21 (Báo cáo của Uỷ ban quốc tế về giáo dục TK 21) Muốn đạt được điều đó thì cần phải có những đột phá trong giáo dục nhất là việc thay đổi về phương pháp giáo dục sao cho nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học nhằm phát huy được tính chủ động sáng tạo của học sinh, sinh viên Việc phát triển và ứng dụng của công nghệ thông tin và truyền thông, dạy học đa phương tiện vào quá trình dạy học hiện nay đang được chú trọng

và phát triển Công nghệ thông tin đang trở thành phương tiện dạy học được áp dụng ngày càng rộng rãi để làm tăng hiệu quả và hiệu suất của các bài giảng

Trong những thập niên gần đây, công nghệ dạy học hiện đại đã có bước phát triển nhảy vọt trên cơ sở công nghệ thông tin - truyền thông, mạng Internet; các lý

Trang 12

thuyết về phát triển chương trình và giáo trình, các hoạt động sư phạm; các hệ thống tích hợp với các lộ thông tin đa chiều, đa chức năng (Multimedia) ở các nước công nghiệp phát triển và đang phát triển đã hình thành các cơ sở đào tạo tin học hóa với các phần mềm dạy học hiện đại kết nối hệ thống máy tính, Internet trong một mạng thông tin thống nhất

Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 nêu rõ "CNTT là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển CNTT của đất nước Triển khai áp dụng CNTT trong dạy và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học, xây dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục, phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet của người học "

Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ chính trị khoá VIII về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá khẳng định: "Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, ngành học"

Có thể nhận thấy rằng, các báo cáo, các chỉ thị dù đề cập đến việc áp dụng CNTT hay đổi mới phương pháp giáo dục đều nhằm mục đích là nâng cao chất lượng học tập của sinh viên nói chung

Bên cạnh đó, chúng ta đều biết rằng điện năng là một nguồn năng lượng không thể thiếu trong sản xuất và trong sinh hoạt; nó là một nguồn năng lượng không thể thiếu với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới Lịch sử ngành điện phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử, đến nay về cơ bản Hệ thống điện lưới quốc gia bao gồm rất nhiều các nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện đáp ứng được nhu cầu của xã hội Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo nên sự thay đổi lớn trong tất cả

Trang 13

các lĩnh vực của xã hội trong đó có cả ngành Điện, đó là sự xuất hiện của các nguồn năng lượng điện khác ngoài thuỷ điện và nhiệt điện như năng lượng điện nguyên tử, năng lượng điện mặt trời Để đáp ứng được sự thay đổi đó đòi hỏi tất cả các cán bộ công nhân viên trong ngành Điện phải đảm bảo về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,

có lòng yêu nghề, đặc biệt là với các công nhân điện nói chung, những người trực tiếp tiếp xúc với khoa học kỹ thuật, trực tiếp làm việc với nó thì phải có kỹ năng nghề nghiệp nhất định

Hơn thế nữa, trong tình hình giáo dục hiện nay có rất nhiều trường cùng đào tạo công nhân điện, điều kiện và môi trường giáo dục ở mỗi một đơn vị là khác nhau nên việc phải đảm bảo chất lượng đầu ra của sinh viên là hết sức quan trọng Điều này đòi hỏi các trường phải tìm biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo để xây dựng nên một đội ngũ lao động có kiến thức và có kỹ năng của ngành Điện là một nhiệm

vụ cấp thiết

Trường Đại học sư phạm kỹ thuật NĐ đã và đang cố gắng đẩy mạnh triển khai việc đổi mới chương trình, giáo trình và các phương pháp dạy học trong tất cả các môn học và trong tất cả các hệ đào tạo bảo đảm phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường và nhu cầu của xã hội

Về phương pháp giảng dạy, với đặc thù là trường đào tạo các nghề về Điện có nhiều môn học có nội dung phức tạp, có tính trừu tượng hoá cao và cần cập nhật nhiều kiến thức công nghệ mới nên để hỗ trợ cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy, nhà trường đã đầu tư mua sắm thiết bị phục vụ quá trình giảng dạy, các thiết bị dạy học hiện đại, khuyến khích ứng dụng CNTT và các phương pháp giảng dạy mới vào quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học Nhà trường đang khuyến khích giáo viên của tất cả các môn học tiến hành soạn giáo án điện tử, sử dụng bài giảng điện tử trong quá trình dạy các môn học nói chung và các môn có tính trừu tượng hoá cao như môn Cung cấp điện nói riêng

Để thực hiện một bài giảng điện tử thể hiện rõ các kiến thức trừu tượng thì việc kết hợp sử dụng các phần mềm đồ hoạ hay các phần mềm chuyên dụng như

Trang 14

Autocad, Macromedia Flash, Power Point để xây dựng các mô hình cấu tạo và nguyên lý làm việc của các cơ cấu đo, các dụng cụ đo lường , sẽ tiết kiệm chi phí cho việc chế tạo mô hình học cụ và giúp cho tiết học trực quan trở nên sinh động hấp dẫn, các kiến thức trừu tượng có thể được mô phỏng một cách cụ thể rõ ràng, giúp cho người học hiểu sâu hơn, từ đó ghi nhớ nhanh và lâu hơn, giảm thời gian truyền đạt lý thuyết của giáo viên, tăng thời gian cho người học rèn luyện tay nghề nhằm đạt mục tiêu đào tạo

Được sự đồng ý của TS.Phạm Hùng Phi, xuất phát từ thực tế của thị trường lao

động và xuất phát từ nhu cầu của nhà trường, tôi lựa chọn đề tài: "Nghiên cứu biên soạn bài giảng điện tử môn học Cung cấp điện hệ cao đẳng nghề chuyên ngành điện công nghiệp tại trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật NĐ"

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Áp dụng và khai thác một số phần mềm vào việc biên soạn bài giảng điện tử môn học Cung cấp điện từ đó nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Đại học sư phạm kỹ thuật NĐ

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy và học môn Cung cấp điện ở trường Đại học sư phạm kỹ thuật NĐ

3.2 Đối tượng nghiên cứu

– Nội dung và chương trình môn học Cung cấp điện

– Phương pháp giảng dạy môn học Cung cấp điện

– Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Cung cấp điện

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

– Tìm hiểu lý thuyết biên soạn bài giảng điện tử

Trang 15

– Phân tích nội dung, phương pháp dạy học môn học cung cấp điện

– Nghiên cứu và khai thác một số phần mềm để xây dựng một số chương, bài

cụ thể cho môn học cung cấp điện hệ Cao đẳng nghề chuyên ngành Hệ thống điện tại trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật NĐ

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu xây dựng bài giảng môn Cung cấp điện theo yêu cầu đổi mới PPDH, đáp ứng các yêu cầu sư phạm có thể hỗ trợ tốt hoạt động dạy học của giáo viên, việc sử dụng bài soạn điện tử để giảng dạy môn học Cung cấp điện làm cho quá trình học của sinh viên được tích cực hoá nâng cao chất lượng dạy và học môn cung cấp điện

6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đề tài tập trung nghiên cứu biên soạn bài giảng điện tử môn học Cung cấp điện

hệ Cao đẳng nghề chuyên ngành điện công nghiệp

- Khả năng áp dụng bài giảng điện tử môn học cung cấp điện hệ cao đẳng nghề điện

- Thiết kế minh hoạ

Chương 1 Giới thiệu chung về cung cấp điện

Chương 2 Các loại lưới điện

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Đọc sách và các các tài liệu để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc xây dựng bài giảng điện tử nói chung

- Phân tích nội dung, chương trình môn học cung cấp điện

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra viết, phương pháp trò chuyện

Tìm hiểu thực trạng xây dựng BGĐT tại trường Đại học sư phạm kỹ thuật NĐ

Trang 16

7.2.2 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về phương pháp giảng dạy bộ môn Cung cấp điện, về BGĐT, về trang thiết bị phục vụ giảng dạy và về kinh nghiệm về cách xây dựng BGĐT

Trang 17

đã chỉ rất rõ và cụ thể: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền đạt một chiều, rèn luyện nếp sống tư duy hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, nghiên cứu cho học sinh, sinh viên " vì vậy, vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy là một trọng tâm mà giáo dục cần phải chú ý

Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học và các trường dạy nghề, các đề tài này mới đưa ra một số các giải pháp về bồi dưỡng giáo viên, về đổi mới phương pháp dạy học Ví dụ như dạy học bằng phương pháp nêu vấn đề, dạy học bằng phương pháp thảo luận nhóm hay kết hợp các phương pháp Nhìn chung các phương pháp này mới đưa ra được cách nâng cao chất lượng một cách chung chung về lý thuyết mà chưa đưa ra cách ứng dụng như thế nào vào một trường cụ thể để đạt hiệu quả

Những năm gần đây do sự phát triển của CNTT và sự bùng nổ của Internet trên toàn cầu làm cho việc tìm hiểu thông tin trở nên dễ dàng hơn CNTT phát triển

đã góp phần vào sự đổi mới của phương pháp dạy học vì nó bao gồm sự kết hợp của

kỹ thuật đồ hoạ, sự hoà nhập giữa CNTT và truyền thông, công nghệ Multimedia, công nghệ tri thức, giao tiếp người - máy, phần mềm chuyên dụng, soạn thảo tài liệu học tập, trình chiếu PowerPoint Ngoài ra CNTT còn tạo ra môi trường học tập mới học trong môi trường tương tác đa phương tiện, và tạo ra nhiều cơ hội tìm hiểu

Trang 18

tri thức cho người học, có thể học mọi nơi, mọi lúc CNTT hay công nghệ đa phương tiện có ưu điểm là cho phép tích hợp nhiều dạng thông tin và dữ liệu như văn bản, âm thanh, hình ảnh, video, đồ hoạ vào bài giảng nhằm kích thích hứng thú trong học tập của người học Ngoài ra CNTT còn có khả năng thay thế công việc của người thầy gíáo như: góp phần tổ chức, điều khiển quá trình dạy học, hợp

lý hoá công việc của thầy và trò, chấm bài, kiểm tra, đánh giá, đóng vai trò là học sinh còn học sinh làm chức năng người dạy máy tính thông qua đó lĩnh hội được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Mặt khác với sự bùng nổ của công nghệ Internet thì người thầy giáo đã tích cực giúp học sinh, sinh viên tiếp cận với các tài liệu trên mạng, hay tham gia vào các diễn đàn để trao đổi kinh nghiệm kiến thức, về cách học, cách trình bày ý tưởng khoa học hay tạo ra một môi trường học tập mới phù hợp có tính tương tác cao

CNTT tạo ra nhiều mô hình dạy học mới thay thế mô hình học tập trung như trước đây, cụ thể là:

1 Dạy học có sự trợ giúp của máy tính (Computer Based Training - CBT)

2 Dạy học qua mạng (Online Learning Tranining - OLT)

3 Dạy học từ xa (Distance Learning)

4 Dạy học trên nền website(Web Basic Training - WBT)

5 Dạy học trên môi trường ảo (E-learning)

Vì sao chúng ta cần đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong dạy học?

Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin Tốc độ phát triển vũ bão của công nghệ làm cho việc trao đổi thông tin trở nên nhanh chóng và làm cho vai trò của thông tin ngày càng trở nên quan trọng, chính những khả năng ưu việt đó đã làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy của con người nói chung.Và cùng với sự thay đổi đó nó đã tác động trực tiếp đến tất cả các vấn đề của xã hội trong đó phải kể đến giáo dục

Trang 19

Trong bài phát biểu tại Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng vào năm

2006, TS Nguyễn Kim Dung - Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường ĐH Sư phạm TPHCM đã nhận định về vai trò của của Internet trong giảng dạy và học tập như sau:

1 Giảng viên có thể giao tiếp với tất cả các đối tượng: đồng nghiệp, sinh viên, cấp trên và các đối tượng với nhau bằng email

2 Việc giảng dạy không những có thể diễn ra trên lớp mà có thể diễn ra ở bất

cứ lúc nào và bất cứ ở đâu

3 Việc học của sinh viên có thể được cá nhân hóa với sự giúp đỡ của giảng viên bằng cách trao đổi trực tiếp với giảng viên mà không ngại bị đánh giá

4 Việc truy cập Internet thường xuyên có thể trang bị thêm cho sinh viên các

kỹ năng khác như tiếp cận và xử lý thông tin, giải quyết vấn đề, hợp tác, sáng tạo, các kỹ năng về công nghệ và ngoại ngữ nói chung

5 Việc truy cập Internet cũng tạo cho giảng viên và sinh viên niềm say mê, hứng thú trong học tập và giảng dạy, giúp cho họ có them động cơ học tập

6 Sinh viên có thể chủ động trong việc xây dựng lộ trình học tập của mình và

có thể mở rộng hoặc giới hạn mối quan tâm của mình

7 Internet là công cụ tuyệt vời trong việc giúp sinh viên thực hành khả năng làm việc và nghiên cứu độc lập

8 Giảng viên có thể liên kết nhiều ngành, kiến thức, kỹ năng và thái độ trong một bài giảng có sử dụng Internet

9 Sinh viên có thể làm việc theo nhóm, độc lập hay kết hợp với nhiều thành viên bên ngoài lớp học, thành phố thậm chí quốc gia để có thể thực hiện việc học tập của mình

Với nhận định trên, có thể kết luận CNTT đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc dạy và học ngày nay; nó tạo ra môi trường học có tính tương tác cao, thay đổi vai trò của giáo viên và học sinh trong hoạt động dạy học Trước đây, việc dạy

và học theo phương pháp truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm thì ngày nay đã thay đổi là lấy học sinh làm trung tâm; giáo viên đóng vai trò định hướng trong quá

Trang 20

trình học tập của học sinh; hướng dẫn học sinh tìm kiếm tri thức qua môi trường CNTT và Internet

Để có được những tài liệu đó thì phải có sự liên kết, tích hợp kho tài liệu khổng lồ đó lại với nhau; điều này chỉ thực hiện được khi giáo viên biên soạn nguồn tài liệu dưới dạng số hoá, biên soạn chương trình, giáo án giảng dạy theo cách hoàn toàn mới đó chính là giáo án điện tử

1.2 Công nghệ dạy học hiện đại và bài giảng điện tử

1.2.1 Công nghệ

Hiện nay khái niệm về công nghệ được nhiều chuyên gia và các tổ chức nghiên cứu, tuy nhiên khái niệm về công nghệ chưa được thống nhất và vẫn có nhiều khái niệm khác nhau:

Theo GS.TS Nguyễn Xuân Lạc, khái niệm công nghệ được định nghĩa như sau: "Công nghệ là một hệ thống những phương tiện, phương pháp và kỹ năng nhằm vận dụng quy luật khách quan (khoa học) để tác động vào một đối tượng nào

đó, đạt một hiệu quả xác định cho con người" [4 tr1]

Theo Phạm Văn Danh: "Công nghệ nghĩa đơn giản là kỹ thuật hoặc công cụ và những phương pháp có thể áp dụng được để giải quyết vấn đề cụ thể hoặc thực hiện một mục tiêu nhất định" (Kỷ yếu hội thảo "Đánh giá năng lực ICT trong dạy học của đội ngũ giáo viên các trường Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề" tháng 4/2009)

Có thể thấy rằng các khái niệm đưa ra chưa hoàn toàn thống nhất nhưng có

một số điểm chung khi nói về công nghệ là: "công nghệ bao gồm các phương pháp, phương tiện kỹ thuật để tác động vào một đối tượng cụ thể nhằm đạt một mục tiêu xác định"

1.2.2 Quá trình dạy học

1.2.2.1 Khái niệm quá trình dạy học

Trước hết ta cần làm rõ khái niệm: "Dạy học" Dạy học là gì?

Trang 21

Nhiều tác giả cho rằng: Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hoá mà nhân loại đã đạt được vào bên trong một con người"

Với cách hiểu này ta thấy rằng việc dạy học hạn chế mặt sáng tạo của người học vì nó chỉ nhằm tái hiện những cái đã có, nhất là trong thời đại ngày nay, thời đại

mà xã hội chúng ta đang hướng đến một xã hội tri thức; một xã hội mà tri thức của con người được số hoá với tốc độ cực lớn làm tri thức trở thành tài sản chung; thời đại mà tri thức không phải chỉ tích hợp lưu trữ để tái hiện mà nó đòi hỏi phải nâng lên thành tri thức mới có chất lượng cao hơn

Do đó có thể đưa ra một khái niệm mới về dạy học: "Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hoá mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học" Với khái niệm này đã đề cao hơn vai trò của người

học và vai trò của người thầy, nhấn mạnh việc phát triển năng lực tư duy và kỹ năng nghề nghiệp, khả năng vận dụng tri thức và kỹ năng vào thực tiễn còn người thầy đóng vai trò định hướng, tổ chức quá trình học của người học Trên cơ sở khái niệm

về dạy học ta cần trả lời câu hỏi: Quá trình dạy học là gì?

Từ trước đến nay có rất nhiều các quan điểm khác nhau về quá trình dạy học như:

- Quá trình dạy học là quá trình hoạt động của giáo viên nhằm tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ nghề nghiệp theo những mục tiêu

đề ra

- Quá trình dạy học là quá trình hoạt động của học sinh nhằm lĩnh hội tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách và tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề có năng suất và hiệu quả

Trang 22

1.2.2.2 Các nhân tố cơ bản của quá trình dạy học

Quá trình dạy học bao gồm một số nhân tố cơ bản là:

 Mục đích, nhiệm vụ dạy học

 Nội dung, phương pháp dạy học

 Giáo viên (người hoạt động dạy)

 Học sinh (người hoạt động học)

 Phương tiện kỹ thuật dạy học

 Môi trường kinh tế, xã hội,văn hoá, KHKT

Như vậy có thể tổng kết về quá trình dạy học như sau: Quá trình dạy học là một

hệ thống hoàn chỉnh, trong đó tất cả các nhân tố cơ bản tác động qua lại lẫn nhau theo những quy luật nhất định nhằm đạt được nhiệm vụ dạy học

1.2.3 Công nghệ dạy học

Qua quá trình phân tích về quá trình dạy học có thể nhận thấy vai trò quan trọng của giáo viên (người hoạt động dạy) trong việc tổ chức quá trình học; người dạy dùng phương pháp dạy học - chính là cách thức mà người dạy tuân thủ trong suốt quá trình dạy - để thực hiện các công việc dạy học (bao gồm tất cả các nhiệm

vụ liên quan đến dạy như: môi trường dạy và học, tổ chức thời gian học, tổ chức chương trình học, tổ chức đánh giá ) nhằm đạt mục đích của người học Như vậy khi nói đến phương pháp dạy học là nói tới công nghệ dạy học, điều này đã được Lê Khánh Bằng thể hiện cụ thể: "Quá trình dạy học có thể xem như một quá trình công nghệ đặc biệt, một quá trình sản xuất những sản phẩm cao cấp tinh vi nhất (con người)" [3, tr84]

Theo nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Xuân Lạc, Công nghệ dạy học được hiểu theo hai nghĩa như sau: Theo nghĩa hẹp "Công nghệ dạy học là quá trình sử dụng các phương tiện kỹ thuật và các phương tiện hỗ trợ vào việc dạy học nhằm nâng cao chất lượng học tập"

Trang 23

Theo nghĩa rộng "Công nghệ dạy học là hệ thống các phương pháp, phương tiện và kỹ năng dạy học hỗ trợ quá trình dạy học" (Bài giảng nhập môn công nghệ dạy học hiện đại của Nguyễn Xuân Lạc) [5,tr2]

"Công nghệ dạy học là quá trình sử dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào quá trình dạy học nhằm thực hiện mục tiêu dạy học với hiệu quả kinh tế cao" (Đặng Vũ Hoạt (chủ biên) Hà Thị Đức - Lý luận dạy học đại học ) [6.tr149]

Vậy công nghệ dạy học có thể hiểu một cách tổng quát chính là việc tổ chức quá trình của hoạt động dạy, hoạt động học đồng thời với việc tổ chức các thành tố khác

có liên quan tham gia vào hoạt động dạy học đó Khi nói đến dạy học theo một công nghệ chính là nói đến quá trình dạy học đã được thiết kế một cách tỉ mỉ, chia thành các nguyuên công và các quy tắc một cách chặt chẽ quy định bởi quá trình dạy học bao gồm việc tổ chức môi trường dạy- học, phương pháp dạy- học và phương tiện dạy học để đảm bảo đạt mục tiêu đào tạo

1.2.4 Bản chất của công nghệ dạy học hiện đại

Vì "Công nghệ dạy học hiện đại là một hệ thống phương tiện, phương pháp, kỹ năng mới tác động vào con người, hình thành một nhân cách xác định" [5, tr2]; do vậy bản chất của công nghệ dạy học hiện đại được mô tả là sự kết hợp thành tựu của nhiều khoa học công nghệ khác nhau trong việc tổ chức quá trình dạy học bao gồm: đầu ra, đầu vào điều kiện, phương tiện, nội dung đầo tạo, phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá nhằm đạt mục đích đào tạo với chi phí tối ưu

GS Lê Khánh Bằng đã mô tả quá trình công nghệ theo một sơ đồ như sau : [3,tr88]

Trang 24

Hình 1.1 Sơ đồ bản chất của công nghệ dạy học hiện đại

Đặc điểm của Công nghệ dạy học hiện đại:

- Tính hiện đại: Thường xuyên áp dụng cập nhật vào thực tiễn dạy học những đổi mới về giáo dục một cách có khoa học

- Tối ưu hoá: Chi phí ít nhất về thời gian và sức lực

- Tính tích hợp: Sử dụng thành tựu của nhiều khoa học vào việc đào tạo

- Tính lặp lại kết quả: Cùng một quá trình đào tạo phải đạt được những kết quả mong muốn gần giống nhau

- Tính khách quan: Có các tiêu chí đánh giá kết quả học tập rõ ràng, khách quan, kịp thời về định lượng và định tính

Đầu vào (học sinh)

Điều kiện, phương tiện dạy học

Nội dung đào tạo

Hệ thống phương pháp

Tiêu chuẩn đánh giá

Đạt mục đích đào tạo với chi phí tối

ưu

Tổ chức khoa học quá trình dạy học

Trang 25

- Tính hệ thống hoá: Chương trình hoá hoạt động từ lúc thăm dò nhu cầu xã hội, tuyển sinh, học tập đều được tiến hành theo những quy trình

1.2.5 Tác dụng của công nghệ dạy học

* Ưu điểm:

- Nâng cao năng suất và chất lượng của quá trình dạy học

- Người học có thể học mọi lúc, mọi nơi

- Tăng cường và làm phong phú tài liệu học tập của người học

- Giảm chi phí trong việc chế tạo mô hình học cụ cho người học

- Tạo môi trường học tập tương tác mới

- Có thể áp dụng được vào tất cả các môn học nếu biết cách khai thác

* Nhược điểm:

- Phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất và con người

- Giáo viên phải có trình độ về ngoại ngữ, vi tính và chuyên môn để soạn được một bài giảng đạt chất lượng

1.2.6 Bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại

Theo nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Xuân Lạc, từ trước tới nay GV thường quen chuẩn bị giáo án (soạn giáo án - soạn bài) như sau: [5, tr3]

Phần chữ: Giáo viên sáng tác một phần dựa vào học vấn và kinh nghiệm của

mình, phần còn lại thường được biên soạn theo các tài liệu tham khảo như: sách, báo, bài giảng với phương tiện thông dụng là giấy, bút một số người dùng phương tiện sao chụp

Phần hình: Giáo viên sáng tác một phần theo khả năng của mình, phần còn lại

được biên soạn theo tài liệu tham khảo với phương tiện thông dụng là giấy, bút, một

số người dùng phương tiện can in, sao chụp các phương tiện nghe nhìn như tranh treo, phim, băng hình nhưng cũng không phải là thành phần trực tiếp của bài soạn

mà thường được dùng phối hợp trên lớp

Trang 26

Theo GS, một bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại còn được gọi là BGĐT cần đáp ứng đồng thời hai yêu cầu cơ bản sau: [5,tr5]

 Là một bài giảng giáp mặt đạt chuẩn mực sư phạm

 Là một bài giảng từ xa qua mạng (LAN, WAN ), người học có thể tái hiện đầy đủ những gì do giáo viên cung cấp

Chuẩn mực sư phạm nói đến những tiêu chí hay yêu cầu cơ bản, đảm bảo cho quá trình dạy học, thực hiện tốt các hoạt động tương tác giữa thầy và trò diễn ra khả thi và hiệu quả

1.2.7 Một số điểm cần lưu ý về công nghệ dạy học

Theo GS-TS Nguyễn Xuân Lạc, một công nghệ dạy học chỉ có tác dụng tốt khi được sử dụng trong những điều kiện hoàn toàn xác định, theo quan điểm hệ thống

và quan điểm công nghệ [5,tr8]

- Theo quan điểm công nghệ

 Phải có phương tiện (máy tính, máy chiếu ) thích hợp và điều kiện vận hành tương ứng

 Người dạy có tay nghề (phương pháp và kỹ năng về tin học, về ngoại ngữ và chuyên môn giảng dạy ) đủ để làm chủ quá trình dạy học, như ứng tác linh hoạt trong những tình huống đột xuất: trục trặc kỹ thuật, thiếu hoặc thừa thời gian so với dự kiến trong giáo án

 Người học phải có học liệu thích hợp và biết ứng xử ngang tầm với những thuận lợi do công nghệ hiện đại đem lại

- Theo quan điểm hệ thống

Công nghệ dạy học hiện đại là một hệ hống con trong hệ thống công nghệ dạy học nói chung, vì thế phải được sử dụng trong mối tương quan với công nghệ dạy học truyền thống, theo phương châm đúng lúc, đúng chỗ và đúng độ, để đảm bảo cho việc hoàn thành nhiệm vụ dạy học không chỉ khả thi mà còn hiệu quả

Trang 27

1.3 Tiếp cận phương pháp dạy học qua bài giảng điện tử

1.3.1 Khái niệm

Với sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ thông tin và thông tin qua mạng, việc

biện soạn bài giảng điện tử cũng phát triển rất mạnh mẽ nhưng khái niệm về bài

giảng điện tử thì chưa hoàn toàn thống nhất một khái niệm chính xác và cụ thể,

khái niệm này được một số tác giả đưa ra như sau:

- Theo Quách Tuấn Ngọc: "Bài giảng điện tử đơn giản có thể là một đoạn văn bản, một tệp âm thanh, hình ảnh, một bài trình chiếu hay cũng có thể là một bài giảng multimedia (có thể kết hợp nhiều đoạn văn bản, âm thanh, hình ảnh) được tạo

ra giúp các giáo viên sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả bài dạy"

- Theo Lê Công Chiêm: "Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp

mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều thực hiện thông qua môi trường Multimedia do máy tính tạo ra" [7,tr44]

Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Trong môi trường Multimedia, thông tin được truyền dưới các dạng: văn bản (Text),

đồ hoạ (Graphics), ảnh động (animation), ảnh tĩnh (image), âm thanh (audio) và phim video (video clip)

Đặc trưng cơ bản nhất của bài giảng điện tử là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi hoạt động điều khiển của giáo viên đều được multimedia hoá

- Bài giảng điện tử là tập hợp các học liệu điện tử được tổ chức theo một kết cấu sư phạm để có thể cung cấp kiến thức và kỹ năng cho người học

Như vậy có thể hiểu bài giảng điện tử là tập hợp những tài nguyên số dưới

hình thức các đối tượng học tập, xâu chuỗi với nhau theo một cấu trúc nội dung, định hướng theo chiến lược giáo dục của nhà thiết kế, bài giảng điện tử còn được gọi là khóa học điện tử hay cua học (tiếng anh là course) điện tử

Có thể thấy rằng các khái niệm chưa hoàn toàn thống nhất nhưng có một số điểm chung đó là đều nêu lên sự tích hợp của nhiều dạng văn bản và hình ảnh được số

Trang 28

hoá, và được giáo viên thể hiện thông qua ý tưởng sáng tạo của bản thân, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy và học nhằm kích thích khả năng học tập của học sinh Trong đó một BGĐT phải thoả mãn được một số yêu cầu:

 Bài giảng điện tử bắt buộc phải có các học liệu điện tử đa phương tiện đạt tối thiểu từ 50% đến 60% thời lượng môn học tính theo số tiết

 Bài giảng điện tử tương ứng với một học phần hoặc một môn học

Tóm lại, khi tổ chức hoạt động dạy học, BGĐT là một chương trình dạy học được giáo viên điều khiển theo một tiến trình dạy học thông qua việc sử dụng phối kết hợp các phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể với việc tổ chức hợp lý các hình thức dạy học để thực hiện nhiệm vụ dạy học

1.3.2 Phương tiện dạy học và vai trò của phương tiện dạy học

1.3.2.2 Đa phương tiện

Đa phương tiện là kỹ thuật mô phỏng đồng thời và sử dụng nhiều dạng phương tiện chuyển hoá thông tin và các tác phẩm tạo ra từ kỹ thuật đó

Có thể hiểu rằng đa phương tiện chính là sự tổ hợp các công nghệ trên máy

vi tính tạo ra một môi trường có tính tương tác cao và tạo cho người dùng dễ dàng truy cập vì nó được tích hợp của nhiều dạng đối tượng khác nhau, mang thông tin khâc nhau như: văn bản (text), hình ảnh (Image), âm thanh (sound), hình động (animation), và đoạn phim (video)

Trang 29

Trong dạy học việc sử dụng đa phương tiện để truyền thông tin giữa thầy và trò trong quá trình dạy học sẽ mang lại hiệu quả rất cao vì đa phương tiện có thể tạo

ra môi trường mô phỏng ảo, tăng hiệu quả của quá trình đạy học, tạo được hứng thú học tập, kích thích các giác quan của người học Ứng dụng multimedia trong dạy học càng làm tăng vai trò của người thầy trong quá trình tổ chức, điều khiển quá trình hoạt động nhận thức của học sinh

1.3.2.3 Phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học, theo Nguyễn Ngọc Quang, "bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo"

Theo Tô Xuân Giáp, phương tiện dạy học được hiểu trong mối quan hệ giữa thông điệp và phương tiện, phương tiện chở thông điệp đi Thông điệp từ giáo viên, tuỳ theo phương pháp dạy học, được các phương tiện chuyển đến học sinh

Còn theo Wolfgag Ihber, phương tiện là thiết bị có mang ký hiệu được chế tạo ra có chủ ý về phương diện dạy học và được sử dụng một cách có lựa chọn nhằm truyền đạt thông tin đến người học

Ngoài những cách hiểu như trên thì Ngô Xuân Quyết còn đưa ra một khái niệm khác về phương tiện dạy học là: "Một tập hợp các khách thể đóng vai trò phù trợ để thực hiện mục đích, nhiệm vụ và nội dung của quá trình giáo dục, huấn luyện gọi là phương tiện kỹ thuật dạy học" [8,tr8]

Có thể thấy rằng các khái niệm về phương tiện dạy học, tuy chưa thực sự thống nhất nhưng mang một ý nghĩa chung là các vật thể hoặc tập hợp các vật thể được giáo viên sáng tạo ra một cách có chủ ý theo ý đồ sư phạm, mang một thông tin nào đó, được sử dụng một cách có chọn lọc trong quá trình dạy học nhằm truyền đạt thông tin đến người học

1.3.2.4 Vai trò của phương tiện dạy học

Trang 30

Khi nghiên cứu về giáo dục học chúng ta đã biết một kết luận quan trọng, đó là: "Tính trực quan là tính chất có tính quy luật của quá trình nhận thức khoa học"

Do đó, khi dạy các môn học, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên, cần chú ý đến hai vấn đề chủ yếu sau:

- Học sinh tri giác trực tiếp các đối tượng: con đường nhận thức này được thể hiện dưới dạng học sinh quan sát các đối tượng nghiên cứu ở trong các giờ học hay khi đi tham quan

- Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tri giác không phải bản thân đối tượng nghiên cứu mà tri giác những hình ảnh, biểu tượng, sơ đồ phản ảnh một bộ phận nào đó của đối tượng Trong khi tri giác những biểu tượng có sơ đồ hóa hoặc hình ảnh của đối tượng và hiện tượng, quá trình cần nghiên cứu, học sinh có thể tìm hiểu được bản chất của các quá trình và hiện tượng đã thực sự xáy ra Những tính chất và hiểu biết về đối tượng được học sinh tri giác không chỉ bằng thị giác mà còn

có thề bằng xúc giác, thính giác và trong một số trường hợp ngay cả khứu giác cũng được sử dụng

Trên cơ sở phân tích trên ta thấy rằng phương tiện dạy học có ý nghĩa to lớn đối với quá trình dạy học

+ Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn

Phương tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng

bề ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng

Phương tiện dạy học giúp cụ thể hóa những cái quá trừu tượng, đơn giản hóa những máy móc và thiết bị quá phức tạp

+ Phương tiện dạy học giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học

+ Phương tiện dạy học còn giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có độ tin cậy )

Trang 31

+ Giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học, điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao

Trong trương hợp chỉ được nghe giảng, sự hình thành khái niệm phụ thuộc nhiều vào vốn kinh nghiệm của GV và HS và năng khiếu dạy học của GV Nếu không có trí tưởng tượng tốt thì HS sẽ rất khó khăn để hình dụng các sự vật, hiện tượng mà GV mô tả Vì vậy phương pháp giảng dạy sao cho học sinh thu được các kiến thức qua nhìn rất sinh động, chính xác và đem lại hiệu quả cao đặc biệt là với các trường nghề

Hiện nay, tính trực quan trong dạy học không chỉ minh hoạ cho bài giảng mà học sinh quen với các đặc tính bên ngoài, bên trong của sự vật, hiện tượng mà còn đảm bảo cho học sinh nhận biết sâu sắc vấn đề đó và tiếp thu nó một cách dễ dàng hơn Các phương tiện này thay thế cho các sự vật hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà GV và HS không thể tiếp cận được Chúng giúp cho GV có thể phát huy tính tích cực của HS thông qua việc tác động vào tất cả cá giác quan của

HS trong quá trình truyền thụ kiến thức, giúp HS nhận biết được các quy luật, hiện tượng làm cơ sở cho việc đúc rút các kinh nghiệm bản thân và áp dụng vào thực tiễn sản xuất

Tóm lại, phương tiện dạy học góp phần nâng cao hiệu suất lao động của thầy

và trò, tích cực hoá trong quá trình nhận thức của học sinh và phát triển tính sáng tạo, khả năng tư duy phù hợp với quy luật nhận thức của loài người: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức thực tại khách quan" [8,tr179]

1.3.2.5 Các yêu cầu đối với phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học phải đảm bảo sự phù hợp với tiêu chuẩn tâm sinh lý của giáo viên và học sinh, gây được hứng thú cho học sinh và phù hợp với chuẩm mực

sư phạm, thể hiện ở một số điểm như sau:

Trang 32

Tính khoa học sư phạm: Tính khoa học sư phạm là một chỉ tiêu chính về

chất lương phương tiện dạy học Chỉ tiêu này đặc trưng cho sự liên hệ giữa mục tiêu đào tạo và giáo dục, nội dung phương pháp dạy học với cấu tạo và nội dung của phương tiện Tính khoa học sư phạm thể hiện ở chỗ:

+ Phương tiện dạy học phải bảo đảm cho học sinh tiếp thu được kiến thức,

kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp tương ứng với yêu cầu của chương trình học, giúp cho giáo viên truyền đạt một cách thuận lợi các kiến thức phức tạp, kỹ xảo tay nghề làm cho họ phát triển khả năng nhận thức và tư duy logic

+ Nội dung cà cấu tạo của phương tiện dạy học phải bảo đảm các đặc trưng của việc dạy lý thuyết và thực hành cũng như các nguyên lý sư phạm cơ bản

+ Phương tiện dạy học phải phù hợp với nhiệm vụ sư phạm và phương pháp giảng dạy, thúc đẩy khả năng tiếp thu tích cực của học sinh

+ Các phương tiện dạy học hợp thành một bộ phải có mối liên hệ chặt chẽ

về nội dung, bố cục và hình thức trong đó mỗi phương tiện phải có vai trò và nhiệm

vụ riêng

+ Phương tiện dạy học phải thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại và các hình thái tổ chức dạy học tiên tiến

Tính thẩm mỹ: Các phương tiện dạy học phải phù hợp với các tiêu chuẩn về

tổ chức môi trường sư phạm

+ Phương tiện dạy học phải bảo đảm tỉ lệ cân xứng, hài hòa về đường nét

và hình khối; màu sắc phải sáng sủa, hài hòa

+ Phương tiện dạy học phải làm cho thầy trò hứng thú khi sử dụng, kích thích tình yêu nghề, làm cho học sinh nâng cao cảm thụ tri thức toàn diện

Tính khoa học kỹ thuật: Các phương tiện dạy học phải có cấu tạo đơn giản,

dễ điều khiển, chắc chắn, có khối lượng và kích thước phù hợp, công nghệ chế tạo hợp lý và phải áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật mới đặc biệt là bảo đảm các yêu cầu về độ an toàn và không gây độc hại cho thầy và trò

Trang 33

Tính kinh tế: Tính kinh tế là một chỉ tiêu quan trong khi lập luận chứng chế

tạo mới hay đưa vào sử dụng các thiết bị dạy học mẫu

+ Nội dung và đặc tính kết cấu của phương tiện dạy học phải được tính toán để với một số lượng ít, chi phí nhỏ vẫn bảo đảm hiệu quả cao nhất

+ Phương tiện dạy học phải có tuổi thọ cao và chi phí bảo quản thấp

1.3.3 Công cụ tạo bài giảng điện tử

Công cụ tạo bài giảng điện tử (Authoring Tools) là các phần mềm công cụ trợ giúp việc tạo nội dung học tập một cách dễ dàng như: Power Point, Word, Exel, Lecture maker, Hot Potatoes, Flash Các công cụ tạo bài giảng có thể được chia thành các nhóm:

 Công cụ soạn thảo bài giảng thông thường (dạng văn bản)

 Công cụ mô phỏng/giả lập

 Công cụ kiểm tra và đánh giá

 Công cụ tạo bài trình bày multimedia

Bài giảng điện tử thường cần có sự hỗ trợ của thí nghiệm ảo và các tính năng đa phương tiện Hiệu quả truyền đạt này dựa trên châm ngôn “trăm nghe không bằng một thấy” Nhờ các tính năng đa phương tiện, nên làm giảm thiểu sự buồn chán vì trong phần bài học có tích hợp với một đoạn hoạt hình kèm theo âm thanh sẽ giúp cho các bài học trở nên cụ thể, sinh động giúp người học tiếp thu bài học nhanh chóng và dễ nhớ hơn Ngoài ra, các thí nghiệm ảo với tính năng tương tác sẽ cuốn hút người học tham gia thực hành đồng thời góp phần rèn luyện kỹ năng cho người học

Phân biệt sự khác nhau giữa giáo án điện tử và giáo án truyền thống

- Giống nhau:

Trang 34

Giáo án điện tử và giáo án truyền thống là một bản kế hoạch lên lớp của giáo viên Giáo án là một phương tiện bắt buộc đối với giáo viên trong hoạt động dạy học

Giáo án phải thể hiện được hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh phù hợp với nội dung bài học

- Khác nhau

Giáo án truyền thống Giáo án điện tử

Kế hoạch hoạt động của thầy và

trò được giáo viên trình bày ra giấy

Kế hoạch hoạt động của thầy và trò được số hoá và đưa vào máy vi tính dưới dạng một chương trình

Nội dung dạy học bao gồm toàn

bộ tri thức trong SGK hay trong giáo

trình môn học, chủ yếu được trình bày

dưới dạng văn bản đôi khi có sử dụng

mô hình, bản vẽ trên giấy

Nội dung dạy học cô đọng (gồm những kiến thức đại trà và những tri thức mở rộng), được diễn đạt dưới dạng văn bản, bảng biểu, sơ đồ, hình

vẽ, âm thanh, video thông qua việc sử dụng các siêu liên kết nhằm kết nối giữa các mục, các nội dung với nhau Việc liên kết đó có thể sử dụng trong việc kiểm tra kiến thức cũ, liên hệ giữa

lý thuyết và bài tập

Thời gian giảng lý thuyết nhiều, ít

thời gian giành cho bài tập hay thực

hành

Giảm được thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian thực hành và làm bài tập

Việc nhận thông tin phản hồi sau

bài học được thực hiện thông qua các

Việc nhận thông tin phản hồi sau giờ học thực hiện một cách khách quan

Trang 35

câu hỏi vấn đáp, câu hỏi viết trên giấy

nên khó có thể đánh giá với từng người

bằng các câu hỏi trắc nghiệm được số hoá và đưa vào máy tính, kết quả nhận được tức thời và kiểm tra với từng học sinh nên biết được các sai sót, ưu nhược điểm từ đó kịp thời điều chỉnh trong quá trình dạy học

Bảng 1: So sánh đặc điểm của giáo án điện tử và giáo án truyền thống

1.3.4 Biên soạn bài giảng điện tử

Biên soạn bài giảng điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là việc trình bày các tài liệu đã được số hoá về kế hoạch dạy - học dưới dạng tài liệu điện tử một cách chi tiết, nhằm giúp cho giáo viên tích cực hoá trong quá trình nhận thức của sinh viên đồng thời giúp GV dễ dàng trong việc liên kết các tài liệu liên quan trong quá trình giảng dạy, được quy định một cách chặt chẽ theo quy định cấu trúc của một bài dạy

Việc thiết kế bài giảng điện tử có một số điểm khác so với thiết kế bài giảng truyền thống Với bài giảng điện tử, người học được phép tự chọn một lộ trình học tập phù hợp nhất với khả năng của mình, do vậy bài giảng điện tử có thể hỗ trợ hình thức học tập thích nghi, đòi hỏi phải thiết kế một cách cẩn thận và cần những chương trình đặc biệt để chạy được những bài giảng thiết kế kiểu này như: phần mềm quản trị học tập, quá trình điều khiển khóa học Khi thiết kế bài giảng điện tử cần phải có sự logic giữa các phần nội dung, các bài học và các kiến thức cũ có liên quan bằng cách sử dụng các siêu liên kết (hyperlink), liên kết nội dung bài học với các dạng tư liệu khác như đĩa CD, các kiến thức có trên mạng, các môn khoa học khác Với việc liên kết này sẽ cho phép GV và SV truy cập đến bất kỳ một nội dung hay một bài học nào đó hoặc cũng có thể là một bài tập, bài kiểm tra để SV tự ôn tập, tự hệ thống các kiến thức trong bài học

1.3.5 Quy trình thiết kế BGĐT

Trang 36

Để thiết kế một bài giảng điện tử, giáo viên cần chuẩn bị về nội dung chính (gồm có các mục chương cơ bản theo chương trình khung hoặc theo đề cương và có các câu hỏi, bài tập cho từng phần hoặc cho toàn bài để SV có thể tự kiểm tra đánh giá) và nội dung cần minh hoạ (có thể sử dụng minh hoạ bằng âm thanh, hình ảnh hoặc các đoạn phim, đoạn video mô phỏng về cấu tạo, nguyên lý làm việc hay mô phỏng về thực nghiệm) Trên cơ sơ

đó có thể đưa ra quy trình soạn bài giảng điện tử gồm các bước như sau:

1.3.5.1 Xác định mục tiêu bài học

Trong dạy học cần phải xác định rõ mục tiêu bài học, mục tiêu môn học tức

là mục tiêu đó phải tập trung vào người học, sau khi học xong bài học, môn học thì học sinh sẽ có khả năng gì Muốn xác định được đúng mục tiêu của bài học thì giáo viên cần căn cứ vào mục tiêu của ngành học, của môn học, của chương và nội dung của bài học, của từng mục trong bài; mục tiêu ở đây bao gồm cả kiến thức, kỹ năng

và thái độ Yêu cầu mục tiêu phải rõ ràng, xác định rõ kỹ năng, kỹ xảo và hình thành thái độ tư tưởng Các mục tiêu này phải phù hợp với yêu cầu thực tế, có khả năng thực hiện được, đánh giá được

1.3.5.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản và nội dung trọng tâm

Giáo viên cần căn cứ vào chương trình khung của môn học và căn cứ theo giáo trình để chắt lọc, chọn lựa những nội dung cơ bản, nội dung trọng tâm của bài học sao cho đảm bảo được tính logic, khoa học, tính thực tiễn và đảm bảo nguyên tắc sư phạm Tuy nhiên nếu chỉ đơn thuần căn cứ vào đề cương giáo trình thì vẫn chưa đủ, để làm tốt việc lựa chọn kiến thức cơ bản và nội dung trọng tâm đòi hỏi mỗi giáo viên phải biết tìm hiểu thêm, tham khảo thêm để mở rộng kiến thức và tăng cường đào sâu các vấn đề trọng tâm của bài học

1.3.5.3 Multimedia hoá các đơn vị kiến thức và lưu thành thư viện tài liệu

Multimedia hóa các đơn vị kiến thức là một bước quan trọng trong việc thiết

kế và biên soạn BGĐT, và đồng thời là đặc điểm để phân biệt giữa BGĐT với bài giảng truyền thống hay các loại bài giảng khác Việc multimedia hóa được thực hiện như sau:

Trang 37

- Trước hết giáo viên phải tiến hành sưu tập hoặc tự xây dựng các tài liệu sử dụng trong bài, ví dụ các tư liệu lấy từ trên Internet, hoặc vẽ, hoặc chụp ảnh, quay phim hoặc scan, hoặc chỉ là các đoạn văn bản thông thường trong các thư mục có sẵn của giáo viên Sau khi đã có tư liệu, giáo viên phải tiến hành phân loại tư liệu dưới các dạng khác nhau tùy thuộc vào nội dung và ý đồ sư phạm như dạng văn bản, dạng âm thanh, dạng video clip… rồi tiến hành xử lý để đảm bảo về chất lượng của các tài liệu đó đồng thời đảm bảo cả về tiêu chuẩn chính xác và độ thẩm mĩ Cuối cùng là việc lựa chọn các phần mềm chuyên dụng để liên kết các tài liệu theo

ý đồ sư phạm của người thiết kế Đây chính là bước giáo viên đã dữ liệu hóa, multimedia hóa các đơn vị kiến thức của bài học

- Xây dựng thư viện tài liệu: Sau khi đã multimedia hóa các kiến thức giáo viên cần lưu các đơn vị đó vào các thư mục có thể tạo theo dạng cây, mục đích để tránh bị mất dữ liệu, dữ liệu được lưu giữ một cách tập trung thuận lợi cho việc liên kết và kết xuất các dạng văn bản, các dạng tài liệu hoặc có thể trao đổi giữa các máy

1.3.5.4 Lựa chọn các phần mềm mô phỏng để thể hiện bài dạy thành chương trình cụ thể chính là xây dựng tiến trình bài học theo ý đồ sư phạm

Khi đã có thư viện tài liệu giáo viên cần phải lựa chọn ngôn ngữ hoặc sử dụng các phần mềm thông dụng hoặc chuyên dụng để tiến hành xây dựng BGĐT

Để thực hiện tốt bước này thì đòi hỏi người giáo viên cần phải hiểu rõ các hoạt động nhận thức cụ thể của từng nội dung, dựa trên sự hiểu biết đó sẽ định ra các dạng trình bày trên từng phần mềm cụ thể (Power Point hoặc Flash hoặc Front Page…),

và nội dung đó nên trình bày dạng nào để đạt hiệu quả nhất và HS dễ tiếp thu nhất

Ví dụ để giảng về cấu tạo của các dụng cụ đo thì có thể sử dụng Power Point để trình diễn, khi giảng về nguyên lý làm việc của chúng thì ta cần kết hợp các hiệu ứng trong Power Point với các slide cụ thể cho từng quá trình hoặc sử dụng phần mềm Macromedia Flash tạo hiệu ứng dưới dạng các video, khi đó HS sẽ dễ hình dung hơn, thấy hứng thú và dễ tiếp thu bài hơn

Trang 38

Lưu ý trong quá trình trình bày cần thống nhất về font chữ, kiểu chữ đơn giản, màu chữ thống nhất và tùy thuộc vào mục đích sử dụng (câu hỏi, gợi mở, câu trả lời…) Khi trình bày phải đảm bảo ngắn gọn và cô đọng, trình bày các ý chính, các tiêu đề của bài học, đảm bảo sự hài hòa về màu sắc, tuyệt đối tránh lạm dụng các hiệu ứng để gây mất tập trung đối với HS Việc trình bày nội dung cần đảm bảo khai thác hết các ý tưởng nhằm phát huy tính tích cực tư duy nhận thức của HS, đồng thời cũng đảm bảo tính tương tác trong quá trình dạy học

Sử dụng các liên kết hợp lý, logic để thể hiện hết các ý đồ sư phạm và nội dung bài dạy, đây chính là điểm nổi bật của BGĐT so với bài giảng thông thường

1.3.5.5 Chạy thử, sửa chữa và hoàn chỉnh bài dạy

Sau khi thiết kế xong cần phải chạy thử để kiểm tra phát hiện các sai sót và đảm bảo tính logic của bài giảng, tiến hành chỉnh sửa hoàn thiện bài giảng

Trang 39

Hình 1.2: Cấu trúc của bài giảng điện tử

1.3.7 Yêu cầu đối với một BGĐT

BGĐT phải thoả mãn các yêu cầu sau:

 Có đầy đủ yêu cầu nội dung bài học

 BGĐT phải đảm bảo chính xác về thông tin, nội dung bài học và đảm bảo sai sót là ít nhất

 Nội dung lý thuyết bài học cô đọng và được minh hoạ bằng các bảng biểu, hình vẽ, âm thanh … sinh động hấp dẫn

 Có tính tương tác cao giúp người học tích cực trong quá trình học, tăng khả năng tiếp thu đồng thời có những tư duy, đào sâu kiến thức

 Nội dung bài học phải được sắp xếp từng mục từng bài theo thứ tự từ dễ đến khó, có nhấn mạnh phần trọng tâm bài học

Tên bài học

Lý thuyết

Minh hoạ Bài tập

Mục 1.1

Mục 1.2

Mục 1.k

Kiểm tra

Trang 40

 Biết lựa chọn và vận dụng các phương pháp dạy học tíchh cực để có những minh hoạ, mô phỏng hoặc các tác động tích cực khác

 Biết xây dựng và sử dụng hài hoà hệ thống câu hỏi, bài kiểm tra cho từng nội dung, từng đối tượng học sinh nhằm giới thiệu một nội dung mới, hoặc để liên kết các nội dung, hoặc dùng để kiểm tra đánh giá người học

1.4 Thực trạng dạy học môn học Cung cấp điện tại trường Đại Học Sư Phạm

Kỹ Thuật Nam Định

1.4.1 Lịch sử phát triển của trường

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định được thành lập theo quyết định số 05/2006/QĐ-TTg ngày 05 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Nam Định Trường là đơn vị trực thuộc Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu sự quản lý về hành chính theo lãnh thổ của UBND tỉnh Nam Định

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định tiền thân là Trường Trung học Công nghiệp Nam Hà được thành lập theo quyết định số 1263 BCNN/KB-1 ngày 21 tháng 12 năm 1966 của Bộ Công nghiệp nặng, có nhiệm vụ đào tạo cán bộ trung cấp kỹ thuât

Năm 1971 Trường thuộc Tổng cục Đào tạo công nhân kỹ thuật theo quyết định số 171/TTg ngày 16 tháng 6 năm 1971 của Thủ tướng Chính phủ, làm nhiệm vụ đào tạo giáo viên dạy nghề

Năm 1978 Trường thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, tiếp tục làm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề

Từ ngày 01 tháng 7 năm 1998 đến nay trường thuộc Bộ Lao động-Thương binh và

Xã hội, tiếp tục làm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề

Từ năm 1992-1999 theo quyết định số 1395/TH-DN ngày 13/7/1992 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường được phép đào tạo thí điểm GVDN trình độ cao đẳng

Ngày đăng: 18/07/2017, 21:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Danh Ánh (1996), Bài giảng Tâm lý học giáo dục nghề nghiệp, Viện nghiên cứu đào tạo và tư vấn khoa học công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Tâm lý học giáo dục nghề nghiệp
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Năm: 1996
2. Nguyễn Khang (2007), Bài giảng Nghiên cứu xã hội và Khoa học giáo dục, Trường đại học Bách Khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nghiên cứu xã hội và Khoa học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Khang
Năm: 2007
3. Lê Khánh Bằng (chủ biên) (1989), Một số vấn đề nâng cao hiệu quả của quá trình dạy và học ở Đại học, Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, tập I, Trường đại học Sư phạm Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề nâng cao hiệu quả của quá trình dạy và học ở Đại học, Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp
Tác giả: Lê Khánh Bằng (chủ biên)
Năm: 1989
4. Nguyễn Xuân Lạc, Bài giảng nhập môn công nghệ dạy học hiện đại, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng nhập môn công nghệ dạy học hiện đại
5. Nguyễn Xuân Lạc, Bài giảng phương pháp luận nghiên cứu khoa học công nghệ, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phương pháp luận nghiên cứu khoa học công nghệ
7. Lê Công Triêm (2005), Sử dụng máy vi tính trong dạy học Vật lý, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng máy vi tính trong dạy học Vật lý
Tác giả: Lê Công Triêm
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2005
8. Ngô Xuân Quyết (1985), Phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại trong nhà trường quân sự, Học viện KTQS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại trong nhà trường quân sự
Tác giả: Ngô Xuân Quyết
Năm: 1985
9. Tô Xuân Giáp, (1997), Phương tiện dạy học NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
10. Vũ Cao Đàm (2006), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
11. Lê Thanh Nhu (2004), Bài giảng lý luận dạy học chuyên ngành kỹ thuật, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lý luận dạy học chuyên ngành kỹ thuật
Tác giả: Lê Thanh Nhu
Năm: 2004
12. Hồ Ngọc Đại (1994), Công nghệ giáo dục, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ giáo dục
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
13. Nguyễn Văn Bính, Trần Sinh Thành, Nguyễn Văn Khôi, Phương pháp dạy học kỹ thuật công nghiệp (Tập 1, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học kỹ thuật công nghiệp (Tập 1, tập 2
Nhà XB: NXB Giáo dục
14. Lê Văn Hồng (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
15. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987), Giáo dục học (tập 1) NXB ĐHSP, Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học (tập 1)
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 1987
17. Biên soạn tài liệu điện tử dạng Website sử dụng chương trình Xara Webstyle 4.0, http://vinacel.hcmute.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên soạn tài liệu điện tử dạng Website sử dụng chương trình Xara Webstyle 4.0
18. Võ Thị Như Uyên (2008), Nghiên cứu xây dựng bài giảng điện tử môn học Vẽ kỹ thuật chuyên ngành chế tạo máy tại trường đại học Công nghiệp Hà Nội, (Luận văn thạc sỹ khoa học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng bài giảng điện tử môn học Vẽ kỹ thuật chuyên ngành chế tạo máy tại trường đại học Công nghiệp Hà Nội
Tác giả: Võ Thị Như Uyên
Năm: 2008
6. Đặng Vũ Hoạt (chủ biên), Hà Thị Đức (2008), Lý luận dạy học đại học Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Sơ đồ bản chất của công nghệ dạy học hiện đại - Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện
Hình 1.1 Sơ đồ bản chất của công nghệ dạy học hiện đại (Trang 24)
Hình 1.2: Cấu trúc của bài giảng điện tử - Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện
Hình 1.2 Cấu trúc của bài giảng điện tử (Trang 39)
Hình 2.1 Giao diện chương trình MS Powerpoint - Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện
Hình 2.1 Giao diện chương trình MS Powerpoint (Trang 52)
Hình 2.2 Giao diện chương trình Microsoft Frontpage - Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện
Hình 2.2 Giao diện chương trình Microsoft Frontpage (Trang 54)
Hình 2.3 Giao diện chính chương trình Xara Webstyle - Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện
Hình 2.3 Giao diện chính chương trình Xara Webstyle (Trang 55)
Hình 2.4 Giao diện chương trình Macromedia Flash - Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện
Hình 2.4 Giao diện chương trình Macromedia Flash (Trang 57)
Hình 2.5 Giao diện chương trình Hot Potatoes - Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện
Hình 2.5 Giao diện chương trình Hot Potatoes (Trang 58)
Hình 3.1: Giao diện bài giảng điện tử - Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện
Hình 3.1 Giao diện bài giảng điện tử (Trang 63)
Hình 3-6 :Kiến thức phần phân loai - Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện
Hình 3 6 :Kiến thức phần phân loai (Trang 66)
Hình 4-3: Giao diện chương 2 - Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện
Hình 4 3: Giao diện chương 2 (Trang 71)
Hình 4-6: Lưới điện nông thôn - Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện
Hình 4 6: Lưới điện nông thôn (Trang 74)
Hình 5-0: Một số định nghĩa liên quan - Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học cung cấp điện
Hình 5 0: Một số định nghĩa liên quan (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w