1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy thực hành môn nguội sửa chữa khai thác thiết bị công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp việt đức thái nguyên

154 418 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 5,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ: Các phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm như: dạy theo nhóm, dạy bằng phương pháp gợi mở nên vấn đề, dạy theo mô đun dạy theo dự án … Mặc dù một số đơn vị tron

Trang 1

ngµnh : s− ph¹m kü thuËt m∙ sè :

vò v¨n th«

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc : TS nguyÔn khang

hµ néi 2006

Trang 2

lời cảm ơn

Sau hai năm học tập chương trình cao học tại khoa SPKT, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, với thời gian sáu tháng nghiên cứu thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ, đến nay cuốn luận văn này đã được hoàn thành

Để có được kết quả tốt đẹp này là do sự cố gắng phấn đấu của bản thân cùng với sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giảng viên khoa SPKT trường Đại học Bách khoa Hà Nội, của các bạn bè, đồng nghiệp, cùng với sự tạo điều kiện của cơ quan chủ quản và gia đình

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô thuộc khoa SPKT, khoa cơ khí của trường Đại học Bách khoa Hà Nội Xin chân thành cảm

ơn sự quan tâm và giúp đỡ về mọi mặt của lãnh đạo, giáo viên, cán bộ công nhân viên và các đồng nghiệp thuộc trường CĐCN Việt - Đức Thái Nguyên Xin chân thành cảm ơn sự tạo điều kiện giúp đỡ của Viện nghiên cứu chiến lược và phát triển giáo dục Việt Nam Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Thư viện Quốc gia Hà nội, Thư viện sách thuộc trường Đại học sư phạm I Hà Nội, cùng toàn thể các cơ quan, đoàn thể mà tác giả đã từng đến quan hệ công tác và nhờ cậy

Đặc biệt xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Khang, phó trưởng khoa SPKT trường Đại học Bách khoa Hà Nội Người thầy đã giúp đỡ tác giả một cách nhiệt tình, đầy trách nhiệm, đã trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành cuốn luận văn tốt nghiệp này

Trang 3

Tuy nhiên cuốn luận văn thạc sỹ này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong đ−ợc sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu tiếp theo đ−ợc hoàn hảo hơn

Hà Nội, ngày 28 tháng 09 năm 2006

Vũ Văn Thô

Trang 4

lời cam đoan

Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể

Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo

vệ luận văn thạc sỹ nào trên toàn quốc cũng như ở nước ngoài và cho đến nay chưa hề được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên đây

Hà Nội, ngày 6 tháng 9 năm 2006

Trang 5

B¶ng c¸c côm tõ kü thuËt ®−îc viÕt t¾t trong luËn v¨n

Trang 6

danh mục bảng biểu và hình vẽ

Hình 1.1 Sơ đồ biểu diễn vai trò của giáo viên và học sinh trong các

phương pháp dạy học

Bảng 1.1 So sánh quan điểm dạy học lấy giáo viên làm trung tâm

và lấy người học làm trung tâm Bảng 1.2 Bảng so sánh những đặc trưng của các PPDHTC –

LNHLTT và hệ phương pháp dạy học thụ động

Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc tình huống có vấn đề

Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc một bài giảng bằng phương pháp dạy học

nêu vấn đề Hình 2.3 Các bộ phận chính của bơm Piston

Hình 2.9 Các bộ phận chính của cụm giảm chấn sau

Hình 2.10 Sơ đồ Algorit biến đổi của quá trình tháo và lắp

bộ giảm chấn của máy tiện TUD 40/50 Hình 2.11 Sơ đồ Algorit trình tự các bước công việc của quá

trình tháo, bảo dưỡng và lắp bộ giảm chấn của máy tiện TUD 40/50:

Hình 2.12: Sơ đồ cấu trúc của quá trình mô phỏng

Hình 2.13: Sơ đồ cấu trúc mô phỏng cho kết quả thực

Hình 2.14: Sơ đồ cấu trúc mô phỏng cho kết quả phù hợp

Hình: 2.15 Sơ đồ cấu trúc bài giảng bằng phương pháp mô phỏng

Trang 7

Hình 2.16 Các bộ phận chính của bộ giá cân bằng đá mài

Hình 2.17 Các bộ phận chính của bộ giá cân bằng đá mà

Hình 2.18 Các bộ phận chính của cụm trục gá đá mài

Hình 2.19 Mô tả vị trí lắp ráp đối trọng

Hình 2.20 Hình vẽ mô tả vị trí tương quan của cụm đá

Hình 3.1: Bảng tổng hợp ý kiến mẫu điều tra số 01

Hình 3.2: Bảng tổng hợp ý kiến mẫu điều tra số 02

Bảng 3.3 Kết quả thực nghiệm đánh giá điểm về nhận thức

và sự hình thành kỹ năng nghề cho các lớp thử nghiệm 1 Bảng 3.4: Kết quả thực nghiệm đánh giá điểm về nhận thức

và sự hình thành kỹ năng nghề cho các lớp thử nghiệm 2

Bảng 3.5: Kết quả thực nghiệm đánh giá điểm về nhận thức

và sự hình thành kỹ năng nghề cho các lớp thử nghiệm 3

Hình 3.6: Bảng tổng hợp ý kiến mẫu điều tra số 03

Hình 3.7: Bảng tổng hợp ý kiến mẫu điều tra số 04

Trang 8

mục lục Trang

mở đầu

I Lý do lựa chọn đề tài

II Mục đích nghiên cứu

IV Giả thiết khoa học

VI Những đóng góp mới của đề tài

VII Cấu trúc của luận văn

Chương 1:

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng các phương pháp

dạy học tích cực vào dạy môn thực hành môn sửa chữa & khai

thác thiết bị công nghiệp tại trường CĐCN Việt - Đức Thái

Nguyên

1.1 Lịch sử phát triển của phương pháp dạy học tích cực -

lấy người học làm trung tâm

1.1.1 Lịch sử phát triển của của các phương pháp dạy học tích cực

1.2.2 Khái niệm về tính tích cực trong học tập

1.2.3 Khái niệm về cụm từ " Phương pháp dạy học tích cực"

1.2.4 Khái niệm về thuật ngữ " Lấy người học làm trung tâm"

1.2.5 Tính tích cực và mối quan hệ của nó trong nhận thức

Trang 9

1.3 Bản chất của phương pháp dạy học tích cực

1.4 Các đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

1.4.1 Người học, chủ thể của hoạt động học, bằng hành động của

chính mình

1.4.2 Người học tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn

1.4.3 Người dạy là thầy, chuyên gia về việc học, là người tổ chức hướng

dẫn quá trình học tập, quá trình nhân cách hóa với xã hội hóa việc học của người học

1.4.4 Người học tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh

1.4.5 So sánh quan điểm dạy học lấy giáo viên làm trung tâm và lấy

1.5.1 Tính hiện đại hoá phương pháp dạy giảng dạy

1.5.2 Đào tạo được những con người năng động

1.5.3 Phương pháp dạy học tích cực - lấy người học làm trung tâm thể

hiện rõ tính khoa học và tính chân lý

1.6 Cơ sở thực tiễn

1.6.1 Yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học

1.6.2 Tăng cường hoạt động tự học của học sinh

1.6.3 Phải có sự kết hợp giữa lý thuyết với thực tiễn, học đi đôi với

Trang 10

1.7 Vị trí, vai trò và nội dung chương trình môn sửa chữa và khai

thác thiết bị cơ khí trong trường CĐCN Việt Đức Thái Nguyên

1.7.1 Vị trí và vai trò của môn sửa chữa và khai thác thiết bị trong

ngành cơ khí nói chung và trong trường CĐCN Việt - Đức nói

1.7.3 Nội dung chương trình dạy môn sửa chữa và khai thác

thiết bị của trường CĐCN Việt Đức Thái Nguyên

Chương 2

Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy thực

hành môn sửa chữa và khai thác thiết bị công nghiệp tại trường

CĐCN Việt - Đức Thái Nguyên

2.1 Phương pháp dạy học nêu vấn đề

2.1.1 Tổng quan về phương pháp dạy học nêu vấn đề

2.1.1.1.Các cơ sở của dạy học nêu vấn đề

2.1.1.2 Bản chất của dạy học nêu vấn đề

2.1.1.3 Tình huống có vần đề và cách tạo ra tình huống có vấn đề

2.1.1.4 Các dạng của dạy học nêu vấn đề

2.1.1.5 Ưu nhược điểm của phương pháp dạy học nêu vấn đề

2.1.1.6 Cấu trúc của dạy học nêu vấn đề

2.1.1.7 Kết luận về dạy học nêu vấn đề

2.1.2 Vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề để dạy thực hành

môn sửa chữa và khai thác thiết bị công nghiệp

Trang 11

2 2 Phương pháp dạy học Algorit

2.2.1 Tổng quan về phương pháp dạy học Algorit

2.2.1.1 Khái niệm về Algorit

2.2.1.2 Đặc tính của Algorit 2.2.1.3.Vận dụng phương pháp Algorit vào dạy môn kỹ thuật công

nghiệp

2.2.1.4 Cấu trúc của một bài giảng Algorit

2.2.1.5 Ưu và nhược điểm của phương pháp dạy học Algorit

2.2.2 Vận dụng bài giảng dạy học bằng phương pháp Algorit để dạy

môn sửa chữa và khai thác thiết bị công nghiệp

2.3.1.3 Cấu trúc của bài giảng bằng phương pháp Mô phỏng

2.3.2 Vận dụng phương pháp dạy học bằng mô phỏng để xây dựng bài

giảng cho nghề nguội sửa chữa và khai thác thiết bị công nghiệp

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

3.1 Chuẩn bị thực nghiệm sư phạm

3.1.1 Xây dựng mục đích thực nghiệm sư phạm;

3.1.2 Xác định đối tượng và thời gian thử nghiệm

3.1.2.1 Điều tra trước khi tổ chức thực nghiệm

3.1.2.2 Tiến hành thử nghiệm

3.1.3 Hình thức thử nghiệm

3.2 Tiến trình thực nghiệm

3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm

3.3.1 Đánh giá kết quả theo định tính

Trang 12

3.3.2 Đánh giá kết quả theo định l−ợng

3.3.2.1 Đánh giá kết quả theo định l−ợng thông qua kết quả của học sinh 3.3.2.2.Đánh giá kết quả theo định l−ợng thông qua kết quả của các thầy 3.3.3 Nhận xét

Kết luận và kiến nghị

A Kết luận

B Kiến nghị

Tài lệu tham khảo

Phần phụ lục (từ trang 120 trở đi)

Phụ lục 1: Các mẫu phiếu điều tra

Phụ lục 2: Các giáo án thự hành chi tiết

Phụ lục 3: Thuyết minh thao tác trình chiếu các bài giảng trên phần

Trang 13

Mở đầu

I – Lý do lựa chọn đề tài

1 Xuất phát từ định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX

& thứ X, Đảng ta đã có nhận định và đánh giá tình hình chất lượng của giáo dục và đào tạo xét trên mặt bằng cả nước ta nói chung là chưa cao Trình độ kiến thức khoa học kỹ thuật, năng lực trong thực hành và phương pháp tư duy khoa học của học sinh, sinh viên còn nhiều hạn chế Cụ thể là sau khi tốt nghiệp các trường Đại học Cao đẳng, Trung học nghề và hệ công nhân kỹ thuật, năng lực công tác của các chủ nhân tương lai còn nhiều bất cập, kém năng động Chưa đủ điều kiện về tri thức để làm chủ các lĩnh vực khoa học công nghệ trên thế giới đang phát triển mỗi ngày Một trong những nguyên nhân cơ bản của thực trạng này là do nội dung kiến thức của chương trình đào tạo còn chưa phù hợp với nhu cầu và năng lực của người học, sự truyền tải giữa

lý thuyết và thực hành còn có một khoảng cách nhất định Phương pháp giáo dục chậm đổi mới, quá trình dạy và học vẫn diễn ra chủ yếu theo phương pháp truyền thống đó là thầy đọc trò ghi Phương tiện dạy học thì lạc hậu, bất cập,

đơn giản, sơ sài Từ đó không phát huy được tính chủ động tích cực trong học tập của người học, chưa có tác dụng kích thích, tác động tới sự phát triển, tìm tòi sáng tạo, say mê nghiên cứu khoa học của người học

Trước thực trạng đó, Đảng ta đã đề ra mục đích chiến lược đổi mới và phát triển giáo dục “ Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung và phương pháp dạy học” [2, tr 109] Một trong những giải pháp cốt yếu được đặt lên hàng đầu là “Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tính tích cực sáng tạo và chủ động trong học tập của người học Từng bước áp dụng các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình giảng dạy” [2, tr 204] để đổi mới hoàn toàn chất lượng sản phẩm của đào tạo, để cho những thanh niên, chủ

Trang 14

nhân tương lai của đất nước có đầy đủ sức khoẻ, chiếm lĩnh và làm chủ các lĩnh vực khoa học công nghệ

2 Thực trạng dạy và học thực hành tại Trường CĐCN Việt – Đức Thái Nguyên

Trong các trường Đại học, Cao đẳng, sinh viên được đào tạo bằng phương pháp dạy và học theo kiểu hàn lâm, chủ yếu là nghiên cứu, phát triển,

mở rộng, những vấn đề lý thuyết Nhưng ở các trường dạy nghề kỹ thuật thì công việc dạy và học chủ yếu là vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, biến những mảng kiến thức, lý luận thành hiện thực Cụ thể là đào tạo ra những người thợ

kỹ thuật mà cuộc đời họ gắn liền với lao động chân tay Chính vì vậy mục tiêu chính đối với việc dạy người học là hình thành kỹ năng, phát triển nâng cao kỹ năng thành kỹ xảo, giúp họ có một vốn kiến thức về nghề, có trình độ tay nghề như một người công nhân thực thụ Vì vậy những bài tập thực hành nghề là tối quan trọng, nếu thiếu nó hoặc coi nhẹ nó thì các trường dạy nghề không bao giờ có thể tồn tại được [11, tr 28]

Thực trạng của việc dạy và học thực hành nghề kỹ thuật cơ khí tại trường Việt Đức cũng không nằm ngoài những qui luật trên

Trong quá trình dạy và học, sự trao đổi kiến thức giữa thầy và trò vẫn hầu như diễn ra theo phương pháp truyền thống, đó là việc truyền đạt thụ động một phía từ thầy tới trò Các phương pháp sư phạm vẫn còn nghèo nàn chủ yếu

là phương pháp thuyết trình và giảng giải Những phương pháp dạy và học tiên tiến, hiện đại được áp dụng vào chưa đáng kể là bao

Ví dụ: Các phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm như: dạy theo nhóm, dạy bằng phương pháp gợi mở nên vấn đề, dạy theo mô

đun dạy theo dự án … Mặc dù một số đơn vị trong trường đã được trang bị các phương tiện dạy học hiện đại như các phòng thực nghiệm chuyên môn, phòng thực hành gia công cắt gọt công nghệ cao, phòng học kỹ thụât đo với thiết bị

Trang 15

đo hiện đại, các máy chiếu qua đầu (Over head) các máy chiếu đa năng (Projector) Song tần suất và hiệu quả sử dụng vẫn còn ở mức rất thấp

Nguyên nhân do:

- Khâu quản lý của nhà nước về hệ thống về phân ngành, bậc học còn nhiều bất cập

- Hệ thống cơ sở hạ tầng như các phòng học chuyên môn hoá, các phòng thí nghiệm còn thiếu rất trầm trọng

- Sự định hướng về đầu tư trang thiết bị dùng làm phương tiện và đồ dùng dạy học còn chưa đúng hướng,

- Trình độ kiến thức, năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên còn nhiều hạn chế

Ví dụ:

* Đội ngũ giáo viên cao tuổi có bề dày kinh nghiệm trong sư phạm thì lại bất cập về sử dụng các phương tiện và thiết bị dạy học hiện đại như các máy cắt gọt thế hệ cao, mô phỏng, thiết kế bài giảng bằng máy vi tính thông qua projector

* Đội ngũ giáo viên trẻ có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cơ khí vững vàng, có thể sử dụng các phương tiện thiết bị dạy học hiện đại thì lại non kém

về năng lực chuyên môn sư phạm (vì họ không được học chính qui về lý luận sư phạm)

Các biện pháp xem xét và giải quyết trước những bất cập cụ thể trên cho công tác giáo dục và đào tạo nghề

a – Phải vận hành hệ thống đào tạo nghề theo hướng trường dạy thực hành, lấy trình độ tay nghề của học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường làm thước đo năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo, giảng viên

b – Tôn trọng các phương pháp sư phạm truyền thống, song vẫn phải thường xuyên cập nhật và sử dụng các phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực

và hiện đại

Trang 16

c - Đội ngũ giáo viên phải được thường xuyên trau dồi thêm tri thức, học tập nâng cao để tiếp cận được với những kiến thức mới, vận hành tốt các phương tiện máy móc hiện đại dùng cho quá trình dạy học

d - Đặc biệt quan tâm tới tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học

Đó là khả năng tư duy khoa học, sáng tạo trong giải pháp, làm thế nào để người học tham gia học tập một cách chủ động tự giác, coi đó là nhiệm vụ chính của mình và có tâm trạng luôn muốn vươn tới tìm tòi khám phá một đáp

án nào đó đang ẩn chứa trước mắt mình

Để nâng cao được chất lượng dạy và học các môn kỹ thuật chuyên ngành theo các yêu cầu đã nêu ở trên thì quả thực không trong một sớm một chiều, ta cần phải có một thời gian thích ứng để dành cho quá trình chuyển đổi các phương pháp sư phạm cùng với hệ thống hạ tầng cơ sở vật chất Đó là các phương tiện và đồ dùng thiết bị dạy học hiện đại Trong đó sự góp phần không nhỏ cho sự thay đổi cả hệ thống tư duy trong dạy và học là sự vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào dạy các môn kỹ thuật chuyên ngành

Trong phạm vi khuôn khổ của đề tài luận văn, tác giả chỉ xin trình bày kiến thức của mình về sự vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy thực hành môn sửa chữa và khai thác thiết bị công nghiệp cho trường CĐCN Việt – Đức Thái Nguyên Các PPDHTC trong phạm vi luận văn này được thể hiện dưới các phương pháp “ Xây dựng bài giảng bằng phương pháp DHNVĐ”, “ Xây dựng bài giảng bằng mô phỏng ”, “ Xây dựng bài giảng bằng phương pháp Angorit”

3 - Điều kiện và khả năng thực hiện ý tưởng của đề tài

- Dựa trên cơ sở các phương pháp dạy học truyền thống với các tài liệu kỹ thuật chuyên ngành, cùng với hệ thống máy móc kỹ thuật đã có

- Khai thác và sử dụng hệ thống thiết bị kỹ thuật hiện đại cùng với sự cập nhật của các phương pháp dạy học hiện đại với mục tiêu của định hướng của chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010

Trang 17

- Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức Dạy cho người đọc phương pháp tự học,

tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư tưởng tư duy phân tích tổng hợp phát triển năng lực của mỗi các nhân Tăng cường tính chủ động tự chủ của mỗi học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, hoạt động tự quản trong nhà trường và tham gia các hoạt động xã hội

- Trên cơ sở tính ưu việt của các phương pháp dạy học hiện đại sẽ được thể hiện qua bài giảng bằng các phương pháp dạy học tích cực đó cũng chính

là mục tiêu và ý độ của tác giả muốn thể hiện qua cuốn luận văn này

II – Mục đích nghiên cứu:

Thông qua đề tài sẽ thể hiện sự nghiên cứu và áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại cho các môn kỹ thuật chuyên ngành và cụ thể hơn là cho môn

SC & KTTBCN thông qua các PPDHTC - LNHLTT, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong học tập của người học

Trong đó một số phương pháp dạy học hiện đại điển hình được đưa ra vận dụng, theo tác giả là rất thích hợp với môn sửa chữa và khai thác thiết bị cơ khí đó là:

- Phương pháp dạy học “Nêu vấn đề”

- Phương pháp dạy học bằng “Mô phỏng”

- Phương pháp dạy học " Angorit"

III - Đối tượng nghiên cứu :

* Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là :

- Lý luận về dạy học môn SC & KTTBCN

- Thực trạng của quá trình dạy học thực hành SC & KTTBCN tại trường CĐCN Việt Đức – Thái Nguyên

- Phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm

Trang 18

IV – Giả thuyết khoa học :

Nếu xây dựng và vận dụng các PPDHTC hợp lý trên cơ sở 3 phương pháp dạy học hiện đại “Dạy học nêu vấn đề”, “Dạy học bằng mô phỏng”,

“Dạy học bằng phương pháp Algorit’’ sẽ kích thích sự hứng thú, phát triển tư duy kỹ thuật hình thành tính độc lập tự chủ cho học sinh từ đó giúp cho quá trình thực hành nghề một cách nhanh chóng chuẩn mực và đúng hướng

V – Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên nhiệm vụ của đề tài phải giải quyết

được các nội dung sau:

* Nghiên cứu lịch sử ra đời, cơ sở lý luận và thực tiễn của các PPDHTC áp dụng cho các môn học thực hành cơ khí, cụ thể là cho chuyên ngành SC & KTTBCN

* Nghiên cứu và khái quát cách xây dựng và sử dụng bài dạy thực hành sửa chữa và khai thác thiết bị bằng các PPDHTC

Xây dựng một số bài giảng thực hành bằng các phương pháp dạy học hiện đại

điển hình

* Lý luận dạy học môn thực hành SC & KTTBCN

* Thực trạng quá trình dạy học môn thực hành SC & KTTBCN tại trường CĐCN Việt Đức – Thái Nguyên: Đội ngũ, phương pháp, nội dung và phương tiện …

* Kiểm nghiệm, đánh giá hiệu quả của các bài thực hành SC & KTTBCN thông qua các bài giảng mẫu

VI- Những đóng góp mới của đề tài:

1 Về lý luận

Phân tích được những khái niệm cơ bản liên quan đến một số phương pháp dạy học hiện đại điển hình của các phương pháp dạy học tích cực như: “ Dạy học bằng phương pháp “ Nêu vấn đề ”, “ Dạy học bằng phương pháp

Trang 19

Angorit ”, “ Dạy học bằng Mô phỏng ” mối liên hệ giữa mô phỏng và thực hành trực tiếp để hình thành lên kỹ năng, kỹ xảo

Thông qua đề tài, sẽ khẳng định rõ được tính ưu việt và tính khả thi khi vận dụng các PPDHTC vào môn SC & KTTBCN

Mở ra một hướng mới và có ảnh hưởng tích cực tới quá trình xây dựng và vận dụng bài giảng trong chuyên ngành cho các đồng nghiệp nói chung và cho lĩnh vực dạy thực hành nghề SC & KTTBCN nói riêng

2 Về thực tiễn

- Vận dụng lý luận, các phương pháp dạy học các môn kỹ thuật chuyên ngành, sử dụng các phần mềm chuyên dụng, các tiện nghi có sẵn trong máy tính để thiết kế các bài giảng mẫu Trong đó có bài giảng thực hành sửa chữa bằng hình ảnh mô phỏng không gian ba chiều

- Trên cơ sở tính khả thi của bài giảng tạo điều kiện tốt để trao đổi với

đồng nghiệp về kinh nghiệm xây dựng bài giảng, phương pháp sử dụng các phần mềm trong việc thiết kế bài giảng

VII – Cấu trúc của luận văn

Bố cục của luận văn được chia thành các phần chính như:

1 Phần Mở đầu;

Tác giả đưa ra các điều kiện và hoàn cảnh và đó cũng là xuất xứ cho sự

ra đời của cuốn luận văn này Trong phần này tác giả có đề cập tới nhiệm vụ, phạm vi ứng dụng của luận văn, những đóng góp mới cho quá trình xây dựng

và vận dụng bài giảng để dạy thực hành môn học SC & KTTBCN tại trường CĐCN Việt - Đức Thái Nguyên

Trang 20

Chương 1:

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy thực hành môn sửa chữa & khai thác thiết bị công nghiệp tại

trường CĐCN Việt - Đức Thái Nguyên

- Lịch sử ra đời và phát triển của các PPDHTC - LNHLTT

- Lý luận tổng quan về các PPDHTC - LNHLTT Làm rõ các khái niệm

và nhấn mạnh các cụm từ “Tính tích cực”, “ PPDHTC”, “Lấy người học làm trung tâm”, “Tính tự chủ”, “ Tính kích thích sáng tạo”

- Bản chất của các PPDHTC - LNHLTT

- ý nghĩa và các tính ưu việt thông qua những đặc trưng của các PPDHTC

và so sánh với phương pháp dạy học truyền thống

- Phạm vi và khả năng vận dụng các PPDHTC vào dạy học các môn học nói chung và các môn kỹ thuật chuyên ngành nói riêng

- Tính khả thi khi vận dụng các PPDHTC vào dạy môn học SC & KTTBCN tại CĐCN Việt - Đức

Chương 2: Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy thực hành môn SC & KTTBCN tại trường CĐCN Việt - Đức Thái Nguyên

1 – Xây dựng bài giảng thực hành môn SC & KTTB CN bằng phương pháp dạy học nêu vấn đề

* Tổng quan (sơ lược về phương pháp dạy học nêu vấn đề)

- Trình bày cấu trúc, bố cục của bài giảng

* Đề cương cho một bài giảng minh hoạ

2 – Xây dựng bài giảng thực hành môn SC & KTTB CN bằng phương pháp mô phỏng

* Tổng quan (sơ lược về phương pháp mô phỏng)

- Xây dựng cấu trúc, bố cục bài …

* Đề cương cho một bài giảng minh hoạ

Trang 21

3 – Phương pháp dạy học Algorit

* Tổng quan (sơ lược về phương pháp Algorit)

- Xây dựng cấu trúc, bố cục bài …

* Đề cương cho một bài giảng minh hoạ

Chương 3 : Kiểm nghiệm và đánh giá về các PPDHTC - LNHLTT

1 – Thực nghiệm sư phạm

- Mục đích, nhiệm vụ của thực nghiệm

- Đối tượng thực nghiệm

2 – Nội dung tiến hành thực nghiệm

3 – Kết quả đánh giá của thực nghiệm sau khi áp dụng PPDHTC vào dạy học thực hành môn SC & KTTB CN

Trang 22

Chương 1:

cơ sở lý luận và thực tiễn của việc Vận dụng

các phương pháp dạy học tích cực Vào dạy môn thực hành sửa chữa & khai thác thiết bị công nghiệp

tại trường CĐCN việt - đức thái nguyên

1.1 Lịch sử phát triển của phương pháp dạy học tích cực – lấy người học làm trung tâm

1.1.1 Lịch sử phát triển của các PPDHTC - LNHLTT trên thế giới

Phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh đã được các nhà nghiên cứu giáo dục đề cập từ cách đây nhiều thế kỷ Bản chất của vấn đề vốn không phải là mới mà đã được nhân loại đưa ra nghiên cứu và vận dụng từ thời

cổ đại đến nay Song cùng với sự phát triển của các chế độ xã hội mà nó được

áp dụng ở nhiều mức độ khác nhau Một trong những người có thành tích tạo dựng và nghiên cứu ra PPDHTC không thể không kể đến :

- Socrate ( 496 – 399 trước công nguyên) :

Là một trong những nhà giáo dục thời cổ nhất trong nền giáo dục Quan

điểm của ông trong lĩnh vực dạy học là bằng cách hỏi - đáp Giúp người học tự tìm thấy chân lý, phải vận động trí não để rút ra được câu trả lời và kết luận Trong khi tranh luận với người khác, ông không bao giờ cho ra kết luận trước

mà để đối tác của mình phải suy nghĩ, tự tìm ra hướng giải quyết và tự rút ra kết luận Cứ như vậy, bằng nhiều câu hỏi khác nhau để đưa người học vào tình huống có vấn đề khiến cho người học tự trau dồi tri thức, tự gọt dũa mình Phương pháp này của ông được người ta đặt tên cho là “ Phương pháp đỡ

đẻ của Socrate”

- Aristote ( 384 – 322 trước công nguyên):

Quan điểm của ông cho rằng, sự phát triển của con người vốn là rất tự nhiên và có qui luật, song nó được nuôi trồng, gọt dũa ở môi trường nào khả năng, sở thích của mỗi cá thể ra sao, nếu những nhà giáo dục không nắm được

Trang 23

qui luật, quan điểm này thì sẽ dẫn đến dạy học theo kiểu áp đặt hoặc sẽ bỏ lỡ thời cơ phát triển của các cá thể tại các điểm nằm trên vòng đời sinh lý

Nội dung chính ông đúc rút ra là: Nội dung giáo dục phải theo nhu cầu đòi hỏi tự nhiên của trẻ

- Khổng tử ( 551 – 479 ) trước công nguyên

Khổng Tử là nhà giáo dục lớn thời cổ đại của nước Trung Hoa Học thuyết của ông có ảnh hưởng rất lớn và sâu sắc trong lịch sử giáo dục ở Trung Quốc và nhiều nước phương Đông Nhiều quan điểm tiến bộ của ông còn có giá trị giáo dục cho đến ngày nay

Khổng Tử cho rằng “ Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri

đạo” [ 14 ]

Về nguyên tắc và phương pháp giáo dục, Khổng Tử đánh giá rất cao vai trò của cá nhân trong việc tự tu dưỡng theo nguyên tắc “Tu thân” “Tự học” và luôn học thầy, học bạn [ 30 ]

Khổng Tử rất coi trọng mặt tích cực suy nghĩ tìm tòi các vấn đề, các mâu thuẫn còn ẩn chứa trong học tập, nghiên cứu của người học Ông nói

“ Không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được bày vẽ cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa” [ 4 ]

- Mạnh tử ( 372 – 329 ) trước công nguyên

Quan điểm của ông là người học phải tự vận động suy nghĩ, tìm tòi, còn trách nhiệm của người thầy chỉ hướng dẫn, gợi ý và cho hướng đi tới mục tiêu Ví như người dạy bắn cung chỉ kéo hộ dây cung cò như bắn trúng đích hay không thì đó là nhiệm vụ của người học

- J.A.Komonxki (1592- 1670):

Một trong những “ Ông tổ của nghề giáo dục cận đại” Ông đã viết nhiều tác phẩm về hoạt động giáo dục và những đóng góp to lớn của ông cho hoạt động giáo dục

Trang 24

Komonxki đưa ra một hệ thống các nguyên tắc dạy học bằng trực quan, yêu cầu người dạy phải cho người học và sử dụng được tất cả các giác quan vào việc tri giác tài liệu Chỉ sau khi trẻ được tri giác như vậy, trẻ sẽ hiểu biết thế giới Đây là một quan điểm tiến bộ, giống như “ Dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm” qua đó phát huy cao độ tính tích cực hoạt động học tập của trẻ dưới sự giúp đỡ của thầy giáo

- John Locke (1632- 1704)

Một trong những triết gia suất sắc của nước Anh thế kỷ XVII Ông cho rằng không nên ép buộc những gì vào trí nhớ của trẻ mà vốn chúng không thích thú( tôn trọng khả năng, sở thích của trẻ Từ đó tạo ra hưng phấn trong học tập cho người học) Cần phải xây dựng, kích thích sự ham mê của trẻ, từ

đó hướng trẻ đến với những tri thức mới Phải cung cấp cho trẻ những gì hết sức thiết thực, phát triển khả năng độc lập suy nghĩ và học tập của trẻ

Những nguyên tắc dạy học của J Locke thực chất là phát huy tính tích cực hoạt động của người học trong quá trình nhận thức

để có thể trở thành những con người tự làm chủ bản thân Đây chính là tư tưởng dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm

Trang 25

mà xây dựng chương trình các môn học Muốn nâng cao chất lượng, thầy giáo cần khêu gợi sự hứng thú, tích cực tìm hiểu những yêu cầu của cuộc sống Hướng dẫn các em sử dụng tri thức vào giải thích các hiện tượng đó và chỉ trên cơ sở ấy các em mới hứng thú học tập, phát triển óc sáng tạo

Vào những năm 40 - 50, PPDHNVĐ, dạy học chương trình hoá đã hình thành và phát triển mạnh mẽ Đặc biệt dạy học chương trình hoá đã được các nhà khoa học giáo dục hưởng ứng tích cực Đến cuối thập niên 60, việc ứng dụng rộng rãi các phương tiện, kỹ thuật trong dạy học được biết dưới thuật ngữ

“Công nghệ giáo dục”, “Công nghệ đào tạo”, “Công nghệ dạy học”

Các kiểu dạy học này về bản chất là phát huy tính tích cực nhận thức, tích cực học tập và bồi dưỡng phẩm chất trí tuệ cho học sinh

Năm 1968 V.O Kôn (Ba lan) đã đưa ra phương pháp mới, đó là phương pháp dạy học nêu vấn đề Đây là một trong những phương pháp kích thích học sinh tích cực nhận thức nâng cao trí tuệ

Vào thập niên 90 phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm của John Dewey- nhà sư phạm người Mỹ- đề cao hoạt động đa dạng của học sinh,

kể cả hoạt động gắn liền với đời sống Dạy học không chỉ là truyền thụ kiến thức mà còn phát triển kỹ năng cho người học

1.1.2 Lịch sử phát triển của các PPDHTC - LNHLTT ở Việt Nam

- Các công trình nghiên cứu vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh ở nước ta, có hai giai đoạn phát triển khác nhau:

Trang 26

Từ sau khi cách mạng tháng 8 thành công, mở đầu cho một trang sử hào hùng của dân tộc, Bác Hồ kính yêu đã đặt ra tầm quan trọng của giáo dục và

đào tạo bằng một câu nói “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” mặc dù không phải là nhà giáo dục chính thống, song Bác đã bộc

lộ quan điểm học tập tích cực chủ động của người học bằng những câu nói khích tướng về sự tự hào dân tộc, sự căm ghét giặc dốt trong mỗi con người

“Không gì khổ bằng dốt” hay “ Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, Dân tộc Việt Nam có thể sánh vai với các cường quốc năm châu được

hay không, đó là nhờ ở công học tập của các cháu” ( Trích trong thư Bác Hồ gửi cho học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà 1946) ( 7 tr.12)

Lịch sử của sự phát triển về DDHTC của nước ta được chia thành hai giai đoạn chính:

- Giai đoạn đầu của nền giáo dục nước ta ( từ cuối thập niên 1950- 1985):

Điều kiện khách quan: Đất nước còn nghèo, chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ vẫn còn, Nhà nước còn phải dồn sức người, sức của vào công cuộc

đấu tranh để giải phóng đất nước

Ta còn chịu nhiều ảnh hưởng của nền giáo dục Xô Viết cũ và hệ thống XHCN Châu Âu

Sau khi được du nhập vào Việt Nam đã được các nhà định hướng và phát triển giáo dục vận dụng theo điều kiện thực tiễn ở Việt Nam dựa trên nền tảng trình độ dân trí, hạ tầng cơ sở xã hội và phong tục tập quán phương đông Song khung sườn của kiến thức giáo dục hiện đại chung trên toàn thế giới vẫn

được áp dụng dựa trên những nền tảng cơ bản (quan niệm hoạt động- nhân cách, dạy học và phát triển, dạy học nêu vấn đề, phát huy trí lực ) trong nguyên lý giáo dục: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội Do ảnh hưởng của quan điểm giáo điều nên việc vận hành cả một hệ thống giáo dục trên toàn quốc còn nhiều hạn chế Các

Trang 27

mô hình dạy học điển hình của Bắc Lý, Cẩm Bình, đã chứng tỏ một phần hiệu quả thực tế của giáo dục theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh Song, chất lượng giáo dục toàn diện còn thấp so với yêu cầu.

Học sinh sau khi ra trường còn chưa đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi về việc dùng người của xã hội chưa thích ứng có hiệu quả với sự phát triển kinh tế xã hội

- Giai đoạn thứ hai ( từ 1976 đến nay )

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới đã phát triển như vũ

bão, Thời kỳ của “ Nền công nghiệp ống khói” đang bước vào ngưỡng cửa của kỷ nguyên tin học với “ Nền kinh tế tri thức”

Đất nước ta đã hoàn toàn giải phóng, nhà nước Việt Nam đã tiến hành một công cuộc đổi mới trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực khoa học và giáo dục

Nền giáo dục đã từng ngày thay đổi theo hướng hiện đại hoá trong việc dạy và học Để tiếp sức cho hoạt động này là chủ trương của Đảng và nhà nước lấy giáo dục là nhiệm vụ hàng đầu, coi nó như là quốc sách

Giáo dục được phát triển dưới ảnh hưởng của đường lối và các quá trình

đổi mới của đất nước: Nhân văn hoá, dân chủ hóa giáo dục, xã hội hoá sự nghiệp và công tác giáo dục, phát triển cơ sở hạ tầng, đa dạng hoá các loại hình trường học và phương pháp đào tạo, giáo dục, hiện đại hoá cơ sở vật chất

và cơ cấu hệ thống giáo dục Lý luận, tài liệu chuyên ngành về quản lý giáo dục ngày càng nhiều ảnh hưởng của một nền giáo dục hiện đại giờ đây không phải chỉ là của các nước Châu Âu nữa mà là của cả thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia Với định hướng dạy học: Hướng vào người học, lấy hoạt động của người học làm trung tâm… Quan

điểm này nhấn mạnh yếu tố cá nhân người học trong hoạt động Người học phải tự xác định trách nhiệm học tập trước mình, trước gia đình, tập thể và rộng hơn nữa là trước sự nghiệp của đất nước Từ đây đã xác định được rõ vai

Trang 28

trò mới của người dạy và người học Tuy nhiên tư tưởng đổi mới phương pháp

và tư duy trong dạy và học này chưa hoàn toàn làm thoả đáng với suy nghĩ của nhiều giáo viên hoặc người học (vì còn bị ảnh hưởng bởi tất cả những gì của

hệ thống dạy, học xưa cũ)

Một số nhà Lý luận, nghiên cứu và phát triển chiến lược về giáo dục và

đào tạo như cụ Đặng Vũ Hoạt đã nghiên cứu và có nhiều thành tựu bàn về tính tích cực trong học tập của người học Cụ thể như đã nêu lên phương hướng sau đây:

- Giáo dục động cơ, thái độ tích cực học tập trên cơ sở thấm nhuần mục

đích học tập, động viên khuyến khích kịp thời dựa vào tính tự giác của học sinh

- Thực hiện dạy học, nêu vấn đề coi đây là một trong những phương hướng cơ bản nhất

- Tiến hành so sánh các sự vật, hiện tượng tiến hành hệ thống hoá, khái quát hoá tri thức

- Vận dụng tri thức vào nhiều hoàn cảnh khác nhau, giải bài tập, giải quyết vấn đề bằng nhiều cách khác nhau

- Gắn lý luận với thực tiễn, khai thác vốn sống của học sinh

- Phát triển ý thức, tự đánh giá của học sinh

Thái Duy Tuyên, một nhà lý luận sư phạm đã đề xuất các biện pháp dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh như sau:

- Nêu lên ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của các vấn đề nghiên cứu

- Nội dung dạy học phải luôn luôn mới nhưng không phải quá xa lạ đối với học sinh mà phải phát huy tính kế thừa và nâng cao hơn cũ Nội dung phải thoả mãn nhu cầu và tính vừa sức với học sinh

Trang 29

- Phải vận dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là ở các lớp nhỏ, và trong các lĩnh vực dạy nghề Dụng cụ trực quan có tác dụng tốt trong việc kích thích sự nhận thức và hứng thú của người học

- Sử dụng các hình thức dạy học khác nhau: cá nhân, tập thể, nhóm, làm việc trong phòng thí nghiệm, tham quan, các hoạt động sinh động gắn với cuộc sống xã hội

- Thầy giáo, cha mẹ, bạn bè và cộng đồng nói chung, động viên, khen thưởng khi học sinh có thành tích học tập tốt

- Kích thích tính tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa giáo viên học sinh

- Phát triển kinh nghiệm sống của học sinh học tập

- Tổ chức cho học sinh tham gia vào quá trình tự đánh giá kiến thức

- Tích cực sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động văn học nghệ thuật để tích cực hoá hoạt động nhận thức

- Thu nhận các thông tin qua các mối liên hệ ngược

Nguyễn Như An và Đặng Thành Hưng đã đưa ra một phương hướng nhằm kích thích tính tích cực trong nhận thức và sáng tạo của người học như sau:

- Phân hoá các yếu tố của quá trình dạy học dựa trên những đặc điểm tâm

lý nhận thức của học sinh

- Hình thành và duy trì cảm xúc học tập tích cực của học sinh trong suốt giờ học

- Sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học từ thô sơ đến hiện đại

- Khai thác và sử dụng kinh nghiệm sống của học sinh trong học tập

- Ngoài ra còn có các nhà giáo dục, tâm lý học khác cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Ngành giáo dục đào tạo đang khuyến khích giáo viên áp dụng phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm dạy học nêu vấn đề ở các trường học với mục đích là để phát huy tính tích cực học tập

Trang 30

ở học sinh nhằm đạt kết quả cao nhất trong việc truyền đạt kiến thức cho thế

hệ trẻ

Hiện nay, tư tưởng dạy học bằng phương pháp tích cực đã là một chủ trương quan trọng của chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam Nó đã được phổ cập, nhân rộng trên phạm vi của cả nước Tất nhiên trong một khuôn khổ nào đó thì vẫn còn những trở ngại do thói quen giảng dạy với phương pháp truyền thống, song PPDHTC bằng cách lấy người học làm trung tâm đã được các nhà giáo dục tôn trọng thực sự

Một số biện pháp kích thích tính tích cực tư duy của học sinh khi hình thành khái niệm:

a/ Logic trình bày tài liệu giảng dạy

b/ Đặt vấn đề, khái quát hoá vấn đề

c/ Luyện tập kỹ năng đưa ra định nghĩa, suy lý và phân loại các vật thể và hiện tượng

d/ Câu hỏi, bài tập, bài làm, gắn kiến thức với ứng dụng thực tiễn

1.2 Một số khái niệm cơ sở

1.2.1 Khái niệm về tính tích cực

Cụm từ tích cực được giải nghĩa trong từ điển tiếng Việt như sau:

- Có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, tác dụng thúc đẩy sự phát triển, trái với tiêu cực

- Tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển

- Hăng hái tỏ ra nhiệt tình đối với nhiệm vụ, với công việc [8]

Chủ nghĩa duy vật lịch sử xem tính tích cực là một sản phẩm vốn có của con người trong đời sống xã hội Do đó hình thành và phát triển tính tích cực

XH là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm tạo ra con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Có thể coi tính tích

Trang 31

cực đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách của trẻ em trong quá trình giáo dục [9]

Như vậy, tính tích cực của mỗi chủ thể được biểu hiện theo những trạng thái khác nhau ứng với mỗi môi trường điều kiện hoàn cảnh khác nhau

Ví dụ : Với trẻ em, tính tích cực biểu hiện qua học tập, trong hoạt động thể

dục thể thao, trong các hoạt động vui chơi giải trí, các hoạt động xã hội

Với lứa tuổi Cuối thời kỳ thiếu niên đến thanh niên ngoài những biểu hiện tính tích cực như trên mà còn bộc lộ thêm một số yếu tố khác nữa như :Sự nhận biết về xã hội, quan hệ xã hội, trách nhiệm và quyền lợi của mình với xã hội, ngoài ra các mối tình đầu đời chớm nở cũng ảnh hưởng tới các mặt tích

cực nói chung (nó có thể ảnh hưởng tốt hay xấu)

1.2.2 Khái niệm về tính tích cực trong học tập

Tính tích cực nhận thức được định nghĩa như là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm

lý, đặc biệt là các chức năng tư duy, nhằm giải quyết vấn đề học tập, nhận thức Nó vừa là phương tiện, điều kiện để đạt mục đích học tập lại vừa là kết quả của chính hoạt động ấy

Tính tích cực nhận thức bao gồm : Tính lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức ; đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi

đã lựa chọn đối tượng, cải tạo đối tượng trong hoạt động nhằmg giải quyết vấn

đề

Các nhà giáo dục học cho rằng, tích cực nhận thức được thể hiện bằng nhiều dấu hiệu tâm lý như : sự chú ý căng thẳng, sự tưởng tượng mạnh mẽ, sự phân tích tổng hợp sâu sắc

Theo Trần Bá Hoành 1995 thì “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt

động của học sinh đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức” [ 9 ]

Trang 32

Tính tích cực của con người gồm có hai mặt, đó là : Sự tự phát, và sự tự giác Mặt tự phát của tính tích cực là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện

ở tính tò mò, óc hiếu kỳ, sự linh hoạt và sôi nổi trong hành vi, hướng tới sự tiếp thu những cái mới một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, cũng có thể những thông tin này đến một cách ồ ạt mà chưa được sàng lọc kỹ Mặt tự giác của tính tích cực nhận thức thể hiện ở chỗ chủ thể đã biết hướng tính tích cực của mình vào một môi trường, lĩnh vực, một yếu tố nào đó mà đã có chủ ý và mục

đích rõ rệt

1.2.3 Khái niệm về cụm từ "Phương pháp dạy học tích cực"

Theo Nguyễn Kỳ ; bản thân thuật ngữ “Phương pháp dạy học theo phương pháp tích cực" là không rõ ràng Vậy tốt nhất là phân tích theo nghĩa

thường của thuật ngữ :

Theo ông, PPDHTC chính là giúp cho học sinh ngoài lao động truyền thống cứng nhắc, còn có thể tham gia một số hoạt động với những công việc thích thú đa dạng hơn công việc của lớp học Các hoạt động đó phát huy những năng khiếu, thường là thủ công hoặc những phẩm chất ít được đánh giá trong giờ lên lớp như : Sự khéo léo, tháo vát, trí tưởng tượng, khiếu thẩm mỹ Vậy nên, PPDHTC nhằm thoả mãn tính tự nhiên tự phát, tính tự do ở một góc độ nào đó cùng với nhu cầu vận động theo khuynh hướng bẩm sinh, sở thích cá nhân, khả năng tưởng tượng sáng tạo

Ngoài ra, theo ông khi sử dụng PPDHTC chính là tạo điều kiện cho con người phát triển một cách hài hoà, vì phương pháp này là dựa trên căn cứ những thành tựu nghiên cứu mới nhất của tâm lý học di truyền

Theo Nguyễn Cảnh Toàn, ông cho rằng:

Phương pháp dạy học tích cực là một tổ hợp của ba thành tố khác nhau Chúng tác động lẫn nhau trong một hoạt động chung và cũng mang nhiều tên gọi khác nhau.[ 29]

Trang 33

Phương pháp tích cực: Bởi là vì người học không còn thụ động tuyệt đối

lệ thuộc vào hoạt động của thầy, mà học tích cực, chủ động bằng hành động của chính mình Ba thuật ngữ: “ Nhà trường tích cực”, “Giáo dục tích cực”, “ Phương pháp tích cực” là một cụm từ phải luôn được gắn liền

Theo ông, các PPDHTC đã xuất hiện trên thế giới từ đầu thế kỷ XX, và

đã được sử dụng một cách phổ biến Việt Nam, phương pháp tích cực đã được thử nghiệm từ năm 1993 và đã được giới thiệu cụ thể qua các cuốn sách của nhiều tác giả kỳ cựu trong làng lý luận giáo dục học Quan điểm của ông, khi

“Trò tích cực” thì không có nghĩa là “Thầy thụ động”, hoạt động của trò

không loại trừ hoạt động của thầy, mà ngược lại còn đòi hỏi hoạt động của thầy ở trình độ khoa học và nghệ thuật cao hơn

Theo quan điểm của Tiến sĩ giáo dục học Lê Thanh Nhu, Ngoài việc lấy người học làm trung tâm, nó còn có một trọng ý nữa, đó là:

Phương pháp dạy học tích cực chính là sự phản diện của phương pháp

dạy học truyền thống [25 Tr.14 ] (tất nhiên không thể phủ nhận rằng chúng vẫn còn có mối quan hệ với nhau ) Theo bà, PPDHTC chính là việc sử dụng

các phương pháp dạy học hiện đại như:

- Phương pháp dạy học nêu vấn đề

- Phương pháp kiểm tra đánh giá…

Theo Nguyễn Cảnh Toàn; "Phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm" chính là quá trình dạy tự học [ 29 ]

Trang 34

Quan điểm của ông; Đặc trưng cơ bản của hệ phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm gọi tắt theo đúng thực chất của nó là hệ phương pháp dạy- tự học đã xem như là một hệ thống phương pháp có thể đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục thời kỳ đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa và có khả năng định hướng cho việc tổ chức quá trình dạy- học kết hợp với quá trình tự học, quá trình kết hợp cá nhân hoá và xã hội hoá việc học Hệ thống phương pháp đó cũng là sự tổng hợp và tích hợp nhiều phương pháp gần gũi nhau như là phương pháp tích cực, phương pháp hợp tác, phương pháp học bằng hành động, phương pháp tình huống, phương pháp nêu

và giải quyết vấn đề…

Trong một số tài liệu khác, các nhà lý luận giáo dục cho rằng: Việc đổi mới PPGD của thầy là yêu cầu cải tiến phương pháp học tập của trò Bởi vì bản chất chính của hai đội ngũ Người học và giáo viên chính là hai lực lượng nòng cốt trong hoạt động dạy và học, họ có tác động lên nhau, chi phối và có ảnh hưởng lẫn nhau trong suốt cả quá trình học tập ở nhà trường Một trong những

đặc điểm luôn luôn bị ràng buộc chặt chẽ sự phát triển của các PPGD là đối tượng dạy học Trong quá trình dạy học, người học là đối tượng của quá trình dạy và cũng là chủ thể của hoạt động học Họ phải thực hiện cùng một lúc

đồng thời hai chức năng: Chức năng lĩnh hội tri thức và chức năng tự điều khiển quá trình lĩnh hội tri thức Như vậy, kết quả học tập của sinh viên không chỉ phụ thuộc vào sự tác động của người dạy mà còn phụ thuộc vào tính chủ

động, tích cực, sáng tạo của chính bản thân họ trong học tập

Hiện nay, trong quá trình đổi mới PPGD nhằm phát huy nội lực của người học, phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của của sinh viên, do vậy, khi đổi mới PPGD phải được sự hưởng ứng đông đảo của chính lực lượng sinh viên Phải được chuẩn bị về mặt nhận thức và được kích thích về động cơ học tập Họ phải được trang bị kiến thức về phương pháp học chủ động, tích cực, có năng lực tự học, tự nghiên cứu, có năng lực đặt và giải quyết vấn đề

Trang 35

1.2.4 Khái niệm về thuật ngữ lấy "Người học làm trung tâm"

Cụm từ “ Lấy người học làm trung tâm” luôn là mệnh đề thứ hai của cụm từ “ PPDHTC” đối với các nhà giáo dục học và các nhà lý luận sư phạm Theo quan điểm của Nguyễn Cảnh Toàn, xuất phát từ nhu cầu đổi mới phương pháp giáo dục của nước ta và nó được bắt đầu từ mục tiêu đến phương pháp giáo dục

Phương pháp giáo dục nói chung là sản phẩm của sự liên kết với thực hành sư phạm Mục tiêu chung của giáo dục là hình thành sự phát triển phẩm chất và năng lực của người học Sao cho đạt được các tính tự chủ, sáng tạo, năng động, có kiến thức văn hóa, khoa học, công nghệ, có kỹ năng nghề nghiệp, có sức khỏe, có chí phấn đấu vươn lên, có năng lực và thói quen tự học, có năng lực đi vào thực tiễn

Để có được mục tiêu trên thì không thể không kể đến PPDHTC - LNHLTT và con đường đi của nó được biểu diễn bằng sơ đồ sau

Theo thuyết dạy học "Lấy người học làm trung tâm" của Nguyễn Phúc

Tý, ông cho ra một khái niệm sau: [ 33 tr.53 ]

Coi trọng hoạt động học của người học, tức là lấy người học làm trung tâm của quá trình dạy học Tư tưởng nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực của người học, coi người học là chủ thể của quá trình giáo dục nói chung và quá trình học tập nói riêng đã có từ lâu Còn khái niệm “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” thì mới xuất hiện nhưng nó đang là trung tâm thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu giáo dục đào tạo, các nhà sư phạm trên thế giới cũng như nước ta

Một lần nữa, ông đưa ra người đề xướng cho thuyết này là nhà sư phạm nổi tiếng người Mỹ J.Diway Tư tưởng chủ đạo của ông là việc dạy học phải

Khoa học Công nghệ Xã hội Phát triển nhân cách

Trang 36

hướng vào đáp ứng nhu cầu và lợi ích của người học, do đó đã đề xuất quan

điểm để cho người học lựa chọn nội dung học tập, tự lực tìm tòi, nghiên cứu

để chiếm lĩnh tri thức và kinh nghiệm xã hội dưới sự điều khiển, dẫn dắt của thầy giáo

Nếu dẫn dắt vấn đề cụ thể và rõ nét hơn thì bản chất của các PPDHTC LNHLTT được thể hiện như sau:

1 Dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động của học sinh; Đó là: Thầy

tổ chức, chỉ đạo các hoạt động, trò tự hoạt động qua đó khám phá tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành kỹ xảo

2 Dạy học chú trọng tới phương pháp học; Đó là: Thầy hướng dẫn cách học, phương pháp học, trò tự rèn luyện cách học, thao tác tư duy

3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với các học tập khác; Đó là: Thầy tạo được môi trường giao tiếp, hợp tác trong lớp học Trò phải cố gắng với cường độ trí tuệ cao, làm việc tích cực đồng thời phát huy sự hợp tác

4 Kết hợp sự đánh giá của giáo viên với sự đánh giá của học sinh; Đó là: Thầy hướng dẫn kỹ năng tự đánh giá, trò biết cách và mạnh dạn tự đánh giá kết quả học tập của mình

1.2.5 Tính tích cực học tập và mối quạn hệ của nó với tính tích cực nhận thức :

Theo các nhà giáo dục học thì tích cực học tập của học sinh là một hiện tượng sư phạm, biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập Nó thực chất là tính tích cực nhận thức vì học tập là một trường hợp riêng của nhận thức, Một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của GV

Quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học có những điểm khác nhau

Về mặt xã hội, lịch sử thì nhận thức khoa học là tìm ra bản chất, quy luật của các quy luật khách quan Còn trong nhận thức học tập không nhằm phát hiện

Trang 37

những hiểu biết đối với xã hội loài người mà lĩnh hội những tri thức loài người

đã tích luỹ được

Tuy nhiên, mỗi học sinh cũng phải khám phám ra những hiểu biết mới đối với bản thân mình, đó chỉ là khám phá lại những điều mà loài người đã biết Học sinh thông hiểu và ghi nhớ những gì đã trải qua hoạt động nhận thức tích cực của mình, trong đó các em phải có những cố gắng trí tuệ Như vậy, tính tích cực nhận thức và tính tích cực học tập có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không phải là đồng nhất

1.3 Bản chất của các PPDHTC - LNHLTT

Có nhiều nhà giáo dục học và lý luận sư phạm cho rằng bản chất của các PPDHTC - LNHLTT là: Tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt của lý thuyết dạy học lấy người học làm trung tâm là nhà trường chuẩn bị cho học sinh thích ứng với

đời sống xã hội, tôn trọng mục đích nhu cầu, khả năng, hứng thú và lợi ích học tập của học sinh Bản chất của dạy học làm trung tâm là người thầy thực sự

đóng vai trò là người tổ chức điều khiển quá trình nhận thức của học sinh, tạo

ra điều kiện, tạo ra môi trường thuận lợi để học sinh phát huy năng lực và kinh nghiệm thực tiễn đã có của mình, tự tìm kiếm tri thức, kỹ năng cần lĩnh hội thông qua hoạt động nhận thức tích cực, chủ động, sáng tạo, thông qua các hành động có ý thức mà học sinh phát triển nhân cách của mình một cách toàn diện

Để thực hiện tư tưởng chủ đạo đó, nhà trường và giáo viên phải:

- Thiết kế lại nội dung, chương trình đào tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu thực tế của người học hoặc theo yêu cầu của xã hội đối với người học

- Việc dạy học phải chú trọng đào tạo kỹ năng thực hành nghề nghiệp, vận dụng kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề do thực tiễn đặt ra, hướng vào việc chuẩn bị tích cực cho tìm kiếm việc làm

- Phương pháp dạy học phải hướng vào nhu cầu, khả năng, hứng thú của người học, tức là coi trọng việc rèn luyện phương pháp tự học, tự tìm kiếm và

Trang 38

xử lý thông tin cho người học Giáo viên phải vận dụng phối hợp nhiều phương pháp mà đặc biệt là các PPDHTC để phát huy cao độ tính tích cực, chủ động,

tự lực và sáng tạo của học sinh

- Hình thức tổ chức lớp học cũng phải thay đổi một cách linh hoạt cho phù hợp với hoạt động của học sinh

- Trong điều khiển giờ học, người thầy phải làm cho không khí lớp học trở nên sống động, cởi mở về mặt tâm lý Thầy và trò cùng nhau thảo luận các khía cạnh của vấn đề nghiên cứu Trước một vấn đề đặt ra, giáo viên không chỉ trình bày cho học sinh nghe về giải pháp giải quyết mà phải liên tục tạo ra các tình huống và dẫn dắt học sinh tìm tòi, suy xét, thảo luận để giải quyết từng bước của vấn đề của vấn đề nhằm đạt tới mục đích dạy học

1.4 Các đặc trưng của PPDHTC

Đặc trưng cơ bản của hệ các PPDHTC - LNHLTT thực chất là một hệ thống phương pháp có thể đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục thời kỳ đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa và có khả năng định hướng cho việc tổ chức quá trình dạy - học kết hợp với quá trình tự học, quá trình kết hợp cá nhân hoá và xã hội hoá việc học Hệ thống phương pháp đó cũng là sự tổng hợp và tích hợp nhiều phương pháp gần gũi nhau như là phương pháp tích cực, phương pháp hợp tác, phương pháp học bằng hành

động, phương pháp tình huống, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề ,và một phần nào đó, phương pháp chương trình hoá Hệ thống đó cũng là sự kết hợp tư tưởng và thành tựu giáo dục hiện đại của thế giới vào sự định hướng và

đổi mới giáo dục ở Việt Nam

Hệ các PPDHTC - LNHLTT là kết quả của sự kết hợp lý luận với thực tiễn thực nghiệm ở nhà trường Việt Nam từ đầu những năm 1990 trở lại đây

Trong quá trình chuyển đổi dần từ kiểu dạy học truyền thống " Lấy giáo viên làm trung tâm" sang phương pháp dạy học tích cực "Lấy người học làm

Trang 39

trung tâm" có sự thay đổi cơ bản về tỷ trọng và nội dung vai trò của giáo viên

và học sinh Jean Vial ( 1996 ) Điều đó đã được thể hiện trên sơ đồ sau

Tuy nhiên, trong dạy học lấy người học làm trung tâm, vai trò tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo của học sinh được phát huy nhưng không phải vì thế mà vai trò của giáo viên bị mờ nhạt, hạ thập Giáo viên phải thực sự có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, sáng tạo và nhạy cảm mới có thể

đóng vai trò là người gợi mở, trợ giúp, hướng dẫn, cố vấn, trọng tài trong quá trình dạy học.[ 31 Tr.7 ]

2 3 4

1 2 3

4 Jean Vial, 1986

Mục tiêu: Lặp lại Phát hiện lại Sáng tạo lại Sáng tạo mới

Vai trò của GV: Nắm vững tri thức có uy quyền Gợi ý, động viên

Cố vấn, trọng tài Mờ nhạt Vai trò của HS: Mờ nhạt Được hướng dẫn Được khích lệ

Được giải phóng

Hình:1.1

Sơ đồ biểu diễn vai trò của giáo viên

và học sinh trong các phương pháp dạy học

Trang 40

Phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm bao gồm

bốn đặc trưng cơ bản như sau:

1.4.1 Người học, chủ thể của hoạt động học, tự mình tìm ra kiến thức

cùng với cách tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình.

Người học không phải được đặt trước những kiến thức có sẵn trong sách

giáo khoa hay là bài giảng được chuẩn bị sẵn của thầy mà tự đặt mình trước

các tình huống, vấn đề thực tế, cụ thể và sinh động của cuộc sống, từ đó thấy

có nhu cầu hay hứng thú phát hiện và giải quyết những vật cản, mâu thuẫn

trong nhận thức của mình để tự mình tìm ra "Cái chưa biết" "Cái cần khám

phá","Cái mới" Tự đặt mình vào tình huống học, người học quan sát, suy

nghĩ, tự nghiên cứu, tra cứu, làm thí nghiệm, đặt giả thiết, đặt vấn đề… để tự

mình tìm ra kiến thức, chân lý cùng với cách xử lý tình huống, cách giải quyết

vấn đề Quá trình lĩnh hội chân lý của người học cũng là quá trình hành động

làm theo một phần nào đó ( kiểu học trò) con đường của những bậc tiền bối đã

phát minh ra những chân lý đó Tri thức và phương pháp người học đã tự lực

khám phá ra không rập theo một khuôn mẫu sẵn có, đều là tri thức và phương

pháp mới (chỉ đối với người học), do đó, hoạt động tự học đi tìm cái chưa biết

mang tính sáng tạo với người học Khó khăn, vật cản sai sót cần phải khắc

phục trong quá trình tự mình đi tìm cái chưa biết chỉ là những mục tiêu- vật

cản vừa sức tự vươn lên có thể giúp người học hiểu đầy đủ chân lý hơn và năm

được cách tìm ra chân lý

Học một biết nhiều chính là học cách học, cách phát hiện và giải quyết

vấn đề, cách xử lý các tình huống, tức là học “Cái bất biến ứng với vạn biến” ,

nắm cho được nguyên lý cốt lõi, cách tiếp cận, cách ứng xử để vận dụng

thiên biến vạn hoá

Chẳng hạn : Người thầy trong các trường dạy nghề chỉ có thể trao đổi

hướng dẫn người trò những kiến thức cơ sở, những thao tác, động tác cơ bản

chuẩn mực và một số kinh nghiệm nghề nghiệp nhất định (Những kiến thức

Ngày đăng: 18/07/2017, 21:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w